Kinh số 56 – Giải Thích Kinh Upāli

(Upālisuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Upāli

56. evaṃ V.3.38 P.3.52 me sutanti upālisuttaṃ. tattha nāḷandāyanti nālandāti evaṃnāmake nagare taṃ nagaraṃ gocaragāmaṃ katvā. pāvārikambavaneti dussapāvārikaseṭṭhino ambavane. taṃ kira tassa uyyānaṃ ahosi, so bhagavato dhammadesanaṃ sutvā bhagavati pasanno tasmiṃ uyyāne kuṭileṇamaṇḍapādipaṭimaṇḍitaṃ bhagavato vihāraṃ katvā niyyādesi, so vihāro jīvakambavanaṃ viya pāvārikambavananteva saṅkhaṃ gato. tasmiṃ pāvārikambavane viharatīti attho. dīghatapassīti dīghattā evaṃladdhanāmo. piṇḍapātapaṭikkantoti piṇḍapātato paṭikkanto. sāsane viya kiṃ pana bāhirāyatane piṇḍapātoti vohāro atthīti, natthi.

56. Kinh Upāli được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, nāḷandāyaṃ (gần thành Nāḷanda): ở thành phố có tên như vậy Nālanda bởi vì đã làm cho thành phố đó trở thành làng mạc, thị trấn. Pāvārikambavane (tại khu rừng Pāvārikamba) bao gồm vườn xoài của trưởng giả Dussapāvārika. Kể rằng vườn xoài đó là khu vườn của trưởng giả Pāvārikamba, sau khi lắng nghe Pháp thoại của đức Thế Tôn đã khởi lên lòng tịnh tín, xây dựng tịnh xá được trang hoàng với những cốc am, thạch động và mái che v.v, trong khu vườn đó rồi dâng cúng đến đức Thế Tôn. Tịnh xá đó mới được gọi là Pāvārikambavana, cũng giống như tịnh xá Jīvakambavana. Có nghĩa là Đức Thế Tôn an trú ở Pāvārikambavana đó. Tu sĩ ngoại đạo có tên như vầy Dīghatapassī bởi là người thực hành khổ hạnh trong thời gian dài. Piṇḍapātapaṭikkanto (trên con đường khất thực trở về): trong khi trở về sau khi khất thực. Quả thật sự diễn tả việc đi khất thực không có trong học thuyết bên ngoài giống như trong Phật giáo.

paññapetīti dasseti ṭhapeti. daṇḍāni paññapetīti idaṃ nigaṇṭhasamayena pucchanto āha. kāyadaṇḍaṃ vacīdaṇḍaṃ manodaṇḍanti ettha purimadaṇḍadvayaṃ te acittakaṃ payyapenti. yathā kira vāte vāyante sākhā calati, udakaṃ M.3.37 calati, na ca tattha cittaṃ atthi, evaṃ kāyadaṇḍopi acittakova hoti. yathā ca vāte vāyante tālapaṇṇādīni saddaṃ karonti, udakāni saddaṃ karonti P.3.53, na ca tattha cittaṃ atthi, evaṃ vacīdaṇḍopi acittakova hotīti imaṃ daṇḍadvayaṃ acittakaṃ paññapenti. cittaṃ pana manodaṇḍanti paññapenti. athassa bhagavā vacanaṃ patiṭṭhapetukāmo “kiṃ pana tapassī”tiādimāha.

Paññapeti (sự quy đinh): thuyết để định đặt. Tu sĩ ngoại đạo Dīghatapassī hỏi theo học thuyết Nigantha đã hỏi ‘sự quy định về uế hạnh (daṇḍāni paññapeti)’. kāyadaṇḍaṃ vacīdaṇḍaṃ manodaṇḍan (uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý): ở đây nhóm Nigantha quy định 2 loại uế hạnh đầu tiên là nhỏ (và) cho rằng không có tâm. Họ nói rằng khi gió thổi, nhánh cây cũng lay động, nước gợn sóng lăn tăn, do nước và nhánh cây không có tâm thế nào thì cả uế hạnh về thân cũng không có tâm như thế đó. Lại nữa khi gió thổi những nhánh cây chẳng hạn như cây thốt nốt v.v, (phát ra) âm thanh, nước cũng có âm thanh, do nước và nhánh cây không có tâm thế nào thì cả uế hạnh về khẩu cũng không có tâm như thế đó. Nhóm Nigaṇṭha quy định 2 loại hành tội này cho rằng không có tâm như đã được nói đến. Nhưng bọn họ quy định tâm là uế hạnh về ý. Khi ấy đức Thế Tôn có ý muốn cho Dīghatapassī-Nigantha xác chứng lời nói ấy mới hỏi rằng: “(kiṃ pana tapassī) Này Tapassī có…phải hay không?

tattha kathāvatthusminti ettha kathāyeva kathāvatthu. kathāyaṃ patiṭṭhapesīti attho. kasmā pana bhagavā evamakāsi? passati hi bhagavā “ayaṃ imaṃ kathaṃ ādāya gantvā attano satthu mahānigaṇṭhassa ārocessati, tāsañca parisati, upāli gahapati nisinno, so imaṃ kathaṃ sutvā mama vādaṃ āropetuṃ āgamissati, tassāhaṃ dhammaṃ desessāmi, so tikkhattuṃ saraṇaṃ gamissati, athassa cattāri saccāni pakāsessāmi, so saccapakāsanāvasāne sotāpattiphale patiṭṭhahissati, paresaṃ saṅgahatthameva hi mayā pāramiyo pūritā”ti. imamatthaṃ passanto evamakāsi.

Trong câu Pāḷī đó thì lời nói ấy gọi là kathāvatthu trong từ kathāvatthusmiṃ (luận điểm), có nghĩa là làm cho vị ấy an trú vào lời nói. Vì sao đức Thế Tôn lai làm như vậy? Bởi vì đức Thế Tôn thấy rằng “Dīghatapassī sẽ nắm lấy lời nói này đi nói lại cho Đại đạo sư Nigaṇṭha là thầy của mình và gia chủ Upālī ngồi trong hội chúng của Nigaṇṭha ấy, vị ấy sau khi nghe lời này cũng sẽ đưa lời nói của ta lên (hiểu được), ta sẽ thuyết giảng Giáo pháp cho vị ấy, vị ấy sẽ đi đến nương nhờ ba lần, từ đó ta tuyên thuyết về Bốn Chân lý, bằng sức mạnh việc tuyên thuyết về Chân lý vị ấy của sẽ được an trú vào quả vị Tu-đà-hoàn, quả thật ta thực hành các ba-la-mật cũng chỉ vì nhiếp phục những người khác.” Đức Thế Tôn nhìn thấy được lợi ích này nên mới làm như vậy.

57. kammāni V.3.39 paññapesīti idaṃ nigaṇṭho buddhasamayena pucchanto āha. kāyakammaṃ vacīkammaṃ manokammanti ettha kāyadvāre ādānagahaṇamuñcanacopanapattā aṭṭhakāmāvacarakusalacetanā dvādasākusalacetanāti vīsaticetanā kāyakammaṃ nāma. kāyadvāre ādānādīni apatvā vacīdvāre vacanabhedaṃ pāpayamānā uppannā tāyeva vīsaticetanā vacīkammaṃ nāma. ubhayadvāre copanaṃ appatvā manodvāre uppannā ekūnatiṃsakusalākusalacetanā manokammaṃ nāma. apica saṅkhepato tividhaṃ kāyaduccaritaṃ kāyakammaṃ nāma, catubbidhaṃ vacīduccaritaṃ vacīkammaṃ nāma, tividhaṃ manoduccaritaṃ manokammaṃ nāma. imasmiñca sutte kammaṃ dhuraṃ, anantarasutte P.3.54 “cattārimāni puṇṇa kammāni mayā sayaṃ abhiññā sacchikatvā paveditānī”ti (ma. ni. 2.81) evamāgatepi cetanā dhuraṃ.

Nigaṇṭha hỏi theo Giáo lý của đức Thế Tôn mới hỏi rằng: “kammāni paññapesi (đức Thế Tôn quy định về nghiệp?)”. Ở đây, kāyakammaṃ vacīkammaṃ manokammaṃ (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp): gồm 20 tư tâm sở là tư tâm sở (phối hợp) trong tám tâm thiện dục giới, tư tâm sở (phối hợp) trong 12 tâm bất thiện đã đạt đến sự chấp thủ, sự nắm lấy, sự buông bỏ và sự khuấy động trong thân môn gọi là thân nghiệp. 20 tư tâm sở đó không đạt đến sự chấp thủ v.v, trong thân môn mà cho đạt đến việc thốt ra lời nói sanh khởi ở khẩu môn gọi là khẩu nghiệp. Tư tâm sở (phối hợp) trong 29 tâm gồm (17) tâm thiện và (12) tâm bất thiện không đạt đến sự khuấy động trong cả 2 môn (thân và khẩu) mà sanh khởi ở ý môn gọi là ý nghiệp. Và hơn nữa, khi nói vắn tắt thì 3 loại hành động ác của thân được gọi là thân nghiệp, 4 loại hành động ác của khẩu gọi là khẩu nghiệp và 3 loại hành động ác của ý gọi là ý nghiệp. Nhưng ở trong bài Kinh này nghiệp gọi là dhura (trách nhiệm). Tư tâm sở đến trong bài Kinh sau như vầy “Này Puṇṇa, bốn loại nghiệp này, ta đã tự mình tác chứng bằng thắng trí, rồi tuyên thuyết” gọi là dhura (trách nhiệm) (ma. ni. 2.81).

yattha katthaci pavattā cetanā “kaṇhaṃ kaṇhavipākan”tiādibhedaṃ labhati. niddesavāre cassa “sabyābajjhaṃ kāyasaṅkhāraṃ abhisaṅkharotī”tiādinā nayena sā vuttāva. kāyadvāre pavattā pana idha kāyakammanti adhippetaṃ, vacīdvāre M.3.38 pavattā vacīkammaṃ, manodvāre pavattā manokammaṃ. tena vuttaṃ — “imasmiṃ sutte kammaṃ dhuraṃ, anantarasutte cetanā”ti. kammampi hi bhagavā kammanti paññapeti yathā imasmiṃyeva sutte. cetanampi, yathāha — “cetanāhaṃ, bhikkhave, kammaṃ vadāmi, cetayitvā kammaṃ karotī”ti (a. ni. 6.63). kasmā pana cetanā kammanti vuttā? cetanāmūlakattā kammassa.

Tư tâm sở vận hành trong bất kỳ môn nào được phân loại thành “nghiệp đen có quả đen” v.v. Trong phần diễn giải của nghiệp đó ngài cũng nói đến tư tâm sở theo cách thức sau: “trong khi tạo tác thân hành gây ra sự đau khổ” v.v. Còn tư tâm sở vận hành trong thân môn ngài muốn đề cập đến thân nghiệp trong bài Kinh này. Tư tâm sở vận hành trong khẩu môn là khẩu nghiệp. Tư tâm sở vận hành trong ý môn là ý nghiệp. Vì thế tôi đã nói rằng: “Trong bài Kinh này (nghiệp) gọi là dhura, tư tâm sở trong bài Kinh kế tiếp cũng gọi là dhura.” Thật vậy đức Thế Tôn quy định nghiệp là nghiệp giống như tư tâm sở trong bài Kinh này cũng gọi là nghiệp. Như đức Thế Tôn đã nói – “Này chư Tỳ khưu, ta nói tư tâm sở là nghiệp, bởi vì (một người) sau khi suy nghĩ đã tạo nghiệp.” (a. ni. 6.63). Tại sao nói tư tâm sở là nghiệp? Bởi vì nghiệp có tư tâm sở làm gốc.

ettha ca akusalaṃ patvā kāyakammaṃ vacīkammaṃ mahantanti vadanto na kilamati, kusalaṃ patvā manokammaṃ. tathā hi mātughātādīni cattāri kammāni kāyeneva upakkamitvā kāyeneva karoti, niraye kappaṭṭhikasaṅghabhedakammaṃ vacīdvārena karoti. evaṃ akusalaṃ patvā kāyakammaṃ vacīkammaṃ mahantanti vadanto na kilamati nāma. ekā pana jhānacetanā caturāsītikappasahassāni saggasampattiṃ āvahati, ekā maggacetanā sabbākusalaṃ samugghātetvā arahattaṃ gaṇhāpeti. evaṃ kusalaṃ patvā manokammaṃ mahantanti vadanto na kilamati nāma. imasmiṃ pana ṭhāne bhagavā akusalaṃ patvā manokammaṃ mahāsāvajjaṃ vadamāno niyatamicchādiṭṭhiṃ sandhāya vadati. tenevāha — “nāhaṃ, bhikkhave, aññaṃ ekadhammampi samanupassāmi, yaṃ evaṃ mahāsāvajjaṃ, yathayidaṃ, bhikkhave, micchādiṭṭhi. micchādiṭṭhiparamāni, bhikkhave, mahāsāvajjānī”ti (a. ni. 1.310).

Ở đây cả hai là thiện và bất thiện khi đức Thế Tôn thuyết về thân nghiệp, khẩu nghiệp ở phần bất thiện là to lớn, không khó khăn, thuyết ý nghiệp trong phần thiện là to lớn, cũng không khó khăn. Thật vậy, hạng người nổ lực xuống tay tạo bốn loại nghiệp (vô gián nghiệp) như giết mẹ v.v, cũng chỉ thực hiện bằng thân, hạng người tạo nghiệp chia rẽ Tăng Chúng (cho quả) khiến người ấy đọa vào địa ngục trọn kiếp bởi ý nghiệp. Như vậy trong khi nói về thân nghiệp, ý nghiệp sau khi đi đến bất thiện là to lớn, mới gọi là không khó khăn. Hơn nữa, một tâm sở tư trong tâm thiền dẫn đến sự thành tựu cõi trời trong tám mươi bốn nghìn kiếp, một tâm sở tư trong tâm đạo bứng tận gốc toàn bộ bất thiện nắm lấy quả vị A-ra-hán. Như vậy trong khi nói về ý nghiệp sau khi đạt đến thiện là to lớn, mới gọi là không khó khăn. Nhưng trong trường hợp này đức Thế Tôn nói ý nghiêp sau khi đạt đến bất thiện là có tội lỗi nghiêm trọng, mới muốn đề cập đến tà kiến cố định (niyata-micchādiṭṭhi). Với nhân ấy đức Thế Tôn đã nói – “Này chư Tỳ khưu, ta không nhìn thấy một Pháp nào khác, có tội lỗi nghiêm trọng như vậy, giống như tà kiến, này chư Tỳ khưu. tà kiến tột cùng, này chư Tỳ khưu, có tội lỗi nghiêm trọng.” (a. ni. 1.310).

idāni V.3.40 nigaṇṭhopi tathāgatena gatamaggaṃ P.3.55 paṭipajjanto kiñci atthanipphattiṃ apassantopi “kiṃ panāvuso, gotamā”tiādimāha.

Bây giờ, dầu Nigaṇṭha khi đi trên đạo lộ mà đức Thế Tôn đã đi qua dù không nhìn thấy bấy kỳ sự thành tựu lợi ích gì, đã hỏi rằng: “kiṃ panāvuso, gotamā (này Hiền giả Gotama, thân nghiệp…không phải sao?” v.v.

58. bālakiniyāti upālissa kira bālakaloṇakāragāmo nāma atthi, tato āyaṃ gahetvā manussā āgatā, so “etha bhaṇe, amhākaṃ satthāraṃ mahānigaṇṭhaṃ passissāmā”ti tāya parisāya parivuto tattha agamāsi. taṃ sandhāya vuttaṃ “bālakiniyā parisāyā”ti, bālakagāmavāsiniyāti attho. upālipamukhāyāti upālijeṭṭhakāya. apica bālakiniyāti bālavatiyā bālussannāyātipi attho. upālipamukhāyāti upāligahapatiyeva tattha thokaṃ sappañño, so tassā pamukho jeṭṭhako. tenāpi vuttaṃ “upālipamukhāyā”ti. handāti vacasāyatthe nipāto. chavoti lāmako. oḷārikassāti mahantassa M.3.39. upanidhāyāti upanikkhipitvā. idaṃ vuttaṃ hoti, kāyadaṇḍassa santike nikkhipitvā “ayaṃ nu kho mahanto, ayaṃ mahanto”ti evaṃ olokiyamāno chavo manodaṇḍo kiṃ sobhati, kuto sobhissati, na sobhati, upanikkhepamattampi nappahotīti dīpeti. sādhu sādhu, bhante, tapassīti dīghatapassissa sādhukāraṃ dento, bhanteti nāṭaputtamālapati.

58. Bālakiniyā (nhóm dân chúng Bālaka): có ngôi làng gọi là làng Bālaka của gia chủ Upālī, mọi người kính trọng người gia chủ nào đã đi đến từ ngôi làng đó, người gia chủ ấy được vây quanh bởi hội chúng với suy nghĩ “chúng tôi sẽ tìm gặp Đại đạo sư Nigaṇṭha, vị ấy là thầy của chúng tôi.” Ngài muốn đề cập đến làng Bālaka mới nói rằng: “cùng với hội chúng gia chủ phần lớn là nhóm dân chúng Bālaka. Có nghĩa là hội chúng những vị cư trú trong làng Bālaka. Upālipamukhāya: Có gia chủ Upālī là vị đứng đầu. Và lại nữa bālakiniyā dịch là người ngu xuẩn, tức là bao trùm bởi sự ngu ngốc. Upālipamukhāya: nghĩa là trong hội chúng đó thì chỉ một mình gia chủ Upālī là người có một chút trí tuệ. gia chủ Upālī ấy là trưởng nhóm của những người đó. Vì chính nguyên nhân đó ngài đã nói rằng “có gia chủ Upālī là trưởng nhóm”. Từ handa là phân từ được sử dụng với ý nghĩa lời mời. Chavo: là xấu ác. Oḷārikassa: là to lớn. Upanidhāya (so sánh với): sau khi đặt xuống. Ở đây được nói là, sau khi đặt xuống gần uế hạnh về thân “phải chăng uế hạnh về thân là to lớn, uế hạnh về thân là to lớn” như vậy trong khi quan sát thì uế hạnh về ý thấp kém đẹp đẽ gì? sẽ xinh đẹp từ đâu? Không hề xinh đẹp, (Nigaṇṭha) tuyên bố dầu chỉ mang đến đặt xuống cũng không đủ. Lành thay, lành thay, thưa ngài, Dīghatapassī tuyên bố: Gia chủ Upālī khi thốt lên lời tán thấn đến Tapassī Nigaṇṭha, cũng gọi Đạo sư Nāṭaputta là bhante (thưa ngài).

60. na P.3.56 kho metaṃ, bhante, ruccatīti, bhante, etaṃ mayhaṃ na ruccati. māyāvīti māyākāro. āvaṭṭanimāyanti āvaṭṭetvā gahaṇamāyaṃ. āvaṭṭetīti āvaṭṭetvā parikkhipitvā gaṇhāti. gaccha tvaṃ gahapatīti kasmā mahānigaṇṭho gahapatiṃ yāvatatiyaṃ pahiṇatiyeva? dīghatapassī pana paṭibāhateva? mahānigaṇṭhena hi bhagavatā saddhiṃ ekaṃ nagaraṃ upanissāya viharantenapi na bhagavā diṭṭhapubbo. yo hi satthuvādapaṭiñño hoti, so taṃ paṭiññaṃ appahāya buddhadassane abhabbo. tasmā esa buddhadassanassa aladdhapubbattā dasabalassa dassanasampattiñca niyyānikakathābhāvañca ajānanto yāvatatiyaṃ pahiṇateva. dīghatapassī pana kālena kālaṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā tiṭṭhatipi nisīdatipi pañhampi pucchati, so tathāgatassa dassanasampattimpi niyyānikakathābhāvampi jānāti. athassa etadahosi — “ayaṃ gahapati paṇḍito, samaṇassa gotamassa santike gantvā dassanepi pasīdeyya, niyyānikakathaṃ sutvāpi pasīdeyya. tato na puna amhākaṃ santikaṃ āgaccheyyā”ti. tasmā yāvatatiyaṃ paṭibāhateva.

60. na kho metaṃ, bhante, ruccati (thưa ngài, tôi không được hài lòng…): Dīghatapassī phản đối, thưa ngài vấn đề này (để cho gia chủ Upālī đi tranh luận với Sa-môn) tôi thật không hài lòng. Māyāvī (huyễn sư): hạng người xảo quyệt. Āvaṭṭanimāyaṃ (lôi cuốn): quỷ thuật khiến cho (người khác) thay lòng. Āvaṭṭeti: đánh lừa, bao vây, bắt lấy. Gaccha tvaṃ gahapati (này gia chủ, ngài hãy đi): vì sao Đại đạo sư Nigaṇṭha nói để gia chủ Upālī đi đến 3 lần, còn Dīghatapassī lại luôn phản đối? Bởi vì Đại đạo sư Nigaṇṭha mặc dù cư trú chung thành phố với đức Thế Tôn cũng chưa từng nhìn thấy đức Thế Tôn. Bởi vì người nào đã (tự mình) khẳng định bằng lời nói là bậc thầy, người ấy vẫn chưa từ bỏ sự khẳng định đó thì không xứng đáng gặp đức Phật. Bởi vậy Nāṭaputta không biết ‘sự thành tựu là sự nhận thực’ và không biết tính chất là lời nói dẫn đến (giải thoát tất cả khổ đau) của đấng Thập Lực mới xác nhận gởi gia chủ Upālī đi đến 3 lần. Còn Dīghatapassī thỉnh thoảng đến gặp đức Thế Tôn đứng, hay ngồi, hoặc đặt vấn đề, vị ấy biết được ‘sự thành tựu là sự nhận thực’ và biết tính chất là lời nói dẫn đến (giải thoát tất cả khổ đau) của Như Lai. Khi ấy vị ấy đã khởi lên điều này – “Gia chủ Upālī này là bậc sáng trí, đi đến trú xứ của Sa-môn Gotama có thể tịnh tín bởi vì nhìn thấy, tịnh tín bởi vì lắng nghe kệ ngôn dẫn đến (giải thoát tất cả khổ đau). Từ đó mà Upālī có lẽ không quay trở lại trú xứ của chúng ta nữa.” Cho nên, vị ấy mới phản đối đến 3 lần.

abhivādetvāti vanditvā. tathāgatañhi disvā pasannāpi appasannāpi yebhuyyena vandantiyeva, appakā na vandanti. kasmā? atiucce hi kule jāto agāraṃ ajjhāvasantopi vanditabboyevāti. ayaṃ pana gahapati pasannattāva vandi, dassaneyeva kira pasanno. āgamā nu khvidhāti āgamā nu kho idha.

Abhivādetvā: đã đảnh lễ. Thật vậy, mọi người khi đã nhìn thấy Như Lai kể cả người có lòng tịnh tín, và cả người không có lòng tịnh tín, phần lớn đều phải đảnh lễ, người không đảnh lễ chỉ một phần nhỏ. Vì sao? bởi vì người sanh ra trong dòng tộc cao quý, thậm chí sống đời sống tại gia cũng nên đảnh lễ. Còn người gia chủ này đảnh lễ do là người tịnh tín, vi ấy nói rằng chỉ vừa mới nhìn thấy đã khởi lên lòng tịnh tín. āgamā nu khvidhā tách hợp âm thành āgamā nu kho idha (đã đến nơi này).

61. sādhu sādhu, bhante, tapassīti dīghatapassissa sādhukāraṃ dento, bhanteti, bhagavantaṃ ālapati. sacce patiṭṭhāyāti thusarāsimhi ākoṭitakhāṇuko viya acalanto vacīsacce patiṭṭhahitvā. siyā P.3.57 noti bhaveyya amhākaṃ.

sādhu sādhu, bhante, tapassī (kính bạch ngài, Dīghatapassī tuyên bố tốt đẹp thay, Dīghatapassī tuyên bố tốt đẹp thay): Gia chủ Upālī khi thốt lên lời tán thán cùng Dīghatapassī, thì cũng gọi đức Thế Tôn là thưa ngài. sacce patiṭṭhāyā (nếu như ông có thể chắc chắn trong lời nói chân thật): thiết lập chắc chắc trong lời nói chân thật không bị lay chuyển như một chiếc cọc cắm vào đống trấu. siyā no đồng nghĩa với bhaveyya amhākaṃ (có thể có cùng chúng ta).

62. idhāti M.3.40 imasmiṃ loke. assāti bhaveyya. sītodakapaṭikkhittoti nigaṇṭhā sattasaññāya sītodakaṃ paṭikkhipanti. taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. manosattā nāma devāti manamhi sattā laggā lagitā. manopaṭibaddhoti yasmā manamhi paṭibaddho hutvā kālaṅkaroti, tasmā manosattesu devesu upapajjatīti dasseti. tassa hi pittajararogo bhavissati. tenassa uṇhodakaṃ pivituṃ vā hatthapādādidhovanatthāya vā gattaparisiñcanatthāya vā upanetuṃ na vaṭṭati, rogo balavataro hoti. sītodakaṃ vaṭṭati, rogaṃ vūpasameti.

Idha: trong đời này. Assa: có thế có. Sītodakapaṭikkhitto (bị cấm sử dụng nước lạnh): Nigaṇṭha từ chối nước lạnh với do nghĩ rằng trong nước có chúng sanh. Lời này ngài muốn đề cập đến nước có chúng sanh. Manosattā nāma devā (chư Thiên được gọi là Manosatta): Chư Thiên bị dính vào, bị máng vào, bị vướng vào ở trong tâm. Manopaṭibaddho (vị có tâm cột dính): Gia chủ Upālī chỉ hạng người bị cột dính trong tâm đã mệnh chung, vì thế họ hóa sanh vào nhóm chư Thiên Manosatta. Quả thật, bệnh tật khởi lên từ tâm có nơi bệnh tật đó (nên) không thích hợp để uống nước nóng hoặc sử dụng nước nóng nhằm mục đích cho việc rửa tay và chân v.v, hoặc nhằm mục đích cho việc tắm rửa cho bản thân và cho người khác, bênh tật sẽ trở nặng. Nước lạnh thì thích hợp, xoa dịu được bệnh tật.

ayaṃ pana uṇhodakameva paṭisevati, taṃ alabhamāno odanakañjikaṃ paṭisevati. cittena pana sītodakaṃ pātukāmo ca paribhuñjitukāmo ca hoti. tenassa manodaṇḍo tattheva bhijjati. so kāyadaṇḍaṃ vacīdaṇḍaṃ rakkhāmīti sītodakaṃ pātukāmo vā paribhuñjitukāmo vā sītodakameva dethāti vattuṃ na visahati. tassa evaṃ rakkhitāpi kāyadaṇḍavacīdaṇḍā cutiṃ vā paṭisandhiṃ vā ākaḍḍhituṃ na sakkonti. manodaṇḍo pana bhinnopi cutimpi paṭisandhimpi ākaḍḍhatiyeva. iti naṃ bhagavā dubbalakāyadaṇḍavacīdaṇḍā chavā lāmakā, manodaṇḍova balavā mahantoti vadāpesi.

Nigaṇṭha này chỉ uống nước nóng, khi không có nước nóng thì uống nước vo gạo hoặc nước rau muối để thay thế, tâm vị ấy muốn uống và muốn sử dụng nước lạnh. Bởi thế uế hạnh về ý của vị ấy mới bị phá tan. Do không được uống nước và sử dụng nước lạnh (vị ấy nghĩ rằng) tôi gìn giữ uế hạnh về thân và uế hạnh về khẩu nên không thể nói ‘tôi muốn uống hoặc muốn sử dụng nước lạnh’ xin ngài hãy cho tôi nước lạnh. Uế hạnh về thân và uế hạnh về khẩu của vị ấy dầu được gìn giữ như thế cũng không thể lôi kéo sự chết vá sự tái tục. Còn uế hạnh về ý tuy đã tan vỡ nhưng cũng (có khả năng) lôi kéo cái chết và sự tái tục được. Như thế đức Thế Tôn mới thuyết cho vị ấy rằng: uế hạnh về thân và uế hạnh về khẩu thấp kém, có lực yếu ớt, uế hạnh về ý có sức mạnh to lớn.

