Kinh số 39 – Giải Thích Đại Kinh Xóm Ngựa

(Mahāassapurasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Đại Kinh Xóm Ngựa

415. evaṃ me sutanti mahāassapurasuttaṃ. tattha aṅgesūti aṅgā nāma jānapadino rājakumārā, tesaṃ nivāso ekopi janapado ruḷhīsaddena “aṅgā”ti vuccati, tasmiṃ aṅgesu janapade. assapuraṃ nāma aṅgānaṃ nigamoti assapuranti nagaranāmena laddhavohāro aṅgānaṃ janapadassa eko nigamo, taṃ gocaragāmaṃ katvā viharatīti attho. bhagavā etadavocāti etaṃ “samaṇā samaṇāti vo, bhikkhave, jano sañjānātī”tiādivacanamavoca.

Đại Kinh Xóm Ngựa được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, aṅgesu (trong xứ sở Aṅga): dân chúng xứ sở gọi là Aṅga, nơi cư ngụ của vua Aṅga đó, thậm chí chỉ có một vùng nông thôn cũng gọi là Aṅgā, bởi vì từ giải rộng ý nghĩa đến dân chúng xứ Aṅga ấy. Assapuraṃ nāma aṅgānaṃ nigamoti assapuraṃ (tại một xã ấp tên là Assapura của dân chúng Aṅga): tại một thị trấn của dân chúng Aṅga được gọi theo tên thị trấn Assapura. Có nghĩa Đức Thế Tôn đã làm cho thị trấn đó trở thành ngôi làng để đi khất thực rồi an trú. Bhagavā etadavoca (đức Thế Tôn đã thuyết Phật ngôn này): Đức Thế Tôn đã thuyết ngôn rằng: “Này chư Tỳ khưu, dân chúng biết được các ông là Sa-môn v.v.”

kasmā pana evaṃ avocāti. tasmiṃ kira nigame manussā saddhā pasannā buddhamāmakā dhammamāmakā saṅghamāmakā, tadahupabbajitasāmaṇerampi vassasatikattherasadisaṃ katvā pasaṃsanti; pubbaṇhasamayaṃ bhikkhusaṅghaṃ piṇḍāya pavisantaṃ disvā bījanaṅgalādīni gahetvā khettaṃ gacchantāpi, pharasuādīni gahetvā araññaṃ pavisantāpi tāni upakaraṇāni nikkhipitvā bhikkhusaṅghassa nisīdanaṭṭhānaṃ āsanasālaṃ vā maṇḍapaṃ vā rukkhamūlaṃ vā sammajjitvā āsanāni paññapetvā arajapānīyaṃ paccupaṭṭhāpetvā bhikkhusaṅghaṃ nisīdāpetvā yāgukhajjakādīni datvā katabhattakiccaṃ bhikkhusaṅghaṃ uyyojetvā tato tāni upakaraṇāni ādāya khettaṃ vā araññaṃ vā gantvā attano kammāni karonti, kammantaṭṭhānepi nesaṃ aññā kathā nāma natthi. cattāro maggaṭṭhā cattāro phalaṭṭhāti aṭṭha puggalā ariyasaṅgho nāma; te “evarūpena sīlena, evarūpena ācārena, evarūpāya paṭipattiyā samannāgatā lajjino pesalā uḷāraguṇā”ti bhikkhusaṅghasseva vaṇṇaṃ kathenti. kammantaṭṭhānato āgantvā bhuttasāyamāsā gharadvāre nisinnāpi, sayanigharaṃ pavisitvā nisinnāpi bhikkhusaṅghasseva vaṇṇaṃ kathenti. bhagavā tesaṃ manussānaṃ nipaccakāraṃ disvā bhikkhusaṅghaṃ piṇḍapātāpacāyane niyojetvā etadavoca.

Tại sao đức Thế Tôn lại nói như vậy, được biết rằng con người có đức tin, có sự tôn kính đức Phật là của Ta, tôn kính Giáo Pháp là của ta, tôn kính Tăng Chúng là của ta, nhìn thấy vị Sa-môn dù mới xuất gia cũng thực hiện tương tư như đối với vị Trưởng lão có cả trăm tuổi hạ. Khi họ nhìn thấy chúng Tỳ khưu Tăng đi khất thực vào buổi sáng, mặc dù cầm hạt giống hoặc lưỡi cày đi ra đồng, thậm chí cầm vật dụng như rìu đi vào rừng cũng đặt những dụng cụ vật dụng đó xuống, rồi quét dọn chỗ để ngồi dành cho chư Tỳ khưu hoặc chỗ dừng chân, hoặc chỗ có mái che, hoặc cội cây rồi trải tất cả tọa cụ, đặt chỗ để bình bát và nước uống rồi thỉnh mời vị Tỳ khưu ngồi xuống, cúng dường cháo và vật thực mềm v.v, sau đó gửi chư Tỳ khưu Tăng làm phận sự thọ thực rồi đi mới cầm các dụng cụ ấy, từ chỗ đó đi đến cánh đồng, hoặc rừng để làm việc của chính mình. Ở chỗ làm việc họ cũng không nói về việc khác mà chỉ nói đến đức hạnh tốt đẹp của Tỳ khưu Tăng ấy với lời sau: “Tám hạng người là vị đã được an trú trong bốn Đạo và an trú trong bốn Quả gọi là Thánh Tăng, vị Thánh Tăng ấy hội đủ với giới bằng hình thức như vậy, với phẩm hạnh bằng hình thức như thế, với Pháp hành bằng hình thức như vậy, là người hổ thẹn, là người có giới tốt đẹp, là người có đức hạnh cao quý, sau khi trở về từ chỗ làm việc rồi ăn cơm chiều, rồi ngồi ở cánh cửa lớn của ngôi nhà, hoặc đi vào phòng ngủ, cũng chỉ nói về đức hạnh tốt đẹp của chư Tỳ khưu ấy. Sau khi đức Thế Tôn nhìn thấy sự tôn kính của những người đó đã nói lời ấy cho chúng Tỳ khưu Tăng có sự kính trọng trong việc đi khất thực.

ye dhammā samaṇakaraṇā ca brāhmaṇakaraṇā cāti ye dhammā samādāya paripūritā samitapāpasamaṇañca bāhitapāpabrāhmaṇañca karontīti attho. “tīṇimāni, bhikkhave, samaṇassa samaṇiyāni samaṇakaraṇīyāni. katamāni tīṇi? adhisīlasikkhāsamādānaṃ, adhicittasikkhāsamādānaṃ, adhipaññāsikkhāsamādānan”ti (a. ni. 3.82) ettha pana samaṇena kattabbadhammā vuttā. tepi ca samaṇakaraṇā hontiyeva. idha pana hirottappādivasena desanā vitthāritā. evaṃ no ayaṃ amhākanti ettha noti nipātamattaṃ. evaṃ ayaṃ amhākanti attho. mahapphalā mahānisaṃsāti ubhayampi atthato ekameva. avañjhāti amoghā. saphalāti ayaṃ tasseva attho. yassā hi phalaṃ natthi, sā vañjhā nāma hoti.

ye dhammā samaṇakaraṇā ca brāhmaṇakaraṇā ca (những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn): Pháp nào mà người thọ trì được đầy đủ để trở thành Sa-môn vị có các ác pháp đã an tịnh và trở thành Bà-la-môn có các ác đã được thả trôi. Đức Thế Tôn thuyết giảng Giáo Pháp mà Sa-môn cần phải thực hành thực hành trong câu này rằng: “Này chư Tỳ khưu, phận sự của Sa-môn nên thực hành này có 3. Thế nào là 3? Việc thọ trì tăng thượng giới học, việc thọ trì tăng thượng tâm học và việc thọ trì tăng thượng tuệ học. Thậm chí các Pháp đó cũng được gọi là Pháp thực hành để trở thành Sa-môn tương tự. Nhưng ở đây, đức Thế Tôn thuyết giảng chi tiết bởi mãnh lực của sự hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi v.v, evaṃ no ayaṃ amhākaṃ (khi chúng tôi thực hành như vậy…đây là của chúng tôi): từ ‘no’ trong câu ‘evaṃ no ayaṃ amhākaṃ’ chỉ là phân từ. Giải thích rằng Pháp này sẽ có cùng chúng tôi với biểu hiện như vậy. Riêng hai từ ‘kết quả to lớn (mahapphala)’ và ‘lợi ích to lớn (mahānisaṃsā)’ nói theo ý nghĩa chỉ là một. Avañjhā (không trở thành không kết quả): không trở nên trống không. Saphala (có kết quả): Nội dung này có ý nghĩa của amogha (không trống rỗng, không vô dụng) ấy. Bởi điều nào không mang lại lợi ích, điều đó gọi là có lỗi lầm.

saudrayāti savaḍḍhi, idaṃ saphalatāya vevacanaṃ. evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbanti, bhikkhave, evaṃ tumhehi sikkhitabbaṃ. iti bhagavā iminā ettakena ṭhānena hirottappādīnaṃ dhammānaṃ vaṇṇaṃ kathesi. kasmā? vacanapathapacchindanatthaṃ. sace hi koci acirapabbajito bālabhikkhu evaṃ vadeyya — “bhagavā hirottappādidhamme samādāya vattathāti vadati, ko nu kho tesaṃ samādāya vattane ānisaṃso”ti? tassa vacanapathapacchindanatthaṃ. ayañca ānisaṃso, ime hi dhammā samādāya paripūritā samitapāpasamaṇaṃ nāma bāhitapāpabrāhmaṇaṃ nāma karonti, catupaccayalābhaṃ uppādenti, paccayadāyakānaṃ mahapphalataṃ sampādenti, pabbajjaṃ avañjhaṃ saphalaṃ saudrayaṃ karontīti vaṇṇaṃ abhāsi. ayamettha saṅkhepo. vitthārato pana vaṇṇakathā satipaṭṭhāne (dī. ni. aṭṭha. 2.373; ma. ni. aṭṭha. 2.373) vuttanayeneva veditabbā.

Saudraya: có lãi, từ này là từ đồng nghĩa do có kết quả. evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṃ (như vậy, này các Tỳ khưu, các ông nên thực hành): Như vậy, này các Tỳ khưu, các ông nên học tập. Đức Thế Tôn nói lời tán thán pháp có Tàm và Quý (sự xấu hổ và sự ghê sợ tội lỗi) v.v, với vị trí này có chừng này. Nhằm mục đích cắt đứt cách nói ấy. Thật vậy nếu ai xuất gia không lâu, là vị Tỳ khưu ngu si có thể nói rằng: “Đức Thế Tôn nói rằng ‘các ông hãy thọ trì thực hành trong Pháp có Tàm và Quý v.v,, cái gì là lợi ích trong việc thọ trì thực hành Pháp đó,” để cắt đứt cách nói của vị Tỳ khưu ấy. Đức Thế Tôn tán thán rằng: “Những Pháp này người thọ trì thực hành đầy đủ sẽ tác thành Sa-môn vị đã làm cho các ác an tịnh và tác thành Bà-la-môn vị đã thả trôi các ác, và cũng làm cho sanh khởi 4 lợi đắc, tức 4 món vật dụng, mang lại kết quả to lớn đạt đến sự thành tựu cho người bố thí các món vật dụng, làm cho việc xuất gia không trở thành vô ít, có kết quả, có lãi, đây là điều lợi ích. Nên biết ý nghĩa vắn tắt này chừng ấy, còn việc giảng giải thi tiết nên biết theo cách tán thán đã được nói trong Kinh Thiết Lập Niệm.

