Kinh số 91 – Giải Thích Kinh Brahmāyu

(Brahmāyusuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Brahmāyu

Brāhmaṇavaggo [Phẩm Bà-la-môn]

383. evaṃ me sutanti brahmāyusuttaṃ. tattha mahatā bhikkhusaṅghena saddhinti mahatāti guṇamahattenapi mahatā, saṅkhyāmahattenapi. so hi bhikkhusaṅghe guṇehipi mahā ahosi appicchatādiguṇasamannāgatattā, saṅkhyāyapi mahā pañcasatasaṅkhyattā. bhikkhūnaṃ saṅghena bhikkhusaṅghena, diṭṭhisīlasāmaññasaṅghātasaṅkhātena samaṇagaṇenāti attho. saddhinti ekato. pañcamattehi bhikkhusatehīti pañca mattā etesanti pañcamattāni. mattāti pamāṇaṃ vuccati, tasmā yathā bhojane mattaññūti vutte bhojane mattaṃ jānāti pamāṇaṃ jānātīti attho hoti, evamidhāpi tesaṃ bhikkhusatānaṃ pañcamattā pañcapamāṇanti evamattho daṭṭhabbo. bhikkhūnaṃ satāni bhikkhusatāni. tehi pañcamattehi bhikkhusatehi.

383. Kinh Brahmāyu được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, từ ‘to lớn’ trong cụm từ mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṃ (cùng với đại chúng Tỳ khưu) ấy gọi là ‘to lớn’ do sự to lớn bởi ân đức, hay to lớn bởi số lượng. Thật vậy, hội chúng Tỳ khưu là nhóm lớn, thậm chí với tất cả các ân đức. Xem là lớn do phối hợp với ân đức có sự thiểu dục v.v, và bởi đếm đến 500 vị. Cùng với nhóm của chúng Tỳ khưu gọi là hội chúng Tỳ khưu. Saddhiṃ: cùng nhau. Pañcamattehi bhikkhusatehi (đại chúng Tỳ khưu khoảng năm trăm vị): gọi là có khoảng năm bởi khoảng năm của hàng trăm của những vị Tỳ khưu ấy. Khoảng chừng ngài gọi là độ chừng, vì thế mới có giải thích rằng Tỳ khưu độ chừng là biết chừng trong việc thọ dụng mà nói rằng là người biết chừng trong việc thọ dụng như thế nào, thậm chí ở chỗ này cũng nên thấy được ý nghĩa như vậy, độ chừng năm bao gồm khoảng chừng năm của hàng trăm của những vị Tỳ khưu ấy thế đó. tất cả hàng trăm của nhóm Tỳ khưu gọi là hàng trăm của các Tỳ khưu, cùng với hàng trăm của các Tỳ khưu có khoảng chừng năm ấy.

vīsavassasatikoti vīsādhikavassasatiko. tiṇṇaṃ vedānanti iruveda-yajuveda-sāmavedānaṃ. oṭṭhapahatakaraṇavasena pāraṃ gatoti pāragū. saha nighaṇḍunā ca keṭubhena ca sanighaṇḍukeṭubhānaṃ, nighaṇḍūti nāmanighaṇṭurukkhādīnaṃ vevacanappakāsakaṃ satthaṃ. keṭubhanti kiriyākappavikappo kavīnaṃ upakārāya satthaṃ. saha akkharappabhedena sakkharappabhedānaṃ. akkharappabhedoti sikkhā ca nirutti ca. itihāsapañcamānanti āthabbaṇavedaṃ catutthaṃ katvā “itiha āsa itiha āsā”ti īdisavacanappaṭisaṃyutto purāṇakathāsaṅkhāto itihāso pañcamo etesanti itihāsapañcamā, tesaṃ itihāsapañcamānaṃ. padañca tadavasesañca byākaraṇaṃ adhīyati pavedeti cāti padako veyyākaraṇo.

Vīsavassasatiko: có tuổi thọ một trăm hai mươi. Tiṇṇaṃ vedānaṃ (của ba tập Vệ Đà): ba bộ sách của Bà-la-môn giáo Iruveda, Yajuveda và Sāmaveda. gọi là pāragū (người đi đến bờ kia): bởi đã đi đến bờ do nhờ năng lực tụng niệm trôi chảy. Cùng với từ vựng và nghi thức được gọi là cùng với từ vựng và nghi thức, từ vựng: danh xưng được mệnh danh như cây rừng v.v, được gọi là về các từ vựng. Nghi thức bao gồm cách diễn đạt và sắp xếp (văn bản) phù hợp rất hữu ích làm công cụ của các thi sĩ. Luôn cả về âm từ với sự phân tích: cùng với sự phân loại về âm từ. Sự phân tích về âm từ bao gồm sự học tập và ngôn ngữ. Về truyền thống là thứ năm: là có lịch sử bao gồm những câu chuyện cổ xưa tương ưng với lời như vậy rằng ‘là như vậy, được truyền miệng là như vậy’ là thứ năm của Vệ Đà được xếp vào A-thát-bà Vệ Đà là thứ tư, có truyền thống là thứ năm của Vệ Đà đó. Là nhà ngữ học, nhà văn phạm: do bởi nắm lấy hoặc trình bày câu cú và ngữ nghĩa nằm ngoài câu đó một cách rõ ràng.

lokāyataṃ vuccati vitaṇḍavādasatthaṃ. mahāpurisalakkhaṇanti mahāpurisānaṃ buddhādīnaṃ lakkhaṇadīpakaṃ dvādasasahassaganthappamāṇaṃ satthaṃ, yattha soḷasasahassagāthāparimāṇāya buddhamantā nāma ahesuṃ, yesaṃ vasena “iminā lakkhaṇena samannāgatā buddhā nāma honti, iminā paccekabuddhā nāma honti, iminā dve aggasāvakā, asītimahāsāvakā, buddhamātā, buddhapitā, aggupaṭṭhāko, aggupaṭṭhāyikā, rājā cakkavattī”ti ayaṃ viseso ñāyati. anavayoti imesu lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anūno paripūrakārī, avayo na hotīti vuttaṃ hoti. avayo nāma yo tāni atthato ca ganthato ca sandhāretuṃ na sakkoti. assosi khotiādīsu yaṃ vattabbaṃ siyā, taṃ sāleyyakasutte (ma. ni. 1.439 ādayo) vuttameva.

Luận thuyết chủ nghĩa ngụy biện được gọi là thế gian luận. Tướng bậc Đại nhân bao gồm Thánh kinh khoảng chừng mười hai nghìn quyển trình bày tướng của bậc Đại nhân có đức Phật v.v, có các kệ ngôn khoảng mười sáu nghìn câu được gọi Phật chú, làm nhân để nhận biết sự khác biệt này ‘vị hội đủ bởi tướng này là đức Phật bậc Chánh đẳng Chánh giác, (tướng này) là đức Phật Độc Giác, (tướng này) là bậc Thượng thủ Thinh văn, (tướng này) là của tám mươi vị Đại Thinh văn, (tướng này) là của cha của đức Phật, (tướng này) là của mẹ của Bồ-tát, là nam thí chủ hàng đầu, là nữ thí chủ hàng đầu, là vị Chuyển luân Thánh vương”. Là vị thiện xảo: vị thực hành đưa đến sự trọn vẹn không bị thiếu sót trong bộ Thế gian luận và Thánh kinh về tướng của bậc Đại nhân, được gọi là vị đầy đủ không khiếm khuyết. Lời ấy phải nói ở trong câu sau: Đã nghe rồi cũng đã nói hoàn thiện trong Kinh Sāleyyaka (ma. ni. 1.439 ādayo).

384. ayaṃ tātāti ayaṃ mahallakatāya gantuṃ asakkonto māṇavaṃ āmantetvā evamāha. apica esa brāhmaṇo cintesi “imasmiṃ loke ‘ahaṃ buddho ahaṃ buddho’ti uggatassa nāmaṃ gahetvā bahū janā vicaranti, tasmā na me anussavamatteneva upasaṅkamituṃ yuttaṃ. ekaccañhi upasaṅkamantassa apakkamanampi garu hoti, anatthopi uppajjati. yaṃnūnāhaṃ mama antevāsikaṃ pesetvā ‘buddho vā no vā’ti jānitvā upasaṅkameyyan”ti tasmā māṇavaṃ āmantetvā “ayaṃ tātā”tiādimāha. taṃ bhavantanti tassa bhavato. tathā santaṃyevāti tathā satoyeva. idañhi itthambhūtākhyānatthe upayogavacanaṃ. yathā kathaṃ panāhaṃ, bhoti ettha kathaṃ panāhaṃ, bho, taṃ bhavantaṃ gotamaṃ jānissāmi, yathā sakkā so ñātuṃ, tathā me ācikkhāti attho. yathāti vā nipātamattamevetaṃ. kathanti ayaṃ ākārapucchā, kenākārenāhaṃ bhavantaṃ gotamaṃ jānissāmīti attho.

384. ayaṃ tātā (này con thân mến): Bà-la-môn này do bởi là người già không thể đi được mới gọi một thanh niên đến đã nói như vậy. Hơn nữa, Bà-la-môn này nghĩ rằng: “Ở trong thế gian này rất nhiều người đi lang thang đã lấy tên của người truyền bá nói rằng ‘tôi là Phật, tôi là Phật’, bởi thế (tất cả) chỉ được nghe mà thôi ta không nên đi tìm kiếm và khi đi tìm kiếm, một số người lại tránh né, cũng sẽ trở nên chuyện nặng lòng, và cả khởi lên điều bất lợi. Tốt nhất có lẽ ta nên đưa một học trò của ta, sau khi biết rằng ‘là đức Phật hoặc không phải là đức Phật’ rồi hãy từ từ đi tìm kiếm vị ấy, vì thế đã gọi một thanh niên đến nói lời như vầy: ‘này con thân mến’. taṃ bhavantaṃ (là thật như thế): bậc tôn kính ấy. Thật sự như thế ấy: Hoàn toàn là như thế. Ở đây, Santaṃ là cách thứ hai (đối cách) được sử dụng với ý nghĩa là như thế. ​​Yathā kathaṃ panāhaṃ, bho (Thưa ngài, làm như thế nào tôi biết…): Thưa ngài, làm thế nào con sẽ biết được ngài Gotama? Ngài hãy nói cho con về tướng mà còn có thể nhận biết được Sa-môn Gotama ấy. Hơn nữa, từ ‘yathā (bằng cách nào)’ đây chỉ là một phân từ. Kathaṃ (như thế nào): đây là câu hỏi về hình tướng (biểu hiện), tức là con sẽ biết được ngài Gotama bằng biểu hình tướng như thế nào?

evaṃ vutte kira naṃ upajjhāyo — “kiṃ tvaṃ, tāta, pathaviyaṃ ṭhito pathaviṃ na passāmīti viya candimasūriyānaṃ obhāse ṭhito candimasūriye na passāmīti viya vadasī”tiādīni vatvā jānanākāraṃ dassento āgatāni kho tātātiādimāha. tattha mantesūti vedesu. tathāgato kira uppajjissatīti paṭikacceva suddhāvāsā devā vedesu lakkhaṇāni pakkhipitvā “buddhamantā nāma ete”ti brāhmaṇavesena vede vācenti “tadanusārena mahesakkhā sattā tathāgataṃ jānissantī”ti. tena pubbe vedesu mahāpurisalakkhaṇāni āgacchanti. parinibbute pana tathāgate anukkamena antaradhāyanti, tena etarahi natthi. mahāpurisassāti paṇidhi-samādāna-ñāṇa-karuṇādiguṇamahato purisassa.

Được biết rằng khi người học trò nói như vậy vị thầy đã nói rằng – “này con thân mến, trong khi con đứng trên một tảng đá rồi đến nói rằng: tôi không nhìn thấy quả đất, trong khi đứng dưới ánh sáng của mặt trăng và mặt trời rồi quay trở lại cũng nói rằng: ‘tôi không nhìn mặt trăng và mặt trời’ phải chăng? khi trình bày chi tiết sự hiểu biết đã nói lời như sau: ‘này con thân mến’. Mantesu (Thánh điển): nói đến kinh Vệ Đà. Chúng Chư thiên ở cõi Tịnh Cư thiên một số vị biết, kể rằng đấng Như Lai xuất hiện mới lấy tướng trạng đặt vào trong Kinh Vệ Đà, rồi hóa thành Phạm thiên đến dạy Thánh điển Vệ Đà rằng: “Những Thánh điển này là Phật chú” nghĩ rằng: “bằng hình thức đó những người có nhiều quyền lực sẽ biết được Như Lai”. Vì thế, tướng của bậc Đại nhân đã được lưu truyền trong Thánh điển Vệ Đà từ trước. Nhưng khi Như Lai viên tịch Nibbāna đã từ từ biến mất. Cho nên bây giờ không có. Của bậc Đại nhân: của người có đức hạnh cao thượng do sự phát nguyện, sự thọ trì, trí tuệ và lòng bi mẫn v.v,

dveyeva gatiyoti dve eva niṭṭhā. kāmañcāyaṃ gatisaddo — “pañca kho imā, sāriputta, gatiyo”tiādīsu (ma. ni. 1.153) bhavabhede vattati, “gati migānaṃ pavanan”tiādīsu (pari. 339) nivāsaṭṭhāne, “evaṃ adhimattagatimanto”tiādīsu (ma. ni. 1.161) paññāya, “gatigatan”tiādīsu visaṭabhāve, idha pana niṭṭhāyaṃ vattatīti veditabbo. tattha kiñcāpi yehi samannāgato rājā hoti, na teheva buddho hoti, jātisāmaññato pana tāniyeva tānīti vuccanti. tena vuttaṃ — “yehi samannāgatassā”ti. sace agāraṃ ajjhāvasatīti yadi agāre vasati, rājā hoti cakkavattī. catūhi acchariyadhammehi saṅgahavatthūhi ca lokaṃ rañjanato rājā. cakkaratanaṃ vatteti, catūhi sampatticakkehi vatteti, tehi ca paraṃ vatteti, parahitāya ca iriyāpathacakkānaṃ vatto etasmiṃ atthīti cakkavattī. ettha ca rājāti sāmaññaṃ, cakkavattīti visesanaṃ. dhammena caratīti dhammiko, ñāyena samena vattatīti attho. dhammena rajjaṃ labhitvā rājā jātoti dhammarājā. parahitadhammakaraṇena vā dhammiko, attahitadhammakaraṇena dhammarājā.

Dveyeva gatiyo (chỉ có hai con đường): Tận cùng chỉ có hai (con đường). Về sự hiểu biết chung thì từ ‘gati’ vận hành thuộc phạm trù các cõi trong câu sau: “Này Sāriputta, có năm cõi tái sanh” (ma . ni. 1.153), gati làm làm nơi cư trú “khu rừng lớn là nơi cư trú của muôn thú” (pari. 339), “thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng như vậy” (ma. ni. 1.161), gati là tính chất sự từ bỏ “đi đến sự từ bỏ”, nhưng ở đây nên biết rằng: vận hành trong sự thành tựu (sự từ bỏ). Mặc dầu như vậy, trong những trạng thái đó vị thành tựu đầy đủ với những tướng nào là đức vua, không phải với những tướng ấy là đức Phật. Nhưng ngài gọi những tướng đó chỉ vì sự tương đồng về sự xuất thân. Cho nên, Bà-la-môn Brahmāyu đã nói rằng: “bậc hội đủ với những tướng nào…” sace agāraṃ ajjhāvasati (nếu ở tại gia): Nếu sống đời sống tại gia, sẽ trở thành vua Chuyển Luân, bởi vì làm cho thế gian được vui sướng với bốn pháp phi thường và bốn pháp nhiếp phục nên được gọi là vua. Chuyển vận bánh xe báu, xoay chuyển bởi bốn loại sampatti-cakka, làm cho người khác được xoay chuyển với bốn sampatti-cakka ấy, và bởi thực hành lợi ích cho người khác và thực hành lợi ích nhằm mục đích cakka bao gồm các oai nghi mới gọi là vua Chuyển Luân. Và ở đây ‘đức vua’ là từ chung chung, vị Chuyển Luân là một tính từ (giải rộng từ vua). Vị thực hành đúng Pháp mới gọi là dhammiko, có nghĩa là hành vi chân chánh bởi trí tuệ. Do đã đạt được vương quyền đúng Pháp đã sanh ra làm vua nên được gọi là dhammarājā. Hơn nữa, do thực hành các Pháp đem lại lợi ích cho người khác nên được gọi là dhammiko. Do thực hành mang lại lợi ích cho bản thân nên được gọi là dhammarājā.

caturantāya issaroti cāturanto, catusamuddantāya catubbidhadīpabhūsitāya ca pathaviyā issaroti attho. ajjhattaṃ kopādipaccatthike bahiddhā ca sabbarājāno vijesīti vijitāvī. janapadatthāvariyappattoti janapade thāvarabhāvaṃ dhuvabhāvaṃ patto, na sakkā kenaci cāletuṃ, janapado vā tamhi thāvariyappatto anussukko sakammanirato acalo asampavedhīti janapadatthāvariyappatto. seyyathidanti nipāto, tassa tāni katamānīti attho. cakkaratanantiādīsu cakkañca taṃ ratijananatthena ratanañcāti cakkaratanaṃ. eseva nayo sabbattha.

Vị chúa tể của quả địa cầu có bốn biển lớn làm ranh giới gọi là bậc chinh phục bốn phương, có nghĩa là vị chúa tể ở quả địa cầu được trang hoàng bởi bốn châu lục tận cùng có bốn biển nằm ở bốn phương. Do chiến thắng được kẻ thù có sự sân hận v.v, bên trong nội tâm và tất cả các vị vua ở ngoài được gọi Bậc có sự chiến thắng. Đạt được sự bền vững của xứ sở: đạt đến tính chất bền vững, tính chất chắc chắn ở trong xứ sở, không ai có thể kích động được. Hơn nữa, gọi là đạt được sự bền vững của xứ sở do có xứ sở đạt đến sự vững chắc không cần có sự cố gắng, hoan hỷ trong việc làm của ngài, không lay động, không lay chuyển trong xứ sở đó. Seyyathidaṃ (là): đây là một phân từ, những loại ngọc báu vật của vua Chuyển Luân đó là những loại báu vật nào? Cakkaratanaṃ (bánh xe báu) v.v, được gọi là bánh xe báu bởi thứ đó là bánh xe và được là báu vật bởi ý nghĩa làm cho hoan hỷ. Trong các câu toàn bộ đều như thế.

imesu pana ratanesu ayaṃ cakkavattirājā cakkaratanena ajitaṃ jināti, hatthiassaratanehi vijite yathāsukhaṃ anuvicarati, pariṇāyakaratanena vijitamanurakkhati, sesehi upabhogasukhamanubhavati. paṭhamena cassa ussāhasattiyogo, hatthiassagahapatiratanehi pabhusattiyogo, pacchimena mantasattiyogo suparipuṇṇo hoti, itthimaṇiratanehi tividhasattiyogaphalaṃ. so itthimaṇiratanehi bhogasukhamanubhavati, sesehi issariyasukhaṃ. visesato cassa purimāni tīṇi adosakusalamūlajanitakammānubhāvena sampajjanti, majjhimāni alobhakusalamūlajanitakammānubhāvena, pacchimamekaṃ amohakusalamūlajanitakammānubhāvenāti veditabbaṃ. ayamettha saṅkhepo, vitthāro pana bojjhaṅgasaṃyutte ratanasuttassa (saṃ. ni. 5.222-223) upadesato gahetabbo. apica bālapaṇḍitasuttepi (ma. ni. 3.255) imesaṃ ratanānaṃ uppattikkamena saddhiṃ vaṇṇanā āgamissati.

