Kinh số 69 – Giải Thích Kinh Goliyāni

(Goliyānisuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Goliyāni

173. evaṃ V.3.131 P.3.183 me sutanti goliyānisuttaṃ. tattha padasamācāroti dubbalasamācāro oḷārikācāro, paccayesu sāpekkho mahārakkhitatthero M.3.128 viya. taṃ kira upaṭṭhākakule nisinnaṃ upaṭṭhāko āha “asukattherassa me, bhante, cīvaraṃ dinnan”ti. sādhu te kataṃ taṃyeva takketvā viharantassa cīvaraṃ dentenāti. tumhākampi, bhante, dassāmīti. sādhu karissasi taṃyeva takkentassāti āha. ayampi evarūpo oḷārikācāro ahosi. sappatissenāti sajeṭṭhakena, na attānaṃ jeṭṭhakaṃ katvā viharitabbaṃ. serivihārenāti sacchandavihārena niraṅkusavihārena.

173 Kinh Goliyāni1 được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, padasamācāro (hành động thô tháo): Có hành vi xấu xa, có các cử chỉ thô thiển, nhìn chăm chú các món vật dụng giống như trưởng lão Mahārakkhita. Kể rằng người tùy tùng đã nói cùng trưởng lão đó, vị đã ngồi trong gia đình người tùy tùng rằng: “Kính thưa ngài, tôi xin cúng dường y phục đến vị trưởng lão đó.” – Vị trưởng lão đã nói rằng: lành thay, con đã cúng dường y phục đến trưởng lão, vị đã suy nghĩ về về y phục ấy. – Kinh bạch ngài tôi sẽ cũng dường y phục đến ngài. – Lành thay con đã cúng dường y phục đến trưởng lão vị suy nghĩ về y phục ấy. – Vị Tỳ khưu có hình thức như vậy gọi là vị có hành động thô tháo. sappatissena (với sự cung kính): có tính chất người đứng đầu, không tha thiết đặt bản thân trở thành người đứng đầu. Serivihārenā (với sự sống không lệ thuộc): Với việc sống theo ý thích của bản thân, với việc sống không có ai khuyên răn.

nānūpakhajjāti na anupakhajja na anupavisitvā. tattha yo dvīsu mahātheresu ubhato nisinnesu te anāpucchitvāva cīvarena vā jāṇunā vā ghaṭṭento nisīdati, ayaṃ anupakhajja nisīdati nāma. evaṃ akatvā pana attano pattāasanasantike ṭhatvā nisīdāvusoti vutte nisīditabbaṃ. sace na vadanti, nisīdāmi, bhanteti āpucchitvā nisīditabbaṃ āpucchitakālato paṭṭhāya nisīdāti vuttepi avuttepi nisīdituṃ vaṭṭatiyeva. na paṭibāhissāmīti ettha yo attano pattāsanaṃ atikkamitvā navakānaṃ pāpuṇanaṭṭhāne nisīdati, ayaṃ nave bhikkhū P.3.184 āsanena paṭibāhati nāma. tasmiñhi tathā nisinne navā bhikkhū “amhākaṃ nisīdituṃ na detī”ti ujjhāyantā tiṭṭhanti vā āsanaṃ vā pariyesantā āhiṇḍanti. tasmā attano pattāsaneyeva nisīditabbaṃ. evaṃ na paṭibāhati nāma.

Nānūpakhajja (không vào chen lấn): tách từ thành ‘na anupakhajja’ đồng nghĩa với anupavisitvā (không đi đến gần). Vị nào khi 2 vị đại trưởng lão đã ngồi xuống ở hai bên không hỏi xin phép những trưởng lão ấy (mà) ngồi cản trở bằng y phục, hay bằng đầu gối, vị ấy gọi là ngồi chen lấn vào. Lại nữa, không thực hành như thế khi ngồi gần tọa cụ đến chỗ mình, trưởng lão đã cho phép này hiền giả hãy ngồi khi ấy mới nên ngồi. Kể từ thời điểm trưởng lão hỏi đến khi trưởng lão cho phép ngồi, hoặc thậm chí khi ngài không nói cũng có thể ngồi được. na paṭibāhissāmi (ta sẽ không ngăn giữ): đây có lời giải thích rằng vị Tỳ khưu nào bỏ tọa cụ đến mình rồi chiếm chỗ của vị tân niên Tỳ khưu, vị ấy gọi là ngăn giữ tọa cụ của vị tân niên Tỳ khưu. Khi vị Tỳ khưu ấy ngồi như thế , vị tân niên Tỳ khưu đứng cằn nhằn “vị Tỳ khưu này không cho cho ta ngồi” hay đi tìm tọa cự, vì thế có thể ngồi ở trên tọa cụ đến cho mình. Như vậy gọi là không ngăn giữ tọa cụ.

ābhisamācārikampi dhammanti abhisamācārikaṃ vattapaṭipattimattampi. nātikālenāti na atipāto pavisitabbaṃ, na atidivā paṭikkamitabbaṃ, bhikkhusaṅghena saddhiṃyeva pavisitabbañca nikkhamitabbañca. atipāto pavisitvā atidivā nikkhamantassa hi cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇavattādīni parihāyanti. kālasseva mukhaṃ dhovitvā makkaṭakasuttāni chindantena ussāvabindū nipātentena gāmaṃ pavisitvā yāguṃ pariyesitvā yāva bhikkhākālā antogāmeyeva nānappakāraṃ tiracchānakathaṃ kathentena nisīditvā bhattakiccaṃ katvā divā nikkhamma V.3.132 bhikkhūnaṃ pādadhovanavelāya vihāraṃ paccāgantabbaṃ hoti. na purebhattaṃ pacchābhattaṃ kulesu cārittaṃ āpajjitabbanti “yo pana bhikkhu nimantito sabhatto samāno santaṃ bhikkhuṃ anāpucchā purebhattaṃ vā pacchābhattaṃ vā kulesu cārittaṃ āpajjeyya, aññatra samayā pācittiyan”ti (pāci. 299) imaṃ sikkhāpadaṃ rakkhantena tassa M.3.129 vibhaṅge vuttaṃ purebhattañca pacchābhattañca cārittaṃ na āpajjitabbaṃ. uddhato hoti capaloti uddhaccapakatiko ceva hoti cīvaramaṇḍana-pattamaṇḍana-senāsanamaṇḍanā imassa vā pūtikāyassa kelāyanā maṇḍanāti evaṃ vuttena ca taruṇadārakāvacāpalyena samannāgato.

Ābhisamācārikampi dhammaṃ (Pháp dầu chỉ tăng thượng hành): các Pháp dầu chỉ việc thực hành nhiệm vụ bằng tăng thượng hành. Nātikālenā (không vào quá sớm): không nên đi vào làng quá sớm, không nên trở về quá trễ. Nên vào và ra cùng với chư Tỳ khưu, bởi vì khi đi quá sớm, trở về quá trễ việc thực hành nhiệm vụ ở sân bảo điện và khu vực cội Bồ đề sẽ bị sa sút. Nên rửa mặt vào lúc sáng sớm, quét mạng nhện, trong khi sương mù vẫn còn rơi đi vào làng tìm kiếm cháo, ngồi xuống nói những câu chuyện nhảm nhí bằng nhiều phương diện khác nhau ở chính bên trong ngôi làng, cho đến lúc đi khất thực rồi thọ dụng vật thực, rời khỏi làng lúc trưa, trở về đến chùa trong lúc chư Tỳ khưu đã rửa chân xong. na purebhattaṃ pacchābhattaṃ kulesu cārittaṃ āpajjitabbaṃ (vị Tỳ khưu thực hành hạnh ở rừng…không nên đi đến các gia đình trước buổi ăn hay sau buổi ăn): Trong khi thọ trì điều học này “Vị Tỳ khưu nào khi đã được thỉnh mời, khi đã có bữa trai phạn còn đi thăm viếng các gia đình trước bữa ăn hoặc sau bữa ăn thì phạm tội ưng đối trị, ngoại trừ có duyên cớ.” (pāci. 299). Vị Tỳ khưu không nên thăm viếng (các gia đình) trước bữa ăn và sau bữa ăn mà ngài đã thuyết giảng trong bộ Phân Tích của điều học ấy. Uddhato hoti capalo (là người phấn khích trong thân và phấn khích trong lời nói): là người có tâm thường xao lãng và có sự gắn liền với sự khích động tựa như một đứa trẻ tượng tự ngài đã nói như vầy: sự trang trí y phục, trang trí bình bát, trang trí chỗ cư ngụ hoặc trang điểm sắc thân hôi thối này.

paññavatā P.3.185 bhavitabbanti cīvarakammādīsu itikattabbesu upāyapaññāya samannāgatena bhavitabbaṃ. abhidhamme abhivinayeti abhidhammapiṭake ceva vinayapiṭake ca pāḷivasena ceva aṭṭhakathāvasena ca yogo karaṇīyo. sabbantimena hi paricchedena abhidhamme dukatikamātikāhi saddhiṃ dhammahadayavibhaṅgaṃ vinā na vaṭṭati. vinaye pana kammākammavinicchayena saddhiṃ suvinicchitāni dve pātimokkhāni vinā na vaṭṭati.

paññavatā bhavitabbaṃ (cần phải có trí tuệ): Trong khi cần làm y v.v, nên có sự hội đủ nhờ vào trí tuệ biết đường lối đúng đắn. Abhidhamme abhivinaye [Trong Abhidhamma, Trong Abhivinaya (Thắng Luật)]: Nên thực hành sự tinh tấn trong Abhidhamma và Abhivinaya, nên thực hành sự nỗ lực trong Tạng Abhidhamma và trong Tạng Vinaya bằng Pāḷī cùng với cả Chú giải. Không nên hiểu lệch lạc việc phân tích trọng tâm Pháp với Mẫu đề nhị và Mẫu đề tam v.v, trong Abhidhamma thông qua chương cuối cùng. Không nên hiểu lệch lạc cả hai giới bổn Pāṭimokkha mà ngài đã khéo quyết định cùng với việc quyết định trong điều nên thực hành và không nên thực hành trong Luật.

āruppāti ettāvatā aṭṭhapi samāpattiyo vuttā honti. tā pana sabbena sabbaṃ asakkontena sattasupi yogo karaṇīyo, chasupi … pe … pañcasupi. sabbantimena paricchedena ekaṃ kasiṇe parikammakammaṭṭhānaṃ paguṇaṃ katvā ādāya vicaritabbaṃ, ettakaṃ vinā na vaṭṭati. uttarimanussadhammeti iminā sabbepi lokuttaradhamme dasseti. tasmā arahantena hutvā vihātabbaṃ, arahattaṃ anabhisambhuṇantena anāgāmiphale sakadāgāmiphale sotāpattiphale vā patiṭṭhātabbaṃ. sabbantimena pariyāyena ekaṃ vipassanāmukhaṃ yāva arahattā paguṇaṃ katvā ādāya vicaritabbaṃ. sesaṃ sabbattha uttānameva. imaṃ pana desanaṃ āyasmā sāriputto neyyapuggalassa vasena ābhisamācārikavattato paṭṭhāya anupubbena arahattaṃ pāpetvā niṭṭhāpesīti.

Āruppā (sự thê nhập Vô sắc): chỉ chừng ấy lời mà ngài đã nói đến cả 8 loại thiền chứng. Hơn nữa, khi không thể thực hành toàn bộ những thiền chúng đó cũng nên thực hành 7 thiền chứng, hay 6 thiền chứng, hay 5 thiền chứng với việc quyết định câu cuối cùng bằng việc nắm lấy nghiệp xứ là công việc chuẩn bị trong biến xứ, thực hành cho thuần thục. Chỉ chừng ấy không nên hiểu sai. Uttarimanussadhamme (trong Pháp của bậc thượng nhân) này trưởng lão Sārīputta thuyết giảng toàn bộ trong Pháp Siêu thế. Vì thế, điều cần phải từ bỏ bởi bậc Thánh A-ra-hán. Người vẫn chưa chứng đắc A-ra-hán cần phải được an trú vào A-na-hàm Quả, Tư-đà-hàm Quả hoặc Tu-đà-hoàn Quả. Với Pháp môn cuối cùng cần phải thực hành nắm lấy sự an vui của Minh sát duy nhất cho đến quả vị A-ra-hán thực hành cho được thuần thực. Từ còn lại trong các câu đơn giản. Tôn giả Sārīputta đã trợ giúp Tỳ khưu Gulissāni chứng đắc quả vị A-ra-hán theo tuần tự, kể tử bổn phận tăng thượng hành với khả năng của hạng người cần được hướng dẫn, kết thúc Pháp thoại này.

Giải Thích Kinh Goliyāni Kết Thúc

1 gulissāni (sī. pī.)