Kinh số 76 – Giải Thích Kinh Sandaka

(Sandakasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Sandaka

223. evaṃ V.3.159 me sutanti sandakasuttaṃ. tattha pilakkhaguhāyanti tassā guhāya dvāre pilakkharukkho ahosi, tasmā pilakkhaguhātveva saṅkhaṃ gatā. paṭisallānā vuṭṭhitoti vivekato vuṭṭhito. devakatasobbhoti vassodakeneva tinnaṭṭhāne jāto mahāudakarahado. guhādassanāyāti ettha guhāti paṃsuguhā. sā unname P.3.221 udakamuttaṭṭhāne ahosi, ekato umaṅgaṃ katvā khāṇuke ca paṃsuñca nīharitvā anto thambhe ussāpetvā matthake padaracchannagehasaṅkhepena katā, tattha te paribbājakā vasanti. sā vassāne udakapuṇṇā tiṭṭhati, nidāghe tattha vasanti. taṃ sandhāya “guhādassanāyā”ti āha. vihāradassanatthañhi anamataggiyaṃ paccavekkhitvā samuddapabbatadassanatthaṃ vāpi gantuṃ vaṭṭatīti.

223 Kinh Sandaka được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, Pilakkhaguhāyaṃ (ở hang động Pilakkhaguhā): Ở cửa hang động có một cây sung, vì thế hang động đó được gọi là Pilakkhaguhā. Paṭisallānā vuṭṭhito (Tôn giả Ānanda khi đã xuất khỏi từ chỗ thiền tịnh): khi đã xuất khỏi sự viễn ly. Devakatasobbho (một cái hồ nơi nước mưa xói mòn): Tức là một cái hồ nước lớn được hình thành ở nơi bị nước mưa xói mòn. Guhā (hang động) trong từ guhādassanāya (để nhìn hang động này) là hạng động chứa đầy bụi bẩn. Hang động ấy nằm ở phía bên trên mặt nước, ở chỗ cao. mọi người làm đường hầm xuyên qua để mang gốc cây và bụi bẩn ra ngoài. Nâng các cột bên trong lên và phía trên cùng dùng ván che để làm nhà tạm. Nhóm du sĩ đó sống trong hang động đó. Hang ấy vào mùa mưa có nước ứ đầy, vào mùa khô, các du sĩ đến cư trú trong động đó. Tôn giả Ānanda nói ‘để nhìn hang động này’ đề đề cập đến hạng động đó. Thật vậy, việc đi để nhìn tịnh xá, hoặc ngắm nhìn đại dương và đồi núi bởi quán xét do sau khi suy xét lại vòng luân hồi có khởi đầu và kết thúc mà con người không thể biết được, (điều ấy) thích hợp.

unnādiniyāti M.3.155 uccaṃ nadamānāya. evaṃ nadamānāya cassā uddhaṅgamanavasena ucco, disāsu patthaṭavasena mahāsaddoti uccāsaddamahāsaddo, tāya uccāsaddamahāsaddāya. tesaṃ paribbājakānaṃ pātova uṭṭhāya kattabbaṃ nāma cetiyavattaṃ vā bodhivattaṃ vā ācariyupajjhāyavattaṃ vā yonisomanasikāro vā natthi. tena te pātova uṭṭhāya bālātape nisinnā, sāyaṃ vā kathāya phāsukatthāya sannipatitā “imassa hattho sobhaṇo imassa pādo”ti evaṃ aññamaññassa hatthapādādīni vā ārabbha itthipurisadārakadārikāvaṇṇe vā aññaṃ vā kāmassādabhavassādādivatthuṃ ārabbha kathaṃ paṭṭhapetvā anupubbena rājakathādianekavidhaṃ tiracchānakathaṃ kathenti. sā hi aniyyānikattā saggamokkhamaggānaṃ tiracchānabhūtā kathāti tiracchānakathā. tattha rājānaṃ ārabbha “mahāsammato mandhātā dhammāsoko evaṃmahānubhāvo”tiādinā nayena pavattā kathā rājakathā. esa nayo corakathādīsu.

unnādiniya (bằng âm giọng cao): thét lên âm thanh dữ dội. Việc nói phù phím ấy, thét lên âm thanh như vậy, âm giọng cao với tiếng thét cao ồn ào lan truyền khắp mọi phương. Vì thế mới gọi là do âm giọng cao và lớn tiếng. Những du sĩ ấy đứng dậy từ sáng sớm nhưng không làm những phận sự cần làm là phận sự ở Bảo điện, phận sự ở cội Bồ-đề, phận sự đối với các tôn sư và thầy tế độ hoặc tác ý đúng đường lối. Bọn họ dậy từ sáng sớm, ban ngày tụ họp, buổi chiều tụ họp đàm luận để tìm kiếm sự thoải mái. Bắt đầu nói đến những chuyện tây và chân v.v, của nhau như vầy, tay của người này đẹp, chân của này xinh, hoặc nói đến làng da của người nữ người nam, bé gái và bé trai, hoặc những vấn đề khác chẳng hạng như sự thỏa mãn trong các dục và sự thỏa thích trong các cõi v.v. rồi nói những chuyện phù phím như câu chuyện về đức vua v.v, theo thứ tự. Thật vậy, việc nói đó làm cản trở con đường đến thiên giới và Nibbāna gọi là việc nói phù phím do không dẫn ra khỏi các cõi. Những lời nói ấy việc nói đến chuyện đức vua diễn ra theo cách thức được bắt đầu như sau: “đức vua Mahāsammata, đức vua Mandhāta, đức vua Dhammāsoka có quyền lực như vầy” gọi là nói chuyện về đức vua. Trong câu chuyện nói về những tên cướp cũng có cách thức này tương tự.

tesu “asuko rājā abhirūpo dassanīyo”tiādinā P.3.222 nayena gehassitakathāva tiracchānakathā hoti. “sopi nāma evaṃ mahānubhāvo khayaṃ gato”ti evaṃ pavattā pana kammaṭṭhānabhāve tiṭṭhati. coresupi “mūladevo evaṃmahānubhāvo, meghamālo evaṃmahānubhāvo”ti tesaṃ V.3.160 kammaṃ paṭicca aho sūrāti gehassitakathāva tiracchānakathā. yuddhepi bhāratayuddhādīsu “asukena asuko evaṃ mārito evaṃ viddho”ti kāmassādavaseneva kathā tiracchānakathā. “tepi nāma khayaṃ gatā”ti evaṃ pavattā pana sabbattha kathā kammaṭṭhānameva hoti. apica annādīsu “evaṃ vaṇṇavantaṃ gandhavantaṃ rasavantaṃ phassasampannaṃ khādimha bhuñjimha pivimha paribhuñjimhā”ti kāmassādavasena kathetuṃ na vaṭṭati, sātthakaṃ pana katvā — “pubbe evaṃ vaṇṇādisampannaṃ annaṃ pānaṃ vatthaṃ sayanaṃ mālaṃ gandhaṃ sīlavantānaṃ adamha, cetiye pūjaṃ akarimhā”ti kathetuṃ vaṭṭati.