Tassapi upāsakassa etadahosi. “mucchāvasena asaññibhūtānañhi sattāhampi assāsapassāsā nappavattanti, cittasantatipavattimatteneva pana te matāti na vuccanti. yadā nesaṃ cittaṃ nappavattati, tadā ‘matā ete nīharitvā te jhāpethā’ti vattabbataṃ āpajjanti. kāyadaṇḍo nirīho abyāpāro, tathā P.3.58 vacīdaṇḍo. citteneva pana tesaṃ cutipi paṭisandhipi hoti V.3.42. itipi manodaṇḍova mahanto. bhijjitvāpi cutipaṭisandhiākaḍḍhanato eseva mahanto. amhākaṃ pana mahānigaṇṭhassa kathā aniyyānikā”ti sallakkhesi. bhagavato pana vicittāni pañhapaṭibhānāni sotukāmo na tāva anujānāti.

Dẫu cho cận sự nam ấy đã nghĩ như sau: “Do mãnh lực sự say mê hơi thở vào và hơi thở ra của chúng sanh Vô tưởng không diễn ra suốt 7 ngày, tuy nhiên chúng sanh cõi Vô tưởng ấy không gọi là tử, bởi chỉ do sự vận hạnh dòng chảy liên tục của tâm, chỉ khi nào tâm của những chúng sanh Vô tưởng ấy không vận hạnh nữa thì khi ấy (chúng sanh ấy) mới tử, họ chấp nhận phải nói rằng “hãy mang chúng sanh ấy đi thiêu”. Uế hạnh về thân không chuyển động, không nỗ lực, uế hạnh về khẩu cũng tương tự như vậy. Tuy nhiên những chúng sanh ấy vẫn chết, hoặc tục sanh cũng chỉ với tâm mà thôi. Chính vì thế, chỉ riêng uế hạnh về ý gọi là to lớn, cũng bởi do tâm dù cho tan vỡ cũng lôi kéo cái chết và sự tái tục. Còn lời nói của Đại đao sư Nigaṇṭha thầy của ta là lời nói không thật sự dẫn chúng sanh thoát khỏi khổ đau. Nhưng gia chủ Upālī ấy muốn lắng nghe để sáng suốt về vấn đề của đức Thế Tôn nên vẫn chưa thừa nhận.

na kho te sandhiyatīti na kho te ghaṭiyati. purimena vā pacchimanti “kāyadaṇḍo mahanto”ti iminā purimena vacanena idāni “manodaṇḍo mahanto”ti idaṃ vacanaṃ. pacchimena vā purimanti tena vā pacchimena aduṃ purimavacanaṃ na ghaṭiyati.

na kho te sandhiyati: lời nói của ngài không gắn kết với nhau. purimena vā pacchimaṃ (lời nói sau với lời nói trước): nghĩa là lời nói này ‘uế hạnh về ý to lớn” ở đây, với lời nói trước “uế hạnh về thân to lớn” không liên kết với nhau. pacchimena vā purimaṃ: lời nói trước kia với lời nói sau không gắn kết.

63. idānissa M.3.41 bhagavā aññānipi kāraṇāni āharanto “taṃ kiṃ maññasī”tiādimāha. tattha cātuyāmasaṃvarasaṃvutoti na pāṇamatipāteti, na pāṇamatipātayati, na pāṇamatipātayato samanuñño hoti. na adinnaṃ ādiyati, na adinnaṃ ādiyāpeti, na adinnaṃ ādiyato samanuñño hoti. na musā bhaṇati, na musā bhaṇāpeti, na musā bhaṇato samanuñño hoti. na bhāvitamāsīsati, na bhāvitamāsīsāpeti, na bhāvitamāsīsato samanuñño hotīti iminā catukoṭṭhāsena saṃvarena saṃvuto. ettha ca bhāvitanti pañcakāmaguṇā.

Bây giờ, đức Thế Tôn đưa lý do khác ra cho gia chủ Upālī nên đã nói “ngài nghĩ ý nghĩa ấy như thế nào?” Ở đó, cātuyāmasaṃvarasaṃvuto (vị thu thúc bằng bốn sự thu thúc) nghĩa là vị đã thu thúc nhờ vào bốn sự thu thúc là không tự mình sát sanh, không sai bảo người khác sát sanh, không tán thành việc sát sanh. Không tự mình lấy của không cho, không sai khiến người khác lấy của không cho, không tán thành việc lấy của không cho. Không tự mình nói dối, không sai khiến người khác nói dối, không tán thành việc nói dối. Không tự mình mong chờ dục lạc, không khiến người khác mong chờ dục lạc, không tán thành việcmong chờ dục lạc. Trong lời đó thì bhāvitaṃ vị ấy muốn đề cập đến đến sự trói buộc của năm dục.

sabbavārivāritoti vāritasabbaudako, paṭikkhittasabbasītodakoti attho. so hi sītodake sattasaññī hoti, tasmā na taṃ valañjeti. atha vā sabbavārivāritoti sabbena pāpavāraṇena vāritapāpo. sabbavāriyuttoti sabbena pāpavāraṇena P.3.59 yutto. sabbavāridhutoti sabbena pāpavāraṇena dhutapāpo. sabbavāriphuṭoti sabbena pāpavāraṇena phuṭo. khuddake pāṇe saṅghātaṃ āpādetīti khuddake pāṇe vadhaṃ āpādeti. so kira ekindriyaṃ pāṇaṃ duvindriyaṃ pāṇanti paññapeti. sukkhadaṇḍaka-purāṇapaṇṇasakkhara-kathalānipi pāṇoteva paññapeti. tattha khuddakaṃ udakabindu khuddako pāṇo, mahantaṃ mahantoti saññī hoti. taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. kismiṃ paññapetīti kattha katarasmiṃ koṭṭhāse paññapeti. manodaṇḍasminti manodaṇḍakoṭṭhāse, bhanteti. ayaṃ pana upāsako bhaṇantova sayampi sallakkhesi — “amhākaṃ mahānigaṇṭho ‘asañcetanikaṃ kammaṃ appasāvajjaṃ, sañcetanikaṃ mahāsāvajjan’ti paññapetvā cetanaṃ manodaṇḍoti paññapeti, aniyyānikā etassa kathā, bhagavatova niyyānikā”ti.

Sabbavārivārito (từ chối toàn bộ nước lạnh): từ chối tất cả loại nước uống lạnh, có nghĩa là toàn bộ nước lạnh vị ấy khước từ. Thật vậy, Nigaṇṭha nghĩ rằng có chúng sanh trong nước lạnh bởi thế vị ấy không sử dụng nước lạnh. Hơn nữa từ chối toàn bộ nước lạnh nghĩa là ngăn chặn điều ác với việc loại bỏ toàn bộ điều ác. Sabbavāriyutto (phối hợp với việc ngăn chặn tất cả ác): phối hợp với việc ngăn chặn tất cả ác. Sabbavāridhuto (loại trừ ác với việc khước từ mọi ác) nghĩa là loại trừ ác bằng việc loại bỏ tất cả ác đó. Sabbavāriphuṭo nghĩa là đụng chạm mọi thứ với việc ngăn chặn tất cả ác. khuddake pāṇe saṅghātaṃ āpādeti (làm nhân khiến rất nhiều chúng sanh nhỏ bị sát hại): làm cho những chúng sanh nhỏ đi đến cái chết. Họ nói rằng Nigaṇṭha ấy chế định chúng sanh co một quyền là chúng sanh có mạng quyền (pāṇa), chế định chúng sanh có 2 quyền là chúng sanh có mạng quyền, chế định luôn cả lá cây khô, lá cây mục, đã cuội, gạch ngối vỡ đều chúng sanh có mạng quyền, trong số chúng sanh có mạng quyền đó họ nghĩ rằng giọt nước nhỏ là mạng sống nhỏ, giọt nước lớn là mạng sống lớn. Lời đó ngài muốn nói đến vấn đề ấy. kismiṃ paññapeti (chế định tư tâm sở ở phần nào?): chế định phần đó là phần nào? Manodaṇḍasmiṃ (trong uế hạnh về ý): là ở trong phần làm uế hạnh về ý, kính thưa ngài, nam cư sĩ này khi nói kính thưa ngài cũng đã tự mình xác định rằng – “Đại đạo sư thầy của ta chế định nghiệp không chủ ý thực hành có tội nhẹ, nghiệp mà chủ ý có tội nặng, rồi chế định tư tâm sở là uế hạnh về ý, lời nói của vị ấy quả thật không dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi khổ đau, còn lời nói của đức Thế Tôn thật sự dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi khổ đau.”

64. iddhāti V.3.43 samiddhā. phītāti atisamiddhā sabbapāliphullā viya. ākiṇṇamanussāti janasamākulā. pāṇāti hatthiassādayo tiracchānagatā ceva itthipurisadārakādayo manussajātikā ca. ekaṃ maṃsakhalanti ekaṃ maṃsarāsiṃ. puñjanti tasseva vevacanaṃ. iddhimāti ānubhāvasampanno. cetovasippattoti citte vasībhāvappatto. bhasmaṃ P.3.60 karissāmīti chārikaṃ karissāmi. kiñhi sobhati ekā chavā nāḷandāti idampi bhaṇanto so gahapati — “kāyapayogena paññāsampi manussā ekaṃ nāḷandaṃ ekaṃ maṃsakhalaṃ kātuṃ na sakkonti, iddhimā pana eko M.3.42 ekeneva manopadosena bhasmaṃ kātuṃ samattho. amhākaṃ mahānigaṇṭhassa kathā aniyyānikā, bhagavatova kathā niyyānikā”ti sallakkhesi.

Iddhā: giàu mạnh. Phītā: quá giàu mạnh tựa như hoa đang nở rộ toàn thân. Ākiṇṇamanussā: dân chúng đông đúc, nhân dân trù mật. Pāṇā: gồm loài bàng sanh như voi, ngựa v.v, và loài người như đàn ông, đàn bà, và trẻ nhỏ v.v, ekaṃ maṃsakhalaṃ (một đống thịt): thành một khối thịt. Puñjaṃ là từ đồng nghĩa với ekaṃ maṃsakhalaṃ (một đống thịt, một khối thịt). Iddhimā: người hội đủ với oai lực. Cetovasippatto: là người đã đạt đến năng lực của ý. Bhasmaṃ karissāmi dịch là sẽ làm cho trở thành tro tàn. Kiñhi sobhati ekā chavā nāḷandā [một thành phố Nāḷandā nhỏ bé này, sao có thể chói sáng được (khỏi bị trở thành tro tàn được)?]: Vị gia chủ ấy thậm chí khi nói lời này cũng xác định rằng – “Bởi thói quen của thân dù năm mươi người cũng không thể làm cho một thành phố Nāḷandā trở thành một đống thịt được, hơn nữa một vị có thần lực cũng có thể khiến cho thành phố Nāḷandā trở thành tro bụi bởi tâm khởi lên sân hận chỉ với một tâm duy nhất. Lời nói của đại đạo sư Nigaṇṭha của ta không dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi khổ đâu, quả thật chỉ có lời nói của đức Thế Tôn mới dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi khổ đau.”

65. araññaṃ araññabhūtanti agāmakaṃ araññameva hutvā araññaṃ jātaṃ. isīnaṃ manopadosenāti isīnaṃ atthāya katena manopadosena taṃ manopadosaṃ asahamānāhi devatāhi tāni raṭṭhāni vināsitāni. lokikā pana isayo manaṃ padosetvā vināsayiṃsūti maññanti. tasmā imasmiṃ lokavāde ṭhatvāva idaṃ vādāropanaṃ katanti veditabbaṃ.

Araññaṃ araññabhūtaṃ (đã trở lại thành rừng như trước?): không trở thành làng, đã trở thành chính khu rừng gọi là sanh khởi trở thành rừng. isīnaṃ manopadosenā (vì tâm sân hận các vị ẩn sĩ): Bởi tâm khởi lên sân của các vị ẩn sĩ làm cho tiêu tan. Các xứ sở đó mà chư Thiên không chịu đựng sự gây hại bằng ác ý ấy đã bị tiêu tan. Hơn nữa, người thế gian nghĩ rằng người có ác tâm đã làm cho suy tàn vì lợi ích cho các vị ẩn sĩ. Vì thế nên biết rằng vị ấy đã thiết lập (tin tưởng) ở trong lời nói của thế gian này mới đưa đưa ra (xác chứng) lời nói để thực hiện.

Tattha daṇḍakīraññādīnaṃ evaṃ araññabhūtabhāvo jānitabbo — sarabhaṅgabodhisattassa tāva parisāya ativepullataṃ gatāya kisavaccho nāma tāpaso mahāsattassa antevāsī vivekavāsaṃ patthayamāno gaṇaṃ pahāya godhāvarītīrato kaliṅgaraṭṭhe daṇḍakīrañño kumbhapuraṃ nāma nagaraṃ upanissāya rājuyyāne vivekamanubrūhayamāno viharati. tassa senāpati upaṭṭhāko hoti.

Chuyện về khu rừng Daṇḍakī.

Trong câu đó nên biết rằng rừng Daṇḍakī v.v, đã trở thành khu rừng như sau: Khi hội chúng của Bồ tát Sarabhaṅga đã phát triển hết mức, vị đạo sĩ tên là Kisavaccha học trò của Bồ tát mong muốn được sống nơi yên tịnh, mới rời khỏi hội chúng đi đến cư ngụ ở thành phố tên là Kumbhapura của đức vua Daṇḍakī trong vùng Kaliṅga, bên cạnh bờ sông Godhāvarī, tu tập sự viễn ly ở trong vườn thượng uyển. Vị tướng quân của đức vua Daṇḍakī ấy là người chăm sóc.

tadā ca ekā gaṇikā rathaṃ abhiruhitvā pañcamātugāmasataparivārā nagaraṃ upasobhayamānā vicarati. mahājano tameva olokayamāno parivāretvā vicarati, nagaravīthiyo nappahonti. rājā vātapānaṃ vivaritvā ṭhito taṃ disvā kā esāti pucchi. tumhākaṃ nagarasobhinī P.3.61 devāti. so ussūyamāno “kiṃ etāya sobhati, nagaraṃ sayaṃ sobhissatī”ti taṃ ṭhānantaraṃ acchindāpesi.

Và vào thời điểm ấy một cô kỹ nữ sau khi bước lên xe có năm trăm người nữ làm tùy tùng đi du hành làm cho thành phố trở nên xinh đẹp. Đại chúng trong khi nhìn thấy cũng đã vây quanh rồi đi theo đến nỗi con đường trong thành vẫn không đủ (sức chứa). Đức vua đã mở của sổ, đứng, sau khi nhìn thấy nàng mới hỏi các quan cận thần, nữ nhân đó là ai? Các quan cận thần đáp: Muôn tâu bệ hạ nữ nhân thành Sobhiṇī của đức Phật. Đức vua khởi lên lòng ganh tị, nghĩ rằng “Thành phố mà nữ nhân này làm cho xinh đẹp, sẽ xinh đẹp như thế nào?” rồi ra lệnh cho tước bỏ mọi tước vị.

sā tato paṭṭhāya kenaci saddhiṃ santhavaṃ katvā ṭhānantaraṃ pariyesamānā ekadivasaṃ rājuyyānaṃ pavisitvā caṅkamanakoṭiyaṃ ālambanaphalakaṃ nissāya pāsāṇaphalake nisinnaṃ tāpasaṃ disvā cintesi V.3.44 — “kiliṭṭho vatāyaṃ tāpaso anañjitamaṇḍito, dāṭhikāhi paruḷhāhi mukhaṃ pihitaṃ, massunā uraṃ pihitaṃ, ubho kacchā paruḷhā”ti. athassā domanassaṃ uppajji — “ahaṃ ekena kiccena vicarāmi, ayañca me kāḷakaṇṇī diṭṭho, udakaṃ āharatha, akkhīni dhovissāmī”ti udakadantakaṭṭhaṃ āharāpetvā dantakaṭṭhaṃ khāditvā tāpasassa sarīre piṇḍaṃ piṇḍaṃ kheḷaṃ pātetvā dantakaṭṭhaṃ jaṭāmatthake khipitvā mukhaṃ vikkhāletvā udakaṃ tāpasassa matthakasmiṃyeva siñcitvā M.3.43 — “yehi me akkhīhi kāḷakaṇṇī diṭṭho, tāni dhotāni kalipavāhito”ti nikkhantā.

Kể từ đó trở đi nàng kỹ nữ ấy qua lại thân mật với những người khác để tìm kiếm tước vị (khác). Một ngày nọ (nàng) đi vào vườn thượng uyển, bắt gặp vị ẩn sĩ ngồi trên thạch tọa, dựa vào một tấm ván treo vào gần cuối chỗ đi kinh hành, suy nghĩ rằng – “Vị ẩn sĩ này thật bẩn thỉu, ngồi bất động, răng nanh mọc ra che kín cả khuông miệng, hàm râu phủ kín ở ngực, long nách ở hai bên mọc um tùm.” Khi ấy nàng khởi lên sự buồn rầu – “Ta đi du hành với một phận sự (nhưng lại) gặp một người bất hạnh này, hãy mang nước đến, ta sẽ rửa cặp mắt” sau khi mang đến nước và gỗ chà răng, nàng nhai gỗ chà răng, khạc nhổ nước bọt thành từng tảng từng tảng vào cơ thể của ẩn sĩ ấy, rồi ném gỗ chà răng lên trên giữa tóc (bằng) nước súc miệng, lấy nước rưới lên đầu của vị ẩn sĩ rồi nghĩ rằng: “Ta rửa đôi mắt nhìn thấy con người bẩn thiểu, sự xui xẻo của ta cũng đã trôi đi, rồi đi ra khỏi vườn thượng uyển.”

taṃdivasañca rājā satiṃ paṭilabhitvā — “bho kuhiṃ nagarasobhinī”ti pucchi. imasmiṃyeva nagare devāti. pakatiṭṭhānantaraṃ tassā dethāti ṭhānantaraṃ dāpesi. sā pubbe sukatakammaṃ nissāya laddhaṃ ṭhānantaraṃ tāpasassa sarīre kheḷapātanena laddhanti saññamakāsi.

Trong ngày hôm đó đức vua sau khi nhớ lại đã hỏi “Này các khanh nữ nhân thành Sobhinī ở đâu?” Tâu bệ hạ ở trong chính thành phố này. Rồi ra lệnh: “các khanh hãy ban cho nàng một tước vị.” Nàng dựa vào nghiệp thiện quá khứ nên đã có được một tước vị, nhưng nàng lại hiểu sai rằng: “có được do khạc nhổ nước bọt vào người của vị ẩn sĩ.”

tato katipāhassaccayena rājā purohitassa ṭhānantaraṃ gaṇhi. so nagarasobhiniyā santikaṃ gantvā “bhagini kinti katvā ṭhānantaraṃ paṭilabhī”ti pucchi. “kiṃ brāhmaṇa aññaṃ kātabbaṃ atthi, rājuyyāne P.3.62 anañjitakāḷakaṇṇī kūṭajaṭilo eko atthi, tassa sarīre kheḷaṃ pātehi, evaṃ ṭhānantaraṃ labhissasī”ti āha. so “evaṃ karissāmi bhaginī”ti tattha gantvā tāya kathitasadisameva sabbaṃ katvā nikkhami. rājāpi taṃdivasameva satiṃ paṭilabhitvā — “kuhiṃ, bho, brāhmaṇo”ti pucchi. imasmiṃyeva nagare devāti. “amhehi anupadhāretvā kataṃ, tadevassa ṭhānantaraṃ dethā”ti dāpesi. sopi puññabalena labhitvā “tāpasassa sarīre kheḷapātanena laddhaṃ me”ti saññamakāsi.

Thời gian trôi qua vài ngày kể từ ngày hôm đó đức vua đã tước bỏ địa vị của Bà-la-môn Purohita, vị ấy đã đi đến trú xứ của nữ nhân thành Sobhinī để hỏi “Này cô nương, nàng đã làm gì đạt được tước vị này.” Cô ấy cũng nói rằng: “Này Bà-la-môn có phải làm gì khác nữa đâu, một vị ẩn sĩ tóc bện giả dối thân hình bẩn thỉu, ngồi bất động ở trong vườn thượng uyển, ngài hãy khạc nhổ nước bọt lên cơ thể của vị ấy, sẽ có được tước vị như vậy.” Purohita ấy cũng nói rằng “Này cô nương, tôi sẽ làm như thế” sau khi đi đến nơi đó đã thực hiện mọi việc (như lời nói của cô kỹ nữ) rồi rời khỏi vườn thượng uyển. Vào chính ngày hôm đó đức vua nhớ lại đã hỏi – “Này các khanh, vị Bà-la-môn ở đâu?” – “Thưa bệ hạ, vị ấy ở trong chính thành phố này.” Đức vua đã nói rằng: “Ta đã không suy xét trước khi làm, các khanh hãy trao trả tước vị lại cho vị ấy, rồi ra lệnh cho trao trả lại tước vị cho Bà-la-môn ấy.” Tuy vị ấy đã có được tước vị bởi nhờ năng lực phước báu quá khứ nhưng lại nghĩ rằng “Đạt được tước vị do nhờ khạc nhổ nước bọt lên cơ thể của vị ẩn sĩ.”

tato katipāhassaccayena rañño paccanto kupito. rājā paccantaṃ vūpasamessāmīti caturaṅginiyā senāya nikkhami. purohito gantvā rañño purato ṭhatvā “jayatu mahārājā”ti vatvā — “tumhe, mahārāja, jayatthāya gacchathā”ti pucchi. āma brāhmaṇāti. evaṃ sante rājuyyāne anañjitakāḷakaṇṇī eko kūṭajaṭilo vasati, tassa sarīre kheḷaṃ pātethāti. rājā tassa vacanaṃ gahetvā yathā gaṇikāya ca tena ca kataṃ, tatheva sabbaṃ katvā orodhepi āṇāpesi — “etassa kūṭajaṭilassa sarīre kheḷaṃ pātethā”ti. tato orodhāpi orodhapālakāpi tatheva akaṃsu. atha rājā uyyānadvāre rakkhaṃ ṭhapāpetvā “raññā saddhiṃ nikkhamantā V.3.45 sabbe tāpasassa sarīre kheḷaṃ apātetvā nikkhamituṃ na labhantī”ti āṇāpesi. atha sabbo balakāyo ca seniyo ca teneva niyāmena tāpasassa upari kheḷañca dantakaṭṭhāni ca mukhavikkhālita udakañca pāpayiṃsu, kheḷo ca dantakaṭṭhāni ca sakalasarīraṃ avatthariṃsu.

Thời gian trôi qua vài ngày kể từ ngày hôm đó dân chúng ở vùng biên giới của đức vua nổi lên bạo loạn. Ta (đức vua) sẽ đi đến sẽ đi trấn áp cuộc nổi loạn ở vùng biên giới cùng với bốn đội quân. Bà-la-môn Purohita sau khi đến đã đứng trước mặt đức vua, (và) đã nói rằng: “Đại vương hãy chiến thắng.” – rồi hỏi “Tâu đại vương, ngài đi vì mục đích chiến thắng phải chăng?” – “Đúng vậy, này Bà-la-môn.” – Như vậy một vị ẩn sĩ tóc bện giả dối, cơ thể bẩn thỉu, ngồi bất động, đang cư trú trong vườn thượng uyển, (hãy) khạc nhổ nước bọt lên cơ thể của vị ấy (tâu đại vương). Đức vua đã tin vào lời nói của Bà-la-môn Purohita đã làm giống như cô kỷ nữ và vị ấy đã làm, rồi ra lệnh cho những tỳ nữ ở bên trong hậu cung thực hiện tất cả mọi việc – “nhổ nước bọt lên cơ thể của vị ẩn sĩ tóc bện giả dối đó.” Sau đó cả những người phụ nữ sống ở hậu cung và những người canh giữ hậu cung cũng đều làm theo như thế tương tự. Khi ấy đức vua ra lệnh cho một đội quân canh gác ở gần cổng ngự hoa viên rồi ra lệnh “những người theo ngài không nhổ nước bọt lên khắp người vị ẩn sĩ tóc bện không được phép rời khỏi”. Lúc đó toàn bộ chỉ huy và quân lính lấy nước, gỗ chà rằng và nước súc miệng mang đi đặt lên người ẩn sĩ với cách làm tương tự thế ấy, nước bọt và gõ chà răng cũng khạc nhổ lên khắp cơ thế vị ấy.

senāpati M.3.44 sabbapacchā suṇitvā “mayhaṃ kira satthāraṃ bhavantaṃ puññakkhettaṃ saggasopānaṃ evaṃ ghaṭṭayiṃsū”ti usumajātahadayo mukhena assasanto P.3.63 vegena rājuyyānaṃ āgantvā tathā byasanapattaṃ isiṃ disvā kacchaṃ bandhitvā dvīhi hatthehi dantakaṭṭhāni apaviyūhitvā ukkhipitvā nisīdāpetvā udakaṃ āharāpetvā nhāpetvā sabbaosadhehi ceva catujjātigandhehi ca sarīraṃ ubbaṭṭetvā sukhumasāṭakena puñchitvā purato añjaliṃ katvā ṭhito evamāha “ayuttaṃ, bhante, manussehi kataṃ, etesaṃ kiṃ bhavissatī”ti. devatā senāpati tidhā bhinnā, ekaccā “rājānameva nāsessāmā”ti vadanti, ekaccā “saddhiṃ parisāya rājānan”ti, ekaccā “rañño vijitaṃ sabbaṃ nāsessāmā”ti. idaṃ vatvā pana tāpaso appamattakampi kopaṃ akatvā lokassa santiupāyameva ācikkhanto āha “aparādho nāma hoti, accayaṃ pana desetuṃ jānantassa pākatikameva hotī”ti.

Tướng quân (vị săn sóc) biết được chuyện sau cùng (vị ấy) suy nghĩ: “họ nói tất cả mọi người gây tổn thương đến đức Thế Tôn bậc Đạo Sư của ta là ruộng phước, là bậc thang dẫn đến Thiên giới như vậy” quả tim đã khởi lên nóng đốt dữ dội, phải thở bằng miệng, đã vội vã đi đến vườn thượng uyển, chứng kiến vị ​​ẩn sĩ phải chịu sự tàn phá như vậy, vị ấy đã mặc lại rồi kéo y phục lên (chỉnh sửa lại y phục), dùng cả hai tay để quét gỗ chà răng, bế (vị ẩn sĩ) ngồi dậy và mang nước đến tắm rửa, thoa với các loại thuốc và 4 loại hương liệu rồi lau bằng vải mịn, đứng chắp tay phía trước rồi nói như sau: “Thưa Ngài, những gì đã được làm bởi con người là không phù hợp, điều gì sẽ xảy đến với họ?” Vị ẩn sĩ nói rằng: “Này tướng quân, chư Thiên chia thành 3 phần, một nhóm nói rằng: “Chúng tôi sẽ tiêu diệt một mình đức vua”, một nhóm khác lại nói rằng: “Chúng tôi sẽ tiêu diệt đức vua cùng với hội chúng của ngài, nhóm còn lại thì nói rằng: “Chúng tôi sẽ tiêu diệt toàn bộ lãnh thỗ của đức vua.” Sau khi đã nói điều này vị ẩn sĩ không hề tỏ lộ dù chỉ chút ít biểu hiện giận dữ, khi nói về nguồn cội (để đưa đến) sự an lạc cho thế gian đã nói rằng: “Khi sự sai trái có mặt, người biết được tỏ lòng sám hối thì mọi việc sẽ trở lại bình thường.”

senāpati nayaṃ labhitvā rañño santikaṃ gantvā rājānaṃ vanditvā āha — “tumhehi, mahārāja, nirāparādhe mahiddhike tāpase aparajjhantehi bhāriyaṃ kammaṃ kataṃ, devatā kira tidhā bhinnā evaṃ vadantī”ti sabbaṃ ārocetvā — “khamāpite kira, mahārāja, pākatikaṃ hoti, raṭṭhaṃ mā nāsetha, tāpasaṃ khamāpethā”ti āha. rājā attani dosaṃ kataṃ disvāpi evaṃ vadati “na taṃ khamāpessāmī”ti. senāpati yāvatatiyaṃ yācitvā anicchantamāha — “ahaṃ, mahārāja, tāpasassa balaṃ jānāmi, na so abhūtavādī, nāpi kupito, sattānuddayena pana evamāha khamāpetha naṃ mahārājā”ti. na khamāpemīti. tena hi senāpatiṭṭhānaṃ aññassa detha, ahaṃ tumhākaṃ āṇāpavattiṭṭhāne na vasissāmīti. tvaṃ yenakāmaṃ gaccha, ahaṃ mayhaṃ senāpatiṃ labhissāmīti. tato senāpati tāpasassa santikaṃ āgantvā vanditvā P.3.64 “kathaṃ paṭipajjāmi, bhante”ti āha. senāpati ye te vacanaṃ suṇanti, sabbe saparikkhāre sadhane sadvipadacatuppade gahetvā sattadivasabbhantare bahi rajjasīmaṃ gaccha, devatā ativiya kupitā dhuvaṃ raṭṭhampi araṭṭhaṃ karissantīti. senāpati tathā akāsi.

