Kinh số 26 – Giải Thích Đại Kinh Thánh Cầu

(Pāsarāsisuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Đại Kinh Thánh Cầu

272. Evaṃ me sutanti pāsarāsisuttaṃ. tattha sādhu mayaṃ, āvusoti āyācantā bhaṇanti. ete kira pañcasatā bhikkhū janapadavāsino “dasabalaṃ passissāmā”ti sāvatthiṃ anuppattā. satthudassanaṃ pana etehi laddhaṃ, dhammiṃ kathaṃ na tāva suṇanti. te satthugāravena “amhākaṃ, bhante P.2.164, dhammakathaṃ kathethā”ti vattuṃ na sakkonti. buddhā hi garū honti, ekacāriko sīho migarājā viya, pabhinnakuñjaro viya, phaṇakatāasīviso viya, mahāaggikkhandho viya ca durāsadā vuttampi cetaṃ — 

272 Kinh Thánh Cầu được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, lành thay, hiền giả Ānanda, xin cho chúng tôi được nghe thuyết pháp (sādhu mayaṃ, āvuso): nói lời van xin. Kể rằng chư Tỳ khưu người địa phương có khoảng năm trăm vị nghĩ rằng sẽ “chúng tôi sẽ đến yết kiến đấng Thập Lực” mới đi đến thành Sāvatthi. Chư Tỳ khưu ấy yết kiến bậc Đạo Sư rồi vẫn chưa được nghe Pháp thoại, với sự tôn kính đối với bậc Đạo Sư, chư Tỳ khưu đó không thể nói rằng: “Kính bạch Ngài, xin ngài từ bi thuyết giảng Pháp cho chúng con.” Bởi vì chư Phật là thầy, rất khó để gặp giống như con sư tử vua của loài thú đi du hành một mình, tương tự như con voi bị nổi cơn (động dục), giống như con rắn hổ mang phòng mang, tương tự như ngọn lửa lớn. Và điều nay như ngài đã nói như sau – 

“āsīviso yathā ghoro, migarājāva kesarī. 

nāgova kuñjaro dantī, evaṃ buddhā durāsadā”ti. 

evaṃ durāsadaṃ satthāraṃ te bhikkhū sayaṃ yācituṃ asakkontā āyasmantaṃ ānandaṃ yācamānā “sādhu mayaṃ, āvuso”ti āhaṃsu. 

Giống như con rắn độc khủng khiếp, giống như con sư tử vua của loài thú, tựa như con voi có ngà đã bị nổi cơn (động dục), chư Phật là khó mà tiếp cận như thế ấy. 

Chư Tỳ khưu ấy không thể khẩn cầu bậc Đạo Sư vị khó thể tiếp cận như thế bởi chính mình mới nài nỉ Đại đức Ānanda rằng: “xin cho chúng tôi được nghe Pháp…” v.v. 

appeva nāmāti api nāma labheyyātha. kasmā pana thero te bhikkhū “rammakassa brāhmaṇassa assamaṃ upasaṅkameyyāthā”ti āha? pākaṭakiriyatāya. dasabalassa hi kiriyā therassa pākaṭā hoti; jānāti thero, “ajja satthā jetavane vasitvā pubbārāme divāvihāraṃ karissati; ajja pubbārāme vasitvā jetavane divāvihāraṃ karissati; ajja ekakova piṇḍāya pavisissati; ajja bhikkhusaṅghaparivuto imasmiṃ kāle janapadacārikaṃ nikkhamissatī”ti. 

appeva nāma: làm sao chúng tôi có thể có được. Tại sao? Trưởng lão nói cùng chư Tỳ khưu đó rằng “các ông nên đi đến nơi trú ẩn của Bà-la-môn ở Rammaka”. Bởi vì có pākaṭakiriyā (tâm hành được hiện rõ). Do tâm hành của đấng Thập Lực hiện hữu cùng Trưởng lão. Trưởng lão biết rằng “hôm nay sau khi đấng Thập Lực trú ở Jetavana, ngài sẽ nghỉ trưa ở Pubbārāma; hôm nay sau khi trú Pubbārāma ngài sẽ nghĩ trưa ở Jetavana; hôm nay ngài đi khất thực một mình; hôm nay chúng Tăng sẽ vây quanh, trong lúc này ngài sẽ đi ra du hành trong dân chúng.” 

kiṃ panassa evaṃ jānanatthaṃ cetopariyañāṇaṃ atthīti? natthi. anumānabuddhiyā pana katakiriyāya nayaggāhena jānāti. yañhi divasaṃ bhagavā jetavane vasitvā pubbārāme divāvihāraṃ kātukāmo hoti, tadā senāsanaparikkhārabhaṇḍānaṃ paṭisāmanākāraṃ dasseti, thero sammajjanisaṅkārachaḍḍanakādīni paṭisāmeti. pubbārāme vasitvā jetavanaṃ divāvihārāya āgamanakālepi eseva nayo. 

Đại đức Ānanda có tha tâm thông để biết được (điều đó) như thế nào? (Đại đức Ānanda) không có. Ngài biết bằng cách giữ lấy tâm hành được thực hiện nhờ biết theo sự  suy luận. Thật vậy, bởi nếu ngày nào đức Thế Tôn trú ở tại Jetavana (hôm đó) ngài có ước muốn sẽ nghỉ ngơi ở Pubbārāma, khi ấy ngài thể hiện biểu hiện cho biết với việc gìn giữ trú xứ và các vật phụ tùng, Trưởng lão giữ lại cây chổi và đồ thờ cúng mà họ đã vứt bỏ v.v. thậm chí trong thời gian an trú ở Pubbārāma rồi ngài đến Jetavana nghỉ trưa cũng cách đó tương tự. 

yadā pana ekako piṇḍāya pavisitukāmo hoti, tadā pātova sarīrapaṭijagganaṃ katvā gandhakuṭiṃ pavisitvā dvāraṃ pidhāya phalasamāpattiṃ appetvā nisīdati. thero “ajja bhagavā bodhaneyyabandhavaṃ disvā nisinno”ti tāya saññāya ñatvā “ajja, āvuso, bhagavā ekako pavisitukāmo, tumhe bhikkhācārasajjā hothā”ti bhikkhūnaṃ saññaṃ deti.  

Khi nào (đức Phật) có ý muốn đi khất thực một mình, khi đó sau khi thực hiện thanh tẩy thân thể vào buổi sáng, đi vào Gandhakuṭi, đóng cửa rồi ngồi xuống để thể nhập thiền quả. Trưởng lão nhận biết bằng trực giác ấy rằng: “hôm nay đức Thế Tôn ngồi quan sát chúng hữu tình có thể giác ngộ, rồi ra hiệu cho chúng Tỳ khưu ‘này chư hiền, hôm này đức Thế Tôn có ý muốn đi một mình, các hãy hãy tự mình đi khất thực.” 

yadā pana bhikkhusaṅghaparivāro pavisitukāmo hoti, tadā gandhakuṭidvāraṃ upaḍḍhapidahitaṃ katvā phalasamāpattiṃ appetvā nisīdati, thero tāya saññāya ñatvā pattacīvaraggahaṇatthāya bhikkhūnaṃ saññaṃ deti. yadā janapadacārikaṃ nikkhamitukāmo hoti, tadā ekaṃ dve ālope atirekaṃ bhuñjati, sabbakālaṃ caṅkamanañcāruyha aparāparaṃ caṅkamati, thero tāya saññāya ñatvā “bhagavā, āvuso, janapadacārikaṃ caritukāmo, tumhākaṃ kattabbaṃ karothā”ti bhikkhūnaṃ saññaṃ deti. 

Khi nào (đức Phật) có ý muốn có Tỳ khưu tùy tùng đi khất thực, khi đó ngài chỉ khép của Gandhakuṭi, rồi ngồi xuống thể nhập thiền quả, Trương lão nhận biết bằng trực giác mới ra hiệu cho chư Tỳ khưu để tiếp nhận bình bát và y phục. Nhưng khi nào đức Phật có ý muốn đi du hành ở trong xứ sở khi đó thọ dụng vật thực 1 vắt 2 vắt và ngài đi kinh hành tới lui ơ ở mọi thời. Trương lão nhận biết bằng trực giác mới ra dấu cho chư Tỳ khưu rằng: “Này hiền giả, đức Thế Tôn, ngài có ý muốn đi du hành ở trong xứ sở, các ngài hãy làm những việc cần làm của các ngài. 

bhagavā paṭhamabodhiyaṃ vīsati vassāni anibaddhavāso ahosi, pacchā pañcavīsati vassāni abbokiṇṇaṃ sāvatthiṃyeva upanissāya vasanto ekadivase M.2.71 dve ṭhānāni paribhuñjati. jetavane rattiṃ vasitvā punadivase bhikkhusaṅghaparivuto dakkhiṇadvārena sāvatthiṃ piṇḍāya pavisitvā pācīnadvārena nikkhamitvā pubbārāme divāvihāraṃ karoti. pubbārāme rattiṃ vasitvā punadivase pācīnadvārena sāvatthiṃ piṇḍāya pavisitvā dakkhiṇadvārena nikkhamitvā jetavane divāvihāraṃ karoti.  

Đức Thế Tôn trong thời gian đầu giác ngộ đã an trú không thường xuyên 20 hạ, sau đó, ngài an trú 25 hạ lạp liên tiếp ở Sāvatthi, trong một ngày ngài trú ở 2 nơi, ban đêm ngài an trú ở Jetavana, sáng hôm sau được vây quanh bởi chư Tỳ khưu, ngài đi vào cổng hướng nam cổng thành Sāvatthi để khất thực và đi ra cổng phía đông, nghỉ trưa ở Pubbārāma. Ban đêm trú ở Pubbārāma, sáng hôm sau ngài đi khất thực ở cổng thành hướng Đông thành Sāvatthi, rồi ngài trở ra ở cổng thành hướng Nam, nghỉ trưa ở Jetavana.  

kasmā? dvinnaṃ kulānaṃ anukampāya. manussattabhāve ṭhitena hi anāthapiṇḍikena viya aññena kenaci, mātugāmattabhāve ṭhitāya ca visākhāya viya aññāya itthiyā tathāgataṃ uddissa dhanapariccāgo kato nāma natthi, tasmā bhagavā tesaṃ anukampāya ekadivase imāni dve ṭhānāni paribhuñjati. tasmiṃ pana divase jetavane vasi, tasmā thero — “ajja bhagavā sāvatthiyaṃ piṇḍāya caritvā sāyanhakāle gattāni parisiñcanatthāya pubbakoṭṭhakaṃ gamissati; athāhaṃ gattāni parisiñcitvā ṭhitaṃ bhagavantaṃ yācitvā rammakassa brāhmaṇassa assamaṃ gahetvā gamissāmi. evamime bhikkhū bhagavato sammukhā labhissanti dhammakathaṃ savanāyā”ti cintetvā te bhikkhū evamāha. 

Vì sao? bởi vì ngài muốn tiếp độ cho 2 gia tộc. Thật vậy, bất cứ người nào đã được thiết lập trong bản thể của loài người giống như trưởng giả Anāthapiṇḍika, và người phụ nữ khác đã được thiết lập trong bản thể người nữ giống như bà đại tín nữ Visākhā đã thực hiện bố thí tài sản hướng đến đấng Như Lai ắt hẳn không có, vì thế đức Thế Tôn mới  dụng 2 nơi này trong cùng một ngày để tiếp độ cho 2 gia tộc đó. Cũng trong ngày đó, ngài trú ở Jetavana, do đó Trưởng lão mới nghĩ rằng: “hôm nay đức Thế Tôn ngài đi khất thực trong thành Sāvatthi, vào buổi chiều ngài sẽ đi đến cổng hướng Đông để rửa tay rửa chân; khi đó tôi sẽ khẩn cầu đức Thế Tôn đứng rửa tay rửa chân rồi đi đến nắm lấy khu ẩn cư của Bà-la-môn Rammaka. Như vậy thì chư Tỳ khưu này sẽ được lắng nghe Pháp thoại ở trước mặt đức Thế Tôn” ngài đã nói cùng chư Tỳ khưu đó như vậy. 

migāramātupāsādoti visākhāya pāsādo. sā hi migārena seṭṭhinā mātuṭṭhāne ṭhapitattā migāramātāti vuccati. paṭisallānā vuṭṭhitoti tasmiṃ kira pāsāde dvinnaṃ mahāsāvakānaṃ sirigabbhānaṃ majjhe bhagavato sirigabbho ahosi. thero dvāraṃ vivaritvā antogabbhaṃ sammajjitvā mālākacavaraṃ nīharitvā mañcapīṭhaṃ paññapetvā satthu saññaṃ adāsi. satthā sirigabbhaṃ pavisitvā dakkhiṇena passena sato sampajāno sīhaseyyaṃ upagamma darathaṃ paṭippassambhetvā uṭṭhāya phalasamāpattiṃ appetvā nisīditvā sāyanhasamaye tato vuṭṭhāsi. taṃ sandhāya vuttaṃ “paṭisallānā vuṭṭhito”ti. 

Lâu đài của Migaramatu: lâu đài của bà đại tín nữ Visākhā. Thật vậy bà Visākhā ấy, ngài gọi là Migaramatu do trưởng giả Migāra đặt (bà) ở vị trí người mẹ. Ngài rời khỏi chỗ nghỉ ngơi (paṭisallānā vuṭṭhito): vị ấy nói rằng trong tòa lâu đài đó một phòng ngủ sang trọng dành riêng cho đức Thế Tôn, ở chính giữa có phòng ngủ sang trọng dành cho 2 vị đại Thánh Thinh Văn. Trưởng lão mở cửa, quét dọn bên trong phòng, mang những bông hoa héo úa đem bỏ, khi đã sắp xếp lại giường và chỗ ngồi rồi cúng dường bằng sự nhận thức đến bậc Đạo Sư. Bậc Đạo Sư đã đi vào phòng ngủ sang trọng có chánh niệm và sự tỉnh giác nằm dáng nằm con sư tử nghiêng sang bên phải, làm dịu sự mệt nhọc, sau khi tỉnh dậy, ngài ngồi xuống để nhập thiền quả (thiền diệt), xuất thể nhập thiền quả vào buổi chiều. Ngài có ý muốn ám chỉ đến lời đó mới nói rằng: “Ngài rời khỏi chỗ nghỉ ngơi (paṭisallānā vuṭṭhito)”. 

parisiñcitunti yo hi cuṇṇamattikādīhi gattāni ubbaṭṭento mallakamuṭṭhādīhi vā ghaṃsanto nhāyati, so nhāyatīti vuccati. yo tathā akatvā pakatiyāva nhāyati, so parisiñcatīti vuccati. bhagavatopi sarīre tathā haritabbaṃ rajojallaṃ nāma na upalimpati, utuggahaṇatthaṃ pana bhagavā kevalaṃ udakaṃ otarati. tenāha — “gattāni parisiñcitun”ti. pubbakoṭṭhakoti pācīnakoṭṭhako. 

