Kinh số 121 – Giải Thích Kinh Tiểu Không
(Cūḷasuññatasuttavaṇṇanā)Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Tiểu Không
2. Giải Thích Phẩm Sự Trống Không
176. evaṃ me sutanti cūḷasuññatasuttaṃ. tattha ekamidanti thero kira bhagavato vattaṃ katvā attano divāṭṭhānaṃ gantvā kālaparicchedaṃ katvā nibbānārammaṇaṃ suññatāphalasamāpattiṃ appetvā nisinno yathāparicchedena vuṭṭhāsi. athassa saṅkhārā suññato upaṭṭhahiṃsu. so suññatākathaṃ sotukāmo jāto. athassa etadahosi — “na kho pana sakkā dhurena dhuraṃ paharantena viya gantvā ‘suññatākathaṃ me, bhante, kathethā’ti bhagavantaṃ vattuṃ, handāhaṃ yaṃ me bhagavā nagarakaṃ upanissāya viharanto ekaṃ kathaṃ kathesi, taṃ sāremi, evaṃ me bhagavā suññatākathaṃ kathessatī”ti dasabalaṃ sārento ekamidantiādimāha.
176. Kinh Tiểu Không được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đây, “một thời” có nghĩa là: Trưởng lão sau khi làm xong phận sự đối với đức Thế Tôn, đi đến chỗ nghỉ ban ngày của mình, ấn định thời gian, rồi ngồi xuống, hướng đến và nhập vào quả định của “Không” có Nibbāna làm đối tượng; sau đó, đúng theo thời hạn đã ấn định, ngài xuất khỏi định. Rồi nơi ngài, các hành khởi lên như là “không có tự ngã” (atta-suñña) và “không thường hằng” (nicca-suñña) [1]. Ngài sanh tâm muốn nghe pháp về Không tánh.
Ngài suy nghĩ: “Không thể như người lấy càng xe đánh vào càng xe mà đi thẳng đến thưa với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, xin nói cho con pháp về tánh Không.’ Vậy, ta sẽ nhắc lại việc Thế Tôn, khi an trú nương cận thành Nagaraka, đã thuyết một thời pháp; ta sẽ gợi lại điều ấy. Bằng cách ấy, Thế Tôn sẽ nói pháp về tánh Không cho ta.” Rồi, bậc Thập Lực được ngài gợi nhắc, vị Trưởng lão nói lên: ‘Một thuở nọ v.v.’
Tattha idanti nipātamattameva. Kaccimetaṃ, bhanteti thero ekapade ṭhatvā saṭṭhipadasahassāni uggahetvā dhāretuṃ samattho, kiṃ so “suññatāvihārenā”ti ekaṃ padaṃ dhāretuṃ na sakkhissati, sotukāmena pana jānantena viya pucchituṃ na vaṭṭati, pākaṭaṃ katvā vitthāriyamānaṃ suññatākathaṃ sotukāmo ajānanto viya evamāha. eko ajānantopi jānanto viya hoti, thero evarūpaṃ kohaññaṃ kiṃ karissati, attano jānanaṭṭhānepi Bhagavato apacitiṃ dassetvā “kaccimetan”tiādimāha.
Từ idaṃ trong từ ekamidaṃ đó chỉ là một phân từ. Kính bạch ngài, phải chăng điều này (con nghe là đúng)…: Vị Trưởng lão là bậc có khả năng đứng trên một câu mà học thuộc và ghi nhớ được sáu mươi ngàn câu; lẽ nào ngài lại không thể ghi nhớ một cụm từ là “an trú trong không tánh” hay sao?
Tuy nhiên, với người có tâm muốn nghe, thì không nên hỏi như thể mình đã biết. Vì muốn nghe pháp thoại về tánh Không được tuyên thuyết một cách rõ ràng, khai triển cho sáng tỏ, nên ngài hỏi như thể là người chưa biết. Có kẻ không biết nhưng lại làm ra vẻ như biết; vị Trưởng lão đâu có làm cái việc giả dối (kohaññaṃ) như vậy? Ngay cả ở chỗ tự mình đã biết, ngài vẫn nêu hỏi mở đầu bằng “phải chăng điều này…” để biểu lộ sự cung kính đối với đức Thế Tôn.