416. hirottappenāti “yaṃ hirīyati hirīyitabbena, ottappati ottappitabbenā”ti (dha. sa. 1331) evaṃ vitthāritāya hiriyā ceva ottappena ca. apicettha ajjhattasamuṭṭhānā hirī, bahiddhāsamuṭṭhānaṃ ottappaṃ. attādhipateyyā hirī, lokādhipateyyaṃ ottappaṃ. lajjāsabhāvasaṇṭhitā hirī, bhayasabhāvasaṇṭhitaṃ ottappaṃ, vitthārakathā panettha sabbākārena visuddhimagge vuttā. apica ime dve dhammā lokaṃ pālanato lokapāladhammā nāmāti kathitā. yathāha — “dveme, bhikkhave, sukkā dhammā lokaṃ pālenti. katame dve? hirī ca ottappañca . ime kho, bhikkhave, dve sukkā dhammā lokaṃ pālenti. ime ca kho, bhikkhave, dve sukkā dhammā lokaṃ na pāleyyuṃ, nayidha paññāyetha, ‘mātā’ti vā, ‘mātucchā’ti vā, ‘mātulānī’ti vā, ‘ācariyabhariyā’ti vā, ‘garūnaṃ dārā’ti vā, sambhedaṃ loko agamissa, yathā ajeḷakā kukkuṭasūkarā soṇasiṅgālā”ti (a. ni. 2.9). imeyeva jātake “devadhammā”ti kathitā. yathāha —

416 Với Tàm và Quý (hirottappena): với Tàm và Quý được Ngài giải thích như vầy: “hành động xấu hổ từ việc thực hành ác hạnh là điều đáng xấu hổ, hành động ghê sợ từ việc thực hành ác hạnh là điều đáng ghê sợ”. Và hơn nữa, trong trường hợp này Tàm bên trong là sở sanh, Quý bên ngoài là sở sanh, Tàm là tự mình cảm nghe hổ thẹn, Quý chịu ảnh hưởng của thế giới bên ngoài. Tàm duy trì trong thực tính sự hổ thẹn, Quý duy trì trong thực tính sự sợ hãi. Lời giải thích chi tiết ở hai Pháp này đã được nói trong bộ Thanh Tịnh Đạo với tất cả các trạng thái. Hơn nữa, cả hai Pháp này đức Thế Tôn thuyết rằng: “Là Pháp hộ trì thế gian do bảo vệ thế gian.” Tương tự như đức Thế Tôn đã thuyết: “Này chư Tỳ khưu, cả hai Pháp thiện này hộ trì thế gian. Hai Pháp ấy như thế nào? Là Tàm và Quý. Này chư Tỳ khưu, nếu như hai Pháp an lạc này không hộ trì thế gian, không xuất hiện ở nơi này thì con người gọi là mẹ cha, cô dì, vợ của ācariya hoặc vợ của garū cũng sẽ đi đến việc bị lẫn lộn như dê, cừu, gà, lợn, chó và cáo. Các Pháp này đức Thế Tôn đã thuyết trong Bổn Sanh là Thiên Pháp. Như đã nói –

hiriottappasampannā, sukkadhammasamāhitā.

santo sappurisā loke, devadhammāti vuccare”ti. (jā. 1.1.6).

Các bậc Chân nhân ở thế gian, người thành tựu Tàm và Quý, vững trú trong các Pháp thiện, được gọi là người có Thiên Pháp.

mahācundattherassa pana kilesasallekhanapaṭipadāti katvā dassitā. yathāha — “pare ahirikā bhavissanti, mayamettha hirimanā bhavissāmāti sallekho karaṇīyo. pare anottāpī bhavissanti, mayamettha ottāpī bhavissāmāti sallekho karaṇīyo”ti (ma. ni. 1.83). imeva mahākassapattherassa ovādūpasampadāti katvā dassitā. vuttañhetaṃ — “tasmā tiha te, kassapa, evaṃ sikkhitabbaṃ, tibbaṃ me hirottappaṃ paccupaṭṭhitaṃ bhavissati theresu navesu majjhimesūti. evañhi te, kassapa, sikkhitabban”ti (saṃ. ni. 2.154). idha panete samaṇadhammā nāmāti dassitā.

Lại nữa, Tàm và Quý này đức Thế Tôn đã thuyết cùng Trưởng lão Mahācunda là đạo lộ thực hành kiềm nén phiền não. Như đã nói – “Các ông cần được tu tập như vầy: ‘Những người khác sẽ là những người không có xấu hổ, còn chúng ta ở đây sẽ là những người có xấu hổ’. Các ông cần được tu tập như vầy: ‘Những người khác sẽ là những người không có ghê sợ, còn chúng ta ở đây sẽ là những người có ghê sợ’. (ma. ni. 1.83). Tàm và Quý cả hai Pháp này đức Thế Tôn đã thuyết giảng đối với việc thực hiện thọ cụ túc bằng lời giáo huấn của Trưởng lão Mahākassapa. Thât vậy đức Thế Tôn nói rằng: “Do vậy, này Kassapa, ông phải học tập như sau: ‘Ta sẽ phải thiết lập Tàm và Quý thật sắc bén giữa các vị Trưởng lão, tân niên Tỳ khưu và trung niên Tỳ khưu. (saṃ. ni. 2.154). Này Kassapa, ông phải học tập như vậy’. Ở đây, đức Thế Tôn thuyết giảng Tàm và Quý cá 2 Pháp này được gọi là Sa-môn Pháp.

Yasmā pana ettāvatā sāmaññattho matthakaṃ patto nāma hoti, tasmā aparepi samaṇakaraṇadhamme dassetuṃ siyā kho pana, bhikkhave, tumhākantiādimāha. tattha sāmaññatthoti saṃyuttake tāva, “katamañca, bhikkhave, sāmaññaṃ? ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. seyyathidaṃ, sammādiṭṭhi … pe … sammāsamādhi, idaṃ vuccati, bhikkhave, sāmaññaṃ. katamo ca, bhikkhave, sāmaññattho? yo, bhikkhave, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo, ayaṃ vuccati, bhikkhave, sāmaññattho”ti (saṃ. ni. 5.36) maggo “sāmaññan”ti, phalanibbānāni “sāmaññattho”ti vuttāni. imasmiṃ pana ṭhāne maggampi phalampi ekato katvā sāmaññattho kathitoti veditabbo. ārocayāmīti kathemi. paṭivedayāmīti jānāpemi.

Cũng bởi vì lợi ích của Sa-môn không đạt đến tận cùng với Pháp có chừng ấy, vì thế đức Thế Tôn khi thuyết giảng Pháp để tác thành Sa-môn của Pháp khác mới nói rằng: “siyā kho pana, bhikkhave, tumhākaṃ v.v” Ở đó, Sāmaññattho (mục đích của đời sống Sa-môn): Trước đó trong Saṃyutta-nikāya có Phật ngôn rằng: “Này chư Tỳ khưu, thế nào là Sa-môn hạnh, Thánh Đạo phối hợp với 8 chi phần là chánh kiến…chánh định, này các Tỳ khưu, đây được gọi là Sa-môn hạnh.” (saṃ. ni. 5.36). Này chư Tỳ khưu, thế nào là mục đích của đời sống Sa-môn? Này chư Tỳ khưu đoạn tận ái luyến, đoạn tận sân hận, đoạn tận si mê, này các Tỳ khưu, đây được gọi là mục đích của đời sống Sa-môn. Đạo gọi là Sa-môn hạnh, Quả và Niết bàn gọi là mục đích của đời sống Sa-môn. Nhưng ở đây bậc trí nên biết rằng: Đức Thế Tôn nói đến mục đích của đời sống Sa-môn bởi gom chung cả Đạo và Quả lại với nhau. Ārocayāmi đồng nghĩa với kathemi (ta nói). paṭivedayāmi đồng nghĩa với jānāpemi (ta khuyên).

417. parisuddho no kāyasamācāroti ettha kāyasamācāro parisuddho aparisuddhoti duvidho. yo hi bhikkhu pāṇaṃ P.2.315 hanati adinnaṃ ādiyati, kāmesu micchā carati, tassa kāyasamācāro aparisuddho nāma, ayaṃ pana kammapathavaseneva vārito. yo pana pāṇinā vā leḍḍunā M.2.215 vā daṇḍena vā satthena vā paraṃ potheti viheṭheti, tassa kāyasamācāro V.2.211 aparisuddho nāma, ayampi sikkhāpadabaddheneva paṭikkhitto. imasmiṃ sutte ubhayampetaṃ akathetvā paramasallekho nāma kathito. yo hi bhikkhu pānīyaghaṭe vā pānīyaṃ pivantānaṃ, patte vā bhattaṃ bhuñjantānaṃ kākānaṃ nivāraṇavasena hatthaṃ vā daṇḍaṃ vā leḍḍuṃ vā uggirati, tassa kāyasamācāro aparisuddho. viparīto parisuddho nāma. uttānoti uggato pākaṭo. vivaṭoti anāvaṭo asañchanno. ubhayenāpi parisuddhataṃyeva dīpeti. na ca chiddavāti sadā ekasadiso antarantare chiddarahito. saṃvutoti kilesānaṃ dvāra pidahanena pidahito, na vajjapaṭicchādanatthāya.

parisuddho no kāyasamācāro (tất cả chúng ta sẽ có sở hành về thân thanh tịnh) này sở hành về thân có hai là thanh tịnh và không thanh tịnh. Thật vậy, vị Tỳ khưu nào sát hại chúng sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục thì sở hành về thân của vị Tỳ khưu đó gọi là không thanh tịnh. Lại nữa, sở hành về thân này Ngài nghiêm cấm bởi là nghiệp đạo (bất thiện nghiệp). Vị Tỳ khưu nào đánh đập, làm tổn thương người khác bằng tay, hoặc bằng đất đá, bằng gậy gộc, hoặc bằng vũ khí thì sở hành về thân của vị Tỳ khưu ấy gọi là không thanh tịnh. Chính sở hành về thân này Ngài cũng ngăn cấm bởi hệ thuộc hoàn toàn vào các học giới. Trong bài Kinh này đức Thế Tôn không thuyết cả hai ý nghĩa ấy, mà chỉ thuyết về Pháp đoạn giảm cao thượng. Thật vậy, vị Tỳ khưu nào đưa tay lên ném cục đá hoặc gậy gộc để xua đuổi loài quạ đang uống nước trong chậu nước hoặc ăn cơm trong bình bát thì sở hành về thân của vị Tỳ khưu ấy không thanh tịnh. Đối nghịch lại với sở hành về thân thanh tịnh. Uttāno: đã lên cao, đã xuất hiện. Vivaṭo: phơi bày ra, không che đậy, để biểu hiện sự trong sạch với cả hai Pháp đó mà thôi. na ca chiddavā (không có tỳ vết) đồng nhất ở mọi thời điểm, không có lỗ hổng ở mọi khoảng cách. Saṃvuto (phòng hộ): đã đóng lại bằng việc đóng lại các cánh cửa của tất cả phiền não, không phải để che đậy lỗi lầm.