Tắm gội (parisiñcituṃ) nghĩa là người nào chà xát cơ thể bằng xà phòng v.v, hoặc chà xát cơ thể bằng đá cuội v.v, gọi là tắm. người nào không thực hiện như vậy tắm bình thường người đó gọi là rửa ráy. Bụi bặm bị mang đi như thế đó không bám dính vào thân thể của chính đấng Như Lai, nhưng đức Thế Tôn đi xuống dưới nước chỉ để nói về thời tiết. Vì thế ngài đã nói – “đi tắm”. Pubbakoṭṭhako dịch là cánh cổng có mái vòm bên ở hướng Đông. 

sāvatthiyaṃ kira vihāro kadāci mahā hoti kadāci khuddako. tathā hi so vipassissa bhagavato kāle yojaniko ahosi, sikhissa tigāvuto, vessabhussa aḍḍhayojaniko, kakusandhassa gāvutappamāṇo, koṇāgamanassa aḍḍhagāvutappamāṇo, kassapassa vīsatiusabhappamāṇo, amhākaṃ bhagavato kāle aṭṭhakarīsappamāṇo jāto. tampi nagaraṃ tassa vihārassa kadāci pācīnato hoti, kadāci dakkhiṇato, kadāci pacchimato, kadāci uttarato. jetavane gandhakuṭiyaṃ pana catunnaṃ mañcapādānaṃ patiṭṭhitaṭṭhānaṃ acalameva. 

Kể rằng trong hành Sāvatthi thỉnh thoảng to lớn, thỉnh thoảng nhỏ. Sở dĩ như thế tịnh xá đó khi đức Thế Tôn Vipassī có kích thước khoảng 1 do-tuần. Khi đức Phật Sikhī có kích thước khoảng 3 Gāvuta, khi đức Phật Vessabhū có kích thước khoảng nửa do-tuần, khi đức Phật Kakusandha có kích thước khoảng 1 Gāvuta, khi đức Phật Koṇāgamana có kích thước khoảng nửa Gāvuta, khi đức Phật Kassapa có kích thước khoảng 20 asubha. Khi đức Thế Tôn của chúng ta có kích thước khoảng 8 karīsa. Kinh thành (Rājagaha) đôi lúc ở hướng Đông của tịnh xá đó, đối lức ở hướng Nam, thỉnh thoảng cũng ở hướng Tây, thỉnh thoảng cũng ở hướng Bắc, cũng ở Gandhakuṭi ở bên trong tinh xá Jetavana nơi đã đặt bốn chân giường chắc chắn. 

cattāri hi acalacetiyaṭṭhānāni nāma mahābodhipallaṅkaṭṭhānaṃ isipatane dhammacakkappavattanaṭṭhānaṃ saṅkassanagaradvāre devorohaṇakāle sopānassa patiṭṭhaṭṭhānaṃ mañcapādaṭṭhānanti. ayaṃ pana pubbakoṭṭhako kassapadasabalassa vīsatiusabhavihārakāle pācīnadvāre koṭṭhako ahosi. so idānipi pubbakoṭṭhakotveva paññāyati. kassapadasabalassa kāle aciravatī nagaraṃ parikkhipitvā sandamānā pubbakoṭṭhakaṃ patvā udakena bhinditvā mahantaṃ udakarahadaṃ māpesi samatitthaṃ anupubbagambhīraṃ.  

Bởi vậy được gọi là bảo điện được kiến lập chắc chắn ở bốn nơi là nơi thiết lập đại thọ Bồ-đề, nơi tuyên thuyết chuyển vận bánh xe Pháp, nơi kiến lập bậc thang ngọc khi đức Thế Tôn bước xuồng từ cõi trời tại cổng thành Saṅkassa, nơi kiến tạo giường (nơi viên tịch Niết-bàn). Cánh cổng có mái vòm trước mặt này là cánh cổng có mái vòm ở hướng Đông, khi tinh xá 20 asubha của đấng Thập Lực Kassapa. Bây giờ cánh cổng mái vòm ở hướng Đông ở tịnh xá đó cũng vẫn còn tồn tại. Khi đấng Thập Lực Kassapa dòng sông Aciravatī chảy xung quay kinh thành đến cổng mái vòm ở phía trước, bị nước ăn mòn tạo thành hồ nước lớn, phẳng, sâu chảy theo tuần tự. 

tattha ekaṃ rañño nhānatitthaṃ, ekaṃ nāgarānaṃ, ekaṃ bhikkhusaṅghassa, ekaṃ buddhānanti evaṃ pāṭiyekkāni nhānatitthāni honti ramaṇīyāni vippakiṇṇarajatapaṭṭasadisavālikāni. iti bhagavā āyasmatā ānandena saddhiṃ yena ayaṃ evarūpo pubbakoṭṭhako tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṃ. athāyasmā ānando udakasāṭikaṃ upanesi.  

Ở nơi đó có hồ nước làm thích ý, có cát giống như được rải lát những miếng bạc (tiền) được tách thành từng phần là hồ nước một dành riêng cho đức Vua, một dành cho dân chúng ở kinh thành, một dành cho chư Tỳ khưu, một dành riêng cho chư Phật. Như thế đức Thế Tôn với đại đức Ānanda mới đi đến cổng mái vòm ở trước mặt này được kiến tạo để tắm rửa ngài. 

bhagavā rattadupaṭṭaṃ apanetvā udakasāṭikaṃ nivāsesi. thero dupaṭṭena saddhiṃ mahācīvaraṃ attano hatthagatamakāsi. bhagavā udakaṃ otari. sahotaraṇenevassa udake macchakacchapā sabbe suvaṇṇavaṇṇā ahesuṃ. yantanālikāhi suvaṇṇarasadhārānisiñcamānakālo viya suvaṇṇapaṭapasāraṇakālo viya ca ahosi. atha bhagavato nhānavattaṃ dassetvā nhatvā paccuttiṇṇassa thero rattadupaṭṭaṃ upanesi. bhagavā taṃ nivāsetvā vijjulatāsadisaṃ kāyabandhanaṃ bandhitvā mahācīvaraṃ antantena saṃharitvā padumagabbhasadisaṃ katvā upanītaṃ dvīsu kaṇṇesu gahetvā aṭṭhāsi. tena vuttaṃ — “pubbakoṭṭhake gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsī”ti. 

Lúc bấy giờ đại đức Ānanda đem y tắm đi vào cúng dường. Đức Thế Tôn cởi bỏ hai lớp vải đỏ và mặc áo tắm. Trưởng lão tiếp nhận y lớn với y lớn hai lớp. Đức Thế Tôn đi xuống nước tắm, các loài cá và rùa trong nước đều có màu như vàng, cùng với ngài đi xuống nước tắm. Thời điểm đó giống như thời điểm sử dụng cỗ máy tưới nước vàng, và giống như thời gian trải một miếng vàng. Trong khi Đức Thế Tôn thuyết giảng về nghi thức tắm gội, khi tắm gội xong bước lên, Trưởng lão đem y đỏ 2 lớp để cúng dường. Đức Thế Tôn mặc tấm y đó, rồi buộc dây thắt lưng nhanh như tia chớp, nắm lấy tấm y lớn mà hai người đàn ông đem lại, làm giống như cánh hoa bông sen đứng yên. Vì thế ngài đã nói rằng – “Đức Thế Tôn tắm ở cổng mái vòm hướng đông, trở lại đứng với một mảnh y tắm.” 

Evaṃ ṭhitassa pana bhagavato sarīraṃ vikasitakamaluppalasaraṃ sabbapāliphullaṃ pāricchattakaṃ tārāmarīcivikasitaṃ ca gaganatalaṃ siriyā avahasamānaṃ viya virocittha. byāmappabhāparikkhepavilāsinī cassa dvattiṃsavaralakkhaṇamālā ganthetvā ṭhapitā dvattiṃsacandamālā viya, dvattiṃsasūriyamālā viya, paṭipāṭiyā ṭhapitā dvattiṃsacakkavatti dvattiṃsadevarājā dvattiṃsamahābrahmāno viya ca ativiya virocittha, vaṇṇabhūmināmesā. evarūpesu ṭhānesu buddhānaṃ sarīravaṇṇaṃ vā guṇavaṇṇaṃ vā cuṇṇiyapadehi vā gāthāhi vā atthañca upamāyo ca kāraṇāni ca āharitvā paṭibalena dhammakathikena pūretvā kathetuṃ vaṭṭatīti evarūpesu ṭhānesu dhammakathikassa thāmo veditabbo. 

Cơ thể của đức Thế Tôn đã đứng như vậy, chói sáng  và giống như hổ nước đầy với bông sen và bông súng đang nở, giống như bông hoa Mạn-đà-la, hoa san hô, như bầu trời lấp lánh những vì sao và những đám mây như thể khẩn khoản lấy những điều may mắn, nhóm tướng tối thượng của ngài tuyệt đẹp, hào quang bao trùm khoảng 1 vā (2 mét) chói sáng vi diệu giống như 32  mặt trăng và 32 mặt trời  xâu chuỗi lại với nhau. Cũng như 32 vị Chuyển Luân Vương, 32 vị Vua trời và 32 vị Phạm thiên trú ngụ theo tuần tự. Đây gọi là  tán dương (tóm lược sắc tướng của đức Phật) nên biết sức mạnh của vị Pháp sư ở vị trí với hình thức như vậy, vị Pháp sư có thể cần lấy ý nghĩa so sánh và nguyên nhân để khen ngợi sắc thân và đức hạnh của chư Phật ở vị trí với hình thức như thế, với thể văn xuôi hoặc các kệ ngộn được hoàn chỉnh. 

273. gattāni pubbāpayamānoti pakatibhāvaṃ gamayamāno nirudakāni kurumāno, sukkhāpayamānoti attho. sodakena gattena cīvaraṃ pārupantassa hi cīvare kaṇṇikā uṭṭhahanti, parikkhārabhaṇḍaṃ dussati. buddhānaṃ pana sarīre rajojallaṃ na upalimpati; padumapatte pakkhittaudakabindu viya udakaṃ vinivattetvā gacchati, evaṃ santepi sikkhāgāravatāya bhagavā, “pabbajitavattaṃ nāmetan”ti mahācīvaraṃ ubhosu kaṇṇesu gahetvā purato kāyaṃ paṭicchādetvā aṭṭhāsi. 

273 Đứng ở trên bờ (gattāni pubbāpayamāno): chờ đợi ý nghĩa, làm cho sắc thân hết nước, tức là làm cho khô người. Thật vậy, khi Thế Tôn mặc y toàn thân ngâm mình trong nước, xuất hiện dấu vết ướt của y phục, các món phụ tùng trở nên hư. Nhưng nước trộn lẫn với bụi bẩn không thể bám dính vào sắc thân của chư Phật. Nước cuộn lại giống như những giọt nước trên lá sen. Ngay cả khi như vậy vì sự tôn trọng trong các học giới Đức Thế Tôn mới cầm lấy cả hai góc của chiếc đại y, với suy nghĩ rằng đây là truyền thống của vị xuất gia khi đứng che thân ở phía trước. 

tasmiṃ khaṇe thero cintesi — “bhagavā mahācīvaraṃ pārupitvā migāramātupāsādaṃ ārabbha gamanābhihārato paṭṭhāya dunnivattiyo bhavissati; buddhānañhi adhippāyakopanaṃ nāma ekacārikasīhassa gahaṇatthaṃ hatthappasāraṇaṃ viya; pabhinnavaravāraṇassa soṇḍāya parāmasanaṃ viya; uggatejassa āsīvisassa gīvāya gahaṇaṃ viya ca bhāriyaṃ hoti. idheva rammakassa brāhmaṇassa assamassa vaṇṇaṃ kathetvā tattha gamanatthāya bhagavantaṃ yācissāmī”ti. so tathā akāsi. tena vuttaṃ — “atha kho āyasmā ānando … pe … anukampaṃ upādāyā”ti. 

Trong lúc đó Trưởng lão suy nghĩ rằng – “đức Thế Tôn đã mặc đại y, sẽ trở lên khó khăn, kể từ khi bắt đầu đến tòa lâu đài của Migāramātu. Gọi là việc thay đổi sự mong muốn của Phật là chuyện rất khó giống như duỗi cánh tay bắt chúa sư tử đang một mình du hành, giống như bắt con voi đang bị nổi cơn (động dục) và giống như chụp đầu con rắn độc đang phòng mang, mới giải thích đức hạnh sống độc cư của Bà-la-môn Rammaka, khẩn khoản đức Thế Tôn để ngài đi đến nơi đó, Trưởng lão đã làm như thế. Vì thế, ngài mới nói rằng – “Rồi đại đức Ānanda bạch Thế Tôn…nt…vì lòng từ bi… 

tattha anukampaṃ upādāyāti bhagavato sammukhā dhammiṃ kathaṃ sossāmāti taṃ assamaṃ gatānaṃ pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ anukampaṃ paṭicca, tesu kāruññaṃ katvāti attho. dhammiyā kathāyāti dasasu pāramitāsu aññatarāya pāramiyā ceva mahābhinikkhamanassa ca vaṇṇaṃ kathayamānā sannisinnā honti. āgamayamānoti olokayamāno. ahaṃ buddhoti sahasā appavisitvā yāva sā kathā niṭṭhāti, tāva aṭṭhāsīti attho. aggaḷaṃ ākoṭesīti agganakhena kavāṭe saññaṃ adāsi. vivariṃsūti sotaṃ odahitvāva nisinnattā taṅkhaṇaṃyeva āgantvā vivariṃsu. 

