Kinh số 23 – Giải Thích Kinh Gò mối

(Vammikasuttavaṇṇanā)

23.1. Nội dung dịch

STT

Pāḷi

Việt

1

♦ 249. evaṃ me sutanti 

vammikasuttaṃ. tattha āyasmāti 

piyavacanametaṃ. kumārakassapoti tassa nāmaṃ. kumārakāle pabbajitattā pana bhagavatā, “kassapaṃ pakkosatha, idaṃ 

phalaṃ vā khādanīyaṃ vā 

kassapassa dethā”ti vutte, katarassa kassapassāti 

kumārakassapassāti evaṃ 

gahitanāmattā tato paṭṭhāya vuḍḍhakālepi 

“kumārakassapo” tveva vuccati. apica raññā posāvanikaputtattāpi taṃ 

“kumārakassapo”ti sañjāniṃsu. ayaṃ panassa pubbayogato paṭṭhāya 

āvibhāvakathā —

[(Điều đó) đã được nghe bởi tôi như vầy], chỉ đến bài kinh Vammikasutta. Ở đoạn kinh đó, [Đại Đức – āyasmā], đó là lời nói mang tính quý trọng. [Kumārakassapa] là tên của vị ấy. Do vị ấy xuất gia vào lúc còn là cậu bé; nên khi Đức Thế Tôn nói: ‘Hãy gọi Kassapa. Hãy trao trái cây này hay đồ ăn cứng này cho Kassapa!’ thì (những người chung quanh) suy nghĩ về cái tên đó như vầy: ‘Kassapa nào?’, ‘Kumārakassapa [Kassapa Bé] chăng?’ Do cái tên (của vị ấy) được đặt như vậy, kể từ đó cho đến lúc vị ấy lớn, (vị ấy) vẫn được gọi là Kumārakassapa [Kassapa Bé](i). Hơn nữa, người ta nhận biết vị ấy là Kumārakassapa [Vương tử Kassapa](ii) do vị ấy là người con trai được nuôi dưỡng bởi nhà vua. Còn đây là câu chuyện về sự xuất hiện của vị ấy bắt đầu từ mối liên hệ thuộc kiếp trước đó.

—–

(i) Kassapa là một tên tương đối phổ biến, nên có nhiều vị Tỳ Kheo, Sa Di tên Kassapa. Để phân biệt, vị này được gọi là Kassapa Bé.

(ii) Từ Pāḷi [kumāra] vừa có nghĩa là [cậu bé] vừa có nghĩa là [vương tử].

2

♦ thero kira padumuttarassa 

bhagavato kāle seṭṭhiputto ahosi. athekadivasaṃ bhagavantaṃ citrakathiṃ ekaṃ 

attano sāvakaṃ ṭhānantare 

ṭhapentaṃ disvā bhagavato sattāhaṃ dānaṃ datvā, “ahampi bhagavā anāgate ekassa 

buddhassa ayaṃ thero viya 

citrakathī sāvako bhaveyyan”ti 

patthanaṃ katvā puññāni karonto kassapassa bhagavato 

sāsane pabbajitvā visesaṃ 

nibbattetuṃ nāsakkhi.

Quả thật, vào thời của Đức Thế Tôn Padumuttara, vị trưởng lão ấy là con trai phú hộ. Thế rồi, vào một ngày nọ, vị ấy nhìn thấy Đức Thế Tôn đó đặt Citrakathī – một vị thanh văn của Ngài – vào vị trí (quan trọng)(i); (vị ấy) cúng dường đến Đức Thế Tôn đó suốt 7 ngày; lập nguyện rằng: ‘Thưa Đức Thế Tôn! Con cũng sẽ trở thành một vị thanh văn của một vị Phật trong tương lai giống như trưởng lão Citrakathī này!’; (vị ấy) làm các phước thiện và xuất gia trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn Kassapa nhưng không thể làm nên thành tựu.

—–

(i) Có lẽ là vị trí Đại Đệ Tử.

3

♦ tadā kira parinibbutassa 

bhagavato sāsane osakkante pañca bhikkhū nisseṇiṃ bandhitvā pabbataṃ abhiruyha 

samaṇadhammaṃ akaṃsu. saṅghatthero tatiyadivase arahattaṃ patto. anuthero catutthadivase anāgāmī 

ahosi. itare tayo visesaṃ nibbattetuṃ asakkontā devaloke nibbattiṃsu. tesaṃ ekaṃ buddhantaraṃ devesu ca 

manussesu ca sampattiṃ 

anubhontānaṃ eko takkasilāyaṃ rājakule nibbattitvā pukkusāti nāma rājā hutvā bhagavantaṃ uddissa pabbajitvā rājagahaṃ gacchanto 

kumbhakārasālāyaṃ bhagavato dhammadesanaṃ sutvā anāgāmiphalaṃ patto. eko 

ekasmiṃ samuddapaṭṭane kulaghare nibbattitvā nāvaṃ 

āruyha bhinnanāvo dārucīrāni 

nivāsetvā lābhasampattiṃ patto, “ahaṃ arahā”ti cittaṃ uppādetvā, “na tvaṃ arahā, gaccha satthāraṃ 

pañhaṃ pucchā”ti atthakāmāya 

devatāya codito tathā katvā arahattaphalaṃ patto.

Quả thật, khi đó, lúc Đức Thế Tôn đã viên tịch & Giáo Pháp thoái trào; 5 vị Tỳ Kheo nọ đã chuẩn bị một cái thang; leo lên một ngọn núi rồi hành Sa Môn Pháp. Vị trưởng lão lớn nhất đạt đến trạng thái A La Hán vào ngày thứ 3. Vị trưởng lão kế trở thành bậc Bất Lai vào ngày thứ 4. 3 vị kia không thể làm nên thành tựu nên sinh vào cõi Trời. Suốt một giai đoạn giữa 2 vị Phật, các vị đó đã trải nghiệm vinh quang giữa chư thiên và loài người; rồi một vị sinh vào hoàng gia ở Takkasilā; trở thành vị vua với tên gọi là Pukkusāti; xuất gia theo Đức Thế Tôn; trong khi đi đến Rājagaha, vị ấy nghe pháp thoại của Đức Thế Tôn ở hội trường Kumbhakāra rồi đạt đến Bất Lai Quả. Một vị sinh vào nhà của một gia đình ở gần hải cảng; (vị ấy) lên thuyền; bị đắm thuyền; mặc vỏ cây; đạt đến sự thành tựu về lợi lộc, (vị ấy) khởi tâm rằng ‘Ta là bậc A La Hán’; được khích lệ bởi vị trời mong muốn lợi ích (cho vị ấy) rằng ‘Ông không phải là bậc A La Hán. Hãy đến chỗ bậc Đạo Sư và đặt câu hỏi!’, (vị ấy) làm như vậy rồi đạt đến A La Hán Quả.

4

♦ eko rājagahe ekissā kuladārikāya kucchimhi uppanno. sā ca 

paṭhamaṃ mātāpitaro yācitvā pabbajjaṃ 

alabhamānā kulagharaṃ gatā gabbhasaṇṭhitampi ajānantī sāmikaṃ ārādhetvā tena 

anuññātā bhikkhunīsu pabbajitā. Tassā gabbhininimittaṃ disvā 

bhikkhuniyo devadattaṃ 

pucchiṃsu, so “assamaṇī”tiāha. dasabalaṃ pucchiṃsu, satthā 

upālittheraṃ paṭicchāpesi. Thero sāvatthinagaravāsīni kulāni 

visākhañca upāsikaṃ 

pakkosāpetvā sodhento, —“pure laddho gabbho, pabbajjā 

arogā”ti āha. satthā 

“suvinicchitaṃ adhikaraṇan”ti 

therassa sādhukāraṃ adāsi. sā 

bhikkhunī suvaṇṇabimbasadisaṃ puttaṃ vijāyi, taṃ gahetvā rājā pasenadi kosalo posāpesi. “kassapo”ti cassa 

nāmaṃ katvā aparabhāge alaṅkaritvā satthu 

santikaṃ netvā pabbājesi. iti rañño posāvanikaputtattāpi taṃ “kumārakassapo”ti sañjāniṃsūti.

Một vị sinh vào thai bào của một cô gái thuộc một gia đình ở Rājagaha. Cô gái đó trước tiên khẩn cầu cha mẹ nhưng không đạt được việc xuất gia(i); (cô ấy) đi đến nhà của gia đình chồng, và không nhận ra sự đậu thai của mình, (cô ấy) khiến người chồng ủng hộ (việc xuất gia của mình); được người chồng cho phép, (cô ấy) đã xuất gia vào hội chúng Tỳ Kheo Ni. Các Tỳ Kheo Ni nhận ra biểu hiện mang thai của cô ấy rồi hỏi Devadatta. Vị ấy (Devadatta) đã nói: ‘(Cô ấy) không phải là nữ Sa Môn.’(ii) Họ hỏi Đấng Thập Lực; Bậc Đạo Sư giao phó cho trưởng lão Upāli. Vị trưởng lão đó cho gọi các gia đình cư dân của thành Sāvatthī cùng nữ cận sự Visākhā để khảo sát rồi nói rằng: ‘Thai đậu từ trước (trước khi xuất gia); việc xuất gia không hư hoại.’ Bậc Đạo Sư đã ban lời tán thán đến vị trưởng lão đó rằng: ‘Tình huống này đã được khéo phân xử.’ Vị Tỳ Kheo Ni ấy đã sinh ra đứa con trai giống như trái Bimba vàng. Đức vua Pasenadi xứ Kosala nhận đứa bé ấy rồi cho nuôi dưỡng. Và đức vua đặt tên cho vị ấy là ‘Kassapa’; về sau, khi nghĩ (thời điểm) đã thích hợp, (đức vua) dẫn (cậu bé Kassapa) đến chỗ Bậc Đạo Sư rồi cho xuất gia. Như vậy, (người ta) nhận biết vị ấy là [Kumārakassapa – vương tử Kassapa] do vị ấy là đứa con trai được nuôi dưỡng bởi đức vua.       

—–

(i) Cô ấy không được cha mẹ cho phép xuất gia.

(ii) Tức cô ấy đã phạm giới, không đủ tư cách là một nữ Sa Môn.

5

♦ andhavaneti evaṃnāmake vane. taṃ kira vanaṃ dvinnaṃ 

buddhānaṃ kāle avijahitanāmaṃ andhavanaṃ tveva paññāyati. tatrāyaṃ paññattivibhāvanā —

appāyukabuddhānañhi sarīradhātu na ekagghanā hoti. adhiṭṭhānānubhāvena vippakiriyati. teneva amhākampi 

bhagavā, — “ahaṃ na ciraṭṭhitiko, appakehi sattehi ahaṃ diṭṭho, yehi na diṭṭho, teva bahutarā, te me dhātuyo ādāya tattha tattha pūjentā saggaparāyaṇā 

bhavissantī”ti parinibbānakāle, “attano sarīraṃ vippakiriyatū”ti adhiṭṭhāsi. dīghāyukabuddhānaṃ pana 

suvaṇṇakkhandho viya ekagghanaṃ dhātusarīraṃ tiṭṭhati.

[Ở rừng Andha], tức: ở khu rừng có tên gọi như vậy. Quả thật, khu rừng đó được biết đến là rừng Andha – một cái tên chưa bị quên lãng suốt thời gian của 2 vị Phật. Trong chủ đề này, đây là (câu chuyện) giải thích tên gọi đó: quả thật, di hài của chư Phật có thọ mạng ngắn thì không nguyên vẹn một khối. Do uy lực từ quyết định (của các Ngài), di hài ấy bị phân tán. Chính do đó, kể cả Đức Thế Tôn của chúng ta (cũng nói) vào thời điểm viên tịch rằng: ‘Ta không trụ thế lâu; ít chúng sinh đã thấy được ta. Những chúng sinh nào không thấy được ta; chính những chúng sinh đó nhiều hơn. Những (chúng sinh) đó lấy những phần di hài của ta; rồi nhờ việc đảnh lễ ở nơi này nơi kia, sẽ có đích đến là cõi trời.’ Ngài đã quyết định rằng: ‘Thân xác của ta hãy được phân tán!’ Còn di hài của chư Phật có thọ mạng dài tồn tại nguyên vẹn một khối giống như một khối vàng.

6

♦ kassapassāpi bhagavato tatheva aṭṭhāsi. tato mahājanā 

sannipatitvā, “dhātuyo ekagghanā na sakkā viyojetuṃ, 

kiṃ karissāmā”ti sammantayitvā ekagghanameva cetiyaṃ 

karissāma, kittakaṃ pana hotu 

tanti āhaṃsu. eke sattayojaniyanti āhaṃsu. etaṃ atimahantaṃ, anāgate jaggituṃ na sakkā, chayojanaṃ hotu, pañcayojanaṃ… catuyojanaṃ… 

tiyojanaṃ… dviyojanaṃ… 

ekayojanaṃ hotūti sanniṭṭhānaṃ katvā iṭṭhakā kīdisā hontūti bāhirante iṭṭhakā 

rattasuvaṇṇamayā ekagghanā satasahassagghanikā 

hontu, abbhantarimante paññāsasahassagghanikā. haritālamanosilāhi mattikākiccaṃ kayiratu, telena udakakiccanti niṭṭhaṃ gantvā cattāri mukhāni 

catudhā vibhajiṃsu. rājā ekaṃ mukhaṃ gaṇhi, rājaputto 

pathavindarakumāro ekaṃ, amaccānaṃ jeṭṭhako hutvā senāpati ekaṃ, janapadānaṃ 

jeṭṭhako hutvā seṭṭhi ekaṃ.