418. vacīsamācārepi yo bhikkhu musā vadati, pisuṇaṃ katheti, pharusaṃ bhāsati, samphaṃ palapati, tassa vacīsamācāro aparisuddho nāma. ayaṃ pana kammapathavasena vārito. yo pana gahapatikāti vā dāsāti vā pessāti vā ādīhi khuṃsento vadati, tassa vacīsamācāro aparisuddho nāma. ayaṃ pana sikkhāpadabaddheneva paṭikkhitto. imasmiṃ sutte ubhayampetaṃ akathetvā paramasallekho nāma kathito. yo hi bhikkhu daharena vā sāmaṇerena vā, “kacci, bhante, amhākaṃ upajjhāyaṃ passathā”ti vutte, sambahulā, āvuso, bhikkhubhikkhuniyo ekasmiṃ padese vicadiṃsu, upajjhāyo te vikkāyikasākabhaṇḍikaṃ ukkhipitvā gato bhavissatī”tiādinā nayena hasādhippāyopi evarūpaṃ kathaṃ katheti, tassa vacīsamācāro aparisuddho. viparīto parisuddho nāma.

Ngay cả trong sở hành về khẩu (vacīsamācārepi): Vị Tỳ khưu nào nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời vô ích thì sở hành về lời nói của vị Tỳ khưu đó gọi là không thanh tịnh. Lại nữa, sở hành về khẩu này Ngài cũng nghiêm cấm bởi là nghiệp đạo (bất thiện nghiệp). Vị Tỳ khưu nào khi nói lời xúc phạm đến gia chủ, hoặc người nô lệ, hoăc người hầu v.v, thì sở hành về lời nói của vị Tỳ khưu ấy cũng gọi là không thanh tịnh. Sở hành về khẩu này Ngài cũng ngăn cấm bởi hệ thuộc hoàn toàn vào các học giới. Trong bài Kinh này đức Thế Tôn không thuyết cả hai sở hành về khẩu này, chỉ thuyết về tên là Pháp đoạn giảm cao thượng. Khi vị Tỳ khưu trẻ hoặc vị Sa-di nói rằng: “Kính bạch Ngài, các Ngài nhìn thấy thầy tế độ của chúng tôi chăng, vị Tỳ khưu nào dù chỉ có ý định cười đùa, nói lời nói bằng hình thức như vậy theo cách thức v.v, sau: “Này các hiền giả, Tỳ khưu ni quá nhiều ở địa phương này, vị thầy tế độ của các Ngài sẽ đi phụ giúp đưa những bó rau đi bán” sở hành về khẩu của vị Tỳ khưu ấy không thanh tịnh. Sở hành về khẩu đối nghịch lại được gọi là sở hành về khẩu hành thanh tịnh.

419. manosamācāre yo bhikkhu abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko hoti, tassa manosamācāro aparisuddho nāma. ayaṃ pana kammapathavaseneva vārito. yo pana upanikkhittaṃ jātarūparajataṃ sādiyati, tassa manosamācāro aparisuddho nāma. ayampi sikkhāpadabaddheneva paṭikkhitto. imasmiṃ sutte ubhayampetaṃ akathetvā paramasallekho nāma kathito. yo pana bhikkhu kāmavitakkaṃ vā byāpādavitakkaṃ M.2.216 P.2.316 vā vihiṃsāvitakkaṃ vā vitakketi, tassa manosamācāro aparisuddho. viparīto parisuddho nāma.

Trong sở hành về ý (manosamācāre) vị Tỳ khưu nào là vị có tham đắm, có tâm sân hận, là người có tà kiến thì sở hành về ý của vị Tỳ khưu ấy gọi là không thanh tịnh. Cũng trong sở hành về ý này Ngài cũng nghiêm cấm bởi là nghiệp đạo (bất thiện nghiệp). Hơn nữa, vị Tỳ khưu nào hoan hỷ vàng và bạc mà người khác giữ hộ cho mình, sở hành về ý của vị Tỳ khưu ấy gọi là không thanh tịnh. Sở hành về ý này Ngài cũng ngăn cấm bởi hệ thuộc hoàn toàn vào các học giới. Trong bài Kinh này đức Thế Tôn không thuyết cả hai sở hành về ý này, chỉ nói về tên gọi Pháp đoạn giảm cao thượng. Lại nữa vị Tỳ khưu nào suy tư đến suy tầm về dục, hoặc suy tầm về sân hận, hoặc suy tầm về não hại thì sở hành về ý của vị Tỳ khưu đó gọi là không thanh tịnh. Sở hành về ý mà đối nghịch lại thì được gọi là thanh tịnh.

420. ājīvasmiṃ yo bhikkhu ājīvahetu vejjakammaṃ pahiṇagamanaṃ gaṇḍaphālanaṃ karoti, arumakkhanaṃ deti, telaṃ pacatīti ekavīsatianesanāvasena jīvikaṃ kappeti. yo vā pana viññāpetvā bhuñjati, tassa ājīvo aparisuddho nāma. ayaṃ pana sikkhāpadabaddheneva paṭikkhitto. imasmiṃ sutte ubhayampetaṃ akathetvā paramasallekho nāma kathito. yo hi bhikkhu sappinavanītatelamadhuphāṇitādīni labhitvā, “sve vā punadivase vā bhavissatī”ti V.2.212 sannidhikārakaṃ paribhuñjati, yo vā pana nimbaṅkurādīni disvā sāmaṇere vadati — “aṃṅkure khādathā”ti, sāmaṇerā thero khāditukāmoti kappiyaṃ katvā denti, dahare pana sāmaṇere vā pānīyaṃ pivatha, āvusoti vadati, te thero pānīyaṃ pivitukāmoti pānīyasaṅkhaṃ dhovitvā denti, tampi paribhuñjantassa ājīvo aparisuddho nāma hoti. viparīto parisuddho nāma.

420 Trong việc nuôi mạng, vị Tỳ khưu nào vì lý do nuôi mạng, tìm kế sinh nhai bằng 21 loại tà mạng chằng hạn như làm thầy thuốc, lãnh làm tay sai cho người (ngoài đưa tin), chữa trị u nhọt, cho dầu thoa chân, việc nấu dầu v.v, hoặc vị Tỳ khưu nào yêu cầu (các loại vật thực) để thọ dụng thì việc nuôi mạng của vị Tỳ khưu ấy gọi là không thanh tịnh. Việc nuôi mạng không thanh tịnh này được ngăn cấm bởi hệ thuộc vào các học giới. Trong bài Kinh này không nói đến cả hai việc nuôi mạng, mà chỉ nói về Pháp đoạn giảm cao thượng. Thật vậy, vị Tỳ khưu nào nhận được các món vật dụng như bơ lỏng, bơ đặc, mật ong và mật mía v.v, rồi nghĩ rằng “sẽ thọ dụng vào ngày mai, vào ngày kia” rồi thọ dụng những món mà tự mình cất giữ. Hoặc vị Tỳ khưu nào nhìn thấy chồi non hoa Nimba v.v, rồi bảo các vị Sa-di, các con hãy nhai những chồi non hoa Nimba. Các vị Sa-di nghĩ rằng: “Trưởng lão muốn nhai ăn,” (các vị Sa-di) đã trở thành Kappiya để cúng dường. Tỳ khưu nói với các vị Tỳ khưu trẻ hoặc Sa-di rằng: “Này Hiền giả, các ông hãy uống nước.” Các Tỳ khưu trẻ hoặc Sa-di nghĩ rằng: “Trưởng lão muốn uống nước” đã làm nước đó trong sạch sẽ rồi cúng dường, thì việc nuôi mạng của vị Tỳ khưu uống nước đó gọi là không thanh tịnh. Việc nuôi mạng đối nghịch lại gọi là thanh tịnh.

422. mattaññūti pariyesanapaṭiggahaṇaparibhogesu mattaññū, yuttaññū, pamāṇaññū.

422 Mattaññū (biết tiết độ): người biết đủ, biết phù hợp, biết chừng mực trong việc tầm cầu việc thọ nhận và thọ dụng.

423. jāgariyamanuyuttāti rattindivaṃ cha koṭṭhāse katvā ekasmiṃ koṭṭhāse niddāya okāsaṃ datvā pañca koṭṭhāse jāgariyamhi yuttā payuttā. sīhaseyyanti ettha kāmabhogiseyyā, petaseyyā, sīhaseyyā, tathāgataseyyāti catasso seyyā. tattha “yebhuyyena, bhikkhave, kāmabhogī sattā vāmena passena sentī”ti (a. ni. 4.246) ayaṃ kāmabhogiseyyā, tesu hi yebhuyyena dakkhiṇapassena sayāno nāma natthi.

423 Jāgariyamanuyuttā (người gắn liền với sự tỉnh thức): chia ngày và đêm thành sáu phần đã cho cơ hội để nằm một phần, (còn) trong 5 phần được gắn bó, được gắn liền với Pháp luôn thức tỉnh. Sīhaseyyaṃ (nằm dáng nằm con sư tử) này 4 cách nằm là nằm dáng nằm của người thọ hưởng dục lạc, nằm dáng nằm của ngạ quỷ, nằm dáng nằm của con sư tử, nằm dáng nằm của Như Lai. Ở đó, đức Thế Tôn thuyết rằng: “Này chư Tỳ khưu, chúng sanh thọ hưởng dục lạc quá nhiều, nằm ngủ nằm nghiêng sang bên trái”(a. ni. 4.246) đây gọi là cách nằm của người thọ hưởng dục lạc. Thật vậy, trong số đó người thọ hưởng dục lạc ấy phần đông không nằm nghiêng sang bên phải.

yebhuyyena, bhikkhave, petā uttānā sentī”ti (a. ni. 4.246) ayaṃ petaseyyā, petā hi appamaṃsalohitattā aṭṭhisaṅghātajaṭitā ekena passena sayituṃ na sakkonti, uttānāva senti.