 Trong các từ đó, vì lòng từ mẫn (anukampaṃ upādāya): dựa vào sự trợ giúp 500 vị Tỳ khưu đi đến nơi ẩn cư đó có ý định, sẽ lắng nghe Pháp thoại ở trước mặt đức Thế Tôn, có nghĩa là đã thực hành bằng lòng trắc ẩn đối với chư Tỳ khưu. Pháp thoại: ngồi tụ hội lại ngắm nhìn mười ba-la-mật bất kỳ loại nào và đại xuất gia. Chờ đợi (Āgamayamāno): trong khi quan sát, ngài không vội vàng bước vào, ta là Phật đứng đợi (ở đây) cho đến khi nào vị ấy nói xong. Aggaḷaṃ ākoṭesi: gõ cửa, sử dụng đầu móng tay để gõ cửa. Mở cửa (vivariṃsu) nghĩa là chính tại thời điểm đó các vị Tỳ khưu đã đi đến mở cửa bởi vì (các vị) ngồi xung quanh đã nghe. 

paññatte āsaneti buddhakāle kira yattha yattha ekopi bhikkhu viharati, sabbattha buddhāsanaṃ paññattameva hoti. kasmā? bhagavā kira attano santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā phāsukaṭṭhāne viharante manasi karoti “asuko mayhaṃ santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā gato, sakkhissati nu kho visesaṃ nibbattetuṃ no vā”ti. atha naṃ passati kammaṭṭhānaṃ vissajjetvā akusalavitakke vitakkayamānaṃ, tato “kathañhi nāma mādisassa satthu santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā viharantaṃ imaṃ kulaputtaṃ akusalavitakkā abhibhavitvā anamatagge vaṭṭadukkhe saṃsāressantī”ti tassa anuggahatthaṃ tattheva attānaṃ dassetvā taṃ kulaputtaṃ ovaditvā ākāsaṃ uppatitvā puna attano vasanaṭṭhānameva gacchati. athevaṃ ovadiyamānā te bhikkhū cintayiṃsu — “satthā P.2.169 amhākaṃ manaṃ jānitvā āgantvā amhākaṃ samīpe ṭhitaṃyeva attānaṃ dasseti; tasmiṃ khaṇe, ‘bhante, idha nisīdatha, idha nisīdathā’ti āsanapariyesanaṃ nāma bhāro”ti. te āsanaṃ paññapetvāva viharanti. yassa pīṭhaṃ atthi, so taṃ paññapeti. yassa natthi, so mañcaṃ vā phalakaṃ vā kaṭṭhaṃ vā pāsāṇaṃ vā vālikapuñjaṃ vā paññapeti. taṃ alabhamānā purāṇapaṇṇānipi saṅkaḍḍhitvā tattha paṃsukūlaṃ pattharitvā ṭhapenti. idha pana pakatipaññattameva āsanaṃ ahosi, taṃ sandhāya vuttaṃ — “paññatte āsane nisīdī”ti. 

Trên chỗ ngồi đã soạn sẵn (paññatte āsane) kể rằng vào thời đức Phật vị Tỳ khưu sống một mình ở nơi nào cũng đều sửa soạn toạ cụ sẵn dành cho đức Phật cả. Vì sao? họ nói rằng đức Thế Tôn hướng tâm đến vị Tỳ khưu học nghiệp xứ ở hội chúng của Ngài rồi, ở một nơi thuận tiện, khởi lên suy nghĩ rằng “vị Tỳ khưu kia nhận nghiệp xứ ở hội chúng của ta rồi, có thể thực hành Pháp cao thượng sanh khởi hay chăng?” Khi nhìn thấy vị Tỳ khưu ấy từ bỏ nghiệp xứ, đang suy tầm về bất thiện cũng khởi lên suy nghĩ rằng: “Nguyên nhân  nào khiến toàn bộ sưu tầm về bất thiện khởi lên nơi thiện nam tử này đã xuất ra khỏi nghiệp xứ trong hội chúng của bậc Đạo Sư như ta? khiến trôi lăn trong vòng sanh tử khổ đau không thể biết được điểm khởi đầu mà cũng chẳng biết điểm kết thúc, để trợ giúp thiện nam tử đó, sau khi ban huấn từ đến thiện nam tử, ngài bay vào hư không trở về chỗ cư ngụ của ngài”. Sau đó, chư Tỳ khưu đã nhận lời huấn từ như thế mới nghĩ rằng: “Bậc Đạo Sư biết được tâm của chúng ta, mới đi đến thuyết giảng, như thể ngài đang đứng gần chúng ta, trong lúc đó sửa soạn chỗ ngồi cùng với sự hỏi han trong lúc ấy: “Thưa ngài thỉnh mời ngài ngồi ở chỗ này, thỉnh mời ngài ở chỗ này” thì thật bất tiện, vì thế mà các Tỳ khưu mới trải sẵn tọa cụ trước, có chỗ ngồi thì sắp đặt chỗ ngồi, không có chỗ ngồi thì sắp đặt giường, hoặc tấm bảng gỗ, tảng đá, hoặc đóng cát. Nếu không có cũng gom lấy cây khô đến trải chỗ ngồi thành đống ở chỗ đó mới nói rằng ‘trên chỗ ngồi đã soạn sẵn 

kāya nutthāti katamāya nu kathāya sannisinnā bhavathāti attho. “kāya netthā”tipi pāḷi, tassā katamāya nu etthāti attho. “kāya notthā”tipi pāḷi, tassāpi purimoyeva attho. antarā kathāti kammaṭṭhānamanasikārauddesaparipucchādīnaṃ antarā aññā ekā kathā. vippakatāti mama āgamanapaccayā apariniṭṭhitā sikhaṃ appattā. atha bhagavā anuppattoti M.2.75 atha etasmiṃ kāle bhagavā āgato. dhammī vā kathāti dasakathāvatthunissitā vā dhammī kathā. ariyo vā tuṇhībhāvoti ettha pana dutiyajjhānampi ariyo tuṇhībhāvo mūlakammaṭṭhānampi. tasmā taṃ jhānaṃ appetvā nisinnopi, mūlakammaṭṭhānaṃ gahetvā nisinnopi bhikkhu ariyena tuṇhībhāvena nisinnoti veditabbo. 

Chuyện gì thế? (kāya nuttha) nghĩa là các ông ngồi tụ hội với nhau có chuyện gì sao? Pāḷī ‘kāya nettha’ cũng có. Thậm chí Pāḷī đó cũng có ý nghĩa rằng ‘các ông tụ hội với nhau ở nơi này có chuyện gì vậy’.​​ Pāḷī ‘kāyanottha (hội họp bàn vấn đề gì?)’ một chuyện khác, ý nghĩa đầu tương tự.  Câu chuyện gì giữa các người bị gián đoạn? (antarā kathā): bất kỳ chuyện gì khác giữa việc chú tâm, việc hỏi nghiệp xứ v.v. Gián đoạn (vippakatā): vẫn chưa kết thúc, vẫn chưa đến cuối cùng do việc đến của ta làm duyên. Đức Thế Tôn đã đến ( atha bhagavā anuppatto) nghĩa là khi đó, thời gian đó đức Thế Tôn đến. dhammī vā kathā (ngồi cùng đàm luận Pháp): hoặc luận đàm về Pháp dựa vào 10 kathāvatthu. Ngồi im lặng như bậc Thánh (ariyo vā tuṇhībhāvo) này cả Nhị thiền, cả Tam thiền nên biết rằng ‘là ngồi im lặng như bậc Thánh’, vì thế vị Tỳ khưu ngồi nhập thiền, ngồi quán xét căn bản nghiệp xứ làm đối tượng nên biết rằng ‘là ngồi im lặng như bậc Thánh’ 

274. dvemā, bhikkhave, pariyesanāti ko anusandhi? te bhikkhū sammukhā dhammiṃ kathaṃ sossāmāti therassa bhāraṃ akaṃsu, thero tesaṃ assamagamanamakāsi. te tattha nisīditvā atiracchānakathikā hutvā dhammiyā kathāya nisīdiṃsu. atha bhagavā “ayaṃ tumhākaṃ pariyesanā ariyapariyesanā nāmā”ti dassetuṃ imaṃ desanaṃ ārabhi. tattha katamā ca, bhikkhave, anariyapariyesanāti ettha yathā maggakusalo puriso paṭhamaṃ vajjetabbaṃ apāyamaggaṃ dassento “vāmaṃ muñcitvā dakkhiṇaṃ gaṇhā”ti vadati. evaṃ bhagavā desanākusalatāya paṭhamaṃ vajjetabbaṃ anariyapariyesanaṃ ācikkhitvā pacchā itaraṃ ācikkhissāmīti uddesānukkamaṃ bhinditvā evamāha. jātidhammoti P.2.170 jāyanasabhāvo. jarādhammoti jīraṇasabhāvo. byādhidhammoti byādhisabhāvo. maraṇadhammoti maraṇasabhāvo. sokadhammoti socanakasabhāvo. saṃkilesadhammoti saṃkilissanasabhāvo. 

274 Này các Tỷ khưu, có hai loại tầm cầu này (dvemā, bhikkhave, pariyesanā): có sự liên kết như nhau. Vị Tỳ khưu ấy đã đưa ra điều muốn lắng nghe về vấn đề Pháp trước mặt đức cho Trưởng lão Ananda giúp đỡ. Trưởng lão dã dẫn đi đến nơi trú ẩn của các vị Tỳ khưu ấy. Chư Tỳ khưu ấy ngồi ở tại chỗ đó không phải bàn luận về những chuyện vô ích, mà ngồi bàn luận về vấn đề Pháp. Khi ấy đức Thế Tôn bắt đầu thuyết giảng để trình bày việc tầm cầu của các ông gọi là sự tầm cầu cao thượng (sự tầm cầu của bậc Thánh). Ở đó, này các Tỳ khưu, thế nào là phi Thánh cầu (sự tầm cầu không phải của bậc Thánh)’ này nghĩa là người thiện xảo trong đạo lộ khi thuyết giảng đạo lộ đúng đắn cần loại trừ trước mới nói rằng hãy từ bỏ đường bên trái, giữ lấy đường bên phải như thế nào, đức Thế Tôn cũng như thế đó bởi tính chất là vị thiện xảo trong việc thuyết giảng mới nói việc tầm cầu đó vốn dĩ không phải của bậc Thánh cần phải loại bỏ trước, rồi sau đó mới thuyết giảng về sự tầm cầu cao thượng nên mới nói như vậy bằng sự tách rời theo thứ tự của bài giảng. Có trạng thái sanh (jātidhammo): có sự sanh là thực tính, có trạng thái già (jarādhammo): có sự già là thực tính. Có trạng thái bệnh tật (byādhidhammo): có sự bệnh hoạn là thực tính. Maraṇadhammo: có cái chết là thực tính. Sokadhammo: Có sự buồn rầu là thực tính. Saṃkilesadhammo: có sự ô nhiễm là thực tính. 

puttabhariyanti puttā ca bhariyā ca. esa nayo sabbattha. jātarūparajatanti ettha pana jātarūpanti suvaṇṇaṃ. rajatanti yaṃkiñci vohārūpagaṃ lohamāsakādi. jātidhammā hete, bhikkhave, upadhayoti ete pañcakāmaguṇūpadhayo nāma honti, te sabbepi jātidhammāti dasseti. byādhidhammavārādīsu jātarūparajataṃ na gahitaṃ, na hetassa sīsarogādayo byādhayo nāma honti, na sattānaṃ viya cutisaṅkhātaṃ maraṇaṃ, na soko uppajjati. ayādīhi pana saṃkilesehi saṃkilissatīti saṃkilesadhammavāre gahitaṃ. tathā utusamuṭṭhānattā jātidhammavāre. malaṃ gahetvā jīraṇato jarādhammavāre ca. 

Puttabhariyaṃ: con trai và vợ. Các từ còn lại của theo cách này. Vàng bạc (jātarūparajataṃ) này jātarūpaṃ gồm vàng. Rajataṃ bao gồm māsakaloha v.v, bất kỳ loại nào mà họ quy định với nhau. Này các Tỳ khưu, có trạng thái sanh ấy là bản thể của sự tái sanh: thuyết rằng “ngũ dục đó là bản thể của sự tái sanh, các bản thể của sự tái sanh có sự sanh là bản thể.” Vàng và bạc ngài không được tính vào trong phần  byādhidhamma (có trạng thái bệnh tật) v.v, bởi vì vàng và bạc không bệnh như bệnh trên đầu, không có sự chết được là tử giống như chúng sanh, không khởi sự buồn rầu, nhưng có cấu uể bởi sự cấu uế có sự già v.v, vì thế ngài mới nắm giữ trong phần trạng thái cấu uế, cả trong trạng thái sanh bởi có thời tiết làm sở sanh, và cả nắm giữ trong phần trạng thái già do sự rỉ sét nắm lấy (trở nên) cũ kỹ. 

275. ayaṃ, bhikkhave, ariyā pariyesanāti, bhikkhave, ayaṃ niddosatāyapi ariyehi pariyesitabbatāyapi ariyapariyesanāti veditabbā. 

275 Này chư Tỳ khưu, đây là sự tầm cầu cao thượng: này chư Tỳ khưu, sự tầm cầu này nên biết rằng là sự tầm cầu của bậc Thánh, bởi vì không có lỗi lầm ở trong chính mình, bởi vì bậc Thánh nên tầm cầu. 

276. ahampi sudaṃ, bhikkhaveti kasmā ārabhi? mūlato paṭṭhāya mahābhinikkhamanaṃ dassetuṃ. evaṃ kirassa ahosi — “bhikkhave, ahampi pubbe anariyapariyesanaṃ pariyesiṃ. svāhaṃ taṃ pahāya ariyapariyesanaṃ pariyesitvā sabbaññutaṃ patto. pañcavaggiyāpi anariyapariyesanaṃ pariyesiṃsu. te taṃ pahāya ariyapariyesanaṃ pariyesitvā khīṇāsavabhūmiṃ pattā. tumhepi mama ceva pañcavaggiyānañca maggaṃ āruḷhā. ariyapariyesanā tumhākaṃ pariyesanā”ti mūlato paṭṭhāya attano mahābhinikkhamanaṃ dassetuṃ imaṃ desanaṃ ārabhi. 

276 (Hỏi) vì sao mới bắt đầu rằng: “ahampi sudaṃ, bhikkhave (này chư Tỳ khưu, ngay cả ta cũng vậy, trước khi giác ngộ). (Đáp) để thuyết về sự ra đi xuất gia vĩ đại kể từ lúc bắt đầu. Kể rằng ngài tư duy như vầy – chư Tỳ khưu dù ta không ra sức tầm cầu sự cao thượng trước đó, ta đó từ bỏ sự tầm cầu không phải bậc Thánh đó rồi tầm cầu những thứ bậc thánh mới chứng đắc Toàn giác trí dầu năm vị đồng tu cũng tầm cầu những điều không cao thượng, các ngươi cũng từ bỏ những thứ không cao thượng đó, tầm cầu những thứ không cao thượng, tầm cầu những thứ cao thượng, đã chứng đắc cảnh giới cạn kiệt tất cả lậu, dù các ngươi có đi theo đạo lộ của ta và của năm vị đồng tu, việc tầm cầu đó là cao thượng, mới được xếp vào sự tầm cầu của các ngài.” Vì thế, nhằm mục đích thuyết về sự thực hiện xuất gia vĩ đại của ngài kể từ lúc bắt đầu. 