Trong số các loại báu vật này thì vua Chuyển Luân chinh phục vùng đất vẫn chưa chinh phục bằng bánh xe báu. Du hành khắp nơi thoải mái trong vương quốc với voi báu, bảo vệ vương quốc bằng Tướng quân báu. Thọ hưởng sự an lạc bằng oai lực của các báu vật còn lại. Sự phối hợp do mãnh lực của sự nỗ lực của vua Chuyển Luân ấy được thành tựu với báu vật thứ nhất (bánh xe báu), sự phối hợp do mãnh lực của vị sở hữu được thành tựu với voi báu, ngựa báu và gia chủ báu, sự phối hợp do mãnh lực của sự thiện xảo được thành tựu bởi Tướng quân báu là cuối cùng, kết quả của sự phối hợp do mãnh lực ba phần được thành tựu bởi ngọc ma-ni báu và nữ nhân báu. Vị ấy tận hưởng niềm an lạc trong việc sử dụng ngọc ma-ni báu và nữ nhân báu, tận hưởng sự tự do bởi các báu vật còn lại. Hơn nữa, 3 báu vật đầu tiên của vua Chuyển Luân ấy thành tựu do nhờ oai lực của căn thiện vô sân đã sanh lên từ nghiệp một cách toàn diện, báu vật ở giữa thành tựu do nhờ oai lực của căn vô tham đã sanh lên từ nghiệp, báu vật duy nhất sau cùng thành tựu do nhờ oai lực của căn thiện vô si đã sanh lên từ nghiệp. Tóm lược những báu vật này chỉ vậy. Còn chi tiết cần lấy lời chỉ bảo của bài Kinh Ratana trong Tương Ưng Giác Chi (saṃ. ni. 5.222-223). Và hơn nữa, việc giải thích cùng với trình tự của việc xuất hiện của các báu vật này sẽ có trong bài Kinh Bālapaṇḍita (ma. ni. 3.255).

parosahassanti atirekasahassaṃ. sūrāti abhīrukajātikā. vīraṅgarūpāti devaputtasadisakāyā, evaṃ tāva eke vaṇṇayanti, ayaṃ panettha sabhāvo — vīrāti uttamasūrā vuccanti. vīrānaṃ aṅgaṃ vīraṅgaṃ, vīrakāraṇaṃ vīriyanti vuttaṃ hoti. vīraṅgaṃ rūpaṃ etesanti vīraṅgarūpā, vīriyamayasarīrā viyāti vuttaṃ hoti. parasenappamaddanāti sace paṭimukhaṃ tiṭṭheyya parasenā, taṃ maddituṃ samatthāti adhippāyo. dhammenāti “pāṇo na hantabbo”tiādinā pañcasīladhammena.

Parosahassaṃ: dịch là nhiều hơn nghìn. Sūrā: vị có xuất thân của người dũng cảm. vīraṅgarūpā (có vóc dáng anh hùng): có vóc dáng tựa như vị Thiên tử. Thầy của một nhóm đã giải thích trước như vậy, nhưng trong vấn đề này có thực tính như sau – vīrā: ngài nói rằng có sự dũng cảm gan da tột bậc. Đức hạnh của vị dũng cảm gan dạ, gọi là vīraṅgaṃ: ngài nói rằng nguyên nhân của người dũng cảm gan dạ gọi là sự tinh tấn, gọi là ‘có vóc dáng anh hùng’ bởi ý nghĩa rằng có vóc dáng dũng mãnh gan dạ, ngài giải thích rằng có vóc dáng thành tựu với sự dũng cảm gan dạ. Parasenappamaddanā (có khả năng tiêu diệt quân đội của kẻ thù): nên như binh lính của kẻ thù đứng đối diện ở trước mặt (thì vị ấy) cũng có khả năng tiêu diệt đội quân ấy. Dhammenā (theo Giáo Pháp): Theo Giáo Pháp là ngũ giới có lời như sau “không sát sanh” v.v.

arahaṃ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchadoti ettha rāgadosamohamānadiṭṭhiavijjāduccaritachadanehi sattahi paṭicchanne kilesandhakāraloke taṃ chadanaṃ vivaṭṭetvā samantato sañjātāloko hutvā ṭhitoti vivaṭṭacchado. tattha paṭhamena padena pūjārahatā, dutiyena tassā hetu yasmā sammāsambuddhoti, tatiyena buddhattahetubhūtā vivaṭṭacchadatā vuttāti veditabbā. atha vā vivaṭṭo ca vicchado cāti vivaṭṭacchado, vaṭṭarahito chadanarahito cāti vuttaṃ hoti. tena arahaṃ vaṭṭābhāvena, sammāsambuddho chadanābhāvenāti evaṃ purimapadadvayasseva hetudvayaṃ vuttaṃ hoti. dutiyavesārajjena cettha purimasiddhi, paṭhamena dutiyasiddhi, tatiyacatutthehi tatiyasiddhi hoti. purimañca dhammacakkhuṃ, dutiyaṃ buddhacakkhuṃ, tatiyaṃ samantacakkhuṃ sādhetītipi veditabbaṃ. tvaṃ mantānaṃ paṭiggahetāti imināssa sūrabhāvaṃ janeti.

Arahaṃ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado (vị này sẽ chứng đạt quả vị A-ra-hán, Chánh đẳng Chánh giác có ‘màn che’1 đã được mở ra ở đời): gọi là có màn che đã được mở ra bởi mở màn che ở đời tăm tối do phiền não, bị phiền não là ái luyến, sân hận, si mê, ngã mạn, tà kiến, vô minh và các hành động ác đó tương tợ như bảy màn che đã được đóng lại làm cho ánh sanh sanh khởi ở xung quanh đều được thiết lập. Ở đó, bậc trí nên biết rằng ngài nói bản thể vị xứng đáng lễ bái bằng câu thứ 1, đã nói về nhân của bản thể vị xứng đáng lễ bãi ấy với câu thứ 2 bởi vì là bậc Chánh đẳng Chánh giác, nói đến bản thể người có màn che đã được mở ra làm nhân của bản thể là đức Phật với câu thứ 3. Hơn nữa, gọi là có màn che là phiền não đã được mở ra bởi ý nghĩa rằng: (không những) đã mở ra (mà còn) không có dụng cụ che đậy lại (là phiền não). Ngài giải thích rằng: Loại bỏ vòng luân hồi và loại bỏ dụng cụ che đậy. Bằng lời ấy đã nói đến 2 lý do của 2 câu đầu như vầy – gọi là bậc A-ra-hán bơi không còn luân hồi, – gọi là bậc Chánh đẳng Chánh giác bởi không còn dụng cụ che đậy (là phiền não). Cũng trong câu đó sự thành tựu ban đầu có bởi Vô sở úy trí câu thứ 2, sự thành tựu ở câu thứ 2 có bởi Vô sở úy trí câu thứ 1, sự thành tựu ở câu thứ 3 có bởi Vô sở úy trí ở câu thứ 3 và câu thứ 4, nên biết rằng câu thứ 1 cho thành tựu Pháp nhãn, câu thứ 2 cho thành tựu Phật nhãn, câu thứ ba cho thành tựu trí tuệ có khả năng biết rõ mọi thứ. tvaṃ mantānaṃ paṭiggahetā (con là người học tập chú thuật) này làm khởi lên sự dũng mãnh đối với thanh niên ấy.

385. sopi tāya ācariyakathāya lakkhaṇesu vigatasammoho ekobhāsajāto viya buddhamante sampassamāno evaṃ, bhoti āha. tassattho — yathā, bho, maṃ tvaṃ vadasi, evaṃ karissāmīti. samannesīti gavesi, ekaṃ dveti vā gaṇayanto samānayi. addasā khoti kathaṃ addasa? buddhānañhi nisinnānaṃ vā nipannānaṃ vā koci lakkhaṇaṃ pariyesituṃ na sakkoti, ṭhitānaṃ pana caṅkamantānaṃ vā sakkoti. tasmā lakkhaṇapariyesanatthaṃ āgataṃ disvā buddhā uṭṭhāyāsanā tiṭṭhanti vā caṅkamaṃ vā adhiṭṭhahanti. iti lakkhaṇadassanānurūpe iriyāpathe vattamānassa addasa. yebhuyyenāti pāyena, bahukāni addasa, appāni na addasāti attho. tato yāni na addasa, tesaṃ dīpanatthaṃ vuttaṃ ṭhapetvā dveti.

385. Mặc dù thanh niên Uttara đã thoát khỏi sự si ám trong các trạng thái theo lời của vị thầy đó, quan sát Phật chú giống như ánh sáng được sanh ra là một, (vị ấy) đã nói rằng ‘như vậy thưa ngài’. Ý nghĩa của câu đó như sau – “thưa thầy, con sẽ thực hiện như vậy, theo như lời thầy đã dặn dò.’ Samannesi (quan sát): cố tìm, hơn nữa quan sát tính đếm một, hai. addasā kho (đã nhìn thấy): đã nhìn thấy như thế nào? Bất cứ ai cũng không thể tìm kiếm được tướng của đức Phật đang ngồi hoặc đang nằm, nhưng khi đang đứng hoặc đang đi thì có thể. Cho nên, chư Phật trong khi nhìn thấy người đi đến để quan sát tướng thì mới đứng dậy từ chỗ ngồi, đứng hay phát nguyện đi kinh hành. Thanh niên Uttara đã nhìn thấy tướng của ngài, vị trong oai nghi thích hợp để thấy được tướng đang hiện hữu là như thế. Yebhuyyenā (hầu hết): phần nhiều, đã nhìn thấy nhiều tướng, không phải nhìn thấy ít. Sau đó, không nhìn thấy được tướng nào đã nói rằng ‘ngoại trừ hai tướng’ để trình bày 2 tướng ấy.

kaṅkhatīti “aho vata passeyyan”ti patthanaṃ uppādeti. vicikicchatīti tato tato tāni vicinanto kicchati na sakkoti daṭṭhuṃ. nādhimuccatīti tāya vicikicchāya sanniṭṭhānaṃ na gacchati. na sampasīdatīti tato “paripuṇṇalakkhaṇo ayan”ti bhagavati pasādaṃ nāpajjati. kaṅkhāya vā dubbalā vimati vuttā, vicikicchāya majjhimā, anadhimuccanatāya balavatī, asampasādena tehi tīhi dhammehi cittassa kālussiyabhāvo. kosohiteti vatthikosena paṭicchanne. vatthaguyheti aṅgajāte. bhagavato hi vāraṇasseva kosohitavatthaguyhaṃ suvaṇṇavaṇṇaṃ padumagabbhasamānaṃ, taṃ so vatthapaṭicchannattā, antomukhagatāya ca jivhāya pahūtabhāvaṃ asallakkhento tesu dvīsu lakkhaṇesu kaṅkhī ahosi vicikicchī.

Kaṅkhati (phân vân): Thanh niên Uttara khởi lên sự ước muốn rằng ‘Ồ ta có thể nhìn thấy (2 tướng nữa)’. Vicikicchati (hoài nghi): khi chọn lựa những tướng đó từ những tướng ấy thật khó khăn, không thể nhìn thấy được. Nādhimuccati (chưa xác quyết): không đưa đến quyết định do sự hoài nghi ấy. na sampasīdati (chưa hài lòng): từ đó mới không sanh khởi sự tịnh tín đối với đức Thế Tôn rằng: “ngài có tướng đầy đủ trọn vẹn”, hơn nữa ngài đã nói đến sự lưỡng lự yếu ớt với sự phân vân, trung bình với sự hoài nghi, mạnh mẽ với sự chưa hài lòng. Do vẫn chưa có lòng tin, tâm có tính chất nản lòng với cả 3 nguyên nhân đó. Kosohite: là được che đậy lại bởi lớp vỏ bọc bằng da. Vatthaguyhe: là dương vật (nam căn). Thật vậy, năm căn được bọc lại của đức Thế Tôn tương tự ở bên trong một hoa se, có màu tợ như vàng, trông như thể dương vật của loài voi, thanh niên Uttara ấy trong khi không nhìn thấy nam căn ấy bởi vị lớp ý đã che lại và sự vừa đủ của lưỡi cũng không thể xác định, bởi vì (tướng đó) nằm ở bên trong vòm miệng nên mới có sự phân vân, hoài nghi về 2 tướng đó.

atha kho bhagavāti atha bhagavā cintesi — “sacāhaṃ imassa etāni dve lakkhaṇāni na dassessāmi, nikkaṅkho na bhavissati. etassa kaṅkhāya sati ācariyopissa nikkaṅkho na bhavissati, atha maṃ dassanāya na āgamissati, anāgato dhammaṃ na sossati, dhammaṃ asuṇanto tīṇi sāmaññaphalāni na sacchikarissati. etasmiṃ pana nikkaṅkhe ācariyopissa nikkaṅkho maṃ upasaṅkamitvā dhammaṃ sutvā tīṇi sāmaññaphalāni sacchikarissati. etadatthaṃyeva ca mayā pāramiyo pūritā. dassessāmissa tāni lakkhaṇānī”ti.

Atha kho bhagavā (khi ấy đức Thế Tôn): khi ấy đức Thế Tôn suy nghĩ rằng – “Nếu như ta không để lộ 2 tướng này cho thanh niên Uttara này, thì thanh niên ấy sẽ không hết sự nghi hoặc, khi anh ta có sự nghi hoặc thì ngay cả thầy của anh ta cũng không hết nghi hoặc, khi đó anh ta sẽ không đến tìm kiếm ta, khi không đến thì sẽ không thể lắng nghe Giáo Pháp, khi không được lắng nghe Giáo Pháp thì không thể tác chứng được 3 quả vị của Sa-môn, nhưng khi thanh niên ấy đã hết nghi hoặc, thì cả thầy của anh ta cũng hết nghi hoặc (sẽ) đến tìm gặp ta, sau khi lắng nghe Giáo Pháp cũng sẽ tác chứng được 3 Quả. Hơn nữa, ta thực hành ba-la-mật cũng vì lợi ích như thế. Ta sẽ thể hiện những tướng đó đến thanh niên Uttara”.

tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāramakāsi. kathaṃrūpaṃ? kimettha aññena vattabbaṃ? vuttametaṃ nāgasenatthereneva milindaraññā puṭṭhena —

Tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāramakāsi (khi đó đức Thế Tôn đã thể hiện thần thông…): thể hiện có sắc (hình tướng) thế nào? Ở đây, người khác có thể nói ra sao? Lời ấy trưởng lão Nāgasela đã được đức vua Milinda hỏi (và) đã được giải đáp rồi.

āha ca dukkaraṃ, bhante nāgasena, bhagavatā katanti. kiṃ mahārājāti? mahājanena hirikaraṇokāsaṃ brahmāyubrāhmaṇassa ca antevāsiuttarassa ca bāvariyassa antevāsīnaṃ soḷasabrāhmaṇānañca selassa ca brāhmaṇassa antevāsīnaṃ tisatamāṇavānañca dassesi, bhanteti. na, mahārāja, bhagavā guyhaṃ dasseti, chāyaṃ bhagavā dasseti, iddhiyā abhisaṅkharitvā nivāsananivatthaṃ kāyabandhanabaddhaṃ cīvarapārutaṃ chāyārūpakamattaṃ dassesi mahārājāti. chāyaṃ diṭṭhe sati diṭṭhoyeva. nanu, bhanteti? tiṭṭhatetaṃ, mahārāja, hadayarūpaṃ disvā bujjhanakasatto bhaveyya, hadayamaṃsaṃ nīharitvā dasseyya sammāsambuddhoti. kallosi, bhante nāgasenāti.

Thưa đại đức Nāgasena, đức Thế Tôn đã làm điều khó làm. Thưa Đại vương, làm điều gì? – Thưa đại đức, đức Thế Tôn đã tạo cơ hội khiến cho đại chúng phải xấu hổ cùng thanh niên Uttara học trò của Bà-la-môn Brahmāyu, cùng nhóm 16 vị Bà-la-môn là học trò của Bāvarī, và cùng 300 thanh niên là học trò của Bà-la-môn Sela nữa. – Tâu Đại vương, đức Thế Tôn không hiển lộ nam căn đâu chỉ hiển lộ cái bóng, tức là ngài thị hiện bằng thần thông, rồi chỉ để hiện lộ hình tướng bằng cái bóng bên trong nội y đã được buộc dây thắt lưng rồi đắp y vai trai. – Trong khi nhìn thấy cái bóng cũng được xem là đã thấy nam căn không phải sao? – Điều đó hãy gác qua một bên trước đã, tâu Đại vương mọi người chúng ta phải nhìn vào tâm, sau khi nhìn nhìn thấy đã giác ngộ, bậc Chánh đẳng Chánh giác cũng cần lấy quả tim ra để biểu lộ chăng? – Thưa đại đức Nāgasena, ngài thật tài giỏi.

ninnāmetvāti nīharitvā. anumasīti kathinasūciṃ viya katvā anumajji. tathā karaṇena cettha mudubhāvo, kaṇṇasotānumasanena dīghabhāvo, nāsikasotānumasanena tanubhāvo, nalāṭacchādanena puthulabhāvo pakāsitoti veditabbo. ubhopi kaṇṇasotānītiādīsu cettha buddhānaṃ kaṇṇasotesu malaṃ vā jallikā vā natthi, dhovitvā ṭhapitarajatapanāḷikā viya honti, tathā nāsikasotesu, tānipi hi suparikammakatakañcanapanāḷikā viya ca maṇipanāḷikā viya ca honti. tasmā jivhaṃ nīharitvā kathinasūciṃ viya katvā mukhapariyante upasaṃharanto dakkhiṇakaṇṇasotaṃ pavesetvā tato nīharitvā vāmakaṇṇasotaṃ pavesesi, tato nīharitvā dakkhiṇanāsikasotaṃ pavesetvā tato nīharitvā vāmanāsikasotaṃ pavesesi, tato nīharitvā puthulabhāvaṃ dassento rattavalāhakena aḍḍhacandaṃ viya ca suvaṇṇapattaṃ viya ca rattakambalapaṭalena vijjujotasadisāya jivhāya ke valakappaṃ nalāṭamaṇḍalaṃ paṭicchādesi.

Ninnāmetvā: đã nhe lưỡi ra. Anumasi (đã liếm): đã liếm xuôi liếm ngược giống như xỏ chỉ may y Kathina. Cũng trong câu đó nên biết rằng tuyên bố tính chất mềm bằng việc thực hiện như thế, tính chất dài bằng việc sờ đến chạm đến hai lỗ tai, tính chất mỏng bằng việc sờ đến chạm đến hai lỗ mũi, tính chất rộng lớn bởi che phủ khắp cả vầng trán. Và ở đây, ubhopi kaṇṇasotānī (hai lỗ tai) v.v, không có tạp chất hay chất bẩn ở trong lỗ của đức Phật, tựa như ống bằng bạc mà vị ấy rửa sạch rồi đặt vào. Ở trong lỗ mũi cũng tương tự y như vậy. Thậm chí những lỗ đó giống như ống bằng vàng được vị ấy chuẩn bị kỹ lưỡng và giống như ống bằng ngọc ma-ni. Vì thế, mới nhe lưỡi ra, cuộn tròn vào tới tận cùng miệng lên phía trên đã thực hiện tựa như mũi kim may y Kathina, (lưỡi) chạm đến lỗ tai bên phải, lấy (lưỡi) ra khỏi lỗ tai bên phải ấy; (lưỡi) chạm đến lỗ tai bên trái, lấy (lưỡi) ra khỏi lỗ tai bên trái; (lưỡi) chạm đến lỗ mũi bên phải, lấy ra khỏi lỗ mũi bên phải; (lưỡi) chạm đến lỗ mũi bên trái, khi lấy (lưỡi) ra khỏi lỗ mũi bên trái, để hiển lộ tính chất rộng lớn mới che phủ khắp cả vầng trán bằng lưỡi, giống như ánh sáng rực rỡ bị che đậy bằng tấm vải kambala được nhuộm đỏ, tựa như vầng trăng khuyết bị áng mây hồng phủ lên và tựa như cái mâm vàng.

yaṃnūnāhanti kasmā cintesi? ahañhi mahāpurisalakkhaṇāni samannesitvā gato “diṭṭhāni te, tāta, mahāpurisalakkhaṇānī”ti ācariyena pucchito “āma, ācariyā”ti vattuṃ sakkhissāmi. sace pana maṃ “kiriyākaraṇamassa kīdisan”ti pucchissati, taṃ vattuṃ na sakkhissāmi, na jānāmīti vutte pana ācariyo kujjhissati “nanu tvaṃ mayā sabbampetaṃ jānanatthāya pesito, kasmā ajānitvā āgatosī”ti, tasmā yannūnāhanti cintetvā anubandhi. bhagavā nhānaṭṭhānaṃ mukhadhovanaṭṭhānaṃ sarīrapaṭijagganaṭṭhānaṃ rājarājamahāmattādīnaṃ orodhehi saddhiṃ parivāretvā nisinnaṭṭhānanti imāni cattāri ṭhānāni ṭhapetvā sesaṭṭhānesu antamaso ekagandhakuṭiyampi okāsamakāsi.

