Kinh số 79 – Giải Thích Tiểu Kinh Sakuludāyī

(Cūḷasakuludāyisuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Tiểu Kinh Sakuludāyī

270. evaṃ V.3.191 P.3.271 me sutanti cūḷasakuludāyisuttaṃ. tattha yadā pana, bhante, bhagavāti idaṃ paribbājako dhammakathaṃ sotukāmo bhagavato dhammadesanāya sālayabhāvaṃ dassento āha.

270 Tiểu Kinh Sakuludāyī được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, yadā pana, bhante, bhagavā (bạch Thế Tôn, khi nào Thế Tôn đến với hội chúng): Du sĩ mong muốn sẽ lắng nghe Pháp thoại này, khi thuyết rằng tự thân có sự quyến luyến trong Pháp thoại của đức Thế Tôn nên mới nói ý nghĩa này.

271. taṃyevettha paṭibhātūti sace dhammaṃ sotukāmo, tuyhevettha eko pañho ekaṃ kāraṇaṃ upaṭṭhātu. yathā maṃ paṭibhāseyyāti yena kāraṇena mama dhammadesanā upaṭṭhaheyya, etena hi kāraṇena kathāya samuṭṭhitāya sukhaṃ dhammaṃ desetunti dīpeti. tassa mayhaṃ, bhanteti so kira taṃ disvā — “sace bhagavā idha abhavissā, ayametassa bhāsitassa atthoti dīpasahassaṃ viya ujjalāpetvā ajja me pākaṭaṃ akarissā”ti dasabalaṃyeva anussari. tasmā tassa mayhaṃ, bhantetiādimāha. tattha aho nūnāti anussaraṇatthe nipātadvayaṃ. tena tassa bhagavantaṃ anussarantassa etadahosi “aho nūna bhagavā aho nūna sugato”ti. yo imesanti yo imesaṃ dhammānaṃ. sukusaloti suṭṭhu M.3.187 kusalo nipuṇo cheko. so bhagavā aho nūna katheyya, so sugato aho nūna katheyya, tassa hi bhagavato pubbenivāsañāṇassa anekāni kappakoṭisahassāni ekaṅgaṇāni pākaṭānīti, ayamettha adhippāyo.

271 Taṃyevettha paṭibhātu (hãy hỏi vấn đề…): Vấn đề hãy hiện lộ cùng ông, tức là nếu ông mong muốn lắng nghe Pháp, ông hãy hỏi một vấn đề làm nhân. yathā maṃ paṭibhāseyyā (khiến ta thuyết giảng Giáo Pháp): làm nhân khiến Pháp thoại này có thể hiển lộ nơi ta, vì ngài chỉ ra rằng khi kệ ngôn được thiết lập với lý do đó, để lắng nghe Pháp được an lạc. Tassa mayhaṃ, bhante (bạch Thế Tôn, con khởi lên niệm hoan hỷ đối với Thế Tôn): được biết rằng du sĩ Sakuludāyī ấy nhìn thấy đức Thế Tôn ấy nghĩ như sau – “Nếu đức Thế Tôn an trú ở đây, ý nghĩa của lời nói này sẽ hiện hữu, mới nhớ đến đấng Thập Lực (nghĩ rằng) đấng Thập Lực sẽ làm cho ý nghĩa này được hiện hữu tựa như một nghìn ngọn đèn được thắp sáng”. Do đó, du sĩ Sakuludāyī đã nói lời bắt đầu như vầy “bạch Thế Tôn, con khởi lên niệm hoan hỷ đối với Thế Tôn.” Ở đó, aho nūna cả hai từ này đều là phân từ được sử dụng trong ý nghĩa “là nơi nhớ đến”. Vì thế, khi du sĩ Sakuludāyi tùy niệm đến đức Thế Tôn đã có sự nhớ đến rằng: “aho nūna bhagavā aho nūna sugato (ồ vị thiện xảo trong Pháp này chắc chắn phải là đức Thế Tôn, chắc chắn phải là Thiện Thệ)”. Yo imesaṃ đồng nghĩa với yo imesaṃ dhammānaṃ (vị thiện xảo trong những Pháp này). Sukusalo (vị thiện xảo) tức là (đức Thế Tôn nào) là vị tốt đẹp, vị thiện xảo, vị khôn khéo, vị lão luyện trong những Pháp này, đức Thế Tôn ấy chắc hẳn có thể nói, Thiện Thệ ấy chắc hẳn có thể nói, bởi vì phiền não đưa đến các cõi lớn nhỏ trong trăm nghìn Koṭi kiếp không ít hiển lộ cùng trí nhớ về các kiếp sống trước, ở đây điều này là ý muốn nói đến.