Này chư Tỳ khưu, ngạ quỷ phần đông nằm ngửa” (a. ni. 4.246) đây gọi là nằm dáng nằm của ngạ quỷ. Thật vậy, có rất ít thịt và máu, loài ngạ quỷ có bộ xương lộn xộn, không thể nằm nghiêng sang một bên chỉ có thể nằm ngửa mà thôi.

yebhuyyena M.2.217, bhikkhave, sīho migarājā naṅguṭṭhaṃ antarasatthimhi anupakkhipitvā dakkhiṇena passena setī”ti (a. ni. 4.246) ayaṃ sīhaseyyā. tejussadattā hi sīho migarājā dve purimapāde ekasmiṃ ṭhāne pacchimapāde ekasmiṃ ṭhapetvā naṅguṭṭhaṃ antarasatthimhi pakkhipitvā purimapādapacchimapādanaṅguṭṭhānaṃ ṭhitokāsaṃ sallakkhetvā dvinnaṃ purimapādānaṃ matthake sīsaṃ ṭhapetvā sayati P.2.317. divasampi sayitvā pabujjhamāno na utrāsanto pabujjhati. sīsaṃ pana ukkhipitvā purimapādānaṃ ṭhitokāsaṃ sallakkheti. sace kiñci ṭhānaṃ vijahitvā ṭhitaṃ hoti, “nayidaṃ tuyhaṃ jātiyā, na sūrabhāvassa ca anurūpan”ti anattamano hutvā tattheva sayati, na gocarāya pakkamati. avijahitvā ṭhite pana “tuyhaṃ jātiyā sūrabhāvassa ca anurūpamidan”ti haṭṭhatuṭṭho uṭṭhāya sīhavijambhitaṃ vijambhitvā kesarabhāraṃ vidhunitvā V.2.213 tikkhattuṃ sīhanādaṃ naditvā gocarāya pakkamati. catutthajjhānaseyyā pana tathāgataseyyāti vuccati. tāsu idha sīhaseyyā āgatā. ayañhi tejussadairiyāpathattā uttamaseyyā nāma.

Này chư Tỳ khưu, sư tử vua của các loài thú phần lớn, đặt cái đuôi ở giữa chỗ mềm hai chân, nằm nghiêng sang bên phải.” (a. ni. 4.246) đây là dáng nằm của loài sư tử. Thật vậy, sư tử vua của các loài thú do đầy sức lực, đặt hai chân trước một bên, đặt hai chân sau một bên, lấy đuôi đặt vào giữa phần mềm hai chân, xác định chỗ đặt chân trước, chân sau và đuôi, rồi đặt đầu xuống dựa vào hai chân trước, ngủ đi thậm chị suốt cả ngày, khi tỉnh giấc cũng không có sự hoảng hốt, thức dậy nâng đầu lên rồi quan sát chỗ đặt hai chân trước v.v, nến ở vị trí nào mà bản thân đã đặt mà thấy không bình thường, cảm thấy buồn rầu rằng: “vị trí này không thích hợp cho sư tử chúa và sự dũng mãnh của vua các loài thú” sẽ nằm ở tại chỗ đó tiếp tục, không rời khỏi vì tìm kiếm vật thực. Khi ấy chô mà bản thân đặt xuống (chân v.v,) không bất thường sẽ sảng khoái vui mừng “vị trí này thích hợp cho kiếp sống và cho sự dũng mãnh của ta” đứng dậy vươn mình, rung lắc bờm (phần lông ở cổ) gầm lên tiếng gầm sư tử ba lần, rồi mới rời khỏi để kiếm thức ăn. Lại nữa, việc nằm với tầng thiền thứ từ, đức Thế Tôn gọi là nằm dáng nằm của Như Lai. Ở đó, việc nắm với dáng nằm của sư tử ở đây do nói đến việc nằm này, gọi là việc nằm tốt nhất do oai nghi của người có nhiều năng lực.

pāde pādanti dakkhiṇapāde vāmapādaṃ. accādhāyāti atiādhāya īsakaṃ atikkamma ṭhapetvā, gopphakena hi gopphake, jāṇunā vā jāṇumhi saṅghaṭṭiyamāne abhiṇhaṃ vedanā uppajjati, cittaṃ ekaggaṃ na hoti, seyyā aphāsukā hoti. yathā pana na saṅghaṭṭeti, evaṃ atikkamma ṭhapite vedanā nuppajjati, cittaṃ ekaggaṃ hoti, seyyā phāsukā hoti, tasmā evamāha.

Pāde pādaṃ (chân này đặt lên chân kia): lấy chân trái đặt lên chân phải. Accādhāya đồng nghĩa với atiādhāya (Đặt chân này lên trên chân kia vị trí hơi lệch nhau một chút), bởi vì mắt cá chân tiếp xúc với mắt cá chân, đầu gối tiếp xúc với đầu gối, thọ sanh khởi liên tục, tâm sẽ không được an tĩnh, việc nằm cũng không thoải mái; mắt cá chân với mắt cá chân, đầu gối với đầu gối không tiếp xúc nhau với bất kỳ cách nào khi đặt hơi lệch theo cách đó thì thọ không sanh khởi, tâm an tĩnh, việc nằm ngủ cũng thoải mái, do dó, đức Thế Tôn đã nói như vậy.

425. abhijjhaṃ loketiādi cūḷahatthipade vitthāritaṃ.

Abhijjhaṃ loke (tham ái ở đời) được nói chi tiết trong bài Kinh Cūḷahatthipada.

426. yā panāyaṃ seyyathāpi, bhikkhaveti upamā vuttā. tattha iṇaṃ ādāyāti vaḍḍhiyā dhanaṃ gahetvā. byantī kareyyāti vigatantāni kareyya. yathā tesaṃ kākaṇikamattopi pariyanto nāma nāvasissati, evaṃ kareyya, sabbaso paṭiniyyāteyyāti attho. tatonidānanti āṇaṇyanidānaṃ. so hi aṇaṇomhīti āvajjanto balavapāmojjaṃ labhati, balavasomanassamadhigacchati. tena vuttaṃ — “labhetha pāmojjaṃ, adhigaccheyya somanassan”ti.

426 Trong số so sánh đã nói “Này chư Tỳ khưu, giống như (seyyathāpi, bhikkhave)” là câu so sánh. Ở đó, iṇaṃ ādāyā (mắc nợ): sau khi cầm lấy tài sản để trả lãi. byantī kareyyā: có thể làm mất hết, làm này kia hết sạch không còn dù chỉ một kākaṇika, nghĩa là có thể sử dụng hết toàn bộ. Tatonidānaṃ (do không mắc nợ làm nhân): nguyên nhân của sự không mắc nợ. Thật vậy, người đó khi suy nghĩ lại, ta là người không mắc nợ, có được sự hân hoan đạt đến sự vui mừng. Vì thế đã nói rằng – “Vị ấy có thể đạt được sự hân hoan, có thể đạt đến sự vui mừng”.

visabhāgavedanuppattiyā kakaceneva catuiriyāpathaṃ chindanto ābādhatīti ābādho, svāssa atthīti ābādhiko. taṃsamuṭṭhānena dukkhena M.2.218 dukkhito. adhimattagilānoti bāḷhagilāno. nacchādeyyāti adhimattabyādhiparetatāya na rucceyya. balamattāti balameva, balañcassa kāye na bhaveyyāti attho. tatonidānanti ārogyanidānaṃ, tassa hi arogomhīti āvajjayato tadubhayaṃ hoti. tena vuttaṃ — “labhetha pāmojjaṃ, adhigaccheyya somanassan”ti. na P.2.318 cassa kiñci bhogānaṃ vayoti kākaṇikamattampi bhogānaṃ vayo na bhaveyya. tatonidānanti bandhanāmokkhanidānaṃ, sesaṃ vuttanayeneva sabbapadesu yojetabbaṃ. anattādhīnoti na attani adhīno, attano ruciyā kiñci kātuṃ na labhati. parādhīnoti paresu adhīno, parasseva ruciyā pavattati. na yena kāmaṃ gamoti yena disābhāgenassa kāmo hoti. icchā uppajjati gamanāya, tena gantuṃ na labhati. dāsabyāti dāsabhāvā. bhujissoti attano santako V.2.214. tatonidānanti bhujissanidānaṃ. kantāraddhānamagganti kantāraṃ addhānamaggaṃ, nirudakaṃ dīghamagganti attho. tatonidānanti khemantabhūminidānaṃ.

Gọi là bệnh tật bởi vì khởi lên cảm thọ là kẻ thù nghịch gây tổn hại đến bốn oai nghi giống như bị cắt đứt với cái cưa, bệnh tật ấy có mặt nơi hạng người ấy, vì thế gọi là người có bệnh. Gọi là đau khổ, bởi khổ đau đó có bệnh tật làm sở sanh. Gọi là bệnh trầm trọng bởi bệnh trở nặng. Nacchādeyya (Không thể thọ dụng vật thực): không thể thỏa mãn bởi bệnh tật nghiêm trọng trước mắt. Balamattā (Có sức mạnh): chính là sức mạnh, tức là vị ấy có thể có sức mạnh thân thể. Vì sự vô bệnh làm nhân (tatonidānaṃ): nguyên nhân vô bệnh. Thật vậy, khi vị ấy nhớ lại, ta là người không có bệnh, cả hai nguyên nhân sanh khởi. Vì thế, đã nói rằng: “Có được sự hân hoan, đạt đến sự vui mừng”. na cassa kiñci bhogānaṃ vayo (không mất bất kỳ tài sản nào): Không thể để mất tất cả tài sản dài chỉ một kākaṇika. Tatonidānaṃ (bởi thoát khỏi giam cầm làm nhân): nguyên nhân thoát khỏi sự giam cầm. Các từ còn lại nên phối hợp theo các đã được trình bày. Anattādhīno (không được tự chủ): Bản thân không trở thành lớn mạnh, làm gì cũng không được theo ý thích của bản thân. Parādhīno (lệ thuộc vào người khác): người khác trở là to lớn, được vận hành theo ý thích của người khác. Na yena kāmaṃ gamo (không được tự do đi lại): vị ấy muốn đi bất kỳ hướng đi nào vị ấy mong muốn, nhưng vị ấy không đi được theo hướng đó. Dāsabyā (từ cảnh nô lệ đó): Bản chất nô lệ. Bhujisso: được làm chủ bản thân. Tatonidānaṃ: nguyên nhân được tự chủ. Kantāraddhānamaggaṃ (đi qua đi bãi sa mạc) chia từ thành kantāraṃ uddhānamaggaṃ: con đường xa không có nước. Tatonidānaṃ: nguyên nhân ranh giới an toàn.

ime pañca nīvaraṇe appahīneti ettha bhagavā appahīnaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ iṇasadisaṃ, sesāni rogādisadisāni katvā dasseti. tatrāyaṃ sadisatā — yo hi paresaṃ iṇaṃ gahetvā vināseti. so tehi iṇaṃ dehīti vuccamānopi pharusaṃ vuccamānopi bajjhamānopi pahariyamānopi kiñci paṭibāhituṃ na sakkoti, sabbaṃ titikkhati, titikkhakāraṇañhissa taṃ iṇaṃ hoti. evamevaṃ yo yamhi kāmacchandena rajjati, taṇhāgaṇena taṃ vatthuṃ gaṇhāti, so tena pharusaṃ vuccamānopi bajjhamānopi pahariyamānopi sabbaṃ titikkhati. titikkhakāraṇañhissa so kāmacchando hoti gharasāmikehi vadhīyamānānaṃ itthīnaṃ viyāti. evaṃ iṇaṃ viya kāmacchando daṭṭhabbo.