Yaṃnūnāhaṃ: hỏi rằng: nhân gì thanh niên Uttara suy nghĩ? Thanh niên Uttara nghĩ rằng: ta quan sát tướng của bậc Đại nhân, trở về nếu như thầy của ta có hỏi “này con thân, con đã nhìn thấy tướng của bậc Đại nhân rồi phải không?” cũng sẽ trả lời rằng: “dạ rồi, thưa thầy”. Nhưng nếu thầy sẽ hỏi rằng: “đức Thế Tôn đã thực hiện hành động như thế thế nào?” ta sẽ không thể trả lời câu hỏi đó được, nhưng nếu ta nói rằng: ‘con không biết’ thì thầy của ta sẽ nổi giận rày la ta, gửi ngươi đi để quan sát nhận biết các tướng này không phải hay sao? tại sao ngươi lại không biết rồi quay trở lại,” vì thế, đã suy nghĩ làm như thế nào? rồi đi theo (đức Thế Tôn). Đức Thế Tôn đã tạo cơ hội ở trong các nơi, loại trừ bốn chỗ là chỗ tắm gội, chỗ súc miệng, chỗ làm sạch thân thể, chỗ ngồi được vây quanh bởi những nữ nhân của đức vua và các quan đại thần của đức vua v.v, cuối cùng kể cả ở chung một Hương Thất.

gacchante gacchante kāle — “ayaṃ kira brahmāyubrāhmaṇassa māṇavo uttaro nāma ‘buddho vā no vā’ti tathāgatassa buddhabhāvaṃ vīmaṃsanto carati, buddhavīmaṃsako nāmāyan”ti pākaṭo jāto. yamhi yamhi ṭhāne buddhā vasanti, pañca kiccāni katāneva honti, tāni heṭṭhā dassitāneva. tattha pacchābhattaṃ alaṅkatadhammāsane nisīditvā dantakhacitaṃ cittabījaniṃ gahetvā mahājanassa dhammaṃ desente bhagavati uttaropi avidūre nisīdati. dhammassavanapariyosāne saddhā manussā svātanāya bhagavantaṃ nimantetvā māṇavampi upasaṅkamitvā evaṃ vadanti — “tāta, amhehi bhagavā nimantito, tvampi bhagavatā saddhiṃ āgantvā amhākaṃ gehe bhattaṃ gaṇheyyāsī”ti. punadivase tathāgato bhikkhusaṅghaparivuto gāmaṃ pavisati, uttaropi padavāre padavāre pariggaṇhanto padānupadiko anubandhati. kulagehaṃ paviṭṭhakāle dakkhiṇodakaggahaṇaṃ ādiṃ katvā sabbaṃ olokento nisīdati. bhattakiccāvasāne tathāgatassa pattaṃ bhūmiyaṃ ṭhapetvā nisinnakāle māṇavakassa pātarāsabhattaṃ sajjenti. so ekamante nisinno bhuñjitvā puna āgantvā satthu santike ṭhatvā bhattānumodanaṃ sutvā bhagavatā saddhiṃyeva vihāraṃ gacchati.

Khi thời gian trôi qua, trôi qua, cũng đã xuất hiện rằng – “thanh niên (học trò) của Bà-la-môn Brahmāyu tên là Uttara này, đi du hành để quan sát bản thể của một vị Phật, của đấng Như Lai rằng: ‘vị ấy có phải là đức Phật hay không phải’, thanh niên Uttara được gọi là người thấm tìm hỏi đức Phật.” Chư Phật an trú ở (bất cứ) chỗ nào, cũng đều làm năm phận sự cũng một lúc, những phận sự đó cũng đã được trình ở phần trước. Ở đó, sau bữa ăn đức Thế Tôn đã ngồi trên Pháp tọa đã được trang hoàng, đã cầm lấy cái quạt được chế tạo tinh vi và khéo léo bằng ngà voi để thuyết giảng Giáo Pháp cho đại chúng, ngay cả thanh niên Uttara cũng đã ngồi ở nơi không xa. Vào cuối thời Pháp mọi người có đức tin thỉnh mời đức Thế Tôn thọ trai vào ngày mai, (họ) cũng đi vào kiếm thanh niên Uttara với lời nói như vầy: “này bạn, chúng tôi đã thỉnh mời đức Thế Tôn, còn bạn cũng hãy đến thọ nhận vật thực ở tại gia đình của chúng tôi cùng với đức Thế Tôn.” Qua ngày hôm sau, đấng Như Lai có hội chúng Tỳ khưu vây quanh cùng đi vào làng, cả thanh niên Uttara cũng đi theo sau quan sát mỗi mỗi bước chân. Trong lúc đi vào nhà của gia chủ thanh niên ngồi quan sát tất cả mọi hành động từ việc nhận lấy nước để làm lễ v.v, Sau khi hoàn tất thọ thực, vào lúc đấng Như Lai ngồi xuống đã đặt bình bát xuống mặt đất, mọi người sắp xếp dọn thức ăn sáng cho thanh niên. Thanh niên ấy ngồi thọ dụng ở chỗ cuối cùng, rồi trở lại đứng ở nơi gần chỗ bậc Đạo Sư lắng nghe bhattānumodanā (thuyết giảng sự tùy hỷ vật thực cúng dường), sau đó quay trở về tịnh xá cùng một lúc với đức Thế Tôn.

tattha bhagavā bhikkhūnaṃ bhattakiccapariyosānaṃ āgamento gandhamaṇḍalamāḷe nisīdati. bhikkhūhi bhattakiccaṃ katvā pattacīvaraṃ paṭisāmetvā āgamma vanditvā kāle ārocite bhagavā gandhakuṭiṃ pavisati, māṇavopi bhagavatā saddhiṃyeva gacchati. bhagavā parivāretvā āgataṃ bhikkhusaṅghaṃ gandhakuṭippamukhe ṭhito ovaditvā uyyojetvā gandhakuṭiṃ pavisati, māṇavopi pavisati. bhagavā khuddakamañce appamattakaṃ kālaṃ nisīdati, māṇavopi avidūre olokento nisīdati. bhagavā muhuttaṃ nisīditvā sīsokkamanaṃ dasseti, — “bhoto gotamassa vihāravelā bhavissatī”ti māṇavo gandhakuṭidvāraṃ pidahanto nikkhamitvā ekamantaṃ nisīdati. manussā purebhattaṃ dānaṃ datvā bhuttapātarāsā samādinnauposathaṅgā suddhuttarāsaṅgā mālāgandhādihatthā dhammaṃ suṇissāmāti vihāraṃ āgacchanti, cakkavattino khandhāvāraṭṭhānaṃ viya hoti.

Đức Thế Tôn đợi cho chư Tỳ khưu hoàn tất việc thọ dụng, ngài ngồi ở hội trường Gandhamaṇḍala. Khi chư Tỳ khưu đã hoàn tất việc thọ dụng cùng nhau thu dọn bình bát và y phục đến đảnh lễ, thông báo thời gian, đức Thế Tôn đi vào Hương Thất, cả thành niên cũng đi vào cùng với đức Thế Tôn tương tự, đức Thế Tôn đứng trước cửa chính của Hương Thất, đã giáo huấn chúng Tỳ khưu đến vây quanh cho giải tán rồi ngài đi vào Hương Thất. Thanh niên cũng đi vào cùng, đức Thế Tôn ngồi xuống chiếc giường nhỏ vào khoảng thời gian ít ỏi, mặc dầu thanh niên ngồi quán xét ở nơi không xa, đức Thế Tôn ngồi một lúc biểu lộ vẻ cúi đầu. Người thanh niên nghĩ rằng: “Sẽ là thời gian nghỉ ngơi của ngài Gotama” đóng cửa Hương Thất lại rồi đi ra ngoài ngồi ở một bên. Nhóm người cúng dường hôm trước, sau khi ăn sáng, thọ trì bát quan trai giới, mặc y phục sạch sẽ, cầm hoa và hương thơm v.v, đi đến tịnh xá với suy nghĩ rằng: sẽ lắng nghe Pháp, giống như chỗ cắm trại của vua Chuyển Luân.

bhagavā muhuttaṃ sīhaseyyaṃ kappetvā vuṭṭhāya pubbabhāgena paricchinditvā samāpattiṃ samāpajjati. samāpattito vuṭṭhāya mahājanassa āgatabhāvaṃ ñatvā gandhakuṭito nikkhamma mahājanaparivuto gandhamaṇḍalamāḷaṃ gantvā paññattavarabuddhāsanagato parisāya dhammaṃ deseti. māṇavopi avidūre nisīditvā — “kiṃ nu kho samaṇo gotamo gehassitavasena parisaṃ ussādento vā apasādento vā dhammaṃ deseti, udāhu no”ti akkharakkharaṃ padaṃ padaṃ pariggaṇhāti. bhagavā tathāvidhaṃ kathaṃ akathetvāva kālaṃ ñatvā desanaṃ niṭṭhāpesi. māṇavo iminā niyāmena pariggaṇhanto satta māse ekato vicaritvā bhagavato kāyadvārādīsu aṇumattampi avakkhalitaṃ na addasa. anacchariyañcetaṃ, yaṃ buddhabhūtassa manussabhūto māṇavo na passeyya, yassa bodhisattabhūtassa chabbassāni padhānabhūmiyaṃ amanussabhūto māro devaputto gehassitavitakkamattampi adisvā buddhabhūtaṃ ekasaṃvaccharaṃ anubandhitvā kiñci apassanto —

Đức Thế Tôn sau khi nghỉ ngơi xong trong dáng nằm của loài sư tử một lúc, đã ngồi dậy, sau khi xác định với phần bắt đầu đã nhập vào thiền chứng. Khi đã xuất khởi thiền chứng, biết được đại chúng đã đến, ngài mới rời khỏi Hương Thất, đại chúng vây quanh, đi đến hội trường Gandhamaṇḍala ngồi trên Phật tọa tối thắng đã được trải sẵn rồi thuyết Pháp đến cho hội chúng. Còn thanh niên ngồi ở một nơi không xa xác định từng chữ, từng câu với suy nghĩ rằng — “Phải chăng Sa-môn Gotama thuyết Pháp tán thành hoặc không tán thành hội chúng do tác động nương thế tục hay không thuyết giảng như thế?” Đức Thế Tôn không thuyết giảng như thế, sau khi biết được thời điểm, sau khi dừng Pháp thoại. Thanh niên xác định theo cách này đã đi một mình suốt bảy tháng không nhìn thấy bất kỳ lỗi lầm nào dù một lỗi nhỏ trong thân môn v.v, của đức Thế Tôn. Điều này chẳng có gì kỳ lạ, mà thanh niên Uttara là người nhân loại không nhìn thấy lỗi lầm của đức Phật, Khi ngài còn là Bồ-tát, Ác-ma thiên tử, là phi nhơn cũng không nhìn thấy dầu chỉ là suy tầm nương nhờ thế tục ở nơi thực hành sự tinh tấn suốt 6 năm vẫn theo dõi ngài, vị đã giác ngộ suốt một năm cũng không nhìn thấy bất kỳ lỗi lầm gì —

satta vassāni bhagavantaṃ, anubandhiṃ padāpadaṃ.

otāraṃ nādhigacchissaṃ, sambuddhassa satīmato”ti. (su. ni. 448) —

ādigāthāyo vatvā pakkāmi. tato māṇavo cintesi — “ahaṃ bhavantaṃ gotamaṃ satta māse anubandhamāno kiñci vajjaṃ na passāmi. sace panāhaṃ aññepi satta māse satta vā vassāni vassasataṃ vā vassasahassaṃ vā anubandheyyaṃ, nevassa vajjaṃ passeyyaṃ. ācariyo kho panassa me mahallako, yogakkhemaṃ nāma na sakkā jānituṃ. samaṇassa gotamassa sabhāvaguṇeneva buddhabhāvaṃ vatvā mayhaṃ ācariyassa ārocessāmī”ti bhagavantaṃ āpucchitvā bhikkhusaṅghaṃ vanditvā nikkhami.

Bảy năm ta đi theo từng bước chân của đức Thế Tôn.

Không tìm thấy lỗi lầm của bậc Chánh đẳng Chánh giác vị có niệm.

Sau khi nói kệ ngôn vị ấy đã rời đi. Sau đó thanh niên nghĩ rằng – “Ta đi theo ngài Gotama đến bảy tháng cũng không nhìn thấy bất cứ lỗi lầm gì nhưng nếu ta có thể đi theo thậm chí thêm bảy tháng nữa, hoặc bảy năm, hoặc một trăm năm, hoặc một nghìn năm cũng không thể nhìn thấy được lỗi lầm của ngài, nhưng vị thầy của ta cũng đã lớn tuổi có lẽ không thể biết được sự lặng yên của các điều ràng buộc, ta sẽ nói rằng Sa-môn Gotama là đức Phật chính với những đức hạnh đứng theo thực tính rồi thuật lại chuyện cho thầy của ta,” rồi chào từ biệt đức Thế Tôn, đảnh lễ Tăng chúng rồi rời đi.

ācariyassa santikañca pana gantvā — “kacci, tāta uttara, taṃ bhavantaṃ gotamaṃ tathāsantaṃyeva saddo abbhuggato”ti pucchito, “ācariya, kiṃ vadesi? cakkavāḷaṃ atisambādhaṃ, bhavaggaṃ atinīcaṃ, tassa hi, bhoto gotamassa ākāsaṃ viya apariyanto guṇagaṇo. tathāsantaṃyeva, bho, taṃ bhavantaṃ gotaman”tiādīni vatvā yathādiṭṭhāni dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni paṭipāṭiyā ācikkhitvā kiriyasamācāraṃ ācikkhi. tena vuttaṃ — “atha kho uttaro māṇavo … pe … ediso ca ediso ca bhavaṃ gotamo tato ca bhiyyo”ti.

Như thế thanh niên Uttara đã trở về trú xứ của thầy, bị thầy hỏi rằng –- “Này Uttara thân mến, có phải tiếng đồn về tôn giả Gotama là có thật như thế phải không?” mới nói rằng: “thưa thầy, thầy nói gì vậy? vũ trụ thật quá chật chội, sanh hữu tột cùng cũng quá thấp, sự tích trữ nhiều đức lành của ngài Gotama ấy không có giới hạn tựa như hư không, thưa thầy tiếng đồn về ngài Gotama ấy là có thật như thế v.v,” mới nói về ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân theo cách đã nhìn thấy theo thứ tự, rồi nói đến kiriya-samācāra. Do đó đã nói rằng — “Khi ấy, thanh niên Uttara … ngài Gotama là như thế, là như thế và hơn thế nữa.”

386. tattha suppatiṭṭhitapādoti yathā hi aññesaṃ bhūmiyaṃ pādaṃ ṭhapentānaṃ aggatalaṃ vā paṇhi vā passaṃ vā paṭhamaṃ phusati, vemajjhaṃ vā pana chiddaṃ hoti, ukkhipantānampi aggatalādīsu ekakoṭṭhāsova paṭhamaṃ uṭṭhahati, na evaṃ tassa. tassa pana suvaṇṇapādukatalaṃ viya ekappahāreneva sakalaṃ pādatalaṃ bhūmiṃ phusati, bhūmito uṭṭhahati. tasmā “suppatiṭṭhitapādo kho pana so bhavaṃ gotamo”ti vadati.

386. Ở đó, suppatiṭṭhitapādo (có lòng bàn chân bằng phẳng): giống như, tất cả mọi người khác đặt bàn chân lên trên mặt đất cầu thì phần đầu các ngón chân, hay gót chân, hay hai bên sẽ chạm mặt đất trước, hoặc là ở giữa bàn chân lõm xuống, khi nhấc lên thì một phần đầu các ngón chân v.v, sẽ được nâng lên trước, nhưng của đức Phật thì không phải vậy. Toàn bộ lòng bàn chân của ngài sẽ chạm mặt đất cùng một lúc tựa như mặt đất trải chân bằng vàng, vì thế nhấc lên từ mặt đất cũng cùng lúc. Cho nên đã nói rằng: “Ngài Gotama, vị ấy có lòng bàn chân bằng phẳng…”

tatridaṃ bhagavato suppatiṭṭhitapādatāya — sacepi hi bhagavā anekasataporisaṃ narakaṃ akkamissāmīti pādaṃ nīharati, tāvadeva ninnaṭṭhānaṃ vātapūritaṃ viya kammārabhastaṃ unnamitvā pathavīsamaṃ hoti, unnataṭṭhānampi anto pavisati. dūre akkamissāmīti abhinīharantassa sineruppamāṇopi pabbato seditavettaṅkuro viya namitvā pādasamīpaṃ āgacchati. tathā hissa yamakapāṭihāriyaṃ katvā yugandharapabbataṃ akkamissāmīti pāde abhinīharato pabbato namitvā pādasamīpaṃ āgato, so taṃ akkamitvā dutiyapādena tāvatiṃsabhavanaṃ akkami. na hi cakkalakkhaṇena patiṭṭhātabbaṭṭhānaṃ visamaṃ bhavituṃ sakkoti. khāṇu vā kaṇḍako vā sakkharakathalā vā uccārapassāvo vā kheḷasiṅghāṇikādīni vā purimatarāva apagacchanti, tattha tattheva ca pathaviṃ pavisanti. tathāgatassa hi sīlatejena paññātejena dhammatejena dasannaṃ pāramīnaṃ ānubhāvena ayaṃ mahāpathavī samā mudu pupphābhikiṇṇā hoti. tatra tathāgato samaṃ pādaṃ nikkhipati, samaṃ uddharati, sabbāvantehi pādatalehi bhūmiṃ phusati.