tassa vāhaṃ pubbantaṃ ārabbhāti yo hi lābhī hoti, so “pubbe tvaṃ khattiyo ahosi, brāhmaṇo ahosī”ti vutte jānanto P.3.272 sakkaccaṃ sussūsati. alābhī pana — “evaṃ bhavissati evaṃ bhavissatī”ti sīsakampamettameva dasseti. tasmā evamāha — “tassa vāhaṃ pubbantaṃ ārabbha pañhassa veyyākaraṇena cittaṃ ārādheyyan”ti.

Tassa vāhaṃ pubbantaṃ ārabbhā (hoặc ta làm tâm vị ấy thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi có liên quan đến quá khứ): thật vậy người nào là vị có lợi đắc, người đó “trước kia ngài là vị Sát-đế-lỵ, là Bà-la-môn” khi nhận biết sẽ lắng nghe một cách cung kính. Còn vị không được lợi đắc – “sẽ trở nên như vầy, sẽ trở nên như vầy” vị ấy trình bày chính hành động lắc đầu mà thội. Vì thế đức Thế Tôn đã nói như vầy – “ta có thể làm tâm vị ấy thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi có liên quan đến uẩn thuộc quá khứ”

so vā maṃ aparantanti dibbacakkhulābhino hi anāgataṃsañāṇaṃ ijjhati, tasmā evamāha. itaraṃ pubbe vuttanayameva.

so vā maṃ aparantaṃ (vị ấy có thể hỏi câu hỏi có liên quan đến uẩn thuộc vị lai): Vị lai phần tuệ thành tựu cùng hạng người chứng đạt trí về thiên nhãn, vì thế ngài đã nói như vậy. Những câu còn lại đã được nói ở phần trước.

dhammaṃ V.3.192 te desessāmīti ayaṃ kira atīte desiyamānepi na bujjhissati, anāgate desiyamānepi na bujjhissati. athassa bhagavā saṇhasukhumaṃ paccayākāraṃ desetukāmo evamāha. kiṃ pana taṃ bujjhissatīti? etaṃ pageva na bujjhissati, anāgate panassa vāsanāya paccayo bhavissatīti disvā bhagavā evamāha.

Dhammaṃ te desessāmi (ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp cho các ông): được biết rằng du sĩ Sakuludāyī này dù cho thuyết đến uẩn ở quá khứ cũng sẽ không biết, kể cả thuyết đến uẩn vị lai cũng sẽ không biết. Như vậy, đức Thế Tôn mong muốn thuyết đến paccayākāra (lý duyên khởi) vi tế đã nói như vậy. Sakuludāyī ấy nhận biết được uẩn đó chăng? sẽ không nhận biết được uẩn đó ngay tức khắc, những sẽ làm duyên lành của sự huân tập trong thời vị lai”. Đức Thế Tôn đã thấy được điều ấy đã thuyết như thế.

paṃsupisācakanti asuciṭṭhāne nibbattapisācaṃ. so hi ekaṃ mūlaṃ gahetvā adissamānakāyo hoti. tatridaṃ vatthu — ekā kira yakkhinī dve dārake thūpārāmadvāre nisīdāpetvā āhārapariyesanatthaṃ nagaraṃ gatā. dārakā ekaṃ piṇḍapātikattheraṃ disvā āhaṃsu, — “bhante, amhākaṃ mātā anto nagaraṃ paviṭṭhā, tassā vadeyyātha ‘yaṃ vā taṃ vā laddhakaṃ, gahetvā sīghaṃ gaccha, dārakā te jighacchitaṃ sandhāretuṃ na sakkontī’”ti. tamahaṃ kathaṃ passissāmīti? idaṃ, bhante, gaṇhathāti ekaṃ mūlakhaṇḍaṃ adaṃsu. therassa anekāni yakkhasahassāni paññāyiṃsu, so dārakehi dinnasaññāṇena taṃ yakkhiniṃ addasa virūpaṃ bībhacchaṃ kevalaṃ vīthiyaṃ gabbhamalaṃ paccāsīsamānaṃ. disvā tamatthaṃ kathesi P.3.273. kathaṃ maṃ tvaṃ passasīti vutte mūlakhaṇḍaṃ dassesi, sā acchinditvā gaṇhi. evaṃ paṃsupisācakā ekaṃ mūlaṃ gahetvā adissamānakāyā honti. taṃ sandhāyesa “paṃsupisācakampi M.3.188 na passāmī”ti āha. na pakkhāyatīti na dissati na upaṭṭhāti.