Sau khi vị tướng quân có được biện pháp đã đi đến gặp đức vua, đã hành lễ rồi nói rằng – “Tâu đại vương, đại vương đã gây ra hành động sái quấy đối với vị ẩn sĩ, vị không lỗi lầm, có nhiều thần lực, (ngài) đã tạo trọng nghiệp, chư Thiên sẽ chia thành 3 nhóm như vậy” sau khi thuật lại toàn bộ sự việc rồi nói rằng – “Tâu đại vương, khi ngài xin sám hối lỗi lầm, Vương quốc của ngài sẽ trở lại bình thường, xin đại vương đừng làm cho Vương quốc bị hủy diệt, xin đại vương hãy sám hối lỗi lầm đến vị ẩn sĩ.” Vị tướng quân nói đến ba lần nhưng đức vua không có ý định sám hối mới nói rằng: “Tâu đại vương, hạ thần biết được sức mạnh của vị ẩn sĩ, vị ấy không phải nói lời không thật, và cũng không hề giận dữ, nhưng ngài lại nói như vậy, cũng bằng sự quan sát, vì lòng bi mẫn đối với thần dân, cầu xin đại vương hãy sám hối vi ẩn sĩ ấy.” Đức vua cũng nhất quyết rằng: “ta không sám hối”. Vị tướng quân cũng nói rằng: “nếu như vậy, xin hãy trao tước vị tướng quân cho người khác, kể từ đây hạ thần sẽ không sống trong quốc độ của ngài nữa.” – Khanh muốn đi cứ đi, ta sẽ phong một vị tướng quân mới của ta. Sau đó, vị tướng quân đã đi đến trú xứ của vị ẩn sĩ đãnh lễ rồi nói rằng: “Thưa ngài, tôi đã làm theo lời của ngài.” Này tướng quân, ngài hãy đưa những vị tin tưởng, mang theo những vật dụng cả tài sản cùng với loài 2 chân, loài 4 chân rời khỏi biên giới của quốc độ này trong vòng 7 ngày, chư Thiên vô cùng giận dữ chắc chắn sẽ phá hủy vùng đất này. Vị tướng đã làm theo (lời vị ẩn sĩ).

rājā V.3.46 gatamattoyeva amittamathanaṃ katvā janapadaṃ vūpasametvā āgamma jayakhandhāvāraṭṭhāne nisīditvā nagaraṃ paṭijaggāpetvā antonagaraṃ pāvisi. devatā M.3.45 paṭhamaṃyeva udakavuṭṭhiṃ pātayiṃsu. mahājano attamano ahosi “kūṭajaṭilaṃ aparaddhakālato paṭṭhāya amhākaṃ rañño vaḍḍhiyeva, amitte nimmathesi, āgatadivaseyeva devo vuṭṭho”ti. devatā puna sumanapupphavuṭṭhiṃ pātayiṃsu, mahājano attamanataro ahosi. devatā puna māsakavuṭṭhiṃ pātayiṃsu. tato kahāpaṇavuṭṭhiṃ, tato kahāpaṇatthaṃ na nikkhameyyunti maññamānā hatthūpagapādūpagādikatabhaṇḍavuṭṭhiṃ pātesuṃ. mahājano sattabhūmikapāsāde ṭhitopi otaritvā ābharaṇāni piḷandhanto attamano ahosi. “arahati vata kūṭajaṭilake kheḷapātanaṃ, tassa upari kheḷapātitakālato paṭṭhāya amhākaṃ rañño vaḍḍhi jātā, amittamathanaṃ kataṃ, āgatadivaseyeva devo vassi, tato sumanavuṭṭhi māsakavuṭṭhi kahāpaṇavuṭṭhi katabhaṇḍavuṭṭhīti catasso vuṭṭhiyo jātā”ti attamanavācaṃ nicchāretvā rañño katapāpe samanuñño jāto.

Riêng đức vua mê mụi, sau khi dẹp tan kẻ địch, đã trấn an dân chúng ở biên thùy, ngài đã đi đến nghỉ ngơi ở lều chiến thắng, sau khi sắp xếp thành phố ấy ngài tiến vào cung điện. Ngay lần đầu tiên chư Thiên tạo ra cơn mưa rơi xuống, đại chúng hoan hỷ (nghĩ rằng) “kể từ khi làm điều sái quấy đối với ẩn sĩ tóc bện giả dối, đức vua của ta chỉ mỗi sự tiến triển, sau khi dẹp tan được kẻ dịch, trong ngày ngài trở về mưa cũng đã trút xuống. Sau đó chư Thiên cũng tạo ra con mưa hoa lài rớt xuống, đại chúng lại càng vui mừng hơn, lại nữa chư Thiên tạo ra con mưa đồng tiền māsaka, tiếp đó con mưa đồng tiền kahāpaṇa nghĩ rằng mọi người sẽ ra lượm nhặt, mới tạo ra mưa trang sức ở tay, trang sức ở chân, trang sức ở eo v.v, rớt xuống. Đại chúng đã đi xuống tụ hội xung quanh khu vực tòa lâu đài 7 tầng được trang điểm bằng các đồ trang sức vui mừng (nghĩ răng): “Việc khạc nhổ nước bọt lên cơ thể vị ẩn sĩ tóc bện giả dối quả thật xứng đáng, kể từ khi lúc khạc nhổ nước bọt xuống cơ thể vị ẩn sĩ tóc bện giả dối, đức vua của ta khởi lên sự phát triển, đã hoàn toàn chiến thắng kẻ thù, chính vào ngày ngài quay trở về mưa trút xuống, sau đó bốn loại mưa là mưa hoa lài, mưa đồng tiền māsaka, mưa đồng tiền kahāpaṇa, mưa trang sức ở eo cũng đã phát sanh”, thốt lên lời vui mừng như vậy, no vui trong hành động sai trái mà đức vua đã tạo.

tasmiṃ samaye devatā ekatodhāraubhatodhārādīni nānappakārāni āvudhāni mahājanassa upari phalake P.3.65 maṃsaṃ koṭṭayamānā viya pātayiṃsu. tadanantaraṃ vītaccike vītadhūme kiṃsukapupphavaṇṇe aṅgāre, tadanantaraṃ kūṭāgārappamāṇe pāsāṇe, tadanantaraṃ antomuṭṭhiyaṃ asaṇṭhahanikaṃ sukhumavālikaṃ vassāpayamānā asītihatthubbedhaṃ thalaṃ akaṃsu. rañño vijitaṭṭhāne kisavacchatāpaso senāpati mātuposakarāmoti tayova manussabhūtā arogā ahesuṃ. sesānaṃ tasmiṃ kamme asamaṅgībhūtānaṃ tiracchānānaṃ pānīyaṭṭhāne pānīyaṃ nāhosi, tiṇaṭṭhāne tiṇaṃ. te yena pānīyaṃ yena tiṇanti gacchantā appatteyeva sattame divase bahirajjasīmaṃ pāpuṇiṃsu. tenāha sarabhaṅgabodhisatto —

Một thưở nọ chư Thiên cũng tạo ra các loại vũ khí khác nhau có một lưỡi sắc bén, hai lưỡi sắc bén v.v, rớt xuống cắt thịt dân chúng trên tấm ván. Từ đó tạo ra than hừng có màu tựa như màu bông hoa kiṃsuka không có tro và khói, kế đó tạo ra tảng đá kích thước bằng ngọn tháp, kế đó tạo ra cát mịn không thể vốc lên bằng tây cho rơi xuống lấp đầy mặt đất cao đến 80 hắt tay. Ở trong xứ sở của đức vua chỉ có 3 hạng người là ẩn sĩ Kisavaccha, tướng quân và người hoan hỷ phụng dưỡng cha mẹ là người không nguy hại. Trong nguồn nước uống cũng không có nước uống, trong bãi cỏ cũng không có cỏ, đối với loài bàng sanh còn lại, những người không chung tay tạo nghiệp ấy, chúng sanh loài bàng sanh đi đến nguồn nước có nước, có cỏ, vẫn chưa tới bảy ngày cũng đã cùng nhau vượt khỏi lãnh thổ của đức vua. Vì thế Bồ tát Sarabhaṅga đã nói –

kisañhi vacchaṃ avakiriya daṇḍakī, ucchinnamūlo sajano saraṭṭho.

kukkuḷanāme nirayamhi paccati, tassa phuliṅgāni patanti kāye”ti. (jā. 2.17.70).

Bởi vì đã ném vật dơ vào ẩn sĩ Kisavaccha, vua Daṇḍakī cùng với dân chúng và cả đất nước đã bị bứng gốc, bị nun nấu ở địa ngục tên Kukkula; các cục than hừng đổ lên thân hình của vị vua ấy.” (jā. 2.17.70).

evaṃ tāva daṇḍakīraññassa araññabhūtabhāvo veditabbo.

Nên biết bản chất khu rừng của khu rừng Daṇḍakī hình thành như đã được trình bày.

kaliṅgaraṭṭhe V.3.47 M.3.46 pana nāḷikiraraññe rajjaṃ kārayamāne himavati pañcasatatāpasā anitthigandhā ajinajaṭavākacīradharā vanamūlaphalabhakkhā hutvā ciraṃ vītināmetvā loṇambilasevanatthaṃ manussapathaṃ otaritvā anupubbena kaliṅgaraṭṭhe nāḷikirarañño nagaraṃ sampattā. te jaṭājinavākacīrāni P.3.66 saṇṭhapetvā pabbajitānurūpaṃ upasamasiriṃ dassayamānā nagaraṃ bhikkhāya pavisiṃsu. manussā anuppanne buddhuppāde tāpasapabbajite disvā pasannā nisajjaṭṭhānaṃ saṃvidhāya hatthato bhikkhābhājanaṃ gahetvā nisīdāpetvā bhikkhaṃ sampādetvā adaṃsu. tāpasā katabhattakiccā anumodanaṃ akaṃsu. manussā sutvā pasannacittā “kuhiṃ bhadantā gacchantī”ti pucchiṃsu. yathāphāsukaṭṭhānaṃ, āvusoti. bhante, alaṃ aññattha gamanena, rājuyyāne vasatha, mayaṃ bhuttapātarāsā āgantvā dhammakathaṃ sossāmāti.

Chuyện về khu rừng Kaliṅga

Như đã được nghe, khi đức vua Nāḷikira ngự ở đất nước Kaliṅga có 500 vị ẩn sĩ cư trú trong rừng Himavati, vị chưa từng ngửi thấy mùi hương của nữ nhân, tóc bện lại, đắp y vỏ cây và khoác tấm da con sơn dương đen, có rễ cây, trái cây rừng được sử dụng làm thức ăn từ rất lâu, ước muốn thọ dụng vật thực có vị chua mặn (nên) cùng nhau đi đến địa phận của loài người, đến thành phố của vua Nāḷikira ở đất nước Kaliṅga theo tuần tự. Các vị ẩn sĩ ấy che đầu bằng da con sơn dương đen và mặc áo vỏ cây hiển lộ các hành động (cử chỉ) trầm tĩnh phù hơp với cùng với hình tướng vị xuất gia vào thành để khất thực. Khi đức Phật chưa xuất hiện, mọi người nhìn thấy ẩn sĩ xuất gia cũng khởi lên tịnh tín, dọn dẹp chỗ ngồi và chỗ đứng, sau khi cầm lấy bát đựng thức ăn từ bàn tay của ngài, đã thỉnh mời (các vị ấy) ngồi xuống, rồi chuẩn bị thức ăn cúng dường. Sau khi hoàn tất việc thọ dụng vật thực xong đã nói lời tùy hỷ. Mọi người sau khi nghe khởi tâm tịnh tín, đã hỏi (các vị ẩn sĩ) rằng: “Các ngài sẽ đi đâu?” – (Chúng tôi) sẽ đi đến nơi có sự thuận tiện này các chư hiền. Thưa ngài, ngài đừng đi nơi khác, (chúng con) thỉnh mời ngài ở lại vườn thượng uyển này. Chúng con thọ dụng vật thực sáng, sẽ đến lắng nghe thuyết giảng thiện pháp.

tāpasā adhivāsetvā uyyānaṃ agamaṃsu. nāgarā bhuttapātarāsā suddhavatthanivatthā “dhammakathaṃ sossāmā”ti saṅghā gaṇā gaṇībhūtā uyyānābhimukhā agamaṃsu. rājā uparipāsāde ṭhito te tathā gacchamāne disvā upaṭṭhākaṃ pucchi “kiṃ ete bhaṇe nāgarā suddhavatthā suddhuttarāsaṅgā hutvā uyyānābhimukhā gacchanti, kimettha samajjaṃ vā nāṭakaṃ vā atthī”ti? natthi deva, ete tāpasānaṃ santike dhammaṃ sotukāmā gacchantīti. tena hi bhaṇe ahampi gacchissāmi, mayā saddhiṃ gacchantūti. so gantvā tesaṃ ārocesi — “rājāpi gantukāmo, rājānaṃ parivāretvāva gacchathā”ti. nāgarā pakatiyāpi attamanā taṃ sutvā — “amhākaṃ rājā assaddho appasanno dussīlo, tāpasā dhammikā, te āgamma rājāpi dhammiko bhavissatī”ti attamanatarā ahesuṃ.

Các vị ẩn sĩ nhận lời đi đến vườn thượng uyển. Người dân thành phố sau khi ăn thức ăn, đắp y và mặc trang phục sạch sẽ “ muốn được lắng nghe các vấn đề liên quan đến Pháp” đi thành từng nhóm từng nhóm hướng thẳng đến ngự hoa viên. Đức vua đứng trên toà lâu đài quan sát thấy những người đó đang đi mới hỏi người hầu cận “này khanh, tại sao người dân thành phố đắp y và mặc trang phục sạch sẽ, đi thẳng về phía khu vườn, ở nơi ấy họ có việc hội họp hay khiêu vũ chăng?” – Tâu bệ hạ, không có. Bọn họ muốn được đi nghe Pháp trong chỗ ở của các vị ẩn sĩ. Nếu vậy ta cũng sẽ đi, nói với bọn họ đi chung với ta. Vị ấy đã đi đến nói lại cho những người đó – “Đức vua cũng có ý định sẽ đi, các vị hãy vây quanh đức vua”. Bình thường người dân trong thành đã hoan hỷ với nhau, nhưng sau khi nghe lời ấy họ lại càng hoan hỷ hơn – “Đức vua của chúng ta không có đức tin, không có lòng tịnh tín, có ác giới, các vị ẩn sĩ có Pháp, nương vào các vị ẩn sĩ ấy đức vua sẽ được an trú trong Pháp.”

rājā nikkhamitvā tehi parivārito uyyānaṃ gantvā tāpasehi saddhiṃ paṭisanthāraṃ katvā ekamantaṃ nisīdi. tāpasā rājānaṃ disvā parikathāya kusalassekassa tāpasassa “rañño dhammaṃ kathehī”ti saññamadaṃsu, so tāpaso P.3.67 parisaṃ oloketvā pañcasu veresu ādīnavaṃ pañcasu ca sīlesu ānisaṃsaṃ kathento —

Đức vua sau khi ra khỏi (từ thành phố) có dân chúng vây quanh đi đến vườn thượng uyển tỏ vẻ thân thiện với các ẩn sĩ, rồi ngồi xuống một nơi thích hợp. Các ẩn sĩ sau khi nhìn thấy đức vua đã chỉ định cho một vị ẩn sĩ khéo léo “thuyết giảng thiện pháp để dâng đến đức vua” với những lời nói nhẹ nhàng mềm mại, vị ẩn sĩ quan sát mọi người khi nói về cả 5 sự tai hại trong sự thù nghịch và 5 lợi ích trong giới.

pāṇo M.3.47 na hantabbo, adinnaṃ nādātabbaṃ, kāmesumicchācāro na caritabbo, musā na bhāsitabbā, majjaṃ na pātabbaṃ, pāṇātipāto nāma nirayasaṃvattaniko hoti tiracchānayonisaṃvattaniko pettivisayasaṃvattaniko, tathā adinnādānādīni. pāṇātipāto niraye paccitvā manussalokaṃ āgatassa vipākāvasesena appāyukasaṃvattaniko hoti, adinnādānaṃ V.3.48 appabhogasaṃvattanikaṃ, micchācāro bahusapattasaṃvattaniko, musāvādo abhūtabbhakkhānasaṃvattaniko, majjapānaṃ ummattakabhāvasaṃvattanikan”ti — pañcasu veresu imaṃ ādīnavaṃ kathesi.

Đã nói đến 5 sự tai hại trong sự thù nghịch như sau: “không nên sát sanh, không nên trộm cắp, không nên có hành vi sái quấy trong các dục, không nên nói dối, không nên uống chất say; được gọi là không sát sanh vì cho quả tái sanh trong địa ngục, đưa đến tái sanh làm loài bàng sanh, dẫn đến cõi ngạ quỷ; trộm cắp v.v, cũng tương tự như vậy. Sau khi bị nung nấu ở trong địa ngục, đi đến thế giới loài người do dư tàn của quả dị thục (nghiệp) sát sanh cho quả là hạng người có tuổi thọ ngắn ngủi, trộm cắp cũng cho quả trở thành người có tài sản ít ỏi, hành vi sái quấy trong các dục cho quả trở thành người có nhiều kẻ thù, nói dối cho quả trở thành người bị vu khống không đúng sự thật, uống chất say cho quả trở thành người điên.

rājā pakatiyāpi assaddho appasanno dussīlo, dussīlassa ca sīlakathā nāma dukkathā, kaṇṇe sūlappavesanaṃ viya hoti. tasmā so cintesi — “ahaṃ ‘ete paggaṇhissāmī’ti āgato, ime pana mayhaṃ āgatakālato paṭṭhāya maṃyeva ghaṭṭentā vijjhantā parisamajjhe kathenti, karissāmi nesaṃ kāttabban”ti. so dhammakathāpariyosāne “ācariyā sve mayhaṃ gehe bhikkhaṃ gaṇhathā”ti nimantetvā agamāsi. so dutiyadivase mahante mahante koḷumbe āharāpetvā gūthassa pūrāpetvā kadalipattehi nesaṃ mukhāni bandhāpetvā tattha tattha ṭhapāpesi, puna bahalamadhukatelanāgabalapicchillādīnaṃ kūṭe pūretvā nisseṇimatthake ṭhapāpesi, tattheva ca mahāmalle baddhakacche hatthehi muggare gāhāpetvā ṭhapetvā āha “kūṭatāpasā ativiya maṃ viheṭhayiṃsu, tesaṃ pāsādato otaraṇakāle P.3.68 kūṭehi picchillaṃ sopānamatthake vissajjetvā sīse muggarehi pothetvā gale gahetvā sopāne khipathā”ti. sopānapādamūle pana caṇḍe kukkure bandhāpesi.

Thường đức vua là người không có đức tin, không có lòng tịnh tín, là người có ác giới, thường vấn đề về giới là lời nói đâm xuyên tâm đối với những kẻ ác giới cũng giống như cây giáo đâm xuyên qua tai. Vì thế đức vua suy nghĩ rằng: “ta đến mục đích tán dương các vị ẩn sĩ này, nhưng các vị ấy quay lại nói chạm vào lòng tự ái chỉ riêng một mình ta ở giữa hội chúng, kể từ khi ta đến,. Ta sẽ làm những điều thích hợp đến những tên ẩn sĩ này.” Khi chấm dứt Pháp thoại đức vua thỉnh mời rằng: “Thưa các thầy ngày mai xin đến thọ nhận vật thực tại hoàng cung” rồi đức vua quay trở về. Ngày hôm sau đức vua ra lệnh cho mang một cái lu kích thước lớn đến rồi đổ đầy phân, lấy tàu lá chuối buộc chặt miệng lu lại, mang đi đặt lại ở nơi đó, đổ thêm mật ong, dầu được lấy từ mỡ đặc của con voi, cây mù u và gai cây vông đồng lớn v.v, cho đến khi đầy lu rồi đặt ở đầu cầu thang và cho nhóm lực sĩ thân hình to lớn buộc dây đai quanh eo giữ cây búa đứng đợi ở đó ra lệnh rằng: “Nhóm ẩn sĩ giả dối làm phiền nhiều trẫm rất nhiều, khi các ẩn sĩ bước xuống từ toàn lâu đài, các ngươi hãy lấy dầu từ cái lu đổ xuống cầu thang, lấy búa đập vào đầu (các tên ẩn sĩ ấy), nắm cổ lôi đi từ cầu thân,” ở dưới chân cầu thang cột những con chó dữ.

tāpasāpi “sve rājagehe bhuñjissāmā”ti aññamaññaṃ ovadiṃsu — “mārisā rājagehaṃ nāma sāsaṅkaṃ sappaṭibhayaṃ, pabbajitehi nāma chadvārārammaṇe saññatehi bhavitabbaṃ, diṭṭhadiṭṭhe ārammaṇe nimittaṃ na gahetabbaṃ, cakkhudvāre saṃvaro paccupaṭṭhapetabbo”ti.

Phía các ẩn sĩ nghĩ rằng “chúng ta sẽ thọ dụng vật thực ở trong hoàng cung vào ngày mai” nên nhắc nhở lẫn nhau – “gọi là hoàng cung thật đáng nghi ngờ, có sự nguy hiểm và hãi hùng, thường vị xuất gia cần phải thu thúc trong 6 môn, không nên chấp vào tướng trong đối tượng đã thấy, nên thiết lập sự thu thúc trong nhãn môn.”

punadivase M.3.48 bhikkhācāravelaṃ sallakkhetvā vākacīraṃ nivāsetvā ajinacammaṃ ekaṃsagataṃ katvā jaṭākalāpaṃ saṇṭhapetvā bhikkhābhājanaṃ gahetvā paṭipāṭiyā rājanivesanaṃ abhiruḷhā. rājā āruḷhabhāvaṃ ñatvā gūthakoḷumbamukhato kadalipattaṃ nīharāpesi. duggandho tāpasānaṃ nāsapuṭaṃ paharitvā matthaluṅgapātanākārapatto ahosi. mahātāpaso rājānaṃ olokesi. rājā — “ettha bhonto yāvadatthaṃ bhuñjantu ceva harantu ca, tumhākametaṃ anucchavikaṃ, hiyyo ahaṃ tumhe paggaṇhissāmīti āgato, tumhe pana maṃyeva ghaṭṭento vijjhantā parisamajjhe kathayittha V.3.49, tumhākamidaṃ anucchavikaṃ, bhuñjathā”ti mahātāpasassa uluṅkena gūthaṃ upanāmesi. mahātāpaso dhī dhīti vadanto paṭinivatti.

Vào ngày hôm sau các vị ẩn sĩ xác định biết được đến thời đi khất thực mới đắp y vỏ cây, khoác tấm da con sơn dương đen, tóc bện lại, mang bát đựng thức ăn bước vào khu vực hoàng cung theo tuần tự. Đức vua biết rằng “các ẩn sĩ đã đến” liền lấy các tàu lá chuối ra khỏi miệng lu, mùi hôi thối xộc vào mũi các ẩn sĩ, dẫn đến hiện tượng màng não như thể bị vỡ tung. Vị ẩn sĩ lớn quan sát đức vua. Đức vua – “Xin mời, đến đây này các ngài hãy ăn, hãy mang đi tùy theo ý thích đó là những thứ thích hợp giành cho các ngài, ngày hôm qua tôi đi đến (vườn thượng uyển) với ý định tán thán các ngài, nhưng các ngài lại nói làm tổn thương sâu sắc chỉ riêng một mình ta ở giữa dân chúng, các ngài hãy ăn những thứ phù hợp cho các ngài, rồi ra lệnh lấy cái vá, múc phân để bố thí đến vị ẩn sĩ lớn.” vị ấy chỉ nói được “dừng dừng (thật quá đáng)” rồi quay lại.

ettakeneva gacchissatha tumhe”ti sopāne kūṭehi picchillaṃ vissajjāpetvā mallānaṃ saññamadāsi. mallā muggarehi sīsāni pothetvā gīvāya gahetvā sopāne khipiṃsu, ekopi sopāne patiṭṭhātuṃ nāsakkhi P.3.69, pavaṭṭamānā sopānapādamūlaṃyeva pāpuṇiṃsu. sampatte sampatte caṇḍakukkurā paṭapaṭāti luñcamānā khādiṃsu. yopi nesaṃ uṭṭhahitvā palāyati, sopi āvāṭe patati, tatrāpi naṃ kukkurā anubandhitvā khādantiyeva. iti nesaṃ kukkurā aṭṭhisaṅkhalikameva avasesayiṃsu. evaṃ so rājā tapasampanne pañcasate tāpase ekadivaseneva jīvitā voropesi.

Các ngài chỉ có thể đi đường này, rồi ra hiệu cho tất cả mọi người, lấy lu trải gai cây vông ở cầu thang. Các lực sĩ lấy búa đập vào đầu (các vị ẩn sĩ), nắm cổ (các vị ấy) kéo đi ở cầu thang. Thậm chí chẳng có một vị ẩn sĩ nào có thể đứng ở cầu thang. Các ẩn sĩ bị lăn tròn xuống dưới chân cầu thang, khi đến chân cầu thang thì đàn chó dữ gầm gừ nghĩ là tấm vải rồi xúm lại cắn xé, trong số các vị ẩn sĩ ấy, dẫu cho vị nào đứng dậy được bỏ chạy thì vị ấy cũng bị rơi vào trong cái hầm, bầy chó chạy theo cắn xé ẩn sĩ ấy trong chính cái hầm đó, cho đến khi chỉ còn trơ lại khung xương. Như vậy, chỉ trong một ngày đức vua ấy đã tướt đoạt mạng sống của năm trăm vị ẩn sĩ, những vị đã thành tựu khổ hạnh.

athassa raṭṭhe devatā purimanayeneva puna navavuṭṭhiyo pātesuṃ. tassa rajjaṃ saṭṭhiyojanubbedhena vālikathalena avacchādiyittha. tenāha sarabhaṅgo bodhisatto —

Khi ấy, chư Thiên tạo ra 9 cơn mua rơi xuống Vương quốc của vị vua ấy như cách thức trước. Vương quốc của đức ấy bị bao phủ bởi đống cát cao đến 60 do-tuần. Bởi thế Bổ tát Sarabhaṅga mới nói rằng:

yo saññate pabbajite avañcayi,

dhammaṃ bhaṇante samaṇe adūsake.

taṃ nāḷikeraṃ sunakhā parattha,

saṅgamma khādanti viphandamānan”ti. (jā. 2.17.71).

evaṃ kāliṅgāraññassa araññabhūtabhāvo veditabbo.

Đức vua Nāḷikīra nào đã quấy nhiễu các vị xuất gia đã tự thu thúc, các bậc Sa-môn không tội lỗi đang thuyết giảng thiện pháp. Khi gã tái sanh vào thế giới khác, các con chó ăn thịt kẻ Nāḷikīra ấy, gã đang run rẩy.

Nên biết rằng bản chất khu rừng của khu rừng Kāliṅgāra như vậy.

atīte pana bārāṇasinagare diṭṭhamaṅgalikā nāma cattālīsakoṭivibhavassa seṭṭhino ekā dhītā ahosi dassanīyā pāsādikā. sā rūpabhogakulasampattisampannatāya bahūnaṃ patthanīyā ahosi. yo M.3.49 panassā vāreyyatthāya pahiṇāti, taṃ taṃ disvānassa jātiyaṃ vā hatthapādādīsu vā yattha katthaci dosaṃ āropetvā “ko esa dujjāto dussaṇṭhito”tiādīni vatvā — “nīharatha nan”ti nīharāpetvā “evarūpampi nāma addasaṃ, udakaṃ āharatha, akkhīni dhovissāmī”ti akkhīni dhovati. tassā diṭṭhaṃ diṭṭhaṃ vippakāraṃ pāpetvā nīharāpetīti P.3.70 diṭṭhamaṅgalikā tveva saṅkhā udapādi, mūlanāmaṃ antaradhāyi.