Trong câu này đức Thế Tôn có lòng bàn chân bằng phẳng ấy (có điều đáng ngạc nhiên như sau) – Thậm chí nếu như đức Thế Tôn sải bước chân với ý định rằng: ta sẽ giẫm lên vực thẳm sâu đến (bằng) chiều cao nhiều trăm người thì ngay tức khắc những chỗ thấp sẽ được nâng lên ngang bằng với mặt đất, giống như ống thổi của người thợ kim hoàng chứa đầy không khí, thậm chí những chỗ gò cao ở bên trong (cũng tương tự y như thế). Khi bước chân với sự chú tâm rằng: ta sẽ bước chân ở chỗ xa đỉnh núi thậm chí bằng đỉnh núi Suneru thì cũng cúi xuống gần chân (ngài) tựa như cành mây đã được ngâm trong nước. Thật thế khi ngài thị hiện Song thông bước chân với ý định rằng: ta sẽ bước lên ngọn núi Yugandhara thì ngọn núi thì ngọn núi ấy cũng cúi xuống gần chân (ngài). Ngài chạm ngọn núi (từ đây) ngài bước lên cõi Đạo Lợi bằng cả 2 chân. Tướng bánh xe không thể không được thiết lập bằng nhau. Gốc cây, hay gai nhọn, hay đất đá, hoặc gạch đá, hay phân nước tiểu, hay nước bọt, nước mũi v.v, có trước đó cũng tự biến mất, hoặc lặng xuống mặt đất ngay chính tại chỗ đó. Thật vậy, bởi quyền lực của giới, bởi quyền lực của tuệ, bởi quyền lực của Pháp, nhờ oai lực của mười ba-la-mật của Như Lai, đại địa này (trở nên) bằng phẳng, mềm mại, được rải đầy hoa. Như Lai hạ chân đều, (và) bước chân bằng nhau, tiếp xúc mặt đất toàn phần của bàn chân.

cakkānīti dvīsu pādesu dve cakkāni. tesaṃ arā ca nemi ca nābhi ca pāḷiyaṃ vuttāva. sabbākāraparipūrānīti iminā pana ayaṃ viseso veditabbo — tesaṃ kira cakkānaṃ pādatalassa majjhe nābhi dissati, nābhiparicchinnā vaṭṭalekhā dissati, nābhimukhaparikkhepapaṭṭo dissati, panāḷimukhaṃ dissati, arā dissanti, aresu vaṭṭalekhā dissanti, nemī dissanti, nemimaṇikā dissanti. idaṃ tāva pāḷiāgatameva.

cakkāni (hình bánh xe): (ở dưới) cả hai lòng bàn chân mỗi lòng bàn chân đều có một hình bánh xe. Ngài đã nói trong Chánh văn Pāḷī rằng: bánh xe ấy có căm xe, vành xe, và trục xe. Sabbākāraparipūrānī (các bộ phận hoàn toàn đầy đủ) này nên biết sự khác biệt như vậy. Được biết rằng những bánh xe ấy hiện ra trục bánh xe ở giữa lòng bàn chân. hiện ra những họa tiết tròn xung quanh trục, ở trước trục cũng hiện ra thành vòng tròn bao quanh, hiện ra thành miệng ống, hiện ra thành căm xe, hiện ra họa tiết tròn ở căm xe, hiện ra thành vành bánh xe, hiện ra thành vành bánh xe ngọc. Điều này đến hoàn toàn theo Chánh văn Pāḷī trước.

sambahulavāro pana anāgato, so evaṃ daṭṭhabbo — satti siri vaccho nandi sovattiko vaṭaṃsako vaḍḍhamānakaṃ macchayugalaṃ bhaddapīṭhaṃ aṅkusaṃ tomaro pāsādo toraṇaṃ setacchattaṃ khaggo tālavaṇṭaṃ morahatthako vāḷabījanī uṇhīsaṃ patto maṇi kusumadāmaṃ nīluppalaṃ rattuppalaṃ setuppalaṃ padumaṃ puṇḍarīkaṃ puṇṇaghaṭo puṇṇapāti samuddo cakkavāḷo himavā sineru candimasūriyā nakkhattāni cattāro mahādīpā dveparittadīpasahassāni, antamaso cakkavattirañño parisaṃ upādāya sabbo cakkalakkhaṇasseva parivāro.

Nhưng đoạn phần nhiều không đến, cũng trong phần đó nên biết như vầy – hình ảnh cây giáo, hình ảnh con bê, hình ảnh cái gương soi mặt, hình ảnh cái rương, hình ảnh hoa nhài, hình ảnh đôi cá, hình ảnh cái ghế, hình ảnh lâu đài, hình ảnh cột trụ, hình ảnh cây lọng trắng, hình ảnh con dao hai lưỡi, hình ảnh quạt lá thốt nốt, hình ảnh quạt đuôi công, hình ảnh quạt đuôi chim, hình ảnh không mặt, hình ảnh lá cờ, hình ảnh tràng hoa, hình ảnh hoa súng xanh, hình ảnh hoa súng trắng, hình ảnh hoa súng đỏ, hình ảnh hoa sen xanh, hình ảnh hoa sen trắng, hình ảnh bình nước đầy, hình ảnh cái khay đầy nước, hình ảnh biển cả, hình ảnh vũ trụ, hình ảnh núi Hy-mã-lạp, hình ảnh núi Sineru, hình ảnh mặt trăng, hình ảnh mặt trời, hình ảnh chòm sao, hình ảnh bốn châu lục lớn, hai châu lục nhỏ, một nghìn tiểu thiên, cuối cùng toàn bộ đoàn tùy tùng của tướng bánh xe muốn đề cập đến hội chúng của vua Chuyển Luân.

āyatapaṇhīti dīghapaṇhi, paripuṇṇapaṇhīti attho. yathā hi aññesaṃ aggapādo dīgho hoti, paṇhimatthake jaṅghā patiṭṭhāti, paṇhi tacchetvā ṭhapitā viya hoti, na evaṃ tathāgatassa. tathāgatassa pana catūsu koṭṭhāsesu dve koṭṭhāsā aggapādo hoti, tatiye koṭṭhāse jaṅghā patiṭṭhāti, catutthe koṭṭhāse āraggena vaṭṭetvā ṭhapitā viya rattakambale geṇḍukasadisā paṇhi hoti.

Āyatapaṇhi (có gót chân thon dài): gót chân dài, có nghĩa là có gót chân được tròn đầy. Giống như ngón chân của người khác dài, ống quyển nằm ở cuối gót chân, gót chân xuất hiện tựa như đặt cái cuốc, còn của đấng Như Lai không phải như vậy. Còn đối với Như Lai trong bốn phần là phần ngón chân 2 phần, phần ống quyển đặt ở phần thứ ba, còn trong phần thứ tư gót chân giống như quả bóng tròn được làm với tấm vải len được nhuộm đỏ, như thể xoay tròn dính vào đỉnh đầu của cái dùi.

dīghaṅgulīti yathā aññesaṃ kāci aṅguli dīghā hoti, kāci rassā, na evaṃ tathāgatassa. tathāgatassa pana makkaṭasseva dīghahatthapādaṅguliyo mūle thūlā anupubbena gantvā agge tanukā niyyāsatelena madditvā vaṭṭitaharitālavaṭṭisadisā honti. tena vuttaṃ “dīghaṅgulī”ti.

Dīghaṅgulī (các ngón tay-chân dài): như những người khác một số người có ngón tay dài, một số người có ngón tay ngắn, những của đấng Như Lai không như vậy. Còn của đấng Như Lai các ngón tay và ngón chân dài dày ở góc thon dần lên đến đầu ngón, giống như ngón tay của con khỉ, tựa như cây nến được nhào trộn với dầu nhựa cây, bởi thế ngài đã nói rằng “có ngón tay-chân dài)”.

mudutalunahatthapādoti sappimaṇḍe osādetvā ṭhapitaṃ satavāravihatakappāsapaṭalaṃ viya mudū, jātamattakumārassa viya ca niccakālaṃ talunā ca hatthapādā assāti mudutalunahatthapādo.

Mudutalunahatthapādo (có lòng bàn tay và bàn chân mềm mại): gọi là có lòng bàn tay và bàn chân mềm mại với ý nghĩa mềm như sợi bông được vò nhàu cả trăm lần rồi nhúng vào bơ lỏng đặt ở đó, và có bàn tay và bàn chân luôn luôn mềm mại như của đứa bé mới sanh.

jālahatthapādoti na cammena paṭibaddhāṅgulantaro. ediso hi phaṇahatthako purisadosena upahato pabbajjampi na labhati. tathāgatassa pana catasso hatthaṅguliyo pañcapi pādaṅguliyo ekappamāṇā honti, tāsaṃ ekappamāṇattāya yavalakkhaṇaṃ aññamaññaṃ paṭivijjhitvā tiṭṭhati. athassa hatthapādā kusalena vaḍḍhakinā yojitajālavātapānasadisā honti. tena vuttaṃ “jālahatthapādo”ti.

Jālahatthapādo (lòng bàn tay và lòng bàn chân có màng da lưới): khoảng cách giữa các ngón tay không bao phủ bởi da, (có hình dạng) giống như cái đầu của rắn hổ bởi đây sẽ là một khuyết điểm về hình dạng của con người (purisadosa), sẽ không đạt được ngay cả việc xuất gia. Nhưng của đấng Như Lai thì cả bốn ngón tay và cả năm ngón chân đều có kích thước như nhau. Bởi vì những ngón tay-chân ấy có kích thước đồng đều nhau (nằm ở mặt trong của đốt ngón tay) có một đặc điểm tương tự như cây lúa mạch đối xứng được thiết lập. Bàn tay và bàn chân của đấng Như Lai ấy tương tự như tấm lưới mỏng cửa sổ được người thợ mộc tài giỏi đã kéo căng ra (đồng đều và song song). Vì thế ngài nói rằng “lòng bàn tay và lòng bàn chân có màng da lưới”.

uddhaṃ patiṭṭhitagopphakattā ussaṅkhā pādā assāti ussaṅkhapādo. aññesañhi piṭṭhipāde gopphakā honti. tena tesaṃ pādā āṇibaddhā viya thaddhā honti, na yathāsukhaṃ parivattanti, gacchantānaṃ pādatalāni na dissanti. tathāgatassa pana abhiruhitvā upari gopphakā patiṭṭhahanti. tenassa nābhito paṭṭhāya uparimakāyo nāvāya ṭhapitasuvaṇṇapaṭimā viya niccalo hoti, adhokāyova iñjati. sukhena pādā parivattanti. puratopi pacchatopi ubhayapassesupi ṭhatvā passantānaṃ pādatalāni paññāyanti, na hatthīnaṃ viya pacchatoyeva.

ussaṅkhapādo (có mắt cá chân hơi cao): Có mắt cá chân ở giữa với ý nghĩa mắt cá chân được cố định ở trên (mắt cá chân không ở trên gót chân mà nằm ở giữa chiều dài của bàn chân). Thật vậy, mắt cá chân của những người khác nằm gần sát mu bàn chân. Vì thế bàn chân của họ cứng chai như cái nêm không thể xoay chuyển thoải mái, khi bước đi hai lòng bàn chân không hiện ra. Còn của đấng Như Lai mắt cá chân ở trên. Bởi thế phần thân trên của ngài từ phần rốn trở đi không bị chuyển động trông như pho tượng bằng vàng được đặt ở trên thuyền, chỉ có phần thân dưới mới chuyển động. Bàn chân xoay chuyển được dễ dàng. Khi có người đứng nhìn từ bốn phía là trước mặt, sau lưng, hay ở hai bên thì đều có thể nhìn thấy lòng bàn chân ngài, còn như loài voi thì chỉ có thể nhìn thấy lòng bàn chân của nó từ phía sau.

eṇijaṅghoti eṇimigasadisajaṅgho maṃsussadena paripuṇṇajaṅgho, na ekato baddhapiṇḍikamaṃso, samantato samasaṇṭhitena maṃsena parikkhittāhi suvaṭṭitāhi sāligabbhasadisāhi jaṅghāhi samannāgatoti attho.

Eṇijaṅgho (có ống chân như ống chân con sơn dương): có ống chân đầy đặn bởi phần thịt nhô lên gọi là có ống chân như ống chân con sơn dương, có nghĩa là những thớ thịt không vón thành cục dính ở một bên, mà ống chân có thớ thịt bao bọc đều xung quanh hoàn toàn chắc chắn và cả hai chân đều được bao bọc bởi các thớ thịt trông như thể bụng lúa sālī.

anonamantoti anamanto. etenassa akhujjāvāmanabhāvo dīpito. avasesajanā hi khujjā vā honti vāmanā vā, khujjānaṃ uparimakāyo aparipuṇṇo hoti, vāmanānaṃ heṭṭhimakāyo. te aparipuṇṇakāyattā na sakkonti anonamantā jaṇṇukāni parimajjituṃ. tathāgato pana paripuṇṇaubhayakāyattā sakkoti.

Anonamanto (không cúi xuống): ngài trình bày đến tính chất không phải người gù lưng và không phải người có chân vòng kiềng, Những người gù lưng thì thân không cân đối vì phần trên của thân ngắn hơn phần dưới. Người có chân vòng kiềng cũng vậy, phần dưới thân của họ ngắn hơn phần trên. Vì thân phát triển không cân đối nên họ không thể chạm tay đụng đầu gối, trừ khi họ nghiêng người tới trước. Còn đối với đấng Như Lai thì có thể sờ đụng đầu gối bởi có cả hai phần là phần thân trên và thân dưới cân đối hoàn hảo.

usabhavāraṇādīnaṃ viya suvaṇṇapadumakaṇṇikasadise kose ohitaṃ paṭicchannaṃ vatthaguyhaṃ assāti kosohitavatthaguyho. vatthaguyhanti vatthena gūhitabbaṃ aṅgajātaṃ vuccati.

Nam căn được bọc lại bởi lớp vỏ bọc bằng da bởi ý nghĩa nam căn được đặt ở dưới là bao bọc bởi lớp vỏ bọc bằng da trong như thể hoa sen vàng, hoa kaṇṇika, giống như dương vật của con bò mộng và voi v.v. Nam căn hay dương vật: bộ phận nằm ẩn dưới lớp vải ngài gọi là nam căn.

suvaṇṇavaṇṇoti jātihiṅgulakena majjitvā dīpidāṭhāya ghaṃsitvā gerukaparikammaṃ katvā ṭhapitaghanasuvaṇṇarūpakasadisoti attho. etenassa ghanasiniddhasaṇhasarīrataṃ dassetvā chavivaṇṇadassanatthaṃ kañcanasannibhattacoti vuttaṃ, purimassa vā vevacanameva etaṃ.

Suvaṇṇavaṇṇo (có màu da tựa như vàng): Như thể sắc thân được ví như vàng khối được tô với màu đỏ tươi, đã được đánh bóng bởi răng nanh của hổ, được sơn màu đỏ (và) đặt xuống. Với câu này đã chỉ ra được (đức Thế Tôn) có sắc thân vô cùng hoàn hảo và tinh tế như một khối (vàng), mới nói rằng có màu da trong sáng tựa như vàng, cùng nhằm mục đích nói đến màu da, hơn nữa lời này là đồng nghĩa với lời nói trước.

rajojallanti rajo vā malaṃ vā. na upalimpatīti na laggati, padumapalāsato udakabindu viya vivaṭṭati. hatthadhovanapādadhovanādīni pana utuggahaṇatthāya ceva dāyakānaṃ puññaphalatthāya ca buddhā karonti, vattasīsenāpi ca karontiyeva. senāsanaṃ pavisantena hi bhikkhunā pāde dhovitvā pavisitabbanti vuttametaṃ.

Rajojallaṃ (bụi bẩn) gồm bụi và chất bẩn, na upalimpati (không dính vào): không dính vào, biến mất giống như những giọt nước lăn tròn từ lá sen. Mặc dầu vậy, chư Phật cũng rửa tay và chân v.v, vì mục đích nắm bắt thời tiết (nóng và lạnh) và vì quả phước cho những thí chủ, và thực hiện cũng chỉ vì bổn phận. Thường vị Tỳ khưu đi vào chỗ trú ngụ cần phải rửa chân rồi mới đi vào, ngài nói đến điều ấy.

uddhaggalomoti āvaṭṭapariyosāne uddhaggāni hutvā mukhasobhaṃ ullokayamānāni viya ṭhitāni lomāni assāti uddhaggalomo.

Uddhaggalomo (có lông mọc xoáy tròn thẳng lên): có lông mọc thẳng lên bởi ý nghĩa rằng lông của ngài có phần ngọn đứng lên, ở đỉnh tóc xoăn tròn lại dựng thẳng lên như thể đang ngắm nhìn vẻ đẹp của khuôn mặt.

brahmujugattoti brahmā viya ujugatto, ujumeva uggatadīghasarīro. yebhuyyena hi sattā khandhe kaṭiyaṃ jāṇūsūti tīsu ṭhānesu namanti. te kaṭiyaṃ namantā pacchato namanti, itaresu dvīsu ṭhānesu purato. dīghasarīrā paneke passavaṅkā honti, eke mukhaṃ unnāmetvā nakkhattāni gaṇayantā viya caranti, eke appamaṃsalohitā sūlasadisā honti, pavedhamānā gacchanti. tathāgato pana ujumeva uggantvā dīghappamāṇo devanagare ussitasuvaṇṇatoraṇaṃ viya hoti.

Brahmujugatto (có thân hình cao thẳng như Phạm thiên): Có thân thẳng tựa như Phạm thiên, tức là có sắc thân hoàn toàn cao thẳng như Phạm thiên. Thường đa số chúng sanh cúi mình ở 3 vị trí là cổ, eo và đầu gối. Những người ấy khi cúi xuống ở eo sẽ nghiêng về phía sau, cúi xuống ở hai vị trí còn lại sẽ nghiêng về phía trước. Một số có thân hình cao có cột sống cong vẹo, một số có khuôn mặt ngẩng lên trông giống như đang quan sát các chòm sao, một số có ít thịt và máu y như cây lao, bước đi run rẩy. Nhưng đối với đấng Như Lai (có sắc thân) thẳng đứng, cao vừa đủ tựa như cột trụ vàng được nâng lên ở thành phố Chư thiên.

sattussadoti dve hatthapiṭṭhiyo dve pādapiṭṭhiyo dve aṃsakūṭāni khandhoti imesu sattasu ṭhānesu paripuṇṇamaṃsussado assāti sattussado. aññesaṃ pana hatthapādapiṭṭhīsu nhārujālā paññāyanti, aṃsakūṭakhandhesu aṭṭhikoṭiyo, te manussapetā viya khāyanti, na tathāgato. tathāgato pana sattasu ṭhānesu paripuṇṇamaṃsussadattā nigūḷhanhārujālehi hatthapiṭṭhādīhi vaṭṭetvā ṭhapitasuvaṇṇavaṇṇāliṅgasadisena khandhena silārūpakaṃ viya cittakammarūpakaṃ viya ca khāyati.

Sattussado (Thân thể có bảy chỗ tròn đầy): đấng Như Lai ấy có phần thịt ở bảy chỗ này được đầy đặn là hai mu bàn tay, hai mu bàn chân, hai bên vai, và phần cổ, vì thế được gọi là thân thể có bảy chỗ tròn đầy. Còn của những người khác hiện ra những đường gân dạng lưới ở hai mu bàn và hai mu bàn chân, ở phần vai và ở cổ, ở cuối đều là xương. Những người ấy xuất hiện tựa như loài ngạ quỷ. Đấng Như Lai không như thế. Đấng Như Lai có mạng lưới các sợi gân đã bao phủ kỹ lưỡng (không thể nhìn thấy), có cái cổ tròn đều, xinh đẹp như cái trống vàng được đánh bóng, nhờ vào phần thịt trên cơ thể tròn đầy ở bảy vị trí có mu bàn tay v.v, ngài xuất hiện trước mắt người khác giống như một pho tượng bằng đá khéo được tạc, hay như một bức chân dung khéo họa.

sīhassa pubbaddhaṃ viya kāyo assāti sīhapubbaddhakāyo. sīhassa hi puratthimakāyova paripuṇṇo hoti, pacchimakāyo aparipuṇṇo. tathāgatassa pana sīhassa pubbaddhakāyova sabbo kāyo paripuṇṇo. sopi sīhasseva na tattha tattha vinatunnatādivasena dussaṇṭhita-visaṇṭhito, dīghayuttaṭhāne pana dīgho, rassakisathūlānuvaṭṭitayuttaṭṭhānesu tathāvidhova hoti. vuttañhetaṃ —

Sīhapubbaddhakāyo (có nửa thân trước như thân con sư tử): bởi vì thân của ngài tựa như nửa phần thân trước của loài sư tử, là nửa phần thân trước của loài sư tử đầy đặn. Còn của đấng Như Lai thì toàn bộ phần thân hoàn hảo tựa như phần thân trước của loài sư tử. Dẫu cho thân ấy đặt ở nơi xấu, không đẹp do xê dịch, nghiêng ngã ở chỗ này chỗ nọ cũng không như loài sư tử, hơn nữa dài ở vị trí cần dài, ở chỗ cần ngắn, cần dày, cần tròn cũng hoàn toàn như thế. Vì thế có lời nói rằng —

manāpiye ca kho, bhikkhave, kammavipāke paccupaṭṭhite yehi aṅgehi dīghehi sobhati, tāni aṅgāni dīghāni saṇṭhahanti. yehi aṅgehi rassehi sobhati, tāni aṅgāni rassāni saṇṭhahanti. yehi aṅgehi thūlehi sobhati, tāni aṅgāni thūlāni saṇṭhahanti. yehi aṅgehi kisehi sobhati, tāni aṅgāni kisāni saṇṭhahanti. yehi aṅgehi vaṭṭehi sobhati, tāni aṅgāni vaṭṭāni saṇṭhahantī”ti.