ime pañca nīvaraṇe appahīne [quán xét (năm Pháp ngăn che này vẫn chưa đoạn trừ được)]: Đức Thế Tôn thuyết giảng về sự ngăn che do mong muốn về dục vẫn chưa đoạn trừ được, cũng giống như ý nghĩa này, sự ngăn che còn lại tương tự như bệnh tật v.v, trong câu đó tương tự như sau – Bất kỳ người nào vay nợ rồi đi không trả lại, người đó bị chủ nợ yêu cầu rằng: ông phải trả món nợ như này, hoặc nói lời thô thiển, hoặc bị bắt đi, hoặc bị sát hại cũng không thể đáp trả lại bất cứ điều gì, phải chịu đựng tất cả mọi thứ, bởi vì món nợ đó là nguyên nhân (khiến con nợ) phải chịu đựng như thế nào, Bất kỳ hạng người nào hoan hỷ với điều gì bởi tham dục, nắm lấy những thứ đó bằng sự nắm lấy bởi tham ái cũng tương tự như thế đó. Người đó bị nói bằng những lời nói thô thiển, hoặc bị bắt đi, hoặc bị sát hại, cũng phải chấp nhận chịu đựng mọi thứ, bởi vì dục tham là nguyên nhân để chịu đựng, giống như sự ước muốn trong dục lạc của những người đàn bà bị chồng sát hại ngay trong nhà (phải kham chịu). Vì thế, bậc trí nên biết dục tham giống như tính chất kẻ mắc nợ.

yathā pana pittarogāturo madhusakkarādīsupi dinnesu pittarogāturatāya tesaṃ rasaṃ na vindati, tittakaṃ tittakanti uggiratiyeva. evamevaṃ byāpannacitto hitakāmehi ācariyupajjhāyehi appamattakampi ovadīyamāno ovādaṃ na gaṇhāti, “ati viya me tumhe upaddavethā”tiādīni vatvā vibbhamati. pittarogāturatāya so puriso madhusakkarādirasaṃ viya, kodhāturatāya M.2.219 jhānasukhādibhedaṃ sāsanarasaṃ na vindatīti. evaṃ rogo viya byāpādo daṭṭhabbo.

Giống như người cảm thấy khó chịu do bệnh tật, khi ai đó cho bất cứ món ăn gì như mật ong và đường phèn v.v, cũng không thể cảm nhận được hương vị của những món đó, bởi vì cơ thể cảm thấy khó chịu do bệnh tật, (có thể) buồn nôn ói mửa ngay lập tức, với tưởng rằng (món đó) có vị đắng như thế nào, hạng người có tâm sân hận cũng tương tự như thế như thế, khi bị các thầy dạy học hoặc thầy tế độ bởi hy vọng lợi ích giảng dạy dầu chỉ chút ít, cũng không nhận được lời giáo huấn nào, đã nói rằng: “Các Ngài làm tôi quá bực mình” rồi hoàn tục bỏ đi, kẻ ấy không cảm nghiệm được hương vị của Giáo pháp khác biệt với sự an lạc trong Thiền v.v, bởi sự khó chịu do sự sân hận giống như hạng người ấy, kẻ không thể cảm nghiệm được hương vị của mật ong và đường phèn v.v, bởi sự khó chịu do bệnh tật. Bậc trí nên hiểu sự sân hận giống như bệnh tật này.

yathā pana nakkhattadivase bandhanāgāre baddho puriso nakkhattassa neva ādiṃ, na majjhaṃ, na pariyosānaṃ passati. so dutiyadivase mutto, “aho hiyyo nakkhattaṃ manāpaṃ, aho naccaṃ, aho gītan”tiādīni sutvāpi paṭivacanaṃ na deti. kiṃ kāraṇā? nakkhattassa ananubhūtattā. evamevaṃ P.2.319 thinamiddhābhibhūto bhikkhu vicittanayepi dhammassavane pavattamāne neva tassa ādiṃ, na majjhaṃ, na pariyosānaṃ jānāti. so uṭṭhite dhammassavane, “aho dhammassavanaṃ, aho kāraṇaṃ, aho upamā”ti dhammassavanassa vaṇṇaṃ bhaṇamānānaṃ sutvāpi paṭivacanaṃ na deti. kiṃ kāraṇā? thinamiddhavasena dhammakathāya ananubhūtattāti. evaṃ bandhanāgāraṃ viya thinamiddhaṃ daṭṭhabbaṃ.

Giống như hạng người bị giam cầm trong ngục tù vào ngày làm lễ hội Nakkhatta không được nhìn thấy lúc bắt đầu, lúc diễn ra (khoảng giữa), và lúc kết thúc của lễ hội Nakkhatta, kẻ ấy được thoát khỏi ngục tù vào ngày thứ hai đã được nghe rằng: “Ồ, ngày hôm qua có lễ hội rộn ràng tràn ngập niềm vui, khiêu vũ, ca hát cũng vui vẻ.” v.v, (vị ấy) cũng không thể trả lời. Vì sao? Bởi vì không được (trực tiếp) tham gia lễ hội Nakkhatta như thế nào, vị Tỳ khưu bị hôn trầm và thụy miên chế ngự cũng tương tự như thế, khi lắng nghe thuyết giảng Giáo Pháp, thậm chí có phương pháp đa dạng đang diễn ra cũng không biết được điểm bắt bắt, điểm giữa và điểm kết thúc của việc lắng nghe Giáo Pháp đó, khi sự thính Pháp được thiết lập lên, dù nghe người khác nói tán thán việc lắng nghe Pháp rằng: “Ồ, việc lắng nghe Giáo Pháp quả thật có nhân có quả, có ví dụ tuyệt vời.” v.v, (vị ấy) cũng thế trả lời được. Vì sao? Bởi vì bản thân không lắng nghe Giáo Pháp bởi mãnh lực của hôn trầm và thụy miên. Bậc trí giả nên biết hôn trầm và thuỵ miên giống như ngục tù.

yathā pana nakkhattaṃ kīḷantopi dāso, “idaṃ nāma accāyikaṃ karaṇīyaṃ atthi, sīghaṃ, tattha gaccha, no ce gacchasi, hatthapādaṃ vā te chindāmi kaṇṇanāsaṃ vā”ti vutto sīghaṃ gacchatiyeva, nakkhattassa ādimajjhapariyosānaṃ anubhavituṃ na labhati. kasmā? parādhīnatāya. evamevaṃ vinaye appakataññunā vivekatthāya araññaṃ paviṭṭhenāpi kismiñcideva antamaso kappiyamaṃsepi akappiyamaṃsasaññāya uppannāya vivekaṃ pahāya sīlavisodhanatthaṃ vinayadharassa santike gantabbaṃ hoti. vivekasukhaṃ anubhavituṃ na labhati. kasmā? uddhaccakukkuccābhibhūtatāyāti, evaṃ dāsabyaṃ viya uddhaccakukkuccaṃ daṭṭabbaṃ.

Giống như người nô lệ vui chơi trong ngày lễ hội Nakkhatta, bị người chủ dặn dò rằng: “Trường hợp khẩn cấp này xảy ra, các ngươi hãy đi đến chỗ đó ngay lập tức, nếu các người không đi thì ta sẽ cắt tay và chăn, hoặc lỗ tai, mũi của các ngươi,” họ nhanh chóng chạy đi, không được tham dự để cảm nghiệm lúc bắt đầu, giai đoạn giữa, và kết thúc của lễ hội Nakkhatta. Tại sao? bởi vì bản thân có người khác làm chủ như thế nào, vị Tỳ khưu không biết con đường thực hành trong Luật thậm chí đi vào rừng vì mục đích sống viễn ly, khi có chút ít hoài nghi khởi lên, thậm chí trong vấn đề loại thịt nên thọ được cũng nói không nên thọ dụng, từ bỏ sự viễn ly, đi tìm kiếm vị tinh thông Luật để thanh lọc giới hạnh, vì thế vị ấy không được cảm nghiệm thọ hưởng sự an lạc khởi lên từ sự viễn ly như thế. Bậc trí giả nên hiểu phóng dật và hối hận giống như người nô lệ.

yathā pana kantāraddhānamaggapaṭipanno puriso corehi manussānaṃ viluttokāsaṃ pahatokāsañca disvā daṇḍakasaddenapi sakuṇasaddenapi corā āgatāti ussaṅkitaparisaṅkito hoti, gacchatipi, tiṭṭhatipi, nivattatipi, gataṭṭhānato āgataṭṭhānameva bahutaraṃ hoti. so kicchena kasirena khemantabhūmiṃ pāpuṇāti vā, na vā pāpuṇāti. evamevaṃ yassa aṭṭhasu ṭhānesu vicikicchā uppannā hoti. so “buddho nu kho, na nu kho buddho”tiādinā nayena vicikicchanto adhimuccitvā saddhāya gaṇhituṃ na sakkoti. asakkonto maggaṃ vā phalaṃ vā na pāpuṇātīti yathā M.2.220 kantāraddhānamagge “corā atthi natthī”ti punappunaṃ āsappanaparisappanaṃ apariyogāhanaṃ chambhitatta cittassa uppādento khemantapattiyā antarāyaṃ karoti, evaṃ vicikicchāpi “buddho nu kho na buddho”tiādinā nayena punappunaṃ āsappanaparisappanaṃ apariyogāhanaṃ chambhitattaṃ cittassa uppādayamānā ariyabhūmippattiyā antarāyaṃ karotīti kantāraddhānamaggo viya daṭṭhabbā.