Paṃsupisācakaṃ (con quỷ bẩn thỉu): con quỷ được sanh ra ở nơi không sạch sẽ, bởi con quỷ ấy đã nắm lấy một gốc rễ cây rồi không hiển lộ thân. Ở đây có một câu chuyện – kể rằng một nữ Dạ-xoa cho hai đứa trẻ ngồi ở cổng thành Thūpārāma rồi đi vào trong thành để tìm kiếm thức ăn. Chúng nhìn thấy một vị trưởng lão đang đi trì bình khất thực mới nói rằng – “Kính bạch ngài, mẹ của chúng con đã đi vào trong thành, (nếu) ngài nhìn thấy hãy giúp chúng con chuyển lời đến người mẹ ấy rằng: ‘bà nhận được bất cứ thứ gì hãy nhanh chóng quay trở lại đây, những đứa trẻ không thể chờ đợi được vị đói.” Trưởng lão hỏi rằng làm thế nào ta có thể nhìn thấy mẹ của các con? – kính bạch ngài, ngài hãy cầm rễ cây này, rồi cúng dường một nhánh cây. Hàng ngàn Dạ-xoa xuất hiện nơi trưởng lão, trưởng lão đã nhìn thấy nữ Dạ-xoa ấy nhờ dấu hiệu mà những đứa trẻ đưa cho. Trưởng lão nhìn thấy nữ Dạ-xoa thân hình ghê tởm, đáng sợ, chỉ mong cầu tìm kiếm những thứ dơ bẩn ở vệ đường mới nói ý nghĩa này. Khi nữ Dạ-xoa hỏi rằng: “Làm thế nào ngài nhìn thấy được tôi?” – Trưởng lão đã đưa rễ cây cho nữ Dạ-xoa xem, nữ Dạ-xoa đã đoạt lấy rễ cây rồi bỏ đi. Các con quỷ bẩn thỉu cầm lấy một rễ cây rồi không hiển lộ thân bằng cách ấy. Du sĩ Sakuludāyī ấy đã nói rằng: “ngay cả con quỷ bẩn thỉu, tôi cũng không nhìn thấy” muốn đề cập đến nữ Dạ-xoa ấy. na pakkhāyati (chưa từng thấy): không nhìn thấy, không hiển lộ.

272. dīghāpi kho te esāti udāyi esā tava vācā dīghāpi bhaveyya, evaṃ vadantassa vassasatampi vassasahassampi pavatteyya, na ca atthaṃ dīpeyyāti adhippāyo. appāṭihīrakatanti aniyyānikaṃ amūlakaṃ niratthakaṃ sampajjatīti attho.

272 dīghāpi kho te esā (Này Udāyi, lời giải thích của ông quá dài): này Udāyi lời nói của ông có thể giải thích quá dài, tức là khi nói như vậy có thể diễn ra hàng trăm năm, hay hàng nghìn năm, và lời nói ấy không thể trình bày đưa đến sự lợi ích. Appāṭihīrakataṃ (lời nói sử dụng không hiệu năng): tức là lời ấy đạt đến tính chất lời nói không dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi, không có giá trị, không có lợi ích.

idāni taṃ vaṇṇaṃ dassento seyyathāpi, bhantetiādimāha. tattha paṇḍukambale nikkhittoti visabhāgavaṇṇe rattakambale ṭhapito. evaṃvaṇṇo attā hotīti idaṃ so subhakiṇhadevaloke nibbattakkhandhe sandhāya — “amhākaṃ matakāle attā subhakiṇhadevaloke khandhā viya jotetī”ti vadati.

