Kinh số 139 – Giải Thích Kinh Vô Tranh Phân Biệt

(Araṇavibhaṅgasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Vô Tránh Phân Biệt

323. Evaṃ me sutanti araṇavibhaṅgasuttaṃ. Tattha nevussādeyya na apasādeyyāti gehasitavasena kañci puggalaṃ neva ukkhipeyya na avakkhipeyya. Dhammameva deseyyāti sabhāvameva katheyya. Sukhavinicchayanti vinicchitasukhaṃ. Raho vādanti parammukhā avaṇṇaṃ, pisuṇavācanti attho. Sammukhā na khīṇanti sammukhāpi khīṇaṃ ākiṇṇaṃ saṃkiliṭṭhaṃ vācaṃ na bhaṇeyya. Nābhiniveseyyāti na adhiṭṭhahitvā ādāya vohareyya. Samaññanti lokasamaññaṃ lokapaṇṇattiṃ. Nātidhāveyyāti nātikkameyya.

323. Kinh Vô Tranh Phân Biệt được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, không nên tán dương, không nên khiển trách: nghĩa là không nên đề cao (ukkhipeyya) hay hạ thấp (avakkhipeyya) bất kỳ cá nhân nào dựa trên sự quyến luyến thế tục (gehasitavasena). Chỉ nên thuyết giảng giáo pháp: chỉ nên nói về bản thể sự thật mà thôi. Phán xét về lạc: Lạc đã được phân tích kỹ lưỡng. Nói sau lưng: chê bai sau lưng, có nghĩa là nói lời đâm thọc. Lời nói gây xúc phạm trước mặt: ngay cả khi đối mặt cũng không nên nói những lời thô ác, hỗn tạp hoặc ô nhiễm. Không nên cố chấp: không nên cố chấp nắm giữ (quan điểm) rồi đem ra sử dụng/đàm luận. Lời nói thường dùng: Ngôn ngữ thường dùng ở thế gian, được quy định bởi thế gian. Không nên vi phạm: không nên vi phạm.

324. Kāmapaṭisandhisukhinoti kāmapaṭisandhinā kāmūpasaṃhitena sukhena sukhitassa. Sadukkhoti vipākadukkhena saṃkilesadukkhenapi sadukkho. Saupaghātoti vipākūpaghātakilesūpaghāteheva saupaghāto. Tathā sapariḷāho. Micchāpaṭipadāti ayāthāvapaṭipadā akusalapaṭipadā.

324. Người có sự an lạc liên hệ đến dục: người có sự an lạc với sự liên hệ đến dục, tức là gắn liền với dục. Có đau khổ: có khổ đau bởi khổ do quả dị thục, hay khổ do phiền não (nhiễm ô). Có sự phiền muộn: Có sự phiền muộn bởi sự buồn phiền do chính dị thục quả và sự phiền muộn do chính sự nhiễm ô, có sự nhiệt não tương tự như thế. Thực hành sai trái: Sự thực hành không đúng như thật, sự thực hành thuộc bất thiện.

326. Ittheke apasādetīti evaṃ gehasitavasena ekacce puggale apasādeti. Ussādanepi eseva nayo. Bhavasaṃyojananti bhavabandhanaṃ, taṇhāyetaṃ nāmaṃ.

326. Vị ấy chỉ trích một số người: nghĩa là khiển trách một số cá nhân dựa trên khuynh hướng quyến luyến thế tục (gehasitavasena). Đối với việc tán dương, phương thức giải thích cũng tương tự như vậy. Hữu kiết sử: sự trói buộc trong các hữu, đó là tên gọi của tham ái.

Subhūtitthero kira imaṃ catukkaṃ nissāya etadagge ṭhapito. Bhagavato hi dhammaṃ desentassa puggalānaṃ ussādanāapasādanā paññāyanti, tathā Sāriputtattherādīnaṃ. Subhūtittherassa pana dhammadesanāya “ayaṃ puggalo appaṭipannako anārādhako”ti vā, “ayaṃ sīlavā guṇavā lajjipesalo ācārasampanno”ti vā natthi, dhammadesanāya panassa “ayaṃ micchāpaṭipadā, ayaṃ sammāpaṭipadā”tveva paññāyati. tasmā bhagavā “etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ araṇavihārīnaṃ yadidaṃ subhūtī”[1]ti āha.