Việc nói y cứ vào sự trói buộc năm dục theo cách thức được bắt đầu như sau “Đức vua kia có sắc tưỡng xinh đẹp đáng chiêm ngưỡng” như vậy cũng là nói chuyện phù phím. Hơn nữa, việc nói thời đang diễn ra như vầy: “Thậm chí đức vua ấy có đại quyền lực như vậy cũng phải băng hà” cũng được xem là thiết lập trong bản thể Nghiệp xứ. Kể cả các tên trộm thời việc nói y cứ vào sự trói buộc của dục, ồ vị ấy can đảm do dựa vào hành động của bọn cướp rằng “tướng cướp có tài có đại oai lực như vậy, tướng cướp nổi danh có đại oai lực như vậy” như thế cũng là việc nói phù phím. Kể cả câu chuyện về chiến tranh đề cập đến cuộc chiến của Mahābhārata v.v, với sự hài lòng trong sự mong muốn rằng: “Người này bị người kia giết, bị đâm như vậy” như thế cũng gọi là việc nói phù phím. Hơn nữa việc nói trong tất cả câu chuyện thời đang diễn ra như thế “thậm chí họ cũng đi đến tử vong” đây cũng được xem là nghiệp xứ. Và hơn nữa, câu chuyện về thức ăn v.v, không nên nói do tác động của sự ưa thích trong các dục: “Ta nhai, ăn, uống, thọ dụng thức ăn v.v, có màu, có hương, có vị, có sự tiếp xúc như vậy”. Còn việc nói đến câu chuyện về đồ ăn thức uống khiến cho có lợi ích như sau: “ta đã cúng dường cơm, y phục, chỗ nằm, hoa, vật thơm đầy đủ với màu sắc đến vị có giới hạnh trong quá khứ, ta đã thực hiện việc lễ bái ở Bảo điện như vậy”

ñātikathādīsupi “amhākaṃ ñātakā sūrā samatthā”ti vā “pubbe mayaṃ evaṃ vicitrehi yānehi carimhā”ti vā assādavasena vattuṃ na vaṭṭati, sātthakaṃ pana katvā “tepi no ñātakā khayaṃ gatā”ti vā “pubbe mayaṃ evarūpā upāhanā saṅghassa adamhā”ti vā kathetabbā. gāmakathāpi suniviṭṭhadunniviṭṭhasubhikkhadubbhikkhādivasena vā “asukagāmavāsino sūrā samatthā”ti vā evaṃ assādavasena na vaṭṭati, sātthakaṃ pana katvā saddhā pasannāti M.3.156 vā khayavayaṃ gatāti vā vattuṃ vaṭṭati. nigamanagarajanapadakathāsupi eseva nayo. itthikathāpi vaṇṇasaṇṭhānādīni paṭicca assādavasena na vaṭṭati, saddhā pasannā khayaṃ gatāti evameva vaṭṭati. sūrakathāpi P.3.223 nandimitto nāma yodho sūro ahosīti assādavaseneva na vaṭṭati, saddho pasanno ahosi khayaṃ gatoti evameva vaṭṭati. visikhākathāpi asukā visikhā suniviṭṭhā dunniviṭṭhā sūrā samatthāti assādavaseneva na vaṭṭati, saddhā pasannā khayaṃ gatā iccevaṃ vaṭṭati.

Kể cả câu chuyện về thân quyến v.v, cũng không nên nói do tác động của sự ưa thích rằng: “thân quyến của tôi là người dũng cảm, là người có khả năng” hoặc “trước kia tôi đã đi du ngoạn bằng cổ xe tuyệt đẹp như vậy”, mà nên nói làm cho có lợi ích rằng: “dầu cho những thân quyến của tôi cũng đã qua đời rồi…” hoặc “trước đây tôi đã cúng dường đôi đép loại này đến Chư Tăng”. Ngay cả câu chuyện về làng xóm cũng không nên nói do tác động rằng sự sống (ở đây) thoải mái, sự sống (ở đây) không thoải mái, có sự dễ dàng về vật thực, có sự khó khăn về thực v.v, hoặc nói do tác động của sự ưa thích rằng: “người sống ở làng kia là người can đảm, là người có khả năng” mà nên nói để tạo lợi ích rằng: “dầu cho người dũng cảm ấy có đức tin, có lòng tịnh tín cũng vẫn phải chết”. Thậm chí nói đến câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về phố phường, câu chuyện về quốc độ cũng có phương thức tương tự như vậy. Kể cả câu chuyện về đàn bà cũng không nên nói do tác động của sự ưa thích do y cứ vào màu da và hình dáng v.v, mà nên nói như vầy: “người phụ nữ có đức tin, có lòng tịnh tín cũng đi đến suy tàn”. Kể cả câu chuyện về vị anh cũng không nên nói do tác động của sự ưa thích rằng: vị chiến sĩ tên là Nandimitta là người dũng mãnh, mả nên nói rằng: vị chiến sĩ dũng mãnh có đức tin, có lòng tịnh tín cũng đi đến hoại vong. Thậm chí câu chuyện về đường xá cũng không nên nói do tác động của sự ưa thích rằng: đường xá được xây dựng tốt, xây dựng không tốt, có người dũng cảm, có người có năng lực, mà nên nói rằng: người dũng cảm, người có khả năng ở con đường ấy có đức tin, có lòng tịnh tín cũng phải đi đến hoại vong.

kumbhaṭṭhānakathāti kumbhaṭṭhānaudakatitthakathā vā vuccati kumbhadāsikathā vā. sāpi “pāsādikā naccituṃ gāyituṃ chekā”ti assādavasena na vaṭṭati, saddhā pasannātiādinā nayeneva vaṭṭati. pubbapetakathāti atītañātikathā. tattha vattamānañātikathāsadisova vinicchayo.

Câu chuyện tại chỗ lấy nước là nơi đặt ghè nước, ngài gọi là bến nước, hoặc đến câu chuyền về nàng Kumbhadāsī. Thậm chí câu chuyền về nàng Kumbhadāsī cũng không nên nói do tác động của sự ưa thích rằng: “Nàng Kumbhadāsī dễ thương, tài giỏi trong việc nhảy múa, ca hát”, mà nên nói theo cách sau: “Nàng Kumbhadāsī có đức tin, có lòng tịnh tín…” Câu chuyện về người đã chết là nói đến chuyện thân quyến đã mất. Câu chuyện về người đã chết cũng tương tự với câu chuyện nói đến người còn tại tiền.

nānattakathāti purimapacchimakathāvimuttā avasesā nānāsabhāvā niratthakakathā. lokakkhāyikāti V.3.161 ayaṃ loko kena nimmito, asukena nāma nimmito, kākā setā aṭṭhīnaṃ setattā, bakā rattā lohitassa rattattāti evamādikā lokāyatavitaṇḍasallāpakathā.

Câu chuyện linh tinh là nói đến câu chuyện vô ích có các trạng thái khác nhau, nằm ngoài lời nói của câu chuyện trước và câu chuyện sau. Nói về hiện trạng của thế giới, là đàm luận về thế giới khoa học và những vấn đề nằm ngoài kinh điển được bắt đầu như sau: thế giới này do ai kiến tạo, thế giới này người kia kiến tạo, con quạ màu trắng do xương trắng, còn cò nhuộm đỏ do máu đỏ.

samuddakkhāyikā nāma kasmā samuddo sāgaro, sāgaradevena khaṇitattā sāgaro, khato meti hatthamuddāya niveditattā samuddoti evamādikā niratthakā samuddakkhāyikakathā. iti bhavo, iti abhavoti yaṃ vā taṃ vā niratthakakāraṇaṃ vatvā pavattitakathā itibhavābhavakathā. ettha ca bhavoti sassataṃ, abhavoti ucchedaṃ. bhavoti vaḍḍhi, abhavoti P.3.224 hāni. bhavoti kāmasukhaṃ, abhavoti attakilamatho. iti imāya chabbidhāya itibhavābhavakathāya saddhiṃ bāttiṃsatiracchānakathā nāma hoti. evarūpiṃ tiracchānakathaṃ kathentiyā nisinno hoti.