Chuyện về khu rừng Mātaṅga

Trong thời quá khứ, tại thành phố Bārāṇasī, một trưởng giả giàu có với khối tài sản bốn mươi Koṭi đồng tiền vàng, có một cô con gái tên là Diṭṭhamaṅgalikā xinh đẹp, dễ thương, đáng được ca ngợi, là chỗ ước ao của rất nhiều người. Bởi vì nàng thành tựu toàn hảo về tướng mạo, thành tựu đầy đủ về tài sản, thành tựu toàn hảo về gia tộc Người đàn ông nào cử người đến cầu hôn nàng, sau khi nhìn thấy người đàn ông đó thì nàng lại mang chuyện quốc gia, nếu không thì chuyện tay chân v.v, đem ra khiển trách, kẻ ấy là ai? sinh ra trong gia đình không cao quý, dáng người xấu xí v.v, rồi ra lệnh mời người ấy quay trở về, rồi dặn dò rằng: “Ta đã nhìn thấy người thế này, quá chướng mắt, các ngươi hãy mang nước tới, tôi sẽ rửa đôi mắt (của ta)” rồi rửa đôi mắt (của các ngươi). Vì thế nàng có biểu hiện sái quấy mà kẻ ấy nhìn thấy, ra lệnh mời ngời đàn ông ấy đi. Cho nên nàng được gọi là Diṭṭhamaṅgalikā, tên ban đầu đã biến mất.

sā V.3.50 ekadivasaṃ gaṅgāya udakakīḷaṃ kīḷissāmīti titthaṃ sajjāpetvā pahūtaṃ khādanīyabhojanīyaṃ sakaṭesu pūrāpetvā bahūni gandhamālādīni ādāya paṭicchannayānaṃ āruyha ñātigaṇaparivutā gehamhā nikkhami. tena ca samayena mahāpuriso caṇḍālayoniyaṃ nibbatto bahinagare cammagehe vasati, mātaṅgotvevassa nāmaṃ ahosi. so soḷasavassuddesiko hutvā kenacideva karaṇīyena antonagaraṃ pavisitukāmo ekaṃ nīlapilotikaṃ nivāsetvā ekaṃ hatthe bandhitvā ekena hatthena pacchiṃ, ekena ghaṇḍaṃ gahetvā “ussaratha ayyā, caṇḍālohan”ti jānāpanatthaṃ taṃ vādento nīcacittaṃ paccupaṭṭhapetvā diṭṭhadiṭṭhe manusse namassamāno nagaraṃ pavisitvā mahāpathaṃ paṭipajji.

Một ngày nọ nàng có ý định xuống vui chơi nước ở dòng sông Gaṅgā mới ra lệnh cho trang trí bến nước đặt nhiều loại thức ăn cứng và thức ăn mềm đầy một cổ xe, lấy hương thơm và tràng hoa v.v, bước lên cổ xe được phủ kín toàn diện, có thân quyến vây quanh rồi rời khỏi dinh thự. Lúc bấy giờ bậc Đại nhân được sanh ra trong thai bào người mẹ (giai cấp) hạ tiện. Sống trong một ngôi nhà mái da ở ngoại ô thành phố, vị ấy tên là Mātaṅga. Khi vị ấy 16 tuổi và muốn vào thành phố với một số phận sự, vì thế vị ấy mặc một tấm vải mau xanh đã cũ, buộc một tấm vải vào cổ tay, một tay cầm giỏ và một tay cầm chuông để họ biết rằng: “Thưa ngài, xin hãy nhận biết cho tôi là dòng dõi kẻ hạ tiện” khiêm tốn nhún nhướng, bày tỏ sự tôn trọng đối với tất cả những người vị ấy gặp, đi bộ trên con đường lớn để vào thành phố.

diṭṭhamaṅgalikā ghaṇḍasaddaṃ sutvā sāṇiantarena olokentī dūratova taṃ āgacchantaṃ disvā “kimetan”ti pucchi. mātaṅgo ayyeti. “kiṃ vata, bho, akusalaṃ akaramha, kassāyaṃ nissando, vināso nu kho me paccupaṭṭhito, maṅgalakiccena nāma gacchamānā caṇḍālaṃ addasan”ti sarīraṃ kampetvā jigucchamānā kheḷaṃ pātetvā dhātiyo āha — “vegena udakaṃ āharatha, caṇḍālo diṭṭho, akkhīni ceva nāma P.3.71 gahitamukhañca dhovissāmī”ti dhovitvā rathaṃ nivattāpetvā sabbapaṭiyādānaṃ gehaṃ pesetvā pāsādaṃ abhiruhi. surāsoṇḍādayo ceva tassā upaṭṭhākamanussā ca “kuhiṃ, bho diṭṭhamaṅgalikā, imāyapi velāya nāgacchatī”ti pucchantā taṃ pavattiṃ sutvā — “mahantaṃ vata, bho, surāmaṃsagandhamālādisakkāraṃ caṇḍālaṃ nissāya anubhavituṃ na labhimha, gaṇhatha caṇḍālan”ti gataṭṭhānaṃ gavesitvā nirāparādhaṃ mātaṅgapaṇḍitaṃ tajjitvā — “are mātaṅga taṃ nissāya idañcidañca sakkāraṃ anubhavituṃ na labhimhā”ti kesesu M.3.50 gahetvā bhūmiyaṃ pātetvā jāṇukapparapāsāṇādīhi koṭṭetvā matoti saññāya pāde gahetvā kaḍḍhantā saṅkārakūṭe chaḍḍesuṃ.

Nàng Diṭṭhamaṅgalikā nghe tiếng chuông reo lên, nhìn qua khe hở bức rèm thấy Mātaṅga đang đi từ xa, hỏi rằng “đó là cái gì”. Thưa chủ nhân là Mātaṅga. “Quả thật ta đã tạo bất thiện nghiệp gì chăng? đây là kết quả của nghiệp gì? sự hủy diệt phải chăng đã xuất hiện cho ta? ta đang thực hiện với phận sự tốt lành, thay vào đó lại gặp một kẻ hạ tiện” quá kinh tởm đến mức cơ thể run lên, sau khi nhổ nước bọt đã nói với nhũ mẫu – “hãy nhanh chóng mang nước đến, tôi sẽ rửa đôi mắt trong khi nhìn thấy kẻ hạ tiện, xúc miệng khi phải nhắc tên (kẻ hạ tiện)” rồi rửa mắt và xúc miệng, cho quay xe trở về, mang những thứ đã chuẩn về dinh thự còn bản thân bước lên trên toà lâu đài. Những kẻ say rượu và nhóm người chăm sóc cho nàng hỏi nhau rằng: “Nàng Diṭṭhamaṅgalikā đi đâu? Không đi đến vào lúc này.” Sau khi nghe câu chuyện cũng đầy thịnh nộ – “Dựa vào kẻ hạ tiện quả thật chúng ta không thể nhận được phần thưởng lớn chẳng hạn như rượu thịt, hương thơm, tràng hoa v.v, hãy cùng nhau bắt kẻ hạ tiện, rồi tìm đến nơi vị ấy ở, rồi hét lên Mātaṅga bậc sáng trí không có lỗi lầm “Ôi, Mātaṅga do nương tựa vào ngài mà chúng tôi không thể nhận được các phần thưởng thế này hay thế kia, chẳng hạn như rượu thịt, hương thơm, tràng hoa v.v, nói xong họ túm lấy tóc vị ấy ném mạnh xuống mặt đất, những cú đánh bằng cùi chỏ và đất đá v.v. nghĩ rằng tôi đã chết nên họ mới túm lấy tóc ném mạnh quăng tôi vào đống rác.”

mahāpuriso saññaṃ paṭilabhitvā hatthapāde parāmasitvā — “idaṃ dukkhaṃ kaṃ nissāya uppannan”ti cintento — “na aññaṃ kañci, diṭṭhamaṅgalikaṃ nissāya uppannan”ti ñatvā “sacāhaṃ puriso, pādesu naṃ nipātessāmī”ti cintetvā vedhamāno diṭṭhamaṅgalikāya kuladvāraṃ gantvā — “diṭṭhamaṅgalikaṃ labhanto vuṭṭhahissāmi, alabhantassa ettheva maraṇan”ti gehaṅgaṇe nipajji. tena ca samayena jambudīpe ayaṃ dhammatā hoti — yassa caṇḍālo kujjhitvā gabbhadvāre V.3.51 nipanno marati, ye ca tasmiṃ gabbhe vasanti, sabbe caṇḍālā honti. gehamajjhamhi mate sabbe gehavāsino, dvāramhi mate ubhato anantaragehavāsikā, aṅgaṇamhi mate ito satta ito sattāti cuddasagehavāsino sabbe caṇḍālā hontīti. bodhisatto pana aṅgaṇe nipajji.

Còn bậc Đại nhân sau khi nhận thức được bản thân đã xoa bóp tay chân nghĩ rằng: “Khổ đau này dựa vào ai đã sanh lên?” – sau khi biết “(Đau khổ này) không dựa vào người khác, ngoài nàng Diṭṭhamaṅgalika đã sanh khởi.” – “Tôi là một nam nhân phải khiến cho nàng phải quỳ dưới chân ta” giận dữ đến mức cơ thể run lên, đã đi đến trước cửa nhà nàng Diṭṭhamaṅgalikā, nằm ngủ ngoài sân với ý định: “ta sẽ đứng đây đến khi có được nàng Diṭṭhamaṅgalika, nếu không được thì ta sẽ chết ngay tại chỗ này.” Lúc bấy giờ Jambudīpa có truyền thống rằng: “Kẻ hạ tiện tức giận nằm ngủ rồi chết ở gần cửa phòng của nhà người nào, toàn bộ người ở trong phòng của người ấy cũng đều phải trở thành kẻ hạ tiện. Khi kẻ hạ tiện chết ở giữa nhà, toàn bộ người trong nhà đó phải trở thành kẻ hạ tiện. Khi kẻ ấy chết ở cửa nhà, thì người sống trong nhà ở giữa hai bên phải trở thành kẻ hạ tiện. Khi kẻ ấy chết ở sân nhà, người sống trong tất cả mười bốn căn nhà, bên kia bảy căn nhà, bên đây bảy căn nhà, toàn bộ đều phải trở thành kẻ hạ tiện” và Bồ tát nằm ngủ ở sân nhà.

seṭṭhissa ārocesuṃ — “mātaṅgo te sāmi gehaṅgaṇe patito”ti P.3.72 gacchatha bhaṇe, kiṃ kāraṇāti vatvā ekamāsakaṃ datvā uṭṭhāpethāti. te gantvā “imaṃ kira māsakaṃ gahetvā uṭṭhahā”ti vadiṃsu. so — “nāhaṃ māsakatthāya nipanno, diṭṭhamaṅgalikāya svāhaṃ nipanno”ti āha. diṭṭhamaṅgalikāya ko dosoti? kiṃ tassā dosaṃ na passatha, niraparādho ahaṃ tassā manussehi byasanaṃ pāpito, taṃ labhantova vuṭṭhahissāmi, alabhanto na vuṭṭhahissāmīti.

Mọi người mới nói với trưởng giả rằng: “Thưa ngài, Mātaṅga kẻ hạ tiện nằm ngủ ở trước sân nhà ngài.” hãy đi đi kẻ hạ tiện, lý do là gì? các ngươi hãy bố thí cho nó một đồng māsaka, cho nó đứng dậy. Những người đó đi ra nói rằng “Cầm lấy một đồng māsaka rồi đứng dậy đi.” Vị ấy nói rằng: “Ta không nằm ngủ (ở đây) vì cần một māsaka, mà ta nằm (ở đây) vì mục đích để có được nàng Diṭṭhamaṅgalikā.” – Nàng Diṭṭhamaṅgalikā có lỗi lầm gì chăng? Các ngươi không nhìn thấy được lỗi gì của nàng đâu, ta không có sai phạm (nhưng) nhóm người của nàng đã gây tổn thương đến ta, (nếu) ta có được nàng ta sẽ đứng dậy, nhưng nếu không có được nàng ta sẽ không đứng dậy.

te gantvā seṭṭhissa ārocesuṃ. seṭṭhi dhītu dosaṃ ñatvā “gacchatha, ekaṃ kahāpaṇaṃ dethā”ti peseti. so “na icchāmi kahāpaṇaṃ, tameva icchāmī”ti āha. taṃ sutvā seṭṭhi ca seṭṭhibhariyā ca — “ekāyeva no piyadhītā, paveṇiyā ghaṭako añño dārakopi natthī”ti saṃvegappattā — “gacchatha tātā, koci amhākaṃ asahanako etaṃ jīvitāpi voropeyya, etasmiñhi mate sabbe mayaṃ naṭṭhā homa, ārakkhamassa gaṇhathā”ti parivāretvā ārakkhaṃ saṃvidhāya yāguṃ pesayiṃsu, bhattaṃ dhanaṃ pesayiṃsu, evaṃ so sabbaṃ paṭikkhipi. evaṃ eko divaso gato; dve, tayo, cattāro, pañca divasā gatā.

Mọi người cùng nhau đi nói lại cho trưởng giả. Trưởng giả sau khi biết được lỗi lầm của con gái mới gởi người đi cùng nói rằng: “các ngươi hãy đi cho nó một đồng tiền vàng kahāpana”. Vị ấy đã nói “Ta không mong muốn một đồng tiền vàng kahāpana, ta chỉ mong muốn nàng”. Sau khi nghe điều đó trưởng giả và phu nhân cảm thấy thương cảm: “Ta chỉ có một người con gái yêu quý duy nhất, (mà vị ấy) cũng đến phá vỡ truyền thống, ngay cả đứa con khác cũng không có” – “Này ông, hãy đi đi, chớ để có ai giết chết nó, nếu như nó chết, tất cả mọi người chúng ta sẽ gặp tại họa, các ngươi hãy đi bảo vệ nó, rồi vây xung quanh sắp xếp bảo vệ, đưa cháo mang cơm, tài sản đi cho” Tuy nhiên Mātaṅga ấy lại khước từ tất cả mọi thứ, thời gian trôi qua một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày.

tato M.3.51 sattasattagehavāsikā uṭṭhāya — “na sakkoma mayaṃ tumhe nissāya caṇḍālā bhavituṃ, amhe mā nāsetha, tumhākaṃ dārikaṃ datvā etaṃ uṭṭhāpethā”ti āhaṃsu. te satampi sahassampi satasahassampi pahiṇiṃsu, so paṭikkhipateva. evaṃ cha divasā gatā. sattame divase ubhato cuddasagehavāsikā sannipatitvā — “na mayaṃ caṇḍālā bhavituṃ sakkoma, tumhākaṃ akāmakānampi mayaṃ etassa dārikaṃ dassāmā”ti āhaṃsu.

Những người sống ở trong bảy ngôi nhà ở mỗi hai bên từ ngôi nhà ấy cũng đứng dậy nói rằng – “Chúng tôi không thể trở thành những kẻ hạ tiện do bởi các ngài, các ngài đừng làm cho chúng tôi bị tổn hại, hãy giao con gái của ngài để Mātaṅga đứng dậy.” Trưởng giả và phu nhân gởi tài sản đến cho vị ấy một trăm, hai trăm, một nghìn, một trăm nghìn, Mātaṅga ấy cũng đều từ chối, sáu ngày trôi qua như vậy đến ngày thứ bảy, mọi người ở trong mười bốn ngôi nhà ở hai bên tụ họp lại thêm lần nữa, tôi không thể trở thành kẻ hạ tiện, cả các ngài cũng không muốn, tôi sẽ giao Diṭṭhamaṅgalikā cho Mātaṅga ấy.

mātāpitaro sokasallasamappitā visaññī hutvā sayane nipatiṃsu. ubhato cuddasagehavāsino pāsādaṃ āruyha supupphitakiṃsukasākhaṃ P.3.73 ucchindantā viya tassā sabbābharaṇāni omuñcitvā nakhehi sīmantaṃ katvā kese bandhitvā nīlasāṭakaṃ nivāsāpetvā hatthe V.3.52 nīlapilotikakhaṇḍaṃ veṭhetvā kaṇṇesu tipupaṭṭake piḷandhāpetvā tālapaṇṇapacchiṃ datvā pāsādato otārāpetvā dvīsu bāhāsu gahetvā — “tava sāmikaṃ gahetvā yāhī”ti mahāpurisassa adaṃsu.

Cha mẹ của nàng bị dày vò lòng đau như cắt đến nỗi ngất đi ngã xuống chỗ nằm. Những người sống cả mười bốn ngôi nhà ở hai bên cũng bước lên tòa lâu đài, cởi bỏ tất cả đồ trang sức của nàng, trông giống như nhánh cây mù u đã nở hoa, lấy một phần của móng tay buộc tóc, cho mặc y phục màu xanh cũ kỹ, cột mảnh vải xanh cũ ở tay, trang trí đôi khuyên tai bằng thiếc ở cả hai tai, cho cầm một giỏ lá cây thốt nốt, bước xuống khỏi lâu đài, nắm lấy cả hai tay giáo cho bậc Đại nhân và nói rằng: “Hãy đưu chồng của cô đi.”

nīluppalampi atibhāroti anukkhittapubbā sukhumāladārikā “uṭṭhāhi sāmi, gacchāmā”ti āha. bodhisatto nipannakova āha “nāhaṃ uṭṭhahāmī”ti. atha kinti vadāmīti. “uṭṭhehi ayya mātaṅgā”ti evaṃ maṃ vadāhīti. sā tathā avoca. na tuyhaṃ manussā uṭṭhānasamatthaṃ maṃ akaṃsu, bāhāya maṃ gahetvā uṭṭhāpehīti. sā tathā akāsi. bodhisatto uṭṭhahanto viya parivaṭṭetvā bhūmiyaṃ patitvā — “nāsitaṃ, bho, diṭṭhamaṅgalikāya paṭhamaṃ manussehi koṭṭāpetvā, idāni sayaṃ koṭṭetī”ti viravittha. sā kiṃ karomi ayyāti? dvīhi hatthehi gahetvā uṭṭhāpehīti. sā tathā uṭṭhāpetvā nisīdāpetvā gacchāma sāmīti. gacchā nāma araññe honti, mayaṃ manussā, atikoṭṭitomhi tuyhaṃ manussehi, na sakkomi padasā gantuṃ, piṭṭhiyā maṃ nehīti. sā onamitvā piṭṭhiṃ adāsi. bodhisatto abhiruhi. kuhiṃ nemi sāmīti? bahinagaraṃ nehīti. sā pācīnadvāraṃ gantvā — “idha te sāmi vasanaṭṭhānan”ti pucchi. kataraṭṭhānaṃ etanti? pācīnadvāraṃ sāmīti. pācīnadvāre caṇḍālaputtā vasituṃ na labhantīti P.3.74 attano vasanaṭṭhānaṃ anācikkhitvāva sabbadvārāni āhiṇḍāpesi. kasmā? bhavaggapattamassā M.3.52 mānaṃ pātessāmīti. mahājano ukkuṭṭhimakāsi — “ṭhapetvā tumhādisaṃ añño etissā mānaṃ bhedako natthī”ti.

Diṭṭhamaṅgalikā là người con gái dịu dàng và tế nhị chưa bao giờ vác một vật gì nặng thậm chí là bông hoa sen xanh cũng quá nặng nề đối với nàng, đã nói rằng: “Chàng đứng dậy, chúng ta đi”. Bồ tát cũng nằm thản nhiên nói rằng “ta không đứng”. Nàng hỏi lại: “vậy ta phải nói như thế nào?” Mātaṅga dạy bảo rằng, nàng hãy nói cùng ta như vầy ‘Thưa chủ nhân, xin ngài hãy đứng dậy”. Nàng đã nói như vậy. Nhóm người của nàng phải không? Bọn họ đã làm cho ta không thể đứng dậy, nàng hãy nắm lấy cánh tay của ta keo ta đứng dậy. Nàng làm theo lời của ngài. Bồ tát giả vờ đứng dậy, nhưng rồi lại ngã lăn tròn trên mặt đất khóc lóc rằng “Này các vị, ta bị Diṭṭhamaṅgalikā cho người đánh đập trước, làm cho tổn thương, bây giờ chính nàng lại đánh ta thêm lần nữa.” Ta đã làm gì đâu thưa chủ nhân. Hãy sử dụng hai bàn tay hai bên của nằng kéo cho ta đứng dậy. Sau khi nàng đã kéo vị ấy đứng lên, đã nói rằng: “chúng ta hãy đi thưa chủ nhân.” Bồ tát đã nói rằng “thường loài bàng sanh sống ở trong rừng, ta là con người bị người của nàng đánh bị thương nghiêm trọng, không thể bước đi được bằng đôi chân, nàng hãy lấy lưng cõng ta đi.” Nàng cúi người xuống khom lưng Bồ tát leo lên lưng nàng. Đi đâu thưa chủ nhân? Hãy đưa ta rời khỏi thành. Nàng đã đi đến cổng thành ở phía Đông rồi hỏi rằng – “Chổ ở của chủ nhân ở chỗ này chăng?” vị ấy hỏi ngược lại rằng: “đây là đâu?” Nàng đáp: “cổng thành ở phía Đông thưa chủ nhân”. – “Ở cổng thành phía Đông những người thuộc tầng lớp hạ tiện không thể cư trú, vị ấy không nói chỗ ở của chính mình mà để cho nàng cõng đi đến hết mọi cổng thành.” Vì sao? Bởi vì vị ấy nghĩ rằng ta sẽ làm cho ngã mạn của nàng đạt đến sanh hữu tột cùng rồi làm suy giảm xuống cho bằng được. Đại chúng đã thốt lên lời ca tụng vang rền – “Ngoài người như ngài thì không có người nào khác có thể phá tan được ngã mạn của nàng.”

sā pacchimadvāraṃ patvā “idha te sāmi vasanaṭṭhānan”ti pucchi. kataraṭṭhānaṃ etanti? pacchimadvāraṃ sāmīti. iminā dvārena nikkhamitvā cammagehaṃ olokentī gacchāti. sā tattha gantvā āha “idaṃ cammagehaṃ tumhākaṃ vasanaṭṭhānaṃ sāmī”ti? āmāti piṭṭhito otaritvā cammagehaṃ pāvisi.

Sau khi đi đến cổng thành ở phía Tây nàng hỏi “chỗ ở của ngài nằm ở đâu thưa chủ nhân?” Vị ấy hỏi ngược lại “đây là đâu vậy?” – Thưa chủ nhân đây là cổng thành phía Tây. – Đi ra khỏi cổng thành phía Tây quan sát thấy ngôi nhà được bọc bằng da hãy đi. Sau khi nàng đi đến đó đã hỏi “Ngôi nhà được bọc bằng da này là chỗ ở của chủ nhân chăng?” – Đúng rồi, sau khi bước xuống từ lưng của nàng đã đi vào ngôi nhà được bọc bằng da.

tattha sattaṭṭhadivase vasanto sabbaññutagavesanadhīro ettakesu divasesu na ca jātisambhedamakāsi. “mahākulassa dhītā sace maṃ nissāya mahantaṃ yasaṃ na pāpuṇāti, na camhāhaṃ catuvīsatiyā buddhānaṃ antevāsiko. etissā pādadhovanaudakena sakalajambudīpe rājūnaṃ V.3.53 abhisekakiccaṃ karissāmī”ti cintetvā puna cintesi — “agāramajjhevasanto na sakkhissāmi, pabbajitvā pana sakkhissāmī”ti. cintetvā taṃ āmantesi — “diṭṭhamaṅgalike mayaṃ pubbe ekacarā kammaṃ katvāpi akatvāpi sakkā jīvituṃ, idāni pana dārabharaṇaṃ paṭipannamha, kammaṃ akatvā na sakkā jīvituṃ, tvaṃ yāvāhaṃ āgacchāmi, tāva mā ukkaṇṭhitthā”ti araññaṃ pavisitvā susānādīsu nantakāni saṅkaḍḍhitvā nivāsanapārupanaṃ katvā samaṇapabbajjaṃ pabbajitvā ekacaro laddhakāyaviveko kasiṇaparikammaṃ katvā aṭṭha samāpattiyo pañca abhiññāyo ca nibbattetvā “idāni sakkā diṭṭhamaṅgalikāya avassayena mayā bhavitun”ti bārāṇasiabhimukho gantvā cīvaraṃ pārupitvā bhikkhaṃ caramāno diṭṭhamaṅgalikāya P.3.75 gehābhimukho agamāsi.

Bồ tát là bậc sáng trí tầm cầu quả vị Toàn giác trí, cư trú ở trong ngôi nhà phía sau đó 7-8 ngày (nhưng) không thực hành việc đôi lứa trong suốt những ngày đó. Vị ấy nghĩ đi nghĩ lại “nếu một người con gái của dòng dõi cao quý như nàng nương tựa nơi ta, (nàng) sẽ mất hết danh vọng (danh tiếng, uy quyền, người tùy tùng) lớn lao. Ta là học trò của đức Phật đến tận 24 vị, không thể thực hiện việc rải nước đến các vị vua trong toàn cõi Jambudīpa bằng nước rửa chân của nàng, từ đó đã nghĩ rằng – “ta sống ở giữa nhà (là người gia chủ) có lẽ không thể nào (thực hiện được điều đó) nhưng khi xuất gia thì ta sẽ có thể” rồi gọi nàng lại bảo rằng “Này Diṭṭhamaṅgalikā trước kia ta sống một mình làm việc cũng đủ để nuôi mạng, nhưng bây giờ ta có nàng, không làm việc, không thể duy trì được mạng sống, nàng đừng suy nghĩ nhiều (hãy ở đây) cho đến khi ta quay trở lại, Bồ tát đi vào rừng lượm nhặt vải dơ ở những bãi tha ma làm y để quấn làm y để mặc, xuất gia trở thành vị Sa-môn đi một mình đã đạt được sự viễn ly về thân, việc chuẩn bị đề mục biến xứ, thực hành 8 thiền chứng và 5 thắng trí làm cho sanh khởi (suy tư rằng) “bây giờ ta có thể làm nơi nương tựa của nàng Diṭṭhamaṅgalikā đã đi thẳng về phía thành Bārāṇasī, đắp y đi khất thực rồi đi thẳng đến nhà của nàng ​​Diṭṭhamaṅgalikā.

sā taṃ dvāre ṭhitaṃ disvā asañjānantī — “aticchatha, bhante, caṇḍālānaṃ vasanaṭṭhānametan”ti āha. bodhisatto tattheva aṭṭhāsi. sā punappunaṃ olokentī sañjānitvā hatthehi uraṃ paharitvā viravamānā pādamūle patitvā āha — “yadi te sāmi edisaṃ cittaṃ atthi, kasmā maṃ mahatā yasā parihāpetvā anāthaṃ akāsī”ti. nānappakāraṃ paridevaṃ paridevitvā akkhīni puñchamānā uṭṭhāya bhikkhābhājanaṃ gahetvā antogehe nisīdāpetvā bhikkhaṃ adāsi. mahāpuriso bhattakiccaṃ katvā āha — “diṭṭhamaṅgalike mā soci mā paridevi, ahaṃ tuyhaṃ pādadhovanaudakena sakalajambudīpe rājūnaṃ abhisekakiccaṃ kāretuṃ samattho, tvaṃ pana M.3.53 ekaṃ mama vacanaṃ karohi, nagaraṃ pavisitvā ‘na mayhaṃ sāmiko caṇḍālo, mahābrahmā mayhaṃ sāmiko’ti ugghosayamānā sakalanagaraṃ carāhī”ti.

Nàng nhìn thấy Bồ tát đứng ở gần cánh cổng (nhưng) không nhận ra ngài (nàng) đã nói: “Thưa ngài, mời ngài đi về phía trước, đây là chỗ ở của nhóm người hạ tiện”. Bồ tát cũng đứng ngay tại chỗ ấy, nàng nhìn đi nhìn lại rồi cũng đã nhớ được, dùng tay đánh vào ngực, khóc lóc, ngã xuống gần chân ngài nói rằng – “Nếu như ngài còn có tâm như vậy, tại sao ngài làm cho tôi mất đi danh vọng lớn lao, làm cho mất đi chỗ nương nhờ, nàng khóc lóc thảm thiết, lâu hai bên dòng lệ đứng dậy, tiếp nhận vật dụng đựng vật thực rồi thỉnh mời ngài ngồi ở bên trong ngôi nhà rồi cúng dường vật thực. Sau khi bậc Đại nhân thọ dụng xong vật thực đã nói rằng – “Này Diṭṭhamaṅgalikā, nàng đừng đau buồn, đừng than khóc, ta có thể làm cho phận sự là việc rải nước các vị vua trong toàn cõi Jambudīpa bằng nước rửa chân của nàng, nhưng nàng phải làm theo lời nói của ta, nàng hãy đi vào thành ‘loan báo hết thành phố ‘phu quân của ta không phải là dòng dõi hạ tiện, mà phu quân của ta là vua trời Đại Phạm thiên.”

evaṃ vutte diṭṭhamaṅgalikā — “pakatiyāpi ahaṃ sāmi mukhadoseneva byasanaṃ pattā, na sakkhissāmevaṃ vattun”ti āha. bodhisatto — “kiṃ pana tayā mayhaṃ agāre vasantassa alikavacanaṃ sutapubbaṃ, ahaṃ tadāpi alikaṃ na bhaṇāmi, idāni pabbajito kiṃ vakkhāmi, saccavādī puriso nāmāhan”ti vatvā — “ajja pakkhassa aṭṭhamī, tvaṃ ‘ito sattāhassaccayena uposathadivase mayhaṃ sāmiko mahābrahmā candamaṇḍalaṃ bhinditvā mama santikaṃ āgamissatī’ti sakalanagare ugghosehī”ti vatvā pakkāmi.