Được biết rằng trưởng lão dựa vào nhóm bốn này giữ vị trí đứng đầu-etadagga. Thật vậy, trong khi đức Thế Tôn đang thuyết giảng Pháp, sự tán dương và sự khiển trách được hiển lộ cùng tất cả mọi người. Khi các trưởng lão có trưởng lão Sārīputta v.v, thuyết giảng Pháp thì sự tán dương và sự khiển trách cũng được hiển lộ như thế. Tuy nhiên Pháp thoại của trưởng lão Subhūti thì không: “hạng người này không hiển lộ, thực hành sai” hoặc “hạng người này có giới, có đức, có sự xấu hổ, có giới dễ mến, thành tựu về mọi hạnh kiểm”, hơn nữa Pháp thoại của trưởng lão Subhūti được hiển lộ như vầy: “Đây là sự thực hành sai, đây là sự thực hành chân chánh chỉ có như vậy”. Vì thế, đức Thế Tôn mới thuyết rằng: “Này chư Tỳ khưu, trong các Tỳ khưu đệ tử của ta, Subhūti là vị đứng đầu trong số những vị thường sống với sự tĩnh lặng”.

329. Kālaññū assāti asampatte ca atikkante ca kāle akathetvā “idāni vuccamānaṃ mahājano gaṇhissatī”ti yuttapattakālaṃ ñatvāva parammukhā avaṇṇaṃ bhāseyya. Khīṇavādepi eseva nayo.

329. Nên biết được thời điểm: Nghĩa là không nói khi thời điểm chưa đến hoặc khi thời điểm đã trôi qua. Chỉ khi nhận biết được thời điểm thích hợp và đúng lúc (yuttappattakāla) rằng: “Bây giờ, nếu ta nói thì đại chúng sẽ tiếp nhận”, lúc ấy vị đó mới nên nói lời chỉ lỗi (thiếu tán thán) sau lưng người khác. Đối với lời công kích trực diện (khīṇavāda), phương thức cũng tương tự như vậy.

330. Upahaññatīti ghātiyati. Saropi upahaññatīti saddopi bhijjati. Āturīyatīti āturo hoti gelaññappatto sābādho. Avissaṭṭhanti vissaṭṭhaṃ apalibuddhaṃ na hoti.

330. “Bị tổn hại” (upahaññati): Nghĩa là bị tổn thương hoặc bị hư hoại. “Âm giọng cũng bị tổn hại”: Nghĩa là tiếng nói bị vỡ (khàn/rè). “Trở nên mệt mỏi” (āturīyati): Nghĩa là trở nên đuối sức, như người rơi vào tình trạng đau ốm, bệnh tật. “Không rõ ràng” (avissaṭṭha): Nghĩa là không được lưu loát (vissaṭṭha), không được thông suốt (bị vướng mắc/ngắt quãng).

331. Tadevāti taṃyeva bhājanaṃ. Abhinivissa voharatīti pattanti sañjānanajanapadaṃ gantvā “pattaṃ āharatha dhovathā”ti sutvā “andhabālaputhujjano, nayidaṃ pattaṃ, pāti namesā, evaṃ vadāhī”ti abhinivissa voharati. Evaṃ sabbapadehi yojetabbaṃ. Atisāroti atidhāvanaṃ.

331. Tadeva: Chính vật đựng đó. Chấp trước mà nói: Ví như một kẻ phàm phu mù quáng, đi đến một địa phương mà ở đó người ta hiểu vật dụng ấy là ‘cái bát’ (patta). Khi nghe họ nói: “Hãy mang cái bát lại đây, hãy rửa cái bát”, kẻ đó liền cố chấp mà nói rằng: “Đây không phải cái bát, đây là cái chậu (pāti), ngươi phải gọi như thế này mới đúng”. Cần phải áp dụng cách giải thích này cho tất cả các từ ngữ khác. “Sự vượt quá” (atisāro): Nghĩa là sự đi quá giới hạn (của quy ước thông thường).

332. Tathā tathā voharati aparāmasanti amhākaṃ janapade bhājanaṃ pātīti vuccati, ime pana naṃ pattanti vadantīti tato paṭṭhāya janapadavohāraṃ muñcitvā pattaṃ pattanteva aparāmasanto voharati. sesapadesupi eseva nayo.

332. Các vị ấy nói theo như vậy, không chấp trước: Nghĩa là vị ấy nghĩ rằng: “Ở địa phương của chúng ta, vật dụng này được gọi là cái chậu (pāti), nhưng những người này lại gọi nó là cái bát (patta)”. Kể từ đó, vị ấy từ bỏ cách gọi của địa phương mình và sử dụng từ “cái bát”, gọi là “cái bát” mà không hề có sự chấp thủ hay vướng mắc (aparāmasanto). Đối với các danh từ khác cũng áp dụng phương thức tương tự.