Bây giờ, khi du sĩ Sakuludāyī miêu tả đến màu sắc ấy mới nói lời bắt đầu như sau: “seyyathāpi, bhante (kính bạch ngài, giống như ngọc lưu ly)”. Ở đó, paṇḍukambale nikkhitto (ngọc lưu ly màu trắng đặt ở tắm vải len được nhuộm đỏ): được đặt trong tắm vải len được nhuộm đỏ có màu không giống nhau. evaṃvaṇṇo attā hoti (tự thân cũng có màu sắc như thế): du sĩ Sakuludāyī đã nói lời này rằng: “tự thân ấy vào lúc lâm chung chói sáng tựa như uẩn ở trong thế giới Biến Tịnh Thiên” có liên quan đến uẩn khởi sanh trong thế giới Biến Tịnh Thiên.

273. ayaṃ V.3.193 imesaṃ ubhinnanti so kira yasmā maṇissa bahi ābhā na niccharati, khajjopanakassa aṅguladvaṅgulacaturaṅgulamattaṃ niccharati, mahākhajjopanakassa pana khaḷamaṇḍalamattampi niccharatiyeva, tasmā evamāha.

273 Ayaṃ imesaṃ ubhinnaṃ (trong số 2 quang sắc này): kể rằng ánh sáng của ngọc ma-ni không lan tỏa ra bên ngoài, ánh sáng của con đom đóm nhỏ tỏa ra chỉ 1 lóng tay, 2 lóng tay và 4 lóng tay, còn ánh sáng của con đom đóm lớn lan tỏa thậm chí ước chừng bằng khu vực sân đập lúa, bởi thế du sĩ Sakuludāyī đã nói như thế.

viddheti ubbiddhe, meghavigamena dūrībhūteti attho. vigatavalāhaketi apagatameghe. deveti ākāse. osadhitārakāti P.3.274 sukkatārakā. sā hi yasmā tassā udayato paṭṭhāya tena saññāṇena osadhāni gaṇhantipi pivantipi, tasmā “osadhitārakā”ti vuccati. abhido aḍḍharattasamayanti abhinne aḍḍharattasamaye. iminā gaganamajjhe ṭhitacandaṃ dasseti. abhido majjhanhikepi eseva nayo.

Viddhe: sáng chói, có nghĩa là ở xa do bởi thoát khỏi đám mây. Vigatavalāhake: thoát khỏi đám mây và mưa. Deve: mưa. Osadhitārakā: sao Mai. Quả thật, một số vị thầy nói rằng tất cả mọi người cất giữ cây thuốc nhờ vào dấu hiệu ấy kể từ lúc sao Mai sanh lên, bởi thế ngài mới nói “Sao Mai”. Abhido aḍḍharattasamayaṃ đồng nghĩa với abhinne aḍḍharattasamaye (mặt trăng trong khi đứng bóng vào lúc nữa đêm). Với câu này ngài chỉ ra rằng: mặt trăng đã vững trú ở giữa bầu trời. Ngay cả trong câu: mặt trời vào lúc giữa trưa cũng có cách thức tương tự.

Tato khoti ye anubhonti, tehi bahutarā, bahū ceva bahutarā cāti attho. ābhā nānubhontīti obhāsaṃ na vaḷañjanti, attano sarīrobhāseneva ālokaṃ pharitvā viharanti.

Tato kho (có nhiều hơn): những vị thiên ấy có nhiều hơn, nhiều hơn thế, tức là nhiều và nhiều hơn thế. ābhā nānubhonti (không thể chói sáng hơn ánh sáng của mặt trăng và mặt trời): ánh sáng của mặt trời và mặt trăng lan tỏa chiếu sáng rực rỡ bằng chính ánh sáng của chính nó.

274. idāni yasmā so “ekantasukhaṃ lokaṃ pucchissāmī”ti nisinno, pucchāmūḷho pana jāto, tasmā naṃ bhagavā taṃ pucchaṃ sarāpento kiṃ pana, udāyi, atthi ekantasukho lokotiādimāha. tattha M.3.189 ākāravatīti kāraṇavatī. aññataraṃ vā pana tapoguṇanti acelakapāḷiṃ sandhāyāha, surāpānaviratīti attho.

274 Bây giờ, do Sakuludāyī nghĩ rằng ta sẽ hỏi đến thế giới có sự an lạc toàn diện” mới ngồi im lặng quên đi câu hỏi, vì thế đức Thế Tôn khi thuyết cho Sakuludāyī nhớ đến câu hỏi mới thuyết lời như sau: “kiṃ pana, udāyi, atthi ekantasukho loko (Nhưng này Udāyi, có một thế giới có sự an lạc toàn diện không?) Ở đó, ākāravatī là có nguyên nhân. aññataraṃ vā pana tapoguṇaṃ (bất kỳ một công đức khổ hạnh nào): du sĩ đã đề cập đến học thuyết của các lõa thể, có nghĩa là kiêng tránh việc uống chất say.

