Kinh Bất động lợi ích
(Āneñjasappāya sutta)Xem Chú giải bản dịch tiếng Thái-Việt
66. Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú tại thị trấn Kammāsadhamma của dân chúng Kuru. Tại đây, Thế Tôn gọi các vị Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. – “Bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
– Này các Tỷ-kheo, các dục là vô thường, rỗng không, giả dối, và có bản chất lừa dối. Này các Tỷ-kheo, đó là do ảo thuật tạo ra, là lời nói lảm nhảm của kẻ ngu.
Các dục trong hiện tại và các dục trong tương lai; các dục tưởng trong hiện tại và các dục tưởng trong tương lai – cả hai thứ này đều thuộc về Ma, đây là lãnh địa của Ma, đây là mồi nhử của Ma, đây là hành xứ của Ma.
Tứ thiền
Chính trong các dục này mà những pháp ác bất thiện sanh khởi từ tâm – tức là tham ái, sân hận, và cả sự tranh cạnh – khởi lên. Và chúng trở thành chướng ngại cho vị Thánh đệ tử đang tu học trong Giáo pháp này.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: “Các dục trong hiện tại và các dục trong tương lai; các dục tưởng trong hiện tại và các dục tưởng trong tương lai – cả hai thứ này đều thuộc về Ma, đây là lãnh địa của Ma, là mồi nhử của Ma, là hành xứ của Ma. Chính trong các dục này mà những pháp ác bất thiện sanh khởi từ tâm – tức là tham ái, sân hận, và cả sự tranh cạnh – khởi lên. Và chúng trở thành chướng ngại cho vị Thánh đệ tử đang tu học trong Giáo pháp này.
Vậy ta hãy an trú với một tâm quảng đại, đáo đại, sau khi chế ngự thế gian, với tâm đã được an trú. Khi ta an trú với một tâm quảng đại, đáo đại, sau khi chế ngự thế gian, với tâm đã được an trú, thì những pháp ác bất thiện sanh khởi từ tâm – tức là tham ái, sân hận, và cả sự tranh cạnh – sẽ không còn nữa. Do đoạn trừ được chúng, tâm của ta sẽ trở nên không nhỏ hẹp, vô lượng, và được khéo phát triển (ở cấp độ Siêu thế)”.
Đối với vị thực hành như vậy, thường xuyên an trú trong pháp hành ấy, tâm trở nên trong sáng nơi nền tảng (của nó). Khi có sự trong sáng đó, ngay trong hiện tại, vị ấy hoặc chứng đắc Bất Động thiền, hoặc thiên về giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có khả năng rằng thức tái sanh của vị ấy sẽ hướng đến Bất Động.
Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là pháp hành thứ nhất thuận lợi cho Bất Động.
Không vô biên xứ
67. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: “Các dục trong hiện tại và các dục trong tương lai, các dục tưởng trong hiện tại và các dục tưởng trong tương lai – phàm là sắc pháp, chúng đều là bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành”. Đối với vị thực hành như vậy, thường xuyên an trú trong pháp hành ấy, tâm trở nên trong sáng nơi nền tảng (của nó). Khi có sự trong sáng đó, ngay trong hiện tại, vị ấy hoặc chứng đắc Bất Động thiền, hoặc thiên về giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có khả năng rằng thức tái sanh của vị ấy sẽ hướng đến Bất Động. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là pháp hành thứ hai thuận lợi cho Bất Động.
Thức vô biên xứ
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: “Các dục trong hiện tại và các dục trong tương lai; các sắc pháp trong hiện tại và các sắc pháp trong tương lai – tất cả chúng đều vô thường. Cái gì vô thường thì không đáng để hoan hỷ, không đáng để tán thán, không đáng để chấp thủ”. Đối với vị thực hành như vậy, thường xuyên an trú trong pháp hành ấy, tâm trở nên trong sáng nơi nền tảng (của nó). Khi có sự trong sáng đó, ngay trong hiện tại, vị ấy hoặc chứng đắc Bất Động thiền, hoặc thiên về giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có khả năng rằng thức tái sanh của vị ấy sẽ hướng đến Bất Động. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là pháp hành thứ ba thuận lợi cho Bất Động.
Vô hữu xứ
68. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: “Các dục trong hiện tại và các dục trong tương lai; các tưởng về sắc trong hiện tại và các tưởng về sắc trong tương lai; và các tưởng về Bất Động — tất cả đều là tưởng. Nơi mà các tưởng này diệt tận không còn dư tàn, đó là an tịnh, đó là cao quý — tức là Vô Sở Hữu Xứ”.
Đối với vị thực hành như vậy, thường xuyên an trú trong pháp hành ấy, tâm trở nên trong sáng nơi nền tảng (của nó). Khi có sự trong sáng đó, ngay trong hiện tại, vị ấy hoặc chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, hoặc thiên về giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có khả năng rằng thức tái sanh của vị ấy sẽ hướng đến Vô Sở Hữu Xứ.
Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là pháp hành thứ nhất thuận lợi cho Vô Sở Hữu Xứ.
69. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến một nơi vắng vẻ, suy xét như sau: “Cái này trống không, không có tự ngã hay sở hữu của tự ngã”.
Đối với vị thực hành như vậy, thường xuyên an trú trong pháp hành ấy, tâm trở nên trong sáng nơi nền tảng (của nó). Khi có sự trong sáng đó, ngay trong hiện tại, vị ấy hoặc chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, hoặc thiên về giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có khả năng rằng thức tái sanh của vị ấy sẽ hướng đến Vô Sở Hữu Xứ.
Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là pháp hành thứ hai thuận lợi cho Vô Sở Hữu Xứ.
70. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: “Ta không là vật sở hữu của bất cứ ai ở bất cứ đâu, và cũng không có vật sở hữu nào của ta ở bất cứ đâu, trong bất cứ ai”.
Đối với vị thực hành như vậy, thường xuyên an trú trong pháp hành ấy, tâm trở nên trong sáng nơi nền tảng (của nó). Khi có sự trong sáng đó, ngay trong hiện tại, vị ấy hoặc chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, hoặc thiên về giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có khả năng rằng thức tái sanh của vị ấy sẽ hướng đến Vô Sở Hữu Xứ.
Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là pháp hành thứ ba thuận lợi cho Vô Sở Hữu Xứ.
Phi tưởng, phi phi tưởng xứ
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: “Các dục trong hiện tại và các dục trong tương lai; các tưởng về sắc trong hiện tại và các tưởng về sắc trong tương lai; các tưởng về Bất Động; và các tưởng về Vô Sở Hữu Xứ — tất cả đều là tưởng. Nơi mà các tưởng này diệt tận không còn dư tàn, đó là an tịnh, đó là cao quý — tức là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ”.
Đối với vị thực hành như vậy, thường xuyên an trú trong pháp hành ấy, tâm trở nên trong sáng nơi nền tảng (của nó). Khi có sự trong sáng đó, ngay trong hiện tại, vị ấy hoặc chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, hoặc thiên về giải thoát bằng trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, có khả năng rằng thức tái sanh của vị ấy sẽ hướng đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là pháp hành thuận lợi cho Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Niết-bàn
71. Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
— Bạch Thế Tôn, ở đây, một vị Tỷ-kheo thực hành như sau: “Nó đã không có, và nó đã không thuộc về ta. Nó sẽ không có, và nó sẽ không thuộc về ta. Cái gì đang có, cái gì đã thành, ta từ bỏ nó”. Và như vậy, vị ấy đạt được tâm xả. Bạch Thế Tôn, một vị Tỷ-kheo như vậy có thể Bát-niết-bàn hay không?
— Này Ānanda, trong trường hợp này, có vị Tỷ-kheo có thể Bát-niết-bàn, và có vị Tỷ-kheo không thể Bát-niết-bàn.
— Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, mà trong trường hợp này, có vị Tỷ-kheo có thể Bát-niết-bàn, và có vị không thể Bát-niết-bàn?
— Này Ānanda, ở đây, một vị Tỷ-kheo thực hành như sau: “Nó đã không có, và nó đã không thuộc về ta. Nó sẽ không có, và nó sẽ không thuộc về ta. Cái gì đang có, cái gì đã thành, ta từ bỏ nó”. Và như vậy, vị ấy đạt được tâm xả. Vị ấy hoan hỷ, tán thán, và an trú trong sự chấp thủ vào tâm xả ấy. Do vị ấy hoan hỷ, tán thán, và an trú trong sự chấp thủ vào tâm xả ấy, nên thức của vị ấy nương vào đó và chấp thủ vào đó. Này Ānanda, một vị Tỷ-kheo còn chấp thủ thì không thể Bát-niết-bàn.
— Bạch Thế Tôn, khi vị Tỷ-kheo ấy còn chấp thủ, là vị ấy chấp thủ vào đâu?
— Này Ānanda, vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
— Bạch Thế Tôn, vậy là vị ấy chấp thủ vào đối tượng cao tột nhất!
— Đúng vậy, này Ānanda, vị Tỷ-kheo ấy chấp thủ vào đối tượng cao tột nhất. Vì rằng, này Ānanda, đây là đối tượng chấp thủ cao tột nhất, tức là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
72. Này Ānanda, ở đây, một vị Tỷ-kheo thực hành như sau: “Nó đã không có, và nó đã không thuộc về ta. Nó sẽ không có, và nó sẽ không thuộc về ta. Cái gì đang có, cái gì đã thành, ta từ bỏ nó”. Và như vậy, vị ấy đạt được tâm xả. Vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, và không an trú trong sự chấp thủ vào tâm xả ấy. Do vị ấy không hoan hỷ, không tán thán, và không an trú trong sự chấp thủ vào tâm xả ấy, nên thức của vị ấy không nương vào đó và không chấp thủ vào đó. Này Ānanda, do không còn chấp thủ, vị Tỷ-kheo Bát-niết-bàn.
73.– Bạch Thế Tôn, thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn, bằng cách nương vào từng pháp hành một, Thế Tôn đã chỉ ra con đường vượt qua bộc lưu. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Thánh giải thoát?
— Ở đây, này Ānanda, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: “Các dục trong hiện tại và các dục trong tương lai; các tưởng về sắc trong hiện tại và các tưởng về sắc trong tương lai; các tưởng về Bất Động; các tưởng về Vô Sở Hữu Xứ; và các tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ — toàn bộ cái gọi là tự thân, chỉ có chừng ấy mà thôi. Đây là bất tử, tức là sự giải thoát của tâm do không còn chấp thủ”.
Như vậy, này Ānanda, pháp hành thuận lợi cho Bất Động đã được Ta thuyết giảng; pháp hành thuận lợi cho Vô Sở Hữu Xứ đã được Ta thuyết giảng; pháp hành thuận lợi cho Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đã được Ta thuyết giảng; con đường vượt qua bộc lưu bằng cách nương vào từng pháp hành một đã được Ta thuyết giảng; và Thánh giải thoát cũng đã được Ta thuyết giảng.
Những gì, này Ānanda, vị Ðạo sư cần phải làm, vì lòng từ mẫn mưu tìm hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy đã được Ta làm, vì lòng từ mẫn của Ta đối với Ông. Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền, này Ānanda, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời dạy của Ta cho Ông.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Biên tập: sư Hạnh Tuệ
Mục đích: làm cho câu kinh rõ ràng, sát nghĩa, phù hợp với chú giải.