Việc nói về hiện trạng của đại dương vô ích được bắt đầu như sau: Tại sao gọi là đại dương, vì sao gọi là biển cả, được gọi là đại dương bởi vì đưa tay lên tuyên bố rằng chính tôi đào, gọi là biển cả do thiên nhân đào, được gọi là câu chuyện về đại dương. Nói đến những lý do vô ích, không có thật, sự phát triển như vậy, sự hoại diệt như vậy gọi là câu chuyện về sự phát triển và sự hoại diệt bằng cách đó. Và ở đây, thường còn gọi là bhava, đoạn diệt gọi là abhava, sự phát triển gọi là bhava, sự hoại diệt gọi là abhava, khoái lạc của các dục gọi là bhava, tự hành hạ thân xác gọi là abhava. Gọi là việc nói phù phiếm có 32 cách cùng với 6 câu chuyện về sự phát triển và sự hoại diệt bằng cách này là như thế. Du sĩ Sandaka ngồi chung với người nói lời phù phiếm bằng hình thức như vậy.

tato sandako paribbājako te paribbājake oloketvā — “ime paribbājakā ativiya aññamaññaṃ agāravā appatissā, mayañca samaṇassa M.3.157 gotamassa pātubhāvato paṭṭhāya sūriyuggamane khajjopanakūpamā jātā, lābhasakkāropi no parihīno. sace pana imaṃ ṭhānaṃ samaṇo gotamo gotamasāvako vā gihiupaṭṭhākopi vāssa āgaccheyya, ativiya lajjanīyaṃ bhavissati. parisadoso kho pana parisajeṭṭhakasseva upari ārohatī”ti ito cito ca vilokento theraṃ addasa. tena vuttaṃ addasā kho sandako paribbājako … pe … tuṇhī ahesunti.

Từ đó du sĩ Sandaka đã quan sát nhưng du sĩ ấy nghĩ rằng – “Những du sĩ này không tôn trọng, không nghe lời lẫn nhau, hơn nữa chúng tôi kể từ khi Sa-môn Gotama xuất hiện tựa như con đom đóm trong thời gian mặt trời mọc. Thậm chí lợi đắc và sự cung kính của chúng tôi cũng suy giảm. Hơn nữa, nếu như Sa-môn Gotama hoặc đệ tử của Sa-môn Gotama, kể cả người cư sĩ tùy tùng của Sa-môn Gotama ấy có thể đi đến nơi đây thì sẽ vô cùng xấu hổ. Lỗi lầm trong chúng khởi lên ở bên trên người dẫn đầu của hội chúng, mới nhìn phía bên này phía bên kia đã thấy trưởng lão. Bởi thế ngài mới nói rằng: “Du sĩ Sandaka thấy tôn giả Ānanda từ xa đi đến … Các tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các tôn giả đừng làm ồn!”

tattha saṇṭhapesīti sikkhāpesi, vajjamassā paṭicchādesi. yathā suṭṭhapitā hoti, tathā naṃ ṭhapesi. yathā nāma parisamajjhaṃ pavisanto puriso vajjapaṭicchādanatthaṃ nivāsanaṃ saṇṭhapeti, pārupanaṃ saṇṭhapeti, rajokiṇṇaṭṭhānaṃ puñchati, evamassā vajjapaṭicchādanatthaṃ “appasaddā bhonto”ti sikkhāpento yathā suṭṭhapitā hoti, tathā naṃ ṭhapesīti attho. appasaddakāmāti appasaddaṃ icchanti, ekakā nisīdanti, ekakā tiṭṭhanti, na gaṇasaṅgaṇikāya yāpenti. appasaddavinītāti appasaddena niravena buddhena vinītā. appasaddassa P.3.225 vaṇṇavādinoti yaṃ ṭhānaṃ appasaddaṃ nissaddaṃ. tassa vaṇṇavādino. upasaṅkamitabbaṃ maññeyyāti idhāgantabbaṃ maññeyya.

Ở đó, (du sĩ Sandaka ngồi im lặng) santiṭṭhati (cho giữ yên lặng): cho quan sát, che giấu lỗi lầm của hội chúng ấy, làm cho hội chúng được thiết lập với biểu hiện được khéo thiết lập. Giống như người bước vào giữa hội chúng, ăn mặc gọn gàng để che đậy lỗi lầm, quét dọn rác rưởi với bụi bẩn ra ngoài thế nào, du sĩ Sandaka ngăn chặn hội chúng rằng này các tôn giả hãy nhỏ tiếng để che giấu lỗi lầm của hội chúng ấy, có nghĩa là cho hội chúng được thiết lập với biểu hiện gọn gàng ngăn nắp. Appasaddakāmā (là người ưa thích ít tiếng ồn): mong muốn có ít tiếng động, ngồi một mình, đứng một mình, không hoà nhập với chúng. Appasaddavinītā (được hướng dẫn cho sử dụng giống nói nhỏ nhẹ): được dạy bảo bởi đức Phật, vị có giọng nói nhỏ nhẹ, với giọng nói không ồn ào. appasaddassa vaṇṇavādino (vị thán thán sự trầm lặng): Nói lời khen ngợi chỗ ít tiếng ồn, ít tiếng động. upasaṅkamitabbaṃ maññeyya (có thể nghĩ sẽ đi đến gần): có thể nghĩ sẽ đi vào ở chỗ này.

kasmā panesa therassa upasaṅkamanaṃ paccāsīsatīti. attano vuddhiṃ patthayamāno. paribbājakā V.3.162 kira buddhesu vā buddhasāvakesu vā attano santikaṃ āgatesu — “ajja amhākaṃ santikaṃ samaṇo gotamo āgato, sāriputto āgato, na kho panete yassa vā tassa vā santikaṃ gacchanti, passatha amhākaṃ uttamabhāvan”ti attano upaṭṭhākānaṃ santike attānaṃ ukkhipanti ucce ṭhāne ṭhapenti. bhagavatopi upaṭṭhāke gaṇhituṃ vāyamanti. te kira bhagavato upaṭṭhāke disvā evaṃ vadanti — “tumhākaṃ satthā bhavaṃ gotamopi gotamassa sāvakāpi amhākaṃ santikaṃ āgacchanti, mayaṃ aññamaññaṃ samaggā. tumhe pana amhe akkhīhi passituṃ na icchatha, sāmīcikammaṃ na karotha, kiṃ vo amhehi aparaddhan”ti. appekacce manussā — “buddhāpi etesaṃ santikaṃ gacchanti, kiṃ amhākan”ti tato paṭṭhāya te disvā nappamajjanti. tuṇhī ahesunti sandakaṃ parivāretvā nissaddā nisīdiṃsu.

Tại sao du sĩ Sandaka ấy hy vọng đi đến gần trưởng lão? Bởi mong muốn sự phát triền cho bản thân. Đươc biết rằng các du sĩ khi đức Phật hoặc các đệ tử của đức Phật đến trú xứ của mình mới đưa mình lên ở trong trú xứ của nhóm người phụng sự rằng – “hôm nay Sa-môn Gotama đến trú xứ của chúng ta, trưởng lão Sāriputta cũng đến, các ngài không đi kiếm bất cứ ai. Các ngài hãy biết rằng: chúng ta cao cả thế nào?” mới đặt mình vào vị trí cao. Cố gắng nắm lấy người tùy tùng ngay cả của đức Thế Tôn. Được biết rằng các du sĩ ấy nhìn thấy nhóm tùy tùng của đức Thế Tôn có lẽ nói như vầy – “Ngay cả Ngài Gotama bậc Đạo Sư của các ngài, thậm chí đệ tử của ngài Gotama đi đến trú xứ của chúng ta, chúng ta hợp nhất lại với nhau. Còn các ngài không quan tâm chúng tôi, không thực hiện hành động thích hợp. Chúng tôi làm sai điều gì cùng các ngài chăng? Khi đó, một số người nghĩ rằng “thậm chí đức Phật đi đến chỗ ở các du sĩ này, (có ý nghĩa) gì với chúng ta” kể từ đó mọi người khi nhìn thấy các du sĩ ngoại đạo cũng không xem thường. tuṇhī ahesuṃ (các du sĩ ngoại đạo ấy ngồi im lặng): ngồi xung quanh du sĩ Sandaka.

224. svāgataṃ bhoto ānandassāti suāgamanaṃ bhoto ānandassa. bhavante hi no āgate ānando hoti, gate sokoti M.3.158 dīpeti. cirassaṃ khoti piyasamudācāravacanametaṃ. thero pana kālena kālaṃ paribbājakārāmaṃ cārikatthāya gacchatīti purimagamanaṃ gahetvā evamāha. evañca pana vatvā na mānatthaddho hutvā nisīdi, attano pana āsanā vuṭṭhāya taṃ āsanaṃ papphoṭetvā theraṃ āsanena nimantento nisīdatu bhavaṃ ānando, idamāsanaṃ paññattanti āha.

224 svāgataṃ bhoto ānandassa (hoang nghênh, Tôn giả Ānanda!): tôn giả Ānanda đã đến chân chánh. Chỉ ra rằng bởi vì khi tôn giả Ānanda đến tìm chúng tôi (chúng tôi hoan hỷ), khi ngài đi chúng tôi sầu muộn. cirassaṃ kho (đã lâu lắm rồi): đây là lời nói thể hiện sự dễ thương. Còn trưởng lão cũng thỉnh thoảng đi đến khuôn viên của các du sĩ nhằm mục đích du hành, vì thế du sĩ Sandaka muốn đề cập đến việc đã từng xảy ra trước đó nên đã nói như vậy. Khi du sĩ đã nói như vậy cũng không phải là người ương ngạnh và ngã mạn, thế nên (vị ấy) đã đứng dậy từ chỗ ngồi của mình rồi giũ sạch toạ cụ, thỉnh mời trưởng lão ngồi trên toạ cụ ấy rồi nói rằng: Ngài Ānanda hãy ngồi, chỗ ngồi đã được trải sẵn.

antarākathā P.3.226 vippakatāti nisinnānaṃ vo ārambhato paṭṭhāya yāva mamāgamanaṃ etasmiṃ antare kā nāma kathā vippakatā, mamāgamanapaccayā katamā kathā pariyantaṃ na gatāti pucchati.

antarākathā vippakatā (câu chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn): ngài Ānanda hỏi rằng câu chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn kể từ khi các ngài ngồi đàm luận cho đến khi tôi đến. Câu chuyện gì mà vẫn chưa kết thúc bởi vì tôi đến làm duyên.

atha paribbājako “niratthakakathāva esā nissārā vaṭṭasannissitā, na tumhākaṃ purato vattabbataṃ arahatī”ti dīpento tiṭṭhatesā, bhotiādimāha. nesā bhototi sace bhavaṃ sotukāmo bhavissati, pacchāpesā kathā na dullabhā bhavissati, amhākaṃ panimāya attho natthi. bhoto pana āgamanaṃ labhitvā aññadeva sukāraṇaṃ kathaṃ sotukāmamhāti dīpeti. tato dhammadesanaṃ yācanto sādhu vata bhavantaṃ ye vātiādimāha. tattha ācariyaketi ācariyasamaye. anassāsikānīti assāsavirahitāni. sasakkanti ekaṃsatthe nipāto, viññū puriso ekaṃseneva V.3.163 na vaseyyāti attho. vasanto ca nārādheyyāti na sampādeyya, na paripūreyyāti vuttaṃ hoti. ñāyaṃ dhammaṃ kusalanti kāraṇabhūtaṃ anavajjaṭṭhena kusalaṃ dhammaṃ.

Kể từ đó du sĩ khi trình bày rằng: “Câu chuyện vô ích, không có cốt lỗi nương vào luân hồi không thích hợp để nói trước mặt ngài nên mới nói lời bắt đầu như sau: “Thưa ngài, câu chuyện đó xin được gác lại.Nesā bhoto (chuyện đó thưa ngài): Du sĩ Sandaka nói rằng: nếu như ngài muốn lắng nghe thì thậm chí lần sau cũng sẽ được nghe (câu chuyện đó) không quá khó. Câu chuyện này không có lợi ích cho chúng tôi. Chúng tôi đã được ngài đến thăm, mong muốn được lắng nghe kệ ngôn có nhân quả khác tách biệt. Du sĩ Sandaka khi khẩn cầu thuyết giảng Giáo Pháp mới nói lời bắt đầu như sau: “Lành thay, nếu được Tôn giả Ananda thuyết cho pháp thoại”. Ở đó ācariyake là trong học thuyết của tôn sư. Anassāsikāni: Phạm hạnh mà loại bỏ sự hoan hỷ, tức là không có sự rõ ràng. Sasakkaṃ: đây là phân từ được sử dụng với ý nghĩa ‘một phần’, có nghĩa là bậc trí không thể sống thực hành (Phạm hạnh) một mình. ngài giải thích rằng người trí khi thực hành không thể hoan hỷ, không thể thành tựu, không thể thực hành viên mãn. ñāyaṃ dhammaṃ kusalaṃ (thiện pháp đúng theo chánh đạo): gọi là Pháp thiện bởi ý nghĩa không có lỗi lầm làm nhân.

225. idhāti imasmiṃ loke. natthi dinnantiādīni sāleyyakasutte (ma. ni. 1.440) vuttāni. cātumahābhūtikoti catumahābhūtamayo. pathavī pathavīkāyanti ajjhattikā pathavīdhātu bāhirapathavīdhātuṃ. anupetīti P.3.227 anuyāti. anupagacchatīti tasseva vevacanaṃ, anugacchatītipi attho, ubhayenāpi upeti upagacchatīti dasseti. āpādīsupi eseva nayo. indriyānīti manacchaṭṭhāni indriyāni ākāsaṃ pakkhandanti. āsandipañcamāti nipannamañcena pañcamā, mañco ceva, cattāro mañcapāde gahetvā ṭhitā cattāro purisā cāti attho. yāvāḷāhanāti yāva susānā. padānīti ayaṃ evaṃ sīlavā ahosi, evaṃ dussīlotiādinā nayena pavattāni M.3.159 guṇapadāni. sarīrameva vā ettha padānīti adhippetaṃ. kāpotakānīti kapotakavaṇṇāni, pārāvatapakkhavaṇṇānīti attho.

Idha trong đời này. natthi dinnaṃ (bố thí không có kết quả): ngài đã nói trong bài Kinh Sāleyyaka (ma. ni. 1.440). Cātumahābhūtiko: thành tựu bởi bốn Sắc đại hiển. pathavī pathavīkāyaṃ (Địa giới đi theo Địa giới): nội Địa giới đi theo ngoại Địa giới. Anupeti: đi theo. Anupagacchati (đi theo): đay là từ đồng nghĩa của anupeti, cũng có nghĩa là anugacchati. Thậm chi cả 2 từ này ngài chỉ ra rằng anupeti upagacchati: đi vào. Ngay cả Thủy giới v.v, cũng có cách thức tương tự. Indriyāni: các quyền có ý quyền là thứ 6, (các quyền này) nhập vào hư không. Āsandipañcamā (có chiếc giường là thứ 5): có chiếc giường nằm là thứ năm, có nghĩa là giường và bốn người nắm lấy 4 chân giường. Yāvāḷāhanā: chỉ là nghĩa địa. Padāni: thân thể. Các câu được diễn ra theo cách thức sau: người này có giới hạnh như vầy, người có giới tồi như vầy, từ Padāni này ngài muốn đề cập đến thân thể. Kāpotakāni: có màu sắc tựa như chim bồ câu, tức là có màu tựa như đối cánh chim bồ câu.

bhassantāti bhasmantā, ayameva vā pāḷi. āhutiyoti yaṃ paheṇakasakkārādibhedaṃ dinnadānaṃ, sabbaṃ taṃ chārikāvasānameva hoti, na tato paraṃ phaladāyakaṃ hutvā gacchatīti attho. dattupaññattanti dattūhi bālamanussehi paññattaṃ. idaṃ vuttaṃ hoti — bālehi abuddhīhi paññattamidaṃ dānaṃ, na paṇḍitehi. bālā denti, paṇḍitā gaṇhantīti dasseti. atthikavādanti atthi dinnaṃ dinnaphalanti imaṃ atthikavādaṃyeva vadanti tesaṃ tucchaṃ vacanaṃ musāvilāpo. bāle P.3.228 ca paṇḍite cāti bālā ca paṇḍitā ca.

Bhassantā: có tro bụi là tận cùng, trong câu này Pāḷī chỉ vậy. Āhutiyo: đồ vật dâng cúng, có nghĩa là vật thí đã được bố thí thuộc loại lễ vật thờ cúng, v.v., được hiến tế. cuối cùng tất cả đều trở thành tro bụi, từ đó, không mang lại kết quả gì cả. Dattupaññattaṃ (sự bố thí này mà người ngu si thừa nhận): người ngu, người thiếu trí thừa nhận. Điều này được nói rằng – “sự bố thí này thì người ngu, người thiếu trí thừa nhận, không phải bậc trí thừa nhận, kẻ ngu bố thí, bậc trí nhận lãnh.” atthikavādaṃ (lời nói có kết quả): một số người nói lời nói có kết quả như sau: lợi ích của vật thí đã được bố thí có tồn tại, lời nói của những người đó là trống rỗng, dối trá và vô ích. bāle ca paṇḍite ca: người ngu và bậc trí.

akatena me ettha katanti mayhaṃ akateneva samaṇakammena ettha etassa samaye kammaṃ kataṃ nāma hoti, avusiteneva brahmacariyena vusitaṃ nāma hoti. etthāti etasmiṃ samaṇadhamme. samasamāti ativiya samā, samena vā guṇena samā. sāmaññaṃ pattāti samānabhāvaṃ pattā.

Akatena me ettha kataṃ (nghiệp trong học thuyết này mà ta đã không làm đã được làm): Nghiệp của Sa-môn mà ta chưa từng làm được xem là nghiệp đã được làm trong học thuyết này, Phạm hạnh mà ta chưa từng sống được xem là Phạm hạnh đã sống. Etthā (trong học thuyết này): Trong Giáo Pháp của Sa-môn này. Samasamā (đồng đẳng): rất nhiều sự tương đồng, tương đồng về đức hạnh. sāmaññaṃ pattā: đã đạt đến trạng thái tương đồng.

226. karatotiādīni apaṇṇakasutte vuttāni. tathā natthi hetūtiādīni.

226 Karato v.v, (tụ mình thực hành): đã được nói trong bài Kinh Apaṇṇaka. Ở đó, không có nhân v.v, cũng thế (bài Kinh Apaṇṇaka).

228. catutthabrahmacariyavāse V.3.164 akaṭāti akatā. akaṭavidhāti akatavidhānā, evaṃ karohīti kenaci kārāpitā na hontīti attho. animmitāti iddhiyāpi na nimmitā. animmātāti animmāpitā. keci animmitabbāti padaṃ vadanti, taṃ neva pāḷiyaṃ, na aṭṭhakathāyaṃ sandissati. vañjhāti vañjhapasuvañjhatālādayo viya aphalā, kassaci ajanakāti attho. etena pathavīkāyādīnaṃ rūpādijanakabhāvaṃ paṭikkhipati. pabbatakūṭā viya ṭhitāti kūṭaṭṭhā. īsikaṭṭhāyiṭṭhitāti muñje īsikā viya ṭhitā. tatrāyamadhippāyo — yamidaṃ jāyatīti vuccati, taṃ muñjato īsikā viya vijjamānameva nikkhamatīti. “esikaṭṭhāyiṭṭhitā”tipi P.3.229 pāṭho, sunikhāto esikatthambho niccalo tiṭṭhati, evaṃ ṭhitāti attho. ubhayenapi tesaṃ vināsābhāvaṃ dīpeti. na iñjantīti esikatthambho viya ṭhitattā na calanti. na vipariṇāmentīti pakatiṃ na jahanti. na aññamaññaṃ byābādhentīti aññamaññaṃ na upahananti. nālanti na samatthā.

228 Nên biết lý giải trong đời sống Phạm hạnh thứ tư như sau, akaṭā đồng nghĩa với akatā (không ai làm): bởi không có ai làm. Akaṭavidhā (không làm theo khuôn mẫu): không có khuôn mẫu để làm, tức là không có bất cứ ai ra lệnh để làm rằng: “ông hãy làm như vậy”. Animmitā (không có ai tạo ra): không có ai hóa hiện bằng thần thông. Animmātā (không ai cho tạo ra): Không có ai cho tạo ra. Một số vị thầy nói rằng animmitabbā (không nên có ai hóa hiện cho). Câu đó không xuất hiện trong Pāḷī, mà cũng không xuất hiện trong Chú giải. Vañjhā (không sản sanh): vật nuôi không sanh sản, không cho sanh với bất cứ ai tựa như cây thốt nốt v.v, không có trái. Với câu này bác bỏ trạng thái Địa giới v.v, cho sanh khởi thành Sắc v.v. gọi là do thiết lập vững chắc tựa như đỉnh núi. Īsikaṭṭhāyiṭṭhitā1 (đặt vững chắc như cột trụ): được đặt kiên cố tựa như cột trụ trong đám sậy. Trong câu đó có lời giải thích rằng – vật nào mà ngài đã nói được sanh khởi, vật đó có tồn tại, tựa như cột trụ dời ra khỏi đám sậy. Pāḷī ‘esikaṭṭhāyiṭṭhitā’ cũng có. Có nghĩa là cột trụ được chôn kỹ lưỡng không lay động được đặt kiến cố. Bảy nhóm Pháp thực tính được đặt kiên cố như thế. Thậm chí cả 2 câu này ngài trình bày đến sự hoại diệt của của bảy nhóm Pháp thực tính ấy. Na iñjanti (không lay động): Không rung động bởi được đặt kiên cố tựa như cột trụ ấy. na vipariṇāmenti (không chuyển biến): không rời khỏi (trạng thái) bình thường. Nābhaṃ: không thể.

pathavīkāyotiādīsu M.3.160 pathavīyeva pathavīkāyo, pathavīsamūho vā. tatthāti tesu jīvasattamesu kāyesu. natthi hantā vāti hantuṃ vā ghātetuṃ vā sotuṃ vā sāvetuṃ vā jānituṃ vā jānāpetuṃ vā samattho nāma natthīti dīpeti. sattannaṃtveva kāyānanti yathā muggarāsiādīsu pahaṭaṃ satthaṃ muggarāsiādīnaṃ antarena pavisati, evaṃ sattannaṃ kāyānaṃ antarena chiddena vivarena satthaṃ pavisati. tattha “ahaṃ imaṃ jīvitā voropemī”ti kevalaṃ saññāmattameva hotīti dasseti. yonipamukhasatasahassānīti pamukhayonīnaṃ P.3.230 uttamayonīnaṃ cuddasasatasahassāni aññāni ca saṭṭhisatāni aññāni ca chasatāni. pañca ca kammuno satānīti pañca kammasatāni ca, kevalaṃ takkamattakena niratthakaṃ diṭṭhiṃ dīpeti.