277. tattha daharova samānoti taruṇova samāno. susukāḷakesoti suṭṭhu kāḷakeso, añjanavaṇṇakesova hutvāti attho. bhadrenāti bhaddakena. paṭhamena vayasāti tiṇṇaṃ vayānaṃ paṭhamavayena. akāmakānanti anicchamānānaṃ, anādaratthe sāmivacanaṃ. assūni mukhe etesanti assumukhā; tesaṃ assumukhānaṃ, assukilinnamukhānanti attho. rudantānanti kanditvā rodamānānaṃ. Kiṃ kusalagavesīti kiṃ kusalanti gavesamāno. anuttaraṃ santivarapadanti uttamaṃ santisaṅkhātaṃ varapadaṃ, nibbānaṃ pariyesamānoti attho. yena āḷāro kālāmoti ettha āḷāroti tassa nāmaṃ, dīghapiṅgalo kireso. tenassa āḷāroti nāmaṃ ahosi. kālāmoti gottaṃ. viharatāyasmāti viharatu āyasmā. yattha viññū purisoti yasmiṃ dhamme paṇḍito puriso. sakaṃ ācariyakanti attano ācariyasamayaṃ. upasampajja vihareyyāti paṭilabhitvā vihareyya. ettāvatā tena okāso kato hoti. taṃ dhammanti taṃ tesaṃ samayaṃ tantiṃ. pariyāpuṇinti sutvāva uggaṇhiṃ. 

Ở đó, daharova samāno đồng nghĩa với taruṇova samāno (khi đang còn trẻ). Susukāḷakeso: tóc đen nhánh. tức là có màu tóc giống như màu hoa añjana. Bhadrena đồng nghĩa với bhaddakena (xinh đẹp). paṭhamena vayasā (vào giai đoạn đầu của tuổi thọ) kể từ thời gian đầu của tuổi thọ trong 3 thời kỳ (ấu niên v.v,). Akāmakānaṃ: khi không ước muốn. Akāmakānaṃ là sở thuộc cách, được sử dụng với ý nghĩa anādara (dich là khi). Gọi là assumukhā bởi vì có nước mắt đầy mặt của mẹ và cha, vị có khuôn mặt đầy nước mắt, tức là người có khuôn mặt ướt đẫm bởi nước mắt. Than khóc (rudantānaṃ): khóc lóc thảm thiết. Đi tìm cái gì chí thiện (kiṃ kusalagavesī): tầm cầu điều gì chí thiện. Tầm cầu đạo lộ an tịnh vô thượng (anuttaraṃ santivarapadaṃ) nghĩa là tầm cầu đạo lộ cao cả nhất được xem là an tịnh tối thượng, tức Niết bàn. từ ‘Āḷāra’ trong cụm từ ‘đi đến tìm kiếm đạo sĩ Āḷāra’ đây là tên của vị đạo sĩ. Kể rằng vị đạo sĩ đó tên là Dīghapiṅgala, vì thế vị ấy mới có tên là Āḷara.Từ Kālāma là tên tộc. Viharatāyasmā dịch là Tôn giả hãy sống và an trú. yattha viññū puriso ( bậc trí làm sáng tỏ): bậc trí trong Pháp nào? sakaṃ ācariyakaṃ: học thuyết của thầy ta. upasampajja vihareyya (tự chứng đạt và an trú): có thể đạt đến bơi nguyên nhân chừng ấy là điều mà vị ấy đã tạo cơ hội. Pháp đó: hệ thống giáo lý của vị ấy. Học (pariyāpuṇiṃ): sau khi nghe đã hiểu thông. 

oṭṭhapahatamattenāti tena vuttassa paṭiggahaṇatthaṃ oṭṭhapaharaṇamattena; aparāparaṃ katvā oṭṭhasañcaraṇamattakenāti attho. lapitalāpanamattenāti tena lapitassa paṭilāpanamattakena. ñāṇavādanti jānāmīti vādaṃ. theravādanti thirabhāvavādaṃ, thero ahametthāti etaṃ vacanaṃ. ahañceva aññe cāti na kevalaṃ ahaṃ, aññepi bahū evaṃ vadanti. kevalaṃ saddhāmattakenāti paññāya asacchikatvā suddhena saddhāmattakeneva. bodhisatto kira vācāya dhammaṃ uggaṇhantoyeva, “na V.2.75 kālāmassa vācāya pariyattimattameva asmiṃ dhamme, addhā esa sattannaṃ samāpattīnaṃ lābhī”ti aññāsi, tenassa etadahosi. 

Oṭṭhapahatamattena nghĩa là vì lý do đó chỉ mở miệng nói theo lời của vị ấy nói, tức là chỉ ghi nhớ rồi lặp đi lặp lại. Lapitalāpanamattena: bởi lý do đó chỉ nắm lấy lời nói mà vị ấy học thuộc lòng. Ñāṇavādaṃ gồm lời nói tôi đã biết rõ. Theravādaṃ: lời nói chắc chắn. Lời này có nghĩa là tôi là người chắc chắn trong câu này. ahañceva aññe ca (Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy) nghĩa là không phải chỉ riêng một mình tôi nói mà thôi mà đa số người khác cũng nói như vậy. kevalaṃ saddhāmattakenā (không phải chỉ lòng tin mà thôi) nghĩa là chỉ với lòng tin trong sạch, không phải thực hành để làm rõ bằng trí tuệ. Kể rằng Bồ-tát học Pháp chỉ với lời nói đó đã biết rằng “ngài Kālāma không chỉ có được Pháp học mà còn chứng đạt 7 thiền chứng vững chắc trong Pháp này”, vì thế ngài mới có suy nghĩ như vậy. 

ākiñcaññāyatanaṃ pavedesīti ākiñcaññāyatanapariyosānā satta samāpattiyo maṃ jānāpesi. saddhāti imāsaṃ sattannaṃ samāpattīnaṃ nibbattanatthāya saddhā. vīriyādīsupi eseva nayo. padaheyyanti payogaṃ kareyyaṃ. nacirasseva taṃ dhammaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsinti bodhisatto kira vīriyaṃ paggahetvā katipāhaññeva satta suvaṇṇanisseṇiyo pasārento viya satta samāpattiyo nibbattesi; tasmā evamāha. 

ākiñcaññāyatanaṃ pavedesi (mới nói Vô sở hữu xứ cùng tôi) nghĩa là đã cho tôi biết 7 thiền chứng có sự thể nhập thiền Vô sở hữu xứ là tận cùng. Đức tin: đức tin để phát sanh 7 thiền chứng. Dẫu trong sự tin tấn v.v, cũng theo cách thức này tương tự. Padaheyyaṃ: Cần phải thực hành sự nỗ lực. Sau đó không bao lâu ta cũng đã chứng ngộ Pháp đó với thắng trí của mình, đạt đến sự an trú: kể rằng Bồ-tát thực hành sự tinh tấn làm cho 7 thiền chứng sanh khởi chỉ trong thời gian 2-3 ngày giống như cái thang vàng 7 bậc, vì thế mới nói như vậy. 

lābhā no, āvusoti anusūyako kiresa kālāmo. tasmā “ayaṃ adhunāgato, kinti katvā imaṃ dhammaṃ nibbattesī”ti usūyaṃ akatvā pasanno pasādaṃ pavedento evamāha. ubhova santā imaṃ gaṇaṃ pariharāmāti “mahā ayaṃ gaṇo, dvepi janā pariharāmā”ti vatvā gaṇassa saññaṃ adāsi, “ahampi sattannaṃ samāpattīnaṃ lābhī, mahāpurisopi sattannameva P.2.172, ettakā janā mahāpurisassa santike parikammaṃ uggaṇhatha, ettakā mayhan”ti majjhe bhinditvā adāsi. uḷārāyāti uttamāya. pūjāyāti kālāmassa kira upaṭṭhākā itthiyopi purisāpi gandhamālādīni gahetvā āgacchanti. kālāmo — “gacchatha, mahāpurisaṃ pūjethā”ti vadati. te taṃ pūjetvā yaṃ avasiṭṭhaṃ hoti, tena kālāmaṃ pūjenti. mahagghāni mañcapīṭhāni āharanti; tānipi mahāpurisassa dāpetvā yadi avasiṭṭhaṃ hoti, attanā gaṇhāti. gatagataṭṭhāne varasenāsanaṃ bodhisattassa jaggāpetvā sesakaṃ attanā gaṇhāti. evaṃ uḷārāya pūjāya pūjesi. nāyaṃ dhammo nibbidāyātiādīsu ayaṃ sattasamāpattidhammo neva vaṭṭe nibbindanatthāya, na virajjanatthāya, na rāgādinirodhatthāya, na M.2.78 upasamatthāya, na abhiññeyyadhammaṃ abhijānanatthāya, na catumaggasambodhāya, na nibbānasacchikiriyāya saṃvattatīti attho. 

Thật lợi ích thay cho chúng tôi: kể rằng ngài Kālāma là người không ganh tỵ, vì thế ngài nghĩ rằng “vị này mới đến không bao lâu, tại sao thực hành Pháp này khởi lên được” cùng không ganh tỵ trở nên tịnh tín khi tuyên bố sự tịnh tín nên đã nói như thế. Cả hai ta sẽ cùng cộng trú để bảo vệ hội chúng này: “ngài nói rằng hội chúng này là hội chúng lớn, cả 2 ta đến giúp đỡ nhau bảo vệ” được hãy nói cho hội chúng biết, “Dẫu ta đạt được 7 thiền chứng như nhau, số lượng người chừng này học parikamma (sự chuẩn bị) trong hội chúng của bậc Đại Nhân số lượng chừng này học ở trong hội chúng của tôi” như vậy rồi chia ra làm đôi. Uḷārāya: cao cả. Pūjāya: kể rằng cả nam và nữ làm thị giả của ngài Kālāma mang vật thơm và vòng hoa v.v, đến. Ngài Kālāa nói rằng: “Này các con hãy đi đảnh lễ bậc Đại Nhân.” Những người ấy sau khi đảnh lễ bậc Đại Nhân rồi đảnh lễ ngài Kālāma với những phẩm vật còn lại, Mọi người mang giường ghế có giá trị đến cúng dường cho bậc Đại Nhân nếu như còn dư chính bản thân vị ấy nhận. Trong mọi nơi đi cùng nhau ngài Kālāma căn dặn sắp xếp sàn toạ tốt dành cho Bồ tát, bạn thân sẽ nhận phần còn dư. Pháp này không vận hành đưa đến sự nhàm chán (nāyaṃ dhammo nibbidāya) v.v, Pháp là 7 thiền chứng này không vận hành đưa đến sự nhàm chán trong vòng luân hồi, không vận hành đưa đến xa lìa ham muốn, không vận hành đưa đến sự diệt tận ái luyến, không vận hành đưa đến sự an tịnh, không vận hành đưa đến sự biết rõ Pháp đáng được thắng tri, không vận hành đưa đến để giác ngộ bốn chân lý, không vận hành đưa đến chứng ngộ Niết bàn. 

yāvadeva ākiñcaññāyatanūpapattiyāti yāva saṭṭhikappasahassāyuparimāṇe ākiñcaññāyatanabhave upapatti, tāvadeva saṃvattati, na tato uddhaṃ. evamayaṃ punarāvattanadhammoyeva; yañca ṭhānaṃ pāpeti, taṃ jātijarāmaraṇehi aparimuttameva maccupāsaparikkhittamevāti. tato paṭṭhāya ca pana mahāsatto yathā nāma chātajjhattapuriso manuññabhojanaṃ V.2.76 labhitvā sampiyāyamānopi bhuñjitvā pittavasena vā semhavasena vā makkhikāvasena vā chaḍḍetvā puna ekaṃ piṇḍampi bhuñjissāmīti manaṃ na uppādeti; evameva imā satta samāpattiyo mahantena ussāhena nibbattetvāpi, tāsu imaṃ punarāvattikādibhedaṃ ādīnavaṃ disvā, puna imaṃ dhammaṃ āvajjissāmi vā samāpajjissāmi vā adhiṭṭhahissāmi vā vuṭṭhahissāmi vā paccavekkhissāmi vāti cittameva na uppādesi. analaṅkaritvāti alaṃ iminā, alaṃ imināti punappunaṃ alaṅkaritvā. nibbijjāti nibbinditvā. apakkaminti agamāsiṃ. 

Chỉ đạt đến sự thể nhập Vô sở hữu xứ mà thôi nghĩa là vận hạnh chỉ sảnh khởi trong cõi Vô sở hữu xứ có tuổi thọ khoảng 60,000 kiếp không cao hơn nữa. Pháp này là Pháp xoay vòng (trong vòng sanh tử); và cho đến vị trí nào thì vị trí đó cũng không thoát khỏi sự sanh, sự già và sự chết được, đều bị bao vây bởi cái lưới của tử thần. Từ đấy kẻ vừa đói vừa mệt nhận được thức ăn thích ý, ăn uống no nê, và rồi vứt bỏ với sức mạnh của mật, hay của đờm dãi bằng sự quên lãng, không khởi lên sự hiểu biết, ta sẽ ăn tiếp dầu chỉ một vắt cơm như thế nào, từ đó bậc Đại Nhân cũng tương tự như thế, mặc dù đã làm cho 7 thiền chứng sanh khởi bằng sự ra sức nỗ lực lớn lao, nhìn thấy những bất lợi khác biệt quay trở lại v.v, này trong các thiền chứng đó, không khởi lên suy nghĩ rằng tôi sẽ quán chiếu, hay tôi sẽ đi vào, hay tôi sẽ thiết lập, tôi sẽ xuất, hay tôi sẽ quán xét Pháp này nữa. Analaṅkaritvā (không hài lòng): không đáng hài lòng rằng hài lòng điều gì với thứ này, hài lòng điều gì với thứ này”. Nibbijjā (nhàm chán) dịch là làm chán nản. Apakkamiṃ (rời đi): đã ra đi. 

278. na kho rāmo imaṃ dhammanti idhāpi bodhisatto taṃ dhammaṃ uggaṇhantoyeva aññāsi — “nāyaṃ aṭṭhasamāpattidhammo udakassa vācāya uggahitamattova, addhā panesa P.2.173 aṭṭhasamāpattilābhī”ti. tenassa etadahosi — “na kho rāmo … pe … jānaṃ passaṃ vihāsī”ti. sesamettha purimavāre vuttanayeneva veditabbaṃ. 

278 Rāmaputta quả thật nói Pháp này… (​​na kho rāmo imaṃ dhammaṃ…) nghĩa là Bồ tát đã học Pháp dầu ở nơi này, biết toàn bộ rằng – “Pháp là 8 thiền chứng mà đạo sĩ Udaka đã thiết lập chỉ học băng lời mà thôi, nhưng đạo sĩ Udaka Rāmaputta đã chứng đắc 8 thiền chứng, vì thế Bồ tát suy nghĩ rằng: “Rāmaputta tuyên bố pháp này không phải vì lòng tin… thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú” Từ còn lại trong câu này nên biết theo phương thức đã được nói ở phần đầu. 