275. katamā pana sā, bhante, ākāravatī paṭipadā ekantasukhassāti kasmā pucchati? evaṃ kirassa ahosi — “mayaṃ sattānaṃ ekantasukhaṃ vadāma, paṭipadaṃ pana kālena sukhaṃ kālena dukkhaṃ vadāma. ekantasukhassa kho pana attano paṭipadāyapi ekantasukhāya bhavitabbaṃ. amhākaṃ kathā aniyyānikā, satthu kathāva niyyānikā”ti. idāni satthāraṃyeva pucchitvā jānissāmīti tasmā pucchati.

275 Tại sao Sakuludāyī hỏi rằng: bạch ngài thế giới có sự an lạc toàn diện có tồn tại phải chăng? Được biết Sakuludāyī đã nghĩ rằng: “Chúng tôi cũng đã nói, bản thân được hoàn toàn an lạc, hơn nữa chúng tôi đã nói đạo lộ thực hành là sự an lạc đúng thời, là khổ đau đúng thời. Thậm chí đạo lộ thực hành của bản thân, người có sự an lạc toàn diện cũng có thể có sự an lạc toàn diện. Kệ ngôn của chúng tôi là kệ ngôn không dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi. Còn kệ ngôn của bậc Đạo Sư là kệ ngôn dân dắt chúng sanh thoát khỏi.” Chính vì thế, bây giờ ta sẽ hỏi bậc Đạo Sư sẽ biết được, cho nên mới hỏi.

ettha P.3.275 mayaṃ anassāmāti etasmiṃ kāraṇe mayaṃ anassāma. kasmā pana evamāhaṃsu? te kira pubbe pañcasu dhammesu patiṭṭhāya kasiṇaparikammaṃ katvā tatiyajjhānaṃ nibbattetvā aparihīnajjhānā kālaṃ katvā subhakiṇhesu nibbattantīti jānanti, gacchante gacchante pana kāle V.3.194 kasiṇaparikammampi na jāniṃsu, tatiyajjhānampi nibbattetuṃ nāsakkhiṃsu. pañca pubbabhāgadhamme pana “ākāravatī paṭipadā”ti uggahetvā tatiyajjhānaṃ “ekantasukho loko”ti uggaṇhiṃsu. tasmā evamāhaṃsu. uttaritaranti ito pañcahi dhammehi uttaritaraṃ paṭipadaṃ vā tatiyajjhānato uttaritaraṃ ekantasukhaṃ lokaṃ vā na jānāmāti vuttaṃ hoti. appasadde katvāti ekappahāreneva mahāsaddaṃ kātuṃ āraddhe nissadde katvā.

Ettha mayaṃ anassāma (chúng tôi không hoan hỷ với nguyên nhân ấy): Chúng tôi không hoan hỷ với lý do này. Vì sao? hội chúng của du sĩ Sakuludāyī lại nói như vậy? Biết rằng hội chúng của du sĩ Sakuludāyī ấy biết được trước kia bản thân được vững trú trong 5 Pháp thực hành đề mục chuẩn bị làm cho Tam thiền sanh khởi, khi thiền chưa hoại diệt, đã từ trần hóa sanh vào cõi Biến Tịnh Thiên, thời gian trôi qua ngay cả đề mục chuẩn bị cũng không biết, kể cả Tam thiền cũng không thể làm cho sanh khởi. Hơn nữa, họ học Pháp thuộc năm phần hạ (cho rằng) đạo lộ thực hành có nhân, rồi học Tam thiền (cho rằng) “thế giới có sự an lạc toàn diện.” Vì thế, họ đã nói như vậy. Uttaritaraṃ (cao hơn): Những thứ cao hơn 5 pháp này, ngài giải thích rằng họ không biết đạo lộ thực hành hoặc thế giới có sự an lạc toàn diện cao hơn Tam thiền. appasadde katvā (sau khi làm … lặng tiếng xuống): đã ngăn cản các du sĩ ấy bắt đầu gây ra tiếng ồn không cho có tiếng ồn chỉ với một lần nhắc nhở.