Pubbepīti paṭhamabodhiyaṃ Nagarakaṃ upanissāya viharaṇakālepi. Etarahipīti idānipi. Evaṃ pana vatvā cintesi — “Ānando suññatākathaṃ sotukāmo, eko pana sotuṃ sakkoti, na uggahetuṃ, eko sotumpi uggahetumpi sakkoti, na kathetuṃ, Ānando pana sotumpi sakkoti uggahetumpi kathetumpi, (kathemissa) suññatākathan”ti. Iti taṃ kathento seyyathāpītiādimāha. Tattha suñño hatthigavāssavaḷavenāti tattha kaṭṭharūpapotthakarūpacittarūpavasena katā hatthiādayo atthi, Vessavaṇamandhātādīnaṃ ṭhitaṭṭhāne cittakammavasena katampi, ratanaparikkhatānaṃ vātapānadvārabandhamañcapīṭhādīnaṃ vasena saṇṭhitampi, jiṇṇapaṭisaṅkharaṇatthaṃ ṭhapitampi jātarūparajataṃ atthi, kaṭṭharūpādivasena katā dhammasavanapañhapucchanādivasena āgacchantā ca itthipurisāpi atthi, tasmā na so tehi suñño. Indriyabaddhānaṃ saviññāṇakānaṃ hatthiādīnaṃ, icchiticchitakkhaṇe paribhuñjitabbassa jātarūparajatassa, nibaddhavāsaṃ vasantānaṃ itthipurisānañca abhāvaṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ.
Thuở xưa: kể cả thời gian đi sống nương nhờ thị trấn Nagaraka vào thời gian đầu giác ngộ. Bây giờ: ngay cả ngay lúc này. Sau khi nói vậy, Thế Tôn suy nghĩ: “Ānanda mong nghe pháp về tánh Không. Có người chỉ nghe được mà không thể ghi nhận; có người nghe và ghi nhận được nhưng không thể giảng; còn Ānanda thì có thể nghe, có thể ghi nhận và cũng có thể giảng. Vậy ta sẽ thuyết pháp về tánh Không cho ông ấy.” Rồi, khi thuyết pháp ấy, Ngài nói: “Ví như…” bằng cách như thế. Ở đó, không có voi, bò, ngựa, ngựa cái: nơi ấy tuy nói là “trống rỗng voi, bò, ngựa, la”, nhưng thực ra vẫn có đủ các hình tượng voi v.v. được làm theo nhiều cách—bằng gỗ, bằng đất nung, và bằng hội họa trên tường. Ở những vị trí thích hợp còn có các hoạ tượng về Vessavaṇa, Mandhātu, v.v. Các vật dụng như cửa sổ, cửa ra vào, then chốt, giường, bệ ngồi… cũng được viền trang sức bằng châu báu. Lại nữa, vàng bạc cũng được đặt để ở chỗ này chỗ kia với mục đích dành cho việc tu bổ những phần đã cũ. Người nam, người nữ cũng lui tới nơi ấy vì nghe pháp, hỏi pháp và các công việc cần thiết khác.
Tuy vậy, khi nói “trống rỗng voi, bò, ngựa, la” là nói theo nghĩa: ở đó không có các loài hữu tình thực sự, có thức, gắn liền với các căn như voi thật, ngựa thật, v.v. Khi nói “trống rỗng vàng bạc để dùng bất cứ lúc nào” là nói theo nghĩa: không có vàng bạc sẵn để muốn là lấy dùng ngay (dù có vàng bạc gửi đó cho việc tu sửa). Khi nói “trống rỗng người nam nữ cư trú thường xuyên” là nói theo nghĩa: không có người nam, người nữ ở hẳn tại đó (dù có người lui tới rồi đi). Như vậy, nói “trống rỗng” không phải là trống rỗng mọi thứ, mà là trống rỗng các thực thể theo những cách hiện hữu hay sử dụng ấy.