279. yena uruvelā senānigamoti ettha uruvelāti mahāvelā, mahāvālikarāsīti attho. atha vā urūti vālikā vuccati; velāti mariyādā, velātikkamanahetu āhaṭā uru uruvelāti evamettha attho daṭṭhabbo. atīte kira anuppanne buddhe dasasahassā kulaputtā tāpasapabbajjaṃ pabbajitvā tasmiṃ padese viharantā ekadivasaṃ sannipatitvā katikavattaṃ akaṃsu — “kāyakammavacīkammāni nāma paresampi pākaṭāni honti, manokammaṃ pana apākaṭaṃ. tasmā yo kāmavitakkaṃ vā byāpādavitakkaṃ vā vihiṃsāvitakkaṃ vā vitakketi, tassa añño codako M.2.79 nāma natthi; so attanāva attānaṃ codetvā pattapuṭena vālikaṃ āharitvā imasmiṃ ṭhāne ākiratu, idamassa daṇḍakamman”ti. tato paṭṭhāya yo tādisaṃ vitakkaṃ vitakketi, so tattha pattapuṭena vālikaṃ ākirati, evaṃ tattha anukkamena mahāvālikarāsi jāto. tato taṃ pacchimā janatā parikkhipitvā cetiyaṭṭhānamakāsi; taṃ sandhāya vuttaṃ — “uruvelāti mahāvelā, mahāvālikarāsīti attho”ti. tameva sandhāya vuttaṃ — “atha vā urūti vālikā vuccati, velāti mariyādā. velātikkamanahetu āhaṭā uru uruvelāti evamettha attho daṭṭhabbo”ti. 

Khu vực rộng lớn, giải thích rằng đống cát lớn được gọi là Uruvela trong cụm từ yena uruvelā senānigamo (đã đi đến làng Uruvela) này. Hơn nữa, cát được gọi là Uru. Ranh giới được gọi là Velā. Nên biết rằng trong từ này rằng – cát mà vị ấy mang đến nguyên nhân vượt khỏi ranh giới được gọi là Uruvela. Kể rằng vào thời quá khứ, khi Đức Phật chưa xuất hiện khoảng 10,000 thiện nam tử đã xuất gia ở đất nước đó. Một ngày nọ, họ tụ họp lại để đặt ra một nguyên tắc chung rằng: “được gọi là thân nghiệp và khẩu nghiệp hiện hữu những người khác (có thế) nhận biết được, nhưng đối với ý nghiệp thì không xuất hiện. Vì thế người nào suy tầm về dục, hoặc suy tầm về sân hận, hoặc suy tầm về sự não hại, người đó hãy tự nhắc nhở bản thân, hãy lấy cái thùng đựng đầy cát đến trải ra ở nơi này, đây là hình phạt dành cho vị ấy.” Từ đó trở đi người nào suy tầm như vậy thì người đó cần phải lấy cái thùng đựng đầy cát đến trải xuống nơi ấy, một đống cát to lớn xuất hiện theo thứ tự ở nơi đó. Từ đó người sanh sau mới quay xung quanh đống cát to lớn đó làm thành nơi Cetiyaṭṭhāna, ngài muốn nói đến đóng cát to lớn đó nên mới nói rằng: “Cát được gọi là Uru, ranh giới được gọi là Velā. Nên biết rằng trong từ này rằng – cát mà vị ấy mang đến nguyên nhân vượt khỏi ranh giới được gọi là Uruvela. 

senānigamoti senāya nigamo. paṭhamakappikānaṃ kira tasmiṃ ṭhāne senāniveso ahosi; tasmā so padeso senānigamoti vuccati. “senāni-gāmo”tipi pāṭho. senānī nāma sujātāya pitā, tassa gāmoti attho. tadavasarinti tattha osariṃ. ramaṇīyaṃ bhūmibhāganti supupphitanānappakārajalajathalajapupphavicittaṃ manorammaṃ bhūmibhāgaṃ. pāsādikañca vanasaṇḍanti morapiñchakalāpasadisaṃ pasādajananavanasaṇḍañca addasaṃ. nadiñca sandantinti sandamānañca maṇikkhandhasadisaṃ vimalanīlasītalasalilaṃ nerañjaraṃ nadiṃ addasaṃ. setakanti parisuddhaṃ nikkaddamaṃ. supatitthanti anupubbagambhīrehi sundarehi titthehi upetaṃ. ramaṇīyanti rajatapaṭṭasadisaṃ P.2.174 vippakiṇṇavālikaṃ pahūtamacchakacchapaṃ abhirāmadassanaṃ. samantā ca gocaragāmanti tassa padesassa samantā avidūre gamanāgamanasampannaṃ sampattapabbajitānaṃ sulabhapiṇḍaṃ gocaragāmañca addasaṃ. alaṃ vatāti samatthaṃ vata. tattheva nisīdinti bodhipallaṅke nisajjaṃ sandhāyāha. uparisuttasmiñhi tatthevāti dukkarakārikaṭṭhānaṃ adhippetaṃ, idha pana bodhipallaṅko. tenāha — “tattheva nisīdin”ti. alamidaṃ padhānāyāti idaṃ ṭhānaṃ padhānatthāya samatthanti evaṃ cintetvā nisīdinti attho. 

Senānigamo dịch là ngôi làng của quân đội. Kể rằng nhóm người ở kiếp đầu tiên có sự nghỉ ngơi của quân đội ở nơi đó, vì vậy chỗ đó họ mới gọi là senānigama. Từ Senānigama cũng có. được giải thích rằng cha của nàng Sujātā gọi là Senāni, nhà của ông Senāni này đây. Đã đi đến (tadavasariṃ) dịch là ghé nghỉ ngơi ở nơi đó. Vùng đất mang lại niềm vui (ramaṇīyaṃ bhūmibhāgaṃ): vùng đất mang lại niềm vui, xinh đẹp với nhiều loại bông hoa khác nhau mọc trong nước và lẫn ở trên cạn nở sum suê. pāsādikañca vanasaṇḍaṃ (và khóm rừng xinh xắn) nghĩa là được nhìn thấy khóm rừng làm cho khởi lên sự trong sạch giống như bó đuôi chim công. Dòng sông chảy chậm (nadiñca sandantiṃ): được nhìn thấy con sống Nerañjara có nước trong xanh tươi mát giống như một khói ngọc ma-ni đang chảy chầm chậm. Sạch sẽ (setakaṃ): trong sạch sẽ không chút bùn lầy. Supatitthaṃ (bờ sông): nối liền với những kiểu dáng xinh đẹp theo tuần tự. Mang lại niệm vui (ramaṇīyaṃ) có phong cảnh hữu tình dễ chịu, có cát trải rộng như một tấm bạc, có rất nhiều cá và rùa. xung quanh có làng mạc bao bọc (samantā ca gocaragāmaṃ) nghĩa là được nhìn thấy làng mạc nơi dễ dàng tìm kiếm vật thực khất thực đối với vị xuất gia đã đến, thuận tiện việc đi lại, không xa xung quanh khu vực ấy. Chương Alam Wat có nghĩa là có thể. alaṃ vatā đồng nghĩa với samatthaṃ vata (quả thật có thể). Ngồi chính tại chỗ ấy (tattheva nisīdiṃ) ngài muốn đề cập đến chỗ ngồi ở bảo tọa Bồ đề. Thật vậy từ tattheva này trong bài Kinh trước Ngài muốn nói đến nơi thực hành khổ hạnh, còn trong bài Kinh này ngài muốn nói đến bảo tọa Bồ đề. Vì thế đã được nói rằng – “Ngồi chính tại chỗ ấy”. alamidaṃ padhānāya (ở đây thích hợp để thực hành sự tinh tấn) nghĩa là ngồi đã suy nghĩ như vầy ở đây có thể thực hành sự tinh tấn. 

280. ajjhagamanti adhigacchiṃ paṭilabhiṃ. ñāṇañca pana me dassananti sabbadhammadassanasamatthañca me sabbaññutaññāṇaṃ udapādi. akuppā me vimuttīti mayhaṃ arahattaphalavimutti akuppatāya ca akuppārammaṇatāya ca akuppā, sā hi rāgādīhi na kuppatīti akuppatāyapi akuppā, akuppaṃ nibbānamassārammaṇantipi akuppā. ayamantimā jātīti ayaṃ sabbapacchimā jāti. natthi dāni punabbhavoti idāni me puna paṭisandhi nāma natthīti evaṃ paccavekkhaṇañāṇampi me uppannanti dasseti. 

280 Ajjhagamaṃ (cho đến khi chứng đắc): đã đạt đến sự chứng đắc đặc biệt.  trí và sự nhận thức đã sanh khởi cùng ta (ñāṇañca pana me dassanaṃ): nghĩa là trí toàn tri có thể nhìn thấy tất cả pháp khởi lên nơi tôi. Sự giải thoát của tôi không lay động (akuppā me vimutti) nghĩa là sự giải thoát phối hợp với A-ra-hán quả của ta gọi là akuppa bởi vì không xao động và bởi có pháp không bị dao động làm đối tượng, sự giải thoát không dao động với ái luyến, vì thế mới gọi là akuppa (không dao động), do không lay động, là pháp không dao động có Niết bàn làm đối tượng. Vì thế gọi là không dao động do có Pháp không dao động làm đối tượng cũng được. Kiếp sống này là kiếp sống cuối cùng (ayamantimā jāti): đây là kiếp sống cuối cùng của tất cả (kiếp sống). Bây giờ không còn kiếp sống mới nữa  (natthi dāni punabbhavo) ngài chỉ ra rằng dầu trí quán xét lại Đạo Quả mà mình đã chứng đắc cũng sanh khởi nơi ta như vầy rằng “ta không tục sanh trở lại nữa.” 

281. adhigatoti paṭividdho. dhammoti catusaccadhammo. gambhīroti uttānabhāvapaṭikkhepavacanametaṃ. duddasoti gambhīrattāva duddaso dukkhena daṭṭhabbo, na sakkā sukhena daṭṭhuṃ. duddasattāva duranubodho, dukkhena avabujjhitabbo, na sakkā sukhena avabujjhituṃ. santoti nibbuto. paṇītoti atappako. idaṃ dvayaṃ lokuttarameva sandhāya vuttaṃ. atakkāvacaroti takkena avacaritabbo ogāhitabbo na hoti, ñāṇeneva avacaritabbo. nipuṇoti saṇho. paṇḍitavedanīyoti sammāpaṭipadaṃ paṭipannehi paṇḍitehi veditabbo. ālayarāmāti V.2.78 sattā pañcasu kāmaguṇesu allīyanti. tasmā te ālayāti vuccanti. 

281 Adhigato dịch là đã thấu triệt. Dhammo: Pháp Tứ Thánh Đế. Thâm sâu (gambhīro) này là lời khước từ sự nông cạn. Duddaso: khó thấy, rất khó để nhìn thấy, không dễ dàng nhìn thấy bởi vì là Pháp thâm sâu gọi là nhận biết được rất khó, biết được khó khăn,  không thể nhận biết dễ dàng bởi là Pháp nhìn thấy khó. An tịnh (sante) bao gồm diệt tắt. Cao thượng (paṇito): không nóng nảy. Cả hai từ này ngài chỉ muốn nói đến Pháp Siêu thế mà thôi. Atakkāvacaro (vượt ra khỏi giới hạn lý luận) là Pháp không thể suy xét thăm dò bằng suy nghĩ, mà chỉ suy xét tham dò bằng trí tuệ mà thôi. Nipuṇo: vi tế. Chỉ người trí mới hiểu thấu (Paṇḍitavedanīyo): Điều các bậc trí thực hành chân chánh nên biết. Ālayarāmā: nghĩa là chúng sanh bám níu lấy năm dục, vì thế năm dục ấy được gọi là sự quyến luyến (ālāya). 

aṭṭhasatataṇhāvicaritāni ālayanti, tasmā ālayāti vuccanti. tehi ālayehi ramantīti ālayarāmā. ālayesu ratāti ālayaratā. ālayesu suṭṭhu muditāti ālayasammuditā. yatheva hi susajjitaṃ pupphaphalabharitarukkhādisampannaṃ uyyānaṃ paviṭṭho rājā tāya tāya sampattiyā ramati, sammudito āmoditapamodito hoti, na ukkaṇṭhati, sāyampi nikkhamituṃ na icchati; evamimehipi kāmālayataṇhālayehi sattā ramanti, saṃsāravaṭṭe sammuditā anukkaṇṭhitā vasanti. tena nesaṃ bhagavā duvidhampi ālayaṃ uyyānabhūmiṃ viya dassento “ālayarāmā”tiādimāha. 

Tất cả chúng sanh bám níu lấy 108 taṇhāvicarita (tư duy tham ái) cám dỗ chúng sanh vì thế mới gọi là sự quyến luyến (ālāya). Chúng sanh gọi là ưa thích trong ái dục bởi vì hoan hỷ trong năm dục và tham ái đó là sự quyến luyến. Ālayaratā: bởi hoan hỷ trong sự quyến luyến. Ālayasammuditā (ham thích ái dục): do nhờ hoan hỷ tốt đẹp trong sự quyến luyến. Tương tự như đức vua bước vào một khu vườn thượng uyển với đầy đủ các loại cây sum suê hoa và trái v.v, được trang trí tuyệt mỹ. Vị ấy trở nên vui thích hài lòng thỏa mãn, không nhàm chán, thậm chí khi hoàng hôn cũng không muốn quay trở về như thế nào; Chúng sanh hoan hỷ bằng sự quyến luyến là dục và sự quyến luyến là tham ái này cũng như thế đó cũng vui thích và không biết nhàm chán trong vòng luân hồi. Vì thế đức Thế Tôn khi thuyết giảng 2 sự quyến luyến cho chúng sanh ấy giống như vườn thượng uyển mới thuyết lời như sau: “chúng sanh ấy là người hoan hỷ, thỏa thích trong sự quyến luyến.”  

yadidanti nipāto, tassa ṭhānaṃ sandhāya “yaṃ idan”ti, paṭiccasamuppādaṃ sandhāya “yo ayan”ti evamattho daṭṭhabbo. idappaccayatāpaṭiccasamuppādoti imesaṃ paccayā idappaccayā; idappaccayā eva idappaccayatā; idappaccayatā ca sā paṭiccasamuppādo cāti idappaccayatāpaṭiccasamuppādo. saṅkhārādipaccayānametaṃ adhivacanaṃ. sabbasaṅkhārasamathotiādi sabbaṃ nibbānameva. yasmā hi taṃ āgamma sabbasaṅkhāravipphanditāni sammanti vūpasammanti, tasmā sabbasaṅkhārasamathoti vuccati. yasmā ca taṃ āgamma sabbe upadhayo paṭinissaṭṭhā honti, sabbā taṇhā khīyanti, sabbe kilesarāgā virajjanti, sabbaṃ dukkhaṃ nirujjhati; 

Yadidaṃ: là một phân từ, ám chỉ đến vị trí cửa sự quyến luyến ấy, nên biết ý nghĩa như vậy yaṃ idaṃ đề cập đến Pháp tùy thuận đến duyên khởi nên biết ý nghĩa như vầy yo imaṃ. Các pháp được tùy thuận sanh lên do tính chất của duyên ấy nghĩa là duyên của các Pháp này gọi là  idappaccayā (duyên của các Pháp). Duyên của các Pháp ấy chính là  idappaccayatā (tính chất của duyên ấy);  tính chất của duyên ấy cùng với các pháp được tùy thuận sanh lên vì thế được gọi là các pháp được tùy thuận sanh lên do tính chất của duyên ấy. Các pháp được tùy thuận sanh lên do tính chất của duyên ấy này là tên gọi của các duyên có các Hành v.v. Là nơi an tịnh của các Hành (sabbasaṅkhārasamatho) toàn bộ câu là đồng nghĩa với Niết bàn. Vì sự tranh đấu của các Hành nương Niết Bàn ấy được an tịnh như thế, Niết bàn đó mới gọi là nơi an tịnh của các Hành (sabbasaṅkhārasamatho). Lại nữa, bởi vì bản thể của sự tái sanh tất cả y cứ Niết bàn ấy đã được trừ bỏ, tất cả tham ái đã bị cạn kiệt, ái luyến là phiền não toàn bộ được lìa bỏ, toàn bộ khổ đau được diệt tận;  

tasmā sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodhoti vuccati. sā panesā taṇhā bhavena bhavaṃ, phalena vā saddhiṃ kammaṃ vinati saṃsibbatīti M.2.81 katvā vānanti vuccati, tato nikkhantaṃ vānatoti nibbānaṃ. so mamassa kilamathoti yā ajānantānaṃ desanā nāma, so mama kilamatho assa, sā mama vihesā assāti attho. kāyakilamatho ceva kāyavihesā ca assāti vuttaṃ hoti. citte pana ubhayampetaṃ buddhānaṃ natthi. apissūti anubrūhanatthe nipāto, so “na kevalaṃ etadahosi, imāpi gāthā paṭibhaṃsū”ti dīpeti. manti mama. anacchariyāti anuacchariyā. paṭibhaṃsūti paṭibhānasaṅkhātassa ñāṇassa gocarā ahesuṃ; parivitakkayitabbataṃ pāpuṇiṃsu. 