276. sacchikiriyāhetūti ettha dve sacchikiriyā paṭilābhasacchikiriyā ca paccakkhasacchikiriyā ca. tattha tatiyajjhānaṃ nibbattetvā aparihīnajjhāno kālaṃ katvā subhakiṇhaloke tesaṃ devānaṃ samānāyuvaṇṇo hutvā nibbattati, ayaṃ paṭilābhasacchikiriyā nāma. catutthajjhānaṃ nibbattetvā iddhivikubbanena subhakiṇhalokaṃ gantvā tehi devehi saddhiṃ santiṭṭhati sallapati sākacchaṃ āpajjati, ayaṃ paccakkhasacchikiriyā nāma. tāsaṃ dvinnampi tatiyajjhānaṃ ākāravatī paṭipadā nāma. tañhi anuppādetvā neva sakkā subhakiṇhaloke nibbattituṃ, na catutthajjhānaṃ uppādetuṃ. iti duvidhampetaṃ sacchikiriyaṃ sandhāya — “etassa nūna, bhante, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāhetū”ti āha.

Sacchikiriyāhetu (vì nhân duyên chứng đắc): tác chứng có hai là paṭilābhasacchikiriyā (tác chứng nhờ việc chứng đắc thiền) và paccakkhasacchikiriyā (tác chứng do nhìn thấy rõ ràng). Trong hai việc tác chứng ấy, vị làm cho Tam thiền sanh khởi chưa bị hoại diệt, đã từ trần, trở thành người có tuổi thọ và màu da tương đồng với chư Thiên ấy trong cõi Biến Tịnh Thiên, đây gọi là tác chứng nhờ việc chứng đắc thiền. Vị làm cho Tứ thiền sanh khởi đi đến cõi Biến Tịnh Thiên bằng thần thông rồi đứng đàm luận với những chư Thiên ấy, đây gọi là tác chứng do nhìn thấy rõ ràng). Tam thiền do tác chứng của cả 2 hạng người ấy gọi là đạo lộ thực hành có nhân. Nếu như Tam thiền vẫn chưa sanh cũng có thể làm cho sanh khởi trong coi Biến Tịnh Thiên (và) không thể làm cho Tứ thiền sanh khởi. Du sĩ Sakuludāyī muốn đề cập đến cả hai sự tác chứng này mới hỏi rằng: Kính bạch ngài, do nhân gì dẫn đến tác chứng của thế giới có sự an lạc toàn diện?”

277 udañcanikoti M.3.190 udakavārako. antarāyamakāsīti yathā pabbajjaṃ na labhati, evaṃ upaddutamakāsi yathā taṃ upanissayavipannaṃ. ayaṃ kira kassapabuddhakāle pabbajitvā samaṇadhammamakāsi. athassa eko sahāyako bhikkhu sāsane anabhirato, “āvuso, vibbhamissāmī”ti P.3.276 ārocesi. so tassa pattacīvare lobhaṃ uppādetvā gihibhāvāya vaṇṇaṃ abhāsi. itaro tassa pattacīvaraṃ datvā vibbhami. tenassa kammunā idāni bhagavato sammukhā pabbajjāya antarāyo jāto. bhagavatā panassa purimasuttaṃ atirekabhāṇavāramattaṃ, idaṃ bhāṇavāramattanti ettakāya tantiyā dhammo kathito, ekadesanāyapi maggaphalapaṭivedho na jāto, anāgate panassa paccayo bhavissatīti bhagavā dhammaṃ deseti. anāgate paccayabhāvañcassa disvā bhagavā dharamāno ekaṃ bhikkhumpi mettāvihārimhi etadagge na ṭhapesi. passati hi bhagavā — “anāgate ayaṃ mama sāsane pabbajitvā mettāvihārīnaṃ aggo bhavissatī”ti.