(Di hài) của Đức Thế Tôn Kassapa cũng tồn tại y như thế (nguyên vẹn một khối). Kế đến, đại chúng tụ tập; cùng thảo luận rằng: ‘Không thể phân chia các di hài nguyên vẹn một khối. Chúng ta có thể làm gì?’; rồi nói rằng: ‘Chúng ta có thể làm một cái tháp thờ cũng nguyên vẹn một khối(i). Nhưng nó (tháp thờ) nên có kích thước bao nhiêu?’ Một số người nói rằng: ‘Kích thước 7 Yojana.’ Họ đưa ra kết luận rằng: ‘Kích thước đó quá lớn; trong tương lai, không thể trông coi. Kích thước nên là 6 Yojana… 5 Yojana… 4 Yojana… 3 Yojana… 2 Yojana… Kích thước nên là một Yojana’; (họ hỏi tiếp rằng) ‘Các viên gạch nên thuộc loại gì?’; họ quyết định rằng: ‘Ở phần bên ngoài, các viên gạch nên được làm từ vàng lấp lánh, khi cố kết thành một khối thì có giá trị là 100.000. Ở phần bên trong, (các viên gạch nên được làm từ vàng lấp lánh, khi cố kết thành một khối) thì có giá trị là 50.000. Các phần việc thường được làm bằng đất sét thì nên được làm bằng chất Haritāla & Manosilā. Các phần việc thường được làm với nước thì nên được làm với dầu’; rồi họ phân 4 cái cổng thành 4 loại. Đức vua giữ một cổng. Hoàng tử Pathavindarakumāra giữ một cổng. Tướng quân – người đứng đầu các quan – giữ một cổng. Phú hộ – người đứng đầu (dân chúng trong) xứ sở – giữ một cổng.

—–

(i) Tháp thờ nào cũng nguyên vẹn một khối cả; ở đây muốn nói tháp thờ đó có kích thước tương xứng với di hài nguyên vẹn một khối của Đức Phật. 

7

tattha dhanasampannatāya rājāpi 

suvaṇṇaṃ nīharāpetvā attanā 

gahitamukhe kammaṃ 

ārabhi, uparājāpi, senāpatipi. seṭṭhinā gahitamukhe pana 

kammaṃ olīyati. tato yasorato 

nāma eko upāsako tepiṭako 

bhāṇako anāgāmī ariyasāvako, so kammaṃ olīyatīti ñatvā pañca 

sakaṭasatāni yojāpetvā janapadaṃ gantvā ‘kassapasammāsambuddho 

vīsativassasahassāni ṭhatvā 

parinibbuto. Tassa yojanikaṃ 

ratanacetiyaṃ kayirati, yo yaṃ 

dātuṃ ussahati suvaṇṇaṃ vā 

hiraññaṃ vā sattaratanaṃ vā 

haritālaṃ vā manosilaṃ vā, so 

taṃ detū”ti samādapesi. manussā attano attano thāmena 

hiraññasuvaṇṇādīni adaṃsu. Asakkontā telataṇḍulādīni 

dentiyeva. upāsako 

telataṇḍulādīni kammakārānaṃ bhattavetanatthaṃ pahiṇāti, avasesehi suvaṇṇaṃ cetāpetvā 

pahiṇāti, evaṃ sakalajambudīpaṃ 

acari.

Khi đó, nhà vua cho lấy vàng từ tài sản sở hữu của mình; rồi khởi đầu công việc ở cánh cổng mà mình đã nhận. Vị phó vương cũng vậy; vị tướng quân cũng vậy. Thế nhưng, công việc ở cánh cổng mà vị phú hộ đã nhận thì đình trệ. Thế rồi, có một vị Nam Cận Sự – tên là Yasorata – vốn là vị Thánh Đệ Tử Bất Lai, vị tụng đọc (kinh điển), vị thấu suốt Tam Tạng. Vị ấy nhận ra rằng ‘Công việc (ở cánh cổng đó) thì đình trệ’; cho chuẩn bị 500 cỗ xe; đi đến vùng quê; rồi khuyến khích rằng: ‘Đức Phật Chánh Đẳng Giác Kassapa đã viên tịch sau khi tại thế 20.000 năm. Bảo tháp với quy mô một Yojana đang được làm cho Ngài. Người nào có thể cúng dường vật gì: vàng, vàng thô, 7 báu, Haritāla hay Manosilā; thì người ấy hãy cúng dường vật ấy!’ Người ta cúng dường vàng, vàng thô vân vân dựa theo sức của từng người. Những người không thể (cúng dường như vậy) cũng cúng dường dầu, gạo vân vân. Vị Nam Cận Sự phái người lo thức ăn, lương bổng cho nhóm người lo việc về dầu, gạo vân vân. Vị ấy phái người mua vàng từ nhóm người còn lại. Vị ấy đã đi khắp Jambudīpa theo cách như vậy. 

8

cetiye kammaṃ niṭṭhitanti 

cetiyaṭṭhānato paṇṇaṃ pahiṇiṃsu 

— “niṭṭhitaṃ kammaṃ ācariyo 

āgantvā cetiyaṃ vandatū”ti. sopi 

paṇṇaṃ pahiṇi — “mayā sakalajambudīpo samādapito, yaṃ atthi, taṃ gahetvā kammaṃ 

niṭṭhāpentū”ti. dvepi paṇṇāni antarāmagge samāgamiṃsu. ācariyassa paṇṇato pana cetiyaṭṭhānato paṇṇaṃ 

paṭhamataraṃ ācariyassa hatthaṃ agamāsi. so paṇṇaṃ vācetvā cetiyaṃ vandissāmīti 

ekakova nikkhami. antarāmagge 

aṭaviyaṃ pañca corasatāni 

uṭṭhahiṃsu. tatrekacce taṃ disvā 

iminā sakalajambudīpato hiraññasuvaṇṇaṃ sampiṇḍitaṃ, nidhikumbhī no pavaṭṭamānā 

āgatāti avasesānaṃ ārocetvā taṃ 

aggahesuṃ. kasmā tātā, maṃ 

gaṇhathāti? Tayā sakalajambudīpato sabbaṃ 

hiraññasuvaṇṇaṃ sampiṇḍitaṃ, amhākampi thokaṃ thokaṃ dehīti. kiṃ tumhe na 

jānātha, kassapo bhagavā 

parinibbuto, tassa yojanikaṃ ratanacetiyaṃ kayirati, tadatthāya mayā samādapitaṃ, 

no attano atthāya. taṃ taṃ 

laddhaladdhaṭṭhānato tattheva 

pesitaṃ, mayhaṃ pana nivatthasāṭakamattaṃ ṭhapetvā 

aññaṃ vittaṃ kākaṇikampi 

natthīti.

(Nhận thấy) ‘Công việc ở tháp thờ đã được hoàn thành’; người ta đã gửi thư (cho vị ấy) từ chỗ tháp thờ rằng: ‘Công việc đã được hoàn thành; [Thầy – Ācariya](i) hãy đến rồi đảnh lễ tháp thờ!’ Vị ấy cũng gửi thư rằng: ‘Tôi đã khích lệ toàn bộ xứ Jambudīpa. Cái gì đang sẵn có; quý vị hãy lấy cái đó mà thực hiện công việc!’(ii) Cả 2 lá thư đó ‘gặp nhau’ trên đường. Nhưng lá thư từ chỗ tháp thờ đến tay vị Thầy ấy sớm hơn lá thư của vị Thầy ấy (gửi đến tháp thờ). Vị ấy đọc thư; rồi ra đi chỉ một mình (với ý định rằng) ‘Ta sẽ đảnh lễ tháp thờ.’ 500 tên cướp hoạt động ở một khu rừng trên lộ trình (của vị ấy). Tại đó, một số tên nhìn thấy vị ấy; thông báo cho những tên còn lại rằng: ‘Kẻ này tích tụ vàng, vàng thô từ toàn bộ xứ Jambudīpa. Một mỏ châu báu di động đã đến chỗ chúng ta!’ rồi bắt vị ấy. (Vị ấy) hỏi rằng: ‘Các huynh đệ! Tại sao lại bắt tôi?’ (Bọn cướp) ‘Ông đã tích tụ tất cả vàng, vàng thô từ toàn bộ xứ Jambudīpa. Ông hãy cho chúng tôi chút ít.’ (Vị ấy) ‘Các huynh đệ không biết ư? Đức Thế Tôn Kassapa đã viên tịch. Bảo tháp với quy mô một Yojana đang được làm cho Ngài. Ta đã khích lệ (việc cúng dường) vì mục đích đó, không phải vì mục đích cho bản thân ta. Từ nơi tiếp nhận, mọi thứ đều được gửi đến ngay nơi đó (nơi tháp thờ); còn ta ngoài vỏn vẹn cái áo khoác mà ta mặc, thì không có tài sản nào khác dẫu trị giá một đồng Kākaṇikā.’ 

—–

(i) Từ Pāḷi [ācariya] thường được dịch là Giáo Thọ Sư và chỉ đến vị Tỳ Kheo dạy đệ tử. Ở đây, nó được dùng chỉ vị Nam Cận Sự có trí tuệ và giới hạnh.

(ii) 2 bức thư này được gửi độc lập, chứ không phải vị Nam Cận Sự phúc đáp lá thư của những vị ở tháp thờ.

9

eke, “evametaṃ vissajetha 

ācariyan”ti āhaṃsu. eke, “ayaṃ 

rājapūjito amaccapūjito, amhesu 

kañcideva nagaravīthiyaṃ disvā rājarājamahāmattādīnaṃ ārocetvā anayavyasanaṃ 

pāpuṇāpeyyā”ti āhaṃsu. upāsako, “tātā, nāhaṃ evaṃ karissāmī”ti āha. tañca kho tesu 

kāruññena, na attano 

jīvitanikantiyā. atha tesu gahetabbo vissajjetabboti 

vivadantesu gahetabboti 

laddhikā eva bahutarā hutvā jīvitā voropayiṃsu.

Một số kẻ nói rằng: ‘Sự việc này là như vậy; hãy thả vị Thầy!’ Một số kẻ khác nói rằng: ‘Người này được nhà vua tôn kính; được quan lại tôn kính. Nếu hắn nhìn thấy bất kỳ ai trên đường đến thành rồi thông báo cho nhà vua, tể tướng vân vân về chúng ta; thì hắn sẽ khiến chúng ta rơi vào tai hoạ, bất hạnh.’ Vị Nam Cận Sự nói rằng: ‘Các huynh đệ! Ta sẽ không làm như vậy!’ Và (lời nói) đó là do lòng bi mẫn đối với những (kẻ cướp) ấy; không phải do sự mong muốn mạng sống của bản thân. Thế rồi, khi những (kẻ cướp) ấy tranh cãi về chuyện: ‘Nên bắt hay nên thả’; thì những kẻ cho rằng ‘Nên bắt’ lại chiếm đa số, nên chúng đã đoạt mạng ngài. 

10

tesaṃ balavaguṇe ariyasāvake 

aparādhena nibbutadīpasikhā viya akkhīni antaradhāyiṃsu. te, 

“kahaṃ bho cakkhu, kahaṃ bho 

cakkhū”ti vippalapantā ekacce ñātakehi gehaṃ nītā. ekacce noñātakā anāthāti tattheva 

aṭaviyaṃ rukkhamūle 

paṇṇasālāyaṃ vasiṃsu. aṭaviṃ 

āgatamanussā kāruññena tesaṃ taṇḍulaṃ vā puṭabhattaṃ vā 

paribbayaṃ vā denti. dārupaṇṇādīnaṃ atthāya gantvā āgatā manussā kuhiṃ 

gatatthāti vutte andhavanaṃ 

gatamhāti vadanti. evaṃ 

dvinnampi buddhānaṃ kāle taṃ 

vanaṃ andhavanaṃ tveva 

paññāyati. kassapabuddhakāle 

panetaṃ chaḍḍitajanapade aṭavi 

ahosi. amhākaṃ bhagavato kāle sāvatthiyā avidūre 

jetavanassa piṭṭhibhāge pavivekakāmānaṃ kulaputtānaṃ vasanaṭṭhānaṃ padhānagharaṃ ahosi, tattha āyasmā 

kumārakassapo tena samayena sekhapaṭipadaṃ 

pūrayamāno viharati. tena vuttaṃ “andhavane viharatī”ti.

Do tội lỗi đối với vị Thánh Đệ Tử có phẩm chất vĩ đại ấy, đôi mắt của (bọn cướp) đó đã biến mất giống như lửa của cây đèn nguội tắt. Chúng kêu than rằng: ‘Mày ơi! Mắt (của tao) đâu? Mày ơi! Mắt (của tao) đâu?’; một số kẻ được bà con đưa về nhà; một số kẻ – vốn không có bà con, không có nơi nương nhờ – đã sống ngay tại đó, ở nhà lá, ở gốc cây trong rừng. Nhiều người đến khu rừng đó, do lòng bi mẫn, đã cho chúng một phần gạo, một phần cơm hay tiền. Những người đã đi đến đó nhằm mục đích (lấy) gỗ, lá vân vân rồi đi về – khi được hỏi rằng: ‘Các ông đã đi đâu?’ thì đáp: ‘Chúng tôi đã đi đến [Manh Lâm – andhavana]’(i). Như vậy, quả thật, khu rừng đó được biết đến là rừng Andha (Manh Lâm) suốt thời gian của 2 vị Phật. Tuy nhiên, ở thời kỳ của Đức Phật Kassapa; khu rừng đó ở khu vực bị bỏ hoang. Vào thời kỳ của Đức Thế Tôn của chúng ta; nó (khu rừng đó) là nơi nỗ lực, nơi ngụ của các con trai gia tộc mong muốn độc cư, (nó) ở không xa Sāvatthī, ở khu vực phía sau Jetavana. Vào lúc đó, Đại Đức Kumārakassapa đã ngụ tại đó để làm viên mãn sự thực hành của bậc hữu học. Do đó, điều này đã được nói: ‘(Vị ấy) ngụ tại rừng Andha (Manh Lâm).’ 