Khi Bồ tát nói như vậy thì nàng Diṭṭhamaṅgalikā cũng nói rằng – “thưa ngài, ngay cả bình thường tôi cũng đã nhận được sự tổn thương bởi lỗi lầm của cái miệng cho nên mới không thể nói được”. Bồ tát nói rằng – “Trong khi ta vẫn còn sống tại gia, nàng đã từng nghe lời nói vô nghĩa chăng? ta không nói lời vô nghĩa, thậm chí trong lần đó, bây giờ ta đã xuất gia thì nói lời nói vô nghĩa để làm gì? ta được gọi là bậc Đại nhân, chỉ nói lời chân thật,” rồi nói tiếp – “hôm nay là ngày mùng tám của mỗi nửa tháng nàng hãy loan báo, trong ngày bố tát uposatha trôi qua 7 ngày kể từ ngày hôm nay, vua trời Đại Phạm phu quân của ta sẽ phá hủy vòng tròn mặt trăng rồi đến trú xứ của ta” sau khi nói xong đã ra đi.

sā V.3.54 saddahitvā haṭṭhatuṭṭhā sūrā hutvā sāyaṃpātaṃ nagaraṃ pavisitvā tathā ugghosesi. manussā pāṇinā pāṇiṃ paharantā — “passatha, amhākaṃ diṭṭhamaṅgalikā caṇḍālaputtaṃ mahābrahmānaṃ karotī”ti hasantā keḷiṃ karonti. sā punadivasepi tatheva sāyaṃpātaṃ pavisitvā — “idāni chāhaccayena, pañcāha-catūha-tīha-dvīha-ekāhaccayena mayhaṃ sāmiko mahābrahmā candamaṇḍalaṃ bhinditvā mama santikaṃ āgamissatī”ti ugghosesi.

Nàng đã có niềm tin, đã vui mừng phấn khởi và can đảm tiến vào thành phố vào thời gian buổi sáng và chiều đều loan báo như vậy. Mọi người vỗ tay, cười đùa, chế nhạo, nói rằng: “Nhìn kìa, nàng Diṭṭhamaṅgalikā của chúng ta! Đã khiến cho đứa con dòng dõi hạ tiện trở thành một vị vua trời Đại Phạm thiên” Dầu vậy ngày hôm sau nàng cũng đi vào buổi sáng và buổi tối để loan báo như vậy – “Bây giờ 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 6 ngày đã trôi qua, khi Đại Phạm thiên phu quân của ta phá hủy vòng tròn mặt trăng, vị ấy sẽ đến chỗ của tôi”.

brāhmaṇā P.3.76 cintayiṃsu — “ayaṃ diṭṭhamaṅgalikā atisūrā hutvā katheti, kadāci evaṃ siyā, etha mayaṃ diṭṭhamaṅgalikāya vasanaṭṭhānaṃ paṭijaggāmā”ti cammagehassa bāhirabhāgaṃ samantā tacchāpetvā vālikaṃ okiriṃsu. sāpi uposathadivase pātova nagaraṃ pavisitvā “ajja mayhaṃ sāmiko āgamissatī”ti ugghosesi. brāhmaṇā cintayiṃsu — “ayaṃ bho na dūraṃ apadissati, ajja kira mahābrahmā āgamissati, vasanaṭṭhānaṃ saṃvidahāmā”ti cammagehaṃ samajjāpetvā haritūpalittaṃ ahatavatthehi parikkhipitvā mahārahaṃ pallaṅkaṃ attharitvā upari celavitānaṃ bandhitvā gandhamāladāmāni osārayiṃsu. tesaṃ paṭijaggantānaṃyeva sūriyo atthaṃ gato.

Các Bà-la-môn nghĩ rằng – “Nàng Diṭṭhamaṅgalikā này đã qua dũng cảm để lên tiếng, đôi khi có thể có, có thể trở nên như vậy, hãy đến chúng tôi sẽ sắp xếp chỗ ở cho nàng Diṭṭhamaṅgalikā, rồi trợ giúp nhau dọn dẹp sạch sẽ đường xá xung quanh bên ngoài ngôi nhà được bọc bằng da rồi rải cát, nàng đi vào thành phố từ sáng sớm vào ngày trai giới uposatha để loan báo rằng: “ngày hôm nay phu quân của ta sẽ đến”. Các Bà-la-môn nghĩ rằng – “Nàng Diṭṭhamaṅgalikā này đề cập đến một ngày không xa, biết rằng ngày hôm nay Đại Phạm thiên sẽ đến, chúng ta sẽ cùng sắp đặt chỗ ở” rồi quét dọn ngôi nhà được bọc bằng da cho sạch sẽ, làm cho mặt đất trở nên xanh tươi, bao quanh bằng những tấm vải mới, trải chỗ ngồi phù hợp kích thước lớn, sơn vẽ trần vải ở phía trên, treo hương thơm và tràng hoa, trong khi Bà-la-môn ấy đang sắp xếp thì mặt trời cũng đã lặn.

mahāpuriso cande uggatamatte abhiññāpādakajjhānaṃ samāpajjitvā vuṭṭhāya kāmāvacaracittena parikammaṃ katvā iddhicittena dvādasayojanikaṃ brahmattabhāvaṃ māpetvā vehāsaṃ abbhuggantvā candavimānassa anto pavisitvā M.3.54 vanantato abbhussakkamānaṃ candaṃ bhinditvā candavimānaṃ ohāya purato hutvā “mahājano maṃ passatū”ti adhiṭṭhāsi. mahājano disvā — “saccaṃ, bho, diṭṭhamaṅgalikāya vacanaṃ, āgacchantaṃ mahābrahmānaṃ pūjessāmā”ti gandhamālaṃ ādāya diṭṭhamaṅgalikāya gharaṃ parivāretvā aṭṭhāsi. mahāpuriso matthakamatthakena sattavāre bārāṇasiṃ anuparigantvā mahājanena diṭṭhabhāvaṃ ñatvā dvādasayojanikaṃ attabhāvaṃ vijahitvā manussappamāṇameva māpetvā mahājanassa passantasseva cammagehaṃ pāvisi. mahājano disvā — “otiṇṇo no mahābrahmā, sāṇiṃ āharathā”ti nivesanaṃ mahāsāṇiyā parikkhipitvā parivāretvā P.3.77 ṭhito.

Khi mặt trời xuất hiện bậc Đại nhân đã thể nhập vào pādakajjhāna (thiết lập nền tảng thiền) và thần thông, xuất khởi thần thông rồi thực hành parikamma (chuẩn bị) với tâm Dục giới, hóa hiện sắc thân Phạm thiên ước chừng mười hai do-tuần bằng tâm phối hợp với thần thông bay lên hư không, đi vào bên trong cung điện mặt trăng phá hủy vong tròn mặt trăng đang di chuyển từ bìa rừng, sau khi phá hủy vòng tròn mặt trăng (vị ấy) đứng ở phía trước phát nguyện rằng ‘Mong cho dân chúng hãy nhìn thấy ta’. Dân chúng sau khi nhìn thấy cũng nói rằng: – ‘Kinh bạch ngài lời nói của nàng Diṭṭhamaṅgalikā là thật, vua trời Đại Phạm thiên đã đến, chúng ta sẽ đảnh lễ ngài” rồi cầm lấy hương thơm và tràng hoa đứng vây quanh ngôi nhà của nàng Diṭṭhamaṅgalikā. Bậc Đại nhân bay vòng quanh thành Bārāṇasī 7 lần ở trên đầu, biết rằng dân chúng đã nhìn thấy sắc thân khoảng mười hai do-tuần rồi hóa hiện trở lại người bình thường, khi dân chúng đang nhìn thì ngài cũng đã đi vào ngôi nhà được bọc bằng da. Dân chúng sau khi nhìn thấy ngài đã nói – “Vua trời Đại Phạm thiên của chúng ta đã đến, các ngươi hãy mang tấm màn” sau khi bao quanh ngôi nhà bằng tấm màn loại lớn rồi đứng đó.

mahāpurisopi sirisayanamajjhe nisīdi. diṭṭhamaṅgalikā samīpe aṭṭhāsi. atha naṃ pucchi V.3.55 “utusamayo te diṭṭhamaṅgalike”ti. āma ayyāti. mayā dinnaṃ puttaṃ gaṇhāhīti aṅguṭṭhakena nābhimaṇḍalaṃ phusi. tassā parāmasaneneva gabbho patiṭṭhāsi. mahāpuriso — “ettāvatā te diṭṭhamaṅgalike pādadhovanaudakaṃ sakalajambudīpe rājūnaṃ abhisekodakaṃ bhavissati, tvaṃ tiṭṭhā”ti vatvā brahmattabhāvaṃ māpetvā passantasseva mahājanassa nikkhamitvā vehāsaṃ abbhuggantvā caṇḍamaṇḍalameva paviṭṭho. sā tato paṭṭhāya brahmapajāpatī nāma jātā. pādadhovanaudakaṃ labhanto nāma natthi.

Thậm chí bậc Đại nhân cũng ngồi ở giữa chỗ nằm có sự chói sáng. Nàng Diṭṭhamaṅgalikā cũng đứng gần. Khi đó bậc Đại nhân cũng hỏi nàng “Này Diṭṭhamaṅgalikā đã tới thời kì kinh nguyệt phải chăng?” Dạ phải thưa ngài. Nàng hãy nhận lấy đứa con trai mà ta cho, rồi dùng đầu ngón tay chạm vào vùng bụng (của nàng). Chỉ bằng việc chạm vào vùng bụng mà nàng đã thọ thai. Bậc Đại nhân nói rằng – “Này Diṭṭhamaṅgalikā chỉ chừng ấy, nước rửa chân của nàng sẽ trở thành nước dâng cúng đến các đức vua trong toàn cõi Jambudīpa, nàng hãy đứng lên như thế, rồi hóa hiện sắc thân Phạm thiên, khi đang nhìn thì vị ấy cũng rời khỏi nhà bay lên hư không, đi vào vòng tròn mặt trăng ấy. Kể từ đó trở đi nàng được gọi là brahmapajāpatī (đấng Brahmā vị chúa của loài người), vẫn chưa có ai nhận được nước rửa chân (của nàng).

brāhmaṇā — “brahmapajāpatiṃ antonagare vasāpessāmā”ti suvaṇṇasivikāya āropetvā yāva sattamakoṭiyā aparisuddhajātikassa sivikaṃ gahetuṃ na adaṃsu. soḷasa jātimantabrāhmaṇā gaṇhiṃsu. sesā gandhapupphādīhi pūjetvā nagaraṃ pavisitvā — “na sakkā, bho, ucchiṭṭhagehe brahmapajāpatiyā vasituṃ, vatthuṃ gahetvā gehaṃ karissāma, yāva pana taṃ karīyati, tāva maṇḍapeva vasatū”ti maṇḍape vasāpesuṃ.

Nhóm Bà-la-môn hội ý với nhau – “Chúng ta sẽ mời Brahmapajāpatī (đấng Brahmā vị chúa của loài người) đi vào bên trong thành phố” cho sử dụng kiệu vàng không cho phép người có dòng giống bảy đời không thanh tịnh khiêng kiệu. Bà-la-môn có dòng dõi và biết 16 loại chú thuật khiêng kiệu, những người còn lại cung kính lễ bái bằng vật thơm và tràng hoa v.v, đi vào thành phố hội ý với nhau rằng – “Này các ngài, brahmapajāpati không thể ở trong nhà mà bản thân đã từng ở được, chúng ta sẽ tìm kiếm một mãnh đất để xây nhà cho nàng, nàng hãy ở chỗ Maṇḍapa cho đến khi chúng ta xây dựng xong,” rồi sắp xếp chỗ ở cho nàng ở Maṇḍapa.

tato paṭṭhāya cakkhupathe ṭhatvā vanditukāmā kahāpaṇaṃ datvā vandituṃ labhanti, savanūpacāre vanditukāmā sataṃ datvā labhanti, āsanne pakatikathaṃ savanaṭṭhāne vanditukāmā pañcasatāni datvā labhanti, pādapiṭṭhiyaṃ sīsaṃ ṭhapetvā vanditukāmā sahassaṃ datvā labhanti, pādadhovanaudakaṃ patthayamānā dasasahassāni datvā labhanti. bahinagarato antonagare yāva maṇḍapā āgacchantiyā laddhadhanaṃyeva koṭisatamattaṃ ahosi.

Từ đó trở đi mọi người đã đứng nhìn qua lộ trình của mắt có ý định đảnh lễ để được đảnh lễ phải bố thí một đồng tiền vàng kahāpana, những người có ý định đảnh lể ở khu vực đủ để nghe được tiếng để được đảnh lễ phải bố thí một trăm đồng tiền vàng kahāpana, những người có ý định đảnh lễ ở khu vực gần hơn để nghe được âm thanh bình thường phải bố thí năm trăm đồng tiền vàng kahāpana, những người muốn cúi đầu đảnh lễ ở đôi bàn chân phải bố thí một nghìn đồng tiền vàng kahāpana. Kể từ lúc nàng đến từ bên ngoài thành để đi đến Maṇḍapa ở bên trong thành đã có được một trăm Koṭi đồng tiền vàng kahāpana.

sakalajambudīpo M.3.55 saṅkhubhi, tato sabbarājāno “brahmapajāpatiyā pādadhovanena P.3.78 abhisekaṃ karissāmā”ti satasahassaṃ pesetvā labhiṃsu. maṇḍape vasantiyā eva gabbhavuṭṭhānaṃ ahosi. mahāpurisaṃ paṭicca laddhakumāro pāsādiko ahosi lakkhaṇasampanno. mahābrahmuno putto jātoti sakala jambudīpo ekakolāhalo ahosi. kumārassa khīramaṇimūlaṃ hotūti tato tato āgatadhanaṃ koṭisahassaṃ ahosi. ettāvatā nivesanampi niṭṭhitaṃ. kumārassa nāmakaraṇaṃ karissāmāti nivesanaṃ sajjetvā kumāraṃ gandhodakena nhāpetvā alaṅkaritvā maṇḍape jātattā maṇḍabyotveva nāmaṃ akaṃsu.

Toàn bộ cõi Jambudīpa cũng đều dậy sóng. Sau đó tất cả các vị vua nghĩ rằng: “chúng ta sẽ thực hành lễ quán đảnh bằng nước rửa chân của brahmapajāpati” đã gởi đi một trăm nghìn đồng tiền vàng để có thể nhận được nước. Nàng đang ở trong Maṇḍapa đó đã hạ sanh một đứa bé trai, đưa bé được sự trợ giúp của bậc đại nhân đã trở thành đứa bé dễ thương, thành tựu đầy đủ với các tướng trạng. Toàn bộ Jambudīpa đồng reo hò con trai của vua trời Đại Phạm thiên, tài sản nhận được từ người ở đó ở đó khoảng một nghìn koṭi đồng tiền vàng kahāpana với mong muốn trả tiền sữa của đứa bé trai kể cả chỗ ở được hoàn thành bằng số tiền có được chừng ấy. Mọi người hội ý với nhau rằng “chúng ta sẽ đặt tên cho đứa bé, trang trí chỗ ở, cho đứa bé tắm với nước thơm, sau khi trang điểm đã đặt tên cho đứa bé là Maṇḍabya bởi vì sanh ra ở Maṇḍapa.

kumāro sukhena saṃvaḍḍhamāno sippuggahaṇavayapattoti sakalajambudīpe sippajānanakā tassa santike āgantvā sippaṃ sikkhāpenti. kumāro medhāvī paññavā sutaṃ sutaṃ mutaṃ āvuṇanto viya V.3.56 gaṇhāti, gahitagahitaṃ suvaṇṇaghaṭe pakkhittatelaṃ viya tiṭṭhati. yāvatā vācuggatā pariyatti atthi, tena anuggahitā nāma nāhosi. brāhmaṇā taṃ parivāretvā caranti, sopi brāhmaṇabhatto ahosi. gehe asītibrāhmaṇasahassāni niccabhattaṃ bhuñjanti. gehampissa sattadvārakoṭṭhakaṃ mahantaṃ ahosi. gehe maṅgaladivase jambudīpavāsīhi pesitadhanaṃ koṭisahassamattaṃ ahosi.

Đứa bé (kumāra) lớn lên với sự hạnh phúc, tới tuổi học nghệ, vị uyên thâm nghệ thuật trong toàn cõi Jambudīpa cũng đi đến trú xứ của kumāra để dạy cho vị ấy học. Kumāra là bậc hiền minh, là bậc trí tuệ, học tập nghiên cứu các môn nghệ thuật đã được nghe, đã được nghe giống như trăm viên ngọc quý, những môn học đã được học rồi (vị ấy) ghi nhớ tựa như dầu được đựng trong cái hủ vàng, khi pariyatti đạt được bằng giọng, vì thế (cũng đồng nghĩa) không có pariyatti nào mà kumāra không được học. Các Bà-la-môn cũng vây quanh bé trai ấy đi du hành, thậm chi kumāra ấy cũng có thêm một tên gọi nữa là Brāhmaṇabhatta (người đã được Bà-la-môn nuôi dưỡng). Tám nghìn Bà-la-môn thọ nhận bữa ăn thường kỳ trong nhà, ngôi nhà của kumāra ấy cũng rộng lớn có đến bảy cánh cửa chính. Tài sản mà người dân Jambudīpa gởi cho vào ngày maṅgala trong ngôi nhà cũng rơi vào khoảng trăm ngàn koṭi.

bodhisatto āvajjesi — “pamatto nu kho kumāro appamatto”ti. athassa taṃ pavattiṃ ñatvā — “brāhmaṇabhatto jāto, yattha dinnaṃ mahapphalaṃ hoti, taṃ na jānāti, gacchāmi naṃ damemī”ti cīvaraṃ pārupitvā bhikkhābhājanaṃ gahetvā — “dvārakoṭṭhakā atisambādhā, na sakkā koṭṭhakena pavisitun”ti ākāsenāgantvā asītibrāhmaṇasahassānaṃ bhuñjanaṭṭhāne ākāsaṅgaṇe otari. maṇḍabyakumāropi P.3.79 suvaṇṇakaṭacchuṃ gāhāpetvā — “idha sūpaṃ detha idha odanan”ti parivisāpento bodhisattaṃ disvā daṇḍakena ghaṭṭitāasiviso viya kupitvā imaṃ gāthamāha —

Đức Bồ tát cũng đề cập – “Phải chăng đứa trẻ xao lãng hay không xao lãng?” (vị ấy) luôn biết chuyện của kumāra ấy nghĩa rằng: “Kumāra đã ra đời, được Bà-la-môn nuôi dưỡng, còn bố thí ở ruộng (phước) nào có quả lớn thì vị ấy vẫn chưa biết được, ta sẽ đi dạy bảo vị ấy” mới đắp y mang theo bát đựng thức ăn, nghĩ rằng “các cổng ra vào quá chật hẹp, ta không thể đi vào bằng các cổng đó” mới đến bằng đường hư không, hạ xuống khoảng trống nơi tám mươi nghìn vị Bà-la-môn thọ dụng vật thực, ngay cả kumāra-maṇḍabya cũng cho người cầm cái thìa bằng vàng cúng dường (Bà-la-môn) ra lệnh “các ngươi hãy cúng dường cơm ở chỗ này, cúng dường cơm ở chỗ này.” Khi nhìn nhìn thấy Bồ tát khởi lên sự giận dữ giống như con rắn độc bị đánh đập bằng cây gậy, đã nói lên kệ ngọn này –

kuto M.3.56 nu āgacchasi dummavāsī, otallako paṃsupisācakova.

saṅkāracoḷaṃ paṭimuñca kaṇṭhe, ko re tuvaṃ hosi adakkhiṇeyyo”ti. (jā. 1.15.1).

atha naṃ mahāsatto akujjhitvāva ovadanto āha —

Ngươi ăn mặc dơ dáy, tồi tàn, tựa như loài yêu tinh ở đống rác, ngươi buộc mảnh vải lượm từ đống rác ở cổ? Thế ngươi từ đâu đi đến? Ngươi là ai mà? Ngươi sẽ không được cúng dường.” (jā. 1.15.1).

Lúc đó, bậc Đại nhân không khởi lên giận dữ, đã khuyên dạy rằng

annaṃ tavedaṃ pakataṃ yasassi, taṃ khajjare bhuñjare piyyare ca.

jānāsi maṃ tvaṃ paradattūpajīviṃ, uttiṭṭha piṇḍaṃ labhataṃ sapāko”ti. (jā. 1.15.2). so nayidaṃ tumhādisānaṃ paṭiyattanti dassento āha —

Vật thực này của ngài được chuẩn bị sẵn giành cho người có danh vọng; mọi người nhai nó, ăn nó, và uống nó. Ngài biết rằng tôi có cuộc sống nương vào sự bố thí của người khác, dầu là kẻ hạ tiện cũng xin cho miếng cơm do đứng chầu chực.” kumāra-maṇḍabya chỉ rằng vật thực này không phải chuẩn bị giành cho người như ngài, đã nói rằng –

annaṃ V.3.57 mamedaṃ pakataṃ brāhmaṇānaṃ,

atthatthitaṃ saddahato mamedaṃ.

apehi etto kimidhaṭṭhitosi,

na mādisā tuyhaṃ dadanti jammā”ti. (jā. 1.15.3).

Vật thực này của ta chuẩn bị sẵn cho các vị Bà-la-môn. Vật thực này là của ta, của người có đức tin, vì lợi ích cho bản thân. Ngươi hãy rời khỏi chỗ này. Ngươi đứng ở chỗ này để làm gì? Người như ta không bố thí cho ngươi đâu đồ hèn hạ.”

atha bodhisatto “dānaṃ nāma saguṇassapi nigguṇassapi yassa kassaci dātabbaṃ, yathā hi ninnepi thalepi patiṭṭhāpitaṃ bījaṃ pathavīrasaṃ āporasañca āgamma sampajjati, evaṃ P.3.80 nipphalaṃ nāma natthi, sukhette vapitabījaṃ viya guṇavante mahapphalaṃ hotī”ti dassetuṃ imaṃ gāthamāha —

Lúc đó Bồ tát trong khi chỉ ra rằng “Gọi là bố thí, nên cho đến bất người ai (đáng cho), có cả đức hạnh và có cả không có đức hạnh, giống như hạt giống được người trồng ở chỗ thấp hay ở chỗ cao, sống nương nhờ vị của đất và vị của nước mà cho đơm hoa kết trái thế nào, thì việc bố thí được gọi là không có kết quả cũng không có như thế ấy, việc bố thí cho người có đức hạnh có kết quả nhiều giống như hạt giống được trồng ở ruộng đất tốt màu mỡ thế ấy.

thale ca ninne ca vapanti bījaṃ, anūpakhette phalamāsamānā.

etāya saddhāya dadāhi dānaṃ, appeva ārādhaye dakkhiṇeyye”ti. (jā. 1.15.4).

atha kumāro kodhābhibhūto — “kenimassa muṇḍakassa paveso dinno”ti dvārarakkhādayo tajjetvā —

Những người mong mỏi về thành quả gieo, gieo hạt giống xuống nơi đất bằng, ở đất thấp, và ở cánh đồng đẫm nước thể nào, ngài hãy bó thí với đức tin ấy thế ấyt vật thí với niềm tin như thế ấy, có lẽ ngài có thể có được các bậc xứng đáng cúng dường.” (jā. 1.15.4).

Khi ấy, Kumāra rất tức giận, quát thật lớn tiếng vào người gác cổng v.v, – “Ai cho kẻ trọc đầu này vào” rồi nói lên kệ ngôn –

khettāni M.3.57 mayhaṃ viditāni loke,

yesāhaṃ bījāni patiṭṭhapemi.

ye brāhmaṇā jātimantūpapannā,

tānīdha khettāni supesalānī”ti. (jā. 1.15.5) —

gāthaṃ vatvā “imaṃ jammaṃ veṇupadarena pothetvā gīvāyaṃ gahetvā sattapi dvārakoṭṭhake atikkamitvā bahi nīharathā”ti āha. atha naṃ mahāpuriso āha —

Các thửa ruộng gieo trông các hạt giống ở thế gian đã được ta biết đến, các vị Bà-la-môn nào thành tựu về dòng dõi và các chú thuật; thì những vị Bà-la-môn đó là các thửa ruộng ở chỗ ấy có giới, là nơi yêu thương, là ruộng phước ở thế gian này.” (jā. 1.15.5).

Sau khi nói kệ ngôn rồi ra lệnh “các ngươi hãy lôi kẻ hèn hạ này bằng gậy, túm cổ lôi ra bên ngoài, đi qua bảy cánh cổng, khi ấy bậc Đại nhân đã nói với vị ấy rằng –

giriṃ nakhena khaṇasi, ayo dantebhi khādasi.

jātavedaṃ padahasi, yo isiṃ paribhāsasī”ti. (jā. 1.15.9).

evañca V.3.58 pana vatvā — “sace myāyaṃ hatthe vā pāde vā gaṇhāpetvā dukkhaṃ uppādeyya, bahuṃ apuññaṃ pasaveyyā”ti sattānuddayatāya vehāsaṃ abbhuggantvā antaravīthiyaṃ otari. bhagavā sabbaññutaṃ patto tamatthaṃ pakāsento imaṃ gāthamāha —

Kẻ nào đã mắng nhiếc bậc ẩn sĩ, kẻ ấy cũng giống như đã đào bới ngọn núi bằng móng tay, đã nhai sắt bằng răng, đã nuốt vào ngọn lửa.”

Khi đã nói như vậy – “Nếu như Kumāra này có thế cho ta nắm lấy ở bàn tay, bàn chân sẽ làm cho khổ đau sanh khởi, có thể cảm nghiệm được những thứ phần nhiều không phải phước, do sự quan sát chúng sinh, mới bay lên không trung, rồi đi xuống giữa đường. Đức Thế Tôn chứng đắc quả vị Toàn Giác khi tuyên thuyết về câu đó mới nói rằng:

idaṃ vatvāna mātaṅgo, isi saccaparakkamo.

antalikkhasmiṃ pakkāmi, brāhmaṇānaṃ udikkhatan”ti. (jā. 1.15.10).

tāvadeva nagararakkhikadevatānaṃ jeṭṭhakadevarājā maṇḍabyassa gīvaṃ parivattesi. tassa mukhaṃ parivattetitvā P.3.81 pacchāmukhaṃ jātaṃ, akkhīni parivattāni, mukhena kheḷaṃ vamati, sarīraṃ thaddhaṃ sūle āropitaṃ viya ahosi. asītisahassā paricārakayakkhā asītibrāhmaṇasahassāni tatheva akaṃsu. vegena gantvā brahmapajāpatiyā ārocayiṃsu. sā taramānarūpā āgantvā taṃ vippakāraṃ disvā gāthamāha —

Sau khi nói điều này, Mātaṅga, vị ẩn sĩ có sự chân thật và nỗ lực, đã bước đi ở trên không trung để cho các vị Bà-la- môn chiêm ngưỡng. (jā. 1.15.10).