Udañcaniko: bình đựng nước. antarāyamakāsi (chính chúng du sĩ của Sakuludāyī đã làm một chướng ngại): đã gây ra chướng ngại như vậy, làm cho du sĩ Sakuludāyī không được xuất gia do nhân duyên đã bị tàn lụi. Được biết rằng du sĩ Sakuludāyī này đã xuất gia trong Giáo Pháp của đức Phật Kassapa, đã thực hành Sa-môn Pháp. Khi ấy một vị Tỳ khưu bạn hữu của vị ấy đã nói như sau “này Hiền giả, vị ấy nhàm chán trong Giáo Pháp sẽ hoàn tục, vị Tỳ khưu ấy khởi lên tham muốn trong bình bát và y phục của vị Tỳ khưu bạn, sẽ nói đến ân đức tính chất người cư sĩ. Vị Tỳ khưu bạn đã ban cho bình bát và y phục cho vị Tỳ khưu ấy rồi hoàn tục. Do nghiệp lực của vị Tỳ khưu ấy, bây giờ mới khởi lên chướng ngại từ việc xuất gia ở trước mặt của đức Thế Tôn. Bài Kinh trước của đức Thế Tôn có hơn một bhāṇavāra (một phần kinh tụng có 8000 chữ), bài kinh này có một bhāṇavāra, đức Thế Tôn thuyết Pháp theo truyền thống chỉ chừng ấy. Việc chứng đắc Đạo và Quả không khởi lên ngay thời Pháp đầu tiên, nhưng sẽ làm duyên lành cho vị Tỳ khưu ấy trong thời vị lai, do đó, đức Thế Tôn mới thuyết Pháp. Sau khi đức Thế nhìn thấy được tính chất Pháp ấy sẽ trở thành duyên lành trong thời vị lai, khi còn tại tiền không thiết lập dù chỉ một vị Tỳ khưu trong vị trí hàng đầu về sống an trú bằng từ tâm. Bởi vậy đức Thế Tôn thấy rằng – “trong thời vị lại, vị Tỳ khưu này sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của ta, rồi sẽ trở thành vị Tỳ khưu hàng đầu là vị Tỳ khưu sống trú với tâm từ”.

so bhagavati parinibbute dhammāsokarājakāle pāṭaliputte nibbattitvā pabbajitvā arahattappatto V.3.195 assaguttatthero nāma hutvā mettāvihārīnaṃ aggo ahosi. therassa mettānubhāvena tiracchānagatāpi mettacittaṃ paṭilabhiṃsu, thero sakalajambudīpe bhikkhusaṅghassa ovādācariyo hutvā vattanisenāsane āvasi, tiṃsayojanamattā aṭavī ekaṃ padhānagharaṃ ahosi. thero ākāse cammakhaṇḍaṃ pattharitvā tattha nisinno kammaṭṭhānaṃ kathesi. gacchante gacchante kāle bhikkhācārampi agantvā vihāre nisinno kammaṭṭhānaṃ kathesi, manussā vihārameva gantvā dānamadaṃsu. dhammāsokarājā therassa guṇaṃ sutvā daṭṭhukāmo tikkhattuṃ pahiṇi. thero bhikkhusaṅghassa ovādaṃ dammīti ekavārampi na gatoti.

Vị Tỳ khưu ấy khi đức Thế Tôn viên tịch Nibbāna sẽ sanh ra ở trong thành Pāṭaliputta, vào thời của đức vua Dhammāsoka sẽ xuất gia, sau khi xuất gia sẽ chứng đắc quả vị A-ra-hán có tên là trưởng lão Assagutta, là vị đệ tử hàng đầu về hạnh sống cư trú với từ tâm. Do nhờ oai lực tâm từ của trưởng lão thì ngay cả tất cả loài bàn sanh cũng đều có tình yêu thương lẫn nhau. Trưởng lão là thầy khuyên dạy cho chư Tỳ khưu Tăng ở toàn cõi Jambudīpa, sống cư trú ở Vattanisenāsana, một khu rừng rộng khoảng 30 do-tuần đã trở thành ngôi làng chỉ để thực hành tinh tấn. Trưởng lão đã trải tấm da lên trên hư không rồi ngồi lên tâm da ấy thuyết đề mục thiền định. Khi thời gian trôi đi trưởng lão không đi khất thực, ngồi nói đề mục thiền mục ở trong tịnh xá, tất cả mọi người đi đến tịnh xá cúng dường vật phẩm. Đức vua Dhammāsoka đã nghe được đức hạnh của vị trưởng lão, có ý muốn gặp đã truyền người đến thỉnh mời ngài 3 lần. Trưởng lão nghĩ rằng: “Ta ban lời giáo huấn đến chư Tỳ khưu Tăng như vậy, đã không đi dù chỉ một lần.”

Giải Thích Tiểu Kinh Sakuludāyī Kết Thúc.