—–

(i) Tức khu rừng mù, khu rừng của những kẻ mù.

11

♦ aññatarā devatāti 

nāmagottavasena apākaṭā ekā 

devatāti attho. “abhijānāti no, bhante, bhagavā 

ahu ñātaññatarassa mahesakkhassa 

saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ bhāsitā”ti (ma. ni. 1.365) ettha pana 

abhiññāto sakkopi devarājā aññataroti vutto. devatāti ca idaṃ devānampi 

devadhītānampi sādhāraṇavacanaṃ. imasmiṃ 

panatthe devo adhippeto. abhikkantāya rattiyāti ettha abhikkantasaddo khayasundarābhirūpābbhanumodanādīsu dissati. tattha— “abhikkantā, bhante, ratti, nikkhanto paṭhamo yāmo, ciranisinno bhikkhusaṅgho, 

uddisatu, bhante, bhagavā 

bhikkhūnaṃ pātimokkhan”ti evamādīsu (a. ni. 8.20) khaye 

dissati. “ayaṃ imesaṃ catunnaṃ 

puggalānaṃ abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti (a. ni. 4.100) evamādīsu sundare.

[Một vị thiên nọ – aññatarā devatā], tức: một vị thiên không được biết đến theo tên họ. Ý nghĩa là như vậy. ‘Thưa Ngài! Đức Thế Tôn có nhớ rằng: ‘(Đức Thế Tôn) từng nói một cách tóm lược sự giải thoát do cạn kiệt hoàn toàn tham ái cho một vị có đại lực nổi tiếng nào đó không?’’ (ma. ni. 1.365). Nhưng ở đoạn kinh đó, kể cả vua trời Sakka nổi danh cũng được gọi là [một vị nào đó – aññatara]. Và [vị thiên – devatā], tức: đây là tiếng gọi chung cho các [thiên nam – deva] lẫn các [thiên nữ – devadhītā]. Nhưng ở đoạn kinh đó; về mặt ý nghĩa, thiên nam được hàm ý. [Khi đêm đã qua – abhikkantāya rattiyā], ở đây, tiếng [abhikkanta] (có thể) xuất hiện theo các nghĩa: [tàn – khaya], [tốt – sundara], [đẹp – abhirūpa], [tán thưởng nhiệt liệt – abbhanumodana] vân vân. Trong chủ đề này; ‘Thưa Ngài! Đêm [đã tàn – abhikkanta]; canh đầu tiên đã qua. Tỳ Kheo Tăng đã ngồi lâu. Thưa Ngài! Mong Đức Thế Tôn hãy tụng đọc Pātimokkha cho các Tỳ Kheo!’ (a. ni. 8.20); ở những đoạn kinh tương tự như vậy, tiếng đó xuất hiện theo nghĩa [tàn – khaya]. ‘Trong 4 hạng người đó, (hạng người) này là [tốt đẹp hơn – abhikkantatara] và [xuất sắc hơn – paṇītatara]’ (a. ni. 4.100); ở những đoạn kinh tương tự như vậy, tiếng đó xuất hiện theo nghĩa [tốt – sundara].

12

“ko me vandati pādāni, iddhiyā 

yasasā jalaṃ.

abhikkantena vaṇṇena, sabbā 

obhāsayaṃ disā”ti. (vi. va. 857) —

‘Người nào đang đảnh lễ đôi chân của ta, trong khi toả sáng bằng thần lực và vinh quang; trong khi soi sáng mọi phương bằng dung sắc [đẹp đẽ – abhikkanta]?’ (vi. va. 857).

13

evamādīsu abhirūpe. 

“abhikkantaṃ, bho gotamā”ti 

evamādīsu (pārā. 15) abbhanumodane. idha pana khaye. tena abhikkantāya rattiyāti 

parikkhīṇāya rattiyāti vuttaṃ hoti. tatthāyaṃ devaputto 

majjhimayāmasamanantare āgatotiveditabbo. abhikkantavaṇṇāti 

idha abhikkantasaddo abhirūpe. vaṇṇasaddo pana chavi-thuti-kulavaggakāraṇa-saṇṭhānapamāṇarūpāyatanādīsu 

dissati. tattha, 

“suvaṇṇavaṇṇosi bhagavā”ti 

evamādīsu chaviyā. “kadā 

saññūḷhā pana te gahapati samaṇassa gotamassa 

vaṇṇā”ti (ma. ni. 2.77) evamādīsu thutiyaṃ. “cattārome, bho gotama, vaṇṇā”ti evamādīsu (dī. ni. 3.115) 

kulavagge. “atha kenanu vaṇṇena, gandhathenoti vuccatī”ti 

evamādīsu (saṃ. ni. 1.234) 

kāraṇe. “mahantaṃ hatthirājavaṇṇaṃ 

abhinimminitvā”ti evamādīsu (saṃ. ni. 1.138) saṇṭhāne. “tayo pattassa vaṇṇā”ti 

evamādīsu (pārā. 602) pamāṇe. “vaṇṇo gandho raso ojā”ti 

evamādīsu rūpāyatane. so idha 

chaviyaṃ daṭṭhabbo. Tena abhikkantavaṇṇāti 

abhirūpachavīṭṭhavaṇṇā, 

manāpavaṇṇāti vuttaṃ hoti. 

devatāhi manussalokaṃ 

āgacchamānā pakativaṇṇaṃ 

pakatīddhiṃ pajahitvā oḷārikaṃ attabhāvaṃ katvā atirekavaṇṇaṃ 

atirekaiddhiṃ māpetvā 

naṭasamajjādīni gacchantā manussā viya 

abhisaṅkhatena kāyena 

āgacchanti. ayampi devaputto tatheva āgato. tena vuttaṃ 

“abhikkantavaṇṇā”ti.

Ở những đoạn kinh tương tự như vậy, tiếng đó xuất hiện theo nghĩa [đẹp – abhirūpa].

‘Thật [tuyệt vời – abhikkanta]! Thưa Ngài Gotama!’ (pārā. 15). Ở những câu tương tự như vậy, tiếng đó xuất hiện theo nghĩa [tán thưởng nhiệt liệt – abbhanumodana]. Thế nhưng, ở đây, nó xuất hiện theo nghĩa [tàn – khaya]. Do đó, cụm từ [khi đêm đã qua – abhikkantāya rattiyā] đã được nói (với ý nghĩa) ‘khi đêm đã tàn’. Ở đoạn kinh đó, vị thiên tử đó đã đến vào lúc liền sau canh giữa. Điều đó nên được hiểu như vậy. [Có dung sắc đẹp đẽ – abhikkantavaṇṇa], ở đây, tiếng [abhikkanta] (được dùng) theo nghĩa [đẹp – abhirūpa]. Còn tiếng [vaṇṇa] xuất hiện theo các nghĩa: [làn da – chavi], [sự tán dương – thuti], [nhóm gia tộc – kulavagga], [nguyên nhân – kāraṇa], [hình dáng – saṇṭhāna], [kích thước – pamāṇa], [sắc xứ – rūpāyatana] vân vân. Trong chủ đề này, ‘Đức Thế Tôn có [dung sắc – vaṇṇa] xinh đẹp’; trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó (xuất hiện) theo nghĩa [làn da – chavi]. ‘Này gia chủ! Vậy những [lời khen ngợi – vaṇṇa] Sa Môn Gotama đó được ông sáng tác khi nào?’ (ma. ni. 2.77); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó (xuất hiện) theo nghĩa [sự tán dương – thuti]. ‘Thưa Ngài Gotama! Đây là 4 [giai cấp – vaṇṇa]’ (dī. ni. 3.115); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó (xuất hiện) theo nghĩa [nhóm gia tộc – kulavagga]. ‘Thế rồi, do nguyên cớ gì (kẻ ấy) được gọi là ‘kẻ trộm hương’?’ (saṃ. ni. 1.234); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó (xuất hiện) theo nghĩa [nguyên nhân – kāraṇa]. ‘Sau khi hoá hiện [hình dạng – vaṇṇa] voi chúa to lớn’ (saṃ. ni. 1.138); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó (xuất hiện) theo nghĩa [hình dáng – saṇṭhāna]. ‘Có 3 [kích cỡ – vaṇṇa] cho cái bát’ (pārā. 602); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó (xuất hiện) theo nghĩa [kích thước – pamāṇa]. ‘Màu sắc [vaṇṇa], hương, vị và các dưỡng chất’; trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó (xuất hiện) theo nghĩa [sắc xứ – rūpāyatana]. Ở đây, tiếng đó nên được hiểu theo nghĩa [làn da – chavi]. Do đó, [có dung sắc đẹp đẽ – abhikkantavaṇṇa], tức: có dung sắc đáng thích, có làn da đẹp; có dung sắc đáng hài lòng. Điều đã được nói là như vậy. Quả thật, chư thiên khi đi đến thế gian con người; thì từ bỏ dung sắc tự nhiên & sự rực rỡ tự nhiên(i); khiến cho trạng thái cá nhân của mình trở nên thô tháo (giống như loài người); tạo nên dung sắc vượt trội & sự rực rỡ vượt trội(ii) rồi xuất hiện với thân thể được tạo ra đó giống như những con người đi đến nhạc hội vân vân. Vị thiên tử đó cũng xuất hiện đúng như thế. Do đó, điều này đã được nói: ‘Có dung sắc đẹp đẽ – abhikkantavaṇṇa]’.

———

(i) Tức dung sắc và sự rực rỡ tự nhiên của chư thiên – đúng theo cảnh giới của họ.

(ii) Tức so với chư thiên, dung sắc của toàn thể loài người đều thô kém; nhưng trong số loài người mà so sánh với nhau, thì vẫn có hơn có kém.

14

♦ kevalakappanti ettha 

kevalasaddo anavasesa-yebhūyya-abyāmissānatirekadaḷhattha-visaṃyogādi anekattho. tathā hissa,

“kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyan”ti (pārā. 1) 

Evamādīsu anavasesattamattho. 

“kevalakappā ca aṅgamagadhā 

pahūtaṃ 

khādanīyaṃ bhojanīyaṃ ādāya 

upasaṅkamissantī”ti evamādīsu 

yebhuyyatā. “kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo 

hotī”ti (vibha. 225) evamādīsu 

abyāmissatā. “kevalaṃ saddhāmattakaṃ nūna 

ayamāyasmā”ti (mahāva. 244) 

evamādīsu anatirekatā. “āyasmato 

anuruddhassa bāhiyo nāma 

saddhivihāriko kevalakappaṃ saṅghabhedāya ṭhito”ti (a. ni. 4.243) evamādīsu daḷhatthatā. “kevalī vusitavā uttamapurisoti vuccatī”ti 

(saṃ. ni. 3.57) evamādīsu 

visaṃyogo. idha panassa anavasesattamatthoti adhippeto.

[Toàn thể – kevalakappaṁ], ở đây, tiếng [kevala] có nhiều nghĩa như: [không dư sót – anavasesa], [hầu hết – yebhūyya], [không hỗn tạp – abyāmissa], [không nhiều hơn – anatireka], [mạnh mẽ – daḷhattha], [không còn sự trói buộc – visaṃyoga] vân vân. Như thế, quả thật, ‘Phạm Hạnh hoàn toàn thanh tịnh, viên mãn hoàn toàn’ (pārā. 1); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có ý nghĩa là [sự không dư sót – anavasesa]. ‘Và [gần hết – kevalakappa] người dân xứ Aṅga và Magadha lấy nhiều thực phẩm cứng và thực phẩm mềm rồi sẽ đi đến’; trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [hầu hết – yebhuyyatā]. ‘(Đó là) nguồn gốc của riêng Khổ Uẩn’ (vibha. 225); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [không hỗn tạp – abyāmissatā]. ‘Phải chăng vị Đại Đức này… [chỉ – kevalaṃ] (dựa vào) đức tin thuần tuý?’      (mahāva. 244); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [không nhiều hơn – anatirekatā]. ‘Vị đồng cư với Đại Đức Anuruddha tên Bāhiya [quyết liệt – kevalakappaṃ] với mục đích chia rẽ Tăng Đoàn’ (a. ni. 4.243); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [mạnh mẽ – daḷhatthatā]. ‘Vị toàn hảo, [đầy đủ – kevalī] được gọi là ‘tối thượng nhân’’ (saṃ. ni. 3.57); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [không còn sự trói buộc – visaṃyoga]. Nhưng ở đây, ý nghĩa của tiếng đó là [không dư sót – anavasesatta]. Điều đó được hàm ý như vậy.

15

kappasaddo panāyaṃ 

abhisaddahana-vohāra-kāla-paññatti- chedana-vikappa-lesa-samantabhāvādi-anekattho. tathā hissa, 

“okappaniyametaṃ bhoto gotamassa, yathā taṃ arahato 

sammāsambuddhassā”ti (ma. ni. 1.387) evamādīsu abhisaddahanamattho. “anujānāmi, bhikkhave, pañcahi 

samaṇakappehi phalaṃ paribhuñjitun”ti (cūḷava. 250) 

evamādīsu vohāro. “yena sudaṃ 

niccakappaṃ viharāmī”ti evamādīsu (ma. ni. 1.387) kālo. “iccāyasmā kappo”ti (saṃ. ni. 3.124)evamādīsu paññatti. 