Bhikkhusaṅghaṃ paṭiccāti bhikkhūsu hi piṇḍāya paviṭṭhesupi vihārabhattaṃ sādiyantehi bhikkhūhi ceva gilānagilānupaṭṭhākauddesacīvarakammapasutādīhi ca bhikkhūhi so asuññova hoti, iti niccampi bhikkhūnaṃ atthitāya evamāha. Ekattanti ekabhāvaṃ, ekaṃ asuññataṃ atthīti attho. Eko asuññabhāvo atthīti vuttaṃ hoti. Amanasikaritvāti citte akatvā, anāvajjitvā apaccavekkhitvā. Gāmasaññanti gāmoti pavattavasena vā kilesavasena vā uppannaṃ gāmasaññaṃ. Manussasaññāyapi eseva nayo. Araññasaññaṃ paṭicca manasi karoti ekattanti idaṃ araññaṃ, ayaṃ rukkho, ayaṃ pabbato, ayaṃ nīlobhāso vanasaṇḍoti evaṃ ekaṃ araññaṃyeva paṭicca araññasaññaṃ manasi karoti. Pakkhandatīti otarati. Adhimuccatīti evanti adhimuccati. Ye assu darathāti ye ca pavattadarathā vā kilesadarathā vā gāmasaññaṃ paṭicca bhaveyyuṃ, te idha araññasaññāya na santi. dutiyapadepi eseva nayo. Atthi cevāyanti ayaṃ pana ekaṃ araññasaññaṃ paṭicca uppajjamānā pavattadarathamattā atthi.
Do duyên chúng Tỳ khưu: Vì ngay cả khi chư Tỷ-kheo đi vào khất thực, thì tại ấy vẫn có các Tỷ-kheo khác thọ thực cúng dường tại tịnh xá, và cũng có các Tỷ-kheo bệnh, các vị chăm sóc bệnh, các vị bận việc học, bận việc y phục, v.v. Do vậy, nơi ấy không trống rỗng (về Tăng), nên nói như thế là “thường có Tỷ-kheo hiện hữu”. Một thứ: có nghĩa là một thực tính, một sự không-trống-rỗng. Không tác ý: không chú tâm, (tức là) không cân nhắc, không quán xét. Tưởng về làng: là tưởng về làng sanh khởi do phương diện vận hành (tục đế) hoặc do phương diện phiền não. Đối với tưởng về con người cũng theo cách này. Chỉ chú tâm một thứ do duyên tưởng về rừng: nghĩa là, thay vì (phân biệt) “đây là rừng, đây là cây, đây là núi, đây là bóng cây xanh mát của lùm cây”, vị ấy chỉ nương vào một cái rừng duy nhất đó mà tác ý đến tưởng về rừng. Được nhảy tới: gồm đi xuống dưới. Quyết định: là quyết định, xác nhận “đúng là như vậy”. Các mệt nhọc có thể có được: Những mệt nhọc nào, dù là mệt nhọc thuộc vận hành (pavatta-daratha) hay mệt nhọc do phiền não (kilesa-daratha), có thể sanh khởi do duyên ‘tưởng về làng’, thì chúng không có mặt ở đây (trong ‘tưởng về rừng’). Trong câu thứ hai (liên quan đến tưởng về con người) cũng theo cách này. Và chỉ có một ưu phiền này: Nhưng chỉ có sự mệt nhọc thuộc vận hành đơn thuần (pavatta-daratha-mattā) này, vốn sanh khởi do duyên ‘một tưởng về rừng duy nhất’, là có mặt.
Yañhi kho tattha na hotīti yaṃ migāramātupāsāde hatthiādayo viya imissā araññasaññāya gāmasaññāmanussasaññāvasena uppajjamānaṃ pavattadarathakilesadarathajātaṃ, taṃ na hoti. Yaṃ pana tattha avasiṭṭhanti yaṃ Migāramātupāsāde bhikkhusaṅgho viya tattha araññasaññāya pavattadarathamattaṃ avasiṭṭhaṃ hoti. Taṃ santamidaṃ atthīti pajānātīti taṃ vijjamānameva “atthi idan”ti pajānāti. Suññatāvakkantīti suññatānibbatti.
Những thứ không có mặt ở tưởng đó: Như tại lâu đài của Mẫu thân Migāra không có voi thật v.v., thì ở đây, trong “tưởng về rừng”, những mệt nhọc khởi lên do “tưởng về làng” và “tưởng về người”—dầu thuộc vận hành hay thuộc phiền não—đều không có. Những thứ còn lại trú trong tưởng đó: Như tại lâu đài ấy chỉ còn Tăng chúng, thì ở đây, trong “tưởng về rừng”, chỉ có sự mệt nhọc thuộc vận hành đơn thuần là còn sót lại. Vị ấy tuệ tri cái kia có, cái này có: Nghĩa là, vị ấy tuệ tri đúng như thật: “cái này có mặt”. Sự thành tựu của không tánh: sự sanh lên của không tánh.