Cho nên Niết bàn đó ngài gọi là sự trừ bỏ tất cả bản thể của sự tái sanh, sự diệt trừ tham ái, ly ái luyến, sự diệt tận. Tham ái ngài gọi là vāna (sự ham muốn) bởi vì sự trói buộc, may vá kiếp sống này với kiếp sống khác, hoặc nghiệp và quả (của nghiệp). Gọi là Niết bàn bởi vì đã đi ra khỏi tham ái, tức là vāna (sự ham muốn) đó. Ta cũng thật khó khăn (so mamassa kilamatho): gọi là việc thuyết giảng Pháp cho kẻ thiếu hiểu biết, thật sự khó khăn cho ta, sự khó khăn đó có thể gây tổn thương cho ta. Ngài giải thích rằng không những là sự khó khăn thân mà còn là sự tổn hại thân. Cả 2 điều đó không có nơi tâm của chư Phật. apissu là một phân từ được dùng với ý nghĩa thêm vào. Trưởng lão ấy chỉ ra rằng không những chỉ từ đó mà còn trong kệ ngôn này cũng đã xuất hiện. Maṃ dịch là cho ta. Anacchariyāanuacchariyā (kỳ diệu). paṭibhaṃsu (thông minh sáng suốt) là đường đi của trí được nói là sự sáng suốt, là đạt đến tính chất làm điều suy tầm. 

kicchenāti dukkhena, na dukkhāya paṭipadāya. buddhānañhi cattāropi maggā sukhappaṭipadāva honti. pāramīpūraṇakāle pana sarāgasadosasamohasseva sato āgatāgatānaṃ yācakānaṃ V.2.79, alaṅkatappaṭiyattaṃ sīsaṃ kantitvā, galalohitaṃ nīharitvā, suañjitāni akkhīni uppāṭetvā, kulavaṃsappadīpaṃ puttaṃ manāpacāriniṃ bhariyanti evamādīni dentassa, aññāni ca khantivādisadisesu attabhāvesu chejjabhejjādīni pāpuṇantassa āgamaniyapaṭipadaṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ P.2.176. halanti ettha ha-kāro nipātamatto, alanti attho. pakāsitunti desituṃ, evaṃ kicchena adhigatassa dhammassa alaṃ desituṃ, pariyattaṃ desituṃ, ko attho desitenāti vuttaṃ hoti. rāgadosaparetehīti rāgadosapariphuṭṭhehi rāgadosānugatehi vā. 

Khó khăn: khó khăn nhưng không phải với lối thực hành khó khăn. Thật vậy, bốn Đạo là lối thực hành an lạc đối với chư Phật. Lời này ngài muốn nói đến āgamanīyapaṭipadā của ngài, người vẫn còn ái luyến, vần còn sân hận, và dẫn còn si mê trong lúc thực hành ba-la-mật, (ngài) đã cắt mái tóc đã được trang điểm và đã được sửa soạn, đã lấy máu trong cổ ra, móc tròng mắt nhỏ thuốc mắt tốt, bố thí những thứ khác có thứ như vầy v.v, là đứa con trai, là ngọn đèn của dòng tộc; vợ, người có đức hạnh đoan chính cho kẻ ăn xin kể đi đi lại lại và đến bị cắt lìa (các chi phần như tay, chân v.v,) làm hại v.v, trong toàn bộ cơ thể như đạo sĩ Khantivādi. Phụ âm ‘ha’ trong từ ‘halaṃ’ chỉ là phân từ nghĩa là ‘đừng’. Pakāsituṃ dịch là để trình bày, là đừng phân tích, đừng thuyết dạy Giáo Pháp mà ta đã chứng đắc khó khăn như vậy, tức là Pháp mà ta đã thuyết có lợi ích gì? rāgadosaparetehi (người có ái luyến, sân hận dày đặc): người có ái luyến và sân hận áp đảo, hoặc người có ái luyến và sân hận chế ngự. 

paṭisotagāminti niccādīnaṃ paṭisotaṃ aniccaṃ dukkhamanattā asubhanti evaṃ gataṃ catusaccadhammaṃ. rāgarattāti kāmarāgena bhavarāgena diṭṭhirāgena ca rattā. na dakkhantīti aniccaṃ dukkhamanattā asubhanti iminā sabhāvena na passissanti, te apassante ko sakkhissati evaṃ gāhāpetuṃ. tamokhandhena āvuṭāti avijjārāsinā ajjhotthatā. 

Pháp mà đi ngược lại dòng chảy của đời: bao gồm bốn Pháp chân lý đã đi như vầy vô thường, khổ não, vô ngã và bất tịnh, (điều đó) đã đi ngược lại dòng chảy của Pháp có sự thường hằng v.v, Kẻ chìm đắm bởi mãnh lực của ái luyến (rāgarattā): kẻ hoan hỷ bởi sự luyến ái vào dục, bởi luyến ái vào hữu và bởi luyến ái vào sự nhận thức. Không nhìn thấy (na dakkhanti): không nhìn thấy thực tính này là vô thường, là khổ đau, là vô ngã, là bất tịnh. Ai có thể làm cho hạng người không nhìn thấy những điều đó (có thế) nắm lấy (những điều đó) được. Bị bóng tối vô minh bao trùm (tamokhandhena āvuṭā): người đã bị vô minh nhận xuống. 

282. appossukkatāyāti nirussukkabhāvena, adesetukāmatāyāti attho. kasmā panassa evaṃ cittaṃ nami, nanu esa mutto mocessāmi, tiṇṇo tāressāmi. 

“kiṃ me aññātavesena, dhammaṃ sacchikatenidha. 

♦ sabbaññutaṃ pāpuṇitvā, tārayissaṃ sadevakan”ti. (bu. vaṃ. 2.56) — 

282 Sự thụ động (appossukkatāya): vì không có sự cố gắng. Giải thích rằng vì không muốn thuyết. (Hỏi) vì sao? Tâm của ngài hướng đến như thế, ta đã thoát khỏi rồi sẽ làm cho người khác thoát khỏi, đã vượt khỏi rồi cũng sẽ làm cho người khác vượt khỏi không phải sao? 

Ta có được gì ở đây khi chứng đắc Giáo Pháp theo phương thức không được tiếng tăm? Ta đã thành tựu quả vị Toàn Tri rồi sẽ làm cho thế giới nhân loại và có cả thế giới chư thiên để vượt qua (khổ đau). (bu. vaṃ. 2.56). 

patthanaṃ katvā pāramiyo pūretvā sabbaññutaṃ pattoti. saccametaṃ, tadevaṃ paccavekkhaṇānubhāvena panassa evaṃ cittaṃ nami. tassa hi sabbaññutaṃ patvā sattānaṃ kilesagahanataṃ, dhammassa ca gambhīrataṃ paccavekkhantassa sattānaṃ kilesagahanatā ca dhammagambhīratā ca sabbākārena pākaṭā jātā. athassa “ime sattā kañjikapuṇṇā lābu viya, takkabharitā cāṭi viya, vasātelapītapilotikā viya, añjanamakkhitahattho viya ca kilesabharitā atisaṃkiliṭṭhā rāgarattā dosaduṭṭhā mohamūḷhā, te kiṃ nāma paṭivijjhissantī”ti cintayato kilesagahanapaccavekkhaṇānubhāvenāpi evaṃ cittaṃ nami. 

Như thế, sau khi thực hành các ba-la-mật chứng đắc quả vị Toàn Tri. (Đáp) điều này là sự thật, tâm của ngài hướng đến như vậy bằng oai lực của trí quán xét lại Đạo Quả, ngài chứng đạt Toàn Tri, quán xét đến bản thể chúng sanh vẫn còn bám chấp vào phiền não, và bản thể Pháp thâm sâu mới hiện hữu rằng chúng sanh bám chấp phiền não và sự thâm sâu của các Pháp ở mọi biểu hiện của chúng. Khi điều đó xảy ra, ngài nghĩ rằng những chúng sanh này đầy rẫy những cấu uế phiền não, ham muốn do ái luyến, sân hận do giận dữ, lẫn lộn do si mê, như trái bầu đỏ đầy với nước gạo, tựa như chai lọ đổ đầy bơ sữa, như tấm vải cũ thấm đẫm mỡ đặc, và như bàn tay vấy bẩn thuốc nhỏ mắt. Làm thế nào những chúng sanh đó có thể đạt được giác ngộ? Vì vậy, ngài đã hướng phát tâm như vậy. 

“ayañca dhammo pathavīsandhārakaudakakkhandho viya gambhīro, pabbatena paṭicchādetvā ṭhapito sāsapo viya duddaso, satadhā bhinnassa vālassa koṭiyā koṭipaṭipādanaṃ viya duranubodho. nanu mayā hi imaṃ dhammaṃ paṭivijjhituṃ vāyamantena adinnaṃ dānaṃ nāma natthi, arakkhitaṃ sīlaṃ nāma natthi, aparipūritā kāci pāramī nāma natthi? tassa me nirussāhaṃ viya mārabalaṃ vidhamantassāpi pathavī na kampittha, paṭhamayāme pubbenivāsaṃ anussarantassāpi na kampittha, majjhimayāme dibbacakkhuṃ sodhentassāpi na kampittha, pacchimayāme pana paṭiccasamuppādaṃ paṭivijjhantasseva me dasasahassilokadhātu kampittha. iti mādisenāpi tikkhañāṇena kicchenevāyaṃ dhammo paṭividdho, taṃ lokiyamahājanā kathaṃ paṭivijjhissantī”ti dhammagambhīratāpaccavekkhaṇānubhāvenāpi evaṃ cittaṃ namīti veditabbaṃ. 

Thậm chí với năng lực quán chiếu đến việc chấp phiền não, Pháp này nên được biết là thâm sâu giống như mạch nước ngầm dưới mặt đất, khó thấy được; tựa như hạt cải bị ngọn núi bao phủ, rất khó nhận biết dược, giống như đỉnh một sợi tóc được chẻ ra thành 7 phần, được gọi là bố thí mà ta đã cố gắng nhằm mục đích thấu triệt Giáo pháp này không được cho không có. Gọi là giới luật mà ta không hộ trì cũng không có. Gọi là ba-la-mật nào mà ta đã không thực hành cũng không có, trong khi ta phá hủy sức mạnh của Ma Vương như không có nỗ lực, quả địa cầu không rung chuyển; khi nhớ lại các kiếp sống quá khứ trong canh đầu (quả địa cầu) cũng không rung động; Khi làm cho tinh khiết thiên nhãn ở canh giữa (quả địa cầu) cũng không rung động; nhưng khi ta thấu triệt Pháp tùy thuận duyên khởi trong canh cuối thì mười ngàn thế giới đều rung động, cho nên người có trí tuệ chín muồi thậm chí như ta cũng khó có thể thấu triệt được hoàn toàn Pháp này, người thế gian làm sao có thể thấu triệt được Pháp ấy? Nên biết rằng ngài đã hướng tâm như vậy Ngay cả với oai lực quán xét sự thậm thâm vi diệu của Giáo Pháp. 

apica brahmunā yācite desetukāmatāyapissa evaṃ cittaṃ nami. jānāti hi bhagavā — “mama appossukkatāya citte namamāne maṃ mahābrahmā dhammadesanaṃ yācissati, ime ca sattā brahmagarukā, te ‘satthā kira dhammaṃ na desetukāmo ahosi, atha naṃ mahābrahmā yācitvā desāpesi, santo vata, bho, dhammo paṇīto vata, bho, dhammo’ti maññamānā sussūsissantī”ti. idampissa kāraṇaṃ paṭicca appossukkatāya cittaṃ nami, no dhammadesanāyāti veditabbaṃ. 

Và hơn nữa, khi Phạm thiên Sahampati thỉnh cầu ngài hướng tâm như thế này,  nhờ ý muốn thuyết giảng Giáo Pháp. Thật vậy, đức Thế Tôn biết rằng Khi chúng ta hướng tâm mình bớt sốt sắng hơn, Đại Phạm thiên thỉnh cầu ta thuyết Pháp. Vì những chúng sinh này kính trọng Phạm thiên, những chúng sanh đó nghĩ rằng: Bậc Đạo Sư không muốn thuyết giảng Giáo Pháp, nhưng Đại Phạm thiên thỉnh cầu ‘kính bạch ngài, Pháp này an tịnh, tinh lương. hãy chú ý lắng nghe thật khéo léo, dựa trên điều này nên biết rằng rằng Ngài hướng tâm vì tính chất người ít nỗ lực, không phải hướng tâm để thuyết giảng Pháp. 

sahampatissāti so kira kassapassa bhagavato sāsane sahako nāma thero paṭhamajjhānaṃ nibbattetvā paṭhamajjhānabhūmiyaṃ kappāyukabrahmā hutvā nibbatto. tatra naṃ sahampatibrahmāti paṭisañjānanti, taṃ sandhāyāha — “brahmuno M.2.83 sahampatissā”ti. nassati vata, bhoti so kira imaṃ saddaṃ tathā nicchāresi, yathā dasasahassilokadhātubrahmāno sutvā sabbe sannipatiṃsu. yatra hi nāmāti yasmiṃ nāma loke. purato pāturahosīti tehi dasahi brahmasahassehi saddhiṃ pāturahosi. apparajakkhajātikāti paññāmaye akkhimhi appaṃ parittaṃ rāgadosamoharajaṃ etesaṃ, evaṃsabhāvāti apparajakkhajātikā. assavanatāti assavanatāya. bhavissantīti purimabuddhesu dasapuññakiriyavasena katādhikārā paripākagatapadumāni viya sūriyarasmisamphassaṃ, dhammadesanaṃyeva ākaṅkhamānā catuppadikagāthāvasāne ariyabhūmiṃ okkamanārahā na eko, na dve, anekasatasahassā dhammassa aññātāro bhavissantīti dasseti. 