“alaṅkatā kappitakesamassū”ti (saṃ. ni. 4.365) evamādīsu chedanaṃ. “kappati 

dvaṅgulakappo”ti (cūḷava. 446) 

evamādīsu vikappo. “atthi kappo 

nipajjitun”ti (a. ni. 8.80) 

evamādīsu leso. “kevalakappaṃ 

veḷuvanaṃ obhāsetvā”ti 

(saṃ. ni. 1.94) 

evamādīsu samantabhāvo. idha 

panassa samantabhāvo attho 

adhippeto. tasmā kevalakappaṃ 

andhavananti ettha anavasesaṃ samantato 

andhavananti evamattho 

daṭṭhabbo.

Còn tiếng [kappa] đó có nhiều nghĩa như: [đáng tin – abhisaddahana], [hợp Luật – vohāra], [thời gian – kāla], [tên gọi chế định – paññatti], [cắt – chedana], [thay đổi – vikappa], [cớ – lesa], [cùng khắp – samantabhāva] vân vân. Như thế, quả thật, ‘Đây là [điều đáng tin cậy – okappaniya] của Ngài Gotama tương xứng với điều đáng tin cậy của một vị A La Hán, Chánh Đẳng Chánh Giác’ (ma. ni. 1.387); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [đáng tin – abhisaddahana]. ‘Này các Tỳ Kheo! Ta cho phép thọ dụng trái cây với 5 điều [phù hợp – kappa] với Sa Môn’ (cūḷava. 250); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [hợp Luật – vohāra]. ‘Tại đó, ta trụ [liên tục – niccakappaṃ]’ (ma. ni. 1.387); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [thời gian – kāla]. ‘Đại Đức Kappa (đã nói) như vậy’ (saṃ. ni. 3.124); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [tên gọi chế định – paññatti](i). ‘(Họ) thấy đủ, có râu và tóc [kappita – đã được cạo]’ (saṃ. ni. 4.365); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [cắt – chedana]. ‘Việc ăn lúc có [sự biến đổi – kappa] (kích thước cái bóng) còn 2 ngón tay(ii) thì phù hợp’ (cūḷava. 446); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [thay đổi – vikappa]. ‘(Ta) có [cơ hội – kappa] để nằm’ (a. ni. 8.80); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [cớ – lesa]. ‘Chiếu sáng [toàn thể – kevalakappa] Veḷuvana’ (saṃ. ni. 1.94); trong những câu tương tự như vậy, tiếng đó có nghĩa là [cùng khắp – samantabhāva]. Thế nhưng, ở đây, ý nghĩa của tiếng đó được hàm ý là [cùng khắp – samantabhāva]. Do đó, [toàn bộ rừng Andha], tức: ý nghĩa ở đây nên được hiểu như vầy ‘cùng khắp rừng Andha không dư sót.’

———

(i) Tức Kappa ở đây là tên riêng của một người.

(ii) Tức một cách đo thời gian: nếu bóng vật cần đo có bề rộng 2 ngón tay thì xem như đã qua thời điểm giữa trưa.  

16

♦ obhāsetvāti 

vatthālaṅkārasarīrasamuṭṭhitāya 

ābhāya pharitvā, candimā viya ca sūriyo viya ca ekobhāsaṃ 

ekapajjotaṃ karitvāti 

attho. ekamantaṃ aṭṭhāsīti 

ekasmiṃ ante, ekasmiṃ okāse 

aṭṭhāsi. etadavocāti etaṃ 

“bhikkhu bhikkhū”tiādivacanamavoca. kasmā panāyaṃ avanditvā 

samaṇavohāreneva kathetīti? samaṇasaññāsamudācāreneva. evaṃ kirassa ahosi — “ayaṃ 

antarā kāmāvacare vasi. ahaṃ 

pana asmi tato kālato paṭṭhāya 

brahmacārī”ti samaṇasaññāvassa samudācarati, 

tasmā avanditvā 

samaṇavohāreneva katheti. pubbasahāyo kireso devaputto 

therassa. kuto paṭṭhāyāti? kassapasammāsambuddhakālato 

paṭṭhāya. yo hi pubbayoge āgatesu pañcasu sahāyesu anuthero 

catutthadivase anāgāmī ahosīti 

vutto, ayaṃ so. tadā kira tesu 

saṅghattherassa arahatteneva 

saddhiṃ abhiññā āgamiṃsu. so, 

“mayhaṃ kiccaṃ matthakaṃ 

pattan”ti vehāsaṃ uppatitvā 

anotattadahe mukhaṃ dhovitvā uttarakuruto 

piṇḍapātaṃ ādāya āgantvā, 

“imaṃ, āvuso, piṇḍapātaṃ bhuñjitvā appamattā 

samaṇadhammaṃ karothā”ti āha. 

itare āhaṃsu — “na, āvuso, amhākaṃ evaṃ katikā 

atthi — ‘yo paṭhamaṃ visesaṃ 

nibbattetvā piṇḍapātaṃ āharati, tenābhataṃ 

bhuñjitvā sesehi samaṇadhammo kātabbo’ti. tumhe attano upanissayena kiccaṃ matthakaṃ pāpayittha. mayampi sace no upanissayo bhavissati, 

kiccaṃ matthakaṃ pāpessāma. 

papañco esa amhākaṃ, gacchatha tumhe”ti. so yathā phāsukaṃ gantvā āyupariyosāne 

parinibbāyi.

[(Vị ấy) chiếu sáng – obhāsetvā], tức: (vị ấy) lan toả bằng ánh sáng phát xuất từ thân thể được tô điểm bằng trang phục (của mình); (vị ấy) tạo ra một ánh sáng, một luồng sáng giống như mặt trời hay mặt trăng. Ý nghĩa là như vậy. [(Vị ấy) đã đứng ở một bên – ekamantaṃ aṭṭhāsi], tức: (vị ấy) đã đứng ở một góc, ở một chỗ. [(Vị ấy) đã nói điều này], tức: (vị ấy) đã nói lời này: ‘Này Tỳ Kheo! Này Tỳ Kheo!’ vân vân. Nhưng tại sao vị ấy không đảnh lễ mà lại (bắt đầu) nói bằng chính tiếng gọi Sa Môn? Do chính sự hiện diện của ý thức về (tư cách) Sa Môn. Quả thật, (suy nghĩ này) đã xảy đến cho vị ấy như vầy: ‘Trong khi người này (vị Tỳ Kheo) còn sống trong dục giới thì từ lúc đó, ta đã là người thực hành Phạm Hạnh.’ Chính ý thức về (tư cách) Sa Môn hiện diện cho vị ấy; do đó, vị ấy không đảnh lễ mà (bắt đầu) nói bằng chính tiếng gọi Sa Môn(i). Quả thật, vị thiên tử đó chính là bằng hữu thời trước của vị trưởng lão ấy. (Bằng hữu) từ lúc nào? Từ thời của Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác Kassapa. Quả thật, trong số 5 bằng hữu xuất hiện trong câu chuyện liên quan về thời trước, vị nào được nói là: ‘Vị phó trưởng lão trở thành Bậc Bất Lai vào ngày thứ 4’; thì đó là vị ấy. Khi đó, quả thật, trong số các vị đó, các thắng trí đã xuất hiện cùng với chính trạng thái A La Hán cho trưởng lão Saṅgha. Vị trưởng lão đó (nghĩ rằng) ‘Ta đã đạt được phận sự tột đỉnh’; phóng lên bầu trời; rửa mặt ở hồ Anotatta; nhận vật thực từ vùng Bắc Kuru; đi đến rồi nói: ‘Này các ông! Hãy ăn vật thực này rồi hành Sa Môn Pháp một cách không dễ duôi!’ Các vị kia đã nói rằng: ‘Này ông! Không!’ (Trưởng lão) ‘Chúng ta đã có sự thoả thuận như vầy: ‘Người nào gặt hái thành tựu trước tiên, thì mang về vật thực; những người còn lại ăn vật thực được đem về bởi người đó rồi có thể hành Sa Môn Pháp.’ Các ông hãy đạt đến phận sự tột đỉnh nhờ sự hỗ trợ của tôi!’ (Các vị kia) ‘Nếu không có sự hỗ trợ; chúng tôi vẫn có thể đạt đến phận sự tột đỉnh! Đó chỉ là điều cản trở cho chúng tôi. Ông đi đi!’ Vị trưởng lão ấy đi một cách thoải mái rồi viên tịch vào lúc hết tuổi thọ. 

—–

(i) Tiếng gọi Sa Môn tức tiếng gọi ‘Tỳ Kheo’. Vị ấy tự xem mình là người thực hành Phạm Hạnh lâu hơn vị Tỳ Kheo đó, cho nên tư cách Sa Môn của vị ấy cao hơn, không có lý do gì để đảnh lễ người thấp hơn mình.

17

punadivase anuthero 

anāgāmiphalaṃ sacchakāsi, tassa abhiññāyo āgamiṃsu. sopi tatheva piṇḍapātaṃ āharitvā 

tehi paṭikkhitto yathāphāsukaṃ 

gantvā āyupariyosāne suddhāvāse 

nibbatti. so suddhāvāse ṭhatvā te 

sahāye olokento, eko tadāva parinibbuto, eko 

adhunā bhagavato santike 

ariyabhūmiṃ patto, 

ekolābhasakkāraṃ nissāya, “ahaṃ arahā”ti cittaṃ uppādetvā 

suppārakapaṭṭane vasatīti disvā taṃ upasaṅkamitvā, “na tvaṃ arahā, na 

arahattamaggaṃ paṭipanno, gaccha bhagavantaṃ 

upasaṅkamitvā dhammaṃ 

suṇāhī”ti uyyojesi. sopi antaraghare bhagavantaṃ 

ovādaṃ yācitvā, “tasmā tiha te 

bāhiya evaṃ sikkhitabbaṃ diṭṭhe diṭṭhamattaṃ hotū”ti (udā. 10) bhagavatā 

saṃkhittena ovadito ariyabhūmiṃ sampāpuṇi.

Vào ngày kế tiếp, vị phó trưởng lão thực chứng Bất Lai Quả; các thắng trí xuất hiện cho vị ấy. Vị ấy cũng mang về vật thực hệt như thế; bị từ chối bởi các vị kia; đi một cách thoải mái rồi sinh lên cõi Tịnh Cư vào lúc hết tuổi thọ. Vị ấy ở cõi Tịnh Cư và quan sát những bằng hữu đó: một vị viên tịch ngay khi đó; một vị đạt đến thánh vực trong sự hiện diện của Đức Thế Tôn hiện tại; một vị nương vào lợi lộc & sự tôn vinh, khởi tâm rằng ‘Ta là Bậc A La Hán’ rồi ngụ ở cảng Suppāraka; (vị Bất Lai) thấy như vậy, tiếp cận vị đó (vị tưởng mình là A La Hán) rồi khích lệ rằng: ‘Ông không phải là Bậc A La Hán. Ông chưa thực hành A La Hán Đạo. Hãy đi! Đến Đức Thế Tôn mà nghe Pháp!’ Vị đó cũng khẩn cầu Đức Thế Tôn giáo huấn ở trong làng; được Đức Thế Tôn giáo huấn một cách tóm lược rằng: ‘Vậy thì bây giờ, này Bāhiya! Ông hãy rèn luyện rằng: ‘Chỉ mỗi cái thấy tồn tại trong cái thấy’’ (udā. 10); rồi đạt đến thánh vực.

18

tato añño eko atthi, so kuhinti 

olokento andhavane 

sekkhapaṭipadaṃ pūrayamāno viharatīti disvā 

cintesi — “sahāyakassa santike 

gamissāmīti, gacchantena pana tucchahatthena agantvā kiñci paṇṇākāraṃ gahetvā gantuṃ vaṭṭati, sahāyo kho pana me 

nirāmiso pabbatamatthake vasanto mayā ākāse ṭhatvā dinnaṃ 

piṇḍapātampi aparibhuñjitvā 

samaṇadhammaṃ akāsi, idāni āmisapaṇṇākāraṃ kiṃ gaṇhissati? dhammapaṇṇākāraṃ gahetvā 

gamissāmī”ti brahmaloke ṭhitova ratanā

vaḷiṃ ganthento viya pannarasa 

pañhe vibhajitvā taṃ dhammapaṇṇākāraṃ ādāya 

āgantvā sahāyassa avidūre ṭhatvā attano samaṇasaññāsamudācāravasena 

taṃ anabhivādetvāva, “bhikkhu 

bhikkhū”ti ālapitvā 

ayaṃ vammikotiādimāha. tattha 

turitālapanavasena bhikkhu 

bhikkhūti āmeḍitaṃ veditabbaṃ. yathā vā ekaneva tilakena nalāṭaṃ na sobhati, taṃ parivāretvā aññesupi dinnesu 

phullitamaṇḍitaṃ viya sobhati, evaṃ ekenevapadena vacanaṃ na sobhati, parivārikapadena saddhiṃ phullitamaṇḍitaṃ viya sobhatīti taṃ parivārikapadavasena 

vacanaṃ phullitamaṇḍitaṃ viya 

karontopi evamāha.

Kế đó, vị Bất Lai quan sát (với suy nghĩ rằng) ‘Còn một (bằng hữu) khác. Vị ấy ở đâu?’ và nhìn thấy: vị ấy đang sống ở rừng Andha để viên mãn con đường thực hành của Bậc Hữu Học; rồi nghĩ rằng ‘Ta sẽ đi đến bên cạnh bằng hữu đó. Nhưng thật không phù hợp khi ta đi đến với đôi tay trống rỗng; ta nên đi đến mang theo món quà nào đó. Thế nhưng, vị bằng hữu này của ta khi đang sống ở đỉnh núi mà không có thực phẩm đã hành Sa Môn Pháp mà không thọ dụng ngay cả vật thực được dâng bởi ta khi ta đứng trên không. Giờ đây, vị ấy sẽ nhận một món quà vật chất chăng? Ta sẽ đi đến mang theo một món quà Pháp.’ Ngay khi ở cõi Phạm Thiên, vị trời ấy phân loại 15 câu hỏi giống như xâu một chuỗi ngọc; đi đến (vị bằng hữu) mang theo món quà Pháp đó; đứng ở chỗ không xa vị bằng hữu; không hề đảnh lễ vị bằng hữu đó do sự hiện diện của ý thức về (tư cách) Sa Môn của bản thân mình; gọi ‘Này Tỳ Kheo! Này Tỳ Kheo!’ rồi nói rằng: ‘Tổ mối này’ vân vân. Ở đó, tiếng gọi lặp lại ‘Này Tỳ Kheo! Này Tỳ Kheo!’ nên được hiểu là tiếng gọi vội vàng. Hoặc giống như vầng trán không toả sáng chỉ bằng một món trang sức, mà sau khi được phủ bởi cả những món (trang sức) khác được đặt lên, nó toả sáng như một món đồ được tô điểm rực rỡ; như vậy, lời nói không toả sáng chỉ bằng một từ, mà nó toả sáng cùng với từ đi liền theo như một món đồ được tô điểm rực rỡ. (Vị trời) đã nói lời nói đó như vậy theo lối (vận dụng) từ đi liền theo cũng giống như làm cho một món đồ được tô điểm rực rỡ(i).

—–

(i) Tức lặp lại từ ‘Tỳ Kheo’ cho lời nói thêm trang trọng.     

19

♦ ayaṃ vammikoti purato ṭhito 

vammiko nāma natthi, desanāvasena pana purato ṭhitaṃ 

dassento viya ayanti āha. laṅginti satthaṃ ādāya khaṇanto palighaṃ addasa. ukkhipa laṅgiṃ abhikkhaṇa sumedhāti tāta, 

paṇḍita, laṅgī nāma rattiṃ dhūmāyati divā 

pajjalati. ukkhipeta paraṃ parato 

khaṇāti. evaṃ sabbapadesu attho daṭṭhabbo. uddhumāyikanti maṇḍūkaṃ. 

caṅkavāranti khāraparissāvanaṃ. kummanti 

kacchapaṃ. asisūnanti 

maṃsacchedakaṃ asiñceva adhikuṭṭanañca. 

maṃsapesinti 

nisadapotappamāṇaṃ allamaṃsapiṇḍaṃ. nāganti 

sumanapupphakalāpasadisaṃ 

mahāphaṇaṃ tividhasovatthikaparikkhittaṃ 

ahināgaṃ addasa. mā nāgaṃ 

ghaṭṭesīti daṇḍakakoṭiyā vā 

vallikoṭiyā vā paṃsucuṇṇaṃ vā 

pana khipamāno mā nāgaṃ ghaṭṭayi. namo karohi nāgassāti uparivātato apagamma 

suddhavatthaṃ nivāsetvā nāgassa namakkāraṃ 

karohi. nāgena adhisayitaṃ 

dhanaṃ nāma yāva sattamā kulaparivaṭṭā khādato na 

khīyati, nāgo te adhisayitaṃ 

dhanaṃ dassati, tasmā namo 

karohi nāgassāti. ito vā pana 

sutvāti yathā dukkhakkhandhe 

itoti sāsane nissakaṃ, na 

tathā idha. idha pana devaputte 

nissakkaṃ, tasmā ito vā panāti mama vā pana santikā 

sutvāti ayamettha attho.

[Tổ mối này – ayaṃ vammiko], tức: thực ra, không có tổ mối nào ở trước mặt (các vị đó). Thế nhưng, theo lối thuyết giảng, vị trời đã nói [(tổ mối) này – ayaṃ] như thể chỉ đến (một tổ mối) ở trước mặt. [Thanh chắn – laṅgī], tức: (người trí) lấy dao đào và nhìn thấy một vật chắn. [Này người trí! Hãy ném thanh chắn! Hãy đào!], tức: ‘Này anh! Này bậc trí! Quả thật, thanh chắn nhả khói ban đêm và bốc cháy ban ngày; hãy ném nó! Hãy đào tới nữa!’ Ý nghĩa nên được hiểu như vậy ở mọi từ (liên quan). [Con ếch – uddhumāyikā], tức: [con ếch – maṇḍūka]. [Cái sàng – caṅkavāra], tức: (chỉ đến) [một loại dụng cụ lọc – khāraparissāvana]. [Con rùa – kumma], tức: [con rùa – kacchapa]. [Dao thớt (của đồ tể) – asisūnā], tức: con dao chặt thịt & cái thớt (để chặt thịt). [Một nhúm thịt – maṃsapesi], tức: một nhúm thịt tươi cỡ hòn đá. [Con rồng – nāga], tức: (người trí) đã thấy một con rồng giống như rắn – có mang lớn giống như một khối hoa Sumana, được vây phủ bởi 3 loại Sovatthika(i). [Ông chớ hại con rồng], tức: ông chớ hại con rồng bằng mũi kiếm, mũi cây Vallī hay bằng cách ném cát bụi (vào nó). [Ông hãy thực hiện việc đảnh lễ đến con rồng – namo karohi nāgassa], tức: ông hãy đi khỏi theo hướng nghịch chiều gió(ii); mặc y phục sạch rồi thực hiện hành vi đảnh lễ đến con rồng. Kho báu mà con rồng ngồi lên suốt tận 7 thế hệ không hao hụt do (nó) không gặm mất (kho báu)(iii). Con rồng sẽ chỉ kho báu mà nó ngồi lên cho ông; do đó, hãy thực hiện việc đảnh lễ đến con rồng. [Hoặc (người) nghe từ đó – ito vā pana sutvā], tức: giống như từ [khỏi đây – ito] biểu thị ý niệm ‘rời xa’ trong bối cảnh khổ uẩn hay trong bối cảnh giáo lý; nhưng ở đây không như thế. Mà ở đây, trong bối cảnh vị thiên tử, (nó biểu thị) ý niệm ‘bắt nguồn từ’. Do đó, [hoặc… từ đó – ito vā pana], tức: hoặc (như ông) nghe (các câu hỏi này) từ ta. Đó là ý nghĩa ở câu kinh này.  

—–

(i) Một kiểu vằn vện trên mang rắn.

(ii) [Nghịch chiều gió – uparivātato], không rõ ý, có thể ẩn dụ.

(iii) Hình tượng rồng canh giữ kho báu hết sức phổ biến trong văn học dân gian thế giới.    

20

♦ 251. Cātummahābhūtikassāti catumahābhūtamayassa. kāyassetaṃ adhivacananti sarīrassa nāmaṃ. 

yatheva hi bāhirako vammiko, vamatīti vantakoti vantussayoti 

vantasinehasambandhoti catūhi 

kāraṇehi vammikoti vuccati. so hi 

ahimaṅgusaundūragharagoḷikādayo nānappakāre pāṇake vamatīti vammiko. upacikāhi vantakoti 

vammiko. upacikāhi vamitvā 

mukhatuṇḍakena ukkhittapaṃsucuṇṇena 

kaṭippamāṇenapi 

porisappamāṇenapi ussitoti 

vammiko. upacikāhi vantakheḷasinehena 

ābaddhatāya sattasattāhaṃ deve 

vassantepi na vippakiriyati, nidāghepi tato 

paṃsumuṭṭhiṃ gahetvā tasmiṃ 

muṭṭhinā pīḷiyamāne sineho 

nikkhamati, evaṃ vantasinehena 

sambaddhoti vammiko. evamayaṃ kāyopi, “akkhimhā 

akkhigūthako”tiādinā nayena 

nānappakārakaṃ asucikalimalaṃ vamatīti 

vammiko. buddhapaccekabuddhakhīṇāsavā 

imasmiṃ attabhāve nikantipariyādānena 

attabhāvaṃ chaḍḍetvā gatāti 

ariyehi vantakotipi vammiko. yehi cāyaṃ tīhi 

aṭṭhisatehi ussito nhārusambaddho maṃsāvalepano allacammapariyonaddho chavirañjito satte vañceti, taṃ 

sabbaṃ ariyehi vantamevāti vantussayotipi 

vammiko. “taṇhā janeti purisaṃ, 

cittamassavidhāvatī”ti (saṃ. ni. 1.55) evaṃ taṇhāya janitattā ariyehi vanteneva taṇhāsinehena sambaddho ayanti 

vantasinehena sambaddhotipi 

vammiko. Yathā ca vammikassa anto 

nānappakārā pāṇakā tattheva 

jāyanti, uccārapassāvaṃ karonti, gilānā sayanti, matā 

patanti. iti so tesaṃ sūtigharaṃ 

vaccakuṭi gilānasālā susānañca 

hoti. evaṃ 

khattiyamahāsālādīnampi kāyo 

ayaṃ gopitarakkhito maṇḍitappasādhito 

mahānubhāvānaṃ kāyoti acintetvā chavinissitā pāṇā cammanissitā 

pāṇā maṃsanissitā pāṇā nhārunissitā pāṇā aṭṭhinissitā 

pāṇā aṭṭhimiñjanissitā pāṇāti evaṃ 

kulagaṇanāya asītimattāni kimikulasahassāni antokāyasmiṃyeva jāyanti, uccārapassāvaṃ karonti, gelaññena āturitāni sayanti, matāni patanti, iti ayampi tesaṃ pāṇānaṃ sūtigharaṃ vaccakuṭi gilānasālā susānañca hotīti “vammiko” tveva saṅkhaṃ gato. tenāha bhagavā — “vammikoti kho, bhikkhu, imassa 

cātumahābhūtikassa kāyassetaṃ 

adhivacanan”ti.

[Từ tứ đại – cātummahābhūtikassa], tức: được tạo ra từ tứ đại. [Đó là tên gọi thân – kāyassetaṃ adhivacanaṃ], tức: tên gọi cho thân thể; bởi vì (thân thể) giống như tổ mối (được quan sát từ) bên ngoài. (Thân thể) được gọi là [tổ mối – vammika] do 4 nguyên nhân: (1) ‘(thân thể) phóng ra’; (2) ‘(thân thể) được phóng ra’; (3) ‘(thân thể) vốn là cái được dựng lên đã được phóng ra’; (4) ‘(thân thể) được gắn kết bằng chất nhờn đã được phóng ra’. Quả thật, nó (tổ mối) phóng ra các côn trùng bò sát đa dạng như rắn, cầy, chuột, thằn lằn vân vân; (nên được gọi là) tổ mối(i). Nó được phóng ra bởi các con mối; (nên được gọi là) tổ mối(ii). Sau khi được phóng ra bởi các con mối; nó được các con vật có miệng hay mỏ đùn lên bằng khối cát bụi có kích thước đến thắt lưng hay có kích thước bằng cả con người; (nên nó được gọi là) tổ mối. Khi trời đang mưa suốt nhiều tuần; (tổ mối) không bị rã do sự kết dính bởi chất nhờn từ nước bọt được phóng ra bởi các con mối. Còn vào mùa hè, nếu người ta lấy đi một nắm bụi đất từ đó (từ tổ mối); rồi dùng nắm tay ép vào đó (vào nắm bụi đất) thì chất nhờn chảy ra; nó được liên kết bằng chất nhờn được phóng ra như vậy; (nên được gọi là) tổ mối. Thân thể này cũng như vậy. Nó (thân thể) là tổ mối bởi vì: nó phóng ra chất nhơ uế, gớm ghiếc, bất tịnh đa dạng theo phương thức như ‘Chất thải của con mắt (chảy ra) từ con mắt’ vân vân. Nó (thân thể) là tổ mối bởi vì: nó được phóng ra bởi các bậc Thánh theo phương thức ‘Chư Phật, Độc Giác Phật & các Bậc Lậu Tận xuất hiện sau khi ném bỏ sự tồn tại cá nhân bằng cách huỷ tan sự tham muốn đối với sự tồn tại cá nhân này.’(iii). Và (thân thể) đó – vốn được dựng lên bởi 300 cái xương nào, được kết nối bởi gân, được trát vào bằng thịt, được bao phủ bằng lớp da tươi(iv), được nhuộm màu ở lớp da ngoài – đánh lừa được chúng sinh; thì tất cả (khối xương) đó đã bị phóng ra hoàn toàn bởi các bậc Thánh(v). Do đó, nó (thân thể) là tổ mối theo nghĩa là cái được dựng lên đã được phóng ra. ‘Tham ái sinh ra con người; tâm của con người thì rong ruổi’ (saṃ. ni. 1.55); như vậy, (thân thể) này được gắn kết bằng chất nhờn là tham ái – hiểu theo nghĩa là được sinh ra bởi tham ái – (chất nhờn đó) đã bị phóng ra bởi các bậc Thánh. Do đó, nó (thân thể) là tổ mối bởi nó được gắn kết bằng chất nhờn đã được phóng ra. Và giống như ở bên trong tổ mối, các con côn trùng đa dạng sinh ra, tiểu tiện & đại tiện, nằm bệnh, khi chết rớt xuống ngay tại đó; như thế, (tổ mối) đó là ngôi nhà sinh sản, là cái lều phân, là căn phòng bệnh và là nghĩa địa của chúng. Cũng vậy; bên trong chính thân thể này, các con sâu với số lượng chủng loại khoảng 80.000 – như: các con sâu sống ở lớp da ngoài, các con sâu sống ở lớp da tươi, các con sâu sống ở phần thịt, các con sâu sống ở phần gân, các con sâu sống ở phần xương, các con sâu sống ở phần tuỷ – (chúng) sinh ra, tiểu tiện & đại tiện, nằm xuống do mệt mỏi bởi bệnh tật, rớt xuống khi chết mà không biết rằng ‘Thân này được bảo vệ bởi những căn phòng lớn của giai cấp Khattiya vân vân, được tô điểm, trang điểm bởi sự hào nhoáng’; như thế, (thân thể) này cũng có tên gọi là ‘tổ mối’ bởi nó là ngôi nhà sinh sản, là cái lều phân, là căn phòng bệnh và là nghĩa địa của các sinh vật đó. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Này Tỳ Kheo! Quả thật, ‘tổ mối’ – đó là tiếng gọi thân từ tứ đại này.’

—–

(i) Tức tổ mối trong thiên nhiên còn là nơi trú ngụ, lai vãng của nhiều loài vật khác, không riêng gì loài mối. 

(ii) Con mối xây tổ bằng cách phun nước bọt rồi trộn với đất & phân.

(iii) Tức ẩn dụ: các bậc Thánh phóng thân thể này ra tức ‘ném bỏ’ thân thể do không tham muốn sự tồn tại nữa.  

(iv) Tức lớp da bên trong.

(v) Tức các bậc Thánh không dính mắc vào thân thể nữa thì đương nhiên không dính mắc vào bộ xương; khi Niết Bàn hoàn toàn, các Ngài xả bỏ hoàn toàn bộ xương.

21

♦ mātāpettikasambhavassāti 

mātito ca pitito ca nibbattena 

mātāpettikena sukkasoṇitena sambhūtassa. odanakummāsūpacayassāti 

odanena ceva kummāsena ca upacitassa 

vaḍḍhitassa. aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṃsanadhammassāti ettha ayaṃ kāyo hutvā 

abhāvaṭṭhena aniccadhammo. Duggandhavighātatthāya tanuvilepanena 

ucchādanadhammo. aṅgapaccaṅgābādhavinodanatthāya khuddakasambāhanena 

parimaddanadhammo. daharakāle vā ūrūsu sayāpetvā gabbhavāsena dussaṇṭhitānaṃ 

tesaṃ tesaṃ aṅgānaṃ saṇṭhānasampādanatthaṃ añchanapīḷanādivasena parimaddanadhammo. evaṃ pariharatopi ca bhedanaviddhaṃ sanadhammo bhijjati ceva vikirati ca, evaṃ sabhāvoti attho. Tattha mātāpettikasambhavaodanakummāsūpacayaucchādanaparimaddanapadehi samudayo kathito, 

aniccabhedaviddhaṃ sanapadehi atthaṅgamo. evaṃ 

sattahipi padehi 

cātumahābhūtikassa kāyassa 

uccāvacabhāvo 

vaḍḍhiparihāni samudayatthaṅgamo kathitoti veditabbo.

[Có nguồn gốc từ mẹ & cha – mātāpettikasambhava], tức: sinh ra do máu và chất màu trắng(i) thuộc về mẹ & cha, phát xuất từ mẹ và từ cha. [Có sự tăng trưởng nhờ cơm & cháo – odanakummāsūpacaya], tức: tăng trưởng, được bảo dưỡng nhờ chính cơm & cháo. [Có tính vô thường, chà xát, cọ xát, tan rã, hoại diệt  – aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṃsanadhamma], tức: ở đây, thân này tồn tại rồi [có tính vô thường – aniccadhamma] theo phương diện là không tồn tại nữa; [có tính chà xát – ucchādanadhamma] bằng chất bôi thân thể nhằm mục đích trừ mùi hôi; [có tính cọ xát – parimaddanadhamma] bằng việc xoa bóp với mật ong Khuddaka nhằm mục đích trừ các bệnh ở các chi phần cơ thể; hoặc (thân thể) có tính cọ xát theo nghĩa là: vào giai đoạn trẻ con, người mẹ cho (đứa con) ngủ trên đùi mình, rồi ấn và kéo (các chi phần) vân vân nhằm mục đích định hình các chi phần này chi phần kia có hình thể kém do việc sống trong thai bào (trước kia). Và đối với cả người gìn giữ (thân thể) như vậy, (thân thể ấy) vẫn tan rã và phân tán do nó có tính tan rã và hoại diệt; tự tính (của nó) là như thế. Ý nghĩa là như vậy. Ở đoạn kinh đó, sự phát xuất (của thân thể) đã được nói thông qua các từ: nguồn gốc từ mẹ & cha, sự tăng trưởng nhờ cơm & cháo, chà xát, cọ xát; sự tiêu tan (của thân thể) đã được nói thông qua các từ: vô thường, tan rã, hoại diệt; như vậy, sự phát xuất & sự tiêu tan, sự tăng trưởng & sự suy vong, đặc tính đa dạng của thân thể từ tứ đại đã được nói thông qua cả 7 từ đó. Điều đó nên được hiểu như vậy.         

—–

(i) [Chất trắng – sukka] có lẽ là tinh dịch.

22

♦ divā kammanteti divā 

kattabbakammante. dhūmāyanāti ettha ayaṃ dhūmasaddo kodhe taṇhāya 

vitakke pañcasu kāmaguṇesu 

dhammadesanāya pakatidhūmeti imesu atthesu 

vattati. “kodho dhūmo 

bhasmanimosavajjan”ti (saṃ. ni. 1.165) ettha hi kodhe 

vattati. “icchādhūmāyitā sattā”ti 

ettha taṇhāya. “tena kho pana samayena aññataro bhikkhu bhagavato avidūre 

dhūmāyanto nisinno hotī”ti ettha vitakke.

[Các công việc vào ban ngày – divā kammante], tức: các công việc nên được làm vào ban ngày. [Sự nhả khói – dhūmāyanā], tức: ở đây, tiếng [khói – dhūma] đó xuất hiện theo các nghĩa này: [sự tức giận – kodha], [tham ái – taṇhā], [tư duy – vitakka], [5 loại dục – pañca kāmaguṇa], [pháp thoại – dhammadesanā], [khói tự nhiên – pakatidhūma]. ‘Sự tức giận là khói; lời nói dối là tro’ (saṃ. ni. 1.165); ở đây, quả thật, tiếng đó xuất hiện theo nghĩa [sự tức giận – kodha]. ‘Các chúng sinh bị nhả khói bởi sự ước muốn’; ở đây, (tiếng đó xuất hiện) theo nghĩa [tham ái – taṇhā]. ‘Nhưng quả thật, vào lúc đó, một vị Tỳ Kheo nọ đang ngồi không xa Đức Thế Tôn và toả khói’; ở đây, (tiếng đó xuất hiện) theo nghĩa [tư duy – vitakka].

23

“paṅko ca kāmā palipo ca kāmā, bhayañca metaṃ timūlaṃ pavuttaṃ.

rajo ca dhūmo ca mayā pakāsitā.

hitvā tuvaṃ pabbaja brahmadattā”ti. (jā. 1.6.14) —

‘Các dục là bùn và các dục là bãi lầy.

Và sự sợ hãi có 3 gốc rễ này đã được nói bởi ta.

Bụi và khói đã được giải thích bởi ta.

Sau khi từ bỏ (chúng), Ngài hãy xuất gia, hỡi Brahmadatta!’ (jā. 1.6.14).

24

ettha pañcakāmaguṇesu. 

“dhūmaṃ kattā hotī”ti (ma. ni. 1.349) ettha dhammadesanāya. “dhajo rathassa paññāṇaṃ, dhūmo 

paññāṇamaggino”ti (saṃ. ni. 1.72) ettha pakatidhūme. idha panāyaṃ vitakke adhippeto. 

tenāha“ayaṃ rattiṃ 

dhūmāyanā”ti.

Ở đây, (tiếng đó xuất hiện) theo nghĩa [5 loại dục – pañcakāmaguṇa]. ‘(Vị ấy) không tạo ra khói’ (ma. ni. 1.349); ở đây, (tiếng đó xuất hiện) theo nghĩa [Pháp thoại – dhammadesanā]. ‘Lá cờ là đặc điểm của cỗ xe; khói là đặc điểm của lửa’ (saṃ. ni. 1.72); ở đây, (tiếng đó xuất hiện) theo nghĩa [khói tự nhiên – pakatidhūma]. Thế nhưng, ở đoạn kinh này, (tiếng đó) được hàm ý là [tư duy – vitakka]. Do đó, (Đức Phật) đã nói rằng: ‘(Tổ mối) này nhả khói vào ban đêm’.

25

♦ tathāgatassetaṃ adhivacananti tathāgato hi sattannaṃ 

dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo nāma. 

yathāha — “sattannaṃ kho, 

bhikkhu, dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo. katamesaṃ 

sattannaṃ? rāgo bāhito hoti, 

doso… moho…māno… 

sakkāyadiṭṭhi… vicikicchā… 

sīlabbataparāmāso bāhito hoti. 

imesaṃ bhikkhu sattannaṃ dhammānaṃ 

bāhitattā brāhmaṇo”ti (cūḷani.mettagūmāṇavapucchāniddesa 28). 

sumedhoti sundarapañño. 

sekkhassātiettha sikkhatīti 

sekkho. yathāha — “sikkhatīti 

kho, bhikkhu, tasmā sekkhoti vuccati. kiñca sikkhati? 

adhisīlampi sikkhati, adhicittampi sikkhati, adhipaññampisikkhatī”ti (a. ni. 3.86).

[Đó là ẩn dụ cho Như Lai – tathāgatassetaṃ adhivacanaṁ], tức: quả thật, Đức Như Lai có tên gọi là [Bà La Môn – brāhmaṇa] do Ngài đã loại bỏ 7 pháp; giống như Ngài đã nói: ‘Quả thật, này Tỳ Kheo! Vị Bà La Môn (tồn tại) do trạng thái loại bỏ 7 pháp. 7 pháp gì? Luyến ái đã bị loại bỏ; sân… si… mạn… thân kiến… hoài nghi… giới cấm thủ đã bị loại bỏ. Này Tỳ Kheo! Vị Bà La Môn (tồn tại) do trạng thái loại bỏ 7 pháp đó’ (cūḷani. mettagūmāṇavapucchāniddesa 28). [Người trí – sumedha], tức: người có trí tuệ tốt đẹp. [Cho vị hữu học – sekkhassa], tức: ở đây, [vị hữu học – sekkha] (chỉ đến) ‘vị đang học tập’; giống như Ngài đã nói: ‘Quả thật, này Tỳ Kheo! ‘Vị ấy đang học tập’; do đó, (vị ấy) được gọi là ‘vị hữu học’. Và vị ấy đang học tập cái gì? Vị ấy đang học tập Tăng Thượng Giới; vị ấy đang học tập Tăng Thượng Tâm; vị ấy đang học tập Tăng Thượng Tuệ’ (a. ni. 3.86). 

26

♦ paññāya adhivacananti 

lokiyalokuttarāya paññāya etaṃ 

adhivacanaṃ, na āvudhasatthassa. 

vīriyārambhassāti 

kāyikacetasikavīriyassa. taṃ paññāgatikameva hoti. lokiyāya 

paññāya lokiyaṃ, lokuttarāya 

paññāya lokuttaraṃ. ettha panāyaṃ 

atthadīpanā —

[Ẩn dụ cho Trí Tuệ – paññāya adhivacanaṁ], tức: đó là ẩn dụ cho Trí Tuệ hiệp thế & siêu thế; đó không phải tiếng gọi cho thanh kiếm vũ khí.

[Cho sự khởi tinh tấn – vīriyārambhassa], tức: cho tinh tấn thuộc về thân & thuộc về tâm. Chính (tinh tấn) đó dẫn tới Trí Tuệ. (Tinh tấn) hiệp thế dẫn tới Trí Tuệ hiệp thế; (tinh tấn) siêu thế dẫn tới Trí Tuệ siêu thế. Nhưng ở đây, đây là sự giải thích ý nghĩa:

27

eko kira jānapado brāhmaṇo 

pātova māṇavakehi saddhiṃ 

gāmato nikkhamma divasaṃ 

araññe mante vācetvā sāyaṃ 

gāmaṃ āgacchati. antarāmagge 

ca eko vammiko atthi. so rattiṃ 

dhūmāyati, divā pajjalati. brāhmaṇo antevāsiṃ sumedhaṃ māṇavaṃ āha — “tāta, ayaṃ vammiko rattiṃ 

dhūmāyati, divā pajjalati, vikāramassa passissāma, bhinditvā naṃ cattāro koṭṭhāse 

katvā khipāhī”ti. so sādhūti 

kudālaṃ gahetvā samehi pādehi 

pathaviyaṃ patiṭṭhāya tathā akāsi. tatra ācariyabrāhmaṇo viya 

bhagavā. sumedhamāṇavako viya sekkho bhikkhu. vammiko viya kāyo. “tāta, ayaṃ 

vammiko rattiṃ dhūmāyati, divā 

pajjalati, vikāramassa passissāma, 

bhinditvā naṃ cattāro koṭṭhāse 

katvā khipāhī”ti brāhmaṇena vuttakālo viya, “bhikkhu cātumahābhūtikaṃ 

kāyaṃ cattāro koṭṭhāse katvā pariggaṇhāhī”ti bhagavatā 

vuttakālo. tassa sādhūti kudālaṃ 

gahetvā tathākaraṇaṃ viya sekkhassa 

bhikkhuno, “yo vīsatiyā 

koṭṭhāsesu thaddhabhāvo, ayaṃ pathavīdhātu. yo dvādasasu koṭṭhāsesu ābandhanabhāvo, 

ayaṃ āpodhātu. yo catūsu koṭṭhāsesu 

paripācanabhāvo, ayaṃ tejodhātu. yo chasu koṭṭhāsesu vitthambhanabhāvo, ayaṃ 

vāyodhātū”ti evaṃ 

catudhātuvavatthānavasena kāyapariggaho veditabbo.