Này chư Tỳ khưu, khi quả của nghiệp làm hài lòng đã được hiện hữu xinh đẹp bởi các chi phần dài nào? những chi phần dài đó cũng tồn tại. Xinh đẹp với những chi phần ngắn nào? những chi phần ngắn đó tồn tại. Xinh đẹp với những chi phần dày nào? những chi phần dày đó tồn tại. Xinh đẹp với những chi phần mỏng nào? những chi phần mỏng đó tồn tại. Xinh đẹp với những chi phần tròn nào? những chi phần tròn đó tồn tại.”

iti nānācittena puññacittena cittito dasahi pāramīhi sajjito tathāgatassa attabhāvo, tassa loke sabbasippino vā iddhimanto vā paṭirūpakampi kātuṃ na sakkonti.

Kim thân của đấng Như Lai với vô số vẻ đẹp được tích lũy, với vẻ đẹp của phước báu được tô điểm bởi mười pháp ba-la-mật, là như thế, tất cả những nghệ nhân hoặc những vị có thần thông ở trên cõi đời cũng không thể nào tạo ra được dù chỉ một hình dáng so sánh được với đấng Như Lai.

citantaraṃsoti antaraṃsaṃ vuccati dvinnaṃ koṭṭānamantaraṃ, taṃ citaṃ paripuṇṇamassāti citantaraṃso. aññesañhi taṃ ṭhānaṃ ninnaṃ hoti, dve piṭṭhikoṭṭā pāṭiyekkaṃ paññāyanti. tathāgatassa pana kaṭito paṭṭhāya maṃsapaṭalaṃ yāva khandhā uggamma samussitasuvaṇṇaphalakaṃ viya piṭṭhiṃ chādetvā patiṭṭhitaṃ.

Citantaraṃso (không có lõm khuyết xuống giữa hai vai): ở khoảng giữa cả hai bên (xương sườn) ngài gọi là khoảng giữa hai vai. Ở giữa hai vai ấy của ngài tuyệt đẹp, được tròn đầy vì thế ngài được gọi là không có lõm khuyết xuống giữa hai vai. Còn xương sườn của người khác thấp, phần xương sườn sau cả hai bên hiện ra tách rời nhau. Còn của đấng Như Lai lớp thịt từ vòng eo cho đến cổ trở lên bao phủ phần lưng (và) được thiết lập, tựa như một tấm vàng được nâng lên đặt ở trên cao.

nigrodhaparimaṇḍaloti nigrodho viya parimaṇḍalo. yathā paṇṇāsahatthatāya vā satahatthatāya vā samakkhandhasākho nigrodho dīghatopi vitthāratopi ekappamāṇova hoti, evaṃ kāyatopi byāmatopi ekappamāṇo. yathā aññesaṃ kāyo vā dīgho hoti byāmo vā, na evaṃ visamappamāṇoti attho. Teneva “yāvatakvassa kāyo”tiādi vuttaṃ. tattha yāvatako assāti yāvatakvassa.

Nigrodhaparimaṇḍalo (có thân thể cân đối như cây Nirodha2): Có thân cân đối tựa như cây Nigrodha. Cây Nigrodha có thân cây và nhánh đối xứng nhau 50 hắt tay, hoặc 100 hắt tay có cùng một kích thước cả chiều dài và cả chiều rộng, có cùng một kích thước (chiều cao) của thân, thậm chí (chiều dài của hai tay) sải rộng như vậy. Còn của những người khác thì (chiều cao) của thân và (chiều dài của hai tay) sải rộng có chiều dài không bằng nhau như vậy. Bởi thế ngài đã nói rằng “Bề cao thân ngang bằng bề dài hai tay sải rộng…” Ở đó, từ ‘yāvatakvassa’ chia thành ‘yāvatako assā (của ngài bao nhiêu?)’

samavaṭṭakkhandhoti samavaṭṭitakkhandho. yathā eke koñcā viya bakā viya varāhā viya ca dīghagalā vaṅkagalā puthulagalā ca honti, kathanakāle sirājālaṃ paññāyati, mando saro nikkhamati, na evaṃ tassa. tathāgatassa pana suvaṭṭitasuvaṇṇāliṅgasadiso khandho hoti, kathanakāle sirājālaṃ na paññāyati, meghassa viya gajjato saro mahā hoti.

Samavaṭṭakkhandho (có cổ tròn đều): có cổ tròn đều. Một số người có cổ dài, có cổ cong và có cổ rộng trông giống như con diệc, trông giống như con sếu, trông giống như con lợn, trong lúc nói chuyện thì sợi gân ở trên sẽ nổi lên, âm thanh phát ra chậm chạp. Còn của đấng Như Lai không phải như thế, của đấng Như Lai có cần cổ tròn đều như cái trống vàng. Trong lúc nói chuyện sợi gân không nổi lên, có âm giọng vang tựa như tiếng sấm chớp.

rasaggasaggīti ettha rasaṃ gasantīti rasaggasā, rasaharaṇīnametaṃ adhivacanaṃ, tā aggā assāti rasaggasaggī. tathāgatassa hi satta rasaharaṇisahassāni uddhaggāni hutvā gīvāyameva paṭimukkāni. tilaphalamattopi āhāro jivhagge ṭhapito sabbaṃ kāyaṃ anupharati, teneva mahāpadhānaṃ padahantassa ekataṇḍulādīhipi kāḷāyayūsapasatenāpi kāyassa yāpanaṃ ahosi. aññesaṃ pana tathā abhāvā na sakalakāyaṃ ojā pharati, tena te bahvābādhā honti. idaṃ lakkhaṇaṃ appābādhatāsaṅkhātassa nissandaphalassa vasena pākaṭaṃ hoti.

Rasaggasaggī (có vị giác vô cùng sắc bén): gọi là ‘vị giác sắc bén’ bởi ý nghĩa thần kinh tiếp nhận vị tối thắng, lời đó là tên gọi của thần kinh (vị giác) nhận hương vị của thức ăn. Có vị giác vô cùng sắc bén bởi ý nghĩa thần kinh (vị giác) ấy của ngài là tối thắng. Vì thần kinh (vị giác) tiếp nhận được bảy nghìn loại thức ăn của đấng Như Lai có phần đầu lưỡi được đặt nhô lên kết nối đến chính phần cổ. Vật thực dầu có kích thước bằng hạt mè đặt ở đầu lưỡi cũng có thể chuyển hóa khắp toàn bộ cơ thể. Vì thế, khi ngài thể hiện sự nỗ lực lớn lao làm cho cơ thể của ngài được duy trì dầu chỉ bằng một hạt cơm v.v, với thực phẩm có chừng một nhúm đậu đen. Dầu chỉ có chừng một nhúm đậu đen, nhưng những người khác thì chất dinh dưỡng không thể chuyển hóa đi toàn bộ cơ thể bởi vì không có giống như thế. Vì lý do đó những người ấy mới mắc nhiều căn bệnh. Trạng thái này hiện hữu do năng lực kết quả chảy ra được xem là sự có ít bệnh.

sīhasseva hanu assāti sīhahanu. tattha sīhassa heṭṭhimahanumeva paripuṇṇaṃ hoti, na uparimaṃ. tathāgatassa pana sīhassa heṭṭhimaṃ viya dvepi paripuṇṇāni dvādasiyaṃ pakkhassa candasadisāni honti.

Sīhahanu (có cằm như con sư tử) bởi ý nghĩa cằm của ngài tựa như cằm của loài sư tử. Ở đó, hàm dưới của sư tử tròn đầy, còn hàm trên thì không tròn đầy. Còn của đấng Như Lai thì tròn đầy cả hai tựa như hàm dưới của sư tử chúa, tựa như mặt trăng của thượng huyền vào ngày thứ 12.

cattālīsadantotiādīsu uparimahanuke patiṭṭhitā vīsati, heṭṭhime vīsatīti cattālīsa dantā assāti cattālīsadanto. aññesañhi paripuṇṇadantānampi dvattiṃsa dantā honti, tathāgatassa cattālīsaṃ.

Cattālīsadanto (có bốn mươi chiếc răng) v.v, gọi là có bốn mươi chiếc răng bởi ý nghĩa có hai mươi chiếc răng ở hàm trên (và) hai mươi chiếc răng ở hàm dưới. Còn của những người khác mặc dù đầy đủ cũng chỉ có 32 chiếc răng, còn của đấng Như Lai có bốn mươi chiếc răng.

aññesañca keci dantā uccā keci nīcāti visamā honti, tathāgatassa pana ayapaṭṭachinnasaṅkhapaṭalaṃ viya samā.

Của những người khác có răng không đều nhau, (tức là) một số có răng dài, một số lại có răng ngắn. Còn của đấng Như Lai đều đặn tựa như vỏ ốc đã được khéo đánh bóng.

aññesaṃ kumbhīlānaṃ viya dantā viraḷā honti, macchamaṃsādīni khādantānaṃ dantantaraṃ pūrati. tathāgatassa pana kanakalatāya samussāpitavajirapanti viya aviraḷā tulikāya dassitaparicchedā viya dantā honti.

Của những người khác răng thưa như răng con cá sấu khi ăn cá và thịt v.v, thì nó sẽ bị lắp đầy vào khoảng trống giữa các khe răng. Còn của đấng Như Lai có răng không thưa tựa như hàng kim cương được khéo sắp xếp trên tấm hoa văn bằng vàng, giống như xác định trình bày với sự chải (răng).

susukkadāṭhoti aññesañca pūtidantā uṭṭhahanti, tena kāci dāṭhā kāḷāpi vivaṇṇāpi honti. tathāgato susukkadāṭho osadhitārakampi atikkamma virocamānāya pabhāya samannāgatadāṭho, tena vuttaṃ “susukkadāṭho”ti.

Susukkadāṭho (có răng nhọn trắng đẹp): (tức là) răng của một số người khác xuất hiện (tình trạng) răng bị hôi thối, vì thế một số người răng nhọn có màu đen, có những màu sắc khác nhau. Còn đấng Như Lai có răng trắng đều, có răng nhọn phối hợp với ánh sáng chói lóa vượt qua hẳn kể cả (ánh sáng của) ngôi sao osadhī, cho nên ngài mới nói rằng “có răng nhọn trắng đẹp”.

pahūtajivhoti aññesaṃ jivhā thūlāpi hoti kisāpi rassāpi thaddhāpi visamāpi, tathāgatassa pana mudu dīghā puthulā vaṇṇasampannā hoti. so taṃ lakkhaṇaṃ pariyesituṃ āgatānaṃ kaṅkhāvinodanatthaṃ mudukattā taṃ jivhaṃ kathinasūciṃ viya vaṭṭetvā ubho nāsikasotāni parāmasati, dīghattā ubho kaṇṇasotāni parāmasati, puthulattā kesantapariyosānaṃ kevalampi nalāṭaṃ paṭicchādeti. evaṃ tassā mududīghaputhulabhāvaṃ pakāsento kaṅkhaṃ vinodeti. evaṃ tilakkhaṇasampannaṃ jivhaṃ sandhāya “pahūtajivho”ti vuttaṃ.

Pahūtajivho (có tướng lưỡi rộng, dài và mềm): Lưỡi của những người khác dày, mỏng, ngắn, không đều nhau. Còn của đấng Như Lai mềm, dài, rộng thành tựu về màu sắc. Ngài cuộn lưỡi tựa như cây kim may y kathina (có thể) xỏ vào được cả hai lỗ mũi, bởi tướng lưỡi mềm, làm phá tan sự nghi hoặc của những người đến quan sát tướng ấy; đụng tới, chạm tới được cả hai lỗ tai bởi vì tướng lưỡi dài. Và sẽ che được toàn bộ phần trán (khuôn mặt) mép tóc là phần cuối cùng bởi tướng lưỡi rộng. Khi tuyên bố tướng lưỡi mềm, dài, và rộng làm xua tan được sự nghi hoặc bằng cách như thế. Các thầy dựa vào tướng lưỡi tròn đầy nhờ tướng trạng này đã nói rằng “có tướng lưỡi rộng, dài và mềm”.

brahmassaroti aññe chinnassarāpi bhinnassarāpi kākassarāpi honti, tathāgato pana mahābrahmuno sarasadisena sarena samannāgato. mahābrahmuno hi pittasemhehi apalibuddhattā saro visuddho hoti. tathāgatenāpi katakammaṃ vatthuṃ sodheti, vatthussa suddhattā nābhito paṭṭhāya samuṭṭhahanto saro visuddho aṭṭhaṅgasamannāgatova samuṭṭhāti. karaviko viya bhaṇatīti karavikabhāṇī, mattakaravikarutamañjughosoti attho.

Brahmassaro (có âm thanh của Phạm Thiên): những người khác có âm thanh bị đứt, có âm thanh bị vỡ, có âm thanh tựa như quạ. Còn đối với đấng Như Lai thành tựu với âm thanh như âm thanh của Phạm thiên, là tiếng của Đại Phạm thiên, am thanh trong trẻo bởi không bị ngăn trở bởi mật và đờm dãi. Nghiệp đã tạo bởi đấng Như Lai làm cho bộ phận tạo ra âm thanh ấy trong trẻo. Âm thanh được phát ra từ bụng, trong trẻo được hội đủ bởi tám yếu tố tạo thành bởi vì bộ phận tạo ra âm thanh thuần khiết. Có giọng nói của loài chim karavika bởi vì lời nói tựa như tiếng chim karavika, có nghĩa là lời nói có âm giọng tựa như tiếng hót chim karavika làm cho say mê.

tatridaṃ karavikarutassa mañjutāya — karavikasakuṇe kira madhurarasaṃ ambapakkaṃ mukhatuṇḍakena paharitvā paggharitaṃ rasaṃ sāyitvā pakkhena tālaṃ datvā vikūjamāne catuppadādīni mattāni viya laḷituṃ ārabhanti. gocarappasutāpi catuppadā mukhagatānipi tiṇāni chaḍḍetvā taṃ saddaṃ suṇanti, vāḷamigā khuddakamige anubandhamānā ukkhittapādaṃ anukkhipitvāva tiṭṭhanti, anubaddhamigāpi maraṇabhayaṃ hitvāpi tiṭṭhanti, ākāse pakkhandapakkhinopi pakkhe pasāretvā tiṭṭhanti, udake macchāpi kaṇṇapaṭalaṃ apphoṭentā taṃ saddaṃ suṇamānāva tiṭṭhanti. evaṃ mañjurutā karavikā.

Trong câu đó, việc cất tiếng hót của loài chim karavika là một minh họa — được biết rằng như việc loài chim karavika mổ quả xoài chín có vị ngọt ngon bằng cái mỏ, sau khi nếm hương vị chảy ra (từ quả xoài) rồi tạo nhịp điệu bằng đôi cánh rồi cất lên tiếng hót khiến các loài bốn chân v.v, như thể rơi vào trạng thái mê mẩn bắt đầu (làm cho chúng) bối rối, loài bốn chân dầu cố gắng tìm kiếm thức ăn cũng vứt bỏ cỏ đang gặm ở trong miệng để lắng nghe âm thanh đó, các loài thú ăn thịt đang rượt đuổi con mồi không bước chân đã nâng lên (và) dừng lại, thậm chí loài thú bị rượt đuổi cũng loại bỏ sự sợ hãi cái chết (và) dừng lại. Ngay cả loài chim đang bay trên bầu trời cũng thu cánh lại (và) ngưng bay. Loài cá ở dưới nước cũng ngưng bơi lội chỉ để lắng nghe âm thanh đó (và) dừng lại. Loài chim karavika có tiếng hót êm dịu như vậy.

asandhimittāpi dhammāsokassa devī — “atthi nu kho, bhante, buddhasaddena sadiso kassaci saddo”ti saṅghaṃ pucchi. atthi karavikasakuṇassāti. kuhiṃ, bhante, sakuṇāti? himavanteti. sā rājānaṃ āha, — “deva, karavikasakuṇaṃ daṭṭhukāmā”ti. rājā “imasmiṃ pañjare nisīditvā karaviko āgacchatū”ti suvaṇṇapañjaraṃ vissajjesi. pañjaro gantvā ekassa karavikassa purato aṭṭhāsi. so “rājāṇāya āgato pañjaro, na sakkā agantun”ti tattha nisīdi. pañjaro āgantvā rañño puratova aṭṭhāsi. karavikaṃ saddaṃ kārāpetuṃ na sakkonti. atha rājā “kathaṃ bhaṇe ime saddaṃ karontī”ti āha? ñātake disvā devāti. atha naṃ rājā ādāsehi parikkhipāpesi. so attanova chāyaṃ disvā “ñātakā me āgatā”ti maññamāno pakkhena tāḷaṃ datvā mañjussarena maṇivaṃsaṃ dhamamāno viya viravi. sakalanagare manussā mattā viya laḷiṃsu. asandhimittā cintesi — “imassa tāva tiracchānassa evaṃ madhuro saddo, kīdiso nu kho sabbaññutaññāṇasirippattassa bhagavato ahosī”ti pītiṃ uppādetvā taṃ pītiṃ avijahitvā sattahi jaṅghasatehi saddhiṃ sotāpattiphale patiṭṭhāsi. evaṃ madhuro karavikasaddo. tato satabhāgena sahassabhāgena ca madhurataro tathāgatassa saddo, loke pana karavikato aññassa madhurarassa abhāvato “karavikabhāṇī”ti vuttaṃ.