Nên biết ý nghĩa trong câu được bắt đầu ‘địa thân (một khối đất)’, khối đất hay một nhóm đất đó chính là đất (địa giới). Tatthā: trong ‘khối’ có mạng quyền là thứ bảy. natthi hantā vā (người tự mình giết…không có): ngài trình bày rằng không có người có thể tự mình giết, hoặc để bảo giết, hoặc để cho khó chịu, hoặc xung đột, hoặc để tự buồn rầu, hoặc để người khác buồn rầu, để tự mình nghe, hoặc để tự mình hiểu. sattannaṃtveva kāyānaṃ: của bảy nhóm thực tính. Ngài trình bày rằng giống vũ khí sắc bén phá hủy một đống đậu xanh v.v, vào giữa đống đậu xanh như thế nào, vũ khí sắc bén đi qua khoảng trống ở giữa bảy nhóm thực tính cũng như thế đó, vũ khí sắc bén chỉ là sự tưởng tượng rằng: ‘Ta sẽ tước đoạt mạng sống người này.” yonipamukhasatasahassāni (Có một triệu bốn trăm ngàn lẻ sáu nghìn-sáu trăm chủng loại thác sanh): chủng loại dẫn dầu và chủng loại cao cả là một triệu bốn trăm nghìn lẻ sáu ngàn và sáu trăm loại nghiệp. pañca ca kammuno satāni: Có năm trăm loại nghiệp, ngài trình bày quan niệm vô ích bởi chỉ cách phỏng đoán số lượng.

pañca ca kammāni tīṇi ca kammānītiādīsupi eseva nayo. keci panāhu pañca kammānīti pañcindriyavasena bhaṇati. tīṇīti kāyakammādivasenāti. kamme ca aḍḍhakamme cāti ettha panassa kāyakammañca vacīkammañca kammanti laddhi, manokammaṃ upaḍḍhakammanti. dvaṭṭhipaṭipadāti dvāsaṭṭhi paṭipadāti vadati. dvaṭṭhantarakappāti ekasmiṃ kappe catusaṭṭhi antarakappā nāma honti, ayaṃ pana aññe dve ajānanto evamāha. chaḷābhijātiyo apaṇṇakasutte vitthāritā.

Ngày cả câu bắt đầu pañca ca kammāni tīṇi ca kammāni: năm loại nghiệp, ba loại nghiệp cũng có cách thức này tương tự. Nhưng một số vị thầy nói rằng năm loại nghiệp (pañca kammāni) do tác động của năm quyền. tīṇi (ba loại nghiệp): do tác động của thân nghiệp v.v. kamme ca aḍḍhakamme ca (toàn nghiệp và bán nghiệp): giáo lý của nghiệp ấy là thân nghiệp và khẩu nghiệp, ý nghiệp là bán nghiệp. Dvaṭṭhipaṭipadā (sáu mươi hai đạo lộ): ngài nói đến đạo lộ trong sáu mươi hai loại tà kiến. Trưởng lão Ānanda không biết được 2 kiếp khác mới nói như vậy. Sáu thắng trí được nói chi tiết trong bài Kinh Apaṇṇaka.

aṭṭha purisabhūmiyoti mandabhūmi khiḍḍābhūmi vīmaṃsakabhūmi ujugatabhūmi sekkhabhūmi samaṇabhūmi V.3.165 jinabhūmi pannabhūmīti imā aṭṭha purisabhūmiyoti vadati. tattha jātadivasato paṭṭhāya sattadivase sambādhaṭṭhānato nikkhantattā sattā mandā honti momūhā. ayaṃ mandabhūmīti vadati. ye pana duggatito āgatā honti, te abhiṇhaṃ rodanti ceva viravanti P.3.231 ca. sugatito āgatā taṃ anussaritvā anussaritvā hasanti. ayaṃ khiḍḍābhūmi nāma. mātāpitūnaṃ hatthaṃ vā pādaṃ vā mañcaṃ vā pīṭhaṃ vā gahetvā bhūmiyaṃ padanikkhipanaṃ vīmaṃsakabhūmi nāma. padasāva gantuṃ samatthakālo ujugatabhūmi nāma. sippānaṃ sikkhanakālo sekkhabhūmi nāma. gharā nikkhamma pabbajanakālo samaṇabhūmi nāma. ācariyaṃ sevitvā jānanakālo jinabhūmi nāma. bhikkhu ca pannako jino na kiñci āhāti evaṃ alābhiṃ samaṇaṃ pannabhūmīti vadati.

aṭṭha purisabhūmiyo (tám nhân địa): 8 nhân địa này là ngu độn địa (thời non nớt), hi tiếu địa (thời vui chơi), khám phá và kiểm tra địa (thời tập đi), trực hành địa (thời đứng thẳng), học địa (thời học tập), Sa-môn địa (thời Sa-môn), thắng tiến địa (thời chinh phục), chứng đắc địa. Ở đó, ngài nói rằng tất cả chúng sanh vần là đần độn, u tối, kể từ ngày sanh ra từ chỗ chật chội trong 7 ngày này gọi là ngu độn địa. Hơn nữa, chúng sanh nào đến từ khổ cảnh, những chúng sanh đó thường khóc lóc và gào thét. Chúng sanh đến từ lạc cảnh, nghĩ đến lạc cảnh đó rồi cười đây gọi là hi tiếu địa. Việc nắm tay và nắm lấy bàn chân của mẹ và cha, hoặc chân ghế rồi giẫm chân đặt trên mặt đất gọi là khám phá và kiểm tra địa. Trong lúc có thể đi được bằng chân gọi là trực hành địa. Khi học tập các môn học gọi là học địa. Khi rời khỏi gia đình để xuất gia gọi là Sa-môn địa. Khi gặp được tôn sư rồi biết được gọi là thắng tiến địa. Hơn nữa, vị Tỳ khưu biết được rồi chứng đắc không còn học tập gì nữa, bởi thế Sa-môn không cần học tập như vậy gọi là chứng đắc địa.

ekūnapaññāsa M.3.161 ājīvasateti ekūnapaññāsa ājīvavuttisatāni. paribbājakasateti paribbājakapabbajjasatāni. nāgāvāsasateti nāgamaṇḍalasatāni. vīse indriyasateti vīsa indriyasatāni. tiṃse nirayasateti tiṃsa nirayasatāni. rajodhātuyoti rajaokiraṇaṭṭhānāni. hatthapiṭṭhipādapiṭṭhādīni sandhāya vadati. satta saññīgabbhāti oṭṭhagoṇagadrabhājapasumigamahiṃse sandhāya vadati. asaññīgabbhāti sāliyavagodhumamuggakaṅguvarakakudrūsake sandhāya vadati. nigaṇṭhigabbhāti nigaṇṭhimhi jātagabbhā, ucchuveḷunaḷādayo sandhāya vadati. satta devāti bahū devā, so pana sattāti vadati. mānusāpi P.3.232 anantā, so sattāti vadati. satta pisācāti pisācā mahantā, sattāti vadati.

Ekūnapaññāsa ājīvasate: sự diễn tiến của bốn nghìn chín trăm loại sanh nghiệp. Paribbājakasate: trong việc xuất gia của bốn nghìn chín trăm du sĩ. Nāgāvāsasate: bốn nghìn chín trăm (chỗ ở của) loài rồng nāga-maṇḍala. Vīse indriyasate: hai nghìn căn quyền. tiṃse nirayasate: ba nghìn địa ngục. Rajodhātuyo (các trần giới): nơi phân tán bụi bẩn. Ngài nói liên hệ đến lòng bàn tay và mu bàn chân v.v. Satta saññīgabbhā (bảy tưởng thai): ngài nói liên hệ đến lạc đà, bò, lừa, dê, vật nuôi, hươu và trâu. Asaññīgabbhā (bảy vô tưởng thai): ngài nói liên hệ đến gạo thơm, gạo nếp, lúa mì, đậu xanh, hạt kê, hạt varaka và hạt kudrūsaka. Nigaṇṭhigabbhā: bảy tiết thai (sanh từ đốt) là bào thai sanh từ Nigaṇṭha, ngài nói đề cập đến cây mía, cây tre, và cây sậy. Satta devā (bảy loài Thiên): nhiều chư Thiên, nhưng ngài nói là bảy. Ngay cả loài người cũng có ít, ngài cũng nói là bảy. Satta pisācā (bảy loài quỷ): nhiều loài quỷ, ngài cũng nói là bảy.

sarāti mahāsarā. Kaṇṇamuṇḍa rathakāra anotatta sīhapapātakuḷira mucalinda kuṇāladahe gahetvā vadati. pavuṭāti gaṇṭhikā. papātāti mahāpapātā. papātasatānīti khuddakapapātasatāni. supināti mahāsupinā. supinasatānīti khuddakasupinasatāni. mahākappinoti mahākappānaṃ. ettha ekamhā sarā vassasate vassasate kusaggena ekaṃ udakabinduṃ nīharitvā nīharitvā sattakkhattuṃ tamhi sare nirudake kate eko mahākappoti vadati. evarūpānaṃ mahākappānaṃ caturāsītisatasahassāni khepetvā bālā ca paṇḍitā ca dukkhassantaṃ karontīti ayamassa laddhi. paṇḍitopi kira antarā sujjhituṃ na sakkoti, bālopi tato uddhaṃ na gacchati.

Sarā: hồ nước lớn, ngài nói đề cập đến hồ nước tên là Kaṇṇamuṇḍa Rathakāra Anotatta Sīhapapātakuḷira Mucalinda Kuṇāladahe. Pavuṭā (mục cây): mắc, đốt cây. Papātā: bảy hang núi lớn. Papātasatāni: bảy trăm hang núi nhỏ. Supina: bảy giấc mộng lớn. Supinasatāni: bảy trăm giấc mộng nhỏ. Mahākappino: Đại kiếp. Trong câu này ngài nói rằng mỗi mỗi một trăm năm lấy đầu ngọn cỏ tranh, nhúng vào nước, lấy ra mỗi lần bảy giọt, làm cho đến khi hết nước trong hồ đó mới gọi là một Đại kiếp. Kẻ ngu và bậc trí đã trải qua khoảng thời gian 8,400,000 của Đại kiếp bằng hình thức như vậy, khi thực hiện mới trừ tận khổ đau, đây là Giáo Lý của ta. Được biết rằng ngay cả bậc trí cũng không thể thực hành đưa đến thanh tịnh trong thời gian ấy. Kể cả người ngu cũng không thể đi đến cao hơn.

sīlenāti V.3.166 acelakasīlena vā aññena vā yena kenaci. vatenāti tādisena vatena. tapenāti tapokammena. aparipakkaṃ paripāceti nāma yo “ahaṃ paṇḍito”ti antarā visujjhati. paripakkaṃ P.3.233 phussa phussa byantiṃ karoti nāma yo “ahaṃ bālo”ti vuttaparimāṇaṃ kālaṃ atikkamitvā yāti. hevaṃ natthīti evaṃ natthi. tañhi ubhayampi na sakkā kātunti dīpeti. doṇamiteti doṇena mitaṃ viya. sukhadukkheti sukhadukkhaṃ. pariyantakateti vuttaparimāṇena kālena katapariyanto. natthi hāyanavaḍḍhaneti natthi hāyanavaḍḍhanāni. na saṃsāro paṇḍitassa hāyati, na bālassa vaḍḍhatīti attho. ukkaṃsāvakaṃseti ukkaṃsāvakaṃsā, hāpanavaḍḍhanānamevetaṃ vevacanaṃ. idāni tamatthaṃ upamāya sādhento M.3.162 seyyathāpi nāmātiādimāha. tattha suttaguḷeti veṭhetvā katasuttaguḷaṃ. nibbeṭhiyamānameva paletīti pabbate vā rukkhagge vā ṭhatvā khittaṃ suttapamāṇena nibbeṭhiyamānaṃ gacchati, sutte khīṇe tattha tiṭṭhati na gacchati. evamevaṃ vuttakālato uddhaṃ na gacchatīti dasseti. idāni tamatthaṃ upamāya sādhento M.3.162 seyyathāpi nāmātiādimāha. tattha suttaguḷeti veṭhetvā katasuttaguḷaṃ. nibbeṭhiyamānameva paletīti pabbate vā rukkhagge vā ṭhatvā khittaṃ suttapamāṇena nibbeṭhiyamānaṃ gacchati, sutte khīṇe tattha tiṭṭhati na gacchati. evamevaṃ vuttakālato uddhaṃ na gacchatīti dasseti.

Sīlenā (với giới): Là giới của tu sĩ lõa thể, hoặc bất cứ một điều giới nào khác. Vatenā: với giới cấm như vậy. Tapenā (với khổ hạnh này): với việc thực hành sự tinh tấn thiêu đốt tội lỗi, tức là người nào nghĩ rằng: “ta là bậc trí” được trở nên thanh tịnh trước thời gian ấy, người ấy gọi là đã làm chín muồi nghiệp vẫn chưa đủ điều kiện trổ quả để cho đủ điều kiện trổ quả. Ngươi nào nghĩ rằng “tôi là kẻ ngu” rồi buông bỏ thì giờ trôi qua theo thời gian như đã nói, người ấy gọi là xúc chạm đúng nghiệp đã đủ điều kiện trổ quả, đã làm chấm dứt. Hevaṃ natthi (không có…với biểu hiện như vậy): Không có với biểu hiện như vậy, ngài chỉ ra rằng: thậm chí cả 2 trường hợp đó không thể nào thực hiện được. Doṇamite (giống như đo lường mọi vật bằng vật dụng do lường): giống như đo lường mọi vật bằng những vật đo lường. Sukhadukkhe: an lạc và khổ đau. Pariyantakate (trong hạn định): làm cho đến cùng tận theo đúng thời gian được xác định như đã nói. Natthi hāyanavaḍḍhane: Không có sự hoại diệt và sự tăng trưởng. Có nghĩa là luân hồi của bậc trí không giảm, và của kẻ ngu cũng không tăng. Ukkaṃsāvakaṃse: Không ca hơn và cũng không thấp hơn. Từ đó là từ đồng nghĩa của sự hoại diệt và sự tăng trưởng. Bây giờ để hoàn tất ý nghĩa đó bằng ví dụ so sánh bậc Đạo Sư (chủ học thuyết) đã nói rằng: “Ví như cuộn chỉ được tung ra sẽ được tung ra v.v,” Ở đó, suttaguḷe (cuộn chỉ): cuộn chỉ được cuộn lại. nibbeṭhiyamānameva paleti (tự gỡ tung ra hết): cuộn chỉ mà vị ấy đứng trên núi hoặc trên ngọn cây rồi ném ra thì (cuộn chỉ ấy) tự gỡ tung ra cho đến điểm cuối cùng, khi hết chỉ sẽ đừng lại ngay tại chô đó sẽ không trôi đi. Ngài chỉ ra rằng bậc trí và kẻ ngu ấy (sẽ thanh tịnh) không thể đi xa hơn thời gian đã được nói tương tự y như vậy.

229. kimidanti kimidaṃ tava aññāṇaṃ, kiṃ sabbaññu nāma tvanti evaṃ puṭṭho samāno niyativāde pakkhipanto suññaṃ me agārantiādimāha.

Kimidaṃ (đây là gì): một số Đạo Sư ở trên đời này khi bị hỏi như vầy: “câu này ông không biết hay sao? ông là bậc Toàn giác chăng? Cũng thường hay thoái thác trong thuyết định mệnh (niyativāda) mà nói rằng: “Tôi đã đi vào ngôi nhà trống không v.v.”

230. anussaviko hotīti anussavanissito hoti. anussavasaccoti savanaṃ saccato gahetvā ṭhito. piṭakasampadāyāti vaggapaṇṇāsakāya piṭakaganthasampattiyā.

230 anussaviko hoti (người tin tưởng nghe theo truyền thống): là những người y cứ nghe theo truyền thống. Anussavasacco (người tin tưởng là thật do nghe theo truyền thống): đã chấp chặt, đã nắm lấy theo điều đã được nghe là sự thật. Piṭakasampadāyā (với dẫn chứng từ sách vở): bằng sự hội đủ bởi các kệ ngôn là Tam Tạng được sắp xếp thành vagga (cho Kinh Trường Bộ), paṇṇāsaka (cho Kinh Trung Bộ).

232. mandoti mandapañño. momūhoti atimūḷho. vācāvikkhepaṃ āpajjatīti vācāya vikkhepaṃ āpajjati. kīdisaṃ? amarāvikkhepaṃ, apariyantavikkhepanti attho. atha P.3.234 vā amarā nāma macchajāti. sā ummujjananimmujjanādivasena udake sandhāvamānā gahetuṃ na sakkāti evameva ayampi vādo ito cito ca sandhāvati, gāhaṃ na upagacchatīti amarāvikkhepoti vuccati. taṃ amarāvikkhepaṃ.

232 Mando (người đần độn): có trí tuệ kém cỏi. Momūho (người ngu si): quá u mê. vācāvikkhepaṃ āpajjati (mắc phải vấn đề thì biên luận quanh co): khi mắc phải vấn đề thì tán loạn với lời nói. (điều đó) trông như thế nào? có nghĩa là lời nói ấy vòng vo giống như con lươn, quanh đi quẩn lại không có kết thúc. Và hơn nữa macchajāti được gọi là con lươn, (bởi vì) khi bơi lội trong nước với khả năng bơi lên và lặng xuống mà bất cứ ai cũng không thể bắt được như thế nào, thì ngay cả lời nói này cũng tương tự y như vậy, vòng vo chỗ này chỗ nọ, (không thể) ra khỏi nút thắt ấy để kết thúc (trọng tâm). Vì thề lới nói đó ngài gọi là ngụy biện quanh co giống như con lươn, lời nói đó mới gọi là amarāvikkhepa (lời ngụy biện trườn uốn như con lươn).

evantipi me notiādīsu idaṃ kusalanti puṭṭho “evantipi me no”ti vadati, tato kiṃ akusalanti vutte “tathātipi me no”ti vadati, kiṃ ubhayato aññathāti vutte “aññathātipi me no”ti vadati, tato tividhenāpi na hotīti te laddhīti vutte “notipi me V.3.167 no”ti vadati, tato kiṃ no noti te laddhīti vutte “no notipi me no”ti vikkhepamāpajjati, ekasmimpi pakkhe na tiṭṭhati. nibbijja pakkamatīti attanopi esa satthā avassayo bhavituṃ na sakkoti, mayhaṃ kiṃ sakkhissatīti nibbinditvā pakkamati. purimesupi anassāsikesu eseva nayo.

evantipi me noti (quan điểm của tôi rằng như vậy cũng không phải): có cách thức như sau: Đạo Sư ấy khi bị hỏi rằng: ‘điều này là thiện phải chăng?’ vị ấy nói rằng: “quan điểm của tôi ngay cả như vậy cũng không phải”, từ đó khi được rằng: ‘điều gì là bất thiện?’ vị ấy cũng nói rằng: “quan điểm của tôi ngay cả như thế cũng không phải”, khi được hỏi rằng có gì khác ngoài cả hai thiện và bất thiện chăng? (vị ấy) cũng nói rằng: “quan điểm của tôi, ngay cả cái khác cũng không phải”, từ đó khi bị hỏi rằng: ‘quan điểm của ông, cả 3 phần cũng không phải sao?’ (vị ấy) cũng nói rằng: “quan điểm của tôi không nói là không phải như thế”, từ đó khi bị hỏi rằng: ‘quan điểm của ông không nói là không phải như thế phải chăng?’ (vị ấy) khởi lên sự tán loạn rằng: “quan điểm của tôi không nói là không không phải như thế” không được đặt ở trong bất kỳ phần nào cả. nibbijja pakkamatī (bị làm ngã lòng rồi bỏ đi): Khởi lên sự nhàm chán rằng: bậc Đạo Sư không thể làm chỗ nương tựa ngay cả cho chính bản thân, sẽ có thể làm chỗ nương nhờ cho ta như thế nào, bởi thế đã buồn chán rồi bỏ đi. Trong Phạm hạnh không đáng hài lòng trong câu kế tiếp cũng có cách thức tương tự.

234. sannidhikārakaṃ kāme paribhuñjitunti yathā pubbe gihibhūto sannidhiṃ katvā vatthukāme paribhuñjati, evaṃ tilataṇḍulasappinavanītādīni sannidhiṃ katvā idāni paribhuñjituṃ abhabboti attho. nanu ca khīṇāsavassa vasanaṭṭhāne M.3.163 tilataṇḍulādayo paññāyantīti. no na paññāyanti, na panesa te attano atthāya ṭhapeti, aphāsukapabbajitādīnaṃ atthāya ṭhapeti. anāgāmissa P.3.235 kathanti. tassāpi pañca kāmaguṇā sabbasova pahīnā, dhammena pana laddhaṃ vicāretvā paribhuñjati.

234 sannidhikārakaṃ kāme paribhuñjituṃ (không nên tàng trữ thọ dụng các dục): trước kia khi còn là người tại gia đã thực hiện tàng trữ thọ dụng các vật dục, bây giờ, không nên thực hiện tàng trữ dầu mè, gạo, bơ lỏng và bơ đặc v.v, như vậy rồi thọ dụng. Phải chăng dầu mè và gạo v.v, xuất hiện trong vị trí của bậc đã cạn kiệt các lậu? bởi thế mới không xuất hiện cùng chúng tôi. Từ đó mới không được đặt để vì lợi ích cho bản thân của ông, đặt để vì lợi ích cho người xuất gia không khỏe v.v. Đối với bậc Thánh A-na-hàm như thế nào? Bậc Thánh A-na-hàm đã dứt trử tất cả sư trói buộc năm dục, nhưng vị ấy thường suy xét lại (những Pháp) mà ngài đã chứng đắc theo Pháp rồi mới thọ dụng.

236. puttamatāya puttāti so kira imaṃ dhammaṃ sutvā ājīvakā matā nāmāti saññī hutvā evamāha. ayañhettha attho — ājīvakā matā nāma, tesaṃ mātā puttamatā hoti, iti ājīvakā puttamatāya puttā nāma honti. samaṇe gotameti samaṇe gotame brahmacariyavāso atthi, aññattha natthīti dīpeti. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

Puttamatāya puttā (những đứa con của người mẹ không con): Được biết rằng du sĩ Sandaka sau khi nghe thuyết Pháp nghĩ rằng tà mạn ngoại đạo đã chết mới nói như vậy. Ở đây điều này có ý nghĩa như sau – “các tà mạn ngoại đạo gọi là đã chết, mẹ của các tà mạn ngoại đạo ấy được gọi là người mẹ có con đã chết, là như thế, các tà mạn ngoại đạo mới trở thành người được gọi là những đứa con của người mẹ không con (người có con đã chết). Samaṇe gotame (trong Sa-môn Gotama): tà mạn ngoại đạo chỉ ra rằng việc sống thực hành Phạm hành có trong Sa-môn Gotama, ở chỗ khác không có. Các từ còn lại trong tất cả các câu đều đơn giản.

Giải Thích Kinh Sandaka Kết Thúc

1 esikaṭṭhāyiṭṭhitā