Chỉ bấy nhiêu đó vua Trời dẫn đầu chúng Thiên bảo vệ thành cũng bóp cổ của Maṇḍabya-kumāra, mặt của vị ấy quay về phía sau, mắt nhắm, nước mắt chảy xuống miệng, người cứng đơ như thể bị cây lao đâm xuyên, các Dạ-xoa là kẻ thù nghịch số luộng tám mươi nghìn Dạ-xoa cũng làm cho tám mươi nghìn Bà-la-môn y như vậy, mọi người vội chạy đi báo cho Nàng Brahmapajāpati. Nàng vội vàng chạy đến nhìn thấy hiện tượng lạ đã nói như vầy –

āvedhitaṃ piṭṭhito uttamaṅgaṃ, bāhuṃ pasāreti akammaneyyaṃ.

setāni akkhīni yathā matassa, ko me imaṃ puttamakāsi evan”ti. (jā. 1.15.11).

athassā M.3.58 ārocesuṃ —

Cái đầu đã bị vặn ngược về phía sau. Nó xuội cánh tay không còn làm gì được. Các con mắt trắng dã giống như của người chết. Kẻ nào đã làm cho đứa con trai này của ta trở nên như vậy?” (jā. 1.15.11). Mọi người đã nói cùng nàng rằng –

idhāgamā samaṇo dummavāsī, otallako paṃsupisācakova,

saṅkāracoḷaṃ paṭimuñca kaṇṭhe, so te imaṃ puttamakāsi evan”ti. (jā. 1.15.12).

sā sutvāva aññāsi — “mayhaṃ yasadāyako ayyo anukampāya puttassa pamattabhāvaṃ ñatvā āgato bhavissatī”ti. tato upaṭṭhāke pucchi —

Có vị Sa-môn ăn mặc dơ dáy, tồi tàn, tựa như loài yêu tinh ở đống rác, đã có buộc mảnh vải lượm từ đống rác ở cổ đã đi đến nơi này. Vị ấy đã làm cho đứa con trai này của bà trở nên như vậy.”

Sau khi nghe xong nàng biết rõ – “chủ nhân ngài ban tước vị đến ta biết rằng đứa con trai bản chất xao lãng, có thể đến vì lòng thương tưởng đứa con này”. Do đó mới hỏi người chăm nom săn sóc rằng:

katamaṃ V.3.59 disaṃ agamā bhūripañño,

akkhātha me māṇavā etamatthaṃ.

gantvāna taṃ paṭikaremu accayaṃ,

appeva naṃ putta labhemu jīvitan”ti. (jā. 1.15.13).

te āhaṃsu —

vehāyasaṃ agamā bhūripañño,

pathaddhuno pannaraseva cando.

apicāpi P.3.82 so purimadisaṃ agacchi,

saccappaṭiñño isi sādhurūpo”ti. (jā. 1.15.14).

Bậc có trí tuệ uyên bác tựa như quả địa cầu đã đi về hướng nào? Này các thanh niên Bà-la- môn, các ngươi hãy nói việc ấy cho ta. Ta hãy đi đến (gặp vị ẩn sĩ) và sám hối lỗi lầm ấy, có lẽ con trai của ta có thể nhận được lại được mạng sống.”

Họ cũng đáp rằng:

Bậc có trí tuệ uyên bác tựa như quả địa cầu đã đi theo đường hư không, như mặt trăng di chuyển ở vào giữa hư không vào ngày rằm. Hơn nữa, vị ẩn sĩ có sự công nhận về pháp chân thật, có dáng vóc tốt đẹp ấy, đã bay về hướng đông.”

mahāpurisopi antaravīthiyaṃ otiṇṇaṭṭhānato paṭṭhāya — “mayhaṃ padavaḷañjaṃ hatthiassādīnaṃ vasena mā antaradhāyittha, diṭṭhamaṅgalikāyeva naṃ passatu, mā aññe”ti adhiṭṭhahitvā piṇḍāya caritvā yāpanamattaṃ missakodanaṃ gahetvā paṭikkamanasālāyaṃ nisinno bhuñjitvā thokaṃ bhuttāvasesaṃ bhikkhābhājaneyeva ṭhapesi. diṭṭhamaṅgalikāpi pāsādā oruyha antaravīthiṃ paṭipajjamānā padavaḷañjaṃ disvā — “idaṃ mayhaṃ yasadāyakassa ayyassa padan”ti padānusārenāgantvā vanditvā āha — “tumhākaṃ, bhante, dāsena katāparādhaṃ mayhaṃ khamatha, na hi tumhe kodhavasikā nāma, detha me puttassa jīvitan”ti.

Thậm chí bậc Đại nhân cũng chú nguyện rằng “Kể từ vị trí bước xuống giữa đường, dấu chân của ta đừng biến mất bởi sức mạnh của loài voi loài ngựa v.v, chỉ mình nàng Diṭṭhamaṅgalikā hãy nhìn thấy được ta, người khác không thấy ta” rồi ngài đi khất thực, thọ nhận đồ ăn nấu chín vừa đủ để duy trì mạng sống, ngồi thọ thực ở lều nghỉ của khách bộ hành, đặt một ít đồ ăn thọ dụng còn dư vào bát đựng thức ăn. Ngay cả khi Diṭṭhamaṅgalikā từ lâu đài đi xuống ở giữa đường, bắt gặp được dấu chân, biết được rằng đây là dấu chân của chủ nhân ban tước vị cho ta, nàng đi theo dấu chân (sau khi găp) đã đảnh lễ rồi nói rằng – “Kính thưa ngài, xin ngài hãy tha thứ lỗi lầm mà những người hầu của tôi đã gây ra, ngài được gọi là vị không trú trong mãnh lực của sự sân hận, hãy tha mạng cho đứa con trai của thần thiếp”.

evañca pana vatvā —

āvedhitaṃ M.3.59 piṭṭhito uttamaṅgaṃ, bāhuṃ pasāreti akammaneyyaṃ.

setāni akkhīni yathā matassa, ko me imaṃ puttamakāsi evan”ti. (jā. 1.15.15) —

āthaṃ V.3.60 abhāsi. mahāpuriso āha — “na mayaṃ evarūpaṃ karoma, pabbajitaṃ pana hiṃsante disvā pabbajitesu sagāravāhi bhūtayakkhadevatāhi kataṃ bhavissatī”ti.

Và rồi như vậy nàng đã nói ra lên kệ ngôn –

Cái đầu đã bị vặn ngược về phía sau. Nó xuội cánh tay không làm được bất cứ điều gì. Đôi mắt trắng dã giống như của người chết. Kẻ nào đã làm cho đứa con trai này của ta trở nên như vậy?”

Bậc Đại nhân nói rằng – “Ta không làm như thế, nhưng khi chúng Dạ-xoa và chúng chư Thiên tôn kính đối với vị xuất gia, sau khi nhìn thấy vị xuất gia bị ngược đãi không thể kham nhẫn được đã làm (điều đó).

kevalaṃ, bhante, tumhākaṃ manopadoso mā hotu, devatāhi kataṃ hotu, sukhamāpayā P.3.83, bhante, devatā, apicāhaṃ, bhante, kathaṃ paṭipajjāmīti. tena hi osadhaṃ te kathessāmi, mama bhikkhābhājane bhuttāvasesaṃ bhattamatthi, tattha thokaṃ udakaṃ āsiñcitvā thokaṃ gahetvā tava puttassa mukhe pakkhipa, avasesaṃ udakacāṭiyaṃ āloḷetvā asītiyā brāhmaṇasahassānaṃ mukhe pakkhipāti. sā evaṃ karissāmīti bhattaṃ gahetvā mahāpurisaṃ vanditvā gantvā tathā akāsi.

Kính thưa ngài, ngài hoàn toàn không có tâm nghĩ làm hại, chắc chắn là nhóm chư Thiên đã làm, chúng chư Thiên xin sám hối dễ không? Tôi sẽ làm như thế nào thưa chủ nhân? Bậc Đại nhân đã nói rằng “nếu như vậy, ta sẽ nói thuốc chữa trị cho nàng, vật thực còn lại mà ta đã thọ dụng vẫn còn đựng trong bát đựng của ta, nàng hãy đổ một ít nước vào trong bát đó rồi lấy chút ít đặt vào miệng đứa con trai của nàng, phần còn lại hòa trộn vào một thùng nước rồi cho vào miệng của tám mươi nghìn vị Bà-la-môn. Nàng nhận lời rồi làm theo, sau khi cầm lấy vật thực đã đảnh lễ bậc Đại nhân, rồi đi làm theo lời đã dặn.

mukhe pakkhittamatte jeṭṭhakadevarājā — “sāmimhi sayaṃ bhesajjaṃ karonte amhehi na sakkā kiñci kātun”ti kumāraṃ vissajjesi. sopi khipitvā kiñci dukkhaṃ appattapubbo viya pakativaṇṇo ahosi. atha naṃ mātā avoca — “passa tāta tava kulupakānaṃ hirottapparahitānaṃ vippakāraṃ, samaṇā pana na evarūpā honti, samaṇe tāta bhojeyyāsī”ti. tato sesakaṃ udakacāṭiyaṃ āluḷāpetvā brāhmaṇānaṃ mukhe pakkhipāpesi. yakkhā tāvadeva vissajjetvā palāyiṃsu. brāhmaṇā khipitvā khipitvā uṭṭhahitvā kiṃ amhākaṃ mukhe pakkhittanti pucchiṃsu. mātaṅgaisissa ucchiṭṭhabhattanti. te “caṇḍālassa ucchiṭṭhakaṃ khādāpitamhā, abrāhmaṇā dānimhā jātā, idāni no brāhmaṇā ‘asuddhabrāhmaṇā ime’ti sambhogaṃ na dassantī”ti tato palāyitvā majjharaṭṭhaṃ gantvā majjharājassa nagare aggāsanikā brāhmaṇā nāma mayanti rājagehe bhuñjanti.

Khi vật thực được đặt vào miệng. Vị vua trời là người dẫn đầu biết rằng – “Khi chủ nhân tự mình làm thuốc chữa bệnh, chúng ta cũng không thể làm gì được, rồi thả Kumāra ra, Kamāra ấy nuốt thức ăn thì mọi biểu hiện trở lại bình thường giống như chưa từng bị bất kỳ khổ đau gì. Khi đó mẫu thân đã nói với Kamāra đó rằng – “Con ơi, con hãy nhìn hiện tượng lạ của các vị Bà-la-môn thường xuyên trong nhà của con không có sự hổ thẹn, sự ghê sợ này, là Sa-môn không xứng đáng với hình thức như thế, con hãy cho nhóm Sa-môn thọ dụng.” Sau đó bà cho người lấy phần vật thực còn lại trong lu nước rồi cho vào miệng các vị Bà-la-môn, các Dạ-xoa ngay lập tức buông (các vị Bà-la-môn) ra, rồi biến mất. Các Bà-la-môn nuốt thức ăn rồi đứng dậy hỏi rằng: “(các ngươi) đã lấy cái gì bỏ vào miệng của chúng tôi?” Bà đáp rằng: “Phần vật thực thừa của vị ẩn sĩ.” Các Bà-la-môn đó nghĩ rằng: “chúng tôi đã bị bắt buộc cho ăn vật thực thừa thãi của kẻ hạ tiện, không phải là Bà-la-môn, bây giờ những Bà-la-môn này không phải là Bà-la-môn thanh tịnh”, từ đó họ đã cùng nhau rời khỏi chỗ ấy đi đến xứ Majjha (suy tư rằng) chúng ta là Bà-la-môn đang khiếp sợ ở trong thành của vua Majjha, như thế rồi thọ dụng vật thực trong thành Rājageha.

tasmiṃ samaye bodhisatto pāpaniggahaṃ karonto mānajātike nimmadayanto vicarati. atheko “jātimantatāpaso nāma mayā sadiso M.3.60 natthī”ti aññesu saññampi na karoti. bodhisatto taṃ gaṅgātīre vasamānaṃ disvā “mānaniggahamassa karissāmī”ti tattha agamāsi P.3.84. taṃ jātimantatāpaso pucchi — “kiṃ jacco bhavan”ti? caṇḍālo ahaṃ ācariyāti. apehi caṇḍāla apehi caṇḍāla, heṭṭhāgaṅgāya vasa, mā uparigaṅgāya udakaṃ ucchiṭṭhamakāsīti.

Vào lúc đó Bồ tát đi du hành để nhiếp phục được những kẻ ác, những kẻ kiêu căng ngạo mạn. Khi ấy một vị ẩn sĩ tên là Jātimanta từ mình hiểu rằng không có ai ngang bằng ta, không chấp nhận dù chỉ là hiểu người khác. Bồ tát sau khi nhìn thấy ẩn sĩ đó trú ngụ ở bên bờ sông Gaṅgā đi đến nơi đó, với ý định “tôi sẽ nhiếp phục được ngã mạn của vị ẩn sĩ đó.” Đạo sĩ Jātimanta hỏi – “thưa ngài (ngài) là dòng dõi gì? – Ta là dòng dõi hạ tiện. – đi ngay kẻ hạ tiện đi ngay kẻ hạ tiện, hãy ở hạ nguồn sông Gaṅgā, đừng biến nước thượng nguồn sông Gaṅgā trở nên không trong sạch.

bodhisatto V.3.61 — “sādhu ācariya, tumhehi vuttaṭṭhāne vasissāmī”ti heṭṭhāgaṅgāya vasanto “gaṅgāya udakaṃ paṭisotaṃ sandatū”ti adhiṭṭhāsi. jātimantatāpaso pātova gaṅgaṃ oruyha udakaṃ ācamati, jaṭā dhovati. bodhisatto dantakaṭṭhaṃ khādanto piṇḍaṃ piṇḍaṃ kheḷaṃ udake pāteti. dantakaṭṭhakucchiṭṭhakampi tattheva pavāheti. yathā ce taṃ aññattha alaggitvā tāpasasseva jaṭāsu laggati, tathā adhiṭṭhāsi. kheḷampi dantakaṭṭhampi tāpasassa jaṭāsuyeva patiṭṭhāti.

Bồ tát cũng đáp lời – “lành thay thưa thầy, tôi sẽ ở chỗ mà ngài nói, rồi đi tới chỗ ở hạ nguồn dòng sông Gaṅgā, phát nguyện rằng: “Nước của dòng sông Gaṅgā hãy chảy ngược dòng.” Sáng sớm đạo sĩ Jātimanta đi xuống sống Gaṅgā xúc miệng, rửa mặt, làm sạch búi tóc. Bồ tát ấy nhai gỗ chà răng, nhổ nước bọt tưng tảng từng tảng xuống dòng nước, gôc chà rằng và nước bọt được nhổ trôi đến nơi vị đạo sĩ, Bồ tát phát nguyện rằng: “gỗ chà răng và nước bọt ấy đừng có dính vào chỗ khác, chỉ cho dính vào búi tóc của vị đạo sĩ mà thôi, cả nước bọt (và) cả gỗ chà răng chỉ dính vào búi tóc của vị đạo sĩ ấy.

tāpaso caṇḍālassidaṃ kammaṃ bhavissatīti vippaṭisārī hutvā gantvā pucchi — “idaṃ, bho caṇḍāla, gaṅgāya udakaṃ tayā paṭisotagāmikatan”ti? āma ācariya. tena hi tvaṃ heṭṭhāgaṅgāya mā vasa, uparigaṅgāya vasāti. sādhu ācariya, tumhehi vuttaṭṭhāne vasissāmīti tattha vasanto iddhiṃ paṭippassambhesi, udakaṃ yathāgatikameva jātaṃ. puna tāpaso tadeva byasanaṃ pāpuṇi. so puna gantvā bodhisattaṃ pucchi, — “bho caṇḍāla, tvamidaṃ gaṅgāya udakaṃ kālena paṭisotagāmiṃ kālena anusotagāmiṃ karosī”ti? āma ācariya. caṇḍāla, “tvaṃ sukhavihārīnaṃ pabbajitānaṃ sukhena vasituṃ na desi, sattame te divase sattadhā muddhā phalatū”ti. sādhu acariya, ahaṃ pana sūriyassa uggantuṃ na dassāmīti.

Vị đạo sĩ cũng bực tức khó chịu, việc làm này chắc chắn của kẻ hạ tiện, đã đi đến hỏi rằng: “Này kẻ hạ tiện, nước của dòng sông Gaṅgā này, ngươi đã làm cho nó trôi ngược dòng nước phải chăng? Phải, thưa ngài. Nếu như vậy, ngươi đừng ngự ở hạ ngà nguồn dòng sông Gaṅgā mà hãy ở trên thượng nguồn dòng sông Gaṅgā. Bồ tát cũng nhận lời rằng dạ, thưa ngài, tôi sẽ ở nơi đó theo lời mà ngài nói, rồi đến ở nơi đó, buông bỏ thần thông thì nước chảy trở lại bình thường. Đạo sĩ cũng cảm thọ sự tổn hại đó nữa, mới đi đến hỏi Bồ tát rằng “này kẻ hạ tiện, nước của dòng sông Gaṅgā này, ngươi đã làm cho nó chảy ngược dòng, thỉnh thoảng cũng làm cho chảy theo dòng phải chăng? Phải, thưa ngài. Này kẻ hạ tiện, “ngươi không để cho bậc xuất gia sống được an lạc, đầu của ngươi sẽ vỡ ra bảy mảnh kể từ ngày hôm này trở đi.” Tốt lành thay, thưa ngài, còn ta sẽ không cho mặt trời mọc.

atha mahāsatto cintesi — “etassa abhisāpo etasseva upari patissati, rakkhāmi nan”ti sattānuddayatāya punadivase iddhiyā sūriyassa uggantuṃ na adāsi. iddhimato iddhivisayo P.3.85 nāma acinteyyo, tato paṭṭhāya aruṇuggaṃ na paññāyati, rattindivaparicchedo natthi, kasivaṇijjādīni kammāni payojento nāma natthi.

Khi ấy bậc Đại nhân nghĩ rằng – “Lời nguyền chắc chắn sẽ rớt xuống lên người của vị đạo sĩ, ta cần phải bảo vệ vị đạo sĩ ấy.” Vào ngày hôm sau không cho mặt trời mọc do năng lực thần thông bởi lòng trắc ẩn đối với chúng sanh, vì thần thông của vị có thần lực là bất khả tư nghì, kể từ đó trở đi mặt trời không xuất hiện, không phân định được ban ngày (hay) ban đêm. không có người bắt tay vào làm việc chằng hạn như buôn bán, làm ruộng.

manussā — “yakkhāvaṭṭo nu kho ayaṃ bhūtadevaṭṭonāgasupaṇṇāvaṭṭo”ti upaddavappattā “kiṃ nu kho kātabban”ti cintetvā “rājakulaṃ nāma mahāpaññaṃ, lokassa hitaṃ cintetuṃ sakkoti, tattha gacchāmā”ti rājakulaṃ gantvā M.3.61 tamatthaṃ ārocesuṃ. rājā sutvā bhītopi abhītākāraṃ katvā — “mā tātā bhāyatha, imaṃ kāraṇaṃ gaṅgātīravāsī jātimantatāpaso jānissati, taṃ pucchitvā nikkaṅkhā bhavissāmā”ti katipayeheva atthacarakehi manussehi saddhiṃ tāpasaṃ upasaṅkamitvā katapaṭisanthāro tamatthaṃ pucchi. tāpaso āha — “āma mahārāja, eko V.3.62 caṇḍālo atthi, so imaṃ gaṅgāya udakaṃ kālena anusotagāmiṃ kālena patisotagāmiṃ karoti, mayā tadatthaṃ kiñci kathitaṃ atthi, taṃ pucchatha, so jānissatī”ti.

Tất cả mọi người đi đến sự nguy hại bởi không biết rằng: “Phải chằng điều này là Da-xoa tạo ra hay ma quỷ, chư Thiên, loài rồng, (hay) kim sí điểu tạo ra” đã suy nghĩ “Cần phải làm gì đây” hội ý với nhau rằng “Dòng dõi vua chúa gọi là có trí tuệ vĩ đại sẽ có thể nghĩ ra những điều lợi ích cho thế gian, chúng ta hãy đi đến nơi đó” Sau khi đi đến hoàng cung khóc lóc thảm thiết. Đức vua sau khi nghe mặc dầu lo lắng những cững vờ như không lo lắng nói rằng – “Các khanh chớ hoảng sợ, vị đạo sĩ tên là Jātimanta ngụ ở bờ sông Gaṅgā, có thể biết được nguyên nhân đó, chúng ta sẽ đi hỏi vị ấy để xóa tan nghi hoặc” Chỉ 2-3 ngày sau ngài đi cùng với nhóm người mong muốn thực hành điều lợi ích đến tìm gặp vị đạo sĩ, nhận được sự tiếp đón rồi hỏi về chuyện đó. Đạo sĩ nói rằng – “Tâu đại vương, có một kẻ hạ tiện, kẻ ấy làm cho nước của dòng sông Gaṅgā thỉnh thoảng chảy ngược dòng, thỉnh thoảng lại chảy xuôi dòng, nhưng lời nói mà bần đạo đã nói, tâu đại vương xin ngài hãy hỏi kẻ hạ tiện ấy, hắn làm vì mục đích gì, hắn sẽ biết rõ.”

rājā mātaṅgaisissa santikaṃ gantvā — “tumhe, bhante, aruṇassa uggantuṃ na dethā”ti pucchi. āma, mahārājāti. kiṃ kāraṇā bhanteti? jātimantatāpasakāraṇā, mahārāja, jātimantatāpasena āgantvā maṃ vanditvā khamāpitakāle dassāmi mahārājāti. rājā gantvā “etha ācariya, tāpasaṃ khamāpethā”ti āha. nāhaṃ, mahārāja, caṇḍālaṃ vandāmīti. mā ācariya, evaṃ karotha, janapadassa mukhaṃ passathāti. so puna paṭikkhipiyeva. rājā bodhisattaṃ upasaṅkamitvā P.3.86 “ācariyo khamāpetuṃ na icchitī”ti āha. akhamāpite ahaṃ sūriyaṃ na muñcāmīti. rājā “ayaṃ khamāpetuṃ na icchati, ayaṃ akhamāpite sūriyaṃ na muñcati, kiṃ amhākaṃ tena tāpasena, lokaṃ olokessāmā”ti “gacchatha, bho, tāpasasantikaṃ, taṃ hatthesu ca pādesu ca gahetvā mātaṅgaisissa pādamūle netvā nipajjāpetvā khamāpetha etassa janapadānuddayataṃ paṭiccā”ti āha. te rājapurisā gantvā taṃ tathā katvā ānetvā mātaṅgaisissa pādamūle nipajjāpetvā khamāpesuṃ.

Đức vua đã đi đến trú xứ của ẩn sĩ Mātaṅga rồi hỏi rằng – “Thưa ngài, ngài không cho mặt trời mộc phải không? Phải, tâu đại vương. Bởi vì lý do gì thưa ngài. Vì đạo sĩ Jātimanta, tâu đại vương, bởi đạo sĩ Jātimanta đã nói lời nguyền rủa bần đạo, người không có lỗi lầm, bần đạo sẽ để mặt trời mọc khi đạo sĩ Jātimanta đến đãnh lễ bần đạo rồi xin sám hối tâu đại vương. Đức vua đã đi đến nói lại – “hãy đến thưa thầy, đến sám hối vị ẩn sĩ đó”. – Tâu đại vương, bần đạo không đi đảnh lễ kẻ hạ tiện.” – Đừng làm như vậy, thưa thầy, hãy nghĩ đến dân chúng ở thành. Đạo sĩ Jātimanta lại từ chối lần nữa. Đức vua đi đến gặp Bồ tát nói rằng: “Thưa ngài, ngài đạo sĩ Jātimanta không có ý định sám hối lỗi lầm.” Khi đạo sĩ Jātimanta không sám hối lỗi lầm thì bần đạo sẽ không thả mặt trời ra. Đức vua suy xét rằng: “đạo sĩ Jātimanta không sám hối lỗi lầm với vị ẩn sĩ Mātaṅga, khi đạo sĩ Jātimanta không sám hối, (vị ẩn sĩ) cũng không chấp nhận buông mặt trời ra, lời ích gì cho chúng ta với vị ẩn sĩ ấy, ta sẽ quan sát thế gian (vì lợi ích thế gian), rồi ra lệnh cho mọi người này các khanh, các khanh hãy đi nắm lấy tay và chân của đạo sĩ Jātimanta đưa đến trú xứ của ẩn sĩ Mātaṅga, sau khi đưa đến cho quỳ dưới chân của ẩn sĩ Mātaṅga (nói rằng) vì lòng thương xót dân chúng trong thành, xin sám hối vị ấy. Binh lính hoàng gia đa đi đưa đạo sĩ Jātimanta đến cho quỳ xuống chân của ẩn sĩ Mātaṅga để cho sám hối lỗi lầm.

ahaṃ nāma khamitabbaṃ khamāmi, apica kho pana etassa kathā etasseva upari patissati. mayā sūriye vissajjite sūriyarasmi etassa matthake patissati, athassa sattadhā muddhā phalissati. tañca kho panesa byasanaṃ mā pāpuṇātu, etha tumhe etaṃ galappamāṇe udake otāretvā mahantaṃ mattikāpiṇḍamassa sīse ṭhapetha. athāhaṃ sūriyaṃ vissajjissāmi. sūriyarasmi mattikāpiṇḍe patitvā taṃ sattadhā bhindissati. athesa mattikāpiṇḍaṃ chaḍḍetvā nimujjitvā aññena titthena uttaratu, iti naṃ vadatha, evamassa sotthi bhavissatīti. te manussā “evaṃ karissāmā”ti tathā kāresuṃ. tassāpi tatheva sotthi jātā. so tato paṭṭhāya — “jāti M.3.62 nāma akāraṇaṃ, pabbajitānaṃ abbhantare guṇova kāraṇan”ti jātigottamānaṃ pahāya nimmado ahosi.

Bần đạo sẽ tha thứ lỗi lầm cho người xin sám hối, nhưng lời nguyền của đạo sĩ Jātimanta ấy sẽ rơi xuống đầu của chính vị ấy khi bần đạo buông mặt trời ra thì ánh sáng mặt trời sẽ rơi xuống đầu của đạo sĩ Jātimanta đó. Nếu như thế thì đầu của vị đạo sĩ ấy sẽ bị bể ra bảy mảnh, cầu mong cho vị đạo sĩ ấy đừng đi đến sự suy vong, đủ rồi, xin ngài hãy cho vị đạo sĩ này xuống ngâm dưới nước chỉ khoảng lưng chừng ở cổ, hãy đặt cục đất sét kích thước to lớn ở trên đầu. Khi đó, ta sẽ buông mặt trời ra. Ánh sáng mặt trời rơi xuống cục đất sét, (cục đất sét) sẽ bị phá vỡ ra thành 7 phần. Khi vị đạo sĩ ấy bỏ cục đất sét, rồi lặn xuống rồi trồi lên bờ bên kia, các vị hãy nói vị đạo sĩ này, vị ấy sẽ có sự an toàn. Mọi người tiếp nhận lời “sẽ làm theo như vậy” rồi thực hiện theo mọi lời dặn dò. Sự an toàn có nơi chính vị đạo sĩ ấy như thế. Kể từ đó trở đi đạo sĩ Jātimanta đã khởi lên suy nghĩ rằng: “Gọi là dòng dõi không phải là nguyên nhân, chỉ đức hạnh bên trong của những vị xuất gia mới là nguyên nhân” đã từ bỏ sự kiêu hãnh về dòng dõi và họ tộc không còn say mê nữa.

iti jātimantatāpase damite mahājano bodhisattassa thāmaṃ aññāsi, mahākolāhalaṃ jātaṃ. rājā attano nagaraṃ gamanatthāya bodhisattaṃ yāci. mahāsatto P.3.87 paṭiññaṃ datvā tāni ca V.3.63 asītibrāhmaṇasahassāni damessāmi, paṭiññañca mocessāmīti majjharājassa nagaraṃ agamāsi. brāhmaṇā bodhisattaṃ disvāva — bho, “ayaṃ so, bho mahācoro, āgato, idāneva sabbe ete mayhaṃ ucchiṭṭhakaṃ khāditvā abrāhmaṇā jātāti amhe pākaṭe karissati, evaṃ no idhāpi āvāso na bhavissati, paṭikacceva māressāmā”ti rājānaṃ puna upasaṅkamitvā āhaṃsu — “tumhe, mahārāja, etaṃ caṇḍālapabbajitaṃ mā sādhurūpoti maññittha, esa garukamantaṃ jānāti, pathaviṃ gahetvā ākāsaṃ karoti, ākāsaṃ pathaviṃ, dūraṃ gahetvā santikaṃ karoti, santikaṃ dūraṃ, gaṅgaṃ nivattetvā uddhagāminiṃ karoti, icchanto pathaviṃ ukkhipitvā pātetuṃ maññe sakkoti. parassa vā cittaṃ nāma sabbakālaṃ na sakkā gahetuṃ, ayaṃ idha patiṭṭhaṃ labhanto tumhākaṃ rajjampi nāseyya, jīvitantarāyampi vaṃsupacchedampi kareyya, amhākaṃ vacanaṃ karotha, mahārāja, ajjeva imaṃ māretuṃ vaṭṭatī”ti.