177. Amanasikaritvā manussasaññanti idha gāmasaññaṃ na gaṇhāti. Kasmā? evaṃ kirassa ahosi — “manussasaññāya gāmasaññaṃ nivattetvā, araññasaññāya manussasaññaṃ, pathavīsaññāya araññasaññaṃ, ākāsānañcāyatanasaññāya pathavīsaññaṃ … pe … nevasaññānāsaññāyatanasaññāya ākiñcaññāyatanasaññaṃ, vipassanāya nevasaññānāsaññāyatanasaññaṃ, maggena vipassanaṃ nivattetvā anupubbena accantasuññataṃ nāma dassessāmī”ti. Tasmā evaṃ desanaṃ ārabhi. Tattha pathavīsaññanti kasmā araññasaññaṃ pahāya pathavīsaññaṃ manasi karoti? Araññasaññāya visesānadhigamanato. Yathā hi purisassa ramaṇīyaṃ khettaṭṭhānaṃ disvā — “idha vuttā sāliādayo suṭṭhu sampajjissanti, mahālābhaṃ labhissāmī”ti sattakkhattumpi[1] khettaṭṭhānaṃ olokentassa sāliādayo na sampajjanteva, sace pana taṃ ṭhānaṃ vihatakhāṇukakaṇṭakaṃ katvā kasitvā vapati, evaṃ sante sampajjanti, evameva — “idaṃ araññaṃ, ayaṃ rukkho, ayaṃ pabbato, ayaṃ nīlobhāso vanasaṇḍo”ti sacepi sattakkhattuṃ[2] araññasaññaṃ manasi karoti, nevūpacāraṃ na samādhiṃ pāpuṇāti, pathavīsaññāya panassa dhuvasevanaṃ kammaṭṭhānaṃ pathavīkasiṇaṃ parikammaṃ katvā jhānāni nibbattetvā jhānapadaṭṭhānampi vipassanaṃ vaḍḍhetvā sakkā arahattaṃ pāpuṇituṃ. Tasmā araññasaññaṃ pahāya pathavīsaññaṃ manasi karoti. Paṭiccāti paṭicca sambhūtaṃ.
177. Không tác ý tưởng về người: ở đây vị ấy không nắm lấy “tưởng về làng”. Vì sao? Vì đối với vị ấy đã khởi lên ý nghĩ như vầy: “Ta sẽ lần lượt làm cho ‘tưởng về làng’ chấm dứt nhờ ‘tưởng về người’; làm cho ‘tưởng về người’ chấm dứt nhờ ‘tưởng về rừng’; làm cho ‘tưởng về rừng’ chấm dứt nhờ ‘tưởng về đất’ (pathavī‑saññā); làm cho ‘tưởng về đất’ chấm dứt nhờ ‘tưởng về Không vô biên xứ’ (ākāsānañcāyatana‑saññā); … cho đến làm cho ‘tưởng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ’ (nevasaññānāsaññāyatana‑saññā) chấm dứt nhờ Minh sát (vipassanā); rồi bằng Đạo (magga) làm cho Minh sát chấm dứt, ta sẽ tuần tự chỉ bày cái gọi là ‘Tối thượng Không’ (accantasuññatā). Trong số những câu ‘tưởng về địa đại’ vì sao (Ngài) bỏ “tưởng về rừng” mà tác ý “tưởng về đất”? Vì với “tưởng về rừng” thì không đạt được phần thắng tri sai biệt. Ví như một người thấy một thửa ruộng khả ái, nghĩ: “Lúa sālī v.v. gieo ở đây sẽ thành tựu tốt đẹp; ta sẽ được lợi lớn”, rồi dẫu có nhìn ngắm thửa ruộng ấy đến bảy lần, thì lúa sālī v.v. vẫn chẳng thành tựu. Nhưng nếu người ấy dọn sạch chỗ ấy, loại bỏ gốc rễ và gai góc, rồi cày bừa mà gieo hạt, thì khi làm như vậy, (mùa màng) sẽ thành tựu. Cũng vậy, dẫu cho vị ấy có tác ý “tưởng về rừng” đến bảy lần theo cách: “đây là rừng, đây là cây, đây là núi, đây là lùm rừng xanh sẫm”, (thì với ‘tưởng rừng’) cũng không đạt đến cận định, không đạt đến định. Còn đối với “tưởng về đất”, do thường xuyên thân cận đề mục ấy (dhuva‑sevana), làm xong phần chuẩn bị của Đất‑kasiṇa (pathavī‑kasiṇa‑parikamma), chứng được các thiền; rồi lấy các thiền ấy làm y chỉ mà tăng trưởng Minh sát, thì có thể chứng đắc A‑la‑hán. Do vậy, (Ngài) bỏ “tưởng về rừng” mà tác ý “tưởng về đất”. Paṭicca: do nương mà sinh khởi.
Idāni yasmiṃ pathavīkasiṇe so pathavīsaññī hoti, tassa opammadassanatthaṃ seyyathāpītiādimāha. Tattha usabhassa etanti āsabhaṃ. Aññesaṃ pana gunnaṃ gaṇḍāpi honti pahārāpi. Tesañhi cammaṃ pasāriyamānaṃ nibbalikaṃ na hoti, usabhassa lakkhaṇasampannatāya te dosā natthi. Tasmā tassa cammaṃ gahitaṃ. Saṅkusatenāti khilasatena. Suvihatanti pasāretvā suṭṭhu vihataṃ. ūnakasatasaṅkuvihatañhi nibbalikaṃ na hoti, saṅkusatena vihataṃ bheritalaṃ viya nibbalikaṃ hoti. Tasmā evamāha. Ukkūlavikkūlanti uccanīcaṃ thalaṭṭhānaṃ ninnaṭṭhānaṃ. Nadīvidugganti nadiyo ceva duggamaṭṭhānañca[3]. Pathavīsaññaṃ paṭicca manasi karoti ekattanti kasiṇapathaviyaṃyeva paṭicca sambhūtaṃ ekaṃ saññaṃ manasi karoti. Darathamattāti ito paṭṭhāya sabbavāresu pavattadarathavasena darathamattā veditabbā.
Nay, để nêu thí dụ về Đất‑kasiṇa mà nơi đó vị ấy là người có “tưởng về đất”, (chú giải) nói: ‘ví như v.v.’ Ở đây, usabhassa etaṃ: (da của) một con đực đầu đàn (usabha). Còn những con đực khác thì vừa có bướu vừa có vết chém; khi kéo căng da của chúng ra thì không phẳng. Do con usabha đầy đủ các tướng tốt nên không có những khuyết điểm ấy; vì vậy mới lấy da của nó. Với hàng trăm cái móc: bao gồm hàng trăm cọc gỗ. Khéo được căng ra: sau khi được trải ra đã được kéo căng tốt đẹp. Sự thật da bò được sử dụng cái móc không đến hàng trăm cái cọc gỗ để căng ra thì nó sẽ có nếp nhăn, còn sử dụng hàng trăm cọc gỗ thì nó sẽ được căng ra tựa như bề mặt cái trống. Do đó, đã nói như vậy. Có trạng thái cao-thấp: cao cao thấp thấp là vùng đồi núi, (hay) là đầm lầy. Có sông và những ngả đường khó đi: bao gồm dòng sông và những nơi đi lại không thuận tiện. Chỉ chú tâm một thứ do duyên tưởng về địa đại: vị ấy tác ý một ‘tưởng duy nhất’ chỉ y cứ nơi chính Đất‑kasiṇa đã được thiết lập ấy. Chỉ có mỏi mệt: từ đây trở xuống, trong tất cả các đoạn, “chỉ còn mỏi mệt” cần được hiểu theo phương diện “mỏi mệt thuộc vận hành” (pavatta‑daratha).
182. Animittaṃ cetosamādhinti vipassanācittasamādhiṃ. So hi niccanimittādivirahito animittoti vuccati. Imameva kāyanti vipassanāya vatthuṃ dasseti. Tattha imamevāti imaṃ eva catumahābhūtikaṃ. Saḷāyatanikanti saḷāyatanapaṭisaṃyuttaṃ. Jīvitapaccayāti yāva jīvitindriyānaṃ pavatti, tāva jīvitapaccayā pavattadarathamattā atthīti vuttaṃ hoti.
182. Vô tướng tâm định nghĩa là: định của tâm thuộc Minh sát. Bởi vì định này không có các tướng như “thường hằng” v.v., nên được gọi là “vô tướng”. Chính thân này: là chỉ ra đối tượng-nền (vatthu) của Minh sát. Ở đây, “chính cái này” là thân do bốn đại cấu thành. Sự sanh khởi của 6 xứ: tương ưng với sáu xứ. Do mạng quyền làm duyên: chừng nào các mạng quyền còn vận hành, thì chừng ấy (có) phần “mệt nhọc thuộc vận hành” do duyên mạng quyền còn lại.
183. Puna animittanti vipassanāya paṭivipassanaṃ dassetuṃ vuttaṃ. Kāmāsavaṃ paṭiccāti kāmāsavaṃ paṭicca uppajjanapavattadarathā idha na santi, ariyamagge ceva ariyaphale ca natthīti vuttaṃ hoti. Imameva kāyanti imaṃ upādisesadarathadassanatthaṃ vuttaṃ. Iti manussasaññāya gāmasaññaṃ nivattetvā … pe … maggena vipassanaṃ nivattetvā anupubbena accantasuññatā nāma dassitā hoti.
183. Lại nữa, ‘vô tướng’ được nói để chỉ sự phản-quán (paṭivipassanā) của Minh sát. “Do duyên dục lậu” nghĩa là: những mệt nhọc khởi lên và vận hành do duyên dục lậu thì ở đây không có; nghĩa là, trong Thánh đạo và Thánh quả thì không có. “Chính thân này” được nói để chỉ bày phần “mệt nhọc còn dư” (upādisesa-daratha). Như vậy, sau khi lần lượt làm cho “tưởng về làng” chấm dứt do “tưởng về người” … cho đến làm cho Minh sát chấm dứt do Đạo, thì “cái gọi là Tối thượng Không” được chỉ bày theo tuần tự.
184. Parisuddhanti nirupakkilesaṃ. Anuttaranti uttaravirahitaṃ sabbaseṭṭhaṃ. Suññatanti suññataphalasamāpattiṃ. Tasmāti yasmā atītepi, buddhapaccekabuddhabuddhasāvakasaṅkhātā samaṇabrāhmaṇā. anāgatepi, etarahipi buddhabuddhasāvakasaṅkhātā samaṇabrāhmaṇā imaṃyeva parisuddhaṃ paramaṃ anuttaraṃ suññataṃ upasampajja vihariṃsu viharissanti viharanti ca, tasmā. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
184. Sự thanh tịnh: thoát khỏi tùy phiền não. Vô thượng: loại ra khỏi thứ khác một cách cao thượng, tức là tối thượng hơn tất cả. Sự thể nhập không tánh: sự nhập vào quả định của Không tánh. Vì thế: bởi vì trong quá khứ, cả các Sa-môn Bà‑la‑môn gọi là chư Phật, Độc giác Phật, các vị Thinh văn đệ tử; trong vị lai cũng vậy; và hiện tại cũng vậy, các Sa‑môn Bà‑la‑môn gọi là chư Phật, các vị Thinh văn đệ tử đã nhập, sẽ nhập, và đang nhập chính sự Không này vốn thanh tịnh, tối thượng, vô thượng ấy mà an trú; nên (nói “vì vậy”). Từ còn lại ở các câu đều đơn giản.
Giải Thích Kinh Tiểu Không Kết Thúc.
Chú giải
| ↥1 | Ở đây, bản gốc nghĩa là “các Hành của ngài hiển lộ với tính chất trống không”. Được thay thế bởi “các hành khởi lên như là “không có tự ngã” (atta-suñña) và “không thường hằng” (nicca-suñña)”, do nương vào giải thích của ṭīkā cho đoạn chú giải này (Suññatoti attasuññato ca niccasuññato ca saṅkhārā upaṭṭhahiṃsu: Tánh không (Suññata): các hành khởi lên là “không có tự ngã” và “không thường hằng.”) nhằm mục đích tránh cho người nghiên cứu hậu thời không để ý mà hiểu sai – SHT |
|---|