Cũng giống như người lữ khách đi đoạn đường dài trên sa mạc, nhìn thấy khoảng trống mà nhóm người bị bọn cướp, cũng nghi ngờ rằng bọn cướp đi đến với âm thanh tiếng gậy gộc, hoặc âm thanh của loài chim, rồi bước đi, rồi đứng lại, rồi quay trở lại, đường đi để quay trở lại nhiều hơn đường đi tiếp, hạng người đó đi đến nơi đó là ranh giới an toàn có được khó khăn, hoặc không đi đến như thế nào, hoài nghi là sự nghi ngờ của hạng người nào ở tám vị trí đã sanh khởi cũng tương tự như thế đó, vị ấy nghi ngờ rằng: “là đức Phật phải chăng? là đức Phật phải chăng?” không thể hướng tâm để cung kính bởi đức tin, khi không thể cũng không thể chứng đắc Đạo và Quả. Khi người vẫn còn sự hoài nghi, sự không chắc chắn, và sự lay động khởi lên trong tâm thường thường rằng: “Bọn cướp có hay không?” sẽ làm hại cho việc đi đến nơi an toàn như thế nào, ngay cả hoài nghi cũng như thế đó, sự nghi ngờ, sự không chắc chắn, sự lay động thường khởi lên nơi tâm theo cách ‘đức Phật’ v.v, sẽ làm nguy hại cho việc chứng đắc Thánh Đạo. Bậc trí giả nên biết giống như người lữ khách đi đoàn đường dài trên sa mạc.

idāni P.2.320 seyyathāpi, bhikkhave, āṇaṇyanti ettha bhagavā pahīnakāmacchandanīvaraṇaṃ āṇaṇyasadisaṃ, sesāni ārogyādisadisāni katvā dasseti. tatrāyaṃ sadisatā — yathā hi puriso iṇaṃ ādāya kammante payojetvā samiddhakammanto, “idaṃ iṇaṃ nāma palibodhamūlan”ti cintetvā savaḍḍhikaṃ iṇaṃ niyyātetvā paṇṇaṃ phālāpeyya. athassa tato paṭṭhāya neva koci dūtaṃ peseti, na paṇṇaṃ, so iṇasāmike disvāpi sace icchati, āsanā uṭṭhahati, no ce, na uṭṭhahati. kasmā? tehi saddhiṃ nillepatāya alaggatāya. evameva bhikkhu, “ayaṃ kāmacchando nāma palibodhamūlan”ti satipaṭṭhāne vuttanayeneva cha dhamme bhāvetvā kāmacchandanīvaraṇaṃ V.2.216 pajahati. tassevaṃ pahīnakāmacchandassa yathā iṇamuttassa purisassa iṇasāmike disvā neva bhayaṃ na chambhitattaṃ hoti. evameva paravatthumhi neva saṅgo na bandho hoti. dibbānipi rūpāni passato kileso na samudācarati. tasmā bhagavā āṇaṇyamiva kāmacchandappahānamāha.

Bây giờ, “Này chư Tỳ khưu…giống như không có mắc nợ” này đức Thế Tôn thuyết giảng sự ước muốn trong các dục đã được đoạn trừ để vận hành với sự không có mắc nợ và pháp ngăn che còn lại mà vị Tỳ khưu đã đoạn trừ cho vận hành giống với tính chất vô bệnh v.v. Trong câu đó, ý nghĩa tương tự nên biết như sau: – Giống như người mắc nợ rồi bắt tay vào việc làm, sau khi hoàn thành công việc nghĩ rằng: “Đây là khoản nợ làm nhân khiến cho lo lắng” hoàn trả khoản nợ cùng với khoản lãi rồi lấy giấy nợ vứt bỏ. Khi đó cũng không có ai đến để đề cập khoảng nợ này hoặc gửi giấy đòi nợ như trước đó. Khi nhìn thấy chủ nợ, nếu muốn ngồi hoặc đứng dậy từ chỗ ngồi hoặc không muốn ngồi, không cần phải đứng dậy cũng được. Vì thế, bởi vì (họ) đã không còn mắc nợ, không còn liên quan gì đến chủ nợ đó nữa như thế nào, vị Tỳ khưu gọi là mong muốn trong các dục có sự lo lắng làm nhân này, tu tập cả sáu Pháp theo cách thức đã được nói trong Kinh Thiết Lập Niệm, đoạn trừ sự ngăn che do mong muốn trong các dục tương tự như thế đó. Sự lo lắng, sự lay động do nhìn thấy chủ nợ không có cùng hạng người đã trả hết khoản nợ như thế nào; sự liên hệ, sự trói chặt của vị Tỳ khưu đã đoạn trừ sự mong muốn trong các dục, sẽ không có nơi đối tượng khác cũng tương tự như thế đó. Giống như nhìn thấy các sắc thậm chí thuộc về thiên giới thì phiền não cũng không xuất hiện. Vì thế, đức Thế Tôn mới thuyết việc đoạn trừ mong muốn trong các dục giống như người trả hết nợ.

yathā pana so pittarogāturo puriso bhesajjakiriyāya taṃ rogaṃ vūpasametvā tato paṭṭhāya madhusakkarādīnaṃ rasaṃ vindati. evamevaṃ bhikkhu, “ayaṃ byāpādo nāma anatthakārako”ti cha dhamme bhāvetvā byāpādanīvaraṇaṃ pajahati. so evaṃ pahīnabyāpādo yathā pittarogavimutto puriso madhusakkarādīni madhurāni sampiyāyamāno paṭisevati. evamevaṃ ācārapaṇṇattiādīni sikkhāpiyamāno sirasā sampaṭicchitvā sampiyāyamāno sikkhati. tasmā bhagavā ārogyamiva byāpādappahānamāha.

Lại nữa, giống như người khó chịu bởi bệnh tật đó, làm cho bệnh tình ấy thuyên giảm bằng việc sử dụng thuốc trị bệnh, từ đó biết được hương vị của đường phèn như thế nào; vị Tỳ khưu cũng như thế đó, khởi lên suy nghĩ rằng: “Sự sân hận này làm cho ta bị hủy hoại không có lợi ích” thực hành 6 Pháp để đoạn trừ sự ngăn che do sân hận. Vị Tỳ khưu ấy được gọi là đã đoạn trừ sân hận như vậy. Hạng người khỏi bệnh ưa thích đồ ăn ngọt có đường phèn v.v, như thế nào; vị Tỳ khưu ấy được thầy cho học tập các phẩm hạnh và giới luật chế định v.v, thọ nhận bằng đầu ưa thích học tập như thế đó. Đức Thế Tôn mới thuyết việc đoạn trừ sân hận giống như (người) không có bệnh.

yathā M.2.221 so nakkhattadivase bandhanāgāraṃ pavesito puriso aparasmiṃ nakkhattadivase, “pubbepi ahaṃ pamādadosena baddho taṃ nakkhattaṃ nānubhavāmi, idāni appamatto bhavissāmī”ti yathāssa paccatthikā okāsaṃ na labhanti. evaṃ appamatto hutvā nakkhattaṃ anubhavitvā — “aho nakkhattaṃ aho nakkhattan”ti udānaṃ udānesi. evameva bhikkhu, “idaṃ thinamiddhaṃ nāma mahāanatthakaran”ti cha dhamme bhāvetvā thinamiddhanīvaraṇaṃ pajahati. so evaṃ pahīnathinamiddho yathā bandhanā mutto puriso sattāhampi nakkhattassa ādimajjhapariyosānaṃ P.2.321 anubhavati. evamevaṃ bhikkhu dhammanakkhattassa ādimajjhapariyosānaṃ anubhavanto saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇāti. tasmā bhagavā bandhanā mokkhamiva thinamiddhappahānamāha.

Giống như hạng người bị bắt tống vào ngục trong ngày lễ hội Nakkhatta, thậm chí vào ngày Nakkhatta khác nữa, anh ta nghĩ rằng: “Ta đã từng bị bắt bởi lỗi lầm của sự khinh suất, mới không được vui chơi vào ngày lễ hội Nakkhatta do bởi lỗi lầm đó.” Bây giờ ta sẽ là người không lơ đễnh, kẻ thù của anh ta sẽ không có cơ hội, anh ta là người không khinh suất, cho nên được vui chơi vào ngày lễ hội Nakkhatta rồi thốt lên lời như sau: “Ồ, ngày lễ hội Nakkhatta như vầy…”; vị Tỳ khưu cũng vậy, vị ấy nghĩ rằng: “Hôn trầm và thụy miên này đã làm cho ta bị hủy hoại to lớn” mới tu tập 6 Pháp để đoạn trừ hôn trầm và thụy miên như vậy, hạng người thoát khỏi ngục tù vui chơi trong ngày hội Nakkhatta xuyên suốt từ lúc bắt đầu, lúc diễn ra (đoạn giữa), cho đến kết thúc cả 7 ngày, cũng thụ hưởng được cả từ lúc bắt đầu, giữa, và lúc kết thúc như thế nào; vị Tỳ khưu đoạn trừ hôn trầm và thuỵ miên cũng như thế ấy vui chơi trong Pháp Nakkhatta xuyên suốt ở đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối đã chứng đắc A-ra-hán cùng với Tuệ phân tích. Vì thế đức Thế Tôn thuyết giảng việc đoạn trừ hôn trầm và thụy miên giống như việc đã thoát khỏi ngục tù.

yathā pana dāso kañcideva mittaṃ upanissāya sāmikānaṃ dhanaṃ datvā attānaṃ bhujissaṃ katvā tato paṭṭhāya yaṃ icchati, taṃ kareyya. evameva bhikkhu, “idaṃ uddhaccakukkuccaṃ nāma mahāanatthakaran”ti cha dhamme bhāvetvā uddhaccakukkuccaṃ pajahati. so evaṃ pahīnuddhaccakukkucco yathā bhujisso puriso yaṃ icchati, taṃ karoti. na taṃ koci balakkārena tato nivatteti. evamevaṃ bhikkhu yathāsukhaṃ nekkhammapaṭipadaṃ paṭipajjati, na naṃ uddhaccakukkuccaṃ V.2.217 balakkārena tato nivatteti. tasmā bhagavā bhujissaṃ viya uddhaccakukkuccappahānamāha.

Lại nữa giống như người nô lệ nương vào bất kỳ một người bạn nào, đưa tiền của cho người chủ, làm cho bản thân được trở thành người tự do, kể từ đó người ấy có thể tự làm những điều mình mong muốn như thế nào; vị Tỳ khưu cũng tương tự như thế, vị ấy nghĩ rằng: “Phóng dật và hối hận này khiến (ta) bị hủy hoại lớn lao” (vị ấy) mới thực tu tập 6 Pháp để đoạn trừ phóng dật và hối hận. Vị Tỳ khưu đó gọi là đã đoạn trừ phóng dật và hối hận bằng biểu hiện như vậy. Người được tự chủ về bản thân mong muốn làm điều nào sẽ làm điều đó, không ai có thể tùy tiện cản trở việc làm đó được như thế nào; vị Tỳ khưu thực hành đạo lộ của sự xuất ly theo ý muốn tương tư thế ấy, không có bất cứ ai có thể tùy tiện làm cho vị ấy quay trở lại đạo lộ của sự xuất ly ấy để đến phóng dật và hối hận. Vì thế Đức Thế Tôn thuyết việc đoạn trừ phóng dật và hối hận giống như việc tự chủ bản thân.

yathā balavā puriso hatthasāraṃ gahetvā sajjāvudho saparivāro kantāraṃ paṭipajjeyya. taṃ corā dūratova disvā palāyeyyuṃ. so sotthinā taṃ kantāraṃ nittharitvā khemantaṃ patto haṭṭhatuṭṭho assa. evamevaṃ bhikkhu, “ayaṃ vicikicchā nāma anatthakārikā”ti cha dhamme bhāvetvā vicikicchaṃ pajahati. so evaṃ pahīnavicikiccho yathā balavā sajjāvudho saparivāro puriso nibbhayo core tiṇaṃ viya agaṇetvā sotthinā nikkhamitvā khemantabhūmiṃ pāpuṇāti. evamevaṃ duccaritakantāraṃ nittharitvā paramakhemantabhūmiṃ amataṃ nibbānaṃ pāpuṇāti. tasmā bhagavā khemantabhūmiṃ viya vicikicchāpahānamāha.