Như vậy, khi đạo sĩ Jātimanta bị thuần phục, đại chúng cũng được biết sức mạnh của Bồ tát, đã khởi lên tiếng reo hò to lớn. Đức vua đã thỉnh mời đức Bồ tát đi đến thành phố của mình. Bậc Đại nhân đã chấp nhận lời thỉnh cầu, suy nghĩ rằng ta sẽ thuần phục tấm mươi nghìn Bà-la-môn đó và sẽ gỡ bỏ lời hứa, rồi đi đến thành phố của vua Majjha1. Các vị Bà-la-môn chỉ sau khi nhìn thấy Bồ-tát đã hội ý với nhau rằng – “Thưa các ngài, kẻ đại đạo tặc ấy đã đến, bây giờ sẽ làm cho chúng ta lộ ra điều bí mật, nói chúng ta là những người ăn đồ thừa, không phải Bà-la-môn, nếu vậy thì chúng ta sẽ không thể trú ngụ ở nơi đây được, sẽ giết nó trước” rồi cùng nhau đến gặp đức vua, sau khi đến nỏi rằng: “Tâu đại vương, xin đại vương đừng nghĩ đến kẻ xuất gia dòng dõi hạ tiện (cho rằng kẻ ấy) là người tốt, bắt lấy hư không làm cho trở thành địa đại, nắm lấy chỗ xa làm trở thành chỗ gần cũng được, nắm lấy chỗ gần làm trở thành chỗ xa cũng được, quay lại dòng sông làm cho nước dâng cao cũng được, khi mong muốn có thể lật ngược quả đất cũng được, có thể làm nguy hiểm tánh mạng của đại vương, hoặc được gọi là không thể nắm giữ tâm của người khác ở mọi thời, vị xuất gia dòng dõi hạ tiện này khi có chỗ đứng trong thành phố này cũng có thể làm thậm chí tài sản của đại vương bị hoại diệt, làm nguy hại đến tánh mạng của đại vương cũng được, cắt đứt dòng dõi hoàng tộc cũng được, xin đại vương hãy tin vào lời nói của chúng tôi, (ra lệnh) giết chết vị ấy trong ngày hôm nay cũng thích hợp, xin đại vương.”

rājāno nāma parapattiyā honti, iti so bahūnaṃ kathāvasena niṭṭhaṃ gato. bodhisatto pana nagare piṇḍāya caritvā udakaphāsukaṭṭhāne missakodanaṃ bhuñjitvā rājuyyānaṃ gantvā nirāparādhatāya nirāsaṅko maṅgalasilāpaṭṭe nisīdi. atīte cattālīsa, anāgate cattālīsāti asītikappe anussarituṃ samatthañāṇassa P.3.88 anāvajjanatāya muhuttamattake kāle sati nappahoti, rājā aññaṃ ajānāpetvā sayameva gantvā nirāvajjanatāya pamādena nisinnaṃ mahāpurisaṃ asinā paharitvā dve bhāge akāsi. imassa rañño vijite aṭṭhamaṃ lohakūṭavassaṃ, navamaṃ kalalavassaṃ vassi. iti imassāpi raṭṭhe nava vuṭṭhiyo patitā. so ca rājā sapariso mahāniraye nibbatto. tenāha saṃkiccapaṇḍito —

Được xem là các vị vua có sự dựa dẫm vào kẻ khác, cho nên đức vua ấy đã nhận lời với sức mạnh lời nói của những Bà-la-môn ấy. Còn phía Bồ tát đi du hành để xin vật thực trong thành phố, sau khi thọ dụng vật thực được trộn lẫn ở nơi dễ tìm kiém nước uống rồi đi đến vườn thượng uyển, không có sự nghi ngờ bởi là người không có sự sái quấy, ngồi xuống phiến đã ở hoàng cung. Bởi vì ngài có trí tuệ có thể nhớ đến tám mươi kiếp là bốn mươi kiếp quá khứ và bốn mươi kiếp vị lai trong thời gian ngắn mới không kịp nghĩ. Đức vua đã không cho người khác biết (mà) tự mình đi mang theo thanh gươm chem vào bậc Đại nhân đang ngồi với sự xao lãng bởi nghĩ rằng không có nguy hiểm, đứt thành 2 phần. Cơn mưa trộn lẫn với đồng là thứ tám, cơn mưa bùn là thứ chín đổ xuống ở vương quốc của vị vua ấy, chín loại mưa đều trút xuống vương quốc của vị vua này. Đức vua ấy cũng với toàn bộ hội chúng đã tái sanh vào Đại địa ngục. Bởi thế bậc hiền trí Saṃkicca đã nói:

upahacca M.3.63 manaṃ majjho, mātaṅgasmiṃ yasassine.

sapārisajjo ucchinno, majjhāraññaṃ tadā ahūti”. (jā. 2.19.96) —

evaṃ majjhāraññassa araññabhūtabhāvo veditabbo. mātaṅgassa pana isino vasena tadeva mātaṅgāraññanti vuttaṃ.

Sau khi có tâm ý xấu xa với vị ẩn sĩ Mātaṅga có danh tiếng, Đức vua Majjha cùng với toàn bộ hội chúng đã bị tiêu diệt. khu rừng Majjha đã có từ đó. (jā. 2.19.96).

Như vậy nên biết rằng rừng Majjha đã hình thành. Nhưng rừng Majjha ấy ngài gọi là rừng Mātaṅga bởi do năng lực của ẩn sĩ Mātaṅga.

66. pañhapaṭibhānānīti V.3.64 pañhabyākaraṇāni. paccanīkaṃ katabbanti paccanīkaṃ kātabbaṃ. amaññissanti vilomabhāgaṃ gaṇhanto viya ahosinti attho.

66. Pañhapaṭibhānāni (Các sự ứng đối câu hỏi): cách trả lời câu hỏi. paccanīkaṃ katabbaṃ (giả vờ thực hành tựa như đối lập): nghĩ rằng cần phải làm trở thành đối nghịch. Amaññissaṃ: có nghĩa là giống như có sự nắm lấy phần đối nghịch.

67. anuviccakāranti anuvicāretvā cintetvā tulayitvā kātabbaṃ karohīti vuttaṃ hoti. sādhu hotīti sundaro hoti. tumhādisasmiñhi maṃ disvā maṃ saraṇaṃ gacchante nigaṇṭhaṃ disvā nigaṇṭhaṃ saraṇaṃ gacchante — “kiṃ ayaṃ upāli diṭṭhadiṭṭhameva saraṇaṃ gacchatī”ti? garahā uppajjissati, tasmā anuviccakāro tumhādisānaṃ sādhūti dasseti. paṭākaṃ parihareyyunti te kira evarūpaṃ sāvakaṃ labhitvā P.3.89 — “asuko nāma rājā vā rājamahāmatto vā seṭṭhi vā amhākaṃ saraṇaṃ gato sāvako jāto”ti paṭākaṃ ukkhipitvā nagare ghosentā āhiṇḍanti. kasmā? evaṃ no mahantabhāvo āvi bhavissatīti ca, sace tassa “kimahaṃ etesaṃ saraṇaṃ gato”ti vippaṭisāro uppajjeyya, tampi so “etesaṃ me saraṇagatabhāvaṃ bahū jānanti, dukkhaṃ idāni paṭinivattitun”ti vinodetvā na paṭikkamissatīti ca. “tenāha paṭākaṃ parihareyyun”ti.

Anuviccakāraṃ (cân nhắc kỹ lưỡng): ngài giải thích rằng hãy làm cho trở thành điều đáng được suy xét, cân nhắc kỹ lưỡng rồi mới thực hành. sādhu hoti (là tốt đẹp) đồng nghĩa với sundaro hoti (là việc tốt). Đức Thế Tôn chỉ ra rằng: “Khi người như ngài gặp ta, đi đến ta (xin) nương nhờ, khi gặp Nigaṇṭha cũng đi đến Nigaṇṭha (xin) nương nhờ” những lời chỉ trích sẽ sanh khởi “Phải chăng Upālī này dù đi đến gặp bất cứ ai mà bản thân được gặp đều đi đến (xin) nương nhờ?” Bởi thế việc suy xét kỹ lưỡng trước khi làm mới là một việc tốt đối với người như ngài. paṭākaṃ parihareyyuṃ (có thể giương cờ lên và tuyên bố): vị ấy nói nhóm Nigaṇṭha ấy nhận được vị đệ tử bằng hình thức như vậy – “Cũng giương cờ (khoe khoang) đi khắp nơi loan báo rằng đức vua, quan đại thần hoặc trưởng giả tên kia tên kia là đệ tự đi đến xin nương nhờ.” Tại sao? Bởi vì bản chất chúng tôi là to lớn sẽ hiện hữu rõ ràng bằng phương pháp như vậy, và bởi vì nếu vị ấy cũng có thể sanh khởi sự ân hận rằng: “Ta đến nương nhờ (nhóm Nigaṇṭha) để làm gì?” hoặc vị ấy sau khi xua đi sự lo lắng, phiền toái ấy rằng: “tất cả những ngươi đó phần đông biết gia chủ Upālī đã đi đến Nigaṇṭha xin nương nhờ, bây giờ không còn quay trở lại khổ đau” (trong việc tự mình rút lui). Bởi thế, trưởng giả Upālī đã nói rằng: “có thế giương cờ lên và tuyên bố”.

68. opānabhūtanti paṭiyattaudapāno viya ṭhitaṃ. kulanti tava nivesanaṃ. dātabbaṃ maññeyyāsīti pubbe dasapi vīsatipi saṭṭhipi jane āgate disvā natthīti avatvā deti. idāni maṃ saraṇaṃ gatakāraṇamattenava mā imesaṃ deyyadhammaṃ, upacchindittha, sampattānañhi dātabbamevāti ovadati. sutametaṃ, bhanteti kuto sutaṃ? nigaṇṭhānaṃ santikā, te kira kulagharesu evaṃ pakāsenti — “mayaṃ ‘yassa kassaci sampattassa dātabban’ti vadāma, samaṇo pana gotamo ‘mayhameva dānaṃ dātabbaṃ … pe … na aññesaṃ sāvakānaṃ dinnaṃ mahapphalan’ti vadatī”ti. taṃ sandhāya ayaṃ gahapati “sutametan”ti āha.

Opānabhūtaṃ (tựa như giếng nước): đã thiết lập tựa như giếng nước đã được sắp đặt. Kulaṃ (gia đình): là nhà của ngài. dātabbaṃ maññeyyāsi (ngài có thể nghĩ…mà ngài có thể cho): đức Thế Tôn ban huấn từ rằng: “sau khi nhìn thấy mười người, 20 người, hay 60 người, người đã đến đừng nói rằng ‘không có, hãy bố thí’. Bây giờ, đừng cắt bỏ vật dâng cúng đối với những Nigaṇṭha này, chỉ chừng ấy lý do đã đi đến ta nương nhờ, nên cho đến bọn họ bởi đã đạt đến thật sự.” sutametaṃ, bhante (thưa ngài, con đã được nghe điều này): gia chủ Upālī hỏi rằng “thưa ngài, ngài đã nghe từ đâu?” (đáp) từ trú xứ của các Nigaṇṭha, họ nói rằng những Nigaṇṭha ấy tuyên bố trong nhà của tất cả gia chủ như vầy – “chúng ta nói rằng ‘nên cho đến bất cứ người nào đã thành tựu…việc bố thí đến đệ tử nhóm khác không có kết quả to lớn.” Đức thể tôn muốn nói đến lời đó đã nói rằng: “này gia chủ, điều này đã được nghe”

69. anupubbiṃ M.3.64 kathanti dānānantaraṃ sīlaṃ, sīlānantaraṃ saggaṃ, saggānantaraṃ magganti evaṃ anupaṭipāṭikathaṃ. tattha P.3.90 dānakathanti idaṃ dānaṃ nāma sukhānaṃ nidānaṃ, sampattīnaṃ mūlaṃ, bhogānaṃ patiṭṭhā, visamagatassa tāṇaṃ leṇaṃ gatiparāyaṇaṃ, idhalokaparalokesu dānasadiso avassayo patiṭṭhā ārammaṇaṃ tāṇaṃ leṇaṃ gati parāyaṇaṃ natthi. idañhi avassayaṭṭhena ratanamayasīhāsanasadisaṃ, patiṭṭhānaṭṭhena mahāpathavisadisaṃ, ālambanaṭṭhena ālambanarajjusadisaṃ. idañhi V.3.65 dukkhanittharaṇaṭṭhena nāvā, samassāsanaṭṭhena saṅgāmasūro, bhayaparittāṇaṭṭhena susaṅkhatanagaraṃ, maccheramalādīhi anupalittaṭṭhena padumaṃ, tesaṃ nidahanaṭṭhena aggi, durāsadaṭṭhena āsīviso.

anupubbiṃ kathaṃ (đã thuyết Pháp theo tuần tự): thuyết theo tuần tự thứ lơp như vầy là giới thứ tự từ bố thí, cõi trời thứ tự từ giới, lỗi lầm của tất cả các dục thứ tự từ cõi trời. Trong tuần tự Pháp ấy dānakathaṃ (bài thuyết về bố thí): là lời nói tương ưng với ân đức của sự bố thí v.v, gọi là bố thí này (bởi vì) làm nhân của mọi sự ạn lạc, là gốc của mọi sự thành tựu, là nơi thiết lập sự thành tựu tất cả loại tài sản, là nơi bảo hộ, là nơi bảo vệ, là nơi an toàn, là nơi để đi, là nơi tiến về phía trước của người đi trên con đường không bằng phẳng; không có nơi nương tựa, nơi thiết lập, chỗ treo lên, nơi bảo hộ, nơi bảo vệ, chỗ để đi, chỗ tiến về phía trước, như là bố thí ở trong đời này và đời sau. Bởi sự bố thí này tựa như chỗ ngồi hình sư tử được làm bằng đá quý với ý nghĩa sự nâng đỡ, giống như đại địa cầu với ý nghĩa chỗ thiết lập, giống như sợi dây thừng với ý nghĩa treo lên. Thật vậy, bố thí giống như chiếc thuyền với ý nghĩa vượt qua khổ đau. Giống như người chiến sĩ dũng mãnh ở chiến trường với ý nghĩa làm cho an lòng, giống như thành phố khéo được hoàn thiện với ý nghĩa ngăn chặn khỏi sự sợ hãi, giống như hoa sen bởi ý nghĩa những thứ dơ bẩn (bùn lầy), là sự keo kiệt v.v, không thể thâm nhập. Trong giống như ngọn lửa với ý nghĩa thiểu đốt những thứ dơ bẩn đó. Trong giống như con rắn độc với ý nghĩa cần phải ngồi ở xa.

asantāsanaṭṭhena sīho, balavantaṭṭhena hatthī, abhimaṅgalasammataṭṭhena setavasabho, khemantabhūmisampāpanaṭṭhena valāhako assarājā. dānaṃ nāmebhaṃ mayhaṃ gatamaggo, mayheveso vaṃso, mayā dasa pāramiyo pūrentena velāmamahāyañño, mahāgovindamahāyañño mahāsudassanamahāyañño, vessantaramahāyaññoti anekamahāyaññā pavattitā, sasabhūtena jalite aggikkhandhe attānaṃ niyyādentena sampattayācakānaṃ cittaṃ gahitaṃ. dānañhi loke sakkasampattiṃ deti, mārasampattiṃ deti, brahmasampattiṃ deti, cakkavattisampattiṃ deti, sāvakapāramīñāṇaṃ, paccekabodhiñāṇaṃ, abhisambodhiñāṇaṃ detīti evamādiṃ dānaguṇapaṭisaṃyuttaṃ kathaṃ.

Giống như sư tử chúa với ý nghĩa không sợ hãi khiếp đãm, giống như thớt tượng với ý nghĩa có sức mạnh, giống như bò chúa Usabha với ý nghĩa ban phước lành cao thượng, giống như con ngựa chúa Valāhaka với ý nghĩa đưa đến đến vừng đất an toàn. Sự bố thí đó là con đường đã đi của ta, là dòng dõi của riêng ta, là đại lễ hiến tế của Bà-la-môn Velāma, là đại lễ hiến tế của Bà-la-môn Mahāgovinda, là đại lễ hiến tế của đức vua Mahāsudassana, là đại lễ hiến tế của Bồ-tát Vessantara, vô số đại lễ hiến tế mà ta đã thực hành có mười pháp ba-la-mật đã thực hành tròn đủ, việc bố thí mà ta trong khi là một con thỏ đã chấp nhận (hi sinh) nằm xuống đóng lửa đang cháy rực, đã nắm bắt tâm trí của những kẻ ăn xin đi đến. Thật vậy, bố thí cho (quả) thành tựu ngôi vị Sakka trong thế gian, cho thành tựu ngôi vị Māra, cho thành tựu ngôi vị Phạm thiên, cho thành tựu ngôi vị Chuyển luân vương, cho thành tựu trí tuệ ba-la-mật của một đệ tử, cho thành tựu trí giác ngộ của vị Phật-độc-giác, cho thành tựu trí giác ngộ của vị Toàn giác.

yasmā pana dānaṃ dadanto sīlaṃ samādātuṃ sakkoti, tasmā tadanataraṃ sīlakathaṃ kathesi. sīlakathanti sīlaṃ nāmetaṃ avassayo patiṭṭhā ārammaṇaṃ tāṇaṃ leṇaṃ P.3.91 gati parāyaṇaṃ, sīlaṃ nāmetaṃ mama vaṃso, ahaṃ saṅkhapālanāgarājakāle, bhūridattanāgarājakāle, campeyyanāgarājakāle, sīlavanāgarājakāle, mātuposakahatthirājakāle, chaddantahatthirājakāleti anantesu attabhāvesu sīlaṃ paripūresiṃ. idhalokaparalokasampattīnañhi sīlasadiso avassayo, sīlasadisā patiṭṭhā, ārammaṇaṃ tāṇaṃ leṇaṃ gati parāyaṇaṃ natthi, sīlālaṅkārasadiso alaṅkāro natthi, sīlapupphasadisaṃ pupphaṃ natthi, sīlagandhasadiso gandho natthi. sīlālaṅkārena hi alaṅkataṃ sīlakusumapiḷandhanaṃ sīlagandhānulittaṃ M.3.65 sadevakopi loko olokento tittiṃ na gacchatīti evamādiṃ sīlaguṇapaṭisaṃyuttaṃ kathaṃ.

Hơn nữa, hạng người trong khi bố thí có thể thọ trì giới, vì thế đức Thế Tôn đã nói bài thuyết về trì giới theo thứ tự từ bố thí ấy. Sīlakathaṃ (bài thuyết về trì giới): là bài thuyết liên quan đến ân đức của giới, giới này là chỗ nương tựa, chỗ an trú, nơi ẩn nấu, chỗ đi, chỗ tiến về phía trước. Giới này là dòng dõi của ta, ta thực hành giới hạnh tròn đủ trong vô số các sắc thân khi ta là rồng chúa Saṅkhapāla, khi ta là rồng chúa Bhūridatta, khi ta là rồng chúa Campeyya, khi ta là rồng chúa Sīlava, khi ta là voi chúa phụng dưỡng mẹ, khi ta là voi chúa Chaddanta. Thật vậy không có nơi nương nhờ (nào khác dẫn đến) thành tựu ở đời này và cả đời sau như giới. Không có nơi vững trú, nơi ẩn nấu, nơi bảo hộ, nới trú ẩn, nơi nương tựa, nơi đi, nơi hướng đến như giới. Không có đồ trang sức (nào khác) giống như đồ trang sức của giới, không có tràng hoa (nào khác) giống như tràng hoa của giới, không có hương thơm (nào khác) giống như hương thơm của giới, thế giới ngay cả thế giới chư thiên quan sát người được trang điểm bằng vật trang điểm là giới, người có tràng hoa là giới làm đồ trang sức, người mà mùi hương là giới đã được thấm nhuần, không cảm thấy no đủ.

idaṃ pana sīlaṃ nissāya ayaṃ saggo labbhatīti dassetuṃ sīlānantaraṃ saggakathaṃ kathesi. saggakathanti ayaṃ saggo nāma iṭṭho kanto manāpo, niccamettha kīḷā, niccaṃ sampattiyo labbhanti, cātumahārājikā devā navutivassasatasahassāni dibbasukhaṃ dibbasampattiṃ anubhavanti, tāvatiṃsā tisso ca vassakoṭiyo saṭṭhi ca vassasatasahassānīti evamādiṃ saggaguṇapaṭisaṃyuttaṃ kathaṃ. saggasampattiṃ kathayantānañhi buddhānaṃ mukhaṃ nappahoti. vuttampi cetaṃ “anekapariyāyena kho ahaṃ, bhikkhave, saggakathaṃ katheyyan”tiādi (ma. ni. 3.255).

Hơn nữa, để trình bày rằng hạng người nương vào giới này sẽ đạt đến cõi trời này, mới nói bài thuyết về cõi trời theo thứ từ từ giới ấy. Saggakathaṃ (bài thuyết về cõi trời): bài thuyết liên quan đến ân đức cõi trời v.v, như vậy, cõi trời này đáng ước muốn, đáng mong muốn, đáng hài lòng, ở cõi trời ấy có sự vui chơi là thường, có được sự thành tựu là thường, chư thiên cõi Tứ Thiên Vương thọ hưởng sự an lạc cõi trời và sự thành tựu ở thiên giới 9 triệu năm, cõi trởi Đao Lợi 3 Koṭi với 6 triệu năm, miệng của chư Phật đang nói đến sự thành tựu cõi trời cũng không đủ. Và điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: “Này chư Tỳ khưu, ta có thể nói bài thuyết về cõi trời bằng nhiều cách thức v.v.”(ma. ni. 3.255).

evaṃ V.3.66 saggakathāya palobhetvā puna hatthiṃ alaṅkaritvā tassa soṇḍaṃ chindanto viya — “ayampi saggo anicco addhuvo, na ettha chandarāgo kātabbo”ti dassanatthaṃ — “appassādā kāmā vuttā mayā bahudukkhā P.3.92 bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo”tiādinā (pāci. 417; ma. ni. 1.235) nayena kāmānaṃ ādīnavaṃ okāraṃ saṃkilesaṃ kathesi. tattha ādīnavoti doso. okāroti avakāro lāmakabhāvo. saṃkilesoti tehi sattānaṃ saṃsāre saṃkilissanaṃ. yathāha “kilissanti vata, bho, sattā”ti (ma. ni. 2.351).

Đức Thế Tôn khi dụ dỗ bằng bài thuyết về cõi trời này giống như sau khi trang điểm cho con voi, cắt đứt cái vòi của nó nữa – “cõi trời này vô thường, không bễn vững, không nên tạo sự ước muốn và ái luyến trong cõi trời ấy” thấy được lợi ích ngài đã nói về sự tai hại sự thấp kém sự ô nhiễm của các dục theo cách thức như sau: “Các dục đã được ta thuyết giảng chỉ có chút ít khoái lạc, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.” (pāci. 417; ma. ni. 1.235). Ở đó, ādīnavo dịch là lỗi lầm. Okāro dịch là thấp kém, thấp hèn. Saṃkileso là sự ô nhiễm trong vòng luân hồi của tất cả chúng sanh do các dục vọng đó. Như đã nói “Này hiền giả, tất cả chúng sanh quả thật bị ô nhiễm.” (ma. ni. 2.351).

evaṃ kāmādīnavena tajjitvā nekkhamme ānisaṃsaṃ pakāsesi. kallacittanti arogacittaṃ. sāmukkaṃsikāti sāmaṃ ukkaṃsikā attanāyeva gahetvā uddharitvā gahitā, sayambhūñāṇena diṭṭhā, asādhāraṇā aññesanti attho. kā panesāti, ariyasaccadesanā? tenevāha — “dukkhaṃ samudayaṃ nirodhaṃ maggan”ti.

Như vậy, sau khi đe dọa với sự tai hại của các dục thì ngãi đã tuyên thuyết lợi ích trong việc xuất ly. Kallacittaṃ (có tâm đã sẵn sàng): tâm không bệnh tật. Sāmukkaṃsikā (đã phô bày bởi chính mình): Đã tự mình phô bày, đã đưa ra, đã nắm lấy bởi chính mình, có nghĩa là nhìn thấy nhờ vào trí tuệ tự thân không phổ biến nơi người khác. Đó là gì? là thuyết giảng về Tứ Thánh Đế. Bởi thế ngài đã nói – “Khổ, Tập, Diệt, Đạo”

virajaṃ vītamalanti rāgarajādīnaṃ abhāvā virajaṃ, rāgamalādīnaṃ vigatattā vītamalaṃ. dhammacakkhunti upari brahmāyusutte tiṇṇaṃ maggānaṃ, cūḷarāhulovāde āsavakkhayassetaṃ nāmaṃ. idha pana sotāpattimaggo adhippeto. tassa uppattiākāradassanatthaṃ “yaṃkiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamman”ti āha. tañhi nirodhaṃ ārammaṇaṃ katvā kiccavasena evaṃ sabbasaṅkhataṃ paṭivijjhantaṃ uppajjati.

virajaṃ vītamalaṃ (không nhiễm bụi trần, xa lìa cấu uế): gọi là không nhiễm bụi trần bởi không có bụi trần là ái luyến v.v, gọi là xa lìa cấu uế bởi không có cấu uế là luyến ái v.v. dhammacakkhuṃ (Pháp nhãn): Đây là tên gọi la 3 Đạo trong bài Kinh Brahmāyu ở trước và của Lậu tận trí trong bài Kinh Cūḷarāhulovāda. Nhưng ở trong trường hợp này có ý muốn nói đến Tu-đà-hoàn Đạo. Khi trình bày trạng thái sanh khởi của Pháp nhãn đó đã nói rằng: “Bất cứ Pháp có sự sanh khởi thì toàn bộ Pháp đó cũng có sự diệt tận.” Bởi vậy, Pháp nhãn đó đã làm cho sự diệt trở thành đối tượng thấu triệt tất cả Pháp hành theo sức mạnh phận sự được sanh khởi.

diṭṭho M.3.66 ariyasaccadhammo etenāti diṭṭhadhammo. esa nayo sesapadesupi. tiṇṇā P.3.93 vicikicchā anenāti tiṇṇavicikiccho. vigatā kathaṃkathā assāti vigatakathaṃkatho. vesārajjappattoti vesārajjaṃ patto. kattha? satthu sāsane. nāssa paro paccayo, na parassa saddhāya ettha vattatīti aparappaccayo.

Pháp Thánh Đế mà vị ấy đó đã thấy, vì lý do đó vị ấy được gọi là đã thấy được Pháp (diṭṭhadhammo). Thậm chí những câu còn lại cũng có cách thức tương tự. Sự hoài nghi mà vị đó đã vượt qua, vì lý do đó vị ấy được gọi là có sự nghi hoặc đã vượt qua (tiṇṇavicikiccho). Sự lưỡng lự của vị ấy đã dứt hẳn, vì lý do đó vị ấy được gọi có sự lưỡng lự đã dứt hẳn (vigatakathaṃkatho). Vị ấy đã đạt đến sự dõng mãnh (vô sở úy), (vì lý do đó) vị ấy được gọi là đã đạt đến sự dõng mãnh (vesārajjappatto). Ở đâu? Ở trong Giáo Pháp của bậc Đạo Sư. Vị ấy không còn cần sự trợ duyên của người khác, tức là trong lời dậy của bậc Đạo Sư bằng việc tin vào người khác không còn diễn ra, vị ấy được gọi là người không còn cần sự trợ duyên của người khác.

70. cittena sampaṭicchamāno abhinanditvā, vācāya pasaṃsamāno anumoditvā. āvarāmīti thakemi pidahāmi. anāvaṭanti na āvaritaṃ vivaṭaṃ ugghāṭitaṃ.

Gia chủ Upālī đã hoan hỷ thọ lãnh với tâm, đã tùy hỷ rồi tán thán bằng lời nói. Āvarāmi dịch là ngăn chặn, đóng lại. Anāvaṭaṃ: không ngăn cấm, tức là đã mở cánh cửa

71. assosi kho dīghatapassīti so kira tassa gatakālato paṭṭhāya — “paṇḍito gahapati V.3.67, samaṇo ca gotamo dassanasampanno niyyānikakatho, dassanepi tassa pasīdissati, dhammakathāyapi pasīdissati, pasīditvā saraṇaṃ gamissati, gato nu kho saraṇaṃ gahapati na tāva gato”ti ohitasotova hutvā vicarati. tasmā paṭhamaṃyeva assosi.

assosi kho dīghatapassī (Dīghatapassī đã nghe tin): được biết rằng Dīghatapassī ấy kể từ khi gia chủ Upālī ấy ra đi cũng đi du hành lóng tai lắng nghe – “Gia chủ bậc trí giả, và Sa-môn Gotama vị đã thành tựu đầy đủ cái thấy, có lời nói dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi khỏi đau, vị ấy sẽ tịnh tín khi gặp, thậm chí sẽ tịnh tín do bởi bài giảng về Pháp, khi đã tịnh tín gia chủ Upālī sẽ đi đến xin nương nhờ vì nhân ấy, hoặc (vị ấy) sẽ không đi đến nương nhờ vì nhân ấy trước phải chăng? Vì thế, Dīghatapassī đã nghe ngay từ lần đầu tiên.