Sahampatissa được kể rằng Phạm thiên Sahampati ấy khi Phật giáo, đức thế Tôn hồng danh Kassapa là trưởng lão tên là Sahaka thực hành đạt được sơ thiền rồi hóa sanh làm một vị Phạm thiên tuổi thọ một kappa trong cõi của sơ thiền, ngài muốn nói đến Phạm thiên Sahampati ấy, nên mới nói rằng Brahmuno shampatissa. nassati vata, bho (Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt) kể rằng Phạm thiên ấy thốt ra lời nói ấy, và tất cả các vị Phạm thiên trong mười ngàn thế giới đều nghe thấy và tập hợp lại với nhau. yatra hi nāmā đồng nghĩa với yasmiṃ nāma loke (trong thế giới nào). purato pāturahosi (xuất hiện trước mặt tôi) xuất hiện cùng với Phạm thiện mười ngàn thế giới. apparajakkhajātikā (người có phiền não giống như chút ít bụi bẩn trong tròng mắt): bụi bẩn là phiền não ít trong tròng mắt. Assavanatā đồng nghĩa với assavanatāya (do không được nghe). Bhavissanti: ngài chỉ ra rằng tất cả chúng sanh người tạo phước báu với 10 puññakiriya-vatthu (phúc hành tông) đối với đức Phật trong tiền kiếp, hi vọng thực hiện Pháp, hy vọng hoằng pháp như hoa sen già cần ánh nắng mặt trời, đã nghe thuyết pháp có thể nhập vào dòng Thánh vức trong khi chấm dứt 4 kệ ngôn, không chỉ một người, không chỉ hai người, mà nhiều triệu người có thể giác ngộ Giáo Pháp. 

pāturahosīti V.2.81 P.2.178 pātubhavi. samalehi cintitoti samalehi chahi satthārehi cintito. te hi puretaraṃ uppajjitvā sakalajambudīpe kaṇṭake pattharamānā viya, visaṃ siñcamānā viya ca samalaṃ micchādiṭṭhidhammaṃ desayiṃsu. apāpuretanti vivara etaṃ. amatassa dvāranti amatassa nibbānassa dvārabhūtaṃ ariyamaggaṃ. suṇantu dhammaṃ vimalenānubuddhanti ime sattā rāgādimalānaṃ abhāvato vimalena sammāsambuddhena anubuddhaṃ catusaccadhammaṃ suṇantu tāva bhagavāti yācati. 

Pāturahosi đồng nghĩa với pātubhavi (xuất hiện). samalehi cintito (người có cấu uế suy nghĩ): cả 6 bậc Đạo Sư người có cấu uế suy nghĩ. Thật vậy, bậc Đạo Sư ấy khởi lên trước cùng nhau thuyết Pháp là tà kiến có cấu uế giống như trải thảm gai và giống như rưới thuốc độc khắp cõi Diêm phù. Apāpuretaṃ (cho mở tung): mở cảnh cửa bất tử. Amatassa dvāraṃ (cánh cửa của bất tử): Thánh Đạo đó là cánh của bất tử Niết Bàn. suṇantu dhammaṃ vimalenānubuddhaṃ (Hãy để họ nghe Pháp, Bậc Thanh tịnh Chứng Ngộ): nghĩa là khẩn cần rằng kính bạch đức Thế Tôn trước hết cầu mong những chúng sanh này được nghe Giáo Pháp, đó là Tứ Thánh Đế mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác vị không có tì vết vì không vết nhơ là ái luyến v.v, vị ấy đã giác ngộ. 

sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhitoti selamaye ekagghane pabbatamuddhani yathā ṭhitova. na hi tassa ṭhitassa dassanatthaṃ gīvukkhipanapasāraṇādikiccaṃ atthi. tathūpamanti tappaṭibhāgaṃ selapabbatūpamaṃ. ayaṃ panettha saṅkhepattho — yathā selapabbatamuddhani ṭhitova cakkhumā puriso samantato janataṃ passeyya, tathā tvampi, sumedha, sundarapañña-sabbaññutaññāṇena samantacakkhu bhagavā dhammamayaṃ pāsādamāruyha sayaṃ apetasoko sokāvatiṇṇaṃ jātijarābhibhūtaṃ janataṃ avekkhassu upadhāraya upaparikkha. ayaṃ panettha adhippāyo — yathā hi pabbatapāde samantā mahantaṃ khettaṃ katvā tattha kedārapāḷīsu kuṭikāyo katvā rattiṃ aggiṃ jāleyyuṃ. caturaṅgasamannāgatañca andhakāraṃ assa, atha tassa pabbatassa matthake ṭhatvā cakkhumato purisassa bhūmiṃ olokayato neva khettaṃ, na kedārapāḷiyo, na kuṭiyo, na tattha sayitamanussā paññāyeyyuṃ. kuṭikāsu pana M.2.84 aggijālāmattakameva paññāyeyya. evaṃ dhammapāsādaṃ āruyha sattanikāyaṃ olokayato tathāgatassa, ye te akatakalyāṇā sattā, te ekavihāre dakkhiṇajāṇupasse nisinnāpi buddhacakkhussa āpāthaṃ nāgacchanti, rattiṃ khittā sarā viya honti. ye pana katakalyāṇā veneyyapuggalā, te evassa dūrepi ṭhitā āpāthaṃ āgacchanti, so aggi viya himavantapabbato viya ca. vuttampi cetaṃ — 

sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito (như đứng trên tảng đá, trên đỉnh núi tột cao) nghĩa là giống như người đứng trên ngọn núi (trên) tảng đá vững chắc, không cần phải vươn căng cổ để nhìn thấy người đang đứng trên đỉnh núi đó là một tảng đá rắn chắc. Tathūpamaṃ (có so sánh như thế): so sánh như vậy hoặc so sánh đỉnh núi đá. Ý nghĩa vắn tắt trong câu đó như vầy, như một người sáng mắt đứng trên đỉnh một tảng đá có thể nhìn thấy đám đông xung quanh mình như thế nào. Này Sumedha người có trí tốt, đức Thế Tôn, vị có nhãn lực toàn hảo với trí tuệ toàn tri. Dù cho Ngài bước vào lâu đài Pháp là trí tuệ không uế nhiễm bởi chính mình, hãy suy nghĩ quán chiếu đến nhóm người đang gào thét bởi sự đau buồn và bị sự sanh, sự già nhận chìm như thế đó. Trong câu đó, giải thích như sau – giống như toàn bộ người dân làm ruộng xung quanh chân núi, xây một túp lều, rãnh đất bao xung quanh ở chỗ đó, nơi có ngọn lửa vào ban đêm. Bóng tối hợp với bốn yếu tố cần có, như vậy người có mắt sáng đứng trên đỉnh núi nhìn xuống đất, đồng ruộng không xuất hiện, rãnh đất cũng không xuất hiện, túp lều cũng không xuất hiện, những người nằm bên trong đó cũng không xuất hiện, chỉ xuất hiện ánh sáng trong túp lều như thế nào; khi Như Lai bước lên lâu đài Pháp (Dhammapāsāda), xem xét những chúng sanh không tạo nghiệp thiện dầu có ngồi cạnh mắt cá chân bên phải trong cùng tịnh xá cũng không xuất hiện nơi Phật , giống như bắn cây cung vào ban đêm, còn đối với chúng sanh hữu tình tạo nghiệp thiện dầu ở xa thì cũng đến tỏa sáng nơi Ngài giống như ngọn lửa và giống như núi tuyết Hy-mã-lạp đó, điều này như đã được nói trong kệ ngôn sau: 

“dūre santo pakāsenti, himavantova pabbato. 

asantettha na dissanti, rattiṃ khittā yathā sarā”ti. (dha. pa. 304). 

Những người tốt tỏa sáng ở nơi xa, ví như núi Hy-mã-lạp. Những kẻ xấu ở đây (vẫn) không được nhìn thấy, giống như những mũi tên được bắn ra vào ban đêm. 

uṭṭhehīti bhagavato dhammadesanatthaṃ cārikacaraṇaṃ yācanto bhaṇati. vīrātiādīsu bhagavā vīriyavantatāya vīro. devaputtamaccukilesamārānaṃ vijitattā vijitasaṅgāmo. Jātikantārādinittharaṇatthāya veneyyasatthavāhanasamatthatāya satthavāho. kāmacchandaiṇassa abhāvato aṇaṇoti veditabbo. 

(Thỉnh mời Ngài) đứng lên (uṭṭhehi) Khi Phạm thiên thỉnh cầu đức Thế Tôn du hành thuyết giảng Giáo Pháp. Vị anh hùng (vīra) nên biết ý nghĩa như thế. Đức Thế Tôn gọi là vị anh hùng (vị thực hành tinh tấn) v.v, bởi có sự thực hành tinh tấn. Gọi là vị chiến thắng trong cuộc chiến bởi vì Ngài đã đánh bại Tử thần ma, Ác ma và phiền não ma người như một vị thuyền trưởng bởi vì Ngài có thể lãnh đạo dẫn dắt chúng sanh để vượt qua khỏi kiếp sống (sanh tử), v.v. nên biết rằng người không mắc nợ bởi vì không vướng nợ đời là sự ước muốn dục lạc. 

283. ajjhesananti yācanaṃ. buddhacakkhunāti indriyaparopariyattañāṇena ca āsayānusayañāṇena ca. imesañhi dvinnaṃ ñāṇānaṃ buddhacakkhūti nāmaṃ, sabbaññutaññāṇassa samantacakkhūti, tiṇṇaṃ maggañāṇānaṃ dhammacakkhūti. apparajakkhetiādīsu yesaṃ vuttanayeneva paññācakkhumhi rāgādirajaṃ appaṃ, te apparajakkhā. yesaṃ taṃ mahantaṃ, te mahārajakkhā. yesaṃ saddhādīni indriyāni tikkhāni, te tikkhindriyā. yesaṃ tāni mudūni, te mudindriyā. yesaṃ teyeva saddhādayo ākārā sundarā, te svākārā. ye kathitakāraṇaṃ sallakkhenti, sukhena sakkā honti viññāpetuṃ, te suviññāpayā. ye paralokañceva vajjañca bhayato passanti, te paralokavajjabhayadassāvino nāma. 

Ajjhesananti dịch là khẩn cầu. Phật nhãn (buddhacakkhunā): nhận biết các quyền (indriya) của chúng sanh yếu mạnh và nhận biết khuynh hướng và phiền não, từ bởi Phật nhãn là tên gọi của 2 loại trí tuệ này samantacakkhu (Nhất thiết trí nhãn) là tên gọi Toàn giác trí, Pháp nhãn là tên gọ là 3 trí Đạo. Apparajakkheti ( hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời) v.v, nên biết rằng bụi trần phiền não có ái luyến, v.v. trong con mắt trí tuệ của bất kỳ chúng sanh nào theo phương thức đã đề cập, những chúng sanh đó được gọi là apparajakkhā (ít nhiễm bụi đời). Chúng sanh nào nhiều nhiễm bụi trần phiền não như vậy, chúng sanh đó được gọi là mahārajakkhā (nhiều nhiễm bụi đời). Chúng sanh nào có quyền (indriya) là đức tin v.v, chín mùi, những chúng sanh đó được gọi là tikkhindriyā (các căn nhạy bén). Những chúng sanh nào có các quyền yếu kém, những chúng sanh đó được gọi là mudindriyā (các quyền yếu kém). Chúng sanh nào có biểu hiện là có đức tin ấy tốt, những chúng sanh đó được gọi là có thiện tánh (svākārā). Những chúng sanh nào biết nguyên nhân để thuyết, có thể nhận biết dễ dàng, những chúng sanh đó được gọi là suviññāpayā (dễ giảng dạy). Những chúng sanh nào nhìn thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm, những chúng sanh đó gọi là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác.  

ayaṃ panettha pāḷi — “saddho puggalo apparajakkho, assaddho puggalo mahārajakkho. āraddhavīriyo…, kusito…, upaṭṭhitassati…, muṭṭhassati…, samāhito…, asamāhito…, paññavā…, duppañño puggalo mahārajakkho. tathā saddho puggalo tikkhindriyo … pe … paññavā puggalo paralokavajjabhayadassāvī, duppañño puggalo na paralokavajjabhayadassāvī. lokoti M.2.85 khandhaloko, āyatanaloko, dhātuloko, sampattibhavaloko, sampattisambhavaloko, vipattibhavaloko, vipattisambhavaloko, eko loko sabbe sattā āhāraṭṭhitikā. dve lokā — nāmañca rūpañca. tayo lokā — tisso vedanā. cattāro lokā — cattāro āhārā. pañca lokā — pañcupādānakkhandhā. cha lokā — cha ajjhattikāni āyatanāni. satta lokā — satta viññāṇaṭṭhitiyo. aṭṭha lokā — aṭṭha lokadhammā. nava lokā — nava sattāvāsā. dasa lokā — dasāyatanāni. dvādasa lokā — dvādasāyatanāni. aṭṭhārasa P.2.180 lokā — aṭṭhārassa dhātuyo. vajjanti sabbe kilesā vajjā, sabbe duccaritā vajjā, sabbe abhisaṅkhārā vajjā, sabbe bhavagāmikammā vajjā. iti imasmiñca loke imasmiñca vajje tibbā bhayasaññā paccupaṭṭhitā hoti, seyyathāpi ukkhittāsike vadhake. imehi paññāsāya ākārehi imāni pañcindriyāni jānāti passati aññāsi paṭivijjhi. idaṃ tathāgatassa indriyaparopariyatte ñāṇan”ti (paṭi. ma. 1.112). 