Thậm chí Hoàng hậu của Vua Dhammāsoka có tên là Asandhimittā đã hỏi chư Tăng rằng: — “Bạch ngài, có hay không âm giọng của người nào giống như âm giọng của đức Thế Tôn?” – Có âm thanh của loài chim karavika. – Kính bạch ngài loài chim đó cư trú ở đâu? – Chúng sống ở dãy núi Hy-mã-lạp. Hoàng hậu đã nói với đức Vua, — “Muôn tâu Đại vương, thần thiếp có lồng mong muốn được nhìn thấy loài chim karavika”. Đức Vua đã gửi cái lồng bằng vàng với mệnh lệnh rằng “loài chim karavika hãy bay đến đậu ở trong lồng này.” Cái lồng ấy đã bay đến đặt ở trước mặt chim karavika. Con chim suy nghĩ rằng: “cái lồng này đã đến theo mệnh lệnh của đức Vua, (ta) không thể không đi” (vì thế) nó đã ngồi vào cái lồng ấy. Cái lồng đó đã quay trở về ở trước mặt của đức Vua. Nhưng không ai có thể khiến chim karavika cất lên tiếng hót. Sau đó đức Vua đã nói rằng: “này hiền khanh làm thế nào loài chim này mới có thể cất tiếng hót.” – Quan đại thần đáp rằng: “Muôn tâu Đại vương, loài chim này khi nhìn thấy được đồng loại của chúng thì chúng sẽ cất tiếng hót.” – Khi đó đức Vua ra lệnh cho đặt những tấm kính rào xung quanh (cái lồng chim). Con chim ấy khi nhìn thấy cái bóng của mình trong gương nghĩ rằng “đồng loại của ta đã đến” đã tạo nhịp điệu với đôi cánh rồi cất lên tiếng hót êm dịu tựa như người thổi sáo ngọc. Toàn bộ dân chúng ở trong thành (dường như) như bị ngất đi bởi say rượu. Hoàng hậu Asandhimittā nghĩ rằng – “Đây chỉ là loài bàng sanh mà lại có âm thanh ngọt ngào như vầy rồi thì huống hồ gì âm thanh của đức Thế Tôn vị đã đạt đến sự vinh hiển của trí tuệ Toàn giác sẽ ngọt ngào như thế nào nữa?”(cho nên) đã khởi lên niềm hoan hỷ không rời bỏ hỷ đó Hoàng hậu đã được thiết lập vào Nhập Lưu Thánh Quả, cùng với bảy trăm nàng tỳ nữ. Âm thanh của loài chim karavika ngọt ngào như vậy. Âm thanh của đấng Như Lai còn ngọt ngào hơn âm thanh ấy cả trăm, cả ngàn lần. Nhưng do không có âm thanh nào ngọt ngào nào khác ngoài âm thanh của loài chim karavika ở trên đời này (cho nên) ngài đã nói rằng “Có giọng nói của loài chim karavika”.

abhinīlanettoti na sakalanīlanettova, nīlayuttaṭṭhāne panassa umāpupphasadisena ativisuddhena nīlavaṇṇena samannāgatāni akkhīni honti. pītayuttaṭṭhāne kaṇikārapupphasadisena pītavaṇṇena, lohitayuttaṭṭhāne bandhujīvakapupphasadisena lohitavaṇṇena, setayuttaṭṭhāne osadhitārakasadisena setavaṇṇena, kāḷayuttaṭṭhāne addāriṭṭhakasadisena kāḷavaṇṇena samannāgatāni suvaṇṇavimāne ugghāṭitamaṇisīhapañjarasadisāni khāyanti.

Abhinīlanetto (có hai mắt màu xanh đậm): đôi mắt của ngài không hoàn toàn có màu xanh đậm. Nhưng đôi mắt của ngài phối hợp với màu xanh đậm ở nơi cần xanh, (và) vô cùng trong sáng tựa như màu hoa của cây bông vải. với màu vàng tựa như màu hoa của cây hoa kaṇikāra ở vị trí nên màu vàng, với màu đỏ tựa như màu hoa Bandhujīvaka ở vị trí nên đỏ, với màu trắng tựa như ngôi sao osadhī (ngôi sao sáng nhất trong các vì sao), phối hợp với màu đen tựa như màu trái addāriṭṭhaka ở vị trí nên đen, hiện ra tựa như khung cửa sổ có họa tiết hình con sư tử bằng ngọc được treo ở Thiên cung bằng vàng.

gopakhumoti ettha pakhumanti sakalaṃ cakkhubhaṇḍaṃ adhippetaṃ. taṃ kāḷavacchakassa bahaladhātukaṃ hoti, rattavacchakassa vippasannaṃ, taṃmuhuttajātarattavacchasadisacakkhubhaṇḍoti attho. aññesañhi akkhibhaṇḍā aparipuṇṇā honti, hatthimūsikakākādīnaṃ akkhisadisehi viniggatehi gambhīrehipi akkhīhi samannāgatā honti. tathāgatassa pana dhovitvā majjitvā ṭhapitamaṇiguḷikā viya mudu-siniddhanīla-sukhuma-pakhumācitāni akkhīni.

Ở đây pakhumaṃ (lông mi) trong từ gopakhumo (có lông mi tựa như con bê mới sinh) này ngài có ý muốn lầy toàn bộ. Cặp mắt ấy có bản chất dày của con bê đỏ, trong trẻo tựa như mắt con bê đỏ, có nghĩa là có con mắt giống như mắt con bê đỏ mới sinh ra vào thời điểm đó. Đôi mắt của những người khác không đầy đặn phối hợp với tròng mắt lệch đi, hay sâu giống như tròng mắt của loài voi, chuột và quạ v.v, còn của đấng Như Lai có đôi mắt có hàng lông mi mềm mịn màu đen huyền, tinh tế đã được thiết lập như hai viên ngọc ma-ni đã được rửa sạch, đã được đánh bóng.

uṇṇāti uṇṇalomaṃ. bhamukantareti dvinnaṃ bhamukānaṃ vemajjhe nāsikamatthakeyeva jātā. uggantvā pana nalāṭamajjhajātā. odātāti parisuddhā osadhitārakavaṇṇā. mudūti sappimaṇḍe osādetvā ṭhapitasatavāravihatakappāsapaṭalasadisā. tūlasannibhāti simbalitūlalatātūlasamānā, ayamassā odātatāya upamā. sā panesā koṭiyaṃ gahetvā ākaḍḍhiyamānā upaḍḍhabāhuppamāṇā hoti, vissaṭṭhā dakkhiṇāvaṭṭavasena āvaṭṭitvā uddhaggā hutvā santiṭṭhati, suvaṇṇaphalakamajjhe ṭhapitarajatapupphuḷakā viya suvaṇṇaghaṭato nikkhamamānā khīradhārā viya aruṇappabhārañjite gamanatale osadhitārakā viya ca atimanoharāya siriyā virocati.

Uṇṇā (có sợi lông trắng giữa hai lông mày): có sợi lông trắng giữa hai lông mày. Bhamukantare (ở giữa hai lông mày): có sợi lông trắng mọc lên trên mũi ở chính giữa hai lông mày, hơn nữa mọc ở giữa trán (và) đã mọc thẳng lên. Odātā (trắng): thanh tịnh, có màu tựa như vì sao osadhī. Mudu (mềm mại): giống như sợi bông được nhúng vào trong bơ lỏng rồi giũ một trăm lần rồi đặt xuống. Tūlasannibhā (tựa như bông gòn): tựa như sợi bông và sợi latā. Đây là ví dụ về tính chất về sợi lông mọc ở giữa hai lông mày có màu trắng. Sợi lông mọc ở hai lông mày khi cầm lấy ở ngọn kéo ra có kích thước khoảng chừng một nửa cánh tay. Khi buông ra sẽ xoắn tròn lại có phần ngọn xoắn thẳng lên theo chiều kim đồng hồ, sáng chói bởi sự vinh quang vô cùng xinh đẹp, giống như một ngôi sao bạc được đặt ở chính giữa cái đĩa vàng, tựa như dòng sữa chảy ra từ cái ấm vàng và tựa như ngôi sao osadhī ở giữa bầu trời chiếu sáng bởi ánh sáng lúc bình minh.

uṇhīsasīsoti idaṃ paripuṇṇanalāṭatañceva paripuṇṇasīsatañcāti dve atthavase paṭicca vuttaṃ. tathāgatassa hi dakkhiṇakaṇṇacūḷikato paṭṭhāya maṃsapaṭalaṃ uṭṭhahitvā sakalaṃ nalāṭaṃ chādayamānaṃ pūrayamānaṃ gantvā vāmakaṇṇacūḷikāya patiṭṭhitaṃ, rañño baddhauṇhīsapaṭṭo viya virocati. pacchimabhavikabodhisattānaṃ kira imaṃ lakkhaṇaṃ viditvā rājūnaṃ uṇhīsapaṭṭaṃ akaṃsu, ayaṃ tāva eko attho. aññe pana janā aparipuṇṇasīsā honti, keci kappasīsā, keci phalasīsā, keci aṭṭhisīsā, keci tumbasīsā, keci pabbhārasīsā. tathāgatassa pana āraggena vaṭṭetvā ṭhapitaṃ viya suparipuṇṇaṃ udakapupphuḷasadisaṃ sīsaṃ hoti. tattha purimanayena uṇhīsaveṭhitasīso viyāti uṇhīsasīso. dutiyanayena uṇhīsaṃ viya sabbattha parimaṇḍalasīsoti uṇhīsasīso.

Uṇhīsasīso (có cái đầu tròn được quấn xung quanh tợ như được trang điểm bởi lớp vải lụa bao quanh đầu): ngài nói dựa vào hai điều lợi ích là có vầng trán hoàn hảo, có cái đầu hoàn hảo, tức là (có) lớp thịt che phủ hết toàn bộ phần trán bắt từ phần điểm tóc bên tai phải tràn đầy chạm vào phần điểm tóc ở bên tai trái, chiếu sáng tựa như lớp vải băng được thêu chỉ vàng mà đức vua đội. Được biết rằng bậc hiền triết biết được tướng này của đức Bồ tát ở kiếp cuối cùng, nên đã thêu một tấm vải lụa để cúng dường đến đức vua, đây là ý nghĩa câu đầu tiên. Hơn nữa, những người khác có cái đầu không đầy đặn, một số người có cái đầu như đầu khỉ, một số người có cái đầu (hình dáng) như trái cây, một số người có cái đầu (hình dáng) tựa như khúc xương, một số người có cái đầu (hình dáng) như chai lọ, một số người có cái đầu (hình dáng) như dốc núi (nhô ra trước, hoặc phình ra sau). Còn của đấng Như Lai có cái đầu hoàn toàn tròn đầy tựa như bong bóng nước, như thể xoay tròn bởi mũi kim sắc nhọn. Ở đó, có cái đầu tròn như được quấn quanh bởi lớp vải lụa, (với ý nghĩa) cái đầu được quấn xung quanh bằng một tấm vải lụa theo cách thứ nhất. Có cái đầu tròn như được tô điểm bởi lớp vải lụa (với ý nghĩa) có cái đầu được bao quanh đều đặn trong tất cả các phần tựa như lớp vải lụa theo cách thứ hai.

imāni pana mahāpurisalakkhaṇāni kammaṃ kammasarikkhakaṃ lakkhaṇaṃ lakkhaṇānisaṃsanti ime cattāro koṭṭhāse ekekasmiṃ lakkhaṇe dassetvā kathitāni sukathitāni honti. tasmā bhagavatā lakkhaṇasutte (dī. ni. 3.200-202) vuttāni imāni kammādīni dassetvā kathetabbāni. suttavasena vinicchituṃ asakkontena sumaṅgalavilāsiniyā dīghanikāyaṭṭhakathāya tasseva suttassa vaṇṇanāya vuttanayena gahetabbāni.

Hơn nữa, Đại nhân tướng này là điều mà ngài trình bày đến bốn phần là nghiêp, quả có sự tương xứng với nghiệp, tướng, và lợi ích của tướng, ở trong mỗi tướng ngài nêu ra thuyết giảng đã được nói kỹ lưỡng. Vì thế bậc trí nên biết rằng nghiệp v.v, này được đức Thế Tôn thuyết trong bài Kinh Tướng rồi, khi không thể lý giải bằng khả năng của bài Kinh thì nên nắm giữ lấy theo cách thức đã được nói trong chính phần Chú giải của bài Kinh đó trong Trường Bộ Kinh gọi là Sumaṅgalavilāsinī.

imehi kho, bho, so bhavaṃ gotamoti, bho ācariya, imehi dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇehi so bhavaṃ gotamo samannāgato devanagare samussitaratanavicittaṃ suvaṇṇatoraṇaṃ viya yojanasatubbedho sabbapāliphullo pāricchattako viya selantaramhi supupphitasālarukkho viya tārāgaṇapaṭimaṇḍitagaganatalamiva ca attano sirivibhavena lokaṃ ālokaṃ kurumāno viya caratīti imatthampi dīpetvā kiriyācāraṃ ācikkhituṃ gacchanto kho panātiādimāha.

imehi kho, bho, so bhavaṃ gotamo (Kinh thưa thầy, ngài Gotama ấy hội đủ…này): Thanh niên Uttara đã nói rằng: ‘Khi Tôn giả Gotama bước đi’ để trình bày ý nghĩa này, nói đến hành động và phẩm hạnh như sau: Thưa thầy, ngài Gotama ấy hội tụ đầy đủ với ba mươi hai Đại nhân tướng này, đi du hành như thể một cột trụ bằng vàng được trang hoàng với những viên ngọc quý được mọi người dựng lên ở trong thành phố chư Thiên, tựa như cây pāricchattaka có hoa nở rộ toàn thân cao đến một trăm do-tuần, tựa như cây sāla có hoa nở rộ ở giữa núi, tựa như bầu trời được tô điểm bởi những vì tinh tú, giống như làm cho thế gian trở nên chói sáng bởi sự thịnh vượng và sự vinh quang của chính ngài.

387. dakkhiṇenāti buddhānañhi ṭhatvā vā nisīditvā vā nipajjitvā vā gamanaṃ abhinīharantānaṃ dakkhiṇapādova purato hoti. satatapāṭihāriyaṃ kiretaṃ. nātidūre pādaṃ uddharatīti taṃ dakkhiṇapādaṃ na atidūre ṭhapessāmīti uddharati. atidūrañhi abhihariyamāne dakkhiṇapādena vāmapādo ākaḍḍhiyamāno gaccheyya, dakkhiṇapādopi dūraṃ gantuṃ na sakkuṇeyya, āsanneyeva patiṭṭhaheyya, evaṃ sati padavicchedo nāma hoti. dakkhiṇapāde pana pamāṇeneva uddhate vāmapādopi pamāṇeneva uddhariyati, pamāṇena uddhato patiṭṭhahantopi pamāṇeyeva patiṭṭhāti. evamanena tathāgatassa dakkhiṇapādakiccaṃ vāmapādena niyamitaṃ, vāmapādakiccaṃ dakkhiṇapādena niyamitanti veditabbaṃ.

387. Dakkhiṇena (bên phải): khi chư Phật đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, khi bước đi thì luôn bước chân phải trước. Được biết rằng đây là pāṭihāriya (điều kỳ diệu) với bảy phần. nātidūre pādaṃ uddharati (không nhấc bước chân lên quá cao): nhấc bàn chân phải ấy nghĩ rằng: sẽ không đặt xuống quá xa, tức là bước chân phải không quá xa (vì) chân trái sẽ bị kéo theo, thậm chí chân phải cũng không thể đi xa được, chỉ có thể đặt ở gần nhau, nếu như vậy được gọi là sự gián đoạn bước đi. Khi bước đi vừa đủ thì khi đặt xuống cũng đặt xuống vừa đủ tương tự. Với việc bước đi như vậy, nhiệm vụ của bàn chân phải của đấng Như Lai được kiểm soát bởi bàn chân trái, nhiệm vụ của bàn chân trái cũng được kiểm soát bởi bàn chân phải, bậc trí nên biết như vậy.

nātisīghanti divā vihārabhattatthāya gacchanto bhikkhu viya na atisīghaṃ gacchati. nātisaṇikanti yathā pacchato āgacchanto okāsaṃ na labhati, evaṃ na atisaṇikaṃ gacchati. adduvena adduvanti jaṇṇukena jaṇṇukaṃ, na satthiṃ unnāmetīti gambhīre udake gacchanto viya na ūruṃ unnāmeti. na onāmetīti rukkhasākhāchedanadaṇḍaṅkusapādo viya na pacchato osakkāpeti. na sannāmetīti obaddhānābaddhaṭṭhānehi pādaṃ koṭṭento viya na thaddhaṃ karoti. na vināmetīti yantarūpakaṃ kīḷāpento viya na ito cito ca cāleti. adharakāyovāti heṭṭhimakāyova iñjati, uparimakāyo nāvāya ṭhapitasuvaṇṇapaṭimā viya niccalo hoti. dūre ṭhatvā olokento hi buddhānaṃ ṭhitabhāvaṃ vā gamanabhāvaṃ vā na jānāti. kāyabalenāti bāhā khipanto sarīrato sedehi muccantehi na kāyabalena gacchati. sabbakāyenevāti gīvaṃ aparivattetvā rāhulovāde vuttanāgāpalokitavaseneva apaloketi.

Nātisīghaṃ (không bước quá nhanh): Không bước quá nhanh giống như một vị Tỳ khưu đang đi nhận thức ăn trong tịnh xá vào lúc thời gian đến gần3. adduvena adduvaṃ (mắt cá chân…với mắt cá chân): mắt cá chân không va chạm với mắt cá chân, đầu gối không va chạm với đầu gối. na satthiṃ unnāmeti (không co bắp vế lên): không nâng bắp vế lên cao giống như đi trong dòng nước sâu. na onāmeti (không duỗi bắp vế xuống): không duỗi bắp vế về phía trước, cũng giống như duỗi chân về phía sau của người chặt cây. na sannāmeti (không dựa vào): không làm cho dính vào nhau giống như bước vào những nơi bị trói buộc. na vināmeti (không lắc lư): không rung lắc tới lui giống như trong lúc chơi đùa bằng thiết bị tự động. Adharakāyovā4 (phần thân trên): chỉ có phần thân dưới không di chuyển, phần thân trên không chuyển động giống như pho tượng bằng vàng được đặt ở trên thuyền. Khi con người đứng quan sát ở một nơi xa sẽ không biết được chư Phật đang đứng hoặc đang đi. Kāyabalena (với sức mạnh của thân): ngài đi bằng thân lực cả nơi mồ hôi chảy ra từ đầu. Sabbakāyenevā (hoặc với toàn thân): không xoay cổ ra sau để nhìn, (mà) nhin xem nhờ lực quan sát tựa như Long Tượng như đã trình bày trong bài Kinh Rāhulovāda.

na uddhantiādīsu nakkhattāni gaṇento viya na uddhaṃ ulloketi, naṭṭhaṃ kākaṇikaṃ vā māsakaṃ vā pariyesanto viya na adho oloketi, na hatthiassādayo passanto viya ito cito ca vipekkhamāno gacchati. yugamattanti navavidatthimatte cakkhūni ṭhapetvā gacchanto yugamattaṃ pekkhati nāma, bhagavāpi yuge yutto sudantāajānīyo viya ettakaṃ passanto gacchati. tato cassa uttarīti yugamattato paraṃ na passatīti na vattabbo. na hi kuṭṭaṃ vā kavāṭaṃ vā gaccho vā latā vā āvarituṃ sakkoti, atha khvassa anāvaraṇañāṇassa anekāni cakkavāḷasahassāni ekaṅgaṇāneva honti.

Na uddhaṃ (không…ở trên): không ngửa nhìn lên trên như đang đếm các chòm sao, không cúi xuống thấp như đang tìm kiếm đồng tiền kākaṇi hoặc đồng tiền māsaka bị mất, không ngó chỗ này chỗ nọ giống như nhìn voi và ngựa v.v. Yugamattaṃ (bề dài một cái cày): khi bước đi đặt tầm nhìn khoảng 9 gang tay được gọi là đặt tầm nhìn khoảng một cái cày. Dù đức Thế Tôn bước đi đặt tầm nhìn có sự ước chừng chừng ấy tựa như loài vật thuần chủng đã khéo huấn luyện được lồng cái ách vào. Tato cassa uttari (xa hơn): Không nên nói rằng không được nhìn xa hơn một cái cày. Bởi vì bức tường, hay cánh cửa, hay gốc cây, hay những loại dây leo không thể ngăn che, hàng nghìn vũ trụ không phải ích, thực sự có một ngọn đồi giống hoàn toàn của vị có trí không bị ngăn che.

antaragharanti heṭṭhā mahāsakuludāyisutte indakhīlato paṭṭhāya antaragharaṃ, idha gharaummārato paṭṭhāya veditabbaṃ. na kāyantiādi pakatīriyapatheneva pavisatīti dassanatthaṃ vuttaṃ. daliddamanussānaṃ nīcagharakaṃ pavisantepi hi tathāgate chadanaṃ vā uggacchati, pathavī vā ogacchati, bhagavā pana pakatigamaneneva gacchati. nātidūreti atidūre parivattantena hi ekaṃ dve padavāre piṭṭhibhāgena gantvā nisīditabbaṃ hoti. nāccāsanneti accāsanne parivattantena ekaṃ dve padavāre purato gantvā nisīditabbaṃ hoti. tasmā yasmiṃ padavāre ṭhitena purato vā pacchato vā agantvā nisīditabbaṃ hoti, tattha parivattati.

Antaragharaṃ (khi đi vào trong nhà): nên biết bắt đầu từ cột trụ đá gọi là trong làng, ở phần sau của bài kinh Mahāsakuludāyi, còn ở đầy nên biết từ ngưỡng cửa gọi là trong nhà. na kāyaṃ (không chấp lấy thân) v.v, ngài nói để trình bày rằng: đi vào bằng chính những oai nghi bình thường. Khi đấng Như Lai đi vào nhà nhỏ của những người nghèo thì mái nhà bỗng cao lên, mặt đất sẽ hạ xuống. Hơn nữa, đức Thế Tôn bước đi với chính sự đi thông thường. Nātidūre (không quá xa): ở chỗ quá xa ngài sẽ quay người lại phía sau bước một bước hoặc hai bước rồi mới từ từ ngồi xuống. Ở chỗ quá gần ngài cũng bước về phía trước một hoặc hai bước rồi mới từ từ ngồi xuống. Bởi thế, khi đứng ở bước chân nào ngài đều tiến về phía trước hoặc lui về phía sau mới ngồi xuống, rồi thay đổi bước chân ấy.

pāṇināti kaṭivātābādhiko viya na āsanaṃ hatthehi gahetvā nisīdati. pakkhipatīti yo kiñci kammaṃ katvā kīḷanto ṭhitakova patati, yopi orimaṃ aṅgaṃ nissāya nisinno ghaṃsanto yāva pārimaṅgā gacchati, pārimaṅgaṃ vā nissāya nisinno tatheva yāva orimaṅgā āgacchati, sabbo so āsane kāyaṃ pakkhipati nāma. bhagavā pana evaṃ akatvā āsanassa majjhe olambakaṃ dhārento viya tūlapicuṃ ṭhapento viya saṇikaṃ nisīdati. hatthakukkuccanti pattamukhavaṭṭiyaṃ udakabinduṭhapanaṃ makkhikabījaniyā paṇṇacchedanaphālanādi hatthena asaṃyatakaraṇaṃ. pādakukkuccanti pādena bhūmighaṃsanādi asaṃyatakaraṇaṃ.

Pāṇinā (cánh tay): không sử dụng tay nắm lấy tọa cụ ngồi giống như người bệnh động kinh. Pakkhipati (dựa vào): hạng người nào làm bất kỳ công việc gì cảm thấy mệt mỏi đến nỗi ngã xuống cả khi đứng, dầu cho người ấy ngồi dựa vào chi trước, ngả người cho đến chi sau, hoặc ngồi dựa chi sau sau rồi cúi người như thế cho đến chi trước thì toàn bộ đó gọi là dựa thân vào các chi. Còn đức Thế Tôn không làm như thế, ngài ngồi như đang bảo vệ đồ vật được treo ở chính giữa tọa cụ, như thể đặt sợi vải bông mềm mại xuống. Hatthakukkuccaṃ (không rung tay): (dùng tay để lau chùi những giọt nước ở thành bình bát, là việc thực hành không thu thúc, (dùng tay) quạt những con côn trùng, dùng tay phủi lỗ tai v.v. Pādakukkuccaṃ (không rung chân): việc không thu thúc bàn chân chẳng hạn dùng chân lâu sàn nhà v.v.

na chambhatīti na bhāyati. na kampatīti na osīdati. na vedhatīti na calati. na paritassatīti bhayaparitassanāyapi taṇhāparitassanāyapi na paritassati. ekacco hi dhammakathādīnaṃ atthāya āgantvā manussesu vanditvā ṭhitesu “sakkhissāmi nu kho tesaṃ cittaṃ gaṇhanto dhammaṃ vā kathetuṃ, pañhaṃ vā pucchito vissajjetuṃ, bhattānumodanaṃ vā kātun”ti bhayaparitassanāya paritassati. ekacco “manāpā nu kho me yāgu āgacchissati, manāpaṃ antarakhajjakan”ti vā taṇhāparitassanāya paritassati. tadubhayampi tassa natthīti na paritassati. vivekāvaṭṭoti viveke nibbāne āvaṭṭamānaso hutvā. vivekavattotipi pāṭho, vivekavattayutto hutvāti attho. vivekavattaṃ nāma katabhattakiccassa bhikkhuno divāvihāre samathavipassanāvasena mūlakammaṭṭhānaṃ gahetvā pallaṅkaṃ ābhujitvā nisīdanaṃ. evaṃ nisinnassa hi iriyāpatho upasanto hoti.

Na chambhati: không sợ hãi. Na kampati: không run rẩy. Na vedhati: không dao động. Na paritassati: không hoảng hốt, chính bởi sự hoảng hốt do sợ hãi, chính sự hoảng hốt do tham ái, là một số vị Tỳ khưu hoảng hốt bởi sự hoảng hốt do sự sợ hãi rằng: khi nhóm người đến vì lợi ích của Pháp thoại v.v, sau khi đảnh lễ rồi đứng “Phải chăng ta sẽ có thể lấy lòng của những người ấy rồi thuyết Pháp? hoặc khi bị hỏi mới trả lời vấn đề? hoặc sẽ có thể thể hiện sự tùy hỷ?” Một số vị Tỳ khưu nghĩ rằng: “Phải chăng món cháo đáng vừa lòng sẽ (cúng dường) đến ta? hoặc vật thực mềm vừa lòng sẽ (cúng dường) đến ta” hoặc sự hoảng hốt bởi sự hoảng hốt do tham ái. Cả hai sự hoảng hốt ấy không có nơi ngài Gotama. Vì thế ngài Gotama không hoảng hốt. Vivekavatto (luân chuyển trong sự viện ly): là vị có tâm luân chuyển trong sự viễn ly, là Nibbāna. Pāḷī vivekāvaṭṭo cũng có, có nghĩa là vị phối hợp với phận sự là sự viễn ly. Việc học tập căn bản nghiệp xứ rồi ngồi kiết già sau khi hoàn tất việc thọ dụng vật thực ở chỗ nghỉ vào ban này của vị Tỳ khưu bằng khả năng của Chỉ tịnh và Minh sát gọi là phận sự sống viễn ly. Bởi vì các oai nghi của vị Tỳ khưu ngồi như vậy được gọi là đạt đến an tịnh.

na pattaṃ unnāmetītiādīsu ekacco pattamukhavaṭṭiyā udakadānaṃ āharanto viya pattaṃ unnāmeti, eko pādapiṭṭhiyaṃ ṭhapento viya onāmeti, eko baddhaṃ katvā gaṇhāti, eko ito cito ca phandāpeti, evaṃ akatvā ubhohi hatthehi gahetvā īsakaṃ nāmetvā udakaṃ paṭiggaṇhātīti attho. na samparivattakanti parivattetvā paṭhamameva pattapiṭṭhiṃ na dhovati. nātidūreti yathā nisinnāsanato dūre patati, na evaṃ chaḍḍeti. nāccāsanneti pādamūleyeva na chaḍḍeti. vicchaḍḍayamānoti vikiranto, yathā paṭiggāhako temati, na evaṃ chaḍḍeti.

Na pattaṃ unnāmeti (không đưa bình bát lên) v.v, một số vị Tỳ khưu đưa bình bát lên như thể hứng nước từ miệng bát, một số vị đặt bình bát xuống thấp giống như đặt xuống mu bàn chân, một số vị cầm lấy đặt lại gần với nhau, một số vị ném liệng chỗ này chỗ nọ, có nghĩ là không làm như vậy, nhận lấy bình bát bằng hai lòng bàn tay, cúi xuống một chút để nhận lấy nước. Na samparivattakaṃ: Không xoay tròn bình bát, không rửa mặt sau bình bát trước. Nātidūre (không quá xa): không đổ nước rửa bát rớt xuống quá xa từ tọa cụ để ngồi như vậy. Không quá gần: không đổ bỏ (nước rửa bát) ở cả nơi quá gần. Vicchaḍḍayamāno (không vẩy nước cùng khắp): vẩy nước cùng khắp, tức là không đổ nước ra ngoài với tính chất làm người nhận sẽ bị ướt.

nātithokanti yathā ekacco pāpiccho appicchataṃ dassento muṭṭhimattameva gaṇhāti, na evaṃ. atibahunti yāpanamattato atirekaṃ. byañjanamattāyāti byañjanassa mattā nāma odanato catuttho bhāgo. ekacco hi bhatte manāpe bhattaṃ bahuṃ gaṇhāti, byañjane manāpe byañjanaṃ bahuṃ. satthā pana tathā na gaṇhāti. na ca byañjanenāti amanāpañhi byañjanaṃ ṭhapetvā bhattameva bhuñjanto, bhattaṃ vā ṭhapetvā byañjanameva khādanto byañjanena ālopaṃ atināmeti nāma. satthā ekantarikaṃ byañjanaṃ gaṇhāti, bhattampi byañjanampi ekatova niṭṭhanti. dvattikkhattunti tathāgatassa hi puthujivhāya dantānaṃ upanītabhojanaṃ dvattikkhattuṃ dantehi phuṭṭhamattameva saṇhakaraṇīyapiṭṭhavilepanaṃ viya hoti, tasmā evamāha. na mukhe avasiṭṭhāti pokkharapatte patitaudakabindu viya vinivattitvā paragalameva yāti, tasmā avasiṭṭhā na hoti. rasapaṭisaṃvedīti madhuratittakadukādirasaṃ jānāti. buddhānañhi antamaso pānīyepi dibbojā pakkhittāva hoti, tena nesaṃ sabbattheva raso pākaṭo hoti, rasagedho pana natthi.

Nātithokaṃ (không quá ít): Không tiếp nhận như một số người có ước muốn xấu xa, chỉ ra rằng là vị có sự thiểu dục chỉ nhận vừa đủ một nắm tay thôi. Atibahuṃ (không quá nhiều): (không) nhận quá nhiều (vừa đủ) để nuôi dưỡng bản thân. Byañjanamattāyā [ăn đồ ăn vừa phải (với cơm)]: phần thứ tư của cơm gọi là vừa đủ với thức ăn. bởi vì một số người trong khi thọ dụng cơm ngon (làm thỏa mãn) sẽ thọ dụng nhiều, trong khi thọ dụng thức ăn ngon (làm thỏa mãn) sẽ thọ dụng nhiều, còn bậc Đạo Sư không thọ dụng như thế. na ca byañjanena: chỉ thọ dụng cơm (mà) bỏ các thức ăn không ưa thích, hoặc chỉ thọ dụng thức ăn từ bỏ cơm gọi là không có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng thức ăn. Bậc Đạo Sư thọ nhận một bữa ăn có thêm những món khác, cả đồ ăn và món ăn đều ở mức vừa phải. Dvattikkhattuṃ (hai ba lần): vật thực ở tướng lưỡi lớn của đấng Như Lai được đưa vào, giống như phết với bột đã được làm mềm mịn đủ để hàm răng nhai nghiền 2-3 lần. Vì thế ngài đã nói như vậy. Na mukhe avasiṭṭhā (không có … còn lại ở cổ): nuốt vào cổ họng tượng tợ y như giọt nước rơi xuống từ lá sen, cho nên không còn dư sót. Rasapaṭisaṃvedi (có sự nhận biết về mùi vị): nhận biết mùi vị ngọt, đắng và cay v.v. Đối với chư Phật giống như đã nêm dưỡng chất của cõi trời vào, cùng với thức uống. Vì thế sự xuất hiện mùi vị ở trong tất cả các món ăn hoàn toàn cho chư Phật, nhưng sự tham ái ở mùi vị là không có.

aṭṭhaṅgasamannāgatanti “neva davāyā”ti vuttehi aṭṭhahi aṅgehi samannāgataṃ. visuddhimagge panassa vinicchayo āgatoti sabbāsavasutte vuttametaṃ. hatthesu dhotesūti satthā kiṃ karoti? paṭhamaṃ pattassa gahaṇaṭṭhānaṃ dhovati. tattha pattaṃ gahetvā sukhumajālahatthaṃ pesetvā dve vāre sañcāreti. ettāvatā pokkharapatte patitaudakaṃ viya vinivattitvā gacchati. na ca anatthikoti yathā ekacco pattaṃ ādhārake ṭhapetvā patte udakaṃ na puñchati, raje patante ajjhupekkhati, na evaṃ karoti. na ca ativelānurakkhīti yathā ekacco pamāṇātikkantaṃ ārakkhaṃ ṭhapeti, bhuñjitvā vā patte udakaṃ puñchitvā cīvarabhogantaraṃ pavesetvā pattaṃ udarena akkamitvā gaṇhāti, na evaṃ karoti.

Aṭṭhaṅgasamannāgataṃ (có đầy đủ tám đức tánh): hội đủ với tám đức tánh được nói rằng “không thọ dụng để vui đùa v.v,” Lời giải thích của câu đó đã đến trong bộ Thanh Tịnh Đạo Visuddhimagga, điều này cũng được nói trong bài Kinh Tất Cả Lậu Hoặc. Khi rửa đôi tay bậc Đạo Sư đã làm như thế nào? Bậc Đạo Sư rửa phần tay cầm bình bát trước. Giữ lấy bình bát ở nơi đó rồi, di chuyển lòng bàn tay có mạng lưới qua lại 2 lần, toàn bộ vật thực ở trong bình bát đi ra giống như giọt nước trên lá sen rơi xuống với tính chật chỉ chừng ấy. Na ca anatthiko (không phải không nghĩ đến bình bát): giống như một số vị Tỳ khưu đặt bình bát ở cái đế bát không lau chùi nước ở bình, chỉ chăm chú nhìn bụi bẩn rơi vào thế nào, riêng đức Thế Tôn không làm như vậy. Na ca ativelānurakkhī (cũng không quá lo cho bình bát): Giống như một số vị Tỳ khưu đặt bình bắt đặt việc gìn giữ quá mức hoặc sau khi thọ dụng lau chùi bình bát, rồi nhét vào bên trong lá y, ôm bình bát sát vào bụng, còn bậc Đạo Sư thì không làm như vậy.

na ca anumodanassāti yo hi bhuttamattova dārakesu bhattatthāya rodantesu chātajjhattesu manussesu bhuñjitvā anāgatesveva anumodanaṃ ārabhati, tato sabbakammāni chaḍḍetvā ekacce āgacchanti, ekacce anāgatāva honti, ayaṃ kālaṃ atināmeti. yopi manussesu āgantvā anumodanatthāya vanditvā nisinnesu anumodanaṃ akatvāva “kathaṃ tissa, kathaṃ phussa, kathaṃ sumana, kathaṃ tisse, kathaṃ phusse, kathaṃ sumane, kaccittha arogā, sassaṃ sampannan”tiādiṃ pāṭiyekkaṃ kathaṃ samuṭṭhāpeti, ayaṃ anumodanassa kālaṃ atināmeti, manussānaṃ pana okāsaṃ ñatvā āyācitakāle karonto nātināmeti nāma, satthā tathā karoti.

Na ca anumodanassa (không để quá thì giờ nói lời tùy hỷ): vị Tỳ khưu nào thọ thực xong, khi những đứa trẻ khóc lóc vì đòi ăn, khi nhóm người đói đã ăn mà vẫn chưa đến, cũng bắt đầu nói lời tùy hỷ, sau đó một số người bỏ dở toàn bộ công việc đi đến, một số đến không kịp, người này làm quá thì giờ (nó lời tùy hỷ). Một số vị khi nhóm người đến đảnh lễ rồi ngồi xuống nhằm lợi ích tùy hỷ phước báu cũng không thực hiện tùy hỷ phước báu đặt lời nói riêng lẻ v.v, “Như thế nào này Tissa? Pussa như thế nào? Sumana như thế nào? Trong Tissa ra sao? Trong Pussa ra sao? Trong Sumana ra sao? Các ông có được vô bệnh hay không? Đồ ăn ngon không?” người này gọi là làm quá thời gian nói lời tùy hỷ. Hơn nữa, sau khi biết được thời gian thỉnh cầu được cho phép của mọi người gọi là không làm cho vượt quá thì giờ nói lời tùy hỷ, bậc Đạo Sư thực hiện như thế.

na taṃ bhattanti kiṃ bhattaṃ nāmetaṃ uttaṇḍulaṃ atikilinnantiādīni vatvā na garahati. na aññaṃ bhattanti svātanāya vā punadivasāya vā bhattaṃ uppādessāmīti hi anumodanaṃ karonto aññaṃ bhattaṃ paṭikaṅkhati. yo vā — “yāva mātugāmānaṃ bhattaṃ paccati, tāva anumodanaṃ karissāmi, atha me anumodanāvasāne attano pakkabhattatopi thokaṃ dassantī”ti anumodanaṃ vaḍḍheti, ayampi paṭikaṅkhati nāma. satthā na evaṃ karoti. na ca muccitukāmoti ekacco hi paṭisaṃmuñcitvā gacchati, vegena anubandhitabbo hoti. satthā pana na evaṃ gacchati, parisāya majjhe ṭhitova gacchati. accukkaṭṭhanti yo hi yāva hanukaṭṭhito ukkhipitvā pārupati, tassa accukkaṭṭhaṃ nāma hoti. yo yāva gopphakā otāretvāva pārupati, tassa accukkaṭṭhaṃ hoti. yopi ubhato ukkhipitvā udaraṃ vivaritvā yāti, tassapi accukkaṭṭhaṃ hoti. yo ekaṃsaṃ katvā thanaṃ vivaritvā yāti, tassapi accukkaṭṭhaṃ. satthā taṃ sabbaṃ na karoti.

na taṃ bhattaṃ (không chỉ trích bữa ăn): không nói lời chỉ trích thức ăn rằng: gạo gì đây? thật khó nhai, nấu cơm còn sống. Na aññaṃ bhattaṃ (không mong bữa ăn khác): trong khi thực hiện nói lời tùy hỷ với suy nghĩ rằng: ta sẽ khiến cho bữa ăn sanh khởi để thọ dụng vào ngày mai, hoặc vào ngày kế tiếp gọi là mong muốn bữa ăn khác. Hoặc vị Tỳ khưu nào nghĩ (rằng) ta sẽ thực hiện nói lời tùy hỷ như sau — “cho tới khi nào các bà nội trợ nấu cơm chính, cho đến khi ấy sự tùy hỷ của ta thì bọn họ sẽ cho thêm một ít cơm từ cơm mà họ nấu, rồi mới giảng giải sự tùy hỷ, ngay cả vị Tỳ khưu này cũng được gọi là mong muốn. Nhưng bậc Đạo Sư thì không làm như thế. Na ca muccitukāmo (không phải muốn lánh xa hội chúng): một số vị từ bỏ hội chúng đi, chư Tỳ khưu phải đi theo một cách nhanh chóng. Nhưng bậc Đạo Sư không đi như thế, (ngài) bước đi giữa hội chúng. Accukkaṭṭhaṃ (quá cao): vị nào đắp y nâng lên chạm cằm, vị đó gọi là quá cao . Dầu cho vị Tỳ khưu nào đắp (y) nâng lên từ cả hai bên hở bụng thì y của vị ấy cũng gọi là quá cao. Bậc Đạo Sư không thực hiện tất cả mọi biểu hiện như thế.

allīnanti yathā aññesaṃ sedena tintaṃ allīyati, na evaṃ satthu. apakaṭṭhanti khalisāṭako viya kāyato muccitvāpi na tiṭṭhati. vātoti verambhavātopi uṭṭhahitvā cāletuṃ na sakkoti. pādamaṇḍanānuyoganti iṭṭhakāya ghaṃsanādīhi pādasobhānuyogaṃ. pakkhāletvāti pādeneva pādaṃ dhovitvā. so neva attabyābādhāyātiādīni na pubbenivāsacetopariyañāṇānaṃ atthitāya vadati, iriyāpathasantataṃ pana disvā anumānena vadati. dhammanti pariyattidhammaṃ. na ussādetīti kiṃ mahāraṭṭhika, kiṃ mahākuṭumbikātiādīni vatvā gehassitavasena na ussādeti. na apasādetīti “kiṃ, upāsaka, kathaṃ te vihāramaggo ñāto? kiṃ bhayena nāgacchasi? na hi bhikkhū kiñci acchinditvā gaṇhanti, mā bhāyī”ti vā “kiṃ tuyhaṃ evaṃ macchariyajīvitaṃ nāmā”ti vā ādīni vatvā gehassitapemena na apasādeti.