Giống như người có sức mạnh cầm lấy lương khô, khi chuẩn bị vũ khí cùng với các tùy tùng đi đến sa mạc, bọn cướp nhìn thấy từ đằng xa đã bỏ chạy, người đó vượt qua bãi sa mạc đế đế nơi an toàn một cách tốt đẹp, trở nên vui mừng hoan hỷ như thế nào; vị Tỳ khưu cũng tương tự như thế, vị ấy nghĩ rằng: “Hoài nghi này đã hủy hoại không phải lợi ích” rồi vị ấy thực hành 6 Pháp để đoạn trừ hoài nghi. Vị ấy sau khi đoạn trừ được hoài nghi bằng tính chất như vậy. Người có sức mạnh, có vũ khí đã chuẩn bị trước, cùng với các tùy tùng, khi nhìn thấy bọn cướp, họ không sợ hãi, không suy nghĩ coi bọn chúng như cỏ, đi đến nơi an toàn một cách tốt đẹp như thế nào; vi Tỳ khưu cũng như thế vượt qua bãi sa mạc là các ác hạnh đạt đến bất tử Niết bàn an lạc tối thượng. Vì thế đức Thế Tôn thuyết hoài nghi giống như người đạt đến nơi an toàn.

427. imameva kāyanti imaṃ karajakāyaṃ. abhisandetīti temeti sneheti, sabbattha pavattapītisukhaṃ karoti. parisandetīti samantato sandeti. paripūretīti vāyunā bhastaṃ viya pūreti. parippharatīti samantato phusati. sabbāvato kāyassāti assa bhikkhuno sabbakoṭṭhāsavato kāyassa. kiñci upādinnakasantatipavattiṭṭhāne chavimaṃsalohitānugataṃ aṇumattampi ṭhānaṃ paṭhamajjhānasukhena aphuṭṭhaṃ nāma na hoti. dakkhoti cheko paṭibalo nhānīyacuṇṇāni kātuñceva yojetuñca sannetuñca. kaṃsathāleti yena kenaci P.2.322 lohena katabhājane. mattikabhājanaṃ pana thiraṃ na hoti, sannentassa bhijjati, tasmā taṃ na dasseti.

427 Imameva kāyaṃ: Xác thân này. Abhisandeti (tẩm ướt): làm cho hạnh phúc, làm cho yêu thương, làm cho hỷ và lạc diễn tiến trong toàn bộ xác thân này. Parisandeti (thấm nhuần): chảy tràn ra chung quanh. Paripūreti (sung mãn): tràn đầy như ống thổi đầy hơi. Parippharati (lan tràn khắp): đụng chạm trọn vẹn. Sabbāvato kāyassa (toàn bộ thân): thậm chí một chút ít theo da, thịt, máu ở trong liên kết vận hành của bất kỳ một sắc thủ nào của mọi bộ phận trên thân vị Tỳ khưu được gọi là không tiếp chạm bởi lạc trong Sơ thiền (chắc chắn điều đó) không có. Dakkho (người thông minh): vị khéo léo có thể thực hành, có thể gắn kết và có thể hòa trộn xà phòng để tắm. Kaṃsathāle: dụng cụ được làm bằng một chất kim loại bất kỳ, dụng cụ được làm bằng đất sét là dụng cụ không được chắc chắn, khi người tác động vào sẽ vỡ, vì thế đức Thế Tôn không nói đến dụng cụ được làm bằng đất sét đó.

paripphosakaṃ paripphosakanti siñcitvā siñcitvā. sanneyyāti vāmahatthena kaṃsathālaṃ gahetvā dakkhiṇena hatthena pamāṇayuttaṃ udakaṃ siñcitvā siñcitvā parimaddanto piṇḍaṃ kareyya. snehānugatāti udakasinehena anugatā. snehaparetāti udakasinehena parigatā. santarabāhirāti saddhiṃ antopadesena ceva bahipadesena ca, sabbatthakameva udakasinehena phuṭāti attho. na ca pagghariṇīti na bindu bindu udakaṃ paggharati, sakkā hoti hatthenapi dvīhipi tīhipi aṅgulīhi gahetuṃ ovaṭṭikampi kātunti attho.

paripphosakaṃ paripphosakaṃ: rắc rải (bột tắm). Sanneyya: Cầm lấy cái chậu bằng đồng bằng tay trái, rắc đi rắc lại (bột tắm) với nước vừa đủ bằng tay phải rồi nhồi thành khối. Snehānugata: dính lại với nhau với keo dính là nước. Snehaparetā: thấm ướt với keo dính là nước. Santarabāhirā: cả bên trong lẫn bên ngoài. Đụng chạm với tất cả các phần bởi keo dính là nước. Na ca pagghariṇī: nước không chảy ra ngoài dù chỉ một giọt, tức là có thể để mang đi, thậm chí bằng tay, ngay cả với ngón tay chỉ cần hai ngón, cầm nặng cho tròn được.

428. dutiyajjhānasukhaupamāyaṃ ubbhitodakoti ubbhinnaudako, na heṭṭhā ubbhijjitvā uggacchanaudako, antoyeva pana ubbhijjanaudakoti attho. āyamukhanti āgamanamaggo. devoti V.2.218 megho. kālenakālanti kāle kāle, anvaddhamāsaṃ vā anudasāhaṃ vāti attho. dhāranti vuṭṭhiṃ. nānuppaveccheyyāti na paveseyya, na vasseyyāti attho. sītā vāridhārā ubbhijjitvāti sītaṃ vāri taṃ udakarahadaṃ pūrayamānaṃ ubbhijjitvā. heṭṭhā uggacchanaudakañhi uggantvā uggantvā bhijjantaṃ udakaṃ khobheti. catūhi disāhi pavisanaudakaṃ purāṇapaṇṇatiṇakaṭṭhadaṇḍakādīhi udakaṃ khobheti. vuṭṭhiudakaṃ dhārānipātapupphuḷakehi udakaṃ khobheti. sannisinnameva pana hutvā iddhinimmitamiva uppajjamānaṃ udakaṃ imaṃ padesaṃ pharati, imaṃ padesaṃ na pharatīti natthi. tena aphuṭokāso nāma na hotīti. tattha rahado viya karajakāyo, udakaṃ viya dutiyajjhānasukhaṃ. sesaṃ purimanayeneva veditabbaṃ.

So sanh lạc trong Nhị thiền, ubbhitodako (có nước dâng lên): Nước không chảy ra, là nước không chảy xuống dưới, không trào ra ở trên, tức là nước ở sanh ra ở bên trong. Āyamukhaṃ (con đường mà nước chảy ra được): con đường đi đến. Devo (mưa) gồm đám mây. Kālenakālaṃ (theo mùa), theo thời gian, mỗi nửa tháng, mỗi mười ngày. Dhāraṃ (dòng nước): gồm nước mưa. Nānuppaveccheyya: (nước mưa) không thể chảy vào, tức là không rơi xuống. có nghĩa là dòng nước mát lạnh tràn ra, chảy ra làm hồ nước được làm cho dòng nước mát lạnh đầy. Thật vậy, nước từ dưới đất phun lên rồi vỡ, lan rộng ra, làm cho chỗ nước ứ đọng gợn sóng, nước chảy ra trôi về cả bốn hướng làm cho nước được gợn sóng với lá, cỏ, cành cây, khúc gỗ mục, v.v. Mưa rơi xuống làm cho nước gợn sóng với những bong bóng nước, nước từ dòng chảy chảy xuống. Nhưng nước trở nên êm ả sẽ tràn vào đất nước này, sẽ không tràn vào đất nước này, tựa như đã được tạo ra bởi thần lực. Vì thế, cơ hội mà nước đó không thấm vào không có. Trong câu này xác thân này giống như hồ nước,lạc của Nhị thiền giống như nước. Từ còn lại bậc trí giả nên hiểu theo cách trước.

429. tatiyajjhānasukhaupamāyaṃ M.2.223 uppalāni ettha santīti uppalinī. sesapadadvayesupi eseva nayo. ettha ca setarattanīlesu yaṃkiñci uppalaṃ uppalameva, ūnakasatapattaṃ puṇḍarīkaṃ, satapattaṃ padumaṃ. pattaniyamaṃ vā vināpi setaṃ padumaṃ, rattaṃ puṇḍarīkanti ayamettha vinicchayo. udakānuggatānīti udakato na uggatāni. antonimuggaposīnīti P.2.323 udakatalassa anto nimuggāniyeva hutvā posīni, vaḍḍhīnīti attho. sesaṃ purimanayeneva veditabbaṃ.

So sánh lạc trong Tam thiền, một hồ đầy hoa sen ở đây, vì thế ở đây gọi là hồ đầy sen. Cả hai từ còn lại cũng có cách thức tương tự. Nên biết lý giải trong câu này như sau: Trong lời này, trong số các loại hoa sen, hoa sen trắng, hoa sen đỏ, hoa sen xanh, bất kỳ loại hoa sen nào tất cả chúng đều được gọi chung là hoa sen. Hoa sen có chín mươi chín bông gọi là Puṇḍarīka, có một trăm bông gọi là Paduma. Hơn nữa, hoa sen tráng dầu không được xác định số bông cũng gọi là Paduma, hoa sen đỏ gọi là Puṇḍarīka. Udakānuggatāni: không vươn lên khỏi mặt nước. Antonimuggaposīni: chỉ chìm trong mặt nước, mọc lên (trong nước). Từ còn lại nên hiểu theo cách trước.

430. catutthajjhānasukhaupamāyaṃ parisuddhena cetasā pariyodātenāti ettha nirupakkilesaṭṭhena parisuddhaṃ. pabhassaraṭṭhena pariyodātaṃ veditabbaṃ. odātena vatthenāti idaṃ utupharaṇatthaṃ vuttaṃ. kiliṭṭhavatthena hi utupharaṇaṃ na hoti, taṅkhaṇadhotaparisuddhena utupharaṇaṃ balavaṃ hoti. imissā hi upamāya vatthaṃ viya karajakāyo. utupharaṇaṃ viya catutthajjhānasukhaṃ. tasmā yathā sunhātassa purisassa parisuddhaṃ vatthaṃ sasīsaṃ pārupitvā nisinnassa sarīrato utu sabbameva vatthaṃ pharati, na koci vatthassa aphuṭokāso hoti. evaṃ catutthajjhānasukhena bhikkhuno karajakāyassa na koci okāso aphuṭo hotīti evamettha attho daṭṭhabbo. catutthajjhānacittameva vā vatthaṃ viya, taṃsamuṭṭhānarūpaṃ utupharaṇaṃ viya. yathā hi katthaci odātavatthe kāyaṃ apphusantepi taṃsamuṭṭhānena utunā sabbatthakameva kāyo phuṭṭho hoti. evaṃ catutthajjhānasamuṭṭhitena sukhumarūpena sabbatthakameva bhikkhuno karajakāyo phuṭo hotīti evamettha attho daṭṭhabbo.