Ở trong chỗ đó có Pāḷī như sau – “người có đức tin có ít bụi bẩn trong mắt là có mắt bị vấy bụi ít, người không có đức tin là có nhiều bụi bẩn trong mắt. Người có sự cố gắng tinh tấn (có mắt bị vấy bụi ít), người biếng nhác (có mắt bị vấy bụi nhiều), Người có niệm được thiết lập (có mắt bị vấy bụi ít), người có niệm bị quên lãng (có mắt bị vấy bụi nhiều). Người định tĩnh (có mắt bị vấy bụi ít), người không được định tĩnh (có mắt bị vấy bụi nhiều). Người có tuệ (có mắt bị vấy bụi ít), người có tuệ kém là có mắt bị vấy bụi nhiều. Ở đó, hạng người có đức tin như thế gọi là có quyền nhạy bén (chín muồi)…nt…người có tuệ gọi là người thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người có trí tuệ kém là người không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác. Thế giới là thế giới của các uẩn, thế giới của các xứ, thế giới của các xứ, thế giới của các giới, thế giới có sự thuận lợi, thế giới đem lại sự thuận lợi, thế giới có sự bất hạnh, thế giới đem lại sự bất hạnh, một thế giới là tất cả chúng sanh được tồn tại nhờ vật thực. Hai thế giới là danh và sắc. Ba thế giới là ba thọ. Bốn thế giới là tứ thực. Năm thế giới là sáu nội xứ. Bảy thế giới là bảy trụ xứ của thức. Tám thế giới là tám pháp thế gian. Chính thế giới là chín trú xứ của chúng sanh. Mười thế giới là 10 xứ. Mười hai thế giới là mười hai xứ. Mười tám thế giới là 18 giới. Tội lỗi: tất cả các ô nhiễm là tội lỗi, tất cả ác hạnh là tội lỗi, tất cả các thắng hành là tội lỗi, tất cả nghiệp làm nhân đưa đến các hữu là tội lỗi. Như thế, tưởng đến sự kinh hãi sắc bén về thế giới này và về tội lỗi này đã được đề cập, cũng giống như (tưởng đến sự kinh hãi) về cuộc chém giết có thanh gươm đã được vung lên. Như thế, tưởng đến thế giới này và tội lỗi này về sự kinh hãi sắc bén đã được đề cập, cũng giống như về cuộc chém giết có thanh gươm đã được vung lên. Đức Như Lai biết được, thấy được, biết trọn vẹn, thấu triệt năm quyền này thông qua năm mươi biểu hiện này.​​ Đây là trí biết được khả năng của người khác của đức Như Lai.  (paṭi. ma. 1.112). 

uppaliniyanti V.2.83 uppalavane. itaresupi eseva nayo. antonimuggaposīnīti yāni anto nimuggāneva posiyanti. udakaṃ accuggamma ṭhitānīti udakaṃ atikkamitvā ṭhitāni. tattha yāni accuggamma ṭhitāni, tāni sūriyarasmisamphassaṃ āgamayamānāni ṭhitāni ajja pupphanakāni. yāni samodakaṃ ṭhitāni, tāni sve pupphanakāni. yāni udakānuggatāni antonimuggaposīni, tāni tatiyadivase pupphanakāni. udakā pana anuggatāni aññānipi sarogauppalādīni nāma atthi, yāni neva pupphissanti, macchakacchapabhakkhāneva bhavissanti. tāni pāḷiṃ nāruḷhāni. āharitvā pana dīpetabbānīti dīpitāni. 

Uppaliniyaṃ dịch là trong  hồ sen xanh. Cả những từ còn lại cũng theo phương thức này tương tự. Antonimuggaposī gồm hoa sen ở dưới nước do thiên nhiên nuôi lớn. udakaṃ accuggamma ṭhitānī gồm vươn lên khỏi mặt nước đứng vững. Bất kỳ loại hoa sen nào trong số những hoa sen này nhô lên khỏi mặt nước chờ đợi, những hóa đo từ từ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời sẽ nở hoa trong hôm nay; những hoa sen nào đứng ngang mặt nước, chúng sẽ nở vào ngày mai; bông hòa nào chìm dưới nước, nhận chìm trong nước được nuôi dưỡng tự nhiên, chúng sẽ nở hoa vào ngày thứ 3. Còn những bông hoa khác ở dưới nước trong hồ v.v, chìm dưới nước vẫn không nở hoa, (những bao hoa đó) sẽ là thức ăn của cá và rùa mà thôi. những bông hoa sen đó không có trong Pāḷī, cũng cần đem lại để trình bày.  

yatheva hi tāni catubbidhāni pupphāni, evameva ugghaṭitaññū vipañcitaññū neyyo padaparamoti cattāro puggalā. tattha “yassa puggalassa saha udāhaṭavelāya dhammābhisamayo hoti, ayaṃ vuccati puggalo ugghaṭitaññū. yassa puggalassa saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthe vibhajiyamāne dhammābhisamayo hoti, ayaṃ vuccati puggalo vipañcitaññū. yassa puggalassa uddesato paripucchato yoniso manasikaroto kalyāṇamitte M.2.86 sevato bhajato payirupāsato anupubbena dhammābhisamayo hoti, ayaṃ vuccati puggalo neyyo. yassa puggalassa bahumpi suṇato bahumpi bhaṇato bahumpi dhārayato bahumpi vācayato na tāya jātiyā dhammābhisamayo hoti, ayaṃ vuccati puggalo padaparamo” (pu. pa. 151). tattha bhagavā uppalavanādisadisaṃ dasasahassilokadhātuṃ olokento “ajja pupphanakāni viya ugghaṭitaññū, sve pupphanakāni viya vipañcitaññū, tatiyadivase pupphanakāni viya neyyo, macchakacchapabhakkhāni pupphāni viya padaparamo”ti P.2.181 addasa. passanto ca “ettakā apparajakkhā, ettakā mahārajakkhā, tatrāpi ettakā ugghaṭitaññū”ti evaṃ sabbākāratova addasa. 

Cũng như hoa sen có bốn loại như thế nào, hạng người cũng có bốn nhóm người là người hiểu khi được nói ngắn gọn (ugghaṭitaññū), người hiểu khi được nói đầy đủ (vipañcitaññū), người cần được dẫn dắt (neyyo), và padaparamo (những người mà chỉ có thể nghe chữ của lời Phật dạy, mà không thể làm gì nhiều hơn nữa) cũng tương tự như thế. Ở đó, “hạng người nào chứng ngộ Pháp cùng với thời gian nêu ra đầu đề Pháp thì hạng người đó gọi là người hiểu khi được nói ngắn gọn (ugghaṭitaññū). Hạng người nào chứng ngộ Pháp khi Ngài phân tích ý nghĩa của lời nói vắn tắt thành chi tiết, hạng người đó gọi là người hiểu khi được nói đầy đủ (vipañcitaññū). Hạng người nào tác ý đúng đắn cả ghi nhớ lẫn phần giải thích kết bạn thân cận gần gũi với thiện bạn hữu mới giác ngộ Pháp, hạng người đó gọi là người cần được dẫn dắt (neyyo). hạng người nào nghe nhiều, hoặc nói nhiều, ghi nhớ nhiều, hoặc học nhiều vẫn không thể chứng ngộ Phpas trong kiếp sống này đó, hạng người này Ngài gọi là padaparamo.” (pu. pa. 151). Ở đó, đức Thế Tôn xem xét mười ngàn thế giới giống như hồ sen v.v, Ngài thấy rằng “người hiểu khi được nói ngắn gọn tương tự y như hoa nở trong ngày hôm nay. người hiểu khi được nói đầy đủ (vipañcitaññū) tương tự y như bông hoa nở vào ngày mai. Người cần được dẫn dắt (neyyo) giống như bông hoa nở vào ngày thứ ba, padaparamo giống như bông hoa làm thức ăn của cá và rùa.” Đức Thế Tôn khi xem xét Ngài đã thấy với mọi biểu hiện như vậy “chúng sanh chừng ấy có tuệ nhãn bị vấy bụi ít, chúng sanh chừng ấy có tuệ nhãn bị vấy bụi nhiều, trong số chúng sanh đó chừng ấy là nhóm người hiểu nhanh (ugghaṭitaññū)”. 

tattha tiṇṇaṃ puggalānaṃ imasmiṃyeva attabhāve bhagavato dhammadesanā atthaṃ sādheti. padaparamānaṃ anāgate vāsanatthāya hoti. atha bhagavā imesaṃ catunnaṃ puggalānaṃ atthāvahaṃ dhammadesanaṃ viditvā desetukamyataṃ uppādetvā puna sabbepi tīsu bhavesu satte bhabbābhabbavasena dve koṭṭhāse akāsi. ye sandhāya vuttaṃ — “katame te sattā abhabbā, ye te sattā kammāvaraṇena samannāgatā kilesāvaraṇena samannāgatā vipākāvaraṇena samannāgatā assaddhā acchandikā V.2.84 duppaññā abhabbā niyāmaṃ okkamituṃ kusalesu dhammesu sammattaṃ, ime te sattā abhabbā. katame te sattā bhabbā? ye te sattā na kammāvaraṇena … pe … ime te sattā bhabbā”ti (vibha. 827; paṭi. ma. 1.115). tattha sabbepi abhabbapuggale pahāya bhabbapuggaleyeva ñāṇena pariggahetvā “ettakā rāgacaritā, ettakā dosamohacaritā vitakkasaddhābuddhicaritā”ti cha koṭṭhāse akāsi; evaṃ katvā dhammaṃ desissāmīti cintesi. 

Ở đó Pháp thoại của Đức Thế Tôn chỉ thành tựu mang lại lợi nơi tự thân cho ba hạng người trong số đó. Còn đối với Padaparamo có may mắn nhằm mang lại lợi ích trong thời vị lai. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn biết rằng Pháp thoại sẽ mang lại lợi ích cho cả bốn nhóm người, mới có ý muốn thuyết giảng Giáo Pháp. Do đó, Ngài phân loại tất cả chúng sanh trong ba cõi thành 2 hạng người là hạng người có khả năng (chứng đắc Đạo Quả trong kiếp hiện tại) và hạng người không có khả năng (chứng đắc Đạo Quả trong kiếp hiện tại). Ngài có ý muốn nói đến hạng chúng sanh nào? Vì thế mới nói lời này rằng: “Chúng sanh nào không có khả năng? Những chúng sanh nào có sự chướng Ngài do nghiệp, có sự chướng Ngài do quả thành tựu (của nghiệp), có sự chướng Ngài do phiền não, không có đức tin, không có ước muốn, không có trí tuệ, không chắc chắn có khả năng nhập vào bản thể chơn chánh trong các thiện pháp, những chúng sanh đó được xem là không có khả năng. Chúng sanh nào có khả năng? Những chúng sanh nào không có sự chướng Ngài do nghiệp…nt…những chúng sanh đó được xem là có khả năng.” (vibha. 827; paṭi. ma. 1.115). Ở đó, đức Thế Tôn loại bỏ tất cả những chứng sanh không có khả năng sau khi xem xét bằng trí tuệ, chỉ duy nhất hạng người có khả năng, chia thành sáu 6 là nhóm: “chừng ấy người có tánh ái luyến, chừng ấy người có tánh sân, chừng ấy người có tánh si, chừng ấy người có tánh tầm, tánh đức tin và tánh giác.” Sau khi chia như vậy rồi Ngài suy nghĩ sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. 

paccabhāsinti patiabhāsiṃ. apārutāti vivaṭā. amatassa dvārāti ariyamaggo. so hi amatasaṅkhātassa nibbānassa dvāraṃ, so mayā vivaritvā ṭhapitoti dasseti. pamuñcantu saddhanti sabbe attano saddhaṃ pamuñcantu, vissajjentu. pacchimapadadvaye ayamattho, ahañhi attano paguṇaṃ suppavattitampi imaṃ paṇītaṃ uttamaṃ dhammaṃ kāyavācākilamathasaññī hutvā na bhāsiṃ M.2.87. idāni pana sabbo jano saddhābhājanaṃ upanetu, pūressāmi nesaṃ saṅkappanti. 

Paccabhāsiṃ đồng nghĩa với patiabhāsiṃ (đã nói). Apārutā đồng nghĩa với vivaṭā (mở). Amatassa dvārā (mở cánh cửa bất tử): Thánh Đạo. Vì vậy Thánh Đạo là cánh cửa của Niết bàn, được gọi là bất tử, đức Thế Tôn chỉ ra rằng: Thánh Đạo đó ta đã mở ra rồi. Hãy buông bỏ đức tin (pamuñcantu saddhaṃ): mong cho tất cả chúng sanh hãy từ bỏ, hãy thả trôi đức tin của chính mình. Cả hai câu có ý nghĩa như vầy – Mặc dầu ta hiểu rằng (trước kia) khó khăn về thể chất và cả lời nói mới không thuyết giảng Giáo Pháp cao thượng vi diệu này mà ta đã thực hiện tốt đẹp được vận hành suông sẽ với chính ta, nhưng bây giờ cầu mong cho tất cả cả mọi người hãy mang lại bhājana là đức tin, ta sẽ làm cho tư duy của chúng sanh đó được đầy đủ. 

284. tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosīti etaṃ ahosi — kassa nu kho ahaṃ paṭhamaṃ dhammaṃ deseyyanti ayaṃ dhammadesanāpaṭisaṃyutto vitakko udapādīti attho. kadā panesa udapādīti? buddhabhūtassa aṭṭhame sattāhe. 

284 tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi (này chư Tỳ khưu, ta tư duy rằng…): ta đã có sự tư duy như vầy, ta nên thuyết giảng Giáo Pháp cho ai trước đây? Sự suy tầm đó liện quan đến việc thuyết giảng Giáo Pháp này khởi lên? (Hỏi) sự suy tầm này khởi lên khi nào? (Đáp) vào tuần lễ thứ tám sau khi trở thành bản thể Phật. 

tatrāyaṃ anupubbikathā — bodhisatto kira mahābhinikkhamanadivase vivaṭaṃ itthāgāraṃ disvā saṃviggahadayo, “kaṇḍakaṃ āharā”ti channaṃ āmantetvā channasahāyo assarājapiṭṭhigato P.2.182 nagarato nikkhamitvā kaṇḍakanivattanacetiyaṭṭhānaṃ nāma dassetvā tīṇi rajjāni atikkamma anomānadītīre pabbajitvā anupubbena cārikaṃ caramāno rājagahe piṇḍāya caritvā paṇḍavapabbate nisinno magadhissarena raññā nāmagottaṃ pucchitvā, “imaṃ rajjaṃ sampaṭicchāhī”ti vutto, “alaṃ mahārāja, na mayhaṃ rajjena attho, ahaṃ rajjaṃ pahāya lokahitatthāya padhānaṃ anuyuñjitvā loke vivaṭacchado bhavissāmīti nikkhanto”ti vatvā, “tena hi buddho hutvā paṭhamaṃ mayhaṃ vijitaṃ osareyyāsī”ti paṭiññaṃ gahito kālāmañca udakañca upasaṅkamitvā tesaṃ dhammadesanāya sāraṃ avindanto tato pakkamitvā uruveