Kinh số 60 – Giải Thích Kinh Không Gì Chuyển Hướng

(Apaṇṇakasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Không Gì Chuyển Hướng

88. evaṃ V.3.82 P.3.114 me sutanti bahuvedanīyasuttaṃ. tattha pañcakaṅgo thapatīti pañcakaṅgoti tassa nāmaṃ. vāsipharasunikhādanadaṇḍamuggarakāḷasuttanāḷisaṅkhātehi vā aṅgehi samannāgatattā so pañcaṅgoti paññāto. thapatīti vaḍḍhakījeṭṭhako. udāyīti paṇḍitaudāyitthero.

88 Kinh Nhiều Cảm Thọ được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, Pañcakaṅgo thapati (người thợ mộc tên là Pañcakaṅga1): là tên của người thợ mộc ấy. Hầu hết mọi người đều biết rằng Pañcakaṅga cũng bởi vì người hội đủ với 5 loại dụng cụ là dao, rìu, đục, búa và dây thước. Thapati (người thợ mộc): là trưởng nhóm thợ mộc. Udāyī: Trưởng lão Udāyī là một bậc trí.

89. pariyāyanti kāraṇaṃ. dvepānandāti dvepi, ānanda. pariyāyenāti kāraṇena. ettha ca kāyikacetasikavasena dve veditabbā. sukhādivasena tisso, indriyavasena sukhindriyādikā pañca, dvāravasena cakkhusamphassajādikā cha, upavicāravasena “cakkhunā rūpaṃ disvā somanassaṭṭhāniyaṃ rūpaṃ upavicaratī”tiādikā aṭṭhārasa, cha gehassitāni somanassāni, cha nekkhammasitāni somanassāni, cha gehassitāni domanassāni, cha nekkhammasitāni domanassāni, cha gehassitā upekkhā, cha nekkhammasitāti evaṃ chattiṃsa, tā atīte chattiṃsa, anāgate chattiṃsa, paccuppanne chattiṃsāti evaṃ aṭṭhavedanāsataṃ veditabbaṃ.

89 Pariyāyaṃ: nguyên nhân. dvepānanda tách hợp âm thành dvepi ānanda (này Ānanda có hai…). Pariyāyena là do nguyên nhân. Trong số đó nên biết rằng thọ có 2 là thọ ở lộ thân và thọ ở lộ ý. Có 3 thọ là hỷ thọ v.v, nói theo quyền có 5 là hỷ quyền v.v, nói theo môn có 6 là thọ sanh lên từ nhãn xúc v.v, nói theo việc quán xét (upavicāra) có 18 như sau: “sau khi nhìn thấy sắc bằng mắt cần phải quán xét sắc là chỗ thiết lập của hỷ thọ”, có 36 thọ là 6 hỷ liên hệ tại gia, 6 hỷ liên hệ xuất ly, 6 ưu liên hệ tại gia, 6 ưu liên hệ xuất ly, 6 xả liên hệ tại gia, 6 xả liên hệ xuất ly. Nên biết thọ ấy có 108 loại là 36 thọ ở quá khứ, 36 thọ vị lai, 36 thọ ở hiện tại tổng cộng là 108 thọ.

90. pañca kho ime, ānanda, kāmaguṇāti ayaṃ pāṭiekko anusandhi. na kevalampi dve ādiṃ katvā vedanā bhagavatā paññattā, pariyāyena ekāpi vedanā kathitā. taṃ dassento pañcakaṅgassa P.3.115 thapatino vādaṃ upatthambhetuṃ imaṃ desanaṃ ārabhi.

pañca kho ime, ānanda, kāmaguṇā (này Ānanda 5 sự trói buộc của các dục này như thế nào?): này là sự liên kết riêng biệt. Đức Thế Tôn không những chế định thọ bắt đầu chỉ có 2 mà ngài còn thuyết thọ chỉ có 1 theo pháp môn (pariyāya), khi thuyết giảng thọ đó, mới bắt đầu thuyết Pháp thoại này, để hỗ trợ lời nói của người thợ mộc tên là Pañcakaṅga.

abhikkantataranti sundarataraṃ. paṇītataranti atappakataraṃ. ettha ca catutthajjhānato paṭṭhāya adukkhamasukhā vedanā, sāpi santaṭṭhena paṇītaṭṭhena ca sukhanti vuttā. cha gehassitāni sukhanti vuttāni. nirodho avedayitasukhavasena M.3.81 sukhaṃ nāma jāto. pañcakāmaguṇavasena hi aṭṭhasamāpattivasena ca uppannaṃ vedayitasukhaṃ nāma. nirodho avedayitasukhaṃ nāma. iti vedayitasukhaṃ vā hotu avedayitasukhaṃ vā, taṃ niddukkhabhāvasaṅkhātena sukhaṭṭhena ekantasukhameva jātaṃ.

Abhikkantataraṃ dịch là tốt hơn. Paṇītataraṃ dịch là phù hợp hơn. Trong các thọ ấy gọi là bất khổ bất lạc thọ đã được thiết lập ở Tứ thiền, gọi là lạc bởi ý nghĩa an tịnh và với ý nghĩa vi tế. 6 hỷ liên hệ tại gia gọi là lạc. Sự diệt tận gọi là lạc bởi là sự vui mừng mà không có người cảm thọ. Thật vậy lạc khởi sanh bởi mãnh lực sự trói buộc của năm dục và với mãnh lực của tám thiền chứng gọi là lạc có người cảm thọ. Sự diệt tận gọi là lạc không có người cảm thọ. Như thế, dù lạc có người cảm thọ hay lạc không có người cảm thọ đi chăng nữa cũng được xếp vào một lạc mà thôi, bởi ý nghĩa là lạc (sự vui mừng, sự hân hoan) được gọi là sự tu tập thoát khổ.

91. yattha V.3.83 yatthāti yasmiṃ yasmiṃ ṭhāne. sukhaṃ upalabbhatīti vedayitasukhaṃ vā avedayitasukhaṃ vā upalabbhati. taṃ taṃ tathāgato sukhasmiṃ paññapetīti taṃ sabbaṃ tathāgato niddukkhabhāvaṃ sukhasmiṃyeva paññapetīti. idha bhagavā nirodhasamāpattiṃ sīsaṃ katvā neyyapuggalavasena arahattanikūṭeneva desanaṃ niṭṭhāpesīti.

Yattha yattha dịch là ở chỗ nào, chỗ nào. sukhaṃ upalabbhati (có tồn tại lạc thọ): sanh khởi lạc có người cảm thọ, lạc không có người cảm thọ. Taṃ taṃ tathāgato sukhasmiṃ paññapeti (Như Lai chế định lạc ấy đặt trong lạc thọ) là Như Lai chế định thực tính không có khổ, tất cả đều được đặt trong một lạc thọ duy nhất. Trong bài Kinh này, đức Thế Tôn tạo ra sự thể nhập thiền diệt làm trưởng rồi kết thúc Pháp thoại với đỉnh cao A-ra-hán với mãnh lực của hạng người cần được hướng dẫn (neyyapuggala).

Giải Thích Kinh Nhiều Cảm Thọ Kết Thúc.

1 Là người thọ mộc của vua Pasenadikosalla sẽ xuất hiện trong 2 bài Kinh nữa là bài Kinh Samaṇamuṇaḍaka