Kinh số 24 – Giải Thích Kinh Trạm Xe
(Rathavinītasuttavaṇṇanā)24.1. Nội dung dịch
|
STT |
Pāḷi |
Việt |
|
1 |
252. evaṃ me sutanti rathavinītasuttaṃ. tattha rājagaheti evaṃnāmakenagare, tañhi mandhātumahāgovindādīhi pariggahitattā rājagahanti vuccati. aññepettha pakāre vaṇṇayanti. kiṃ tehi? nāmametaṃ tassa nagarassa. taṃ panetaṃ buddhakāle ca cakkavattikāle ca nagaraṃ hoti, sesakāle suññaṃ hoti yakkhapariggahitaṃ, tesaṃ vasantavanaṃ hutvā tiṭṭhati. veḷuvane kalandakanivāpeti veḷuvananti tassa uyyānassa nāmaṃ, taṃ kira veḷūhi parikkhittaṃ ahosi aṭṭhārasahatthena ca pākārena, gopuraṭṭālakayuttaṃ nīlobhāsaṃ manoramaṃ, tena veḷuvananti vuccati. Kalandakānañcettha nivāpaṃ adaṃsu, tena kalandakanivāpoti vuccati. |
[(Điều này) đã được nghe bởi tôi như vầy], tức: (chỉ đến) bài kinh Rathavinītasutta. Ở đó, [ở Rājagaha], tức: ở thành phố có tên gọi như thế. Quả thật, thành phố đó được gọi là ‘Rājagaha’ do nó được sở hữu bởi các vua Mandhātā, Mahāgovinda vân vân. Ở đây, những người khác còn giải thích (cái tên đó) theo một lối khác. Họ (giải thích) gì? Thành phố ấy có tên gọi đó. Thế nhưng, vào thời Đức Phật hay thời của Chuyển Luân Vương, chính (khu vực) đó là một thành phố. Vào lúc khác, (khu vực) đó hoang vắng, bị chiếm hữu bởi Dạ Xoa; (khu vực đó) tồn tại với rừng, suối cho chúng (các Dạ Xoa). [Ở Veḷuvana ở Kalandakanivāpa], [Veḷuvana – vườn trúc], tức: tên gọi của khu vườn đó. Quả thật, (khu vườn) đó được bao quanh bởi các cây trúc và một bức tường bao (có kích thước) 18 Hattha; (khu vườn đó) nối liền với một tháp canh ở lối vào; (khu vườn đó) toả màu xanh thẫm, thích ý. Do đó, nó được gọi là [veḷuvana – vườn trúc]. Và tại đó, người ta cho lũ sóc thức ăn; do đó, nó được gọi là [kalandakanivāpa – (nơi) có thức ăn cho lũ sóc]. |
|
2 |
pubbe kira aññataro rājā tattha uyyānakīḷanatthaṃ āgato surāmadena matto divāseyyaṃ upagato supi. parijanopissa, “sutto rājā”ti pupphaphalādīhi palobhiyamāno ito cito ca pakkāmi, atha surāgandhena aññatarasmā susirarukkhā kaṇhasappo nikkhamitvā raññābhimukho āgacchati. taṃ disvā rukkhadevatā, “rañño jīvitaṃ dammī”ti kāḷakavesena āgantvā kaṇṇamūle saddamakāsi. rājā paṭibujjhi, kaṇhasappo nivatto. so taṃ disvā, “imāya mama jīvitaṃ dinnan”ti kāḷakānaṃ tattha nivāpaṃ paṭṭhapesi, abhayaghosanañca ghosāpesi. tasmā taṃ tato pabhuti kalandakanivāpanti saṅkhyaṃ gataṃ. kalandakāti kāḷakānaṃ nāmaṃ. |
Quả thật, vào thời xưa, một vị vua nọ đã đến đó nhằm mục đích vui chơi tại khu vườn; (vị ấy) say sưa bởi cơn say do chất say rồi ngủ do rơi vào cơn buồn ngủ giữa ngày. Và một tuỳ tùng của vị ấy (nghĩ rằng) ‘Nhà vua đã ngủ’; bị cuốn hút bởi hoa, quả vân vân, đã đi đến chỗ này và chỗ kia. Thế rồi, một con rắn đen do mùi hương của chất say, đi ra khỏi một cái cây rỗng nọ rồi đến trước mặt vị vua. Nhìn thấy điều đó, một vị thần cây (nghĩ rằng) ‘Ta hãy cố cứu mạng sống của nhà vua’; xuất hiện trong bộ dạng [con sóc – kāḷaka] rồi gây tiếng động ở gốc lỗ tai (nhà vua). Vị vua tỉnh dậy; con rắn đen quay đi. (Vị vua) ấy nhìn thấy điều đó; (nghĩ rằng) ‘Mạng sống của ta đã được ban cho bởi (vị thần cây) ấy’ rồi cho [lũ sóc – kāḷaka] thức ăn tại đó; khiến chúng kêu lên tiếng kêu không sợ hãi(i). Do đó, bắt đầu từ đó, (khu vườn) đó có tên gọi là [kalandakanivāpa – (nơi) có thức ăn cho lũ sóc]. [kalandaka – sóc], tức: tên gọi của các [kāḷaka – con sóc]. —– (i) Tức làm chúng thấy an tâm, an toàn. |
|
3 |
jātibhūmikāti jātibhūmivāsino. tattha jātibhūmīti jātaṭṭhānaṃ. taṃ kho panetaṃ neva kosalamahārājādīnaṃ na caṅkībrāhamaṇādīnaṃ na sakkasuyāmasantusitādīnaṃ na asītimahāsāvakādīnaṃ na aññesaṃ sattānaṃ jātaṭṭhānaṃ “jātibhūmī”ti vuccati. yassa pana jātadivase dasasahassilokadhātu ekaddhajamālāvippakiṇṇakusumavāsacuṇṇagandhasugandhā sabbapāliphullamiva nandanavanaṃ virocamānā paduminipaṇṇe udakabinduviya akampittha, jaccandhādīnañca rūpadassanādīni anekāni pāṭihāriyāni pavattiṃsu, tassa sabbaññubodhisattassa jātaṭṭhānasākiyajanapado kapilavatthāhāro, sā “jātibhūmī”ti vuccati. |
[Thuộc sinh xứ – jātibhūmika], tức: sống ở sinh xứ(i). Ở đoạn kinh đó, [sinh xứ – jātibhūmi], tức: nơi (người ta) sinh ra. Thế nhưng, chính nơi sinh ra của Đại Vương xứ Kosala vân vân; của Bà La Môn Caṅkī vân vân; của Sakka, Suyāma, Santusita vân vân; của 80 vị đại đệ tử vân vân hay của những chúng sinh khác không hề được gọi là ‘sinh xứ’. Mà vào ngày sinh ra của người nào, 10.000 hệ thống thế giới có cờ hoa cùng khắp, có hương thơm giống như mùi hương của bột thơm, (mùi hương) của những bông hoa được rải rắc, toả sáng giống như khu vườn Nandana trổ hoa toàn bộ, rúng động giống như giọt nước trên lá sen, và nhiều chuyện kỳ dị diễn ra như việc những người mù bẩm sinh nhìn thấy cảnh sắc vân vân; thì xứ sở của tộc Sakya với cơ sở là thành Kapilavatthu – là nơi sinh ra của vị Toàn Giác Bồ Tát đó – nơi đó được gọi là ‘sinh xứ'(ii). —– (i) Sinh xứ tức nơi người nào đó sinh ra – có phần nào tương ứng với khái niệm ‘quê hương’. (ii) Tức sinh xứ trong văn cảnh này là nơi sinh ra của Đức Bồ Tát Gotama. |
|
4 |
vassaṃvuṭṭhāti temāsaṃ vassaṃ vuṭṭhā pavāritapavāraṇā hutvā. Bhagavā etadavocāti “kacci, bhikkhave, khamanīyan”tiādīhi vacanehi āgantukapaṭisanthāraṃ katvā etaṃ, “ko nu kho, bhikkhave”tiādivacanamavoca. te kira bhikkhu, — “kacci, bhikkhave, khamanīyaṃ kacci yāpanīyaṃ, kaccittha appakilamathena addhānaṃ āgatā, na ca piṇḍakena kilamittha, kuto ca tumhe, bhikkhave, āgacchathā”ti paṭisanthāravasena pucchitā “bhagavā sākiyajanapade kapilavatthāhārato jātibhūmito āgacchāmā”ti āhaṃsu. Atha bhagavā neva suddhodanamahārājassa, na sakkodanassa, na sukkodanassa, na dhotodanassa, na amitodanassa, na amittāya deviyā, na mahāpajāpatiyā, na sakalassa sākiyamaṇḍalassa ārogyaṃ pucchi. atha kho attanā ca dasakathāvatthulābhiṃ parañca tattha samādapetāraṃ paṭipattisampannaṃ bhikkhuṃ pucchanto idaṃ — “ko nu kho, bhikkhave”tiādivacanaṃ avoca. |
[Đã trải qua mùa mưa/đã nhập hạ – vassaṃvuṭṭha], tức: đã trải qua mùa mưa suốt 3 tháng; đã hoàn thành lễ Tự Tứ. [Đức Thế Tôn đã nói điều này], tức: sau khi đón khách bằng những lời như ‘Này các Tỳ Kheo! Các ông có thoải mái không?’ vân vân; Đức Thế Tôn đã nói lời này ‘Này các Tỳ Kheo! Ai…’ vân vân. Quả thật, các vị Tỳ Kheo đó khi được hỏi (bởi Đức Thế Tôn) theo lối đón chào (khách khứa) rằng: ‘Này các Tỳ Kheo! Các ông có thoải mái không? Các ông có khoẻ không? Các ông đi đường đến đây với ít sự mệt mỏi chăng? Các ông không thiếu vật thực chứ? Này các Tỳ Kheo! Các ông đến đây từ đâu?’ đã đáp rằng: ‘Thưa Thế Tôn! Chúng con đến từ sinh xứ – tức từ thành trì cơ sở(i) Kapilavatthu thuộc xứ sở của tộc Sakya’. Thế rồi Đức Thế Tôn không hề hỏi về sức khoẻ của đại vương Suddhodana(ii), của Sakkodana(iii), của Sukkodana(iv), của Dhotodana(v), của Amitodana(vi), của hoàng hậu Amittā(vii), của Mahāpajāpatī(viii), của toàn bộ dòng tộc Sakya. Thế rồi Ngài đã nói lời nói này ‘Này các Tỳ Kheo! Ai…’ vân vân để hỏi về vị Tỳ Kheo tự mình thành tựu việc thực hành, đạt được 10 chủ điểm(ix) và khuyến khích người khác đến (thành tựu) đó. —– (i) (Thành trì) cơ sở [āhāra] có lẽ là kinh đô hoặc địa bàn ban đầu để mở rộng xứ sở. (ii) Cha của Đức Phật. (iii), (iv), (v), (vi) Chú bác của Đức Phật. (vii) Cô của Đức Phật. (viii) Di mẫu của Đức Phật. (ix) 10 chủ điểm tức 10 chủ đề thảo luận, giảng giải quan trọng trong giáo lý như chủ đề về thiểu dục vân vân. |
|
5 |
kasmā pana bhagavā suddhodanādīnaṃ ārogyaṃ apucchitvā evarūpaṃ bhikkhumeva pucchati? piyatāya. buddhānañhi paṭipannakā bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo ca piyā honti manāpā. kiṃ kāraṇā? dhammagarutāya. dhammagaruno hi tathāgatā, so ca nesaṃ dhammagarubhāvo, “dukkhaṃ kho agāravo viharati, appatisso”ti (a. ni. 4.21) iminā ajapālanigrodhamūle uppannajjhāsayena veditabbo. dhammagarutāyeva hi bhagavā mahākassapattherassa abhinikkhamanadivase paccuggamanaṃ karonto tigāvutaṃ maggaṃ agamāsi. atirekatiyojanasataṃ maggaṃ gantvā gaṅgātīre dhammaṃ desetvā mahākappinaṃ saparisaṃ arahatte patiṭṭhapesi. ekasmiṃ pacchābhatte pañcacattālīsayojanaṃ maggaṃ gantvā kumbhakārassa nivesane tiyāmarattiṃ dhammakathaṃ katvā pukkusātikulaputtaṃ anāgāmiphale patiṭṭhapesi. vīsayojanasataṃ gantvā vanavāsisāmaṇerassa anuggahaṃ akāsi. saṭṭhiyojanamaggaṃ gantvā khadiravaniyattherassa dhammaṃ desesi. anuruddhatthero pācīnavaṃsadāye nisinno mahāpurisavitakkaṃ vitakketīti ñatvā tattha ākāsena gantvā therassa purato oruyha sādhukāramadāsi. koṭikaṇṇasoṇattherassa ekagandhakuṭiyaṃ senāsanaṃ paññapāpetvā paccūsakāle dhammadesanaṃ ajjhesitvā sarabhaññapariyosāne sādhukāramadāsi. tigāvutaṃ maggaṃ gantvā tiṇṇaṃ kulaputtānaṃ vasanaṭṭhāne gosiṅgasālavane sāmaggirasānisaṃ saṃkathesi. kassapopi bhagavā — “anāgāmiphale patiṭṭhito ariyasāvako ayan”ti vissāsaṃ uppādetvā ghaṭikārassa kumbhakārassa nivesanaṃ gantvā sahatthā āmisaṃ gahetvā paribhuñji. |
Nhưng tại sao Đức Thế Tôn không hỏi về sức khoẻ của Suddhodana vân vân mà lại hỏi về chính vị Tỳ Kheo như thế? Do sự quý mến. Quả thật, các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, nam cận sự và nữ cận sự có sự thực hành thì đáng yêu, đáng mến đối với chư Phật. Do nguyên nhân gì? Do sự tôn kính Pháp. Bởi vì các Đức Như Lai là những người tôn kính Pháp. Và đây là sự tôn kính Pháp của họ: ‘Quả thật, người không có lòng kính trọng, không có lòng tôn kính sống một cách khổ sở’ (a. ni. 4.21). Thông qua (câu nói) đó; sự tôn kính Pháp nên được hiểu giống như khuynh hướng (của Đức Phật) phát sinh (lúc Ngài) ở gốc cây Ajapālanigrodha(i). Quả thật, do chính sự tôn kính Pháp, Đức Thế Tôn đã đi con đường 3 Gāvuta(ii) để thực hiện chuyến đi gặp gỡ Trưởng lão Mahākassapa vào ngày xuất gia của Trưởng lão. Đức Thế Tôn đã đi con đường hơn 300 Yojana(iii); thuyết Pháp ở bờ sông Gaṅgā rồi khiến cho Mahākappina cùng hội chúng trụ trong trạng thái A La Hán. Một lần sau bữa ăn, (Đức Thế Tôn) đã đi con đường 45 Yojana; thuyết Pháp ở nơi ngụ của người thợ gốm suốt buổi tối 3 canh rồi khiến cho người con trai gia tộc là Pukkusāti trụ trong Bất Lai Quả. (Đức Thế Tôn) đã đi 2.000 Yojana rồi trợ giúp cho một vị Sa Di – là người ngụ ở rừng. (Đức Thế Tôn) đã đi con đường 60 Yojana rồi thuyết Pháp cho trưởng lão Khadiravaniya. Sau khi biết rằng ‘Ở Pācīnavaṃsadāya, trưởng lão Anuruddha trong khi ngồi thì tư duy về tư duy của bậc đại nhân’; (Đức Thế Tôn) đã di chuyển trong không trung đến đó; đáp xuống trước mặt trưởng lão rồi tán thán. (Đức Thế Tôn) đã chỉ định nơi ngụ cho trưởng lão Koṭikaṇṇasoṇa ở một hương phòng; vào buổi sáng sớm, Ngài yêu cầu bài thuyết Pháp (từ vị trưởng lão) rồi tán thán vào cuối phần tụng đọc (của vị ấy). (Đức Thế Tôn) đã đi con đường 3 Gāvuta rồi nói về lợi ích từ hương vị của sự hoà hợp tại khu rừng Gosiṅgasāla – vốn là nơi ngụ của 3 người con trai gia tộc. Và Đức Thế Tôn Kassapa đã khởi lên niềm tin rằng ‘Vị thánh đệ tử này đã trụ vững trong Bất Lai Quả’; đi đến nơi ngụ của người thợ gốm Ghaṭikāra; lấy thức ăn với đôi tay mình rồi thọ dụng. —– (i) Tức trong câu nói ‘quả thật, người không có lòng kính trọng, không có lòng tôn kính sống một cách khổ sở’; ta cần hiểu: ‘người không có lòng kính trọng’ không phải do người đó cao ngạo, không biết kính trọng ai; mà người đó không có đối tượng nào để kính trọng. Khi Đức Phật vừa thành Đạo; thoạt tiên, Ngài không biết kính trọng ai, sau đó Ngài kính trọng Pháp. (ii), (iii) Đơn vị độ dài. |
|
6 |
amhākaṃyeva bhagavā upakaṭṭhāya vassūpanāyikāya jetavanato bhikkhusaṅghaparivuto cārikaṃ nikkhami. kosalamahārājānāthapiṇḍikādayo nivattetuṃ nāsakkhiṃsu. anāthapiṇḍiko gharaṃ āgantvā domanassappatto nisīdi. atha naṃ puṇṇā nāma dāsī domanassappattosi sāmīti āha. “āma je, satthāraṃ nivattetuṃ nāsakkhiṃ, atha me imaṃ temāsaṃ dhammaṃ vā sotuṃ, yathādhippāyaṃ vā dānaṃ dātuṃ na labhissāmī”ti cintā uppannāti. ahampi sāmi satthāraṃ nivattessāmīti. sace nivattetuṃ sakkosi, bhujissāyeva tvanti. sā gantvā dasabalassa pādamūle nipajjitvā “nivattatha bhagavā”ti āha. puṇṇe tvaṃ parapaṭibaddhajīvikā kiṃ me karissasīti. Bhagavā mayhaṃ deyyadhammo natthīti tumhepi jānātha, tumhākaṃ nivattanapaccayā panāhaṃ tīsu saraṇesu pañcasu sīlesu patiṭṭhahissāmīti. bhagavā sādhu sādhu puṇṇeti sādhukāraṃ katvā nivattetvā jetavanameva paviṭṭho. ayaṃ kathā pākaṭā ahosi. seṭṭhi sutvā puṇṇāya kira bhagavā nivattitoti taṃ bhujissaṃ katvā dhītuṭṭhāne ṭhapesi. sā pabbajjaṃ yācitvā pabbaji, pabbajitvā vipassanaṃ ārabhi. athassā satthā āraddhavipassakabhāvaṃ ñatvā imaṃ obhāsagāthaṃ vissajjesi — |
Khi mùa mưa đang đến; Đức Thế Tôn của chính chúng ta đã khởi hành từ Jetavana với sự tháp tùng của Tỳ Kheo Tăng. Đại vương xứ Kosala, ông Anāthapiṇḍika vân vân không thể cản ngăn Ngài. Ông Anāthapiṇḍika về nhà rồi ngồi buồn rầu. Thế rồi, người hầu nữ – tên là Puṇṇā – đã nói rằng: ‘Chủ nhân! Ông buồn rầu ư?’ (Ông Anāthapiṇḍika) ‘Ô phải! Ta đã khởi ý nghĩ rằng ‘Ta đã không thể cản ngăn Bậc Đạo Sư; thế thì trong suốt 3 tháng này, ta sẽ không có cơ hội nghe Pháp cho mình hay cúng dường theo ý định của mình.’’ (Người hầu nữ Puṇṇā) ‘Chủ nhân! Nhưng tôi có thể khiến Bậc Đạo Sư quay về!’ (Ông Anāthapiṇḍika) ‘Nếu cô có thể khiến Ngài quay về; thì cô sẽ thành người hoàn toàn tự do!’ Người nữ ấy ra đi; nằm rạp người nơi bàn chân của Đấng Thập Lực rồi nói rằng: ‘Đức Thế Tôn! Xin Ngài hãy quay về!’ (Đức Thế Tôn) ‘Này Puṇṇā! Cô – vốn có sinh kế lệ thuộc vào người khác – có thể làm điều gì cho ta?’ (Người hầu nữ Puṇṇā) ‘Đức Thế Tôn! Ngài cũng biết rằng ‘Con không có tặng phẩm’; thế nhưng, nhờ việc Ngài quay về, con có thể trụ vững trong tam quy, ngũ giới.’ Đức Thế Tôn tán thán: ‘Này Puṇṇā! Lành thay! Lành thay!’; quay về rồi đi vào chính Jetavana. Câu chuyện đó trở nên nổi tiếng. Vị phú hộ đó (tức ông Anāthapiṇḍika) nghe rằng: ‘Quả thật, Đức Thế Tôn được Puṇṇā khiến cho quay về’; bèn cho cô ta thành người tự do rồi đặt cô vào địa vị con gái mình. Cô cầu xin việc xuất gia rồi xuất gia. Sau khi xuất gia; cô tiến hành Vipassanā. Thế rồi, Bậc Đạo Sư biết được tình trạng Vipassanā vững chắc của cô; đã thốt lên bài kệ khen ngợi này: |
|
7 |
“puṇṇe pūresi saddhammaṃ, cando pannaraso yathā. paripuṇṇāya paññāya, dukkhassantaṃ karissasī”ti. (therīgā. 3). gāthāpariyosāne arahattaṃ patvā abhiññātā sāvikā ahosīti. evaṃ dhammagaruno tathāgatā. |
‘Này Puṇṇā! Con đã tròn đầy Chánh Pháp giống như mặt trăng (vào ngày) 15. Bằng Trí Tuệ viên mãn, con sẽ kết thúc Khổ.’ (therīgā. 3). Vào cuối bài kệ; vị nữ đệ tử ấy đạt đến trạng thái A La Hán rồi trở nên nổi tiếng. Các Đức Như Lai tôn kính Pháp như thế. |
|
8 |
nandakatthere upaṭṭhānasālāyaṃ dhammaṃ desentepi bhagavā anahātova gantvā tiyāmarattiṃ ṭhitakova dhammakathaṃ sutvā desanāpariyosāne sādhukāramadāsi. thero āgantvā vanditvā, “kāya velāya, bhante, āgatatthā”ti pucchi. tayā suttante āraddhamatteti. dukkaraṃ karittha, bhante, buddhasukhumālā tumheti. sace tvaṃ, nanda, kappaṃ desetuṃ sakkuṇeyyāsi, kappamattampāhaṃ ṭhitakova suṇeyyanti bhagavā avoca. evaṃ dhammagaruno tathāgatā. tesaṃ dhammagarutāya paṭipannakā piyā honti, tasmā paṭipannake pucchi. paṭipannako ca nāma attahitāya paṭipanno no parahitāya, parahitāya paṭipanno no attahitāya, no attahitāya ca paṭipanno no parahitāya ca, attahitāya ca paṭipanno parahitāya cāti catubbidho hoti. |
Và trong khi trưởng lão Nandaka thuyết Pháp ở hội trường; Đức Thế Tôn dẫu chưa tắm vẫn đi đến, đứng suốt cả 3 canh giờ ban đêm, nghe bài giảng Pháp rồi tán thán vào cuối bài thuyết giảng ấy. Trưởng lão đến; đảnh lễ; rồi hỏi (Đức Thế Tôn) rằng: ‘Thưa Ngài! Ngài đã đến vào lúc nào?’ (Đức Thế Tôn) ‘Vào lúc bài giảng vừa được khởi đầu bởi ông!’ (Trưởng lão Nanda) ‘Thưa Ngài! Ngài đã làm việc khó làm; Ngài thật là vị Phật hiền dịu!’ Đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Nanda! Nếu ông có thể thuyết (Pháp) suốt một kiếp; thì ta cũng có thể nghe trong khi đứng suốt cả một kiếp!’ Các Đức Như Lai tôn kính Pháp như thế. Do sự tôn kính Pháp; những người có sự thực hành thì đáng yêu đối với (các Đức Như Lai) ấy. Do đó, Ngài đã hỏi những người có sự thực hành. Và những người có sự thực hành thì gồm 4 loại: (i) Thực hành vì ích lợi cho bản thân mình, không vì ích lợi cho người khác; (ii) Thực hành vì ích lợi cho người khác, không vì ích lợi cho bản thân mình; (iii) Thực hành không vì ích lợi cho bản thân mình, cũng không vì ích lợi cho người khác; (iv) Thực hành vì ích lợi cho bản thân mình lẫn vì ích lợi cho người khác. |
|
9 |
tattha yo sayaṃ dasannaṃ kathāvatthūnaṃ lābhī hoti, paraṃ tattha na ovadati na anusāsati āyasmā bākulo viya. ayaṃ attahitāya paṭipanno nāma no parahitāya paṭipanno, evarūpaṃ bhikkhuṃ bhagavā na pucchati. kasmā? na mayhaṃ sāsanassa vaḍḍhipakkhe ṭhitoti. |
