Kinh số 50 – Giải Thích Kinh Hàng Ma

(Māratajjanīyasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Hàng Ma

  1. evaṃ V.2.309 P.2.416 me sutanti māratajjanīyasuttaṃ. tattha koṭṭhamanupaviṭṭhoti kucchiṃ pavisitvā antānaṃ anto anupaviṭṭho, pakkāsayaṭṭhāne nisinno. garugaro viyāti garukagaruko viya thaddho pāsāṇapuñjasadiso. māsācitaṃ M.2.313 maññeti māsabhattaṃ bhuttassa kucchi viya māsapūritapasibbako viya tintamāso viya cāti attho. vihāraṃ pavisitvāti sace āhāradosena esa garubhāvo, abbhokāse caṅkamituṃ na sappāyanti caṅkamā orohitvā paṇṇasālaṃ pavisitvā pakatipaññatte āsane nisīdi. paccattaṃ yoniso manasākāsīti, “kiṃ nu kho etan”ti āvajjamāno attanoyeva upāyena manasi akāsi. sace pana thero attano sīlaṃ āvajjetvā, “yaṃ hiyyo vā pare vā parasuve vā paribhuttaṃ avipakkamatthi, añño vā koci visabhāgadoso, sabbaṃ jīratu phāsukaṃ hotū”ti hatthena kucchiṃ parāmasissa, māro pāpimā vilīyitvā agamissa. thero pana tathā akatvā yoniso manasi akāsi. mā tathāgataṃ vihesesīti yathā hi puttesu vihesitesu mātāpitaro vihesitāva honti, saddhivihārikāntevāsikesu vihesitesu ācariyupajjhāyā vihesitāva, janapade vihesite rājā vihesitova hoti, evaṃ tathāgatasāvake vihesite tathāgato vihesitova hoti. tenāha — “mā tathāgataṃ vihesesī”ti.

506.Kinh Hàng Ma được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, koṭṭhamanupaviṭṭho (Ác ma đi vào bụng): đã đi vào trong bụng, đi vào bên trong ruột già theo tuần tự, rồi ngồi xuống ở chỗ dạ dày. garugaro viyā (giống như có một cục gì rất nặng): cứng rắn giống như rất nặng tựa tảng đá. Tức là vật thực được làm với đậu, nhìn như thế đậu được ngâm với dầu, tựa như bụng của người đã ăn cơm, giống như cái cói được đựng đầy với đậu, tợ như đậu đã được ngâm nước. vihāraṃ pavisitvā (đi vào tự viện): Trưởng lão nghĩ rằng: “nếu đây có tính chất nặng nề do sự khó chịu của vật thực, việc đi kinh hành ở ngoài trời cùng không trở nên dễ chịu” vì thế sau khi Trưởng lão đi xuống từ đường đi kinh hành đã đi vào gian nhà lá, ngồi xuống chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn.” paccattaṃ yoniso manasākāsi (tác ý đúng đường lối…chi tiết riêng biệt): trong khi suy tư rằng “đây là gì vậy?” Trưởng lão đã tác ý đúng đắn nhờ vào tự thân. Nếu như sau khi Trưởng lão hướng tâm đến giới hạnh, dùng tay che bụng với suy nghĩ rằng “Thức ăn đã được ta thọ dụng ngày hôm qua, ngày hôm kia hoặc trước ngày hôm kia đều không được nấu chín, hay sự khó chịu khởi lên do sự sai khác lạ thường nào từ vật thực cầu mong cho vật đó hãy được tiêu hóa, có được nhiều an lạc.” Ác ma xấu xa cũng tan biến mất. Nhưng Trưởng lão đã không làm như thế mà chỉ có tác ý đúng đắn. mā tathāgataṃ vihesesī (ngươi đừng làm phiền Như Lai): Cũng giống như khi những đứa con bị làm phiền thì mẹ và cha cũng xem như bị làm phiền, khi các người học trò và những người đệ tử bị làm phiền thì thầy tế độ và thầy dậy học cũng xem như bị làm phiền, khi dân chúng bị làm phiền thì đức vua cũng xem như bị làm phiền thế nào. Khi đệ tử của Như Lai bị làm phiền thì Như Lai cũng xem như bị cũng xem như bị làm phiền thế đó. Vì thế, Trưởng lão Mahāmoggallāna đã nói rằng – “đừng làm phiền Như Lai.”

paccaggaḷe aṭṭhāsīti patiaggaḷeva aṭṭhāsi. aggaḷaṃ vuccati kavāṭaṃ, mukhena uggantvā paṇṇasālato nikkhamitvā bahipaṇṇasālāya kavāṭaṃ nissāya aṭṭhāsīti attho.

paccaggaḷe aṭṭhāsi (đứng ở bên cạnh cửa sổ): đứng ở nơi cửa sổ. Cửa sổ Ngài gọi là  ‘aggaḷa’ Ác ma đã đi ra khởi bằng cửa miệng, đi từ gian nhà lá, đứng tựa vào cánh cửa gian nhà lá.

  1. bhūtapubbāhaṃ pāpimāti kasmā idaṃ desanaṃ ārabhi? thero kira cintesi — “ākāsaṭṭhakadevatānaṃ tāva manussagandho yojanasate ṭhitānaṃ ābādhaṃ karoti. vuttañhetaṃ — ‘yojanasataṃ kho rājañña manussagandho deve ubbādhatī’ti (dī. ni. 2.415). ayaṃ pana māro nāgariko paricokkho mahesakkho ānubhāvasampanno devarājā samāno mama kucchiyaṃ pavisitvā antānaṃ anto pakkāsayokāse nisinno ativiya paduṭṭho bhavissati. evarūpaṃ nāma V.2.310 jegucchaṃ P.2.417 paṭikūlaṃ okāsaṃ pavisitvā nisīdituṃ sakkontassa kimaññaṃ akaraṇīyaṃ bhavissati, kiṃ aññaṃ lajjissati, tvaṃ mama ñātikoti pana vutte mudubhāvaṃ anāpajjamāno nāma natthi, handassa M.2.314 ñātikoṭiṃ paṭivijjhitvā mudukeneva naṃ upāyena vissajjessāmī”ti cintetvā imaṃ desanamārabhi.