Quả thật, một vị Bà La Môn thuộc một xứ sở nọ vào sáng sớm rời khỏi làng cùng với các nam thanh niên; dạy các bài chú ở trong rừng suốt ban ngày; rồi vào buổi chiều, đi về làng. Và ở giữa đường, có một tổ mối. (Tổ mối) đó nhả khói vào ban đêm; bốc cháy vào ban ngày. Vị Bà La Môn đã nói với nam thanh niên đệ tử có trí rằng: ‘Này con thân mến! Tổ mối này nhả khói vào ban đêm; bốc cháy vào ban ngày; chúng ta có thể thấy đặc tính của nó; hãy phá vỡ nó thành 4 phần rồi ném đi!’ Người kia (người đệ tử) (đáp lời) ‘Lành thay!’; lấy cái cuốc; trụ vững trên đất bằng đôi chân thăng bằng; rồi làm như thế. Ở đó, vị Bà La Môn bậc thầy thì giống như Đức Thế Tôn; nam thanh niên có trí thì giống như vị Tỳ Kheo hữu học; tổ mối thì giống như thân thể. Thời điểm mà vị Bà La Môn nói: ‘Này con thân mến! Tổ mối này nhả khói vào ban đêm; bốc cháy vào ban ngày; chúng ta có thể thấy đặc tính của nó; hãy phá vỡ nó thành 4 phần rồi ném đi!’ thì giống như thời điểm mà Đức Thế Tôn nói: ‘Này Tỳ Kheo! Hãy nắm bắt thân thể từ tứ đại theo phương thức tách nó thành 4 phần!’. Hành động như thế của vị nam thanh niên đệ tử sau khi nói ‘Lành thay!’ và lấy cái cuốc thì giống như hành động của vị Tỳ Kheo hữu học (theo cách thức này): ‘Cái nào là trạng thái cứng chắc ở 20 phần (của thân thể); thì cái đó là yếu tố đất. Cái nào là trạng thái kết dính ở 12 phần (của thân thể); thì cái đó là yếu tố nước. Cái nào là trạng thái biến đổi thuộc 4 loại; thì cái đó là yếu tố lửa. Cái nào là trạng thái trương phồng thuộc 6 loại; thì cái đó là yếu tố gió.’ Sự nắm bắt thân nên được hiểu theo phương thức phân tích 4 yếu tố như thế.

28

♦ laṅgīti kho, bhikkhūti kasmā 

bhagavā avijjaṃ laṅgīti katvā 

dassesīti? yathā hi nagarassa 

dvāraṃ pidhāya palighe yojite 

mahājanassa gamanaṃ 

pacchijjati, ye nagarassa anto, te antoyeva honti. ye bahi, te bahiyeva. evameva yassa ñāṇamukhe avijjālaṅgī patati, tassa nibbānasampāpakaṃ 

ñāṇagamanaṃ pacchijjati, tasmā avijjaṃ laṅgīti 

katvā dassesi. pajaha avijjanti 

ettha kammaṭṭhānauggahaparipucchāvasena avijjāpahānaṃ kathitaṃ.

[Quả thật này Tỳ Kheo! Thanh chắn…], tức: tại sao Đức Thế Tôn lại trình bày Vô Minh bằng cách (gọi nó là) ‘thanh chắn’? Quả thật, giống như khi cổng thành bị đóng lại; thanh chắn cửa được cài; lộ trình của đám đông bị ngăn chặn; những người nào ở bên trong thành, thì những người đó chỉ ở bên trong; những người nào ở bên ngoài thành, thì những người đó chỉ ở bên ngoài. Cũng hệt vậy, thanh chắn Vô Minh rơi xuống cổng vào Trí của người nào; thì lộ trình Trí giúp đạt tới Niết Bàn của người đó bị ngăn chặn. Do đó, (Đức Thế Tôn) đã trình bày Vô Minh bằng cách (gọi nó là) ‘thanh chắn’. [Hãy từ bỏ Vô Minh], tức: ở đây, sự từ bỏ Vô Minh được nói theo nghĩa là sự học tập và đặt câu hỏi về đề mục thiền.               

29

♦ uddhumāyikāti kho, bhikkhūti ettha uddhumāyikamaṇḍūko 

nāma no mahanto, nakhapiṭṭhippamāṇo 

hoti, purāṇapaṇṇantare vā 

gacchantare vāvalliantare vā 

vasati. so daṇḍakoṭiyā vā 

vallikoṭiyā vā paṃsucuṇṇakena 

vā ghaṭṭito āyamitvā mahanto 

parimaṇḍalo 

beluvapakkappamāṇo hutvā cattāro pāde ākāsagate katvā pacchinnagamano hutvā 

amittavasaṃ yāti, kākakulalādibhattameva hoti. evameva ayaṃ kodho paṭhamaṃ 

uppajjanto cittāvilamattakova hoti. tasmiṃ 

khaṇe aniggahito vaḍḍhitvā 

mukhavikulanaṃ pāpeti. tadā aniggahito 

hanusañcopanaṃ pāpeti. tadā 

aniggahito pharusavācānicchāraṇaṃ pāpeti. tadā aniggahito disāvilokanaṃ 

pāpeti. Tadā aniggahito 

ākaḍḍhanaparikaḍḍhanaṃ pāpeti. tadā aniggahito pāṇinā leḍḍudaṇḍasatthaparāmasanaṃ 

pāpeti. tadā aniggahito daṇḍasatthābhinipātaṃ pāpeti. tadā aniggahito paraghātanampi attaghātanampi pāpeti. vuttampi 

hetaṃ — “yato ayaṃ kodho 

paraṃ ghātetvā attānaṃ ghāteti, ettāvatāyaṃ 

kodho paramussadagato hoti paramavepullappatto”ti. tattha 

yathā uddhumāyikāya catūsu 

pādesu ākāsagatesu gamanaṃ 

pacchijjati, uddhumāyikā 

amittavasaṃ gantvā kākādibhattaṃ hoti, evameva kodhasamaṅgīpuggalo 

kammaṭṭhānaṃ gahetvā vaḍḍhetuṃ na sakkoti, amittavasaṃ yāti, sabbesaṃ 

mārānaṃ yathākāmakaraṇīyo hoti. tenāha 

bhagavā — “uddhumāyikāti 

kho, bhikkhu, kodhūpāyāsassetaṃ 

adhivacanan”ti. tattha 

balavappatto kodhova kodhūpāyāso. pajaha 

kodhūpāyāsanti ettha 

paṭisaṅkhānappahānaṃ kathitaṃ.

[Này Tỳ Kheo! ‘Con ễnh ương’ – uddhumāyikāti kho, bhikkhu], tức: ở đây, [con ễnh ương – tức một loại ếch – uddhumāyikamaṇḍūka] thì quả thật không lớn, nó có kích cỡ bằng đầu móng vuốt; nó sống ở giữa các lá cây già, ở giữa thực vật, ở giữa các dây leo. Khi nó bị động chạm bằng đầu cây gậy, bằng đầu của dây leo hay bằng bụi đất; nó trương phình, trở nên lớn và tròn – với kích cỡ của trái Beluva chín; phóng 4 chân vào không trung(i); (nó) bị chặn đường, rơi vào sự khống chế của kẻ thù và trở thành thức ăn cho quạ, diều hâu vân vân. Hệt như vậy, sự giận dữ thoạt tiên khi sinh lên thì chỉ là cơn xáo động tâm. Khi nó không được kềm chế vào thời điểm đó; nó tăng trưởng, khiến người ta (người giận dữ) biến dạng khuôn mặt. Khi nó không được kềm chế vào lúc đó; nó khiến người ta (người giận dữ) động đậy quai hàm. Khi nó không được kềm chế vào lúc đó; nó khiến người ta (người giận dữ) thốt ra lời thô ác. Khi nó không được kềm chế vào lúc đó; nó khiến người ta (người giận dữ) quan sát các hướng. Khi nó không được kềm chế vào lúc đó; nó khiến người ta (người giận dữ) kéo ra, rút ra (vũ khí). Khi nó không được kềm chế vào lúc đó; nó khiến người ta (người giận dữ) dùng bàn tay động đến dao, gậy hay cục đất. Khi nó không được kềm chế vào lúc đó; nó khiến người ta (người giận dữ) tấn công bằng dao, gậy. Khi nó không được kềm chế vào lúc đó; nó khiến người ta (người giận dữ) giết người khác lẫn giết bản thân mình. Quả thật, điều này cũng được nói: ‘Khi nào người giận dữ đó giết người khác rồi giết bản thân mình; thì khi ấy, sự giận dữ đó đi đến trạng thái đầy đủ tột cùng, đạt đến sự phát triển tột cùng.’ Ở đó, giống như con ễnh ương phóng 4 chân vào không trung rồi bị chặn đường, rơi vào sự khống chế của kẻ thù và trở thành thức ăn cho quạ vân vân; hệt như vậy, người có sự giận dữ nắm bắt đề mục thiền rồi không thể phát triển, rơi vào sự khống chế của kẻ thù, có thể bị tác động theo ý muốn của đủ loại Ma Vương. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Quả thật, này Tỳ Kheo! ‘Con ễnh ương’ – đó là ẩn dụ cho [sự giận dữ khổ sở – kodhūpāyāsa].’ Ở đó, sự giận dữ khổ sở chính là sự giận dữ đã đạt đến mức mạnh mẽ. [Hãy từ bỏ sự giận dữ khổ sở – pajaha 

kodhūpāyāsaṃ], tức: ở đây, sự từ bỏ bằng sự suy xét đã được nói đến.

—–

(i) [Không trung – ākāsa], ta không thể biết chính xác độ cao khi phóng đi của loài ễnh ương này.          

30

dvidhāpathoti ettha, yathā 

puriso sadhano sabhogo kantāraddhānamaggappaṭipanno 

dvedhāpathaṃ patvā, “iminā nu 

kho gantabbaṃ, iminā gantabban”ti 

nicchetuṃ asakkonto tattheva 

tiṭṭhati, atha naṃ corā uṭṭhahitvā 

anayabyasanaṃ pāpenti, evameva kho mūlakammaṭṭhānaṃ gahetvā nisinno bhikkhu buddhādīsu 

kaṅkhāya uppannāya kammaṭṭhānaṃ 

vaḍḍhetuṃ na sakkoti, atha naṃ 

kilesamārādayo sabbe mārā anayabyasanaṃ 

pāpenti, iti vicikicchā 

dvedhāpathasamā hoti. tenāha bhagavā — “dvidhāpathoti kho, bhikkhu, vicikicchāyetaṃ 

adhivacanan”ti. pajaha 

vicikicchanti ettha 

kammaṭṭhānauggahaparipucchā vasena vicikicchāpahānaṃ 

kathitaṃ.

[Giao lộ – dvidhāpatho], tức: ở đây, giống như một người có tài sản, có của cải đi vào một con đường dài qua sa mạc; đến một giao lộ; do chưa thể quyết ‘Giờ đây, nên đi bằng con đường này; nên đi bằng con đường kia’; vị ấy đứng ngay tại đó. Thế rồi, bọn cướp nổi lên; khiến vị ấy rơi vào mất mát tai hại. Hệt như vậy, sau khi nắm bắt đề mục thiền căn bản; vị Tỳ Kheo ngồi xuống nhưng không thể phát triển đề mục thiền do sự nghi ngờ đối với Phật vân vân sinh lên. Thế rồi, tất cả các loại Ma Vương như Phiền Não Ma Vương vân vân khiến vị ấy rơi vào mất mát tai hại. Như vậy, sự hoài nghi thì tương tự một giao lộ. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Tỳ Kheo! Quả thật, ‘giao lộ’ – đó là ẩn dụ cho sự hoài nghi.’ [Hãy từ bỏ sự hoài nghi – pajaha 

vicikicchaṃ], tức: ở đây, sự từ bỏ hoài nghi được nói theo nghĩa là sự học hỏi về đề mục thiền.  

31

caṅgavāranti ettha, yathā 

rajakehi khāraparissāvanamhi 

udake pakkhitte eko udakaghaṭo dvepi dasapi 

vīsatipi ghaṭasatampi 

paggharatiyeva, pasaṭamattampi udakaṃ na 

tiṭṭhati, evameva 

nīvaraṇasamaṅgino puggalassa abbhantare kusaladhammo na 

tiṭṭhati. tenāha bhagavā — 

“caṅgavāranti kho, bhikkhu, 

pañcannetaṃ nīvaraṇānaṃ 

adhivacanan”ti. pajaha 

pañcanīvaraṇeti ettha 

vikkhambhanatadaṅgavasena 

nīvaraṇappahānaṃ kathitaṃ.

[Cái sàng – caṅgavāra], tức: ở đây, giống như khi những người thợ giặt đổ nước vào túi lọc tạp chất; thì một bình nước hay 2, 10, 20, 100 (bình nước) cũng chỉ chảy nhỏ giọt; chứ không có nước ở mức độ chảy liền dòng(i). Hệt như vậy, không có thiện pháp ở bên trong một người có triền cái. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Này Tỳ Kheo! Quả thật, ‘cái sàng’ – đó là ẩn dụ cho 5 triền cái.’ [Hãy từ bỏ 5 triền cái – pajaha 

pañcanīvaraṇe], tức: ở đây, sự từ bỏ triền cái được nói theo nghĩa là (sự từ bỏ) tạm thời hay (sự từ bỏ) tuyệt trừ.

—–

(i) Tức khi đổ cùng lúc một bình nước hay 10 bình nước vào túi lọc thì nước thoát ra khỏi túi lọc cũng chỉ nhỏ giọt chứ không chảy nhiều, nhanh thành dòng được.   

32

♦ kummoti ettha, yathā 

kacchapassa cattāro pādā sīsanti 

pañceva aṅgāni honti, evameva sabbepi saṅkhatā 

dhammā gayhamānā pañceva 

khandhā bhavanti. tenāha bhagavā — “kummoti kho, bhikkhu, pañcannetaṃ upādānakkhandhānaṃ 

adhivacanan”ti. pajaha 

pañcupādānakkhandheti ettha 

pañcasu khandhesu 

chandarāgappahānaṃ kathitaṃ.

[Con rùa – kumma], tức: ở đây, giống như con rùa có đến 5 bộ phận: 4 chân và 1 cái đầu; hệt như vậy, tất cả những hữu vi pháp – vốn được nắm bắt – cũng chính là 5 uẩn. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Này Tỳ Kheo! Quả thật, ‘con rùa’ – đó là ẩn dụ cho ngũ uẩn được chấp thủ.’ [Hãy từ bỏ ngũ uẩn được chấp thủ – pajaha pañcupādānakkhandhe], tức: ở đây, sự từ bỏ dục, luyến ái đối với ngũ uẩn được nói đến.

33

♦ asisūnāti ettha, yathā sūnāya 

upari maṃsaṃ ṭhapetvā asinā 

koṭṭenti, evamime sattā vatthukāmatthāya kilesakāmehi ghātayamānā vatthukāmānaṃ upari katvā kilesakāmehi kantitā koṭṭitā ca 

honti. tenāha bhagavā — 

“asisūnāti kho, bhikkhu, 

pañcannetaṃ 

kāmaguṇānaṃ adhivacanan”ti. 

pajaha pañcakāmaguṇeti ettha 

pañcasu kāmaguṇesu 

chandarāgappahānaṃ kathitaṃ.

[Con dao & cái thớt của đồ tể – asisūnā], tức: ở đây, giống như (những đồ tể) đặt miếng thịt trên thớt rồi đập bằng con dao; giống vậy, các chúng sinh ấy vì mục đích là vật dục, khi (họ) bị đặt lên các vật dục và bị giết bởi các phiền não dục thì bị đập và bị chặt bởi các phiền não dục. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Này Tỳ Kheo! Quả thật, ‘con dao & cái thớt của đồ tể’ – đó là ẩn dụ cho 5 loại dục.’ [Hãy từ bỏ 5 loại dục – pajaha pañcakāmaguṇe], tức: ở đây, sự từ bỏ dục, luyến ái đối với 5 loại dục được nói đến.

34

♦ maṃsapesīti kho, bhikkhūti 

ettha ayaṃ maṃsapesi nāma bahujanapatthitā khattiyādayo 

manussāpi naṃ patthenti 

kākādayo tiracchānāpi. ime hi sattā 

avijjāya sammattā nandirāgaṃ 

upagamma vaṭṭaṃ vaḍḍhenti. yathā vā maṃsapesi 

ṭhapitaṭhapitaṭṭhāne laggati, evamime sattā nandirāgabaddhā vaṭṭe lagganti, 

dukkhaṃ patvāpi na ukkaṇṭhanti, 

iti nandirāgo maṃsapesisadiso hoti. tenāha bhagavā — “maṃsapesīti 

kho, bhikkhu, nandirāgassetaṃ 

adhivacanan”ti. pajaha 

nandīrāganti ettha catutthamaggena 

nandīrāgappahānaṃ kathitaṃ.

[Này Tỳ Kheo! Quả thật, ‘lát thịt’], tức: ở đây, cái được gọi là [lát thịt – maṃsapesi] ấy là cái được khao khát bởi nhiều người. ‘Con người như Khattiya vân vân lẫn súc sinh như quạ vân vân đều khao khát nó. Quả thật, các chúng sinh đó say sưa bởi Vô Minh; đạt đến hỷ luyến rồi khiến vòng luân hồi vận hành. Hoặc giống như một lát thịt thì dính vào bất kỳ chỗ nào được đặt; giống vậy, những chúng sinh đó – vốn bị trói buộc bởi hỷ luyến – thì mắc vào vòng luân hồi. Và sau khi đạt đến Khổ, họ không thèm khát nữa.’ Hỷ luyến thì giống với lát thịt như thế. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Tỳ Kheo! Quả thật, ‘lát thịt’ – đó là ẩn dụ cho hỷ luyến.’ [Hãy từ bỏ hỷ luyến – pajaha nandīrāgaṃ], tức: ở đây, sự từ bỏ hỷ luyến được nói theo nghĩa là Đệ Tứ Đạo(i).

—–

(i) Tức Đạo thứ 4 – A La Hán Đạo. 

35

♦ nāgoti kho, bhikkhu, 

khīṇāsavassetaṃ bhikkhuno 

adhivacananti ettha yenatthena khīṇāsavo nāgoti 

vuccati, so anaṅgaṇasutte (ma. ni. aṭṭha. 1.63) pakāsito eva. namo karohi 

nāgassāti khīṇāsavassa 

buddhanāgassa, “buddho so 

bhagavā bodhāya dhammaṃ 

deseti, danto so bhagavā 

damathāya dhammaṃ deseti, santo so 

bhagavā samathāya dhammaṃ 

deseti, tiṇṇo so bhagavā taraṇāya dhammaṃ 

deseti, parinibbuto so bhagavā 

parinibbānāya dhammaṃ desetī”ti 

(ma. ni. 1.361) evaṃ namakkāraṃ karohīti ayamettha attho. iti idaṃ suttaṃ therassa 

kammaṭṭhānaṃ ahosi. theropi 

idameva suttaṃ kammaṭṭhānaṃ katvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ patto. ayametassa atthoti ayaṃ etassa 

pañhassa attho. iti bhagavā 

ratanarāsimhi maṇikūṭaṃ gaṇhanto viya 

yathānusandhināva desanaṃ 

niṭṭhapesīti.

papañcasūdaniyā 

majjhimanikāyaṭṭhakathāya

vammikasuttavaṇṇanā niṭṭhitā.

[Này Tỳ Kheo! Quả thật, ‘con rồng’ – đó là ẩn dụ cho vị Tỳ Kheo lậu tận], tức: ở đây, bậc Lậu Tận được gọi là ‘con rồng’ theo ý nghĩa nào; thì ý nghĩa đó đã được giải thích trong bài kinh Anaṅgaṇasutta (ma. ni. aṭṭha. 1.63). [Hãy đảnh lễ đến con rồng], tức: hãy thực hiện sự đảnh lễ đến con rồng lậu tận – tức Đức Phật – như vầy: ‘Đức Thế Tôn ấy – tức Đức Phật – thuyết Pháp vì sự giác ngộ; Đức Thế Tôn ấy – đã thuần phục – thuyết Pháp vì sự thuần phục; Đức Thế Tôn ấy – đã an tịnh – thuyết Pháp vì sự an tịnh; Đức Thế Tôn ấy – đã vượt qua – thuyết Pháp vì sự vượt qua; Đức Thế Tôn ấy – đã tịch tịnh – thuyết Pháp vì sự tịch tịnh.’ (ma. ni. 1.361). Đó là ý nghĩa ở đây. Như thế, lời kinh đó trở thành đề mục thiền cho vị trưởng lão ấy. Và vị trưởng lão lấy chính lời kinh ấy làm đề mục thiền; phát triển Vipassanā rồi đạt đến trạng thái A La Hán. [Đó là ý nghĩa của điều đó], tức: đó là ý nghĩa của câu hỏi đó. Như thế, Đức Thế Tôn đã hoàn thành bài giảng dựa theo chính kết cục (của việc tu hành) giống như người nắm viên ngọc Maṇi trên cùng trong một khối châu báu.    

Sự giải thích bài kinh Vammikasutta thuộc bộ Chú Giải Trung Bộ – Papañcasūdanī được hoàn thành.

 

 

A. Ghi chú riêng về thuật ngữ

 

STT

Pāḷi

Việt

1

Dasseti

Trình bày

2

Āha

Thuyết

3

Seyyathāpi

Ví như

4

Pariyāpuṇāti

Rành rẽ

5

Paṭivijjhati

Thấu đạt

6

Suppaṭividdhatta

Sự thấu đạt rõ ràng => Su- [rõ ràng]

7

Desanāvilāsa

Nét đẹp của bài giảng

8

Kilesa

Phiền não

9

Upakkilesa

Cấu uế

10

Gaṇhāti / gahita

Tiếp thu/được tiếp thu, bám chấp/được bám chấp

11

Gahaṇa

Sự cố chấp

12

Anussarati

Niệm tưởng

13

Paccavekkhati

Suy xét

14

Pajahati

Từ bỏ

15

Cajati

Buông bỏ

16

Vamati

Giải tan

17

Paṭinissaṭṭha

Sự không dính mắc

18

Dassana

Tri kiến

19

Paṭinissagga

Sự bỏ

20

Vajjha

Nên được triệt tiêu

21

Upasaṃhita

Liên kết

22

Sampayutta

Hiệp hành

23

Ānisaṃsa

Thành quả

24

Sahagata

Đi liền

25

Patti

Sự đắc

26

Nissaya

Cơ sở

27

Pariggaṇhāti

Khảo sát

28

Cināti

Khảo xét

29

Naya

Phương pháp, thể thức, phương thức

30

Upāya

Cách thức

31

Hīna

Thấp kém

32

Paṇīta

Cao đẹp

33

Adhigacchati

Tiến đến

34

Ākāra

Phương cách

35

Labhati

Đạt được

36

Pāpuṇāti

Đạt đến

37

Vuṭṭhāna

Khởi lên

38

Suddhi

Sự thanh lọc

39

Sodheti

Thanh tẩy

40

Vandati

Kính chào

41

Abhivādeti

Đảnh lễ

42

Pātubhavati

Hiện ra

43

Paṭisaṃyutta

Liên hệ với

44

Samanupassati

Nhận thấy

45

Samuccheda

Đoạn trừ

46

Samāpatti

Thể nhập

47

Anuseti

Ẩn trú

48

Samudācarati

Hiện hành

49

Paṭivineti

Tẩy trừ

50

Taṇhā

Tham ái

51

Vicarita

Suy tưởng

52

Vicāra

Tứ

53

Ekaṭṭha

Đi chung

54

Adhivacana

Thuật ngữ

55

Vibhaja

Phân tích

56

Vikkhambhita

Bị đè nén

57

Patvā

Đạt

58

Adhigama

Thành tựu

59

Soci

Than van

60

Pajānāti

Rõ biết

61

Vijānāti

Tỏ biết

62

Upasampajja

Nhập vào

63

Paṭipadā

Lộ trình

64

Sammasati

Thấu tri

65

Santa

An tịnh

66

Nibbuta

Tịch tịnh

67

Rāga

Luyến ái

68

Yojanā

Luận giải

69

Laddhi

Thế quan

70

Samādiyati

Gìn giữ

71

Patiṭṭhahati & patiṭṭhāti

Thiết lập

72

Pūreti

Viên thành

73

Kammaṭṭhāna

Đề mục thiền

74

Parikamma

Sự chuẩn bị

75

Kāma

Dục

76

Abhisameti

Tri đạt

77

Adhigata

Tiến đến

78

Pakāra

Kiểu, lối

79

Pajānanā

Tri Năng

80

Virati

Sự tránh thoát

81

Viramati

Tránh thoát

81

Ārati

Sự tránh né

82

Catusacca

4 Chân lý

83

Parijānāti

Thấu biết

84

Āyūhati

Tích trữ

85

Upādinnaka

Thuộc loại nghiệp sinh

86

Pātubhavati

Hiện hữu

87

Upādiyati

Bám chấp

88

Virāga

Sự ly ái

89

Mala

Nhơ uế

90

Soka

Sầu

91

Parideva

Muộn

92

Pariññā

Sự thấu triệt

93

Ghana

Khối [chúng sinh]

94

Vavatthāna

Phân tích

95

Vinibbhoga

Phân rã

96

Rajjati

Ham thích

97

Virajjati

Dứt bỏ

98

Upacāra

Cận (định)

99

Appanā

An chỉ (định)

100

Pariyesati

Thẩm sát

101

Āropeti

Làm hiển hiện [lay bare]

102

Niyyāti

Xuất ly

103

Sampajāna

Tỉnh giác

104

Sampajañña

Sự triệt tri

105

Sañjānāti

Tri nhận

106

Byāpāda

Sân hận

107

Nissarati

Xuất hành

108

Yathābhūta

Theo thực tính

109

Aññā

Liễu tri

110

Catusamuṭṭhānikarūpa

Tứ sở sinh sắc (sắc sinh ra từ 4 nơi)