333. idāni mariyādabhājanīyaṃ karonto tatra, bhikkhavetiādimāha. Tattha saraṇoti sarajo sakileso. Araṇoti arajo nikkileso. Subhūti ca pana, bhikkhaveti ayaṃ thero dvīsu ṭhānesu etadaggaṃ āruḷho “araṇavihārīnaṃ yadidaṃ Subhūti, dakkhiṇeyyānaṃ yadidaṃ Subhūtī”ti (a. ni. 1.202).

333. Bây giờ, đức Thế Tôn khi thực hiện phân tích câu không để lẫn lộn với nhau mới thuyết rằng: “Ở đây, này chư Tỳ khưu…” Ở đó, saraṇo [pháp hữu tranh]: có bụi bẩn, có nhiễm ô. Araṇo [pháp vô tranh]: không có bụi bẩn, thoát khỏi mọi nhiễm ô. Và này các Tỳ khưu, Thiện gia nam tử Subhūti: Vị Trưởng lão này đã đạt được vị trí Tối thắng (Etadagga) ở hai phương diện: “Bậc tối thắng về Hạnh Vô Tranh (araṇavihārīnaṃ) là Subhūti, và bậc tối thắng về Xứng đáng thọ nhận vật cúng dường (dakkhiṇeyyānaṃ) là Subhūti” (a. ni. 1.202).

Dhammasenāpati kira vatthuṃ sodheti, subhūtitthero dakkhiṇaṃ sodheti. Tathā hi dhammasenāpati piṇḍāya caranto gehadvāre ṭhito yāva bhikkhaṃ āharanti, tāva pubbabhāge paricchinditvā nirodhaṃ samāpajjati, nirodhā vuṭṭhāya deyyadhammaṃ paṭiggaṇhāti. Subhūtitthero ca tatheva mettājhānaṃ samāpajjati, mettājhānā vuṭṭhāya deyyadhammaṃ paṭiggaṇhāti. Evaṃ pana kātuṃ sakkāti. Āma sakkā, neva acchariyañcetaṃ, yaṃ mahābhiññappattā sāvakā evaṃ kareyyuṃ. Imasmimpi hi Tambapaṇṇidīpe porāṇakarājakāle Piṅgalabuddharakkhitatthero nāma Uttaragāmaṃ nissāya vihāsi. Tattha satta kulasatāni honti, ekampi taṃ kuladvāraṃ natthi, yattha thero samāpattiṃ na samāpajji. Sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

Tương truyền rằng, vị Tướng quân Chánh pháp (Ngài Sāriputta) làm thanh tịnh hóa “vật thí” (vatthu), còn Trưởng lão Subhūti làm thanh tịnh hóa “sự cúng dường” (dakkhiṇā).

Thật vậy, vị Tướng quân Chánh pháp khi đi khất thực, ngài đứng trước cửa nhà và trong khi chờ người ta mang vật thực ra, ngài thực hiện các tiền phận sự (pubbabhāge) rồi nhập Diệt tận định (nirodhaṃ samāpajjati). Sau khi xuất định, ngài mới thọ nhận phẩm vật. Còn Trưởng lão Subhūti thì nhập vào Thiền định tâm Từ (mettājhāna), rồi sau khi xuất thiền mới thọ nhận phẩm vật.

Hỏi rằng: “Có thể làm được như vậy sao?”. Đáp rằng: “Có thể chứ, và cũng không có gì đáng kinh ngạc khi các vị đệ tử đã đắc đại thần thông (mahābhiññā) hành xử như vậy”.

Bản Hiệu Đính: Ngay tại đảo Tambapaṇṇi (Sri Lanka) này, vào thời các vị vua cổ đại, có vị Trưởng lão tên là Piṅgalabuddharakkhita trú ngụ gần làng Uttaragāma. Trong làng đó có 700 hộ gia đình, không một gia đình nào mà vị Trưởng lão ấy không nhập thiền chứng trước khi thọ thực (tức là vị ấy nhập định trước cửa của tất cả 700 nhà). Từ còn lại trong các câu đều đơn giản.

Giải Thích Kinh Vô Tránh Phân Biệt Kết Thúc


[1]  aṅ. ekaka. 20/201/24