Allīnaṃ (không dính sát vào thân): y phục của chư Tỳ khưu khác ướt đẫm mồ hôi dính (vào thân) như thế nào, (những) của bậc Đạo Sư không phải như thế. Apakaṭṭhaṃ (không rời ra khỏi thân): rời ra khỏi thân giống như tấm vải sāṭaka trơn. Vāto (gió thổi): ngay cả gió mùa Verambha nổi lên cũng không thể làm cho (y của đức Phật) dao động. Pādamaṇḍanānuyogaṃ (bụi nhớp không dính trên thân): làm cho đôi chân xinh đep có sự cọ xát thân bằng viên gạch v.v. pakkhāletvā (đã rửa chân): rửa bàn chân với chính bàn chân ấy. so neva attabyābādhāya (ngài không suy nghĩ để đưa đến tự hại): không suy nghĩ để đưa đến tự hại v.v, bởi vì (ngài) có Túc mạng trí và Tha tâm thông, nhưng nhìn thấy các oai nghi an tịnh đã nói bằng sự suy đoán. Dhammaṃ: là Pháp học. na ussādeti (không tán dương): không nói lời bắt đầu như sau: ngay cả đức vua, ngài Mahākuṭumbika v.v, rồi tán dương do năng lực của sự yêu thương do nương vào thế tục. na apasādeti (không chỉ trích): không nói lời bắt đầu như sau “Này cận sự nam, ông biết đường đi đến tịnh xá rồi sao? ông đến do sợ hãi phải chăng? Vị Tỳ khưu không không cướp đoạt đồ vật gì đâu ông đừng sợ,” hoặc “ông thật có đời sống bủn xỉn như vậy” rồi chỉ trích bằng sự yêu thương do nương vào thế tục.

vissaṭṭhoti siniddho apalibuddho. viññeyyoti viññāpanīyo pākaṭo, vissaṭṭhattāyeva cesa viññeyyo hoti. mañjūti madhuro. savanīyoti sotasukho, madhurattāyeva cesa savanīyo hoti. bindūti sampiṇḍito. avisārīti avisaṭo, binduttāyeva cesa avisārī hoti. gambhīroti gambhīrasamuṭṭhito. ninnādīti ninnādavā, gambhīrattāyeva cesa ninnādī hoti. yathāparisanti cakkavāḷapariyantampi ekābaddhaparisaṃ viññāpeti. bahiddhāti aṅgulimattampi parisato bahiddhā na gacchati. tasmā? so evarūpo madhurassaro akāraṇā mā nassīti. iti bhagavato ghoso parisāya matthakeneva carati.

Vissaṭṭho (lưu loát): trôi chảy, không bị lắp bắp. Viññeyyo (có thể hiểu được): có thể nhận biết được rõ ràng, hiện ra, là âm thanh ấy nhận biết được rõ ràng do lưu loát. Mañjū (dịu dàng): êm dịu. Savanīyo (dễ nghe): nghe êm tai, âm thanh đó đáng nghe bởi chính sự dịu dàng đó. Bindu (chắc nịch): hợp nhất. Avisārī: không bị loãng, âm thanh ấy không bị loãng bởi vì chính sự chắc nịch. Gambhīro (sâu sắc): bắt nguồn từ phần sâu sắc. Ninnādī (vang dội): có âm vang dội. Âm thanh đó gọi là có sự vang dội bởi khởi lên từ phần sâu sắc. Yathāparisaṃ (phù hợp với hội chúng): (đức Thế Tôn) giảng giải làm cho hội chúng có liên quan thành một, ngay cả đến tận cùng của thế giới đều (có thế) hiểu được. Bahiddhā (thuộc ngoài phần): (âm thanh) không thoát ra bên ngoài của hội chúng, dầu có kích thước bằng hạt bụi. Vì sao? Bởi vì âm thanh êm dịu như vậy, không trở nên trống rỗng bởi không có lý do. Âm thanh của đức Thế Tôn lan tỏa tận cùng của hội chúng là như thế.

avalokayamānāti sirasmiṃ añjaliṃ ṭhapetvā bhagavantaṃ olokentāva paccosakkitvā dassanavijahanaṭṭhāne vanditvā gacchanti. avijahitattāti yo hi kathaṃ sutvā vuṭṭhito aññaṃ diṭṭhasutādikaṃ kathaṃ kathento gacchati, esa sabhāvena vijahati nāma. yo pana sutadhammakathāya vaṇṇaṃ kathentova gacchati, ayaṃ na vijahati nāma, evaṃ avijahantabhāvena pakkamanti. gacchantanti rajjuyantavasena ratanasattubbedhaṃ suvaṇṇagghikaṃ viya gacchantaṃ. addasāma ṭhitanti samussitakañcanapabbataṃ viya ṭhitaṃ addasāma. tato ca bhiyyoti vitthāretvā guṇe kathetuṃ asakkonto avasese guṇe saṃkhipitvā kalāpaṃ viya suttakabaddhaṃ viya ca katvā vissajjento evamāha. ayamettha adhippāyo — mayā kathitaguṇehi akathitāva bahutarā. mahāpathavimahāsamuddādayo viya hi tassa bhoto anantā appameyyā guṇā ākāsamiva vitthāritāti.

Avalokayamānā (vẫn quay nhìn lại): mọi người chắp tay trên đầu ngắm nhìn đức Thế Tôn, vẫn quay lại đảnh lễ ở nơi lìa cái thấy rồi mới đi. Avijahitattā (không muốn rời đi): người não đã nghe được lời nói (của ngài) đứng dậy rồi vẫn nói lời đã thấy và đã nghe v.v, cách khác rồi mới đi, đây gọi là thực tính của mình. Người nào nói lời tán dương về ân đức Pháp rồi mới đi thì người này gọi là không từ bỏ, gọi là bỏ đi nhưng không từ bỏ với cách thức như vậy. Gacchantaṃ (ngài bước đi): ngài bước đi như thế một khối vàng cao một trăm hắt tay với khả năng của sợi dây yanta. Addasāma ṭhitaṃ (Chúng con thấy ngài Gotama đứng): chúng con nhìn thấy ngài đứng tựa như đỉnh núi Kañcana vàng được nâng lên. tato ca bhiyyo (còn nhiều hơn như vậy nữa): không thể nói được ân đức của ngài một cách chi tiết, mới nói vắn tắt những ân đức còn lại giống như bao đựng tên và giống như một cuộn chỉ, đã nói như vậy. Điều này ở đây được giải thích như sau: những ân đức của ngài Gotama chưa được nói còn nhiều hơn ân đức mà tôi đã nói, tựa như Đại địa cầu và Đại dương v.v, không thể tìm kiếm điểm tận cùng, không thể ước lượng được, rộng khắp tựa như hư không.

390. appaṭisaṃviditoti aviññātāagamano. pabbajite upasaṅkamantena hi cīvaraparikammādisamaye vā ekaṃ nivāsetvā sarīrabhañjanasamaye vā upasaṅkamitvā tatova paṭinivattitabbaṃ hoti, paṭisanthāramattampi na jāyati. puretaraṃ pana okāse kārite divāṭṭhānaṃ sammajjitvā cīvaraṃ pārupitvā bhikkhu vivitte ṭhāne nisīdati, taṃ āgantvā passantā dassanenapi pasīdanti, paṭisanthāro jāyati, pañhabyākaraṇaṃ vā dhammakathā vā labbhati. tasmā paṇḍitā okāsaṃ kārenti. so ca nesaṃ aññataro, tenassa etadahosi. jiṇṇo vuḍḍhoti attano uggatabhāvaṃ akathetvā kasmā evamāha? buddhā nāma anuddayasampannā honti, mahallakabhāvaṃ ñatvā sīghaṃ okāsaṃ karissatīti evamāha.

390. Appaṭisaṃvidito: Việc đi đến mà không báo trước. Người đến tìm gặp bậc xuất gia, đi tìm kiếm vào lúc chuẩn bị y phục, hoặc và thời gian mặc chỉ một y đang cạo tóc, cũng sẽ trở về bởi nhân đó. Ngay cả việc tiếp rước cũng sẽ không diễn ra. Nhưng thời gian thích hợp ngài đã thực hiện trước rồi, vị Tỳ khưu quét dọn chỗ nghỉ vào ban ngày, đắp y ngồi ở chỗ yên tĩnh. Người đi đến cũng sẽ khởi sanh lòng tịnh tín bằng việc nhìn ngài, việc tiếp rước sẽ diễn ra, sẽ nhận được vấn đề byākaraṇa và cả Pháp thoại. Do đó, các bậc trí cần phải chờ đợi thời cơ, và đó cũng là một trong những lý do của những người ấy, cho nên mới có suy nghĩ như thế. Bà-la-môn Brahmāyu không nói đến tính chất cao của mình v.v, lại nói như vầy ‘là người già yếu, là người niên cao’ vì sao? Thông thường chư Phật là những vị có từ bi khi biết rằng: là người đã già sẽ tạo cơ hội một cách nhanh chóng, (cho nên) mới nói như vậy.

391. oramiya okāsamakāsīti vegena uṭṭhāya dvidhā bhijjitvā okāsamakāsi.

391. oramiya okāsamakāsi (liền đứng dậy cho cơ hội): hội chúng ấy liền đứng dậy chia thành 2, có cơ hội.

ye meti ye mayā. nārīsamānasavhayāti nārīsamānanāmaṃ itthiliṅgaṃ, tena avhātabbāti nārīsamānasavhayā, itthiliṅgena vattabbāti vohārakusalatāya evaṃ vadati. pahūtajivhoti puthulajivho. ninnāmayetanti nīhara etaṃ.

Ye me đồng nghĩa với ye mayā. Nārīsamānasavhayā: Có tên đồng đẳng với nārī là nữ tánh, gọi là Nārīsamānasavhayā với ý nghĩa gọi theo tánh của người nữ ấy, nên nói theo tánh của người nữ vì thế ngài mới nói như vậy, bởi vì là vị thiện xảo trong vohāra. Pahūtajivho: có tướng lưỡi to lớn. Ninnāmayetaṃ: xin ngài hãy thể hiện đưa tướng đó ra.

393. kevalīti sakalaguṇasampanno.

394. paccabhāsīti ekappahārena pucchite aṭṭha pañhe byākaronto patiabhāsi. yo vedīti yo vidati jānāti, yassa pubbenivāso pākaṭo. saggāpāyañca passatīti dibbacakkhuñāṇaṃ kathitaṃ. jātikkhayaṃ pattoti arahattaṃ patto. abhiññā vositoti taṃ arahattaṃ abhijānitvā vosito vosānappatto. munīti arahattañāṇamoneyyena samannāgato.

393. Kevalī (viên mãn): viên mãn với toàn bộ đức hạnh.

394. Paccabhāsi (đã hỏi): khi được hỏi chỉ một lần cũng nói, cũng đã nói là đã trả lời đến tám vấn đề. Yo vedī (người nào biết): người nào biết được cõi (bhava) là nơi cư trú ở đời trước của người nào đã hiện hữu. Saggāpāyañca passati (thấy được thiên giới và đọa xứ): ngài nói nói Thiên nhãn trí. Jātikkhayaṃ patto (đã đạt đến sự cạn kiệt các kiếp sống): đã chứng đắc quả vị A-ra-hán. Abhiññā vosito (thắng trí được viên thành): sau khi biết rõ nhờ quả vị A-ra-hán, đã hoàn thành phận sự, tức là đã đến tận cùng. Munī: bậc thành tựu bởi bản thể của bậc Munī là trí tuệ của bậc A-ra-hán.

visuddhanti paṇḍaraṃ. muttaṃ rāgehīti kilesarāgehi muttaṃ. pahīnajātimaraṇoti jātikkhayappattattā pahīnajātiko, jātipahāneneva pahīnamaraṇo. brahmacariyassa kevalīti yaṃ brahmacariyassa kevalī sakalabhāvo, tena samannāgato, sakalacatumaggabrahmacariyavāsoti attho. pāragū sabbadhammānanti sabbesaṃ lokiyalokuttaradhammānaṃ abhiññāya pāraṃ gato, sabbadhamme abhijānitvā ṭhitoti attho. pāragūti vā ettāvatā pariññāpāragū pañcannaṃ khandhānaṃ, pahānapāragū sabbakilesānaṃ, bhāvanāpāragū catunnaṃ maggānaṃ, sacchikiriyāpāragū nirodhassa, samāpattipāragū sabbasamāpattīnanti ayamattho vutto. puna sabbadhammānanti iminā abhiññāpāragū vuttoti. buddho tādī pavuccatīti tādiso chahi ākārehi pāraṃ gato sabbākārena catunnaṃ saccānaṃ buddhattā buddhoti pavuccatīti.

Visuddhaṃ (thanh tịnh): trong sáng. muttaṃ rāgehi (thoát khỏi mọi ái luyến): thoát khỏi tất cả mọi phiền não và ái luyến. Pahīnajātimaraṇo (đã dứt trừ sự sanh và sự chết): vị đã dứt trừ sự sanh bởi đã đạt đến sự chấm dứt tái sanh, vị đã dứt trừ sự chết chính vì đã dứt trừ sự tái sanh. Brahmacariyassa kevalī (Phạm hạnh đã viên thành): vị thành tựu hoàn toàn đức hạnh của toàn bộ đời sống Phạm hạnh. Có nghĩa là vị sống an trú thực hành Phạm hạnh là toàn bộ 4 Đạo. Pāragū sabbadhammānaṃ [người đi đến bờ kia (do việc biết rõ) tất cả các pháp]: người đã đạt đến bờ kia do việc biết rõ toàn bộ Pháp Siêu thế và Pháp Hiệp thế. Biết được toàn bộ tất cả Pháp. Hơn nữa, Pāragū (người đi đến bờ kia) ngài nói ý nghĩa như vầy: người đi đến bờ kia do việc biết toàn diện năm uẩn, người đi đến bờ kia do việc dứt bỏ tất cả các ô nhiễm. người đi đến bờ kia do việc phát triển bốn Thánh Đạo, người đi đến bờ kia do việc chứng ngộ sự tịch diệt, người đi đến bờ kia do việc chứng đạt mọi chứng đạt (về thiền định), chỉ chừng ấy lời ngài đã nói về người đi đến bờ kia bằng sự biết rõ tất cả Pháp nữa. Buddho tādī pavuccati (bậc trí đã nói hạng người như vậy là đức Phật): người như thế là người đạt đến bờ kia với 6 biểu hiện ngài gọi là đức Phật, bời là vị đã giác ngộ tất cả bốn Chân Lý với mọi khía cạnh.

kiṃ pana ettāvatā sabbe pañhā vissajjitā hontīti? āma vissajjitā, cittaṃ visuddhaṃ jānāti, muttaṃ rāgehīti iminā tāva bāhitapāpattā brāhmaṇoti paṭhamapañho vissajjito hoti. pāragūti iminā vedehi gatattā vedagūti dutiyapañho vissajjito hoti. pubbenivāsantiādīhi imāsaṃ tissannaṃ vijjānaṃ atthitāya tevijjoti tatiyapañho vissajjito hoti. muttaṃ rāgehi sabbasoti imināva nissaṭattā pāpadhammānaṃ sottiyoti catutthapañho vissajjito hoti. jātikkhayaṃ pattoti iminā pana arahattasseva vuttattā pañcamapañho vissajjito hoti. vositoti ca brahmacariyassa kevalīti ca imehi chaṭṭhapañho vissajjito hoti. abhiññā vosito munīti iminā sattamapañho vissajjito hoti. pāragū sabbadhammānaṃ, buddho tādī pavuccatīti iminā aṭṭhamapañho vissajjito hoti.

Vấn đề về đức Thế Tôn đã được giải đáp chỉ với chừng ấy lời hay sao? Đúng rồi, đã giải đáp tất cả các câu. Giải đáp vấn đề thứ nhất bởi người có ác đã được thả trôi gọi là Bà-là-môn, (tức là) vị Munī ấy biết được tâm thanh tịnh, đã thoát khỏi tất cả ái luyến. Đi đến bờ kia gọi là đạt đến sự hiểu biết bởi vì đã hoàn tất về sự hiểu biết, đây là giải đáp vấn đề thứ hai. Pubbenivāsaṃ (Túc mạng trí) v.v, vị có Tam Minh bởi có Tam Minh này, là giải đáp vấn đề thứ ba. Thoát khỏi tất cả ái luyến ở mọi khía cạnh gọi là người có sự an ổn bởi đã loại bỏ được các ác Pháp là lời giải đáp vấn đề thứ tư. Hơn nữa, sanh đã tận đâu gọi là giải đáp vấn đề thứ năm, bởi thuyết đến A-ra-hán. Là vị đã hoàn thành phận sự và gọi là vị có ân đức đầy đủ của đời sống Phạm hạnh, đây là giải đáp vấn đề thứ sáu. Vị ấy là bậc Munī, vị đạt đến tận cùng đây là giải đáp vấn đề thứ bảy. gọi là vị đạt đến bờ kia của tất cả các Pháp bậc trí nói rằng là đức Phật, là câu giải đáp vấn đề thứ tám.

395. dānakathantiādīni heṭṭhā sutte vitthāritāneva. paccapādīti paṭipajji. dhammassānudhammanti imasmiṃ sutte dhammo nāma arahattamaggo, anudhammo nāma heṭṭhimā tayo maggā tīṇi ca sāmaññaphalāni, tāni paṭipāṭiyā paṭilabhīti attho. na ca maṃ dhammādhikaraṇaṃ vihesesīti mañca dhammakāraṇā na kilamesi, na punappunaṃ kathāpesīti vuttaṃ hoti. sesaṃ sabbattha uttānameva. tattha parinibbāyīti pana padena desanāya arahatteneva kūṭaṃ gahitanti.

395. Dānakathaṃ (thuyết về bố thí) v.v, ngài đã nói chi tiết ở bài Kinh trước. Đã chứng đắc: đã bước lên con đường. Dhammassānudhammaṃ (Pháp tuần tự đối với Pháp): A-ra-hán Đạo gọi là Pháp, trong bài Kinh này 3 Đạo và 3 Quả của Sa-môn thấp gọi là tuần tự đối với Pháp. Tức là chứng đắc Đạo và Quả theo tuần tự. na ca maṃ dhammādhikaraṇaṃ vihesesī (không có phiền nhiễu ta với những kiện cáo về Chánh pháp): không khiến cho ta khổ sở bởi những kiện cáo về Chánh pháp, tức là không khiến cho Ta phải nói lập đi lập lại. Từ còn lại trong các câu đều đơn giản. tattha parinibbāyī (sẽ viên tịch Nibbāna ở tại cõi ấy): ngài nắm lấy đỉnh cao của Pháp thoại với quả vị A-ra-hán.

Giải Thích Kinh Brahmāyu Kết Thúc

​​

1 phiền não

2 Cây đa, hay cây bàng.

3 ṭīkā upakaṭṭhāya velāyaṃ

4 aḍḍhakāyova