Kinh Tiểu không

(Cūḷasuññata sutta)

Xem Chú giải bản dịch tiếng Thái-Việt

176. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Pubbārāma (Ðông Viên), lâu đài của Migāramātu (Lộc Mẫu). Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:

— Một thời, bạch Thế Tôn, Thế Tôn trú ở xứ Sakya, tại thị trấn của người Sakya tên là Nagaraka. Tại đấy, bạch Thế Tôn, con được nghe trước mặt Thế Tôn, con được ghi nhớ trước mặt Thế Tôn như sau: “Này Ānanda, hiện nay Ta thường an trú bằng Không trú”. Phải chăng, bạch Thế Tôn, điều con đã nghe là nghe đúng, ghi nhớ đúng, tác ý đúng, thọ trì đúng?

— Thật vậy, này Ānanda, điều Ông đã nghe là nghe đúng, ghi nhớ đúng, tác ý đúng, thọ trì đúng. Thuở xưa và nay, này Ānanda, hiện nay Ta thường an trú bằng Không trú.

Ví như lâu đài Lộc Mẫu này không có voi, bò, ngựa, ngựa cái, không có vàng và bạc, không có đàn bà, đàn ông tụ hội, và chỉ có một cái không phải không, tức là nhất tướng (ekattaṃ) do duyên chúng Tỷ-kheo; cũng vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý thôn tưởng, không tác ý nhơn tưởng, chỉ tác ý nhất tướng, do duyên lâm tưởng. Tâm của vị ấy đi vào, lắng yên, an trú và quyết chắc nơi lâm tưởng. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các mệt nhọc do duyên thôn tưởng không có mặt ở đây; các mệt nhọc do duyên nhân tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một mệt nhọc này, tức là nhất tướng do duyên lâm tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có thôn tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có nhân tưởng”. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là nhất tướng (ekattaṃ) do duyên lâm tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, vị ấy tuệ tri: “cái này hiện có mặt”. Như vậy, này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, sự bước vào Không (tánh) thành tựu: đúng như thật, không điên đảo, hoàn toàn thanh tịnh.

177. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tác ý nhân tưởng, không tác ý lâm tưởng, chỉ tác ý nhất tướng do duyên địa tưởng. Tâm vị ấy đi vào, lắng yên, an trú và quyết chắc nơi địa tưởng. Ví như, này Ānanda, tấm da con bò đực được căng thẳng trên một trăm cọc gỗ, đặc tánh tấm da được đoạn trừ (vigatavasika); cũng vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo, không tác ý đối với tất cả vật gì trên đất này: đất khô và vùng lầy, sông và vùng lầy, các cây có thân và có gai, núi và đất bằng, vị ấy tác ý nhất tướng do duyên địa tưởng. Tâm vị ấy đi vào, lắng yên, an trú và quyết chắc nơi địa tưởng. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các mệt nhọc do duyên nhân tưởng không có mặt ở đây; các mệt nhọc do duyên lâm tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một mệt nhọc này, nhất tướng do duyên địa tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có nhơn tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có lâm tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là nhất tướng do duyên địa tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy tuệ tri: “cái này hiện có mặt”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, sự bước vào Không (tánh) thành tựu: đúng như thật, không điên đảo, hoàn toàn thanh tịnh.

178. Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý lâm tưởng, không tác ý địa tưởng, tác ý nhất tướng do duyên Không vô biên xứ. Tâm vị ấy đi vào, lắng yên, an trú và quyết chắc nơi Không vô biên xứ. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các mệt nhọc, do duyên lâm tưởng không có mặt ở đây; các mệt nhọc do duyên địa tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một mệt nhọc này, tức là nhất tướng do duyên Không vô biên xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có lâm tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có địa tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là nhất tướng do duyên Không vô biên xứ tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy biết: “cái này hiện có mặt”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, sự bước vào Không (tánh) thành tựu: đúng như thật, không điên đảo, hoàn toàn thanh tịnh.

179. Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý địa tưởng, không tác ý Không vô biên xứ tưởng, chỉ tác ý nhất tướng do duyên Thức vô biên xứ. Tâm vị ấy đi vào, lắng yên, an trú và quyết chắc nơi Thức vô biên xứ. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các mệt nhọc do duyên địa tưởng không có mặt ở đây; các mệt nhọc do duyên Không vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một mệt nhọc này, tức là nhất tướng do duyên Thức vô biên xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có địa tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Không vô biên xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là nhất tướng do duyên Thức vô biên xứ tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy tuệ tri: “cái này hiện có mặt”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, sự bước vào Không (tánh) thành tựu: đúng như thật, không điên đảo, hoàn toàn thanh tịnh.

180. Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý Không vô biên xứ tưởng, không tác ý Thức vô biên xứ tưởng, chỉ tác ý nhất tướng do duyên Vô sở hữu xứ tưởng. Tâm vị ấy đi vào, lắng yên, an trú và quyết chắc nơi Vô sở hữu xứ. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các mệt nhọc do duyên Không vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây; các mệt nhọc do duyên Thức vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một mệt nhọc này, tức là nhất tướng do duyên Vô sở hữu xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Không vô biên xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Thức vô biên xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là nhất tướng do duyên Vô sở hữu xứ tưởng”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, vị ấy tuệ tri: “cái này hiện có mặt”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, sự bước vào Không (tánh) thành tựu: đúng như thật, không điên đảo, hoàn toàn thanh tịnh.

181. Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý Thức vô biên xứ tưởng, không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, chỉ tác ý nhất tướng do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Tâm vị ấy đi vào, lắng yên, an trú và quyết chắc nơi Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy biết như sau: “Các mệt nhọc do duyên Thức vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây; các mệt nhọc do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một mệt nhọc này, tức là nhất tướng do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Thức vô biên xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là nhất tướng do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, vị ấy tuệ tri: “cái này hiện có mặt”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, sự bước vào Không (tánh) thành tựu: đúng như thật, không điên đảo, hoàn toàn thanh tịnh.

182. Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, không có tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, tác ý nhất tướng do duyên Vô tướng tâm định. Tâm vị ấy đi vào, lắng yên, an trú và quyết chắc nơi Vô tướng tâm định. Vị ấy tuệ tri như sau: “Các mệt nhọc do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây; các mệt nhọc do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một mệt nhọc này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy tuệ tri: “cái này hiện có mặt”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, sự bước vào Không (tánh) thành tựu: đúng như thật, không điên đảo, hoàn toàn thanh tịnh.

183. Lại nữa, này Ānanda, vị Tỷ-kheo không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, không tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, tác ý sự nhứt trí do duyên Vô tướng tâm định. Tâm vị ấy đi vào, lắng yên, an trú và quyết chắc nơi Vô tướng tâm định. Vị ấy tuệ tri như sau: “Vô tướng tâm định này thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên. Phàm cái gì thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”, vị ấy tuệ tri như vậy. Do vị ấy tuệ tri như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, là sự hiểu biết (ñāṇa) rằng đã được giải thoát. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn phải trở lại trạng thái này nữa”. Vị ấy tuệ tri: “Các mệt nhọc do duyên dục lậu không có mặt ở đây; các mệt nhọc do duyên hữu lậu không có mặt có ở đây; các mệt nhọc do duyên vô minh lậu không có mặt ở đây. Và chỉ ở một mệt nhọc này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có dục lậu”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có hữu lậu”. Vị ấy tuệ tri: “Loại tưởng này không có vô minh lậu. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này”. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy biết: “cái này hiện có mặt”. Này Ānanda, cái này đối với vị ấy là như vậy, sự bước vào Không (tánh) thành tựu: đúng như thật, không điên đảo, hoàn toàn thanh tịnh.

184. Này Ānanda, phàm có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ sau khi chứng đạt, đã an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh (suññataṃ), tất cả các vị ấy sau khi chứng đạt đều chỉ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh này. Này Ānanda, phàm có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai, sau khi chứng đạt sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh, tất cả các vị ấy sau khi chứng đạt đều sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh này. Này Ānanda, phàm có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại, sau khi chứng đạt và an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh, tất cả các vị ấy sau khi chứng đạt nếu an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh này. Do vậy, này Ānanda, sau khi chứng đạt Ta sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh. Như vậy, này Ānanda, các Ông cần phải học tập.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Hiệu đính:

Thay:
Thế Tôn trú giữa các Sakka (Thích-ca). Nagaraka là tên một thị trấn của các Sakka.
Bằng:
Thế Tôn trú ở xứ Sakya, tại thị trấn của người Sakya tên là Nagaraka.
Lý do:
“sakkesu viharati” không phải “giữa các Sakka” theo nghĩa “ở giữa người Sakka”, mà là “ở xứ Sakya (cõi/đất Thích-ca)”. “Nagarakaṃ nāma sakyānaṃ nigamo” = “Nagaraka tên là một thị trấn của người Sakya.”

Thay:
Ta nhờ an trú không, nên nay an trú rất nhiều
Bằng:
hiện nay Ta thường an trú bằng Không trú
Lý do: nhằm mục đích làm rõ nghĩa và cô đọng, mượt mà hơn.

Thay “sự nhất trí” bằng “nhất tướng”
Lý do: theo chú giải, “ekattaṃ” không phải “sự nhất trí”, mà là “một thực tính”, “một cái duy nhất” (ekabhāva). Ý kinh chỉ về “một đối tượng duy nhất” còn lại sau khi đã loại bỏ các đối tượng khác.

Thay: “Tâm của vị ấy được thích thú hân hoan, an trú, hướng đến lâm tưởng”
Bằng: “Tâm của vị ấy đi vào, lắng yên, an trú và quyết chắc nơi lâm tưởng”
Lý do: Bản dịch này không khớp với Chú giải. “cittaṃ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati”

Thay: “ưu phiền” bằng “mệt nhọc”.
Lý do: “daratha” là “trạng thái mỏi mệt của tâm”. Có hai nguyên nhân:
   1. Mỏi mệt do phiền não (Kilesa-daratha)
   2. Mỏi mệt do vận hành (Pavatta-daratha): do tâm còn phải làm việc trên đối tượng, nên phải “lao lực”. Đây thuần túy là hệ quả của sự vận hành tâm, không liên hệ gì đến thiện-bất thiện.
Do đó, dịch là “ưu phiền” chỉ (gần) đúng với Kilesa-daratha mà thôi, sai hoàn toàn khi nói về Pavatta-daratha

Thay “Cái kia có, cái này có” bằng “cái này hiện có mặt”
Lý do: Santaṃ là hiện tại phân từ của “atthi” (là, có), nghĩa là “cái đang có mặt”, “cái hiện hữu”. Câu này có nghĩa là vị ấy tuệ tri đúng như thật: “cái này có mặt”.

Thay: thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh
Bằng: sự bước vào Không (tánh) thành tựu: đúng như thật, không điên đảo, hoàn toàn thanh tịnh
Lý do: suññatāvakkanti = bước vào/khởi sinh của (tánh) Không (suññatā-nibbatti)