Ác ma xấu xa, chuyện này đã từng xảy ra, vì sao Trưởng lão bắt đầu pháp thoại này?  Thật ra Trưởng lão nghĩ rằng: “Mùi hôi của nhân loại gây khó chịu đến chúng chư Thiên ngự trên hư không xa tới hàng trăm do-tuần.” Giống như Trưởng lão Kumārakasspa đã nói: “Mùi hôi của nhân loại gây phiền nhiễu đến chúng chư Thiên hàng trăm do-tuần”(dī. ni. 2.415). Cũng vì lý do đó Ác ma này là người dân thành phố có tùy tùng bảo vệ, thành tựu đầy đủ oai lực là vua của chúng Thiên, đã đi vào bụng của ta, ngồi bên trong dạ dày trong đường ruột, sẽ trở thành quá hung hãn. Ta đã nói rằng: “người có khả năng đi vào ngồi ở bên trong lỗ trông ghê tởm bẩn thỉu như thế này, không có chuyện gì khác để làm hay sao? không cảm thấy xấu hổ với người khác sao? ngươi không phải họ hàng thân quyến của ta.” Ác ma nghĩ rằng: “người không đạt đến không có trạng thái tâm nhu nhuyễn, được rồi ta sẽ điều tra thân quyến của vị Trưởng lão đó, ta sẽ buông tha vị ấy bằng đường lối nhẹ nhàng” mới bắt đầu trình bày chuyện này.

so me tvaṃ bhāgineyyo hosīti so tvaṃ tasmiṃ kāle mayhaṃ bhāgineyyo hosi. idaṃ paveṇivasena vuttaṃ. devalokasmiṃ pana mārassa pitu vaṃso pitāmahassa vaṃso rajjaṃ karonto nāma natthi, puññavasena devaloke devarājā hutvā nibbatto, yāvatāyukaṃ ṭhatvā cavati. añño eko attanā katena kammena tasmiṃ ṭhāne adhipati hutvā nibbattati. iti ayaṃ māropi tadā tato cavitvā puna kusalaṃ katvā imasmiṃ kāle tasmiṃ adhipatiṭṭhāne nibbattoti veditabbo.

so me tvaṃ bhāgineyyo hosi (vị ấy là cháu trai của ta): vị đó là cháu của ta vào thời gian đó. Trưởng lão đã nói lời này với sức mạnh truyền thống. Không có việc đăng quang kế thừa dòng tộc từ cha của Ác ma, kế thừa từ ông nội ở trong thế giới chư Thiên. Cha của Ác ma ấy đã hóa sanh trở thành vua của chư Thiên trong thế giới chư Thiên do năng lực của phước báu, sau khi tồn tại ở đây cho đến hết tuổi thọ rồi chết đi, một vị Thiên khác sanh ra trở thành to lớn ở nơi đó do nghiệp mà chính mình đã tạo. Cho đến Ác ma đó cũng nên biết rằng “Kể cả Ác ma này rời khỏi thế giới chư Thiên vào thời gian đó, tạo thêm việc thiện, nên được sanh vào vị trí trở thành to lớn đó vào thời gian ấy.”

vidhuroti vigatadhuro, aññehi saddhiṃ asadisoti attho. appakasirenāti appadukkhena. pasupālakāti ajeḷakapālakā. pathāvinoti maggapaṭipannā. kāye upacinitvāti samantato citakaṃ bandhitvā. aggiṃ datvā pakkamiṃsūti ettakena sarīraṃ pariyādānaṃ gamissatīti citakassa pamāṇaṃ sallakkhetvā catūsu disāsu aggiṃ datvā pakkamiṃsu. citako padīpasikhā viya pajjali, therassa udakaleṇaṃ pavisitvā nisinnakālo viya ahosi. cīvarāni papphoṭetvāti samāpattito vuṭṭhāya vigatadhūme kiṃsukavaṇṇe aṅgāre maddamāno cīvarāni vidhunitvā. sarīre panassa usumamattampi nāhosi, cīvaresu aṃsumattampi najjhāyi, samāpattiphalaṃ nāmetaṃ.

Vidhuro (không có nhiệm vụ): không có nhiệm vụ, tức là không giống nhóm người khác. Appakasirena (với sự khổ đau chút ít): ít khó nhọc. Pasupālakā (nhóm người chăn nuôi gia súc): người chăn nuôi dê, chăn nuôi cừu. Pathāvino (lữ hành): người đi trên đường. kāye upacinitvā (chất chồng lên thân): đã tạo dựng lò hỏa thiêu xung quanh. aggiṃ datvā pakkamiṃsu (lấy lửa đốt cháy rồi bỏ đi): những người nuôi bò v.v, xác định kích thước lò hỏa thiêu như sau: “Lò hỏa thiêu chừng này cái thân này sẽ cháy hết” đã châm lửa ở cả bốn phía rồi bỏ đi. Lò hỏa thiêu đã bốc cháy giống như ngọn đèn và thời gian đó cũng giống như thời gian mà Trưởng lão đi vào ngồi ở trong hang động có nước. cīvarāni papphoṭetvā (phủi y áo): Trưởng lão khi xuất khỏi sự thể nhập, đập vào thân hừng nơi không có khói, có màu sắc giống như hoa kiṃsuka, đã giũ sạch y áo, ngay cả hơi nóng cũng không thể chạm vào thân của Ngài, thậm chí sức nóng cũng không thể làm cháy được y phục. Đây được gọi là quả của sự thể nhập.

  1. akkosathāti dasahi akkosavatthūhi akkosatha. paribhāsathāti vācāya paribhāsatha. rosethāti ghaṭṭetha. vihesethāti dukkhāpetha. sabbametaṃ vācāya ghaṭṭanasseva adhivacanaṃ. yathā taṃ dūsī māroti yathā etesaṃ dūsī māro. labhetha otāranti labhetha chiddaṃ, kilesuppattiyā ārammaṇaṃ paccayaṃ labheyyāti attho. muṇḍakātiādīsu muṇḍe muṇḍāti samaṇe ca samaṇāti P.2.418 vattuṃ vaṭṭeyya, ime pana hīḷentā muṇḍakā samaṇakāti āhaṃsu. ibbhāti gahapatikā. kiṇhāti kaṇhā, kāḷakāti attho. bandhupādāpaccāti ettha bandhūti brahmā adhippeto V.2.311. tañhi brāhmaṇā pitāmahoti voharanti. pādānaṃ M.2.315 apaccā pādāpaccā, brahmuno piṭṭhipādato jātāti adhippāyo. tesaṃ kira ayaṃ laddhi — “brāhmaṇā brahmuno mukhato nikkhantā, khattiyā urato, vessā nābhito, suddā jāṇuto, samaṇā piṭṭhipādato”ti.

Akkosatha (hãy phỉ báng): các Ngài hãy mắng chửi bằng mười phương cách mạ lỵ. Paribhāsatha (hãy chửi mắng): nói bằng lời. rosetha (làm mất giá trị): hãy thóa mạ. Vihesetha (gây hại): dẫn đến khổ đau. Tất cả những lời này được gọi là việc thóa mạ bằng lời nói. yathā taṃ dūsī māro (làm cho Ác ma Dūsī…có được cơ hội) đồng nghĩa với giống như yathā etesaṃ dūsī māro (làm cho Ác ma Dūsī có thể đạt được cơ hội nhập vào nhóm Phạm thiên và nhóm cư sĩ đó). labhetha otāraṃ (có thể đạt được cơ hội): các Ngài hãy nhận biết, có thể đạt được đối tượng là điều kiện cho việc sanh khởi của phiền não. Muṇḍakā (Sa-môn trọc đầu): Nên gọi người có đầu trọc là ‘người đầu trọc’ và nên gọi Sa-môn là ‘Sa-môn’ nhưng những Bà-a-môn và cư sĩ này lại xem thường nên mới gọi là ‘Sa-môn trọc đầu’. Ibbhā (người gia chủ): người gia chủ. Kiṇhā: đen, tức là người có màu da đen. Bà-la-môn, Ngài muốn đề cập đến thân quyến này rằng: “là người sanh lên ở gót chân vua trời Đại Phạm thiên”. Bà-la-môn gọi Phạm thiên là tổ phụ. Tức là những người sanh ra từ gót chân được gọi là ‘pādāpacca’ (nhóm người được sanh ra từ gót chân của Phạm thiên). Kể rằng nhóm Bà-la-môn đó có niềm tin như vầy: “nhóm Bà-la-môn được sanh ra miệng của Phạm thiên, nhóm người Sát-đế-lỵ sanh ra ở trước ngực, nhóm người thuộc dòng nô lệ sanh ra từ lỗ rốn, nhóm Sa-môn sanh ra từ gót chân.”

jhāyinosmā jhāyinosmāti jhāyino mayaṃ jhāyino mayanti. madhurakajātāti ālasiyajātā. jhāyantīti cintayanti. pajjhāyantītiādīni upasaggavasena vaḍḍhitāni. mūsikaṃ maggayamānoti sāyaṃ gocaratthāya susirarukkhato nikkhantaṃ rukkhasākhāya mūsikaṃ pariyesanto. so kira upasantūpasanto viya niccalova tiṭṭhati, sampattakāle mūsikaṃ sahasā gaṇhāti. kotthūti siṅgālo, soṇotipi vadanti. sandhisamalasaṅkaṭireti sandhimhi ca samale ca saṅkaṭire ca. tattha sandhi nāma gharasandhi. samalo nāma gūthaniddhamanapanāḷi. saṅkaṭiraṃ nāma saṅkāraṭṭhānaṃ. vahacchinnoti kantārato nikkhanto chinnavaho. sandhisamalasaṅkaṭireti sandhimhi vā samale vā saṅkaṭire vā. sopi hi baddhagatto viya niccalo jhāyati.

jhāyinosmā jhāyinosmā (chúng ta tu tập thiền, chúng ta tu tập thiền): chúng tôi là người có thiền chứng, chúng tôi là người có thiền chứng. Madhurakajātā: khởi lên sự lười biếng, uể oải. Jhāyanti: suy tư, suy nghĩ. Pajjhāyanti (trì trệ): Ngài giải rộng với năng lực tiếp đầu ngữ (upasagga). mūsikaṃ maggayamāno (đang đứng rình con chuột): tìm kiếm con chuột trên nhánh cây, đi ra khỏi những hốc cây trên thân cây để đi tìm kiếm thức ăn vào buổi chiều. Kể rằng chim cú mèo đứng yên tựa như (người) tĩnh lặng, bắt lấy con chuột một cách nhanh chóng vào lúc gặp được con mồi. kotthu là siṅgālo (chó sói), các thầy A-xà-lê gọi là chim ưng. Sandhisamalasaṅkaṭire (ở các góc nhà, hồ nước dơ, và đống rác thải): ở chỗ góc vách tường, ở các cống rãnh dơ bẩn, và ở những đống rác thải. Ở đó, ở những góc vách được gọi là khe nứt hay kẽ hở của ngôi nhà, hồ nước bẩn là những hố phân (chất cặn bã),nơi vứt bỏ rác rưởi gọi là đống rác. Vahacchinno (có con bò bị chặt đứt cổ): khi thoát khỏi từ nơi hoang vu có con bò đã bị cắt đứt cổ. ở nơi góc vách nhà, hồ nước dơ bẩn, hoặc ở đống rác thải. Con lừa đó nếu thiêu đốt cũng không cử động như bị đóng băng.

nirayaṃ upapajjantīti sace māro manussānaṃ sarīre adhimuccitvā evaṃ kareyya, manussānaṃ akusalaṃ na bhaveyya, mārasseva bhaveyya. sarīre pana anadhimuccitvā visabhāgavatthuṃ vippaṭisārārammaṇaṃ dasseti, tadā kira so bhikkhū khippaṃ gahetvā macche ajjhottharante viya, jālaṃ gahetvā macche gaṇhante viya, lepayaṭṭhiṃ oḍḍetvā sakuṇe bandhante viya, sunakhehi saddhiṃ araññe migavaṃ carante viya, mātugāme gahetvā āpānabhūmiyaṃ nisinne viya, naccante viya, gāyante viya, bhikkhunīnaṃ rattiṭṭhānadivāṭṭhānesu visabhāgamanusse nisinne viya, ṭhite viya ca katvā dassesi. manussā araññagatāpi vanagatāpi vihāragatāpi vippaṭisārārammaṇaṃ passitvā āgantvā aññesaṃ kathenti — “samaṇā P.2.419 evarūpaṃ assamaṇakaṃ ananucchavikaṃ karonti, etesaṃ dinne kuto kusalaṃ, mā etesaṃ kiñci adatthā”ti. evaṃ te manussā diṭṭhadiṭṭhaṭṭhāne sīlavante akkosantā apuññaṃ pasavitvā apāyapūrakā ahesuṃ. tena vuttaṃ “nirayaṃ upapajjantī”ti.

nirayaṃ upapajjanti (đi xuống địa ngục): Nếu Ác ma nhập vào thân của con người (người bị nhập) cần phải làm như vậy, bất thiện không thể có nơi con người, mà chỉ có nơi Ác ma. Hơn nữa, Ác ma đã không nhập vào cơ thể thì Ác ma sẽ làm cho thấy những thứ bất đồng (không lợi ích) và đối tượng làm cho sanh khởi sự ray rứt, được biết rằng khi đó Ác ma ấy khiến cho thấy các vị Tỳ khưu giống như người bắt cá, bắt lấy một cách nhanh chóng, khiến cho giống như người cầm lưới đánh bắt cá, khiến cho giống như đang đặt bẫy để bắt chim, khiến cho giống như kẻ đi săn ở trong rừng với con chó, giống như đưa người nữ đến ngồi trong quán rượu, giống như đang nhảy múa, giống như đang ca hát, khiến cho giống như những con người bất đồng đang ngồi và đứng trong chỗ nghỉ trưa và ban đêm của chúng Tỳ khưu ni. Tất cả mọi người đi vào rừng, đi vào khu rừng rậm, đi vào tịnh xá nhìn thấy đối tượng khiến khởi lên sự nóng đốt rồi đến thuật lại cho nhóm người khác rằng: “Bọn Sa-môn đã thực hành những phận sự không thích hợp cùng Sa-môn, không thích đáng như vậy, khi chúng tôi đến cúng dường cho nhóm Sa-môn đó thì ở đâu sẽ có được phước báu, các Ngài đừng cúng dường bất cứ thứ gì cho bọn Sa-môn đó.” Nhóm người đó phỉ báng những vị Tỳ khưu có giới hạnh ở nơi mà tôi đã nhìn thấy, đã lạnh thọ những ác nghiệp, đã đi tái sanh đầy trong địa ngục. Vì thế, Trưởng lão đã nói rằng: “đi đến địa ngục”.

  1. anvāviṭṭhāti M.2.316 āvaṭṭitā. pharitvā vihariṃsūti na kevalaṃ pharitvā vihariṃsu. kakusandhassa pana bhagavato ovāde ṭhatvā ime cattāro brahmavihāre nibbattetvā jhānapadaṭṭhānaṃ vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahatte patiṭṭhahiṃsu.

Anvāviṭṭhā (điều mà Ác mà làm cho thôi thúc thực hiện): Bị Ác ma xoay chuyển. pharitvā vihariṃsu (biến mãn…rồi an trú): Đã làm lan tỏa rồi không thể an trú một phương, nhưng an trú trong lời giáo của đức Thế Tôn hồng danh Kakusandha làm bốn Pháp Phạm trú này sanh khởi rồi phát triển Minh sát có thiền định làm nền tảng, đã an trú vào quả vị A-ra-hán.

  1. āgatiṃ V.2.312 vā gatiṃ vāti paṭisandhivasena āgamanaṭṭhānaṃ vā, cutivasena gamanaṭṭhānaṃ vā na jānāmi. siyā cittassa aññathattanti somanassavasena aññathattaṃ bhaveyya. saggaṃ lokaṃ upapajjantīti idhāpi purimanayeneva attho veditabbo. yathā hi pubbe vippaṭisārakaraṃ ārammaṇaṃ dasseti, evamidhāpi pasādakaraṃ. so kira tadā manussānaṃ dassanaṭṭhāne bhikkhū ākāse gacchante viya, ṭhite viya pallaṅkena nisinne viya, ākāse sūcikammaṃ karonte viya, potthakaṃ vācente viya, ākāse cīvaraṃ pasāretvā kāyaṃ utuṃ gaṇhāpente viya, navapabbajite ākāsena carante viya, taruṇasāmaṇere ākāse ṭhatvā pupphāni ocinante viya katvā dassesi. manussā araññagatāpi vanagatāpi vihāragatāpi pabbajitānaṃ taṃ paṭipattiṃ disvā āgantvā aññesaṃ kathenti — “bhikkhūsu antamaso sāmaṇerāpi evaṃmahiddhiko mahānubhāvā, etesaṃ dinnaṃ mahapphalaṃ nāma hoti, etesaṃ detha sakkarothā”ti. tato manussā bhikkhusaṅghaṃ catūhi paccayehi sakkarontā bahuṃ puññaṃ katvā saggapathapūrakā ahesuṃ. tena vuttaṃ “saggaṃ lokaṃ upapajjantī”ti.

Āgatiṃ vā gatiṃ vā (việc đến hoặc đi): ta không biết nơi đến do mãnh lực tục sanh, hoặc nơi đi do mạnh lực tử (đi đến các sanh thú). siyā cittassa aññathattaṃ (tâm có thể diễn tiến theo cách khác): Có thể có sự vận hành theo cách khác do mãnh lực sự vui mừng. saggaṃ lokaṃ upapajjaṃ (đạt đến thiên giới): nên biết ý nghĩa này theo cách thức trước đó. Giống như lúc đầu Ác ma phô bày cho thấy tượng khiến tâm nóng đốt như thế nào, trong lúc này cũng như thế đó phô bày cho thấy đối tượng khiến tâm trong sáng. Được biết rằng khi đó Ác ma ấy đã phô bày cho chư Tỳ khưu ở chỗ loài người nhìn thấy, làm cho như thế đang đi trong hư không, giống như đang đứng trong hư không, giống như đang ngồi kiết già trong hư không, giống như đang ngồi may y trong hư không, giống như đang luận thuyết trong hư không, giống như đang quấn y để cho cơ thể nhận được hơi ấm, giống như vị xuất gia già đang đi trong hư không, giống như vị Sa-di nhỏ đang đứng gom nhặt những bông hoa trong hư không. Nhóm người đi vào rừng, đi vào khu rừng rậm, hay đi đến tịnh xá nhìn thấy việc thức hành của những vị xuất gia, rồi đi đến nói cho nhóm người khác rằng – “Trong nhóm những vị xuất gia, dầu chỉ là vị Sa-do cũng có nhiều thần thông, có nhiều oai lực như thế, người cúng dường đến những vị này được gọi là có quả lớn, các ngài hãy cúng dường, hãy thực hiện cung kính các vị này”. Sau đó, nhóm người ấy đã cung kính chư Tỳ khưu Tăng với bốn món vật dụng, đã tạo nhiều phước báu, làm đạo lộ đầy đủ đưa đến thiên giới, vì thế Trưởng lão đã nói rằng “đạt đến thiên giới”.

  1. etha tumhe, bhikkhave, asubhānupassino kāye viharathāti bhagavā sakalajambudīpaṃ āhiṇḍanto antamaso dvinnampi tiṇṇampi bhikkhūnaṃ vasanaṭṭhānaṃ gantvā —

etha tumhe, bhikkhave, asubhānupassino kāye (này chư Tỳ khưu, các ông hãy sống quán bất tịnh trong thân): Đức Thế Tôn du hành toàn bộ cõi Jambudīpa, cuối cùng cũng đi đến chỗ cư ngụ của 2 vị Tỳ khưu, hay 3 vị Tỳ khưu đã thuyết giảng điều lợi ích như vầy rằng –

“asubhasaññāparicitena, bhikkhave, bhikkhuno cetasā bahulaṃ viharato methunadhammasamāpattiyā cittaṃ patilīyati patikuṭati P.2.420 pativattati na sampasāriyati, upekkhā vā pāṭikulyatā vā saṇṭhāti.

Này chư Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu an trú nhiều với tâm suy tưởng về thân thể bất tịnh, thời tâm được thâu hẹp, co rút tâm, cuộn tròn lại, để không duỗi ra đắm vào việc thực hành chuyện đôi lứa không Sự lãnh đạm (thờ ơ) hoặc trạng thái ghê tởm cũng được thiết lập.

āhāre paṭikūlasaññāparicitena, bhikkhave, bhikkhuno cetasā bahulaṃ viharato rasataṇhāya cittaṃ patilīyati patikuṭati M.2.317 pativattati na sampasāriyati, upekkhā vā pāṭikulyatā vā saṇṭhāti.

Này chư Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu an trú nhiều với tâm suy tưởng về bất tịnh trong vật thực, thời tâm được thâu hẹp, co rút tâm, cuộn tròn lại, để không duỗi ra đắm vào tham ái trong vị (thức ăn), sự lãnh đạm và trạng thái ghê tởm cũng được thiết lập.

sabbaloke anabhiratisaññāparicitena, bhikkhave, bhikkhuno cetasā bahulaṃ viharato lokacitresu cittaṃ patilīyati patikuṭati pativattati na sampasāriyati, upekkhā vā pāṭikulyatā vā saṇṭhāti.

Này chư Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu an trú nhiều với tâm suy tưởng về sự không hoan hỷ trong các thể giới, thời tâm được thâu hẹp, co rút tâm, cuộn tròn lại, để không duỗi ra đắm vào tâm phối hợp với sự tham muốn (từ sự đa dạng của thế giới), sự lãnh đạm và trạng thái ghê tởm cũng được thiết lập.

aniccasaññāparicitena V.2.313, bhikkhave, bhikkhuno cetasā bahulaṃ viharato lābhasakkārasiloke cittaṃ patilīyati patikuṭati pativattati na sampasāriyati, upekkhā vā pāṭikulyatā vā saṇṭhātī”ti (a. ni. 7.49) evaṃ ānisaṃsaṃ dassetvā —

Này chư Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu an trú nhiều với tâm suy tưởng về vô thường,  thời tâm được thâu hẹp, co rút tâm, cuộn tròn lại, để không duỗi ra đắm vào các lợi đắc, sự cung kính và sự khen ngợi, sự lãnh đạm và trạng thái ghê tởm cũng được thiết lập. (a. ni. 7.49).

etha tumhe, bhikkhave, asubhānupassī kāye viharatha, āhāre paṭikūlasaññino sabbaloke anabhiratisaññino sabbasaṅkhāresu aniccānupassinoti. imāni cattāri kammaṭṭhānāni kathesi. tepi bhikkhū imesu catūsu kammaṭṭhānesu kammaṃ karontā vipassanaṃ vaḍḍhetvā sabbāsave khepetvā arahatte patiṭṭhahiṃsu, imānipi cattāri kammaṭṭhānāni rāgasantāni dosamohasantāni rāgapaṭighātāni dosamohapaṭighātāni cāti.

Rồi nói về bốn nghiệp xứ này “này chư Tỳ khưu hãy sống quán chiếu về bất tịnh trên thân, là vị có sự suy tưởng về ghê tởm trong các món vật thực, là vị có suy tưởng về sự không hoan hỷ đối với tất cả thế gian, là vị quán tánh vô thường đối với tất cả hành. Thậm chí những vị Tỳ khưu đó tạo hành động trong cả bốn nghiệp xứ này làm cho tất cả các lậu hoặc được đoạn tận, an trú trong bản thể A-ra-hán. Bốn nghiệp xứ này làm cho ái luyến, sân hận và si mê được an tĩnh; nhổ bỏ ái luyến, sân hận và si mê một cách chắc chắn.

  1. sakkharaṃ gahetvāti antomuṭṭhiyaṃ tiṭṭhanapamāṇaṃ pāsāṇaṃ gahetvā. ayañhi brāhmaṇagahapatikehi bhikkhū akkosāpetvāpi, brāhmaṇagahapatikānaṃ vasena bhikkhusaṅghassa lābhasakkāraṃ uppādāpetvāpi, otāraṃ alabhanto idāni sahatthā upakkamitukāmo aññatarassa kumārassa sarīre adhimuccitvā evarūpaṃ pāsāṇaṃ aggahesi. taṃ sandhāya vuttaṃ “sakkharaṃ gahetvā”ti.

Sakkharaṃ gahetvā (đã cầm lấy hòn đá): Đã cầm lấy hòn đá chừng nắm tay. Cũng Ác ma này đã cho nhóm Bà-la-môn và cư sĩ phỉ báng chúng Tỳ khưu, thôi thúc cho nhóm Bà-la-môn và cư sĩ mang lại lợi đắc và sự cung kính chúng Tỳ khưu cũng không có cơ hội, bây giờ có mong muốn sẽ làm hại bằng chính bàn tay của mình nên mới nhập vào cơ thể của một đứa trẻ, rồi cầm lấy hòn đá bằng chừng đó lên. Trưởng lão muốn nói đến hòn đá đó mới nói rằng “đã cầm lấy hòn đá”.

sīsaṃ vo bhindīti sīsaṃ bhindi, mahācammaṃ chijjitvā maṃsaṃ dvedhā ahosi. sakkharā panassa sīsakaṭāhaṃ abhinditvā aṭṭhiṃ āhacceva nivattā. nāgāpalokitaṃ apalokesīti pahārasaddaṃ sutvā yathā nāma hatthināgo M.2.318 ito vā etto vā apaloketukāmo gīvaṃ aparivattetvā P.2.421 sakalasarīreneva nivattitvā apaloketi. evaṃ sakalasarīreneva nivattitvā apalokesi. yathā hi mahājanassa aṭṭhīni koṭiyā koṭiṃ āhacca ṭhitāni, paccekabuddhānaṃ aṅkusalaggāni, na evaṃ buddhānaṃ. buddhānaṃ pana saṅkhalikāni viya ekābaddhāni hutvā ṭhitāni, tasmā pacchato apalokanakāle na sakkā hoti gīvaṃ parivattetuṃ. yathā pana hatthināgo pacchābhāgaṃ apaloketukāmo sakalasarīreneva parivattati, evaṃ parivattitabbaṃ hoti. tasmā bhagavā yantena parivattitā suvaṇṇapaṭimā viya sakalasarīreneva nivattitvā apalokesi V.2.314, apaloketvā ṭhito pana, “na vāyaṃ dūsī māro mattamaññāsī”ti āha. tassattho, ayaṃ dūsī māro pāpaṃ karonto neva pamāṇaṃ aññāsi, pamāṇātikkantamakāsīti.

sīsaṃ vo bhindi (đầu của Ngài…bể): đầu của Ngài bị bể, miếng da lớn bị xé ra làm hai phần. Nhưng hòn đá không làm vỡ hộp sọ mà chỉ chạm vào xương rồi dội ngược trở lại. nāgāpalokitaṃ apalokesi (nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa): đã nghe âm thanh lớn, con long tượng khi muốn nhìn con voi này hay con voi kia sẽ không xoay cổ nhưng sẽ xoay cả người lại để quan sát như thế nào thì bậc Chánh đẳng Chánh giác hồng danh Kakusandha đã nghe âm thanh to lớn đã xoay toàn bộ cơ thể để quan sát, toàn bộ xương của dân chúng ở cuối khớp xương được sắp chồng lên nhau đã hình thành, của đức Phật độc giác dính lại móc nối lại với nhau, nhưng của chư Phật (Chánh đẳng Chánh giác) thì không phải như vậy, (mà chúng) liên kết tạo thành một hành tựa như mắc xích, vì thế lúc quan sát ở đằng sau, chư Phật không thế xoay cổ. Cũng giống như con long tượng khi muốn nhìn ra phía sau cần phải xoay cả thân hình mới có thể quan sát như thế nào, thì chư Phật cũng xoay người lại như thế, vì thế đức Thế Tôn xoay toàn bộ thân mình để ngước nhìn, giống như tượng Phật bằng vàng xoay chuyển bằng cổ xe, bậc Chánh đẳng Chánh giác đã ngước nhìn, đã nói rằng “Ác ma Dūsī không biết chừng mực.” Lời đó có ý nghĩa rằng “Ác ma Dūsī này đã tạo ác nghiệp, không biết chừng mực, đã tạo nghiệp vượt quá mức.”

sahāpalokanāyāti kakusandhassa bhagavato apalokaneneva saha taṅkhaṇaññeva. tamhā ca ṭhānā cavīti tamhā ca devaṭṭhānā cuto, mahānirayaṃ upapannoti attho. cavamāno hi na yattha katthaci ṭhito cavati, tasmā vasavattidevalokaṃ āgantvā cuto, “sahāpalokanāyā”ti ca vacanato na bhagavato apalokitattā cutoti veditabbo, cutikāladassanamattameva hetaṃ. uḷāre pana mahāsāvake viraddhattā kudāriyā pahaṭaṃ viyassa āyu tattheva chijjitvā gatanti veditabbaṃ. tayo nāmadheyyā hontīti tīṇi nāmāni honti. chaphassāyatanikoti chasu phassāyatanesu pāṭiyekkāya vedanāya paccayo.

Sahāpalokanāya (nhìn xung quanh): chính vào lúc đó cùng với cái nhìn của đức Thế Tôn Kakusandha. tamhā ca ṭhānā cavi (và di chuyển từ chỗ đó): nghĩa là chết từ thế giới chư Thiên đó, đã tái sanh vào Đại địa ngục. Ác ma khi di chuyển đứng ở bất cứ chỗ nào cũng di chuyển được, vì thế Ác ma đó không thể quay trở lại cõi trời Vasavatti rồi di chuyển. Do Pāḷī nói rằng ‘cùng với hành động ngước lên nhìn’ nên biết rằng Ác ma đó không di chuyển do đức Thế Tôn đã ngước lên nhìn, lời này cũng chỉ là lời để nói lên thời gian di chuyển mà thôi. Do tuổi thọ của Ác ma đó nên biết rằng đã bị cắt đứt ngay lập tức ở tại cõi trời Vasavatti, tựa như việc đánh bằng cái rìu do sai lầm của vị Đại đệ tử. tayo nāmadheyyā honti (có được 3 tên): có 3 tên gọi. Chaphassāyataniko (địa ngục có sáu xúc xứ): (Địa ngục đó) làm duyên của thọ, riêng mỗi thọ trong 6 xúc xứ.

saṅkusamāhatoti ayasūlehi samāhato. paccattavedaniyoti sayameva vedanājanako. saṅkunā saṅku hadaye samāgaccheyyāti ayasūlena saddhiṃ ayasūlaṃ hadayamajjhe samāgaccheyya. tasmiṃ kira niraye upapannānaṃ tigāvuto attabhāvo hoti, therassāpi tādiso ahosi. athassa hi nirayapālā tālakkhandhapamāṇāni ayasūlāni ādittāni sampajjalitāni sajotibhūtāni sayameva gahetvā punappunaṃ nivattamānā, — “iminā te ṭhānena cintetvā P.2.422 pāpaṃ katan”ti pūvadoṇiyaṃ M.2.319 pūvaṃ koṭṭento viya hadayamajjhaṃ koṭṭetvā, paṇṇāsa janā pādābhimukhā paṇṇāsa janā sīsābhimukhā koṭṭetvā gacchanti, evaṃ gacchantā pañcahi vassasatehi ubho ante patvā puna nivattamānā pañcahi vassasatehi hadayamajjhaṃ āgacchanti. taṃ sandhāya evaṃ vuttaṃ.

Saṅkusamāhato (địa ngục cọc sắt): cái mà kẻ ấy kéo đi cùng với cây giáo sắt. Paccattavedaniyo (Biệt khổ địa ngục): Tự mình làm cho sanh khởi cảm thọ. saṅkunā saṅku hadaye samāgaccheyyā (cầu mong cọc sắt với cọc sắt gộp chung lại ở giữa quả tim): mong cọc sắt với cọc sắt gom chung lại ở giữa quả tim. Kể rằng khi những người đó tái sanh trong địa ngục có thân thể cao 3 gāvutā[1]  thậm chí Ác ma cũng như thế. Khi đó những người giữ địa ngục cầm những giáo sắt ước chừng bằng cây ta-la có lửa bốc cháy chói sáng đã nói rằng “người này, sau khi suy nghĩ đã tạo nghiệp ác ở chỗ này,” rồi đâm vào giữa tim giống như người đánh giã bánh trong máng làm bánh. Năm mươi người đánh từ dưới chân, năm mươi người đánh từ trên đầu, đánh liên tục như vậy ở hai phía từ dưới chân lên đến đỉnh đầu thời gian suốt năm trăm năm, rời trở lại thêm năm trăm năm mới đến giữa quả tim. Trưởng lão muốn đề cập đến giáo sắt đó mới nới lời này.

vuṭṭhānimanti vipākavuṭṭhānavedanaṃ. sā kira mahāniraye vedanāto dukkhatarā hoti, yathā hi sinehapānasattāhato parihārasattāhaṃ dukkhataraṃ, evaṃ mahānirayadukkhato ussade vipākavuṭṭhānavedanā dukkhatarāti vadanti. seyyathāpi macchassāti purisasīsañhi vaṭṭaṃ hoti, sūlena paharantassa pahāro ṭhānaṃ na labhati parigalati, macchasīsaṃ āyataṃ puthulaṃ, pahāro ṭhānaṃ labhati V.2.315, avirajjhitvā kammakāraṇā sukarā hoti, tasmā evarūpaṃ sīsaṃ hoti.

Cảm thọ nặng nề hơn trước: Cảm thọ được thiết lập từ quả dị thục (quả của ác nghiệp). Được biết rằng cảm thọ (trơng Tiểu địa ngục ussadanaraka) đó có khổ thọ nhiều hơn cảm thọ ở Địa địa ngục. Các thầy A-xà-lê nói rằng: “giống như việc chăm sóc bào thai suốt bảy ngày đau khổ hơn việc uống dầu mỡ suốt bảy ngày như thế nào thì cảm thọ được thiết lập sanh lên từ quả trong Tiểu địa ngục có khổ đau nhiều hơn khổ đau trong Đại địa ngục cũng như thế đó. seyyathāpi macchassa (có đầu…tựa như đầu con cá): đầu của con người tròn khi đâm bằng lao sẽ đâm không đúng mục tiêu, (sẽ) bị lệch hướng, đầu của con cá dài và dày, việc đâm (sẽ) đúng mục tiêu, không bị lệch hướng, được thực hiện dễ dàng, nguyên nhân do nghiệp (đã tạo), vì thế mà có hình dáng như thế.

  1. vidhuraṃ sāvakamāsajjāti vidhuraṃ sāvakaṃ ghaṭṭayitvā. paccattavedanāti sayameva pāṭiyekkavedanājanakā. īdiso nirayo āsīti imasmiṃ ṭhāne nirayo devadūtasuttena dīpetabbo. kaṇha-dukkhaṃ nigacchasīti kāḷaka-māra, dukkhaṃ vindissasi. majjhe sarassāti mahāsamuddassa majjhe udakaṃ vatthuṃ katvā nibbattavimānāni kappaṭṭhitikāni honti, tesaṃ veḷuriyassa viya vaṇṇo hoti, pabbatamatthake jalitanaḷaggikkhandho viya ca nesaṃ acciyo jotanti, pabhassarā pabhāsampannā honti, tesu vimānesu nīlabhedādivasena nānattavaṇṇā accharā naccanti. yo etamabhijānātīti yo etaṃ vimānavatthuṃ jānātīti attho. evamettha vimānapetavatthukeneva attho veditabbo. pādaṅguṭṭhena kampayīti idaṃ pāsādakampanasuttena dīpetabbaṃ.

vidhuraṃ sāvakamāsajjā (Đã gây hại đến vị để tử tên là Vidhura): đã va chạm với vị đệ tử tên là Vidhura. Paccattavedanā (tự cảm thọ riêng biệt): cho sanh khởi cảm thọ riêng biệt, ở chính nơi mình. īdiso nirayo āsi (địa ngục đó như này): Địa ngục này được làm sáng tỏ trong bài Kinh Devadūta. kaṇha-dukkhaṃ nigacchasi (Kaṇha chịu đựng khổ đau sanh lên ác nghiệp): Lãnh chịu khổ đau sanh lên từ Ác ma, người đã làm cho chết. majjhe sarassa (ở giữa đại dương): kể rằng thiên cung này sanh lên ở giữa đại dương có nước làm tảng, vững trú đến suốt kiếp trái đất. Thiên cung đó có màu sắc giống như màu ngọc lưu ly, có ngọn đèn chiếu sáng tựa như ngọn lửa đốt lau sậy trên đỉnh núi, có một hào quang lan tỏa hoản hao với những tia sáng, trong những cung điện đó có những thiên nữ với nhiều màu sắc khác nhau khiêu vũ. yo etamabhijānāti (vị Tỳ khưu nào…biết được cung điện đó): người nào biết được câu chuyện về thiên cung này, trong chuyện này nên trình bày ý nghĩa như đã được nói trong Chuyện Thiên Cung và Chuyện Ngạ Quỷ. pādaṅguṭṭhena kampayi (cho rung chuyển bằng đầu ngón chân): cần được trình bày với bài Kinh Pāsādakampana.

yo vejayantaṃ pāsādanti idaṃ cūḷataṇhāsaṅkhayavimuttisuttena dīpetabbaṃ. sakkaṃ so paripucchatīti idampi teneva dīpetabbaṃ. sudhammāyābhito sabhanti sudhammasabhāya samīpe, ayaṃ pana brahmaloke sudhammasabhāva, na tāvatiṃsabhavane. sudhammasabhāvirahito hi devaloko nāma natthi.

yo vejayantaṃ (vị Tỳ khưu nào…làm cho thiên cung vejayanta): cần được trình bày với bài Kinh Cūḷataṇhāsaṅkhaya và bài Kinh Vimutti. sakkaṃ so paripucchati (Trưởng lão ấy đã hỏi vua trời Sakka): cũng nên trình bày với bài Kinh Cūḷataṇhāsaṅkhaya và bài Kinh Vimutti tương tự. sudhammāyābhito sabhaṃ (tụ hội ở gần Sudhammā-sabhā): gần chỗ tụ hội tên là Sudhammā. Sudhammā này ở trong Phạm thiên giới không phải ở cõi trời Tāvatiṃsa, bởi vì thế giới chư Thiên không loại trừ Sudhammā-sabhā.

brahmaloke pabhassaranti brahmaloke P.2.423 mahāmoggallānamahākassapādīhi sāvakehi saddhiṃ tassa tejodhātuṃ samāpajjitvā nisinnassa M.2.320 bhagavato obhāsaṃ. ekasmiñhi samaye bhagavā brahmaloke sudhammāya devasabhāya sannipatitvā, — “atthi nu kho koci samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṃmahiddhiko. yo idha āgantuṃ sakkuṇeyyā”ti cintentasseva brahmagaṇassa cittamaññāya tattha gantvā brahmagaṇassa matthake nisinno tejodhātuṃ samāpajjitvā mahāmoggallānādīnaṃ āgamanaṃ cintesi. tepi gantvā satthāraṃ vanditvā tejodhātuṃ samāpajjitvā paccekaṃ disāsu nisīdiṃsu, sakalabrahmaloko ekobhāso ahosi. satthā catusaccappakāsanaṃ dhammaṃ desesi, desanāpariyosāne anekāni brahmasahassāni maggaphalesu patiṭṭhahiṃsu. taṃ sandhāyimā gāthā vuttā, so panāyamattho aññatarabrahmasuttena dīpetabbo.

brahmaloke pabhassaraṃ (hào quang lan tỏa trong Phạm thiên giới): ánh sáng của đức Thế Tôn, người đi cùng chúng đệ tử có Trưởng lão Sārīputta, Trưởng lão Mahāmoggallāna và Trưởng lão Mahākassapa v.v, trong Phạm thiên giới, ngồi nhập đề mục lửa. Một thuở nọ đức Thế Tôn biết được tâm của chúng Phạm thiên, người ngồi tụ họp ở sudhamma chộ tụ hội của chư Thiên trong Phạm thiên giới nghĩ rằng: “Có hay không Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào có thần thông nhiều như vậy có thể đi đến đây?” nên Ngài mới đi đến đó ngồi xuống nhập vào đề mục lửa ở trên cao chúng Phạm thiên, suy tư đến việc đi đến của Trưởng lão Mahāmoggallāna v.v. Vị đệ tử đso đã chắp tay đảnh lễ bậc Đạo Sư rồi mới ngồi nhập vào đề mục lửa, mỗi hướng một vị, toàn bộ Phạm thiên giới mới có một ánh sáng duy nhất. Bậc Đạo Sư đã thuyết Pháp để tuyên bố về Bốn Chân lý. Sau khi chấm dứt thời Pháp, nhiều nghìn vị Phạm thiên được an trú trong Đạo và Quả. Trưởng lão muốn đề cập đến Pháp thoại này mới nói lên kệ ngôn này. Ý nghĩa đó cần được trình bày với bài Kinh Aññatarabrahma.

vimokkhena V.2.316 aphassayīti jhānavimokkhena phusi. vananti jambudīpaṃ. pubbavidehānanti pubbavidehānañca dīpaṃ. ye ca bhūmisayā narāti bhūmisayā narā nāma aparagoyānakā ca uttarakurukā ca. tepi sabbe phusīti vuttaṃ hoti. ayaṃ pana attho nandopanandadamanena dīpetabbo. vatthu visuddhimagge iddhikathāya vitthāritaṃ. apuññaṃ pasavīti apuññaṃ paṭilabhi. āsaṃ mā akāsi bhikkhūsūti bhikkhū vihesemīti etaṃ āsaṃ mā akāsi. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

vimokkhena aphassayi (đã được xúc chạm với sự giải thoát): xúc chạm với sự giải thoát là Thiền. Rừng: gồm Jambudīpa. Pubbavidehānaṃ: Hòn đảo tên là Pubbavideha. ye ca bhūmisayā narā (người sống trên mặt đất): người dân lục địa Aparagoyāna và người dân lục địa Uttarakuru. Những lời giải thích đó đã chạm đến toàn bộ những người đó. Ý nghĩa này cần được trình bày với việc Thu Phục Rồng Chúa Nandopananda, câu chuyện Ngài đã trình bày chi tiết với việc giảng về thần thông trong bộ Thanh Tịnh Đạo. Tạo những điều không phải phước: đã thọ lãnh những điều không phải phước báu. Đừng có tạo hy vọng (tiêu diệt) đối với chư Tỳ khưu: đừng cột oan trái: “ta sẽ cho Tỳ khưu này bị tiêu diệt, ta sẽ làm hại Tỳ khưu này.” Những từ còn lại toàn bộ đều đơn giản.

Giải Thích Kinh Hàng Ma Kết Thúc.

[1]  1 gāvuta khoảng 4km.