72. tena hi sammāti balavasokena abhibhūto “ettheva tiṭṭhā”ti vacanaṃ sutvāpi atthaṃ asallakkhento dovārikena saddhiṃ sallapatiyeva.

Tena hi sammā (Này người giữ cửa…nếu như vậy): Dīghatapassī bị sầu khổ mãnh liệt chế ngự, ngay cả khi đã nghe rằng “hãy đứng lại ngày tại chỗ đó” nhưng cũng không thể xác đinh được ý nghĩa mới nói với người gác cửa ấy.

majjhimāya dvārasālāyānti yassa gharassa satta dvārakoṭṭhakā, tassa sabbābbhantarato vā sabbabāhirato vā paṭṭhāya catutthadvārakoṭṭhako, yassa pañca, tassa tatiyo, yassa tayo, tassa dutiyo dvārakoṭṭhako majjhimadvārasālā nāma. ekadvārakoṭṭhakassa pana gharassa majjhaṭṭhāne maṅgalatthambhaṃ nissāya majjhimadvārasālā. tassa pana gehassa satta dvārakoṭṭhakā, pañcātipi vuttaṃ.

majjhimāya dvārasālāyāṃ (căn phòng có cửa lớn ở chính giữa): ngôi nhà nào có 7 cảnh cửa chính, cửa chính thứ 4 của ngôi nhà đó tính từ toàn bộ cửa, ngôi nhà nòa có 5 cánh của chính thì cánh cửa chính thứ 3 của ngôi nhà ấy được gọi là căn phòng gần của chính giữa. Ngôi nhà nào có 3 cánh cửa chính thì cánh cửa thứ 2 của ngôi nhà đó được gọi là căn phòng ở gần cánh cửa chính giữa. Còn ngôi nhà có một cánh cửa chính duy nhất thì cánh cửa dựa vào cột trụ maṅgala thì được gọi là căn phòng gần cửa chính giữa. Nhưng ngôi nhà của gia chủ Upāḷī có 7 cánh cửa chính, ngài đã nói 5 cửa cũng có.

73. aggantiādīni sabbāni aññamaññavevacanāni. yaṃ sudanti ettha yanti yaṃ nāṭaputtaṃ. sudanti nipātamattaṃ. pariggahetvāti teneva uttarāsaṅgena udare parikkhipanto gahetvā. nisīdāpetīti P.3.94 saṇikaṃ ācariya, saṇikaṃ ācariyāti mahantaṃ telaghaṭaṃ ṭhapento viya nisīdāpeti. dattosīti kiṃ jaḷosi jātoti attho. paṭimukkoti sīse parikkhipitvā M.3.67 gahito. aṇḍahārakotiādiṃ duṭṭhullavacanampi samānaṃ upaṭṭhākassa aññathābhāvena uppannabalavasokatāya idaṃ nāma bhaṇāmīti asallakkhetvāva bhaṇati.

Tất cả từ có từ Aggaṃ (trên cùng) v.v, là từ đồng nghĩa với nhau. yaṃ sudaṃ này thì từ yaṃ ám chỉ đến Nāṭaputta nào, từ sudaṃ chỉ là một phân từ. Pariggahetvā (đã soạn sẵn): đã lấy tấm y vai trái đó quấn quanh bụng lại. Nisīdāpeti (cho ngồi): Mời ngồi (nói rằng) từ từ thưa thầy, từ từ thưa thầy, như thể đặt một bình nước lớn xuống. Dattosi (người ngu): có nghĩa là ngươi đã khởi sanh sự điên rồ rồi sao? Paṭimukko (Đã đội vào): sau khi nắm nắm lấy đã quấn quanh trên đầu. Aṇḍahārako (người đi với hai tinh hoàn) v.v.: thậm chí là lời nói thô thiển Nigaṇṭha cũng không thể nhận định, nói lời thô thiển cũng nói ra do khởi lên sự sầu muộn mãnh liệt bởi vì Upālī đã trở thành một người khác.

74. bhaddikā, bhante, āvaṭṭanīti nigaṇṭho māyameva sandhāya vadati, upāsako attanā paṭividdhaṃ sotāpattimaggaṃ. tena hīti nipātamattametaṃ, bhante, upamaṃ te karissāmicceva attho. kāraṇavacanaṃ vā, yena kāraṇena tumhākaṃ sāsanaṃ aniyyānikaṃ, mama satthu niyyānikaṃ, tena kāraṇena upamaṃ te karissāmīti vuttaṃ hoti.

74. bhaddikā, bhante, āvaṭṭanī (thưa ngài, huyễn thuật lôi cuốn này): Nigaṇṭha nói muốn đề cập đến huyễn thuật ấy này, tuy nhiên Upālī đã tự mình thấu triệt, chứng đắc Tu-đà-hoàn Đạo. tena hi (nếu vậy): đây chỉ là một phân từ, có nghĩa là, thưa ngài tôi sẽ đưa ra một ví dụ so sanh cùng ngài. Hơn nữa, đây là lời nói về nguyên nhân. Ngài giải thích rằng: lời dạy của các ngài không dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi mọi khổ đau, với nguyên nhân nào tôi sẽ đưa ra ví dụ so sánh cùng ngài với nguyên nhân đó.

75. upavijaññāti vijāyanakālaṃ upagatā. makkaṭacchāpakanti makkaṭapotakaṃ. kiṇitvā ānehīti mūlaṃ datvāva āhara. āpaṇesu hi saviññāṇakampi aviññāṇakampi makkaṭādikīḷanabhaṇḍakaṃ V.3.68 vikkiṇanti. taṃ sandhāyetaṃ āha. rajitanti bahalabahalaṃ pītāvalepanaraṅgajātaṃ gahetvā rajitvā dinnaṃ imaṃ icchāmīti attho. ākoṭitapaccākoṭitanti ākoṭitañceva parivattetvā punappunaṃ ākoṭitañca. ubhatobhāgavimaṭṭhanti maṇipāsāṇena ubhosu P.3.95 passesu suṭṭhu vimaṭṭhaṃ ghaṭṭetvā uppāditacchaviṃ.

75. Upavijaññā (sắp đến kỳ sinh nở): sắp đến kỳ sinh nở. Makkaṭacchāpakaṃ: con khỉ con. kiṇitvā ānehi (hãy mua con khi con…mang về): hãy đưa tiền rồi mang về (mua). Thật vậy, ở trong chợ những người buôn bán bán đồ chơi giành cho khỉ có cả những thứ có thức và luôn cả những thứ vô thức, người vợ trẻ của Bà-la-môn ấy muốn đề cập đến đồ chơi đó. Rajitaṃ (nhuộm): tôi muốn thứ này mà họ đã lấy màu nhuộm, nhuộm màu vàng dày dày lên. Ākoṭitapaccākoṭitaṃ (đập tới đặp lui): vị ấy đập tới đập lui lập đi lập lại. Ubhatobhāgavimaṭṭhaṃ (cả hai phía được làm thành mềm dịu) có bề mặt da mà vi ấy lau chùi, đánh bóng nhẵn mịn cả hai bên bằng tre, ngọc ma-ni và phiến đá.

raṅgakkhamo hi khoti saviññāṇakampi aviññāṇakampi raṅgaṃ pivati. tasmā evamāha. no ākoṭṭanakkhamoti saviññāṇakassa tāva ākoṭṭanaphalake ṭhapetvā kucchiyaṃ ākoṭitassa kucchi bhijjati, karīsaṃ nikkhamati. sesī ākoṭitassa sīsaṃ bhijjati, mattaluṅgaṃ nikkhamati. aviññāṇako khaṇḍakhaṇḍitaṃ gacchati. tasmā evamāha. no vimajjanakkhamoti saviññāṇako maṇipāsāṇena vimaddiyamāno nillomataṃ nicchavitañca āpajjati, aviññāṇakopi vacuṇṇakabhāvaṃ āpajjati. tasmā evamāha. raṅgakkhamo hi kho bālānanti bālānaṃ mandabuddhīnaṃ raṅgakkhamo, rāgamattaṃ janeti, piyo hoti. paṇḍitānaṃ pana nigaṇṭhavādo vā añño vā bhāratarāmasītāharaṇādi niratthakakathāmaggo appiyova hoti.

raṅgakkhamo hi kho (chỉ nên nhuộm mà thôi): Tất cả đồ chơi có thức, và cả thứ không có thức được thấm màu nhuộm, bởi thế đã nói như vậy. no ākoṭṭanakkhamo (không nên đập giã): khi đồ chơi có thức sau khi đặt xuống tấm ván để đập, (vị ấy) đã đánh vào bụng trước, cái bụng bị vỡ ra, phân cũng chảy ra. Đánh vào đầu, đầu bị vỡ ra, óc não cũng phụt ra. Đồ chơi không có thức cũng bị bễ tan thành mãnh lớn mãnh nhỏ, cho nên đã nói như vậy. no vimajjanakkhamo (không thể làm cho nhẵn mịn): đồ chơi có thức mà hắn chà xát bằng ngọc ma-ni và phiến đá trở nên trụi lông và không có da, đồ chơi không có thức cũng vỡ vụn. Cho nên đã nói như vậy. Raṅgakkhamo hi kho (có thể trở thành nơi hoan hỷ của người ngu mà thôi): người thích hợp được nhuộm chỉ sản sinh ra ái luyến là chỗ yêu mến của nhóm người ngu, có sự hiểu biết chậm chạp. Còn lời nói của Nigaṇṭha, hoặc vấn đề khác, hoặc nói về những đạo lộ không có lợi ích chẳng hạn như chuyện về Bhāratayuddha2 và Rāmayaṇa3 v.v, không phải là nơi yêu mến của những bậc trí.

no anuyogakkhamo, no vimajjanakkhamoti anuyogaṃ vā vīmaṃsaṃ vā na khamati, thuse koṭṭetvā taṇḍulapariyesanaṃ viya kadaliyaṃ sāragavesanaṃ viya ca rittako tucchakova hoti. raṅgakkhamo ceva paṇḍitānanti M.3.68 catusaccakathā hi paṇḍitānaṃ piyā hoti, vassasatampi suṇanto tittiṃ na gacchati. tasmā evamāha. buddhavacanaṃ pana yathā yathāpi ogāhissati mahāsamuddo viya gambhīrameva hotīti “anuyogakkhamo ca vimajjanakkhamo cā”ti āha. suṇohi P.3.96 yassāhaṃ sāvakoti tassa guṇe suṇāhīti bhagavato vaṇṇe vattuṃ āraddho.

no anuyogakkhamo, no vimajjanakkhamo (không nên thẩm vấn, không nên suy xét): không chịu được sự thẩm vấn hoặc việc thẩm sát trống rỗng tựa như nhặt trấu để tìm kiếm thóc (gạo) và giống như việc tìm kiếm lỗi cây trong thân cây chuối. raṅgakkhamo ceva paṇḍitānaṃ (có thể trở thành nơi hoan hỷ của bậc trí): Thật vậy, bài giảng về Tứ Thánh Đế là nơi yêu quý của những bậc trí, lắng nghe dầu trăm năm cũng không cảm thấy no đủ. Cho nên (gia chủ Upālī) đã nói như vậy. Lại nữa, Phật ngôn thâm sâu tựa như đại dương bằng cách chìm sâu xuống được, bởi thế gia chủ Upālī mới nói rằng: “nên thẩm vấn, và nên suy xét”. suṇohi yassāhaṃ sāvako (thưa ngài, hãy nghe, tôi là đệ tử của ai): Gia chủ Upālī bắt dầu nói ân đức của đức Thế Tôn rằng: “Tôi là đệ tử của Đạo Sư nào, xin hãy lắng nghe các ân đức của bậc Đạo Sư ấy”.

76. dhīrassāti dhīraṃ vuccati paṇḍiccaṃ, yā paññā pajānanā … pe … sammādiṭṭhi, tena samannāgatassa dhātuāyatanapaṭiccasamuppādaṭṭhānāṭṭhānakusalassa paṇḍitassāhaṃ sāvako, so mayhaṃ satthāti evaṃ sabbapadesu sambandho veditabbo. pabhinnakhīlassāti bhinnapañcacetokhilassa. sabbaputhujjane vijiniṃsu vijinanti vijinissanti vāti vijayā. ke te, maccumārakilesamāradevaputtamārāti? te vijitā vijayā etenāti vijitavijayo. bhagavā, tassa vijitavijayassa. anīghassāti kilesadukkhenapi vipākadukkhenapi niddukkhassa. susamacittassāti devadattadhanapālakāṅgulimālarāhulatherādīsupi devamanussesu suṭṭhu samacittassa. vuddhasīlassāti V.3.69 vaḍḍhitācārassa. sādhupaññassāti sundarapaññassa. vesamantarassāti rāgādivisamaṃ taritvā vitaritvā ṭhitassa. vimalassāti vigatarāgādimalassa.

76. Bậc trí gọi là ‘người sáng trí’ trong từ ‘của người sáng trí’, nên biết sự ràng buộc trong các câu như vầy “trí tuệ biết rõ…nt…chánh kiến nào, tôi là đệ tử của đức Phật, người hội đủ trí tuệ ấy, là bậc trí tuệ, khéoe léo trong giới và xứ (dhātu-āyatana), lý duyên khởi (paṭiccasamuppāda), xứ và phi xứ (ṭhāna-āṭhāna), đức Phật ấy là bậc Đạo Sư của tôi”. Pabhinnakhīlassa (đã phá tan phiền não là Pháp xiết chặt tâm): năm cetokhila (sự cứng rắn của tâm) bị phá tan. Những thực tính nào đã chiến thắng, đang chiến thắng, sẽ chiến thắng trong tất cả hạng phàm nhân, vì nguyên nhân đó những thực tính đó gọi là người chiến thắng. Những thực tính đó là gì? là tử thần ma, phiền não ma và thiên tử ma, những ác ma chiến thắng mà đức Phật đã chiến thắng, vì thế đức Phật ấy mới gọi là vị đã chiến thắng ác ma. Đức Thế Tôn đó vị đã chiến thắng những ác ma. Anīghassa (không có khổ): người không có khổ, cả khổ sanh khởi từ phiền não, và cả khổ do quả dị thục. Susamacittassa: Bậc Đạo Sư vị có tâm đồng đẳng chân chánh đối với tất cả chư Thiên và loài người chằng hạn như Devadatta, con voi Dhanapāla, Aṅgulimāla và trưởng lão Rāhula v.v. vuddhasīlassa: vị có phẩm hạnh đã được tăng trưởng. Sādhupaññassa: Vị có trí tuệ tốt đẹp. Vesamantarassa: vị đã đi qua, đã vượt qua nơi không bẳng phẳng có ái luyến v.v, đã vững trú. Vimalassa: vị có ô nhiễm, có ái luyến v.v, đã được lìa bỏ.

tusitassāti tuṭṭhacittassa. vantalokāmisassāti vantakāmaguṇassa. muditassāti muditāvihāravasena muditassa, punaruttameva vā etaṃ. pasādavasena hi ekampi guṇaṃ punappunaṃ vadatiyeva. katasamaṇassāti P.3.97 katasāmaññassa, samaṇadhammassa matthakaṃ pattassāti attho. manujassāti lokavohāravasena ekassa sattassa. narassāti punaruttaṃ. aññathā vuccamāne ekekagāthāya dasa guṇā nappahonti.

Tusitassa (có trái tim tốt đẹp): Vị có tâm hoan hỷ. Vantalokāmisassa (đã nôn mưa những vật chất thế gian): vị có sự trói buộc của năm dục đã được nôn mửa. Muditassa (vui mừng): là vị hoan hỷ với mãnh lực an trú tâm hỷ (trong bốn Pháp Phạm trú). Hơn nữa, lời này gia chủ Upālī nói lặp lại mà thôi, sự thật thì gia chủ Upālī chỉ nói đến một ân đức duy nhất lặp đi lặp lại do lòng tịnh tín. Katasamaṇassa: vị có đức hạnh là phương tiện để trở thành Sa-môn đã được thực hành, có nghĩa là đã đạt đến cứu cánh cuối cùng của Sa-môn Pháp. Manujassa: người là một chúng sanh bởi mãnh lực lokavohāra. Gia chủ Upālī đã nói lặp lại nữa vị ấy là người đàn ông khi vị ấy nói theo cách khác mười ân đức bằng một kệ ngôn hẳn không đủ.

venayikassāti sattānaṃ vināyakassa. ruciradhammassāti sucidhammassa. pabhāsakassāti obhāsakassa. vīrassāti vīriyasampannassa. nisabhassāti usabhavasabhanisabhesu sabbattha appaṭisamaṭṭhena nisabhassa. gambhīrassāti gambhīraguṇassa, guṇehi vā gambhīrassa. monapattassāti ñāṇapattassa. vedassāti vedo vuccati ñāṇaṃ, tena samannāgatassa. dhammaṭṭhassāti dhamme ṭhitassa. saṃvutattassāti pihitattassa.

Venayikassa: là vị lãnh đạo tất cả chúng sanh. Ruciradhammassa: vị có Pháp trong sáng. pabhāsakassa: vị làm chói sáng. Vīrassa là vị thành tựu bởi sự tinh tấn. Nisabhassa (bậc Ngưu vương): tựa như loài bò Nisabha với ý nghĩa không ai có thế sánh bằng trong số các loài bò dòng Usabha, dòng Vasabha và dòng Nisabha. Gambhīrassa: có đức hạnh thâm sâu khó thấy hoặc vị thâm sâu bởi những đức hạnh. monapattassa là vị chứng đạt trí tuệ. Trí tuệ gọi là sự hiểu biết (veda) trong từ vedassa, hội tụ bởi sự hiểu biết được gọi là veda (sự hiểu biết). Dhammaṭṭhassa: vị đã vững trú trong Pháp. Saṃvutattassa vị có thân đã thu thúc, vị có thân đã đóng rồi.

nāgassāti M.3.69 catūhi kāraṇehi nāgassa. pantasenassāti pantasenāsanassa. paṭimantakassāti paṭimantanapaññāya samannāgatassa. monassāti monaṃ vuccati ñāṇaṃ, tena samannāgatassa, dhutakilesassa vā. dantassāti nibbisevanassa.

Nāgassa: vị tối thượng bởi bốn lý do. Pantasenassa: vị có chỗ nằm và ngồi an tịnh. Paṭimantakassa: vị hội đủ với trí tuệ phản đối veda. Sự hiểu biết gọi là mona trong từ monassa, hội đủ với sự hiểu biết ấy hoặc người có phiền não đã được nhổ bỏ. Dantassa: vị đã hết sạch (tánh) ngang bướng.

isisattamassāti vipassiādayo cha isayo upādāya sattamassa. brahmapattassāti P.3.98 seṭṭhapattassa. nhātakassāti nhātakilesassa. padakassāti akkharādīni samodhānetvā gāthāpadakaraṇakusalassa. viditavedassāti viditañāṇassa. purindadassāti sabbapaṭhamaṃ dhammadānadāyakassa. sakkassāti samatthassa. pattipattassāti ye pattabbā guṇā, te pattassa. veyyākaraṇassāti vitthāretvā atthadīpakassa. bhagavatā hi abyākataṃ nāma tanti padaṃ natthi sabbesaṃyeva attho kathito.

vipassissāti V.3.70 vipassanakassa. anabhinatassāti anatassa. no apanatassāti aduṭṭhassa. ananugatantarassāti kilese ananugatacittassa. asitassāti abaddhassa.

Isisattamassa là vị ẩn sĩ thứ 7 tính từ vị ẩn sĩ thứ 6 có ẩn sĩ Vipassī. Brahmapattassa: là chúng sanh tối thượng. Nhātakassa: vị có phiền não đã rửa sạch. padakassa là vị khéo léo trong việc tập hợp các ký tự rồi đem đến làm thành câu kệ (soạn thành câu văn, câu thơ). Viditavedassa: vị có trí tuệ biết rõ. Purindadassa: vị bố thí Pháp thí trước hết tất cả. Sakkassa: vị có khả năng. Pattipattassa: Vị chứng đắt đức hạnh cần chứng đạt. Veyyākaraṇassa: vị thuyết giảng ý nghĩ rỗng rãi. Quả thật, không có lời nào mà đức Thế Tôn không biết rõ, ý nghĩa của tất cả lời nói được chính đức Thế Tôn thuyết giảng.

Vipassissa: vị thấy rõ. Anabhinatassa: không phải là vị trì tụng chú thuật. no apanatassa: muốn ám chỉ đến vị không đứng theo, không đi theo, tức là có tâm không đi theo các phiền não. Asitassa: không trói buộc.

bhūripaññassāti bhūri vuccati pathavī, tāya pathavīsamāya paññāya vipulāya mahantāya vitthatāya samannāgatassāti attho. mahāpaññassāti mahāpaññāya samannāgatassa.

Quả đất gọi là bhūri trong từ bhūripaññassa (trí tuệ quãng đại, rộng lớn tựa như quả đất), có nghĩa là thành tựu bởi trí tuệ quãng đại, vĩ đại, rộng rãi tựa như quả đất. Mahāpaññassa: Thành tựu với trí tuệ vĩ đại.

anupalittassāti taṇhādiṭṭhikilesehi alittassa. āhuneyyassāti āhutiṃ paṭiggahetuṃ yuttassa. yakkhassāti ānubhāvadassanaṭṭhena ādissamānakaṭṭhena vā bhagavā yakkho nāma. tenāha “yakkhassā”ti. mahatoti P.3.99 mahantassa. tassa sāvakohamasmīti tassa evaṃvividhaguṇassa satthussa ahaṃ sāvakoti. upāsakassa sobhāpattimaggeneva paṭisambhidā āgatā. iti paṭisambhidāvisaye ṭhatvā padasatena dasabalassa kilesappahānavaṇṇaṃ kathento “kassa taṃ gahapati sāvakaṃ dhāremā”ti pañhassa atthaṃ vissajjesi.

Anupalittassa: vị mà phiền não làm vấy bẩn (tức là) tham ái và tà kiến đã không còn vấy bẩn. Đức Thế Tôn gọi là Yakkha trong từ Yakkhassa cũng bởi ý nghĩa rằng đã thể hiện uy lực hoặc bởi ý nghĩa bất kỳ ai cũng không nhìn thấy (không hiện hữu) bởi thế gia chủ Upālī đã nói Yakkhassa. Mahato: to lớn. tassa sāvakohamasmi (tôi là đệ tử của bậc Đạo Sư đó): tôi là đệ tử của bậc Đạo Sư vị có vô số ân đức như vậy đó. Tuệ phân tích đã khởi lên cũng gia chủ Upālī cùng với quả vị Tu-đà-hoàn Đạo. Như thế, gia chủ Upālī đã vững trú trong phạm vị là Tuệ phân tích, khi nói về ân đức của đấng Thập Lực trong việc dứt bỏ phiền não với một trăm câu bằng với trả lời câu hỏi rằng: “Này giả chủ, nay tất cả chúng tôi xem gia chủ là đệ tử của ai.”

77. kadā M.3.70 saññūḷhāti kadā sampiṇḍitā. evaṃ kirassa ahosi — “ayaṃ idāneva samaṇassa gotamassa santikaṃ gantvā āgato, kadānena ete vaṇṇā sampiṇḍitā”ti. tasmā evamāha. vicittaṃ mālaṃ gantheyyāti sayampi dakkhatāya pupphānampi nānāvaṇṇatāya ekatovaṇṭikādibhedaṃ vicitramālaṃ gantheyya. evameva kho, bhanteti ettha nānāpupphānaṃ mahāpuppharāsi viya nānāvidhānaṃ vaṇṇānaṃ bhagavato sinerumatto vaṇṇarāsi daṭṭhabbo. chekamālākāro viya upāli gahapati. mālākārassa vicitramālāganthanaṃ viya gahapatino tathāgatassa vicitravaṇṇaganthanaṃ.

77. kadā saññūḷhā: tập hợp lại khi nào? biết rằng Nigaṇṭha Nāṭaputta nghĩ như vầy – “Gia chủ Upālī đi đến trú xứ của Sa-môn Gotama chỉ mơi đây, vị ấy tập hợp lại ân đức đó từ khi nào? vì thế Nigaṇṭha Nāṭaputta đã nói như vậy. vicittaṃ mālaṃ gantheyyā (có thế kết những bông hoa thành tràng hoa có những loại hoa sai biệt): Thợ cắm hoa hoặc học trò người thợ cắm hoa có thể sắp đặt một cách đa dạng theo thứ tự bông hoa có chung một thân (trục) v.v, với sự khéo léo thiện xảo của bản thân, với tính chất các loài hoa có nhiều màu sắc khác nhau. evameva kho, bhante (thưa ngài…cũng như thế): có thể nhìn thấy việc tập hợp, việc giảng giải ân đức có nhiều cách thức của đức Thế Tôn như ngọn núi Suneru, tựa như một đống hoa lớn trong số nhiều loại hoa. Gia chủ Upālī giống như người thợ cắm hoa thiện xảo. Việc liên kết vô số ân đức của đức Thế Tôn của giả chủ giống như việc sắp đặt những bông hoa da dạng của người thợ cắm hoa.

uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggañchīti tassa hi bhagavato sakkāraṃ asahamānassa etadahosi — “anatthiko dāni ayaṃ gahapati amhehi, sve paṭṭhāya paṇṇāsa saṭṭhi jane gahetvā etassa gharaṃ pavisitvā bhuñjituṃ na labhissāmi, bhinnā me bhattakumbhī”ti. athassa upaṭṭhākavipariṇāmena balavasoko uppajji. ime hi sattā attano attanova cintayanti. tassa V.3.71 tasmiṃ soke uppanne abbhantaraṃ uṇhaṃ ahosi, lohitaṃ vilīyittha, taṃ mahāvātena samuddharitaṃ kuṭe pakkhittarajanaṃ viya pattamattaṃ mukhato uggañchi. nidhānagatalohitaṃ vamitvā pana appakā sattā jīvituṃ sakkonti. nigaṇṭho tattheva jāṇunā patito, atha naṃ pāṭaṅkiyā bahinagaraṃ P.3.100 nīharitvā mañcakasivikāya gahetvā pāvaṃ agamaṃsu, so na cirasseva pāvāyaṃ kālamakāsi. imasmiṃ pana sutte ugghāṭitaññūpuggalassa vasena dhammadesanā pariniṭṭhitāti.

uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggañchī (thổ huyết nóng ra từ miệng): Nigaṇṭha Nāṭaputta ấy không thể chịu đựng được sự cung kính đức Thế Tôn đã nghĩ quá nhiều rằng: “Bây giờ, không có Upālī, kể từ ngày mai ta sẽ đưa hội chúng 50-60 người đi vào nhà của hắn, không được thọ dụng vật thực, nồi cơm của ta bị phá vỡ rồi.” Khi đó, Nigaṇṭha Nāṭaputta khởi lên sự sầu muộn dữ dội bởi sự thay đổi của người cấp dưỡng. Sự thật những người này chỉ nghĩ đến bản thân mình mà thôi. Khi sự sầu muộn ấy khởi lên nơi Nigaṇṭha Nāṭaputta, sự nóng đốt bên trong cũng khởi lên máu chảy ra. Máu đó bị ngọn gió lớn đẩy mạnh lên trào ra ngoài từ miệng khoảng một bình bát giống như nước nhuộm đổ vào chậu. Số ít người nôn ra máu đông vẫn có thể sống sót được. Nigaṇṭha quỵ gối ngã xuống tại chính nơi đó. Những người làm việc đã dùng cái giường để đưa Nigaṇṭha Nāṭaputta ra khỏi thành bằng cái giường 5 người đã đi đến thành Pāvā. Tử đó không bao lâu Nigaṇṭha Nāṭaputta cũng đã chết ở thành Pāvā. Pháp thoại trong bài Kinh này được hoàn thành nhờ vào sức mạnh trí tuệ của hạng người có trí tuệ bậc thượng, bén nhạy.

Giải Thích Kinh Upāli Kết Thúc.

1 Mejjho

2 Câu chuyện cổ đại của Ấn Độ kể về cuộc chiến tranh v.v,

3 Một sử cổ đại của Ấn Độ giáo v.v,