Trong chủ đề này, người nào tự mình đạt được 10 chủ điểm, nhưng khi đó, không giáo huấn, không hướng dẫn người khác giống như Đại Đức Bākula; thì người đó thực hành vì ích lợi cho bản thân mình, không thực hành vì ích lợi cho người khác. Đức Thế Tôn không hỏi vị Tỳ Kheo như thế. Tại sao? (Đức Thế Tôn trả lời) ‘Vị ấy không thuộc nhóm phát triển Giáo Pháp của ta!’ |
|
10 |
yo pana dasannaṃ kathāvatthūnaṃ alābhī, paraṃ tehi ovadati tena katavattasādiyanatthaṃ upanando sakyaputto viya, ayaṃ parahitāya paṭipanno nāma no attahitāya, evarūpampi na pucchati. kasmā? assa taṇhā mahāpacchi viya appahīnāti. |
Còn người nào không đạt được 10 chủ điểm, nhưng giáo huấn người khác bằng (10 chủ điểm) đó để người khác tiếp thu phận sự mà mình đã thực hiện(i) giống như Upananda – con trai tộc Sakya; thì người đó thực hành vì ích lợi cho người khác, không thực hành vì ích lợi cho bản thân mình. Đức Thế Tôn cũng không hỏi vị Tỳ Kheo như thế. Tại sao? Do tham ái của người ấy giống như một cái giỏ lớn, chưa được từ bỏ. —– (i) Tức để người khác cũng hành Đạo giống mình, nhưng mình thì chưa đạt thành quả thực hành đáng kể. |
|
11 |
yo attanāpi dasannaṃ kathāvatthūnaṃ alābhī, parampi tehi na ovadati, lāḷudāyī viya, ayaṃ neva attahitāya paṭipanno na parahitāya, evarūpampi na pucchati. kasmā? assa anto kilesā pharasuchejjā viya mahantāti. |
Còn người nào tự mình không đạt được 10 chủ điểm, cũng không giáo huấn người khác bằng (10 chủ điểm) đó giống như Lāḷudāyī; thì người đó không thực hành vì ích lợi cho bản thân mình, cũng không thực hành vì ích lợi cho người khác. Đức Thế Tôn cũng không hỏi vị Tỳ Kheo như thế. Tại sao? Do các phiền não bên trong vị ấy thì nhiều như thể cần được chặt bằng rìu. |
|
12 |
yo pana sayaṃ dasannaṃ kathāvatthūnaṃ lābhī, parampi tehi ovadati, ayaṃ attahitāya ceva parahitāya ca paṭipanno nāma sāriputtamoggallānamahākassapādayo asītimahātherā viya, evarūpaṃ bhikkhuṃ pucchati. kasmā? mayhaṃ sāsanassa vuḍḍhipakkhe ṭhitoti. idhāpi evarūpameva pucchanto — “ko nu kho, bhikkhave”tiādimāha. |
Còn người nào tự mình đạt được 10 chủ điểm, và giáo huấn người khác bằng (10 chủ điểm) đó; thì người đó thực hành vì ích lợi cho bản thân mình lẫn thực hành vì ích lợi cho người khác giống như 80 vị đại trưởng lão Sāriputta, Moggallāna, Mahākassapa vân vân. Đức Thế Tôn hỏi vị Tỳ Kheo như thế. Tại sao? (Đức Thế Tôn trả lời) ‘Vị ấy thuộc nhóm phát triển Giáo Pháp của ta’. Và ở đây, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Quả thật này các Tỳ Kheo! Ai…?’ vân vân khi đang hỏi chính vị Tỳ Kheo như thế. |
|
13 |
evaṃ bhagavatā puṭṭhānaṃ pana tesaṃ bhikkhūnaṃ bhagavā attano jātibhūmiyaṃ ubhayahitāya paṭipannaṃ dasakathāvatthulābhiṃ bhikkhuṃpucchati, ko nu kho tattha evarūpoti na aññamaññaṃ cintanā vā samantanā vā ahosi. kasmā? āyasmā hi mantāṇiputto tasmiṃ janapade ākāsamajjhe ṭhito cando viya sūriyo viya ca pākaṭo paññāto. tasmā te bhikkhū meghasaddaṃ sutvā ekajjhaṃ sannipatitamoraghaṭā viya ghanasajjhāyaṃ kātuṃ, āraddhabhikkhū viya ca attano ācariyaṃ puṇṇattheraṃ bhagavato ārocentā therassa ca guṇaṃ bhāsituṃ appahontehi mukhehi ekappahāreneva puṇṇo nāma, bhante, āyasmātiādimāhaṃsu. Tattha puṇṇoti tassa therassa nāmaṃ. mantāṇiyā pana so putto, tasmā mantāṇiputtoti vuccati. sambhāvitoti guṇasambhāvanāya sambhāvito. |
Thế nhưng, khi Đức Thế Tôn hỏi các vị Tỳ Kheo ấy như vậy; Đức Thế Tôn hỏi đến vị Tỳ Kheo đạt được 10 chủ điểm, thực hành vì cả 2 lợi ích (lợi mình, lợi người) ở sinh xứ của Ngài rằng: ‘Quả thật, ở đó, ai là (vị Tỳ Kheo) như thế?’. (Khi được hỏi như vậy) các vị Tỳ Kheo ấy không nghĩ đến nhau hay nghĩ đến toàn bộ (các vị Tỳ Kheo ở xứ đó)(i). Tại sao? Bởi vì Đại Đức Mantāṇiputta nổi tiếng, nổi danh ở xứ đó giống như mặt trời và mặt trăng ở không trung. Do đó, giống như bầy công tụ tập lại một chỗ sau khi nghe tiếng mây giông và giống như các vị Tỳ Kheo bắt đầu việc tụng đọc một cách mạnh mẽ, các vị Tỳ Kheo đó đã nói: ‘Thưa Ngài! Vị Đại Đức có tên Puṇṇa’ vân vân một cách đồng thanh với những cái miệng không thể nói (hết) phẩm chất của vị trưởng lão đó nhằm báo cho Đức Thế Tôn về trưởng lão Puṇṇa – vị thầy dạy của mình. Ở đoạn kinh đó, Puṇṇa là tên của vị trưởng lão ấy. Tuy nhiên, vị ấy là con trai của bà Mantāṇi; do đó, vị ấy được gọi là [Mantāṇiputta – con trai của bà Mantāṇi]. [Được kính trọng], tức: được kính trọng bằng sự kính trọng phẩm chất. —– (i) Tức ngoài Ngài Puṇṇa, các vị ấy không thấy ai trong nhóm mình hay ở xứ đó đáp ứng được các tiêu chí trong câu hỏi của Đức Thế Tôn. |
|
14 |
appicchoti icchāvirahito nīccho nittaṇho. ettha hi byañjanaṃ sāvasesaṃ viya, attho pana niravaseso. na hi tassa anto aṇumattāpi pāpikā icchā nāma atthi. khīṇāsavo hesa sabbaso pahīnataṇho. apicettha atricchatā pāpicchatā mahicchatā appicchatāti ayaṃ bhedo veditabbo. |
[Ít mong muốn – appiccha], tức: [không có mong muốn – icchāvirahita], [không mong muốn – nīccha], [không tham ái – nittaṇha]. Quả thật, ở đây, từ ngữ thì như thể chưa đầy đủ; nhưng ý nghĩa thì đầy đủ. Bởi vì ở bên trong vị ấy, không có mong muốn xấu ác – dù ở mức độ nhỏ nhoi. Bởi vì vị ấy là bậc Lậu Tận, có tham ái đã được từ bỏ hoàn toàn. Và hơn nữa, trong chủ đề này, sự phân loại này nên được hiểu: [sự mong muốn quá độ – atricchatā], [sự mong muốn xấu ác – pāpicchatā], [sự mong muốn thái quá – mahicchatā], [sự ít mong muốn – appicchatā]. |
|
15 |
tattha sakalābhe atittassa paralābhe patthanā atricchatā nāma. tāya samannāgatassa ekabhājena pakkapūvopi attano patte patito na supakko viya khuddako viya ca khāyati. sveva parassa patte pakkhitto supakko viya mahanto viya ca khāyati. asantaguṇasambhāvanatā pana paṭiggahaṇe ca amattaññutā pāpicchatā nāma, sā, “idhekacco assaddho samāno saddhoti maṃ jano jānātū”tiādinā nayena abhidhamme āgatāyeva, tāya samannāgato puggalo kohaññe patiṭṭhāti. santaguṇasambhāvanā pana paṭiggahaṇe ca amattaññutā mahicchatā nāma. sāpi, “idhekacco saddho samāno saddhoti maṃ jano jānātūti icchati, sīlavā samāno sīlavāti maṃ jano jānātū”ti (vibha. 851) iminā nayenaāgatāyeva, tāya samannāgato puggalo dussantappayo hoti, vijātamātāpissa cittaṃ gahetuṃ na sakkoti. tenetaṃ vuccati — |
Trong đó, [sự mong muốn quá độ – atricchatā] là ham muốn của cải của người khác và không thỏa mãn với của cải của mình. Đối với người có (sự mong muốn quá độ) đó; thì trong một lần chia (vật thực), ngay cả cái bánh đã chín rơi vào bát của mình cũng có vẻ nhỏ nhoi, chưa chín. Nhưng chính (cái bánh) đó khi được đặt vào bát của người khác lại có vẻ to lớn, đã chín. Việc được kính trọng dựa vào phẩm chất không có thật và không biết chừng mực trong sự thọ nhận được gọi là [sự mong muốn xấu ác – pāpicchatā]. Sự (mong muốn xấu ác) đó đã xuất hiện trong bộ Abhidhamma theo lối (mô tả rằng): ‘Ở đây, một người nào đó trong khi không có đức tin (lại mong muốn) ‘Người ta hãy biết đến ta là người có đức tin!’’ vân vân. Người có (sự mong muốn) đó là kẻ đạo đức giả. Việc được kính trọng dựa vào phẩm chất có thật nhưng lại không biết chừng mực trong sự thọ nhận được gọi là [sự mong muốn thái quá – mahicchatā]. Sự (mong muốn thái quá) đó đã xuất hiện (trong bộ Abhidhamma) theo lối (mô tả) này: ‘Ở đây, một người nào đó trong khi có đức tin, mong muốn rằng ‘Người ta hãy biết đến ta là người có đức tin!’; trong khi có giới, mong muốn rằng ‘Người ta hãy biết đến ta là người có giới!’’. (vibha. 851). Người có (sự mong muốn) đó thì khó thoả mãn. Ngay cả mẹ ruột của người ấy cũng không thể nắm bắt được tâm của người ấy. Do đó, điều này được nói: |
|
16 |
“aggikkhandho samuddo ca, mahiccho cāpi puggalo. sakaṭena paccayaṃ detu, tayopete atappayā”ti. |
‘Đống lửa, biển cả và người mong muốn thái quá: hãy dâng cho chúng vật dụng bằng cả một xe! Cả 3 (đối tượng) đó đều không thỏa mãn.’ |
|
17 |
santaguṇanigūhanatā pana paṭiggahaṇe ca mattaññutā appicchatā nāma, tāya samannāgato puggalo attani vijjamānampi guṇaṃ paṭicchādetukāmatāya, “saddho samāno saddhoti maṃ jano jānātūti na icchati. sīlavā, pavivitto, bahussuto, āraddhavīriyo, samādhisampanno, paññavā, khīṇāsavo samāno khīṇāsavoti maṃ jano jānātū”ti na icchati, seyyathāpi majjhantikatthero. |
Còn việc ẩn giấu phẩm chất có thật và việc biết chừng mực trong sự thọ nhận được gọi là [sự ít mong muốn – appicchatā]. Người có (sự ít mong muốn) đó, do muốn ẩn giấu phẩm chất dẫu hiện diện nơi bản thân mình, nên trong khi có đức tin, (người ấy) lại không muốn rằng: ‘Người ta hãy biết đến ta là người có đức tin!’. Trong khi có giới, viễn ly, đa văn, tinh tấn, có định, có tuệ, lậu tận (người ấy) lại không muốn rằng: ‘Người ta hãy biết đến ta là bậc Lậu Tận!’ giống như trưởng lão Majjhantika. |
|
18 |
thero kira mahākhīṇāsavo ahosi, pattacīvaraṃ panassa pādamattameva agghati, so asokassa dhammarañño vihāramahadivase saṅghatthero ahosi. athassa atilūkhabhāvaṃ disvā manussā, “bhante, thokaṃ bahi hothā”ti āhaṃsu. thero, “mādise khīṇāsave rañño saṅgahaṃ akaronte añño ko karissatī”ti pathaviyaṃ nimujjitvā saṅghattherassa ukkhittapiṇḍaṃ gaṇhantoyeva ummujji. evaṃ khīṇāsavo samāno, “khīṇāsavoti maṃ jano jānātū”ti na icchati. evaṃ appiccho pana bhikkhu anuppannaṃ lābhaṃ uppādeti, uppannaṃ lābhaṃ thāvaraṃ karoti, dāyakānaṃ cittaṃ ārādheti, yathā yathā hi so attano appicchatāya appaṃ gaṇhāti, tathā tathā tassa vatte pasannā manussā bahū denti. |
Quả thật, vị trưởng lão ấy là bậc Đại Lậu Tận. Thế nhưng, y & bát của vị ấy chỉ đáng giá một xu(i). Vào thời Mahāvihāra của Pháp vương Asoka; vị ấy là trưởng lão của Tăng Đoàn. Thế rồi, nhiều người nhìn thấy tình trạng cực kỳ thiếu thốn của vị ấy; đã nói (với vị ấy) rằng: ‘Thưa Ngài! Ngài hãy ra ngoài một chút!’. Vị trưởng lão (nghĩ rằng) ‘Khi một vị Lậu Tận như ta không trợ giúp nhà vua; thì người nào khác có thể trợ giúp?’; (vị ấy) chìm vào đất; rồi trồi lên chính trong khi đang cầm một nắm vật thực được đặt cho vị trưởng lão của Tăng Đoàn. Trong khi là bậc Lậu Tận như vậy; (vị ấy) lại không muốn rằng: ‘Người ta hãy biết đến ta là bậc Lậu Tận!’. Thế nhưng, vị Tỳ Kheo ít mong muốn như vậy lại làm khởi sinh lợi lộc chưa phát sinh; củng cố lợi lộc đã phát sinh, làm hài lòng các thí chủ. Quả thực, hễ khi nào vị ấy nhận ít (lợi lộc) do sự ít mong muốn của mình; thì khi đó, nhiều người tịnh tín lại dâng hiến cho vị ấy. —– (i) Pāda là một đơn vị tiền tệ xưa của Ấn – giá trị rất nhỏ. |
|
19 |
aparopi catubbidho appiccho — paccayāppiccho dhutaṅgāppiccho pariyattiappiccho adhigamāppicchoti. tattha catūsu paccayesu appiccho paccayāppiccho nāma, so dāyakassa vasaṃ jānāti, deyyadhammassa vasaṃ jānāti, attano thāmaṃ jānāti. yadi hi deyyadhammo bahu hoti, dāyako appaṃ dātukāmo, dāyakassa vasena appaṃ gaṇhāti. deyyadhammo appo, dāyako bahuṃ dātukāmo, deyyadhammassa vasena appaṃ gaṇhāti. deyyadhammopi bahu, dāyakopi bahuṃ dātukāmo, attano thāmaṃ ñatvā pamāṇeneva gaṇhāti. |
Lại có 4 loại người ít mong muốn khác nữa: [người ít mong muốn về vật dụng – paccayāppiccha]; [người ít mong muốn về Dhutaṅga – dhutaṅgāppiccha]; [người ít mong muốn về kinh điển – pariyattiappiccha]; [người ít mong muốn về thành quả – adhigamāppiccha]. Trong đó, loại người ít mong muốn đối với 4 vật dụng được gọi là [người ít mong muốn về vật dụng – paccayāppiccha]. Người ấy biết lực của thí chủ; biết lực của vật thí; biết sức của bản thân mình. Quả thật, nếu vật thí nhiều, mà thí chủ muốn bố thí ít; thì người ấy nhận ít do lực của thí chủ. Nếu vật thí ít, mà thí chủ muốn bố thí nhiều; thì người ấy nhận ít do lực của vật thí. Nếu vật thí nhiều và thí chủ cũng muốn bố thí nhiều; thì người ấy nhận biết sức của bản thân mình rồi nhận theo chính hạn mức ấy. |
|
20 |
dhutaṅgasamādānassa attani atthibhāvaṃ najānāpetukāmo dhutaṅgāppiccho nāma. tassa vibhāvanatthaṃ imāni vatthūni — sosānikamahāsumanatthero kira saṭṭhi vassāni susāne vasi, añño ekabhikkhupi na aññāsi, tenevāha — |
[Người ít mong muốn về Dhutaṅga – dhutaṅgāppiccho] là người muốn người khác không biết đến việc thực hành Dhutaṅga của mình. Đây là những câu chuyện nhằm minh hoạ cho điều đó: quả thật, trưởng lão Mahāsumana – người theo pháp sống ở nghĩa địa – đã sống ở nghĩa địa suốt 60 năm, ngay cả một vị Tỳ Kheo khác cũng không biết (việc đó). Do đó, (vị trưởng lão đó) đã nói rằng: |
|
21 |
“susāne saṭṭhi vassāni, abbokiṇṇaṃ vasāmahaṃ. dutiyo maṃ na jāneyya, aho sosānikuttamo”ti. |
‘Ta sống ở nghĩa địa suốt 60 năm không ngừng. Người khác không biết đến ta. Ôi! Người sống ở nghĩa địa là tối thượng!’ |
|
22 |
cetiyapabbate dvebhātiyattherā vasiṃsu. tesu kaniṭṭho upaṭṭhākena pesitā ucchukhaṇḍikā gahetvā jeṭṭhassa santikaṃ agamāsi. paribhogaṃ, bhante, karothāti. therassa ca bhattakiccaṃ katvā mukhaṃ vikkhālanakālo ahosi. so alaṃ, āvusoti āha. kacci, bhante, ekāsanikatthāti. āharāvuso, ucchukhaṇḍikāti paññāsa vassāni ekāsaniko samānopi dhutaṅgaṃ nigūhamāno paribhogaṃ katvā mukhaṃ vikkhāletvā puna dhutaṅgaṃ adhiṭṭhāya gato. |
Hai anh em trưởng lão nọ đã sống ở núi Cetiya. Trong số họ, người em được một vị hộ độ dâng vài mẩu đường; (vị ấy) đã nhận rồi đi đến chỗ người anh. (Vị ấy nói với người anh) ‘Thưa ngài! Hãy thọ dụng!’. Nhưng đó là lúc vị trưởng lão (người anh) đã rửa miệng sau khi làm xong việc thọ thực. Vị ấy nói (với người em) rằng: ‘Này ông! Đủ rồi.’ (Người em) nói rằng: ‘Thưa ngài! Phải chăng ngài thọ pháp chỉ ăn trong một lần ngồi?’. (Người anh đáp) ‘Này ông! Hãy mang mấy mẩu đường đi!’. Dẫu vị ấy (người anh) thọ pháp chỉ ăn trong một lần ngồi suốt 50 năm; (vị ấy) lại che giấu pháp Dhutaṅga đó của mình; vị ấy thọ thực; rửa miệng rồi lại đi để hành pháp Dhutaṅga đó. |
|
23 |
yo pana sāketakatissatthero viya bahussutabhāvaṃ jānāpetuṃ na icchati, ayaṃ pariyattiappiccho nāma. thero kira khaṇo natthīti uddesaparipucchāsu okāsaṃ akaronto maraṇakkhayaṃ, bhante, labhissathāti codito gaṇaṃ vissajjetvā kaṇikāravālikasamuddavihāraṃ gato. tattha antovassaṃ theranavamajjhimānaṃ upakāro hutvā mahāpavāraṇāya uposathadivase dhammakathāya janataṃ khobhetvā gato. |
Còn người nào không muốn (người khác) biết đến trạng thái đa văn của mình giống như trưởng lão Sāketakatissa; thì người đó được gọi là [người ít mong muốn về kinh điển – pariyattiappiccho]. Quả thật, vị trưởng lão ấy đã từ chối việc tụng vấn (với hội chúng) rằng ‘Tôi không có chút thời gian nào!’; (vị ấy) bị chê trách rằng ‘Thưa ngài! Ngài sẽ đạt đến sự thiệt hại vào lúc chết!; (vị ấy) từ bỏ hội chúng rồi đi đến tu viện Kaṇikāravālikasamudda. Ở đó, vào mùa mưa, vị ấy hỗ trợ cho các vị tân Tỳ Kheo, trung hạ Tỳ Kheo, trưởng lão Tỳ Kheo; khiến tập thể sửng sốt bằng pháp thoại vào ngày Uposatha trong đại lễ Pavāraṇā rồi đi. |
|
24 |
yo pana sotāpannādīsu aññataro hutvā sotāpannādibhāvaṃ jānāpetuṃ na icchati, ayaṃ adhigamāppiccho nāma, tayo kulaputtā viya ghaṭikārakumbhakāro viya ca. |
Còn người nào trong số các vị Nhập Lưu vân vân không muốn (người khác) biết đến trạng thái Nhập Lưu vân vân của mình; thì người đó được gọi là [người ít mong muốn về thành quả – adhigamāppiccho] giống như 3 người con trai gia tộc và giống như người thợ gốm Ghaṭikāra. |
|
25 |
āyasmā pana puṇṇo atricchataṃ pāpicchataṃ mahicchatañca pahāya sabbaso icchāpaṭipakkhabhūtāya alobhasaṅkhātāya parisuddhāya appicchatāya samannāgatattā appiccho nāma ahosi. bhikkhūnampi, “āvuso, atricchatā pāpicchatā mahicchatāti ime dhammā pahātabbā”ti tesu ādīnavaṃ dassetvā evarūpaṃ appicchataṃ samādāya vattitabbanti appicchakathaṃ kathesi. tena vuttaṃ “attanā ca appiccho appicchakathañca bhikkhūnaṃ kattā”ti. |
Còn Đại Đức Puṇṇa sau khi từ bỏ sự mong muốn quá độ, sự mong muốn xấu ác, sự mong muốn thái quá; thì được gọi là người ít mong muốn do (vị ấy) có sự ít mong muốn thanh khiết – (sự ít mong muốn đó) được gọi là vô tham, có tính đối nghịch với mong muốn về mọi mặt. Và vị ấy đã trình bày cho các Tỳ Kheo sự bất lợi nơi các pháp ấy rằng: ‘Này các ông! Các pháp này: ‘sự mong muốn quá độ, sự mong muốn xấu ác, sự mong muốn thái quá’ thì nên được từ bỏ!’; rồi thuyết một bài giảng về sự ít mong muốn rằng: ‘(Các ông) nên tiếp nhận pháp ít mong muốn như thế rồi thực hành!’. Do đó, (điều này) đã được nói: ‘Người tự mình ít mong muốn và thuyết giảng về sự ít mong muốn cho các Tỳ Kheo.’ |
|
26 |
idāni attanā ca santuṭṭhotiādīsu visesatthameva dīpayissāma. yojanā pana vuttanayeneva veditabbā. santuṭṭhoti itarītarapaccayasantosena samannāgato. So panesa santoso dvādasavidho hoti. seyyathidaṃ, cīvare yathālābhasantoso yathābalasantoso yathasāruppasantosoti tividho, evaṃ piṇḍapātādīsu. tassāyaṃ pabhedasaṃvaṇṇanā. |
Giờ đây, chúng tôi sẽ giải thích chính phần ý nghĩa còn lại ở những cụm từ [tự mình tri túc – attanā ca santuṭṭho] vân vân. Tuy nhiên, sự luận giải nên được hiểu theo chính phương pháp đã được nói đó. [Tri túc – santuṭṭho], tức: có sự hài lòng với bất kỳ vật dụng gì. Tuy nhiên, sự hài lòng đó gồm 12 loại – như là: đối với y, có 3 loại: [sự hài lòng dựa theo vật – yathālābhasantosa]; [sự hài lòng dựa theo sức khoẻ – yathābalasantosa]; [sự hài lòng dựa theo tính phù hợp – yathasāruppasantosa]. Giống vậy đối với vật thực vân vân. Đây là sự giải thích về các loại của sự hài lòng đó. |
|
27 |
idha bhikkhu cīvaraṃ labhati sundaraṃ vā asundaraṃ vā. so teneva yāpeti aññaṃ na pattheti, labhantopi na gaṇhāti, ayamassa cīvare yathālābhasantoso. atha yo pakatidubbalo vā hoti ābādhajarābhibhūto vā, garucīvaraṃ pārupanto kilamati, so sabhāgena bhikkhunā saddhiṃ taṃ parivattetvā lahukena yāpentopi santuṭṭhova hoti, ayamassa cīvare yathābalasantoso. aparo paṇītapaccayalābhī hoti, so paṭṭacīvarādīnaṃ aññataraṃ mahagghacīvaraṃ bahūni vā pana cīvarāni labhitvā idaṃ therānaṃ cirapabbajitānaṃ idaṃ bahussutānaṃ anurūpaṃ, idaṃ gilānānaṃ idaṃ appalābhānaṃ hotūti datvā tesaṃ purāṇacīvaraṃ vā saṅkārakūṭādito vā nantakāni uccinitvā tehi saṅghāṭiṃ katvā dhārentopi santuṭṭhova hoti, ayamassa cīvare yathāsāruppasantoso. |
Ở đây, vị Tỳ-Kheo đạt được y – loại tốt hay không tốt. Vị ấy sống dựa vào chính y đó; không cầu mong y khác; dẫu đạt được (y khác) cũng không giữ. Đó là [sự hài lòng dựa theo vật – yathālābhasantosa] đối với y của vị ấy. Thế rồi, vị Tỳ Kheo nào yếu sức bẩm sinh hay bị tác động bởi sự bệnh, sự già; do quấn bộ y nặng, (vị ấy) mệt mỏi; thì vị Tỳ Kheo ấy trao đổi (bộ y) đó với một vị Tỳ Kheo ở chung; và khi sống nhờ bộ y nhẹ nhàng đó, vị ấy hoàn toàn tri túc. Đó là [sự hài lòng dựa theo sức khoẻ – yathābalasantosa] đối với y của vị ấy. Một vị Tỳ Kheo khác là người đạt được các vật dụng hảo hạng. Vị ấy đạt được một tấm y đắt tiền nào đó trong số các y bằng lụa vân vân hay (đạt được) nhiều tấm y; (vị ấy) cúng dường (với ý nghĩ rằng) ‘Mong các vị trưởng lão xuất gia đã lâu có được y này! Mong các vị đa văn có được y này một cách phù hợp! Mong các vị bị bệnh có được y này! Mong các vị ít vật dụng có được y này!’; (vị ấy) chọn lấy y cũ của các vị đó hoặc những miếng giẻ từ đống rác; làm thượng y bằng những (chất liệu) đó rồi trong khi mang (bộ y như vậy) trở nên hoàn toàn tri túc. Đó là [sự hài lòng dựa theo tính phù hợp – yathāsāruppasantosa] đối với y của vị ấy. |
|
28 |
idha pana bhikkhu piṇḍapātaṃ labhati lūkhaṃ vā paṇītaṃ vā, so teneva yāpeti, aññaṃ na pattheti, labhantopi na gaṇhāti, ayamassa piṇḍapāte yathālābhasantoso. yo pana attano pakativiruddhaṃ vā byādhiviruddhaṃ vā piṇḍapātaṃ labhati, yenassa paribhuttena aphāsu hoti, so sabhāgassa bhikkhuno taṃ datvā tassa hatthato sappāyabhojanaṃ bhuñjitvā samaṇadhammaṃ karontopi santuṭṭhova hoti, ayamassa piṇḍapāte yathābalasantoso. aparo bahuṃ paṇītaṃ piṇḍapātaṃ labhati, so taṃ cīvaraṃ viya cirapabbajitabahussutāppalābhigilānānaṃ datvā tesaṃ vā sesakaṃ piṇḍāya vā caritvā missakāhāraṃ bhuñjantopi santuṭṭhovahoti, ayamassa piṇḍapāte yathāsāruppasantoso. |
Còn ở đây, vị Tỳ-Kheo đạt được vật thực – loại dở hay ngon. Vị ấy sống dựa vào chính vật thực đó; không cầu mong vật thực khác; dẫu đạt được (vật thực khác) cũng không giữ. Đó là [sự hài lòng dựa theo vật – yathālābhasantosa] đối với vật thực của vị ấy. Còn vị Tỳ Kheo nào đạt được vật thực một cách nhọc nhằn do bẩm sinh hay do bệnh của bản thân; vị ấy không thoải mái do thọ dụng vật thực đó; vị ấy thí vật thực đó cho một vị Tỳ Kheo ở chung, thọ dụng thức ăn phù hợp (được trao) từ tay của vị kia rồi hoàn toàn tri túc khi thực hành Sa Môn Pháp. Đó là [sự hài lòng dựa theo sức khoẻ – yathābalasantosa] đối với vật thực của vị ấy. Một vị (Tỳ Kheo) khác đạt được nhiều vật thực hảo hạng. Vị ấy cúng dường (vật thực đó) giống như cúng dường tấm y kia cho các vị (trưởng lão) xuất gia đã lâu, các vị đa văn, các vị ít vật dụng hay các vị bị bệnh; rồi vị ấy – dẫu thọ dụng thức ăn do mình đi khất thực hay thức ăn còn lại của các vị kia hay thức ăn hỗn hợp – vẫn hoàn toàn tri túc. Đó là [sự hài lòng dựa theo tính phù hợp – yathāsāruppasantosa] đối với vật thực của vị ấy. |
|
29 |
idha pana bhikkhu senāsanaṃ labhati manāpaṃ vā amanāpaṃ vā, so tena neva somanassaṃ na paṭighaṃ uppādeti, antamaso tiṇasanthārakenāpi yathāladdheneva tussati, ayamassa senāsane yathālābhasantoso. yo pana attano pakativiruddhaṃ vā byādhiviruddhaṃ vā senāsanaṃ labhati, yatthassa vasato aphāsu hoti, so taṃ sabhāgassa bhikkhuno datvā tassa santake sappāyasenāsane vasantopi santuṭṭhova hoti, ayamassa senāsane yathābalasantoso. Aparo mahāpuñño leṇamaṇḍapakūṭāgārādīni bahūni paṇītasenāsanāni labhati, so tāni cīvarādīni viya cirapabbajitabahussutāppalābhigilānānaṃ datvā yattha katthaci vasantopi santuṭṭhova hoti, ayamassa senāsane yathāsāruppasantoso. yopi, “uttamasenāsanaṃ nāma pamādaṭṭhānaṃ, tattha nisinnassa thinamiddhaṃ okkamati, niddābhi bhūtassa puna paṭibujjhato pāpavitakkā pātubhavantī”ti paṭisañcikkhitvā tādisaṃ senāsanaṃ pattampi na sampaṭicchati, so taṃ paṭikkhipitvā abbhokāsarukkhamūlādīsu vasantopi santuṭṭhova hoti, ayampissasenāsane yathāsāruppasantoso. |
Còn ở đây, vị Tỳ Kheo đạt được chỗ ngụ – đáng hài lòng hay không đáng hài lòng. Vị ấy không hề khởi lên sự thích ý lẫn sự khó chịu do (chỗ ngụ) ấy. Và vị ấy hài lòng theo chính vật mà vị ấy đã đạt được ấy, ngay cả khi (vật ấy) chỉ là một tấm trải bằng cỏ. Đó là [sự hài lòng dựa theo vật – yathālābhasantosa] đối với chỗ ngụ của vị ấy. Còn vị Tỳ Kheo nào đạt được chỗ ngụ một cách nhọc nhằn do bẩm sinh hay do bệnh của bản thân; vị ấy không thoải mái do sống tại đó; vị ấy thí chỗ ngụ đó cho một vị Tỳ Kheo ở chung, sống tại chỗ ngụ phù hợp ở gần chỗ ngụ kia rồi hoàn toàn tri túc. Đó là [sự hài lòng dựa theo sức khoẻ – yathābalasantosa] đối với chỗ ngụ của vị ấy. Một vị (Tỳ Kheo) khác có đại phước đạt được nhiều chỗ ngụ thượng hạng như hang động, lều, nhà có vòm vân vân. Vị ấy cúng dường (chỗ ngụ đó) giống như cúng dường tấm y vân vân kia cho các vị (trưởng lão) xuất gia đã lâu, các vị đa văn, các vị ít vật dụng hay các vị bị bệnh; rồi vị ấy – dẫu ngụ tại bất kỳ chỗ nào – vẫn hoàn toàn tri túc. Đó là [sự hài lòng dựa theo tính phù hợp – yathāsāruppasantosa] đối với chỗ ngụ của vị ấy. Còn vị (Tỳ Kheo) nào suy xét rằng ‘Quả thật, chỗ ngụ thượng hạng là chỗ (gây nên) sự dễ duôi. Hôn trầm thuỵ miên xâm nhập người ngồi tại đó. Hơn nữa, các ác tư duy xảy đến cho người tỉnh táo nhưng bị áp đảo bởi cơn buồn ngủ (tại đó).’, rồi dẫu đạt được cũng không nhận chỗ ngụ như thế; thì vị (Tỳ Kheo) đó từ chối chỗ ngụ đó rồi dẫu ngụ tại không gian mở, gốc cây vân vân, vẫn hoàn toàn tri túc. Đó cũng là [sự hài lòng dựa theo tính phù hợp – yathāsāruppasantosa] đối với chỗ ngụ của vị ấy. |
|
30 |
idha pana bhikkhu bhesajjaṃ labhati lūkhaṃ vā paṇītaṃ vā, so yaṃ labhati, teneva santussati, aññaṃ na pattheti, labhantopi na gaṇhāti, ayamassa gilānapaccaye yathālābhasantoso. yo pana telena atthiko phāṇitaṃ labhati, so taṃ sabhāgassa bhikkhuno datvā tassa hatthato telaṃ gahetvā aññadeva vā pariyesitvā tehi bhesajjaṃ karontopi santuṭṭhova hoti, ayamassa gilānapaccaye yathābalasantoso. aparo mahāpuñño bahuṃ telamadhuphāṇitādipaṇītabhesajjaṃ labhati, so taṃ cīvaraṃ viya cirapabbajitabahussutāppalābhigilānānaṃ datvā tesaṃ ābhatakena yena kenaci yāpentopi santuṭṭhova hoti. yo pana ekasmiṃ bhājane muttaharītakaṃ ṭhapetvā ekasmiṃ catumadhuraṃ, “gaṇha, bhante, yadicchasī”ti vuccamāno sacassa tesu aññatarenapi rogo vūpasammati, atha muttaharītakaṃ nāma buddhādīhi vaṇṇitanti catumadhuraṃ paṭikkhipitvā muttaharītakeneva bhesajjaṃ karonto paramasantuṭṭhova hoti, ayamassa gilānapaccaye yathāsāruppasantoso. |
Còn ở đây, vị Tỳ Kheo đạt được thuốc – loại thô hay tốt. Vị ấy đạt được loại nào thì hài lòng đối với chính loại đó, không cầu mong cái khác; dẫu đạt được (thuốc khác) cũng không giữ. Đó là [sự hài lòng dựa theo vật – yathālābhasantosa] đối với thuốc men của vị ấy. Còn vị Tỳ Kheo nào mong muốn dầu nhưng lại đạt được mật đường; thì vị ấy thí (mật đường) cho một vị Tỳ Kheo ở chung, nhận dầu từ tay của vị đó (vị Tỳ Kheo ở chung) hoặc tìm (dược liệu) khác rồi trong khi làm thuốc bằng những thứ (dược liệu) đó, hoàn toàn tri túc. Đó là [sự hài lòng dựa theo sức khoẻ – yathābalasantosa] đối với thuốc men của vị ấy. Một vị (Tỳ Kheo) khác có đại phước đạt được nhiều thuốc thượng hạng như dầu, mật ong, mật đường vân vân. Vị ấy cúng dường (thuốc đó) giống như cúng dường tấm y kia cho các vị (trưởng lão) xuất gia đã lâu, các vị đa văn, các vị ít vật dụng hay các vị bị bệnh; rồi vị ấy – giữ sức khoẻ bằng bất kỳ (thứ thuốc gì) do các vị kia mang đến – vẫn hoàn toàn tri túc. Còn vị Tỳ Kheo nào khi được (người khác) nói rằng: ‘Thưa ngài! Hãy lấy món thuốc mà ngài muốn!’ với món thuốc Harītaka ngâm phân bò ở trong một cái dĩa và món thuốc 4 chất ngọt ở trong một cái dĩa khác; nếu bệnh của vị ấy (có thể) dứt bằng một món thuốc nào đó trong các món thuốc ấy; thì khi vị ấy bỏ qua món thuốc 4 chất ngọt với suy nghĩ rằng ‘Món thuốc Harītaka ngâm phân bò được tán dương bởi chư Phật vân vân.’; rồi chế thuốc bằng chính món thuốc Harītaka ngâm phân bò, (thì như vậy) vị ấy tri túc đến mức cao nhất. Đó là [sự hài lòng dựa theo tính phù hợp – yathāsāruppasantosa] đối với thuốc men của vị ấy. |
|
31 |
imesaṃ pana paccekaṃ paccayesu tiṇṇaṃ tiṇṇaṃ santosānaṃ yathāsāruppasantosova aggo. āyasmā puṇṇo ekekasmiṃ paccaye imehi tīhi santosehi santuṭṭho ahosi. santuṭṭhikathañcāti bhikkhūnampi ca imaṃ santuṭṭhikathaṃ kattāva ahosi. |
Thế nhưng, trong số 3 sự hài lòng đó đối với mỗi vật dụng; thì chính sự hài lòng dựa theo tính phù hợp là tột đỉnh. Đại Đức Puṇṇa tri túc bằng 3 sự hài lòng đó đối với mỗi vật dụng. [Và lời nói về sự tri túc – santuṭṭhikathañca], tức: và vị ấy nói về sự tri túc đó cho cả các vị Tỳ Kheo. |
|
32 |
pavivittoti kāyapaviveko cittapaviveko upadhipavivekoti imehi tīhi pavivekehi samannāgato. tattha eko gacchati, eko tiṭṭhati, eko nisīdati, eko seyyaṃ kappeti, eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati, eko paṭikkamati, eko caṅkamamadhiṭṭhāti, eko carati, eko viharatīti ayaṃ kāyapaviveko nāma. aṭṭha samāpattiyo pana cittapaviveko nāma. nibbānaṃ upadhipaviveko nāma. vuttampi hetaṃ —“kāyapaviveko ca vivekaṭṭhakāyānaṃ nekkhammābhiratānaṃ. cittapaviveko ca parisuddhacittānaṃ paramavodānappattānaṃ. upadhiviveko ca nirupadhīnaṃ puggalānaṃ visaṅkhāragatānan”ti (mahāni. 57). pavivekakathanti bhikkhūnampi ca imaṃ pavivekakathaṃ kattā. |
[(Người) ẩn cư – pavivitta], tức: (người) có 3 sự ẩn cư này: [thân ẩn cư – kāyapaviveka], [tâm ẩn cư – cittapaviveka], [ẩn cư khỏi dính mắc – upadhipaviveka]. Trong chủ đề này: vị hành giả đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình, nằm một mình, đi vào làng để khất thực một mình, trở về một mình, đi qua lại một mình, sống một mình, ngụ một mình; đó được gọi là [thân ẩn cư – kāyapaviveka]. Còn 8 tầng thiền được gọi là [tâm ẩn cư – cittapaviveka]. Niết Bàn được gọi là [ẩn cư khỏi dính mắc – upadhipaviveka]. Và quả thật, điều này đã được nói: ‘Những người có thân ở nơi ẩn dật, vui thích với việc xuất ly thì có thân ẩn cư. Những người có tâm thanh tịnh, đã đạt đến sự thanh tịnh tốt nhất thì có tâm ẩn cư. Những người không còn dính mắc, đã đến trạng thái phi hữu vi thì có sự ẩn cư khỏi dính mắc.’ (mahāni. 57). [Lời nói về sự ẩn cư – pavivekakatha], tức: và vị ấy nói về sự ẩn cư đó cho cả các vị Tỳ Kheo. |
|
33 |
asaṃsaṭṭhoti pañcavidhena saṃsaggena virahito. savanasaṃsaggo dassanasaṃsaggo samullapanasaṃsaggo sambhogasaṃsaggo kāyasaṃsaggoti pañcavidho saṃsaggo. Tesu idha bhikkhu suṇāti, “asukasmiṃ gāme vā nigame vā itthī vā kumārikā vā abhirūpā dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā”ti. so taṃ sutvā saṃsīdati visīdati na sakkoti brahmacariyaṃ sandhāretuṃ, sikkhādubbalyaṃ anāvikatvā hīnāyā vattatīti evaṃ parehi vā kathīyamānaṃ rūpādisampattiṃ attanā vā hasitalapitagītasaddaṃ suṇantassasotaviññāṇavīthivasena uppanno rāgo savanasaṃsaggo nāma. So anitthigandhapaccekabodhisattassa ca pañcaggaḷaleṇavāsītissadaharassa ca vasena veditabbo — |
[Không giao lưu – asaṃsaṭṭha], tức: không có 5 loại giao lưu. 5 loại giao lưu là: [sự giao lưu do nghe – savanasaṃsagga], [sự giao lưu do nhìn – dassanasaṃsagga], [sự giao lưu do trò chuyện – samullapanasaṃsagga], [sự giao lưu do thọ dụng – sambhogasaṃsagga], [sự giao lưu do thân – kāyasaṃsagga]. Trong số (các loại giao lưu) đó; ở đây, vị Tỳ Kheo nghe rằng: ‘Ở ngôi làng hay thị trấn như thế; có một phụ nữ hay một thiếu nữ có vẻ đẹp dung mạo vượt trội, đáng yêu, ưa nhìn, xinh đẹp.’. Vị ấy nghe điều đó rồi nản chí, thoái chí, không thể duy trì phạm hạnh. Vị ấy không công khai sự yếu ớt trong việc học của mình mà trở lại đời sống thấp kém. Như vậy, [sự giao lưu do nghe – savanasaṃsagga] là luyến ái sinh lên do lộ trình nhĩ thức, (sinh lên) cho người nghe về thành tựu về dung sắc vân vân (của ai đó) do những người khác kể lại hoặc (sinh lên) cho người tự mình nghe tiếng cười, tiếng nói, tiếng hát (của ai đó). Sự (giao lưu) đó có thể được hiểu thông qua (câu chuyện) về Độc Giác Bồ Tát Anitthigandha hoặc chàng thanh niên Tissa – người sống ở động Pañcaggaḷa. |
|
34 |
daharo kira ākāsena gacchanto girigāmavāsikammāradhītāya pañcahi kumārīhi saddhiṃ padumasaraṃ gantvā nhatvā padumānica pilandhitvā madhurassarena gāyantiyā saddaṃ sutvā kāmarāgena viddho visesā parihāyitvā anayabyasanaṃ pāpuṇi. idha bhikkhu na heva kho suṇāti, apica kho sāmaṃ passati itthiṃ vā kumāriṃ vā abhirūpaṃ dassanīyaṃ pāsādikaṃ paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgataṃ. so taṃ disvā saṃsīdati visīdati na sakkoti brahmacariyaṃ sandhāretuṃ, sikkhādubbalyaṃ anāvikatvā hīnāyāvattatīti evaṃ visabhāgarūpaṃ olokentassa panacakkhuviññāṇavīthivasena uppannarāgo dassanasaṃsaggo nāma. so evaṃ veditabbo — |
Quả thật, chàng thanh niên ấy khi đang di chuyển trong không trung, đã nghe tiếng (hát) của cô con gái của người thợ rèn sống ở Girigāma khi cô đang hát bằng giọng ngọt ngào; (cô con gái này) đã đến hồ sen cùng với 5 người con gái, tắm, cài các bông sen (lên người) trước khi hát; chàng thanh niên bị đâm bởi ái dục, rơi khỏi thành quả (tu tập) rồi đạt đến tai hại mất mát. Trong tình huống này, quả thật, vị Tỳ Kheo không chỉ nghe, mà còn tự mình nhìn thấy người phụ nữ hay thiếu nữ có vẻ đẹp dung mạo vượt trội, đáng yêu, ưa nhìn, xinh đẹp. Vị ấy nhìn thấy người đó rồi nản chí, thoái chí, không thể duy trì phạm hạnh. Vị ấy không công khai sự yếu ớt trong việc học của mình mà trở lại đời sống thấp kém. Như vậy, [sự giao lưu do nhìn – dassanasaṃsagga] là luyến ái sinh lên do lộ trình nhãn thức, (sinh lên) cho người nhìn ngắm dung sắc phi thường (của ai đó). Sự (giao lưu) đó có thể được hiểu như vầy: |
|
35 |
eko kira daharo kāladīghavāpidvāravihāraṃ uddesatthāya gato. ācariyo tassa antarāyaṃ disvā okāsaṃ na karoti. so punappunnaṃ anubandhati. ācariyo sace antogāme na carissasi. dassāmi te uddesanti āha. so sādhūti sampaṭicchitvā uddese niṭṭhite ācariyaṃ vanditvā gacchanto ācariyo me imasmiṃ gāme carituṃ na deti, kiṃ nu kho kāraṇanti cīvaraṃ pārupitvā gāmaṃ pāvisi, ekā kuladhītā pītakavatthaṃ nivāsetvā gehe ṭhitā daharaṃ disvā sañjātarāgā uḷuṅkena yāguṃ āharitvā tassa patte pakkhipitvā nivattitvā mañcake nipajji. atha naṃ mātāpitaro kiṃ ammāti pucchiṃsu, dvārena gataṃ daharaṃ labhamānā jīvissāmi, alabhamānā marissāmīti. Mātāpitaro vegena gantvā gāmadvāre daharaṃ patvā vanditvā, “nivattatha, bhante, bhikkhaṃ gaṇhāhī”ti āhaṃsu. daharo alaṃ gacchāmīti. te, “idaṃ nāma, bhante, kāraṇan”ti yācitvā — “amhākaṃ, bhante, gehe ettakaṃ nāma dhanaṃ atthi, ekāyeva no dhītā, tvaṃ no jeṭṭhaputtaṭṭhāne ṭhassasi, sukhena sakkā jīvitun”ti āhaṃsu. daharo,“na mayhaṃ iminā palibodhena attho”ti anādiyitvāva pakkanto. |
Quả thật, một thanh niên đã đi đến tu viện ở cửa ngõ vùng Dīghavāpi nhằm mục đích (thọ) giới đúng thời. Vị giáo thọ sư nhìn thấy chướng ngại của vị ấy và không cho phép. Vị ấy nài nỉ hết lần này đến lần khác. Vị giáo thọ sư đã nói rằng: ‘Nếu ông không đi vào trong làng; thì ta sẽ ban giới cho ông.’. Vị ấy (nói rằng) ‘Lành thay!’; nhận (giới); khi việc thọ giới đã được hoàn thành, (vị ấy) đảnh lễ giáo thọ sư (và ra đi); trong khi đi, (vị ấy nghĩ rằng) ‘Giáo thọ sư không cho phép ta đi vào ngôi làng này. Vậy nguyên nhân của việc đó là gì?’; (vị ấy) lâm y rồi đi vào làng. Một người con gái của một gia đình mặc bộ y vàng; đứng trong nhà; nhìn thấy vị Tỳ Kheo trẻ ấy; (cô ta) có luyến ái sinh lên, mang cháo bằng cái vá và trút vào bát của vị (Tỳ Kheo) ấy; quay trở lại rồi nằm xuống cái giường nhỏ. Thế rồi, cha mẹ của cô đã hỏi cô rằng: ‘Này con! Chuyện gì?’. (Cô gái trả lời) ‘Có được (vị Tỳ Kheo) trẻ đã đi đến cửa nhà ta ấy, con sẽ sống; không có được, con sẽ chết.’. Cha mẹ của cô gái đi thật nhanh; đến được chỗ (vị Tỳ Kheo) trẻ ở cổng làng; đảnh lễ rồi nói rằng: ‘Thưa ngài! Xin quay lại! Xin nhận thực phẩm!’ (Vị Tỳ Kheo) trẻ trả lời: ‘Ta đi đủ rồi!’. Họ khẩn cầu: ‘Thưa ngài! Đây là nguyên nhân.’; rồi nói rằng: ‘Thưa ngài! Chúng tôi có tài sản như thế ở trong nhà. Chúng tôi có một đứa con gái duy nhất; ngài sẽ ở địa vị con trai tối tôn của chúng tôi; ngài có thể sống an lạc.’. (Vị Tỳ Kheo) trẻ từ chối rằng: ‘Tôi không có nhu cầu đối với chướng ngại này!’ rồi ra đi. |
|
36 |
mātāpitaro gantvā, “amma, nāsakkhimhā daharaṃ nivattetuṃ, yaṃ aññaṃ sāmikaṃ icchasi, taṃ labhissasi, uṭṭhehi khāda ca pivacā”ti āhaṃsu. sā anicchantī sattāhaṃ nirāhārā hutvā kālamakāsi. mātāpitaro tassā sarīrakiccaṃ katvā taṃ pītakavatthaṃ dhuravihāre bhikkhusaṅghassa adaṃsu, bhikkhū vatthaṃ khaṇḍākhanḍaṃ katvā bhājayiṃsu. eko mahallako attano koṭṭhāsaṃ gahetvā kalyāṇīvihāraṃ āgato. sopi daharo cetiyaṃ vandissāmīti tattheva gantvā divāṭṭhāne nisīdi. mahallako taṃ vatthakhaṇḍaṃ gahetvā, “iminā me parissāvanaṃ vicārethā”ti daharaṃ avoca. Daharo mahāthera “kuhiṃ laddhan”ti āha. so sabbaṃ pavattiṃ kathesi. So taṃ sutvāva, “evarūpāya nāma saddhiṃ saṃvāsaṃ nālatthan”ti rāgagginā daḍḍho tattheva kālamakāsi. |
Cha mẹ của cô gái đi đến (nhà); rồi nói rằng: ‘Này con! Chúng ta không thể khiến vị (Tỳ Kheo) trẻ quay lại; con muốn một người chồng nào khác; thì con có thể có được (người đó). Hãy dậy và ăn uống!’. Cô gái đó – trong khi không muốn (một người chồng khác) – đã không ăn suốt 7 ngày rồi chết. Cha mẹ của cô gái thực hiện phận sự liên quan đến thi thể của cô ấy; rồi trao bộ y vàng đó cho Tỳ Kheo tăng ở tu viện gần đó. Các vị Tỳ Kheo cắt xé bộ y rồi phân chia. Một vị (Tỳ Kheo) già lấy một phần cho mình rồi đã đến tu viện Kalyāṇī. Vị (Tỳ Kheo) trẻ ấy cũng đi đến chính chỗ đó (với suy nghĩ rằng) ‘Ta sẽ đảnh lễ bảo tháp!’ rồi ngồi xuống một chỗ vào ban ngày. (Vị Tỳ Kheo) già lấy mảnh y đó rồi nói với (vị Tỳ Kheo) trẻ rằng: ‘Hãy làm vải lọc nước cho ta bằng (mảnh y) này!’. (Vị Tỳ Kheo) trẻ đáp rằng: ‘Thưa đại trưởng lão! Ngài đạt được nó từ đâu?’. Vị (Tỳ Kheo già) ấy thuật lại toàn bộ câu chuyện. Vị Tỳ Kheo trẻ nghe chuyện đó; bị thiêu đốt bởi lửa luyến ái (với suy nghĩ rằng) ‘Ta đã không đạt được sự gần gũi với người nữ như thế ấy!’ rồi đã chết ngay tại đó. |
|
37 |
aññamaññaṃ ālāpasallāpavasena uppannarāgo pana samullapanasaṃsaggo nāma. bhikkhuno bhikkhuniyā santakaṃ, bhikkhuniyā vā bhikkhussa santakaṃ gahetvā paribhogakaraṇavasena uppannarāgo sambhogasaṃsaggo nāma. so evaṃ veditabbo — maricavaṭṭivihāramahe kira bhikkhūnaṃ satasahassaṃ bhikkhunīnaṃ navutisahassāni eva ahesuṃ. eko sāmaṇero uṇhayāguṃ gahetvā gacchanto sakiṃ cīvarakaṇṇe ṭhapesi, sakiṃ bhūmiyaṃ. ekā sāmaṇerī disvā ettha pattaṃ ṭhapetvā yāhīti thālakaṃ adāsi. te aparabhāge ekasmiṃ bhaye uppanne parasamuddaṃ agamaṃsu. tesu bhikkhunī puretaraṃ agamāsi. sā, “eko kira sīhaḷabhikkhu āgato”ti sutvā therassa santikaṃ gantvā paṭisanthāraṃ katvā nisinnā, —“bhante, maricavaṭṭivihāramahakāle tumhe kativassā”ti pucchi. tadāhaṃ sattavassikasāmaṇero. tvaṃ pana kativassāti? ahaṃ sattavassikasāmaṇerīyeva ekassa sāmaṇerassa uṇhayāguṃ gahetvā gacchantassa pattaṭhapanatthaṃ thālakamadāsinti. thero, “ahaṃ so”ti vatvā thālakaṃ nīharitvā dassesi. te ettakeneva saṃsaggena brahmacariyaṃ sandhāretuṃ asakkontā dvepi saṭṭhivassakāle vibbhamiṃsu. |
Còn [sự giao lưu do trò chuyện – samullapanasaṃsagga] là luyến ái sinh lên do việc trò chuyện cùng nhau. [Sự giao lưu do thọ dụng – sambhogasaṃsagga] là luyến ái sinh lên do hành vi sử dụng khi vị Tỳ Kheo lấy (và dùng) vật dụng riêng của vị Tỳ Kheo Ni hay vị Tỳ Kheo Ni lấy (và dùng) vật dụng riêng của vị Tỳ Kheo. Việc ấy có thể được hiểu như vầy: quả thật, ở lễ hội tại tu viện Maricavaṭṭi, có 100.000 Tỳ Kheo và 90.000 Tỳ Kheo Ni. Một vị Sa Di nhận cháo nóng rồi trong khi đi, một phần rớt xuống góc y, một phần rớt xuống đất. Một vị Sa Di Ni nhìn thấy; đặt bát của mình xuống đó; (nói rằng) ‘Hãy đến đây!’ rồi trao cái bát nhỏ cho vị Sa Di đó. Vào một lần khác, khi nỗi sợ hãi sinh lên, họ đã đi đến bờ biển bên kia. Trong số họ, một vị Tỳ Kheo Ni đi đến sớm nhất. Vị (Tỳ Kheo Ni) đó nghe rằng: ‘Quả thật, một vị Tỳ Kheo xứ Sīhaḷa(i) đã đến!’; đi đến gần vị trưởng lão đó; trao đổi lời xã giao; ngồi xuống rồi hỏi rằng: ‘Thưa ngài! Vào thời điểm lễ hội tại tu viện Maricavaṭṭi; ngài bao nhiêu tuổi?’. (Vị trưởng lão) ‘Lúc đó, tôi là Sa Di 7 hạ. Còn cô bao nhiêu tuổi?’. (Vị Tỳ Kheo Ni) ‘Tôi – chính là vị Sa Di Ni 7 hạ – đã trao cái bát nhỏ cho một vị Sa Di đang đi sau khi (vị Sa Di này) nhận cháo nóng, (việc trao cái bát nhỏ đó) nhằm mục đích giúp bát của vị Sa Di đó vững vàng(ii).’. Vị trưởng lão nói rằng: ‘Tôi là người đó.’; lấy ra cái bát nhỏ rồi cho (vị Tỳ Kheo Ni) xem. Do chính sự giao lưu như thế, họ không thể duy trì Phạm Hạnh, cả 2 đã hoàn tục vào thời điểm 60 hạ. —– (i) Tức xứ Sri Lanka. (ii) Tức bát nhỏ sớt bớt cháo từ bát lớn của vị Tỳ Kheo; để cái bát lớn không nghiêng đổ nữa. |
|
38 |
hatthagāhādivasena pana uppannarāgo kāyasaṃsaggonāma. tatridaṃ vatthu — mahācetiyaṅgaṇe kiradaharabhikkhū sajjhāyaṃ gaṇhanti. tesaṃ piṭṭhipassedaharabhikkhuniyo dhammaṃ suṇanti. tatreko daharohatthaṃ pasārento ekissā daharabhikkhuniyā kāyaṃchupi. sā taṃ hatthaṃ gahetvā attano urasmiṃ ṭhapesi,ettakena saṃsaggena dvepi vibbhamitvā gihibhāvaṃpattā. |
Còn [sự giao lưu do thân – kāyasaṃsagga] là luyến ái sinh lên do việc nắm tay vân vân. Về chủ đề này, đây là câu chuyện: quả thật, ở khoảng sân của một đại bảo tháp, các vị Tỳ Kheo trẻ đang tiến hành việc tụng đọc. Ở phía sau các vị Tỳ Kheo ấy, các Tỳ Kheo Ni trẻ đang nghe Pháp. Ở đó, một vị Tỳ Kheo trẻ trong khi vươn tay đã chạm vào người của một vị Tỳ Kheo Ni trẻ. Vị Tỳ Kheo Ni đó nắm cánh tay đó rồi đặt lên ngực của mình. Do sự giao lưu như thế ấy, cả 2 hoàn tục rồi trở thành người tại gia. |
|
39 |
imesu pana pañcasu saṃsaggesu bhikkhuno bhikkhūhisaddhiṃsavanadassanasamullapanasambhogakāyaparāmāsāniccampi hontiyeva, bhikkhunīhi saddhiṃ ṭhapetvā kāyasaṃsaggaṃ sesā kālena kālaṃ honti; tathāupāsakaupāsikāhi saddhiṃ sabbepi kālena kālaṃ honti.tesu hi kilesuppattito cittaṃ rakkhitabbaṃ. eko hibhikkhu gāhagāhako hoti, eko gāhamuttako, ekomuttagāhako, eko muttamuttako. |
Tuy nhiên, trong 5 loại giao lưu đó; luôn luôn tồn tại sự giao lưu do nghe, nhìn, trò chuyện, thọ dụng và tiếp xúc thân thể giữa một vị Tỳ Kheo với các vị Tỳ Kheo khác. Giữa một vị Tỳ Kheo với các vị Tỳ Kheo Ni; trừ ra sự giao lưu do thân(i), các sự giao lưu còn lại tồn tại tuỳ thời. Tất cả những sự giao lưu giữa một vị Tỳ Kheo với các cận sự nam, cận sự nữ tồn tại tuỳ thời như thế. Quả thật, tâm (của vị Tỳ Kheo) nên được bảo vệ khỏi sự khởi lên phiền não đối với những hạng người đó. Quả thật, một hạng Tỳ Kheo là người nhận cùng với kẻ nhận; một hạng là người giải thoát cùng với kẻ nhận; một hạng là người nhận cùng với kẻ hướng giải thoát; và một hạng là người giải thoát cùng với kẻ hướng giải thoát. —– (i) [Trừ ra sự giao lưu do thân – ṭhapetvā kāyasaṃsaggaṃ]; vì sự giao lưu này là phạm luật. |
|
40 |
tattha yaṃ bhikkhuṃ manussāpi āmisena upalāpetvāgahaṇavasena upasaṅkamanti, bhikkhupipupphaphalādīhi upalāpetvā gahaṇavasenaupasaṅkamati, ayaṃ gāhagāhako nāma. yaṃ panamanussā vuttanayena upasaṅkamanti, bhikkhudakkhiṇeyyavasena upasaṅkamati, ayaṃ gāhamuttakonāma. yassa manussā dakkhiṇeyyavasena cattāropaccaye denti, bhikkhu pupphaphalādīhi upalāpetvāgahaṇavasena upasaṅkamati, ayaṃ muttagāhako nāma.yassa manussāpi dakkhiṇeyyavasena cattāro paccayedenti, bhikkhupi cūḷapiṇḍapātiyatissatthero viyadakkhiṇeyyavasena paribhuñjati, ayaṃ muttamuttakonāma. |
Trong chủ đề này, người ta hộ độ vị Tỳ Kheo nào bằng lợi lộc và tiếp cận vị ấy để đón nhận (lợi lộc); vị Tỳ Kheo ấy cũng tiếp cận họ để đón nhận (lợi lộc) – tức được hộ độ bằng hoa, quả vân vân; thì vị (Tỳ Kheo) đó được gọi là [người nhận cùng với kẻ nhận – gāhagāhaka]. Còn người ta tiếp cận vị Tỳ Kheo nào theo phương thức đã được nói trên, vị Tỳ Kheo ấy tiếp cận họ bằng (phẩm chất) xứng đáng được cúng dường; thì vị (Tỳ Kheo) đó được gọi là [người giải thoát cùng với kẻ nhận – gāhamuttaka]. Người ta cúng dường 4 vật dụng cho vị (Tỳ Kheo) nào dựa theo (tiêu chí) xứng đáng được cúng dường, vị Tỳ Kheo ấy tiếp cận họ để đón nhận (lợi lộc) – tức được hộ độ bằng hoa, quả vân vân; thì vị (Tỳ Kheo) đó được gọi là [người nhận cùng với kẻ hướng giải thoát – muttagāhaka]. Người ta cúng dường 4 vật dụng cho vị (Tỳ Kheo) nào dựa theo (tiêu chí) xứng đáng được cúng dường, vị Tỳ Kheo ấy cũng thọ dụng bằng (phẩm chất) xứng đáng được cúng dường giống như trưởng lão Cūḷapiṇḍapātiyatissa; thì vị (Tỳ Kheo) đó được gọi là [người giải thoát cùng với kẻ hướng giải thoát – muttamuttaka]. |
|
41 |
theraṃ kira ekā upāsikā dvādasa vassāni upaṭṭhahi.ekadivasaṃ tasmiṃ gāme aggi uṭṭhahitvā gehānijhāpesi. aññesaṃ kulūpakabhikkhū āgantvā — “kiṃupāsike, api kiñci bhaṇḍakaṃ arogaṃ kātuṃasakkhitthā”ti paṭisanthāraṃ akaṃsu. manussā,“amhākaṃ mātu kulūpakatthero bhuñjanavelāyamevaāgamissatī”ti āhaṃsu. theropi punadivasebhikkhācāravelaṃ sallakkhetvāva āgato. upāsikākoṭṭhacchāyāya nisīdāpetvā bhikkhaṃ sampādetvāadāsi. there bhattakiccaṃ katvā pakkante manussāāhaṃsu — “amhākaṃ mātu kulūpakattherobhuñjanavelāyameva āgato”ti. upāsikā, “tumhākaṃkulūpakā tumhākaṃyeva anucchavikā, mayhaṃ theromayheva anucchaviko”ti āha. āyasmā panamantāṇiputto imehi pañcahi saṃsaggehi catūhipiparisāhi saddhiṃ asaṃsaṭṭho gāhamuttako cevamuttamuttako ca ahosi. yathā ca sayaṃ asaṃsaṭṭho,evaṃ bhikkhūnampi taṃ asaṃsaggakathaṃ kattāahosi. |
Quả thật, một vị cận sự nữ đã hộ độ trưởng lão ấy (Cūḷapiṇḍapātiyatissa) suốt 12 năm. Vào một ngày nọ, lửa đã nổi lên rồi thiêu đốt nhiều căn nhà ở ngôi làng đó. Một số Tỳ Kheo thân thuộc(i) với các gia đình khác đi đến rồi thăm hỏi xã giao (với vị cận sự nữ ấy) rằng: ‘Này cận sự nữ! Làm sao mà bà có thể làm cho đồ đạc (trong nhà của bà) không hư hại?’(ii). Một số người nói (với vị cận sự nữ) rằng: ‘Mẹ ơi! Vị trưởng lão thân thuộc với gia đình của chúng con sẽ đến vào đúng thời thọ thực.’. Vào ngày hôm sau, vị trưởng lão ấy (Cūḷapiṇḍapātiyatissa) cũng đến sau khi xem xét thời điểm khất thực. Vị cận sự nữ mời (vị trưởng lão) ngồi dưới bóng của căn phòng; chuẩn bị vật thực rồi dâng. Khi vị trưởng lão đã thọ thực rồi ra đi; những người kia nói rằng: ‘Mẹ ơi! Vị trưởng lão thân thuộc với gia đình của chúng con đã đến vào đúng thời thọ thực!’. Vị cận sự nữ đã nói rằng: ‘Các vị Tỳ Kheo thân thuộc với gia đình của các con thì phù hợp với chính các con; còn vị trưởng lão của ta thì phù hợp với chính ta!’. Tuy nhiên, đại đức Mantāṇiputta không giao lưu với cả 4 hội chúng theo 5 thể thức giao lưu ấy. Vị ấy là người giải thoát cùng với kẻ nhận và người giải thoát cùng với kẻ hướng giải thoát. Và vị ấy tự mình không giao lưu như thế nào; thì vị ấy thuyết giảng về sự không giao lưu ấy cho cả các vị Tỳ Kheo như thế ấy. —– (i) [Tỳ Kheo thân thuộc với gia đình – kulūpakabhikkhu]; tức vị Tỳ Kheo được gia đình nào đó hộ độ, thường dâng vật thực riêng cho vị ấy. (ii) Tức nhà của vị cận sự nữ này vẫn an ổn sau cơn hoả hoạn; nên các vị Tỳ Kheo này có ý kết thân để được hộ độ. |
|
42 |
āraddhavīriyoti paggahitavīriyo,paripuṇṇakāyikacetasikavīriyotiattho. yo hi bhikkhu gamaneuppannakilesaṃ ṭhānaṃ pāpuṇituṃna deti, ṭhāne uppannakilesaṃnisajjaṃ, nisajjāya uppannakilesaṃsayanaṃ pāpuṇituṃ na deti,mantena kaṇhasappaṃ uppīḷetvāgaṇhanto viya, amittaṃ gīvāyaakkamanto viya ca vicarati, ayaṃāraddhavīriyo nāma. thero ca tādisoahosi. bhikkhūnampi tatheva vīriyārambhakathaṃ kattā ahosi. |
[Có tinh tấn vững chắc – āraddhavīriya], tức: có tinh tấn được duy trì; có tinh tấn về phương diện thân và phương diện tâm viên mãn. Ý nghĩa là như vậy. Quả thật, vị Tỳ Kheo nào không để cho phiền não sinh lên trong tiến trình (vị ấy) đi đạt đến tiến trình (vị ấy) đứng(i); không để cho phiền não sinh lên trong tiến trình (vị ấy) đứng đạt đến tiến trình (vị ấy) ngồi; không để cho phiền não sinh lên trong tiến trình (vị ấy) ngồi đạt đến tiến trình (vị ấy) nằm, (vị ấy) du hành giống như kẻ nắm bắt và nghiền nát con rắn độc bằng chú thuật, giống như kẻ dẫm lên cổ kẻ thù; thì đó được gọi là (vị Tỳ Kheo) [có tinh tấn vững chắc – āraddhavīriya]. Và vị trưởng lão là người như thế. Vị ấy thuyết giảng sự tinh tấn vững chắc như thế ấy cho cả các Tỳ Kheo. —– (i) Tức khi vị ấy đang đi, phiền não sinh lên thì vị ấy tìm cách diệt trừ ngay trong lúc đi đó; không để phiền não diễn tiến sang lúc vị ấy đứng. |
|
43 |
sīlasampannotiādīsu sīlanticatupārisuddhisīlaṃ. samādhītivipassanāpādakā aṭṭha samāpattiyo.paññāti lokiyalokuttarañāṇaṃ.vimuttīti ariyaphalaṃ.vimuttiñāṇadassanantiekūnavīsatividhaṃpaccavekkhaṇañāṇaṃ. thero sayampisīlādīhi sampanno ahosibhikkhūnampi sīlādikathaṃ kattā.svāyaṃ dasahi kathāvatthūhiovadatīti ovādako. yathā pana ekoovadatiyeva, sukhumaṃ atthaṃparivattetvā jānāpetuṃ na sakkoti. naevaṃ thero. thero pana tāni dasakathāvatthūni viññāpetīti viññāpako.eko viññāpetuṃ sakkoti, kāraṇaṃdassetuṃ na sakkoti. therokāraṇampi sandassetīti sandassako.eko vijjamānaṃ kāraṇaṃ dasseti,gāhetuṃ pana na sakkoti. therogāhetumpi sakkotīti samādapako.evaṃ samādapetvā pana tesukathāvatthūsu ussāhajananavasenabhikkhū samuttejetīti samuttejako.ussāhajāte vaṇṇaṃ vatvāsampahaṃsetīti sampahaṃsako. |
Ở cụm từ [đầy đủ giới – sīlasampanna] vân vân; [giới – sīla], tức: 4 thanh tịnh giới. [Định – samādhi], tức: 8 tầng Định làm nền tảng cho Vipassanā. [Tuệ – paññā], tức: hiệp thế trí & siêu thế trí. [Sự giải thoát – vimutti], tức: thánh quả. [Giải thoát tri kiến – vimuttiñāṇadassana] , tức: thẩm sát trí gồm 19 loại. Trưởng lão tự mình đầy đủ các giới vân vân và còn thuyết giảng về giới vân vân cho cả các Tỳ Kheo. [Bậc giáo huấn – ovādaka], tức: chính vị ấy giáo huấn bằng 10 chủ điểm. Tuy nhiên, giả như một người nào đó cũng giáo huấn, nhưng người ấy làm cho ý nghĩa vi tế (của điều giáo huấn) trở nên mù mờ, nên không thể làm cho người khác hiểu; trưởng lão thì không như vậy, mà trưởng lão khiến cho người khác hiểu 10 chủ điểm đó. Do đó, ngài là [bậc giảng giải – viññāpaka]. Một người nào đó có thể làm cho người khác hiểu; nhưng không thể trình bày nền tảng (của chủ đề). Trưởng lão trình bày cả nền tảng. Do đó, Ngài là [bậc giải thích – sandassaka]. Một người nào đó trình bày được nguyên nhân hiện tồn; nhưng không thể khiến cho (người khác) học tập (nguyên nhân ấy). Trưởng lão cũng có thể khiến cho (người khác) học tập. Do đó, Ngài là [bậc khích lệ – samādapaka]. Tuy nhiên, sau khi khích lệ như thế; (trưởng lão) sách tấn các Tỳ Kheo khởi lên nỗ lực đối với các chủ điểm đó. Do đó, Ngài là [bậc sách tấn – samuttejaka]. Ngài tuỳ hỉ bằng cách nói lời khen ngợi đối với người khởi lên nỗ lực. Do đó, Ngài là [bậc tuỳ hỉ – sampahaṃsaka]. |
|
44 |
suladdhalābhāti aññesampimanussattabhāvapabbajjādiguṇalābhā nāmahonti. āyasmato pana puṇṇassa suladdhalābhāete, yassa satthu sammukhā evaṃ vaṇṇoabbhuggatoti attho. apica apaṇḍitehivaṇṇakathanaṃ nāma na tathā lābho, paṇḍitehivaṇṇakathanaṃ pana lābho. gihī hi vāvaṇṇakathanaṃ na tathā lābho, gihī hi “vaṇṇaṃkathessāmī”ti, “amhākaṃ ayyo saṇho sakhilosukhasambhāso, vihāraṃ āgatānaṃyāgubhattaphāṇitādīhi saṅgahaṃ karotī”tikathento avaṇṇameva katheti. “avaṇṇaṃkathessāmī”ti “ayaṃ thero mandamando viyaabalabalo viya bhākuṭikabhākuṭiko viya natthiiminā saddhiṃ vissāso”ti kathento vaṇṇamevakatheti. sabrahmacārīhipi satthu parammukhāvaṇṇakathanaṃ na tathā lābho, satthu sammukhāpana atilābhoti imampi atthavasaṃ paṭicca“suladdhalābhā”ti āha. anumassa anumassāti dasa kathāvatthūni anupavisitvā anupavisitvā.tañca satthā abbhanumodatīti tañcassa vaṇṇaṃevametaṃ appiccho ca so bhikkhu santuṭṭho ca sobhikkhūti anumodati. iti viññūhi vaṇṇabhāsanaṃeko lābho, sabrahmacārīhi eko, satthu sammukhāeko, anumassa anumassa eko, satthārāabbhanumodanaṃ ekoti ime pañca lābhesandhāya “suladdhalābhā”ti āha. kadācītikismiñcideva kāle. karahacīti tasseva vevacanaṃ.appeva nāma siyā kocideva kathāsallāpoti apināma koci kathāsamudācāropi bhaveyya. therenakira āyasmā puṇṇo neva diṭṭhapubbo, nassadhammakathā sutapubbā. iti so tassa dassanampidhammakathampi patthayamāno evamāha. |
[Thành tựu lớn lao – suladdhalābhā], tức: đối với những người khác, có 2 loại thành tựu: thành tựu trạng thái làm người hoặc thành tựu xuất gia. Thế nhưng, đối với đại đức Puṇṇa, có những thành tựu lớn lao này: lời khen ngợi vị ấy như thế phát sinh trước mặt Bậc Đạo Sư. Ý nghĩa là như vậy. Hơn nữa, việc nói lời khen ngợi (được thực hiện) bởi những kẻ thiếu trí thì không phải là thành tựu đến mức như thế (cho người được khen ngợi); mà việc nói lời khen ngợi (được thực hiện) bởi những người trí mới là thành tựu. Việc nói lời khen ngợi (được thực hiện) bởi những người tại gia thì không phải là thành tựu đến mức như thế (cho người được khen ngợi). Bởi vì nếu người tại gia (nghĩ rằng) ‘Ta sẽ nói lời khen ngợi (vị trưởng lão)!’, rồi nói rằng: ‘Vị thầy của chúng tôi thì lịch thiệp, hoà nhã, khéo nói; vị ấy hỗ trợ những ai đến tu viện bằng cháo, thực phẩm, mật đường vân vân’; thì người tại gia ấy đang nói lời chê trách mà thôi. Nếu người tại gia (nghĩ rằng) ‘Ta sẽ nói lời chê trách (vị trưởng lão)!’, rồi nói rằng: ‘Vị trưởng lão này giống như người trì độn, giống như người yếu ớt, giống như người nghiêm nghị; không có sự thân thiết với người này!’; thì người tại gia ấy đang nói lời khen ngợi mà thôi. Và việc nói lời khen ngợi (được thực hiện) bởi những đồng phạm hạnh khi vắng mặt Bậc Đạo Sư thì không phải là thành tựu đến mức như thế (cho người được khen ngợi); mà việc nói lời khen ngợi (được thực hiện) bởi những đồng phạm hạnh trước mặt Bậc Đạo Sư là thành tựu vượt trội (cho người được khen ngợi). Và (ngài Sāriputta) đã nói cụm từ ‘thành tựu lớn lao’ dựa theo phương diện ý nghĩa này. [Một cách tuần tự – anumassa anumassa], tức: theo lối đề cập tuần tự 10 chủ điểm. [Và Bậc Đạo Sư tán thành điều đó], tức: Bậc Đạo Sư tán đồng lời khen ngợi đó dành cho vị ấy – (lời khen ngợi đó) như vầy: ‘Vị Tỳ Kheo ấy ít mong muốn; vị Tỳ Kheo ấy tri túc!’. Như thế, việc nói lời khen ngợi (được thực hiện) bởi các bậc trí là một thành tựu; việc nói lời khen ngợi (được thực hiện) bởi các đồng phạm hạnh là một thành tựu; việc nói lời khen ngợi (được thực hiện) trước mặt Bậc Đạo Sư là một thành tựu; việc nói lời khen ngợi (được thực hiện) một cách tuần tự là một thành tựu; việc tán thành (được thực hiện) bởi Bậc Đạo Sư là một thành tựu. (Ngài Sāriputta) đã nói cụm từ ‘thành tựu lớn lao’ liên quan đến 5 thành tựu đó. [Vào lúc nào đó – kadāci], tức: vào một lúc nào đó. [Vào dịp nào đó – karahaci], từ này là từ đồng nghĩa với chính từ đó (kadāci). [Có lẽ ta sẽ có cuộc đàm luận nào đó – appeva nāma siyā kocideva kathāsallāpo], tức: có lẽ ta sẽ có cuộc thảo luận nào đó. Quả thật, trước đây, trưởng lão (Sāriputta) chưa từng nhìn thấy đại đức Puṇṇa; cũng chưa từng nghe pháp thoại của đại đức ấy. Như vậy, trưởng lão ấy (Sāriputta) đã nói như thế do mong muốn nhìn thấy đại đức ấy và nghe pháp thoại của đại đức ấy. |
|
45 |
yathābhirantanti yathāajjhāsayaṃ viharitvā. buddhānañhi ekasmiṃ ṭhāne vasantānaṃchāyūdakādivipattiṃ vā apphāsukasenāsanaṃ vā, manussānaṃ assaddhādibhāvaṃ vā āgamma anabhiratināma natthi. tesaṃ sampattiyā “idha phāsu viharāmā”ti abhiramitvā ciravihāropi natthi. yattha pana tathāgateviharante sattā saraṇesu vā patiṭṭhahanti, sīlāni vā samādiyanti, pabbajanti vā, tato sotāpattimaggādīnaṃ vāpana tesaṃ upanissayo hoti. tattha buddhā satte tāsu sampattīsu patiṭṭhāpanājjhāsayena vasanti; tāsaṃabhāve pakkamanti. tena vuttaṃ — “yathāajjhāsayaṃ viharitvā”ti. cārikaṃ caramānoti addhānagamanaṃgacchanto. cārikā ca nāmesā bhagavato duvidhā hoti turitacārikā ca, aturitacārikā ca. |
[Theo ý thích – yathābhirantaṃ], tức: sống theo ý hướng. Bởi vì khi chư Phật ngụ tại một nơi nào đó, thì các Ngài không bất mãn do sự khiếm khuyết về bóng mát, nước vân vân, chỗ ngụ không thoải mái hay sự thiếu đức tin vân vân của dân chúng. Khi (nơi nào đó) có những điều kiện đó (bóng mát, nước…); các Ngài hài lòng rằng: ‘Chúng ta (có thể) sống thoải mái tại đây!’ nhưng cũng không trú ngụ lâu dài. Mà khi Đức Như Lai ngụ tại nơi nào mà các chúng sinh (ở nơi đó) trụ vững trong các sự quy y, thọ các giới, xuất gia hay kế đến, (các chúng sinh ấy) có điều kiện hỗ trợ cho Nhập Lưu Đạo vân vân; thì tại nơi đó, chư Phật trú ngụ do ý hướng muốn thiết lập các chúng sinh trong các thành quả đó. Do sự thiếu vắng các thành quả đó, các Ngài ra đi. Do đó, điều này đã được nói: ‘sống theo ý hướng’. [Trong khi du hành – cārikaṃ caramāno], tức: trong khi đi một hành trình. Và hành trình của Đức Thế Tôn có 2 loại: hành trình nhanh và hành trình chậm. |
|
46 |
tattha dūrepi bodhaneyyapuggalaṃ disvā tassa bodhanatthāya sahasā gamanaṃ turitacārikā nāma. sāmahākassapapaccuggamanādīsu daṭṭhabbā. bhagavā hi mahākassapaṃ paccuggacchanto muhuttenatigāvutaṃ maggaṃ agamāsi, āḷavakassatthāya tiṃsayojanaṃ, tathā aṅgulimālassa. pukkusātissa panapañcacattālīsayojanaṃ, mahākappinassa vīsayojanasataṃ, khadiravaniyassatthāya satta yojanasatāni agamāsi;dhammasenāpatino saddhivihārikassa vanavāsītissasāmaṇerassa tigāvutādhikaṃ vīsayojanasataṃ. |
Trong chủ đề này; khi Đức Phật nhìn thấy một người có thể giác ngộ dẫu (người ấy) ở xa; thì hành trình chóng vánh của Ngài nhằm mục đích giúp người ấy giác ngộ được gọi là [hành trình nhanh – turitacārikā]. Hành trình đó có thể được thấy trong các tình huống Đức Phật đến gặp ngài Mahākassapa vân vân. Quả thật, Đức Thế Tôn đã đi con đường dài 3 Gāvuta trong khoảnh khắc để đến gặp ngài Mahākassapa. (Đức Thế Tôn đã đi con đường dài) 30 Yojana (trong khoảnh khắc) để đến gặp Āḷavaka. Cũng như vậy đối với Aṅgulimāla. Tuy nhiên, (Đức Thế Tôn đã đi con đường dài) 45 Yojana (trong khoảnh khắc) để đến gặp Pukkusāti; 2.000 Yojana để đến gặp Mahākappina; 700 Yojana để đến gặp Khadiravaniya. (Đức Thế Tôn đã đi con đường dài) 2.000 Yojana và 3 Gāvuta (trong khoảnh khắc) để đến gặp Sa Di Tissa – vị ngụ ở rừng, vị sống theo Tín, vị tướng quân Pháp. |
|
47 |
ekadivasaṃ kira thero, “tissasāmaṇerassa santikaṃ,bhante, gacchāmī”ti āha. bhagavā, “ahampi gamissāmī”tivatvā āyasmantaṃ ānandaṃ āmantesi — “ānanda,vīsatisahassānaṃ chaḷabhiññānaṃ ārocehi — ‘bhagavāvanavāsītissasāmaṇerassa santikaṃ gamissatī’”ti. tatodutiyadivase vīsatisahassakhīṇāsavaparivuto ākāseuppatitvā vīsayojanasatamatthake tassa gocaragāmadvāreotaritvā cīvaraṃ pārupi. kammantaṃ gacchamānāmanussā disvā, “satthā, bho, āgato, mā kammantaṃagamitthā”ti vatvā āsanāni paññapetvā yāguṃ datvāpānavattaṃ karontā, “kuhiṃ, bhante, bhagavā gacchatī”tidaharabhikkhū pucchiṃsu. upāsakā, na bhagavā aññatthagacchati, idheva tissasāmaṇerassa dassanatthāya āgatoti. te “amhākaṃ kira kulūpakattherassa dassanatthāya satthāāgato, no vata no thero oramattako”ti somanassajātāahesuṃ. |
Quả thật, một ngày nọ, một vị trưởng lão đã nói (với Đức Thế Tôn) rằng: ‘Thưa Ngài! Con sẽ đi đến chỗ Sa Di Tissa!’ Đức Thế Tôn nói: ‘Ta cũng sẽ đi (đến đó)’; rồi gọi đại đức Ānanda rằng: ‘Ānanda! Hãy thông báo cho 20.000 vị có 6 thắng trí rằng: ‘Đức Thế Tôn sẽ đi đến chỗ Sa Di Tissa – vị ngụ ở rừng!’’ Thế rồi, vào ngày thứ 2, Đức Thế Tôn – được tháp tùng bởi 20.000 vị lậu tận, bay lên không với độ cao 2.000 Yojana; đáp xuống cổng làng ở phạm vi (cư ngụ) của vị Sa Di đó; rồi quấn y. Nhiều người đang đi làm việc nhìn thấy (Tăng Đoàn); nói rằng: ‘Này các ông! Bậc Đạo Sư đã đến, các ông chớ đi làm việc nữa!’; (họ) chuẩn bị các chỗ ngồi; dâng cháo; rồi trong khi thực hiện phận sự về nước uống (dâng nước uống cho các ngài), đã hỏi các vị Tỳ Kheo trẻ rằng: ‘Thưa ngài! Đức Thế Tôn đi đâu?’ (Các vị ấy đáp) ‘Này các cận sự nam! Đức Thế Tôn không đi đến nơi nào khác, Ngài đã đến nhằm mục đích gặp Sa Di Tissa ở ngay đây.’ Các vị cận sự nam ấy (nghĩ rằng) ‘Quả thật, Bậc Đạo Sư đã đến nhằm mục đích gặp vị trưởng lão thân thuộc với gia đình chúng ta; ôi! Vị trưởng lão của chúng ta thật không phải tầm thường!’; rồi phát sinh sự vui mừng. |
|
48 |
atha bhagavato bhattakiccapariyosāne sāmaṇerogāmaṃ piṇḍāya caritvā “upāsakā mahābhikkhusaṅgho”ti pucchi. athassa te, “satthā, bhante,āgato”ti ārocesuṃ, so bhagavantaṃ upasaṅkamitvāpiṇḍapātena āpucchi. satthā tassa pattaṃ hatthenagahetvā, “alaṃ, tissa, niṭṭhitaṃ bhattakiccan”ti āha.tato upajjhāyaṃ āpucchitvā attano pattāsane nisīditvābhattakiccamakāsi. athassa bhattakiccapariyosānesatthā maṅgalaṃ vatvā nikkhamitvā gāmadvāre ṭhatvā,“kataro te, tissa, vasanaṭṭhānaṃ gamanamaggo”ti āha.“ayaṃ bhagavā”ti. maggaṃ desayamāno purato yāhitissāti. bhagavā kira sadevakassa lokassamaggadesako samānopi “sakalatigāvute maggesāmaṇeraṃ daṭṭhuṃ lacchāmī”ti taṃmaggadesakamakāsi. |
Thế rồi, vào thời điểm Đức Thế Tôn kết thúc phận sự thọ thực; vị Sa Di ấy sau khi đi vào làng khất thực đã hỏi (dân chúng) rằng: ‘Này các cận sự nam! (Tại sao) tăng đoàn Tỳ Kheo đông đảo (lại ở đây)?’ Họ bèn kể với ngài rằng: ‘Thưa ngài! Bậc Đạo Sư đã đến (đây).’ Vị Sa Di ấy đi đến chỗ Đức Thế Tôn rồi xin phép phục vụ việc thọ thực (cho Ngài). Bậc Đạo Sư cầm bát của mình bằng tay rồi nói rằng: ‘Này Tissa! Đủ rồi! (Ta) đã kết thúc việc thọ thực.’ Thế rồi, vị ấy xin phép tế độ sư (để phục vụ việc thọ thực); (sau đó) đi đến chỗ ngồi của mình; ngồi xuống rồi thọ thực. Thế rồi, khi vị Sa Di ấy kết thúc phận sự thọ thực; Bậc Đạo Sư chúc phúc, đi ra, đứng ở cổng làng rồi nói (với vị Sa Di ấy) rằng: ‘Này Tissa! Đường nào là đường đi đến nơi ở của ông?’ (Sa Di Tissa) ‘Thưa Đức Thế Tôn! (Đường) này.’ (Đức Thế Tôn) ‘Này Tissa! Hãy đi trước để dẫn đường!’ Quả thật, mặc dù Đức Thế Tôn là người dẫn đường cho thế gian gồm chư thiên; Ngài lại cho vị Sa Di ấy làm người dẫn đường (với suy nghĩ rằng) ‘Ta sẽ có cơ hội nhìn vị Sa Di ấy trên suốt con đường 3 Gāvuta.’ |
|
49 |
so attano vasanaṭṭhānaṃ gantvā bhagavatovattamakāsi. atha naṃ bhagavā, “kataro te, tissa,caṅkamo”ti pucchitvā tattha gantvā sāmaṇerassanisīdanapāsāṇe nisīditvā, “tissa, imasmiṃ ṭhānesukhaṃ vasasī”ti pucchi. so āha — “āma, bhante,imasmiṃ me ṭhāne vasantassasīhabyagghahatthimigamorādīnaṃ saddaṃ suṇatoaraññasaññā uppajjati, tāya sukhaṃ vasāmī”ti. athanaṃ bhagavā, “tissa, bhikkhusaṅghaṃ sannipātehi,buddhadāyajjaṃ te dassāmī”ti vatvā sannipatitebhikkhusaṅghe upasampādetvā attanovasanaṭṭhānameva agamāsīti. ayaṃ turitacārikānāma. |
Vị Sa Di ấy đi đến chỗ ở của mình rồi thực hiện phận sự đối với Đức Thế Tôn. Thế rồi, Đức Thế Tôn hỏi vị ấy rằng: ‘Này Tissa! Chỗ nào là đường kinh hành của ông?’; (Ngài) bèn đi đến đó; ngồi xuống toạ thạch của vị Sa Di ấy rồi hỏi rằng: ‘Này Tissa! Ông sống an lạc ở nơi này chứ?’ Vị Sa Di ấy đáp rằng: ‘Vâng, thưa Ngài! Khi con sống ở nơi này mà nghe tiếng sư tử, cọp, voi, nai, công vân vân thì tưởng về rừng khởi lên cho con. Nhờ tưởng đó, con sống an lạc.’ Thế rồi, Đức Thế Tôn nói với vị ấy rằng: ‘Này Tissa! Hãy tập họp tỳ kheo tăng, ta sẽ trao Phật sản (di sản từ Phật) cho ông’; khi tỳ kheo tăng đã tụ họp, Ngài ban phép tu lên bậc trên cho vị Sa Di ấy rồi đi về chính nơi ở của mình. Đó được gọi là [hành trình nhanh – turitacārikā]. |
|
50 |
yaṃ pana gāmanigamapaṭipāṭiyā devasikaṃyojanaḍḍhayojanavasena piṇḍapātacariyādīhi lokaṃanuggaṇhantassa gamanaṃ, ayaṃ aturitacārikānāma. imaṃ pana cārikaṃ caranto bhagavāmahāmaṇḍalaṃ majjhimamaṇḍalaṃantimamaṇḍalanti imesaṃ tiṇṇaṃ maṇḍalānaṃaññatarasmiṃ carati. tattha mahāmaṇḍalaṃnavayojanasatikaṃ, majjhimamaṇḍalaṃchayojanasatikaṃ, antimamaṇḍalaṃ tiyojanasatikaṃ.yadā mahāmaṇḍale cārikaṃ caritukāmo hoti,mahāpavāraṇāya pavāretvā pāṭipadadivasemahābhikkhusaṅghaparivāro nikkhamati. samantāyojanasataṃ ekakolāhalaṃ ahosi, purimaṃ purimaṃāgatā nimantetuṃ labhanti; itaresu dvīsu maṇḍalesu sakkāro mahāmaṇḍale osarati. tatra bhagavā tesu tesugāmanigamesu ekāhaṃ dvīhaṃ vasanto mahājanaṃāmisapaṭiggahena anuggaṇhanto dhammadānenacassa vivaṭṭūpanissitaṃ kusalaṃ vaḍḍhento navahimāsehi cārikaṃ pariyosāpeti. |
Còn cái nào là hành trình (của Đức Thế Tôn) khi Ngài giúp đỡ thế gian bằng hạnh khất thực vân vân, với độ dài một Yojana, nửa Yojana mỗi ngày theo trình tự, ở làng mạc, thị trấn; thì cái đó được gọi là [hành trình chậm – aturitacārikā]. Tuy nhiên, trong khi du hành hành trình này; Đức Thế Tôn du hành trong một phạm vi nào đó trong số 3 loại phạm vi này: phạm vi lớn, phạm vi trung bình và phạm vi chót. Trong chủ đề này, phạm vi lớn là 900 Yojana, phạm vi trung bình là 600 Yojana, phạm vi chót là 300 Yojana. Khi nào Ngài muốn đi hành trình trong phạm vi lớn; thì khi đó, vào ngày khởi hành, Ngài xuất hành với tuỳ tùng là Đại Tỳ Kheo Tăng, do (Ngài) được mời vào dịp lễ Đại Tự Tứ. (Khi đó) âm thanh náo động phát sinh suốt cả 100 Yojana; (bởi vì) những người tới trước có cơ hội đón mời (các vị Tỳ Kheo). Trong 2 loại phạm vi khác nhau, sự tôn kính dành cho phạm vi lớn. Trong tình huống đó, Đức Thế Tôn sống một ngày, 2 ngày ở làng mạc, thị trấn này kia; giúp đỡ đại chúng bằng cách thọ nhận tài vật và phát triển việc thiện dựa vào sự xuất ly luân hồi (Niết Bàn) cho đại chúng bằng việc bố thí Pháp và kết thúc hành trình sau 9 tháng. |
|
51 |
sace pana antovasse bhikkhūnaṃ samathavipassanātaruṇā hoti, mahāpavāraṇāya apavāretvāpavāraṇāsaṅgahaṃ datvā kattikapuṇṇamāyapavāretvā migasirassa paṭhamadivasemahābhikkhusaṅghaparivāro nikkhamitvāmajjhimamaṇḍalaṃ osarati. aññenapi kāraṇenamajjhimamaṇḍale cārikaṃ caritukāmo catumāsaṃvasitvāva nikkhamati. vuttanayeneva itaresu dvīsumaṇḍalesu sakkāro majjhimamaṇḍale osarati. bhagavāpurimanayeneva lokaṃ anuggaṇhanto aṭṭhahi māsehi cārikaṃ pariyosāpeti. |
Tuy nhiên, nếu trong mùa mưa mà việc phát triển Samatha & Vipassanā của các vị Tỳ Kheo còn yếu ớt; thì khi chưa được mời vào dịp lễ Đại Tự Tứ, Ngài cho phép đình chỉ lễ Tự Tứ; kế đó Ngài được mời vào ngày trăng tròn tháng Kattika; rồi vào ngày đầu tháng Migasira, Ngài xuất hành với tuỳ tùng là Đại Tỳ Kheo Tăng và đi vào (loại hành trình) có phạm vi trung bình. Còn khi Ngài muốn đi hành trình thuộc phạm vi trung bình bởi một nguyên nhân khác; thì Ngài ngụ 4 tháng (mùa mưa) rồi ra đi. Theo chính phương thức đã được nói trên, trong 2 loại phạm vi khác nhau, thì sự tôn kính dành cho phạm vi trung bình. Đức Thế Tôn giúp đỡ thế gian theo chính phương thức (đã được nói) đằng trước và kết thúc hành trình sau 8 tháng. |
|
52 |
sace pana catumāsaṃ vuṭṭhavassassāpi bhagavato veneyyasattā aparipakkindriyā honti, tesaṃindriyaparipākaṃ āgamayamāno aparampi ekaṃ māsaṃvā dviticatumāsaṃ vā tattheva vasitvāmahābhikkhusaṅghaparivāro nikkhamati. vuttanayenevaitaresu dvīsu maṇḍalesu sakkāro antomaṇḍale osarati.bhagavā purimanayeneva lokaṃ anuggaṇhanto sattahi vāchahi vā pañcahi vā catūhi vā māsehi cārikaṃ pariyosāpeti.iti imesu tīsu maṇḍalesu yattha katthaci cārikaṃ carantona cīvarādihetu carati. atha kho ye duggatā bālā jiṇṇābyādhitā, te kadā tathāgataṃ āgantvā passissanti? mayipana cārikaṃ carante mahājano tathāgatadassanaṃlabhissati, tattha keci cittāni pasādessanti, keci mālādīhipūjessanti, keci kaṭacchubhikkhaṃ dassanti, kecimicchādassanaṃ pahāya sammādiṭṭhikā bhavissanti, taṃtesaṃ bhavissati dīgharattaṃ hitāya sukhāyāti evaṃlokānukampāya cārikaṃ carati. |
Tuy nhiên, nếu Đức Thế Tôn đã trải qua mùa mưa suốt 4 tháng, nhưng có các chúng sinh cần được giáo huấn mà các căn chưa chín muồi; thì để chờ sự chín muồi các căn của họ, (Ngài) ngụ chính tại đó thêm một tháng nữa hay 2, 3, 4 tháng nữa rồi xuất hành với tuỳ tùng là Đại Tỳ Kheo Tăng. Theo chính phương thức đã được nói trên; trong 2 loại phạm vi khác nhau, sự tôn kính dành cho phạm vi chót. Đức Thế Tôn giúp đỡ thế gian theo chính phương thức (đã được nói) trước đó và kết thúc hành trình sau 7 tháng, 6 tháng, 5 tháng hay 4 tháng. Như vậy, khi Ngài đi một hành trình thuộc bất kỳ phạm vi nào trong 3 loại phạm vi đó; Ngài không đi do nhân là y áo vân vân. Ngài đi một hành trình do lòng thương tưởng thế gian rằng: ‘Những người nào khổ sở, kém hiểu biết, già, bệnh; thì những người đó khi nào có thể đi đến và nhìn được Đức Như Lai? Nhưng khi ta đi một hành trình; thì đại chúng có cơ hội nhìn thấy Đức Như Lai. Trong tình huống đó, một số người có thể an tịnh hoá tâm; một số người có thể kính lễ bằng vòng hoa vân vân; một số người có thể cúng dường một muỗng vật thực; một số người có thể từ bỏ Tà Kiến rồi trở nên có Chánh Kiến, điều đó có thể dẫn đến an lạc, lợi lạc suốt thời gian dài cho họ.’ |
|
53 |
apica catūhi kāraṇehi buddhā bhagavanto cārikaṃcaranti — jaṅghāvihāravasena sarīraphāsukatthāya,atthuppattikālaṃ abhikaṅkhanatthāya, bhikhūnaṃsikkhāpadaṃ paññāpanatthāya, tattha tatthaparipākagatindriye bodhaneyyasatte bodhanatthāyāti.aparehipi catūhi kāraṇehi buddhā bhagavanto cārikaṃcaranti — buddhaṃ saraṇaṃ gacchissantīti vā,dhammaṃ saraṇaṃ gacchissantīti vā, saṅghaṃ saraṇaṃgacchissantīti vā, mahatā dhammavassena catassoparisā santappessāmīti vāti. aparehi pañcahi kāraṇehibuddhā bhagavanto cārikaṃ caranti — pāṇātipātāviramissantīti vā, adinnādānā… kāmesumicchācārā…musāvādā… surāmerayamajjapamādaṭṭhānāviramissantīti vāti. aparehi aṭṭhahi kāraṇehi buddhābhagavanto cārikaṃ caranti — paṭhamajjhānaṃpaṭilabhissantīti vā, dutiyaṃ … pe …nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ paṭilabhissantītivāti. aparehi aṭṭhahi kāraṇehi buddhā bhagavantocārikaṃ caranti — sotāpattimaggaṃ adhigamissantīti vā,sotāpattiphalaṃ … pe … arahattaphalaṃsacchikarissantīti vāti. ayaṃ aturitacārikā, sā idhaadhippetā. sā panesā duvidhā hoti nibaddhacārikā,anibaddhacārikā ca. tattha yaṃ ekassevabodhaneyyasattassa atthāya gacchati, ayaṃnibaddhacārikā nāma. yaṃ panagāmanigamanagarapaṭipāṭivasena carati, ayaṃanibaddhacārikā nāma. esā idha adhippetā. |
Hơn nữa, chư Phật – Thế Tôn còn đi một hành trình do 4 nguyên nhân khác nữa: nhằm mục đích (làm cho) thân thể thoải mái bằng cách đi giải mỏi(i); nhằm mục đích thoả mong muốn khi có nhu cầu (nào đó); nhằm mục đích quy định điều học cho các Tỳ Kheo; nhằm mục đích giúp cho các chúng sinh có thể giác ngộ ở nơi này nơi kia giác ngộ khi các căn của họ đã chín muồi. Chư Phật – Thế Tôn còn đi một hành trình do 4 nguyên nhân khác nữa: (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể đi đến nương nhờ Đức Phật’; (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể đi đến nương nhờ Đức Pháp’; (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể đi đến nương nhờ Đức Tăng’; (do suy nghĩ) ‘ta có thể làm thoả lòng tứ chúng bằng cơn mưa Pháp lớn lao.’ Chư Phật – Thế Tôn còn đi một hành trình do 5 nguyên nhân khác nữa: (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể kềm tránh việc giết hại sinh vật’; (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể kềm tránh việc lấy của không được cho’; (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể kềm tránh việc tà hạnh trong các dục’; (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể kềm tránh việc nói dối’; (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể kềm tránh chất say là nhân cho trạng thái dễ duôi.’ Chư Phật – Thế Tôn còn đi một hành trình do 8 nguyên nhân khác nữa: (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể đạt được Sơ Thiền’; (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể đạt được Nhị Thiền’… (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể đạt được tầng thiền Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.’ Chư Phật – Thế Tôn còn đi một hành trình do 8 nguyên nhân khác nữa: (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể đạt đến Nhập Lưu Đạo’; (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể đạt đến Nhập Lưu Quả’… (do suy nghĩ) ‘các chúng sinh có thể thực chứng A La Hán Quả.’ Đó là [hành trình chậm – aturitacārikā]; điều đó được hàm ý ở đây. Tuy nhiên, hành trình đó có 2 loại: hành trình xác định & hành trình không xác định. Trong chủ đề này, hành trình nào mà Đức Thế Tôn đi nhằm mục đích giúp cho riêng một chúng sinh có thể giác ngộ nào đó; thì hành trình đó được gọi là hành trình xác định. Còn hành trình nào mà Đức Thế Tôn đi một cách trình tự qua làng mạc, thị trấn, thành phố; thì hành trình đó được gọi là hành trình không xác định. Loại hành trình đó được hàm ý ở đây. —– (i) [đi giải mỏi – jaṅghāvihāra], tức do ngồi quá nhiều nên đi để giải cơn mỏi nơi thân. |
|
54 |
senāsanaṃ saṃsāmetvāti senāsanaṃpaṭisāmetvā. taṃ pana paṭisāmento thero nacūḷapattamahāpatta-cūḷathālakamahāthālaka-paṭṭuṇṇacīvara-dukūlacīvarādīnaṃ bhaṇḍikaṃ katvāsappitelādīnaṃ vā pana ghaṭe pūrāpetvā gabbhenidahitvā dvāraṃ pidhāya kuñcikamuddikādīniyojāpesi. “sace na hoti bhikkhu vā sāmaṇero vāārāmiko vā upāsako vā, catūsu pāsāṇesu mañcemañcaṃ āropetvā pīṭhe pīṭhaṃ āropetvā cīvaravaṃsevā cīvararajjuyā vā upari puñjaṃ katvādvāravātapānaṃ thaketvā pakkamitabban”ti (cūḷava.361) vacanato pana nevāsikaṃ bhikkhuṃāpucchanamattakeneva paṭisāmesi. |
[Thu xếp chỗ ngụ – senāsanaṃ saṃsāmetvā], tức: [thu dọn chỗ ngụ – senāsanaṃ paṭisāmetvā]. Tuy nhiên, vị trưởng lão ấy không thu dọn chỗ ngụ bằng cách xếp đặt một vật dụng nào đó trong số các vật dụng như bát nhỏ, bát lớn, chén nhỏ, chén lớn, y Paṭṭuṇṇa, y thượng hạng vân vân hay làm đầy các bình bơ, dầu vân vân; vị ấy không tích trữ (vật dụng) trong phòng nên chỉ đóng cửa rồi tra chìa khoá vân vân (vào ổ khoá). Vị trưởng lão ấy cũng thu dọn chỗ ngụ theo chính thể thức thông báo cho một vị Tỳ Kheo cư ngụ (tại đó) dựa theo lời nói sau: ‘Nếu không có vị Tỳ Kheo, vị Sa Di, người phụ việc chùa hay nam cận sự; thì (vị Tỳ Kheo xuất hành) nên xếp đặt cái giường lên 4 hòn đá rồi đặt cái giường lên trên cái giường, đặt cái ghế lên trên cái ghế, rồi chất cây sào treo y & dây treo y thành đống lên trên (cái ghế hay cái giường), đóng cửa và cửa sổ rồi có thể ra đi.’ (cūḷava.361). |
|
55 |
yena sāvatthi tena cārikaṃ pakkāmīti satthudassanakāmo hutvā yena disābhāgena sāvatthi tenapakkāmi. pakkamanto ca na suddhodanamahārājassaārocāpetvā sappitelamadhuphāṇitādīni gāhāpetvāpakkanto. yūthaṃ pahāya nikkhanto pana mattahatthīviya, asahāyakicco sīho viya, pattacīvaramattaṃ ādāyaekakova pakkāmi. kasmā panesa pañcasatehi attanoantevāsikehi saddhiṃ rājagahaṃ agantvā idāninikkhantoti? rājagahaṃ kapilavatthuto dūraṃsaṭṭhiyojanāni, sāvatthi pana pañcadasa. satthārājagahato pañcacattālīsayojanaṃ āgantvā sāvatthiyaṃviharati, idāni āsanno jātoti sutvā nikkhamītiakāraṇametaṃ. buddhānaṃ santikaṃ gacchanto hi esayojanasahassampi gaccheyya, tadā pana kāyaviveko nasakkā laddhunti. bahūhi saddhiṃ gamanakāle hiekasmiṃ gacchāmāti vadante eko idheva vasāmātivadati. ekasmiṃ vasāmāti vadante eko gacchāmātivadati. tasmā icchiticchitakkhaṇe samāpattiṃ appetvānisīdituṃ vā phāsukasenāsane kāyavivekaṃ laddhuṃ vāna sakkā hoti, ekakassa pana taṃ sabbaṃ sulabhaṃhotīti tadā agantvā idāni pakkāmi. |
[(Vị trưởng lão) đã đi một hành trình đến Sāvatthi], tức: Sāvatthi ở khu vực nào thì (vị trưởng lão) – mong muốn nhìn thấy Bậc Đạo Sư – đã đi đến (khu vực) đó. Và khi đi, ngài không cho người thông báo cho nhà vua Suddhodana; Ngài không đi để nhận bơ, dầu, mật ong, mật đường vân vân. Mà ngài từ bỏ tập thể rồi ra đi giống như con voi tri túc, giống như con sư tử có việc cần làm một mình; ngài lấy mỗi y và bát rồi ra đi chỉ một mình. Thế nhưng tại sao ngài lại đi lúc này mà không đến Rājagaha chung với 500 đệ tử của mình? Rājagaha cách Kapilavatthu 60 Yojana; nhưng Sāvatthi cách Kapilavatthu 15 Yojana. (Phải chăng) vị trưởng lão ấy nghe rằng: ‘Bậc Đạo Sư từ Rājagaha đã đi 45 Yojana đến Sāvatthi rồi ngụ (tại đó), lúc này Ngài đang ở gần đây’ rồi mới ra đi? Điều đó vô căn cứ. Bởi vì để đi đến gần chư Phật, vị trưởng lão ấy có thể đi cả 1.000 Yojana. Nhưng khi đó, vị ấy không có được sự viễn ly về thân. Bởi vì khi đi với nhiều người; thì (có thể xảy ra tình huống) người này nói: ‘Chúng ta hãy đi!’, người khác lại nói: ‘Chúng ta hãy ở lại ngay đây!’; người này nói: ‘Chúng ta hãy ở lại!’, người khác lại nói: ‘Chúng ta hãy đi!’. Do đó, vị ấy không thể ngồi xuống thể nhập vào tầng thiền khi vị ấy muốn hay đạt được sự viễn ly về thân ở nơi ngụ thoải mái. Còn khi một mình, vị ấy dễ dàng đạt được tất cả những điều đó. Do đó, vị ấy đã không đi lúc đó mà lúc này mới đi. |
|
56 |
cārikaṃ caramānoti ettha kiñcāpi ayaṃ cārikā nāmamahājanasaṅgahatthaṃ buddhānaṃyeva labbhati, buddheupādāya pana ruḷhīsaddena sāvakānampi vuccati kilañjādīhikataṃ bījanampi tālavaṇṭaṃ viya. yena bhagavāti sāvatthiyāavidūre ekasmiṃ gāmake piṇḍāya caritvā katabhattakiccojetavanaṃ pavisitvā sāriputtattherassa vāmahāmoggallānattherassa vā vasanaṭṭhānaṃ gantvā pādedhovitvā makkhetvā pānīyaṃ vā pānakaṃ vā pivitvā thokaṃvissamitvā satthāraṃ passissāmīti cittampi anuppādetvāujukaṃ gandhakuṭipariveṇameva agamāsi. therassa hisatthāraṃ daṭṭhukāmassa aññena bhikkhunā kiccaṃ natthi.tasmā rāhulaṃ vā ānandaṃ vā gahetvā okāsaṃ kāretvāsatthāraṃ passissāmīti evampi cittaṃ na uppādesi. |
[Trong khi du hành – cārikaṃ caramāno], tuy nhiên, trong chủ đề này, cái được gọi là [sự du hành – cārikā] đó chỉ dành riêng chư Phật nhằm mục đích cứu giúp đại chúng; còn việc du hành của chư thanh văn cũng được gọi là [sự du hành – cārikā] theo ngôn ngữ phổ thông phỏng theo (sự du hành) của chư Phật giống như cái quạt được làm từ giống cây sậy vân vân cũng được gọi là quạt cọ (quạt được làm từ giống cây cọ)(i). [Đức Thế Tôn ở đâu – yena bhagavā], tức: vị trưởng lão ấy đi vào một ngôi làng ở không xa Sāvatthī để khất thực, hoàn thành việc thọ thực, đi vào Jetavana, đến chỗ ngụ của trưởng lão Sāriputta hay trưởng lão Mahāmoggallāna, rửa và cọ chân, uống nước, nghỉ ngơi một chút, rồi không cần khởi tâm rằng: ‘Ta sẽ gặp Bậc Đạo Sư’ mà đi thẳng đến chính Hương Phòng. Bởi vì lúc vị trưởng lão ấy muốn gặp Bậc Đạo Sư, thì không cần vị Tỳ Kheo khác giúp đỡ. Do đó, vị ấy cũng không khởi tâm rằng: ‘Ta hãy gặp Rāhula hay Ānanda để xin phép rồi gặp Bậc Đạo Sư!’. —– (i) Tức [sự du hành – cārikā] ở bài kinh này không phải chỉ đến việc đi bình thường của mọi con người, mà chỉ đến việc đi của chư Phật với mục đích tế độ chúng sinh. Đó là công việc mang tầm vóc của chư Phật; việc đi của bậc thanh văn không thể sánh bằng, nhưng vẫn được đại chúng gọi bằng danh từ [sự du hành – cārikā] do ngôn ngữ quen miệng mà thôi. Giống như do quen miệng, trong tiếng Việt ta gọi ‘Phật Đản’ – tức ngày đản sinh của vị Phật – nhưng xét chặt chẽ thì gọi như vậy không đúng, vì khi sinh ra, vị đó chưa phải là Phật, chỉ là Bồ Tát, còn khi đã là Phật, vị đó hết kiếp thì Niết Bàn chứ không tái sinh nữa. |
|
57 |
thero hi sayameva buddhasāsane vallabho raññosaṅgāmavijayamahāyodho viya. yathā hi tādisassayodhassa rājānaṃ daṭṭhukāmassa aññaṃ sevitvādassanakammaṃ nāma natthi; vallabhatāyasayameva passati. evaṃ theropi buddhasāsanevallabho, tassa aññaṃ sevitvā satthudassanakiccaṃnatthīti pāde dhovitvā pādapuñchanamhi puñchitvāyena bhagavā tenupasaṅkami. bhagavāpi“paccūsakāleyeva mantāṇiputto āgamissatī”ti addasa.tasmā gandhakuṭiṃ pavisitvā sūcighaṭikaṃ adatvāvadarathaṃ paṭippassambhetvā uṭṭhāya nisīdi. therokavāṭaṃ paṇāmetvā gandhakuṭiṃ pavisitvābhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.dhammiyā kathāyāti bhagavā dhammiṃ kathaṃkathento cūḷagosiṅgasutte (ma. ni. 1.325 ādayo)tiṇṇaṃ kulaputtānaṃ sāmaggirasānisaṃsaṃ kathesi;sekkhasutte (ma. ni. 2.22 ādayo) āvasathānisaṃsaṃ,ghaṭikārasutte (ma. ni. 2.282 ādayo) satipaṭilābhikaṃpubbenivāsappaṭisaṃyuttakathaṃ; raṭṭhapālasutte(ma. ni. 2.304) cattāro dhammuddese, selasutte (ma.ni. 2.396 ādayo) pānakānisaṃsakathaṃ, upakkilesasutte (ma. ni. 3.236 ādayo) bhaguttherassadhammakathaṃ kathento ekībhāve ānisaṃsaṃkathesi. imasmiṃ pana rathavinīte āyasmatopuṇṇassa kathento dasakathāvatthunissayaṃanantanayaṃ nāma dassesi puṇṇa, ayampiappicchakathāyeva santosakathāyevāti.paṭisambhidāpattassa sāvakassa velante ṭhatvāmahāsamudde hatthappasāraṇaṃ viya ahosi. |
Quả thật, chính bản thân vị trưởng lão ấy được yêu mến trong giáo lý Đức Phật giống như một chiến binh vĩ đại đã chiến thắng trong trận đánh của nhà vua. Quả thật, giống như người chiến binh như vậy khi muốn gặp nhà vua thì việc gặp gỡ đó không cần dựa vào người khác; chính tự thân người ấy gặp được vua do sự yêu mến (của nhà vua đối với người ấy). Cũng vậy, vị trưởng lão ấy cũng được yêu mến trong giáo lý của Đức Phật; việc gặp gỡ Bậc Đạo Sư của vị ấy không cần dựa vào người khác. Bởi lẽ đó; vị ấy rửa chân, lau chân rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn cũng đã biết rằng: ‘Mantāṇiputta sẽ đến ngay lúc sáng sớm’. Do đó, Ngài đi vào hương thất; không đóng chốt cửa; lúc ngồi lúc đứng để giải mệt. Vị trưởng lão mở cửa; đi vào hương thất; đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. [Bằng Pháp thoại], tức: khi Đức Thế Tôn thuyết Pháp thoại; Ngài thuyết về lợi ích hoà hợp cho 3 người con trai gia tộc trong bài kinh Cūḷagosiṅgasutta (ma. ni. 1.325); Ngài thuyết về lợi ích ngụ cư trong bài kinh Sekkhasutta (ma. ni. 2.22); Ngài thuyết bài giảng về việc đạt đến Niệm, (bài giảng đó) liên quan đến kiếp trước trong bài kinh Ghaṭikārasutta (ma. ni. 2.282); Ngài thuyết về 4 sự giải thích Pháp trong bài kinh Raṭṭhapālasutta (ma. ni. 2.304); Ngài thuyết bài giảng về lợi ích chúng sinh trong bài kinh Selasutta (ma.ni. 2.396); trong khi thuyết Pháp thoại cho trưởng lão Bhagu trong bài kinh Upakkilesasutta (ma. ni. 3.236), Ngài đã thuyết về lợi ích trong việc độc cư. Tuy nhiên, trong bài kinh Rathavinīta này, Đức Thế Tôn trong khi thuyết cho đại đức Puṇṇa, đã trình bày nền tảng của 10 chủ điểm theo phương thức vô hạn rằng: ‘Này Puṇṇa! Và đây chính là lời giảng về sự ít mong muốn, chính là lời giảng về sự hài lòng’. Đối với vị thanh văn đã đạt phân tích tuệ; điều đó giống như việc duỗi tay vào đại dương của người đang đứng trên bờ. |
|
58 |
yena andhavananti tadā kira pacchābhattejetavanaṃ ākiṇṇaṃ hoti, bahūkhattiyabrāhmaṇādayo jetavanaṃ osaranti; raññocakkavattissa khandhāvāraṭṭhānaṃ viya hoti, nasakkā pavivekaṃ labhituṃ. andhavanaṃ panapadhānagharasadisaṃ pavivittaṃ, tasmāyenandhavanaṃ tenupasaṅkami. kasmā panamahāthere na addasa? evaṃ kirassa ahosi —“sāyanhasamaye āgantvā mahāthere disvā punadasabalaṃ passissāmi, evaṃ mahātherānaṃ ekaṃupaṭṭhānaṃ bhavissati, satthu dve bhavissanti, tatosatthāraṃ vanditvā mama vasanaṭṭhānamevagamissāmī”ti. |
[Rừng Andha ở đâu], tức: quả thật, khi đó, sau bữa ăn, Jetavana trở nên đông đúc; nhiều Khattiya, Bà-La-Môn vân vân tràn vào Jetavana. (Khi ấy) Jetavana giống như doanh trại của Chuyển Luân Vương; (vị trưởng lão ấy) không thể đạt được việc độc cư. Còn rừng Andha thì cô tịch giống như một ngôi nhà dành cho việc nỗ lực (tu tập). Do đó, vị trưởng lão ấy đã đi đến rừng Andha. Nhưng tại sao vị ấy không gặp các đại trưởng lão khác (mà lại vào rừng)? Quả thật, vị ấy suy nghĩ rằng: ‘Vào buổi chiều, ta sẽ đến (Jetavana), gặp các đại trưởng lão khác rồi lại gặp Đấng Thập Lực. Như vậy, ta sẽ có một lần gặp gỡ các đại trưởng lão; 2 lần gặp gỡ Bậc Đạo Sư. Kế đó, ta sẽ đảnh lễ Bậc Đạo Sư rồi đi về chính nơi cư ngụ của ta’. |
|
59 |
abhiṇhaṃ kittayamāno ahosīti punappunaṃvaṇṇaṃ kittayamāno vihāsi. thero kira tato paṭṭhāyadivase divase saṅghamajjhe “puṇṇo kira nāmamantāṇiputto catūhi parisāhi saddhiṃ asaṃsaṭṭho, so dasabalassa dassanatthāya āgamissati; kacci nu kho maṃ adisvāva gamissatī”ti theranavamajjhimānaṃsatikaraṇatthaṃ āyasmato puṇṇassa guṇaṃ bhāsati. evaṃ kirassa ahosi — “mahallakabhikkhū nāma nasabbakālaṃ antovihāre honti; guṇakathāya panassakathitāya yo ca naṃ bhikkhuṃ passissati; so āgantvāārocessatī”ti. athāyaṃ therasseva saddhivihāriko taṃāyasmantaṃ mantāṇiputtaṃ pattacīvaramādāyagandhakuṭiṃ pavisantaṃ addasa. kathaṃ pana naṃesa aññāsīti? puṇṇa, puṇṇāti vatvā kathentassabhagavato dhammakathāya aññāsi — “ayaṃ so thero,yassa me upajjhāyo abhiṇhaṃ kittayamāno hotī”ti. itiso āgantvā therassa ārocesi. nisīdanaṃ ādāyāti nisīdanaṃ nāma sadasaṃ vuccati avāyimaṃ. theropana cammakhaṇḍaṃ gahetvā agamāsi. piṭṭhitopiṭṭhitoti pacchato pacchato. sīsānulokīti younnataṭṭhāne piṭṭhiṃ passanto ninnaṭṭhāne sīsaṃpassanto gacchati, ayampi sīsānulokīti vuccati. tādisohutvā anubandhi. thero hi kiñcāpisaṃyatapadasaddatāya accāsanno hutvā gacchantopipadasaddena na bādhati, “nāyaṃ sammodanakālo”tiñatvā pana na accāsanno, andhavanaṃ nāmamahantaṃ, ekasmiṃ ṭhāne nilīnaṃ apassantena,āvuso puṇṇa, puṇṇāti aphāsukasaddo kātabbo hotītinisinnaṭṭhānajānanatthaṃ nātidūre hutvā sīsānulokīagamāsi. divāvihāraṃ nisīdīti divāvihāratthāya nisīdi. |
[(Đại đức Sāriputta) thường xuyên ca ngợi (đại đức Puṇṇa) – abhiṇhaṃ kittayamāno ahosi], tức: (đại đức Sāriputta) nói lời khen ngợi (đại đức Puṇṇa) hết lần này đến lần khác. Quả thật, kể từ đó, nhằm mục đích làm cho các vị trưởng lão, các vị tân Tỳ Kheo và Tỳ Kheo trung hạ khắc ghi, trưởng lão (Sāriputta) đã ngày ngày kể về phẩm chất của đại đức Puṇṇa ở giữa tăng đoàn rằng: ‘Quả thật, vị có tên là Puṇṇa Mantāṇiputta không thân cận với 4 hội chúng. Vị ấy sẽ đến nhằm mục đích gặp Đấng Thập Lực. Có lẽ vị ấy sẽ đến mà không gặp cả ta’. Quả thật, (suy nghĩ này) đã xảy đến cho đại đức (Sāriputta) rằng: ‘Quả thật, các vị Tỳ Kheo cao niên không phải lúc nào cũng ở trong tu viện. Nhưng khi ta đã nói về phẩm chất của vị ấy (Puṇṇa); thì người nào thấy vị Tỳ Kheo cao niên, người đó sẽ đến và kể lại (cho vị Tỳ Kheo cao niên về phẩm chất của vị Puṇṇa)’. Thế rồi, vị Tỳ Kheo đồng cư với chính trưởng lão (Sāriputta) đã nhìn thấy đại đức Mantāṇiputta ấy mang y và bát đi vào hương thất. Thế nhưng bằng cách nào vị Tỳ Kheo đó nhận ra đại đức? Vị Tỳ Kheo đó nhận ra trong buổi giảng Pháp khi Đức Thế Tôn gọi: ‘Puṇṇa, Puṇṇa’ trong lúc Ngài thuyết giảng. (Vị ấy nhận ra rằng) ‘Người này là vị trưởng lão ấy (Puṇṇa); tế độ sư của ta thường xuyên ca ngợi trưởng lão ấy’. Vị ấy đi đến báo cho trưởng lão (Sāriputta) như thế. [Lấy tấm trải – nisīdanaṃ ādāya]; tấm nệm ngồi có viền mà không được dệt được gọi là [tấm trải – nisīdanaṃ]. Tuy nhiên, trưởng lão [Sāriputta] đã lấy tấm trải bằng lông rồi ra đi. [Ở đằng sau – piṭṭhito piṭṭhito], tức: ở phía sau. [Bám theo – sīsānuloki], tức: người nào đi (theo sau người khác) mà nhìn thấy lưng (người kia) ở chỗ cao và nhìn thấy đầu (người kia) ở chỗ thấp; thì người đó được gọi là ‘người bám theo’(i). Trưởng lão (Sāriputta) đã đi theo như vậy. Bởi vì tuy trưởng lão (Sāriputta) không gây trở ngại (cho trưởng lão Puṇṇa) bằng tiếng bước chân do ngài (trưởng lão Sāriputta) đi gần mà vẫn kềm nén tiếng bước chân (để không làm ồn); nhưng ngài (trưởng lão Sāriputta) nhận ra ‘Đây không phải là thời điểm thích hợp’ nên Ngài đã không đi quá gần(ii). Còn khu rừng Andha thì rộng lớn. Có thể ở một vị trí nào đó, (trưởng lão Sāriputta) không nhìn thấy (trưởng lão Puṇṇa) và trưởng Puṇṇa mất dạng. Khi đó, trưởng lão Sāriputta phải lên tiếng gọi ồn ã: ‘Bằng hữu Puṇṇa ơi! Bằng hữu Puṇṇa ơi!’. Ngài Sāriputta đã đi bám theo ở khoảng cách không quá xa nhằm mục đích biết được nơi ngụ (của trưởng lão Puṇṇa). [Đã ngồi tránh nóng – divāvihāraṃ nisīdi], tức: ngồi xuống nhằm mục đích tránh nóng. —– (i) Tức ý nói bám theo ở một khoảng cách nhất định: không quá gần mà cũng không quá xa, đủ tầm mắt để thấy lưng và đầu của người kia. Khi người kia ở vị trí thấp, thì người bám theo ở trên cao nhìn xuống sẽ thấy đầu người kia. Còn khi người kia ở vị trí cao, người bám theo ở chỗ thấp nhìn lên sẽ thấy lưng người kia. (ii) Ý của đoạn này trở xuống là giải thích tại sao ngài Sāriputta đi theo ngài Puṇṇa theo phương thức ‘không quá gần, không quá xa’. Trước tiên giải thích tại sao lại không đi quá gần: phải chăng ngài Sāriputta đi gần làm phiền ngài Puṇṇa bởi tiếng bước chân ồn ào chăng? Chú giải cho biết là không phải vì ngài Sāriputta đi đứng thu thúc, bước chân nhẹ nhàng, mà ngài không đi quá gần vì thấy chưa đúng lúc – có lẽ đi quá gần thì ngài Puṇṇa có thể phát hiện và khi đó, 2 vị phải chào hỏi, đàm luận với nhau, việc đó chưa phải lúc. Còn đi quá xa thì ngài Sāriputta có thể mất dấu ngài Puṇṇa. |
|
60 |
tattha āyasmāpi puṇṇo udiccabrāhmaṇajacco,sāriputtattheropi. puṇṇattheropi suvaṇṇavaṇṇo,sāriputtattheropi. puṇṇattheropiarahattaphalasamāpattisamāpanno, sāriputtattheropi.puṇṇattheropi kappasatasahassaṃabhinīhārasampanno, sāriputtattheropikappasatasahassādhikaṃ ekamasaṅkhyeyyaṃ.puṇṇattheropi paṭisambhidāpatto mahākhīṇāsavo,sāriputtattheropi. iti ekaṃ kanakaguhaṃ paviṭṭhā dvesīhā viya, ekaṃ vijambhanabhūmiṃ otiṇṇā dvebyagghā viya, ekaṃ supupphitasālavanaṃ paviṭṭhā dvechaddantanāgarājāno viya, ekaṃ simbalivanaṃpaviṭṭhā dve supaṇṇarājāno viya, ekaṃnaravāhanayānaṃ abhiruḷhā dve vessavaṇā viya, ekaṃpaṇḍukambalasilaṃ abhinisinnā dve sakkā viya,ekavimānabbhantaragatā dve hāritamahābrahmānoviya ca te dvepi brāhmaṇajaccā dvepi suvaṇṇavaṇṇādvepi samāpattilābhino dvepi abhinīhārasampannādvepi paṭisambhidāpattā mahākhīṇāsavā ekaṃvanasaṇḍaṃ anupaviṭṭhā taṃ vanaṭṭhānaṃsobhayiṃsu. |
Trong tình huống này, trưởng lão Puṇṇa đã sinh vào dòng Bà La Môn cao quý, trưởng lão Sāriputta cũng vậy. Trưởng lão Puṇṇa có dung sắc đẹp, trưởng lão Sāriputta cũng vậy. Trưởng lão Puṇṇa đã đạt thành tựu là A La Hán Quả, trưởng lão Sāriputta cũng vậy. Trưởng lão Puṇṇa đã quyết tâm 100.000 đại kiếp, còn trưởng lão Sāriputta đã quyết tâm một A Tăng Kỳ và 100.000 đại kiếp. Trưởng lão Puṇṇa là bậc Đại Lậu Tận, đạt Phân Tích Tuệ; trưởng lão Sāriputta cũng vậy. Như vậy, cả 2 vị cùng sinh vào dòng Bà La Môn, cả 2 vị cùng có dung sắc đẹp, cả 2 vị cùng đạt thành tựu (A La Hán Quả), cả 2 vị cùng quyết tâm (suốt thời gian dài), cả 2 vị cùng đạt Phân Tích Tuệ – là bậc Đại Lậu Tận – họ đi vào cùng một khu rừng rậm, tô điểm cho khu rừng ấy giống như 2 con sư tử đi vào cùng một hang động vàng; giống như 2 con cọp đi vào cùng một địa bàn hoạt động; giống như 2 con voi chúa 6 ngà đi vào cùng một khu rừng Sāla với nhiều bông hoa đẹp; giống như 2 con chim Supaṇṇa chúa đi vào cùng một khu rừng Simbali; giống như 2 vị Vessavaṇā leo lên cùng một cỗ xe Naravāhana; giống như 2 vị Sakka ngồi lên cùng một ngai Paṇḍukambalasilā; giống như 2 vị Đại Phạm Thiên Hārita đi vào trong cùng một toà lâu đài. |
|
61 |
bhagavati no, āvuso, brahmacariyaṃ vussatīti, āvuso, kiṃ amhākaṃ bhagavato santike āyasmatābrahmacariyaṃ vussatīti? idaṃ āyasmā sāriputto tassabhagavati brahmacariyavāsaṃ jānantopikathāsamuṭṭhāpanatthaṃ pucchi. purimakathāya hiappatiṭṭhitāya pacchimakathā na jāyati, tasmā evaṃpucchi. thero anujānanto “evamāvuso”ti āha. athassapañhavissajjanaṃ sotukāmo āyasmā sāriputto “kiṃ nukho āvuso sīlavisuddhatthaṃ bhagavatibrahmacariyaṃ vussatī”ti paṭipāṭiyā satta visuddhiyopucchi. tāsaṃ vitthārakathā visuddhimagge vuttā.āyasmā pana puṇṇo yasmā catupārisuddhisīlādīsuṭhitassāpi brahmacariyavāso matthakaṃ na pāpuṇāti,tasmā, “no hidaṃ, āvuso”ti sabbaṃ paṭikkhipi. |
[Này ông! Phải chăng ông sống Phạm Hạnh theo Đức Thế Tôn của chúng tôi? – bhagavati no, āvuso, brahmacariyaṃ vussati], tức: này đại đức! Phải chăng đại đức sống Phạm Hạnh theo Đức Thế Tôn của chúng tôi? Đại đức Sāriputta tuy biết việc sống Phạm Hạnh của vị ấy (đại đức Puṇṇa) theo Đức Thế Tôn, vẫn hỏi (câu hỏi) đó nhằm mục đích mở đầu cuộc đàm luận. Bởi vì khi câu nói trước chưa được đặt ra thì câu nói sau cũng không có; do đó, đại đức Sāriputta đã hỏi như vậy. Trưởng lão Puṇṇa đã đồng thuận trả lời: ‘Này ông! Đúng vậy!’. Thế rồi, đại đức Sāriputta do muốn nghe vị ấy (đại đức Puṇṇa) trả lời câu hỏi, đã hỏi tuần tự về 7 sự thanh tịnh rằng: ‘Này đại đức! Phải chăng đại đức sống Phạm Hạnh theo Đức Thế Tôn nhằm mục đích là sự thanh lọc giới?’. Lời giảng chi tiết về những sự thanh tịnh ấy đã được nói trong bộ Visuddhimagga. Tuy nhiên, bởi vì việc sống Phạm Hạnh chưa đạt đến đỉnh điểm ngay cả đối với người thuộc 4 giai đoạn thanh lọc như thanh lọc giới vân vân; cho nên đại đức Puṇṇa đã phủ nhận tất cả những điều ấy rằng: ‘quả thật, thưa đại đức! Điều đó không đúng!’. |
|
62 |
kimatthaṃ carahāvusoti yadi sīlavisuddhiādīnaṃatthāya brahmacariyaṃ na vussati, atha kimatthaṃvussatīti pucchi. anupādāparinibbānatthaṃ kho,āvusoti ettha anupādāparinibbānaṃ nāmaappaccayaparinibbānaṃ. dvedhā upādānānigahaṇūpādānañca paccayūpādānañca.gahaṇūpādānaṃ nāma kāmupādānādikaṃcatubbidhaṃ, paccayūpādānaṃ nāma avijjāpaccayāsaṅkhārāti evaṃ vuttapaccayā. tatthagahaṇūpādānavādino ācariyā anupādāparinibbānanticatūsu upādānesu aññatarenāpi kañci dhammaṃaggahetvā pavattaṃ arahattaphalaṃanupādāparinibbānanti kathenti. tañhi na caupādānasampayuttaṃ hutvā kañci dhammaṃupādiyati, kilesānañca parinibbutante jātattāparinibbānanti vuccati. paccayūpādānavādino panaanupādāparinibbānanti appaccayaparinibbānaṃ.paccayavasena anuppannaṃ asaṅkhataṃamatadhātumeva anupādāparinibbānanti kathenti.ayaṃ anto, ayaṃ koṭi, ayaṃ niṭṭhā.appaccayaparinibbānaṃ pattassa hi brahmacariyavāsomatthakaṃ patto nāma hoti, tasmā thero“anupādāparinibbānatthan”ti āha. atha naṃanuyuñjanto āyasmā sāriputto “kiṃ nu kho, āvuso,sīlavisuddhi anupādāparinibbānan”ti puna pucchaṃārabhi. |
[Này đại đức! Vậy thì mục đích gì? – kimatthaṃ carahāvuso], tức: (đại đức Sāriputta) đã hỏi rằng: ‘Nếu đại đức không sống Phạm Hạnh nhằm mục đích thanh lọc giới vân vân; thế thì đại đức sống (Phạm Hạnh) nhằm mục đích gì?’. [Này đại đức! Quả thật vì mục đích là sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ – anupādāparinibbānatthaṃ kho, āvuso], trong chủ đề này; [sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ – anupādāparinibbānatthaṃ] là tên gọi của sự tịch diệt hoàn toàn mang tính vô duyên – appaccayaparinibbānaṃ]. Có 2 sự chấp thủ: [sự chấp thủ nắm bắt – gahaṇūpādāna] và [sự chấp thủ duyên – paccayūpādāna]. [Sự chấp thủ nắm bắt – gahaṇūpādāna] gồm 4 loại như Dục chấp thủ vân vân. [Sự chấp thủ duyên – paccayūpādāna] là các duyên được nói (trong Lý Duyên Khởi) như: ‘Các Hành (khởi lên) do duyên là Vô Minh’. Trong chủ đề này, các vị giáo thọ sư (chủ trương) sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ (chỉ đến) sự chấp thủ nắm bắt giảng rằng: ‘Sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ là A La Hán Quả vận hành theo phương thức không nắm bắt bất kỳ pháp nào bằng sự chấp thủ trong số 4 sự chấp thủ’. Và bởi vì nó không nắm lấy bất kỳ pháp nào bằng cách liên hệ với sự chấp thủ; nên nó được gọi là sự tịch diệt hoàn toàn do nó sinh lên ở thời điểm cuối cùng – tức thời điểm diệt tắt các phiền não. Còn các vị giáo thọ sư (chủ trương) sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ (chỉ đến) sự chấp thủ duyên giảng rằng: ‘Sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ là sự tịch diệt hoàn toàn (mang tính) vô duyên’. Các vị ấy giảng rằng: ‘Sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ chính là Bất Tử Giới (Niết Bàn Giới) – không được tạo tác, không sinh lên do duyên’. Đó là sự kết thúc, đó là đỉnh điểm, đó là sự chấm dứt. Bởi vì đối với người đạt đến sự tịch diệt hoàn toàn (mang tính) vô duyên, việc sống Phạm Hạnh đã đến tột đỉnh; cho nên trưởng lão (Puṇṇa) đã nói: ‘vì mục đích là sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ’. Thế rồi, đại đức Sāriputta trong khi hỏi vị ấy (đại đức Puṇṇa) đã tiếp tục đặt câu hỏi rằng: ‘Này đại đức! Thế thì sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ là sự thanh lọc giới chăng?’. |
|
63 |
theropi sabbaparivattesu tatheva paṭikkhipitvāpariyosāne dosaṃ dassento sīlavisuddhiṃ ce,āvusotiādimāha. tattha paññapeyyāti yadipaññapeyya. saupādānaṃyeva samānaṃanupādāparinibbānaṃ paññapeyyāti saṅgahaṇadhammameva niggahaṇadhammaṃsappaccayadhammameva appaccayadhammaṃsaṅkhatadhammameva asaṅkhatadhammantipaññapeyyāti attho. ñāṇadassanavisuddhiyaṃ panasappaccayadhammameva appaccayadhammaṃsaṅkhatadhammameva asaṅkhatadhammantipaññapeyyāti ayameva attho gahetabbo. puthujjanohi, āvusoti ettha vaṭṭānugato lokiyabālaputhujjanodaṭṭhabbo. so hi catupārisuddhisīlamattassāpiabhāvato sabbaso aññatra imehi dhammehi. tena hīti yena kāraṇena ekacce paṇḍitā upamāya atthaṃjānanti, tena kāraṇena upamaṃ te karissāmīti attho. |
Và trưởng lão (Puṇṇa) nhằm chỉ ra cái sai (của mỗi khẳng định) vào cuối mỗi câu hỏi; đã phủ định như vậy đối với tất cả (những câu hỏi) lặp lại đó và đã nói rằng: ‘Này đại đức! Nếu… sự thanh lọc giới’ vân vân. Ở đoạn kinh đó, [nếu (Đức Thế Tôn) khẳng định – paññapeyya], tức: nếu (Đức Thế Tôn) khẳng định. [Thì Ngài khẳng định chính cái đang mang tính chấp thủ là sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ – saupādānaṃyeva samānaṃ anupādāparinibbānaṃ paññapeyya], tức: thì Ngài khẳng định chính pháp còn mang tính nắm bắt là pháp không còn tính nắm bắt; chính pháp (mang tính) hữu duyên là pháp (mang tính) vô duyên; chính pháp được tạo tác là pháp không được tạo tác. Ý nghĩa là như vậy. Còn ở giai đoạn thanh lọc Tri Kiến; thì Ngài lại khẳng định chính pháp (mang tính) hữu duyên là pháp (mang tính) vô duyên; chính pháp được tạo tác là pháp không được tạo tác. Chính ý nghĩa đó nên được nắm bắt(i). [Này đại đức! Bởi vì thường nhân – puthujjano hi, āvuso], tức: ở đây, (từ này) nên được hiểu là thường nhân – tức kẻ ngu trong thế gian, kẻ còn theo luân hồi. Bởi vì người đó (thường nhân) hoàn toàn ở ngoài những pháp này (hiểu theo nghĩa) là kẻ ấy không có (những pháp này) kể cả Tứ Thanh Tịnh Giới. [Quả thật, do đó – tena hi], tức: ‘Bởi vì một số người trí hiểu được ý nghĩa dựa vào ví dụ; cho nên tôi sẽ đưa ra ví dụ cho ngài’. Ý nghĩa là như vậy. —– (i) Ở đây, ta cần nắm logic diễn đạt của đại đức Puṇṇa: ‘Giả định nào đó dẫn tới hệ quả vô lý thì suy ra giả định đó sai’ – tương tự như chứng minh phản chứng trong toán học hay vật lý… NẾU Đức Phật khẳng định sự thanh lọc giới là sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ THÌ Ngài đang khẳng định một pháp còn mang tính hữu duyên (tức sự thanh lọc giới) là pháp mang tính vô duyên (tức Niết Bàn – sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ). Hay nói cách khác là Ngài đang khẳng định cái đối lập với A lại chính là A. Điều đó vô lý cho nên giả định ‘NẾU’ đó sai: sự thanh lọc giới không thể là sự tịch diệt hoàn toàn không còn chấp thủ. |
|
64 |
satta rathavinītānīti vinītāssājāniyayutte satta rathe. yāvadeva, cittavisuddhatthāti, āvuso, ayaṃ sīlavisuddhi nāma, yāvadeva, cittavisuddhatthā. cittavisuddhatthātinissakkavacanametaṃ. ayaṃ panettha attho, yāvadeva, cittavisuddhisaṅkhātā atthā, tāva ayaṃsīlavisuddhi nāma icchitabbā. yā pana ayaṃ cittavisuddhi, esā sīlavisuddhiyā attho, ayaṃ koṭi,idaṃ pariyosānaṃ, cittavisuddhiyaṃ ṭhitassa hi sīlavisuddhikiccaṃ kataṃ nāma hotīti. esa nayosabbapadesu. |
[7 cỗ xe – satta rathavinītāni], tức: 7 chiếc xe được buộc vào những con ngựa nòi đã được huấn luyện. [Chỉ gồm mục đích là sự thanh lọc tâm – yāvadeva, cittavisuddhattha], tức: này đại đức! Cái được gọi là sự thanh lọc giới đó chỉ gồm mục đích là sự thanh lọc tâm. [Gồm mục đích là sự thanh lọc tâm – cittavisuddhatthā], tức: đây là lời nói ở [xuất xứ cách – issakka]. Tuy nhiên, ở đoạn kinh đó, đây là ý nghĩa: ‘chỉ trong chừng mực mục đích được gọi là sự thanh lọc tâm; thì sự thanh lọc giới đó mới xứng đáng được mong muốn. Còn chính cái nào là sự thanh lọc tâm; thì cái đó là mục tiêu của sự thanh lọc giới. Đó là đỉnh điểm (cho sự thanh lọc giới), đó là sự hoàn thành (cho sự thanh lọc giới). Bởi vì đối với người ở giai đoạn thanh lọc tâm; thì phận sự thanh lọc giới đã được thực hiện’. Đó là phương pháp (giải thích) ở mọi câu (liên quan). |
|
65 |
idaṃ panettha opammasaṃsandanaṃ — rājā pasenadikosalo viya hi jarāmaraṇabhīruko yogāvacaro daṭṭhabbo.sāvatthinagaraṃ viya sakkāyanagaraṃ, sāketanagaraṃviya nibbānanagaraṃ, rañño sākete vaḍḍhiāvahassasīghaṃ gantvā pāpuṇitabbassa accāyikassa kiccassauppādakālo viya yogino anabhisametānaṃ catunnaṃariyasaccānaṃ abhisamayakiccassa uppādakālo. sattarathavinītāni viya satta visuddhiyo, paṭhamaṃrathavinītaṃ āruḷhakālo viya sīlavisuddhiyaṃ ṭhitakālo,paṭhamarathavinītādīhi dutiyādīni āruḷhakālo viyasīlavisuddhiādīhi cittavisuddhiādīsu ṭhitakālo. sattamenarathavinītena sākete antepuradvāre oruyha uparipāsādeñātimittagaṇaparivutassa surasabhojanaparibhogakāloviya yogino ñāṇadassanavisuddhiyā sabbakilese khepetvādhammavarapāsādaṃ āruyhaparopaṇṇāsakusaladhammaparivārassanibbānārammaṇaṃ phalasamāpattiṃ appetvānirodhasayane nisinnassa lokuttarasukhānubhavanakālodaṭṭhabbo. |
Tuy nhiên, ở đoạn kinh đó, đây là sự áp dụng ví dụ: quả thật, đức vua Pasenadi xứ Kosala thì nên được hiểu giống như vị hành giả kinh sợ sự già, sự chết. Thành Sāvatthī thì nên được hiểu giống như thành trì tự thân (sakkāya). Thành Sāketa thì nên được hiểu giống như thành trì Niết Bàn. Thời điểm phát sinh phận sự khẩn cấp – (phận sự này) mang lại lợi ích – cần được nhà vua giải quyết bằng cách đi thật nhanh đến Sāketa thì nên được hiểu giống như thời điểm phát sinh phận sự thể nhập 4 thánh đế chưa được thể nhập bởi vị hành giả. 7 cỗ xe thì nên được hiểu giống như 7 giai đoạn thanh lọc. Thời điểm (nhà vua) leo lên cỗ xe thứ nhất thì nên được hiểu giống như thời điểm (hành giả) ở giai đoạn thanh lọc giới. Thời điểm (nhà vua) leo lên cỗ xe thứ 2 vân vân từ cỗ xe thứ nhất vân vân(i) thì nên được hiểu giống như thời điểm (hành giả) ở giai đoạn thanh lọc tâm vân vân từ giai đoạn thanh lọc giới vân vân. Thời điểm (nhà vua) thọ hưởng thức ăn hảo vị khi được vây quanh bởi đoàn thân quyến, bằng hữu sau khi ngài đến cổng nội thành ở Sāketa bằng cỗ xe thứ 7 và đi lên phía trên lâu đài thì nên được hiểu giống như thời điểm (hành giả) trải nghiệm lạc siêu thế khi ngồi ở cái đệm là Sự Diệt(ii) sau khi (vị ấy) từ bỏ mọi phiền não ở giai đoạn thanh lọc Tri Kiến, leo lên toà lâu đài là Giáo Pháp tối thượng, (vị ấy) có đoàn tuỳ tùng là hơn 50 thiện pháp, thể nhập vào Thiền Quả với đối tượng là Niết Bàn. —– (i) Tức leo lên cỗ xe thứ 2 từ cỗ xe thứ nhất; leo lên cỗ xe thứ 3 từ cỗ xe thứ 2; leo lên cỗ xe thứ 4 từ cỗ xe thứ 3 vân vân. (ii) Ví von Sự Diệt giống như chỗ ngồi – vị thế của hành giả đã chứng đắc. |
|
66 |
iti āyasmantaṃ puṇṇaṃ dasakathāvatthulābhiṃdhammasenāpatisāriputtatthero satta visuddhiyopucchi. āyasmā puṇṇo dasa kathāvatthūni vissajjesi.evaṃ pucchanto pana dhammasenāpati kiṃ jānitvāpucchi, udāhu ajānitvā? titthakusalo vā pana hutvāvisayasmiṃ pucchi, udāhu atitthakusalo hutvāavisayasmiṃ? puṇṇattheropi ca kiṃ jānitvā vissajjesi,udāhu ajānitvā? titthakusalo vā pana hutvā visayasmiṃvissajjesi, udāhu atitthakusalo hutvā avisayeti? jānitvātitthakusalo hutvā visaye pucchīti hi vadamānodhammasenāpatiṃyeva vadeyya. jānitvā titthakusalohutvā visaye vissajjesīti vadamāno puṇṇattheraṃyevavadeyya. yañhi visuddhīsu saṃkhittaṃ, taṃkathāvatthūsu vitthiṇṇaṃ. yaṃ kathāvatthūsusaṃkhittaṃ, taṃ visuddhīsu vitthiṇṇaṃ. tadaminānayena veditabbaṃ. |
Như vậy, trưởng lão Sāriputta – vị tướng quân Chánh Pháp – đã hỏi đại đức Puṇṇa – vị đã đạt được 10 chủ điểm – về 7 giai đoạn thanh lọc. Đại đức Puṇṇa đã trả lời 10 chủ điểm. Thế nhưng, trong khi hỏi như vậy, vị tướng quân Chánh Pháp biết mà vẫn hỏi hay không biết mà hỏi? Và ngài (vị tướng quân Chánh Pháp) khéo léo về phương thức mà hỏi trong phạm vi phù hợp hay không khéo léo về phương thức mà hỏi trong phạm vi không phù hợp? Còn trưởng lão Puṇṇa biết mà trả lời hay không biết mà trả lời? Và ngài (trưởng lão Puṇṇa) khéo léo về phương thức mà trả lời trong phạm vi phù hợp hay không khéo léo về phương thức mà trả lời trong phạm vi không phù hợp? Quả thật, người ta nói đến chính vị tướng quân Chánh Pháp bằng cách nói rằng: ‘Vị ấy biết, khéo léo về phương thức mà hỏi trong phạm vi phù hợp’. Người ta nói đến chính trưởng lão Puṇṇa bằng cách nói rằng: ‘Vị ấy biết, khéo léo về phương thức mà trả lời trong phạm vi phù hợp’. Quả thật, điều nào được nói tóm lược trong các giai đoạn thanh lọc; thì điều đó được giảng rộng trong các chủ điểm. Điều nào được nói tóm lược trong các chủ điểm; thì điều đó được giảng rộng trong các giai đoạn thanh lọc. Điều đó nên được hiểu theo phương thức đó. |
|
67 |
visuddhīsu hi ekā sīlavisuddhi cattāri kathāvatthūnihutvā āgatā appicchakathā santuṭṭhikathāasaṃsaggakathā, sīlakathāti. ekā cittavisuddhi tīṇikathāvatthūni hutvā āgatā — pavivekakathā,vīriyārambhakathā, samādhikathāti, evaṃ tāva yaṃvisuddhīsu saṃkhittaṃ, taṃ kathāvatthūsu vitthiṇṇaṃ.kathāvatthūsu pana ekā paññākathā pañca visuddhiyohutvā āgatā — diṭṭhivisuddhi, kaṅkhāvitaraṇavisuddhi,maggāmaggañāṇadassanavisuddhi,paṭipadāñāṇadassanavisuddhi, ñāṇadassanavisuddhīti,evaṃ yaṃ kathāvatthūsu saṃkhittaṃ, taṃ visuddhīsuvitthiṇṇaṃ. tasmā sāriputtatthero satta visuddhiyopucchanto na aññaṃ pucchi, dasa kathāvatthūniyevapucchi. puṇṇattheropi satta visuddhiyo vissajjento naaññaṃ vissajjesi, dasa kathāvatthūniyeva vissajjesīti. itiubhopete jānitvā titthakusalā hutvā visayeva pañhaṃpucchiṃsu ceva vissajjesuṃ cāti veditabbo. |
Bởi vì trong các giai đoạn thanh lọc; một giai đoạn thanh lọc giới là 4 chủ điểm: lời nói về sự ít mong muốn; lời nói về sự tri túc; lời nói về sự không giao lưu; lời nói về giới. Một giai đoạn thanh lọc tâm là 3 chủ điểm: lời nói về sự ẩn cư; lời nói về sự khởi tinh tấn; lời nói về Định. Trong chừng mực như vậy; điều nào được nói tóm lược trong các giai đoạn thanh lọc; thì điều đó được giảng rộng trong các chủ điểm. Còn trong các chủ điểm; một lời nói về Trí Tuệ là 5 giai đoạn thanh lọc: giai đoạn thanh lọc Kiến; giai đoạn thanh lọc vượt qua Hoài Nghi; giai đoạn thanh lọc Đạo Phi Đạo Tri Kiến; giai đoạn thanh lọc Đạo Tri Kiến; giai đoạn thanh lọc Tri Kiến. Như vậy điều nào được nói tóm lược trong các chủ điểm; thì điều đó được giảng rộng trong các giai đoạn thanh lọc. Do đó, trưởng lão Sāriputta trong khi hỏi về 7 giai đoạn thanh lọc, đã không hỏi gì khác mà hỏi chính 10 chủ điểm. Còn trưởng lão Puṇṇa trong khi trả lời về 7 giai đoạn thanh lọc, đã không trả lời gì khác mà trả lời chính 10 chủ điểm. Như vậy, cả 2 vị ấy đều biết, khéo léo về phương thức mà đặt câu hỏi lẫn trả lời trong chính phạm vi phù hợp. (Điều đó) nên được hiểu như thế. |
|
68 |
260. ko nāmo āyasmāti na thero tassanāmaṃ na jānāti. jānantoyeva panasammodituṃ labhissāmīti pucchi. kathañcapanāyasmantanti idaṃ pana therosammodamāno āha. mantāṇiputtotimantāṇiyā brāhmaṇiyā putto. yathā tanti etthatanti nipātamattaṃ, yathā sutavatā sāvakenabyākātabbā, evameva byākatāti ayametthasaṅkhepattho. anumassa anumassāti dasakathāvatthūni ogāhetvā anupavisitvā.celaṇḍupakenāti ettha celaṃ vuccati vatthaṃ,aṇḍupakaṃ cumbaṭakaṃ. vatthacumbaṭakaṃsīse katvā āyasmantaṃ tattha nisīdāpetvāpariharantāpi sabrahmacārī dassanāyalabheyyuṃ, evaṃ laddhadassanampi tesaṃlābhāyevāti aṭṭhānaparikappenaabhiṇhadassanassa upāyaṃ dassesi. evaṃapariharantena hi pañhaṃ vā pucchitukāmenadhammaṃ vā sotukāmena “thero kattha ṭhitokattha nisinno”ti pariyesantena caritabbaṃhoti. evaṃ pariharantā panaicchiticchitakkhaṇeyeva sīsato oropetvāmahārahe āsane nisīdāpetvā sakkā hontipañhaṃ vā pucchituṃ dhammaṃ vā sotuṃ. itiaṭṭhānaparikappena abhiṇhadassanassaupāyaṃ dassesi. |
[Đại đức có tên là gì?], tức: trưởng lão (Sāriputta) không phải không biết tên của vị ấy (Puṇṇa). Mà trong khi ngài (Sāriputta) rõ biết (tên ngài Puṇṇa), ngài đã hỏi (với suy nghĩ rằng) ‘Ta sẽ có cơ hội hoan hỉ’. [Như thế nào… đại đức?], tức: trưởng lão (Sāriputta) đã nói điều đó trong khi hoan hỉ. [Mantāṇiputta (con trai của bà Mantāṇī], tức: con trai của nữ Bà-La-Môn Mantāṇī. [Theo như – yathā taṃ], tức: trong chủ đề này, [từ taṃ] chỉ là [bất biến từ – nipāta]; theo như nội dung nên được trả lời bởi vị đệ tử (Đức Thế Tôn), vị có học; theo chính (phương thức) như vậy, (đại đức đã trả lời tôi). Đó là ý nghĩa tóm lược ở đoạn kinh đó. [Một cách tuần tự – anumassa anumassa], tức: đào sâu 10 chủ điểm. [Bằng một cuộn vải], tức: ở đây, [vải – vattha] được gọi là [vải – cela]. [Cuộn – aṇḍupaka], tức: [cuộn – cumbaṭaka]. Các vị đồng phạm hạnh đạt được cơ hội gặp đại đức (Puṇṇa) theo phương thức: đội một cuộn vải trên đầu mình; thỉnh đại đức ngồi trên cuộn vải đó và hầu cận đại đức. Việc đạt được cơ hội gặp gỡ như vậy chính là lợi ích cho các vị (đồng phạm hạnh) đó. Ngài (Sāriputta) đã trình bày phương thức gặp gỡ (đại đức Puṇṇa) thường xuyên bằng giả định không thật như vậy. Còn một người không chu đáo như vậy khi muốn đặt câu hỏi (cho đại đức Puṇṇa) hay muốn nghe Pháp (từ đại đức Puṇṇa) thì sẽ tầm cầu (đại đức Puṇṇa) (bằng cách hỏi) ‘Trưởng lão (Puṇṇa) đứng ở đâu, trưởng lão (Puṇṇa) ngồi ở đâu?’. Còn những người chu đáo như vậy thì để đặt câu hỏi (cho đại đức Puṇṇa) hay để nghe Pháp (từ đại đức Puṇṇa) vào thời điểm họ mong muốn, (họ) có thể hạ (cuộn vải) khỏi đầu mình rồi mời (đại đức Puṇṇa) ngồi lên chỗ ngồi đắt giá đó. Ngài (Sāriputta) đã trình bày phương thức gặp gỡ (đại đức Puṇṇa) thường xuyên bằng giả định không thật như vậy. |
|
69 |
sāriputtoti ca pana manti sāriyā brāhmaṇiyā puttoti capana evaṃ maṃ sabrahmacārī jānanti. satthukappenātisatthusadisena. iti ekapadeneva āyasmā puṇṇosāriputtattheraṃ candamaṇḍalaṃ āhacca ṭhapento viyaukkhipi. therassa hi imasmiṃ ṭhāneekantadhammakathikabhāvo pākaṭo ahosi. amaccañhipurohitaṃ mahantoti vadamāno rājasadisoti vadeyya, goṇaṃhatthippamāṇoti, vāpiṃ samuddappamāṇoti, ālokaṃcandimasūriyālokappamāṇoti, ito paraṃ etesaṃmahantabhāvakathā nāma natthi. sāvakampi mahāti vadantosatthupaṭibhāgoti vadeyya, ito paraṃ tassamahantabhāvakathā nāma natthi. iccāyasmā puṇṇoekapadeneva theraṃ candamaṇḍalaṃ āhacca ṭhapento viyaukkhipi. |
[Còn… tôi là Sāriputta], tức: ‘con trai của nữ Bà-La-Môn Sāri (Sāriputta)’; các đồng phạm hạnh biết tôi như vậy. [Giống như Bậc Đạo Sư – satthukappena], tức: giống với Bậc Đạo Sư. Chỉ bằng một từ như vậy; đại đức Puṇṇa đã xiển dương trưởng lão Sāriputta giống như mang trưởng lão lên đặt ở vầng sáng của mặt trăng. Quả thật về điểm này, khả năng thuyết Pháp tuyệt đỉnh của trưởng lão Sāriputta đã nổi tiếng. Bởi vì để khen ngợi vị bộ trưởng hay vị giáo trưởng là ‘vĩ đại’; người ta có thể khen ngợi rằng: ‘Vị đó giống như vua’. Để nói một con bò là ‘to lớn’; người ta có thể nói rằng: ‘Nó có kích cỡ của con voi’. Để nói một hồ nước là ‘rộng lớn’; người ta có thể nói rằng: ‘Nó có kích thước của biển cả’. Để nói một luồng sáng là ‘vĩ đại’; người ta có thể nói rằng: ‘Nó có kích cỡ như ánh sáng mặt trăng, mặt trời’. Ngoài cách nói đó ra, không có cách nói nào khác về tính vĩ đại của những đối tượng đó nữa. Còn để nói một vị đệ tử là ‘vĩ đại’; người ta có thể nói rằng: ‘Vị đó giống như người thầy’. Ngoài cách nói đó ra, không có cách nói nào khác về tính vĩ đại của vị đệ tử đó nữa. Như vậy, chỉ bằng một từ; đại đức Puṇṇa đã xiển dương trưởng lão Sāriputta giống như mang trưởng lão lên đặt ở vầng sáng của mặt trăng. |
|
70 |
ettakampi no nappaṭibhāseyyāti paṭisambhidāpattassa appaṭibhānaṃ nāma natthi.yā panāyaṃ upamā āhaṭā, taṃ na āhareyyāma,atthameva katheyyāma. upamā hi ajānantānaṃāharīyatīti ayamettha adhippāyo. aṭṭhakathāyaṃpana idampi paṭikkhipitvā upamā nāmabuddhānampi santike āharīyati, theraṃ panesaapacāyamāno evamāhāti. |
[Thì (chúng tôi) không phủ nhận đến mức độ ấy – ettakampi no nappaṭibhāseyyā], tức: không có việc phủ nhận (không thể phủ nhận) người đã đạt Phân Tích Tuệ. Còn ví dụ nào đã được đưa ra (bởi chúng tôi) thì đáng lẽ chúng tôi không nên đưa ra ví dụ đó mà chỉ nói ý nghĩa thôi. Bởi vì ví dụ được đưa ra cho những người không hiểu biết (còn trưởng lão Sāriputta là bậc hiểu biết). Đó là hàm ý ở đây. Tuy nhiên, trong Chú Giải, kể cả điều đó cũng bị phủ nhận; quả thật, ví dụ được đưa ra ngay cả trước mặt chư Phật. Mà vị ấy (đại đức Puṇṇa) đã nói như vậy nhằm tôn vinh trưởng lão Sāriputta. |
|
71 |
anumassa anumassa pucchitāti dasakathāvatthūni ogāhetvā ogāhetvā pucchitā. kiṃpana pañhassa pucchanaṃ bhāriyaṃ, udāhuvissajjananti? uggahetvā pucchanaṃ no bhāriyaṃ,vissajjanaṃ pana bhāriyaṃ. sahetukaṃ vāsakāraṇaṃ katvā pucchanampi vissajjanampibhāriyameva. samanumodiṃsūti samacittā hutvāanumodiṃsu. iti yathānusandhināva desanāniṭṭhitāti. |
[Được hỏi một cách tuần tự – anumassa anumassa pucchitā], tức: 10 chủ điểm đã được hỏi từng chút từng chút. Thế nhưng, việc đặt câu hỏi là quan trọng hay việc trả lời là quan trọng? Khi học tập; việc hỏi không quan trọng mà việc trả lời mới quan trọng. Nhưng việc hỏi lẫn việc trả lời đều quan trọng khi có nguyên nhân, có cơ sở. [(Cả 2 vị) đã tán thành – samanumodiṃsu], tức: cả 2 vị đã đồng thuận một cách cùng tâm ý. Bài Pháp đã được hoàn thành dựa theo tính liên kết như thế. |
|
72 |
♦ papañcasūdaniyā majjhimanikāyaṭṭhakathāya ♦ rathavinītasuttavaṇṇanā niṭṭhitā. |
Sự giải thích bài kinh Rathavinītasutta thuộc bộ Chú Giải Trung Bộ – Papañcasūdanī được hoàn thành. |
A. Ghi chú riêng về thuật ngữ
|
STT |
Pāḷi |
Việt |
|
1 |
Dasseti |
Trình bày |
|
2 |
Āha |
Thuyết |
|
3 |
Seyyathāpi |
Ví như |
|
4 |
Pariyāpuṇāti |
Rành rẽ |
|
5 |
Paṭivijjhati |
Thấu đạt |
|
6 |
Suppaṭividdhatta |
Sự thấu đạt rõ ràng => Su- [rõ ràng] |
|
7 |
Desanāvilāsa |
Nét đẹp của bài giảng |
|
8 |
Kilesa |
Phiền não |
|
9 |
Upakkilesa |
Cấu uế |
|
10 |
Gaṇhāti / gahita |
Tiếp thu/được tiếp thu, bám chấp/được bám chấp |
|
11 |
Gahaṇa |
Sự cố chấp |
|
12 |
Anussarati |
Niệm tưởng |
|
13 |
Paccavekkhati |
Suy xét |
|
14 |
Pajahati |
Từ bỏ |
|
15 |
Cajati |
Buông bỏ |
|
16 |
Vamati |
Giải tan |
|
17 |
Paṭinissaṭṭha |
Sự không dính mắc |
|
18 |
Dassana |
Tri kiến |
|
19 |
Paṭinissagga |
Sự bỏ |
|
20 |
Vajjha |
Nên được triệt tiêu |
|
21 |
Upasaṃhita |
Liên kết |
|
22 |
Sampayutta |
Hiệp hành |
|
23 |
Ānisaṃsa |
Thành quả |
|
24 |
Sahagata |
Đi liền |
|
25 |
Patti |
Sự đắc |
|
26 |
Nissaya |
Cơ sở |
|
27 |
Pariggaṇhāti |
Khảo sát |
|
28 |
Cināti |
Khảo xét |
|
29 |
Naya |
Phương pháp, thể thức, phương thức |
|
30 |
Upāya |
Cách thức |
|
31 |
Hīna |
Thấp kém |
|
32 |
Paṇīta |
Cao đẹp |
|
33 |
Adhigacchati |
Tiến đến |
|
34 |
Ākāra |
Phương cách |
|
35 |
Labhati |
Đạt được |
|
36 |
Pāpuṇāti |
Đạt đến |
|
37 |
Vuṭṭhāna |
Khởi lên |
|
38 |
Suddhi |
Sự thanh lọc |
|
39 |
Sodheti |
Thanh tẩy |
|
40 |
Vandati |
Kính chào |
|
41 |
Abhivādeti |
Đảnh lễ |
|
42 |
Pātubhavati |
Hiện ra |
|
43 |
Paṭisaṃyutta |
Liên hệ với |
|
44 |
Samanupassati |
Nhận thấy |
|
45 |
Samuccheda |
Đoạn trừ |
|
46 |
Samāpatti |
Thể nhập |
|
47 |
Anuseti |
Ẩn trú |
|
48 |
Samudācarati |
Hiện hành |
|
49 |
Paṭivineti |
Tẩy trừ |
|
50 |
Taṇhā |
Tham ái |
|
51 |
Vicarita |
Suy tưởng |
|
52 |
Vicāra |
Tứ |
|
53 |
Ekaṭṭha |
Đi chung |
|
54 |
Adhivacana |
Thuật ngữ |
|
55 |
Vibhaja |
Phân tích |
|
56 |
Vikkhambhita |
Bị đè nén |
|
57 |
Patvā |
Đạt |
|
58 |
Adhigama |
Thành tựu |
|
59 |
Soci |
Than van |
|
60 |
Pajānāti |
Rõ biết |
|
61 |
Vijānāti |
Tỏ biết |
|
62 |
Upasampajja |
Nhập vào |
|
63 |
Paṭipadā |
Lộ trình |
|
64 |
Sammasati |
Thấu tri |
|
65 |
Santa |
An tịnh |
|
66 |
Nibbuta |
Tịch tịnh |
|
67 |
Rāga |
Luyến ái |
|
68 |
Yojanā |
Luận giải |
|
69 |
Laddhi |
Thế quan |
|
70 |
Samādiyati |
Gìn giữ |
|
71 |
Patiṭṭhahati & patiṭṭhāti |
Thiết lập |
|
72 |
Pūreti |
Viên thành |
|
73 |
Kammaṭṭhāna |
Đề mục thiền |
|
74 |
Parikamma |
Sự chuẩn bị |
|
75 |
Kāma |
Dục |
|
76 |
Abhisameti |
Tri đạt |
|
77 |
Adhigata |
Tiến đến |
|
78 |
Pakāra |
Kiểu, lối |
|
79 |
Pajānanā |
Tri Năng |
|
80 |
Virati |
Sự tránh thoát |
|
81 |
Viramati |
Tránh thoát |
|
81 |
Ārati |
Sự tránh né |
|
82 |
Catusacca |
4 Chân lý |
|
83 |
Parijānāti |
Thấu biết |
|
84 |
Āyūhati |
Tích trữ |
|
85 |
Upādinnaka |
Thuộc loại nghiệp sinh |
|
86 |
Pātubhavati |
Hiện hữu |
|
87 |
Upādiyati |
Bám chấp |
|
88 |
Virāga |
Sự ly ái |
|
89 |
Mala |
Nhơ uế |
|
90 |
Soka |
Sầu |
|
91 |
Parideva |
Muộn |
|
92 |
Pariññā |
Sự thấu triệt |
|
93 |
Ghana |
Khối [chúng sinh] |
|
94 |
Vavatthāna |
Phân tích |
|
95 |
Vinibbhoga |
Phân rã |
|
96 |
Rajjati |
Ham thích |
|
97 |
Virajjati |
Dứt bỏ |
|
98 |
Upacāra |
Cận (định) |
|
99 |
Appanā |
An chỉ (định) |
|
100 |
Pariyesati |
Thẩm sát |
|
101 |
Āropeti |
Làm hiển hiện [lay bare] |
|
102 |
Niyyāti |
Xuất ly |
|
103 |
Sampajāna |
Tỉnh giác |
|
104 |
Sampajañña |
Sự triệt tri |
|
105 |
Sañjānāti |
Tri nhận |
|
106 |
Byāpāda |
Sân hận |
|
107 |
Nissarati |
Xuất hành |
|
108 |
Yathābhūta |
Theo thực tính |
|
109 |
Aññā |
Liễu tri |
|
110 |
Catusamuṭṭhānikarūpa |
Tứ sở sinh sắc (sắc sinh ra từ 4 nơi) |
B. Mẫu hình cấu trúc câu
|
STT |
Mô tả |
Chức năng |
Công thức dịch |
Ví dụ |
|
1 |
A[Chủ]… B[Chủ]ti vutto hoti |
Định nghĩa |
A được gọi là B |
paṭisallānanti… sallānaṃ nilīyanaṃ, ekībhāvo pavivekoti vuttaṃ hoti.
Trạng thái ẩn cư được gọi là trạng thái đơn cư… |
|
2 |
… ĐBB… |
Chỉ phương tiện, cách thức, thể thức, phương diện |
Bằng cách, thông qua, theo phương diện, theo thể thức |
paṭisallānanti tehi tehi sattasaṅkhārehi paṭinivattitvā sallānaṃ nilīyanaṃ, ekībhāvo pavivekoti vuttaṃ hoti.
Trạng thái ẩn cư được gọi là trạng thái đơn cư… bằng cách tránh thoát khỏi… |
|
3 |
… ĐBB… |
Tương đương với hiện phân |
Trong khi, đang… |
etasmiṃ padumagumbe ṭhatvā madhurassarena gāyantaṃ naccantañca ekaṃ itthiviggahaṃ māpethāti.
Ngài hãy tạo ra một chúng sinh có dạng người nữ đứng trong cụm hoa sen đó múa & hát bằng âm điệu ngọt ngào! |
|
4 |
Tương-quan kép |
2 câu tương quan dùng chung các mệnh đề của nhau |
NA |
yo attanā avihiṃsako, tassa yā avihiṃsā, ayaṃ yā esā vihiṃsakassa parassa vihiṃsā, tassā parinibbānāya hoti
Người nào tự mình là người bất hại, cái nào là sự bất hại của người ấy; thì cái ấy (sự bất hại) dẫn đến sự tịch diệt sự hại của người hãm hại. |
|
5 |
Đồng-vị kèm (i)ti |
Đồng-vị |
NA |
lobhasahagatacittasampayuttā pana phassacetanā sayañca cittaṃ viññāṇanti ime taṇhāpaccayā nibbattā anupādinnakaphassamanosañcetanā viññāṇāhārāti.
Còn xúc & tư hiệp hành với tâm đi cùng tham và thức – tức chính tâm ấy: chúng là xúc thực, tư niệm thực & thức thực – không thuộc loại nghiệp sinh – sinh ra do duyên là tham ái. |
|
6 |
Quá-phân làm danh-từ trừu-tượng |
Làm danh-từ trừu-tượng |
NA |
NA |
|
7 |
Động-từ linh-hoạt cú-pháp |
Động-từ được dùng theo cú-pháp linh-hoạt |
NA |
thero cintesi “amhākaṃ ācariyo sabbapariyattiko tepiṭako sutabuddho, evarūpassapi nāma bhikkhuno ayaṃ pañho āluḷeti, anāgate mama bhātikā imaṃ pañhaṃ āluḷessantīti
Vị trưởng lão (đồ đệ) đã nghĩ rằng: ‘Thầy của chúng ta là người thông mọi kinh điển, tường tận Tam Tạng, thấu tỏ điều học; vậy mà câu hỏi này vẫn gây bối rối cho vị Tỳ Kheo như thế ấy. Trong tương lai, các huynh đệ của ta sẽ bối rối với câu hỏi này… |
|
8 |
Tương-quan kép |
2 câu tương-quan dùng chung mệnh-đề tương-ứng |
NA |
lūkhapaṇītatittamadhurādīsu pana yena bhojanena yassa aphāsu hoti, taṃ tassa asappāyaṃ. Và trong số những món ăn ngọt, đắng, tế, thô vân vân: do món ăn nào, vị Tỳ Kheo có sự không thoải mái; thì món ăn đó là không phù hợp cho vị ấy. |