430. So sánh lạc trong Tứ thiền này, nên biết rằng với tâm thuần tịnh trong sáng này gọi là thuần tịnh bởi ý nghĩa chấm dứt hết tùy phiền não, gọi là trong sáng bởi ý nghĩa chói sáng. Odātena vatthena (với tấm vải trắng): ngài đã nói nhằm mục đích để lan tỏa sự ấm áp. Nên biết ý nghĩa trong câu này như sau: “Tấm vải ô nhiễm thì hơi ấm không lan toả.” Lúc nào tấm vải trắng được giặt sạch sẽ, hơi ấm có năng lực lan tỏa. Thật vậy, đối với ví dụ này, sắc thân giống như tấm vải, sự an lạc trong Tứ thiền giống như việc lan tỏa trong hư không. Vì thế, khi con người đi tắm giặt vệ sinh sạch sẽ, ngồi quàng tấm vải trắng trên đầu, nhiệt từ trên đầu sẽ lan toả toàn bộ (tấm vải). Khoảng trống nào mà hơi ấm không xúc chạm với tấm vải không có thế nào; khoảng trống nào mà sự an lạc trong Tứ thiền không xúc chạm với vị Tỳ khưu đó không có như thế.” Hơn nữa, Tâm trong Tứ thiền giống như tấm vải đã mặc, sắc có tâm làm sở sanh giống như việc lan tỏa của hư không. Bậc trí nên biết ý nghĩa trong trường hợp này như sau: Giống như khi tấm vải trắng sạch sẽ ở một số nơi và hơi được sanh ra từ tấm vải ấy tiếp xúc xung quanh thế nào; sắc thân của vị Tỳ khưu đó cũng trở thành sắc tế do Tứ thiền cho sanh khởi tiếp xúc toàn bộ cũng như thế.”

431. pubbenivāsañāṇaupamāyaṃ V.2.219 taṃdivasaṃ katakiriyā pākaṭā hotīti taṃdivasaṃ gatagāmattayameva gahitaṃ. tattha gāmattayaṃ gatapuriso viya pubbenivāsañāṇalābhī daṭṭhabbo. tayo gāmā viya tayo bhavā daṭṭhabbā. tassa purisassa tīsu gāmesu taṃdivasaṃ katakiriyāya āvibhāvo viya pubbenivāsāya cittaṃ abhinīharitvā nisinnassa bhikkhuno tīsu bhavesu katakiriyāya āvibhāvo daṭṭhabbo.

431 Nên biết so sánh về trí nhớ trong các kiếp sống trước, hành động mà vị Tỳ khưu đó đã thực hành hiện hữu rõ ràng, vì thế nắm lấy ba ngôi làng trong ngày hôm đó. Trong câu đó, bậc trí nên biết rằng vị Tỳ khưu nào chứng đạt túc mạng thông trí giống như hạng người đi vào ba ngôi làng. Ba cõi, bậc trí thấy giống như ba ngôi làng. Sự nhận thức rõ ràng của hành động mà vị Tỳ khưu hướng tâm ở trong túc mạng thông trí đã thực hiện trong ba cõi, giống như sự rõ ràng của hành động mà người đó đã thực hành trong ngày hôm đó ở trong ba ngôi làng.

432. dibbacakkhūpamāyaṃ M.2.224 dve agārāti dve gharā. sadvārāti sammukhadvārā. anucaṅkamanteti aparāparaṃ sañcarante. anuvicaranteti ito cito ca vicarante, ito pana gehā nikkhamitvā etaṃ gehaṃ, etasmā vā nikkhamitvā imaṃ gehaṃ pavisanavasenapi daṭṭhabbā. tattha dve agārā sadvārā viya cutipaṭisandhiyo, cakkhumā P.2.324 puriso viya dibbacakkhuñāṇalābhī, cakkhumato purisassa dvinnaṃ gehānaṃ antare ṭhatvā passato dve agāre pavisanakanikkhamanakapurisānaṃ pākaṭakālo viya dibbacakkhulābhino ālokaṃ vaḍḍhetvā olokentassa cavanakaupapajjanakasattānaṃ pākaṭakālo. kiṃ pana te ñāṇassa pākaṭā, puggalassāti? ñāṇassa. tassa pākaṭattā pana puggalassa pākaṭāyevāti.

432 Nên biết so sánh về Thiên nhãn, dve agārā: ngôi nhà hai gian. Sadvārā: có cánh của ở trước. Anucaṅkamante: đang đi đến. Anuvicarante: đi du hành chỗ này chỗ kia, nên biết với khả năng của việc rời khỏi ngôi nhà này, rồi đi vào ngôi nhà kia, hoặc đi khỏi ngôi nhà kia rồi đi vào ngôi nhà này. Trong câu đó, Tử và Tục Sanh giống như ngôi nhà hai gian có chung cánh cửa, vị Tỳ khưu chứng đắc Thiên nhãn trí giống như người có mắt tốt, thời gian mà chúng sanh đang Tử và Tục sanh hiện hữu cùng vị Tỳ khưu chứng đắc thiên nhãn trí, vị thực hành biến tịnh ánh sáng đang xem xét, giống như thời gian người đàn ông đi vào và đi ra liên tục ngôi nhà hai gian, xuất hiện cùng người đàn ông có mắt đứng quan sát ở giữa ngôi nhà hai gian. (hỏi) những thứ đó hiện hữu cùng trí hay cùng hạng người? (đáp) cùng trí. Nhưng do xuất hiện cùng trí ấy, mới hiện hữu cùng hạng người tương tự.

433. āsavakkhayañāṇaupamāyaṃ pabbatasaṅkhepeti pabbatamatthake. anāviloti nikkaddamo. sippiyo ca sambukā ca sippisambukaṃ. sakkharā ca kathalā ca sakkharakathalaṃ. macchānaṃ gumbā ghaṭāti macchagumbaṃ. tiṭṭhantampi carantampīti ettha sakkharakathalaṃ tiṭṭhatiyeva, itarāni carantipi tiṭṭhantipi. yathā pana antarantarā ṭhitāsupi nisinnāsupi vijjamānāsupi, “etā gāvo carantī”ti carantiyo upādāya itarāpi carantīti vuccanti. evaṃ tiṭṭhantameva sakkharakathalaṃ upādāya itarampi dvayaṃ tiṭṭhantanti vuttaṃ. itarañca dvayaṃ carantaṃ upādāya sakkharakathalampi carantanti vuttaṃ. tattha cakkhumato purisassa tīre ṭhatvā passato sippisambukādīnaṃ vibhūtakālo viya āsavānaṃ khayāya cittaṃ nīharitvā nisinnassa bhikkhuno catunnaṃ saccānaṃ vibhūtakālo daṭṭhabbo.

Nên biết so sánh về Lậu tận trí, pabbatasaṅkhepe đồng nghĩa với pabbatamatthake (trên đỉnh ngọn núi). Anāvilo: Không có bùn lầy. Những con hến, những con sò được gọi là những con ốc, những con sò gọi là sippi-sambuka. những hòn đá, những viên gạch gọi là sakkhara-kathala. Gọi là đàn cá bởi cá (sống) thành bầy, thành đàn. tiṭṭhantampi carantampi (thỉnh thoảng đứng tại chỗ, thỉnh thoảng lại bơi đi) này những hòn đá, hay những viên gạch đứng im, nhưng ngoài ra còn có những con ốc v.v, đang bơi, (hoặc) đứng lại. Tương tự như ở giữa bò mẹ đang đứng, đang cúi mình, đang nằm xuống, đàn bò đó gọi là ‘đang đi loanh quanh’, những con bò ngoài ra cũng được gọi là ‘đang đi loanh quanh’ do y cứ vào đàn bò đang đi như thế nào, đức Thế Tôn muốn đề cập đến những hòn đá, những viên gạch đang dừng lại ở đó, mới nói rằng hai nhóm ngoài ra dừng lại. Muốn ám chỉ hai nhóm này di chuyển mới nói rằng thậm chí những hòn đá, và những viên gạch cũng di chuyển. Trong câu đó, nên biết thời gian bốn Chân lý được sáng tỏ cùng chư Tỳ khưu ngồi hướng tâm để diệt tận tất cả lâu hoặc, giống như thời gian nhưng con hến, những con sò v.v, rõ ràng cùng hạng người có mắt đứng ở trên bờ nhìn xuống.

434. idāni sattahākārehi saliṅgato saguṇato khīṇāsavassa nāmaṃ gaṇhanto, ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu samaṇo itipītiādimāha. tattha evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu samaṇo V.2.220 hotītiādīsu, bhikkhave, evaṃ bhikkhu samitapāpattā samaṇo hoti. bāhitapāpattā brāhmaṇo hoti. nhātakilesattā nhātako hoti, dhotakilesattāti attho. catumaggañāṇasaṅkhātehi vedehi akusaladhammānaṃ gatattā vedagū hoti, viditattāti attho. teneva viditāssa hontītiādimāha. kilesānaṃ sutattā sottiyo hoti, nissutattā M.2.225 apahatattāti attho. kilesānaṃ ārakattā ariyo hoti, hatattāti attho. tehi ārakattā arahaṃ hoti, dūrībhūtattāti attho. sesaṃ sabattha pākaṭamevāti.

Bây giờ, đức Thế Tôn khi nắm lấy tên bậc Lậu tận cả về hình tướng, cả về đức hạnh với 7 biểu hiện mới nói rằng: “Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu như vậy được gọi là Sa-môn v.v,” Ở đó, như vậy, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu được gọi là Sa-môn v.v, đức Thế Tôn thuyết rằng “này chư Tỳ khưu, với biểu hiện như vậy Tỳ khưu được gọi là Sa-môn bởi các ác pháp đã được an tĩnh.” Gọi là Bà-la-môn bởi các ác pháp đã được thả trôi. nhātaka (người tắm) bởi có phiền não đã được rửa sạch, có phiền đã được diệt tận. gọi là vedagū (vị đã đạt được sự hiểu biết): do các bất thiện Pháp biến mất bằng sự hiểu biết là bốn Đạo Tuệ. Tức là đã biết. Vì thế, đức Thế Tôn mới thuyết rằng: “Vị Tỳ khưu đã biết rõ rồi” v.v. Gọi là sottiyo bởi tất cả các phiền não đã ngủ, do các phiền não đã được trục xuất khỏi. Gọi là ariya bởi xa lìa tất cả phiền não. Do các phiền não đã bị diệt tận. Gọi là Arahanta bởi lìa xa, là người đã lìa xa. Từ còn lại trong các câu đã rõ ràng.

Giải Thích Đại Kinh Xóm Ngựa Kết Thúc.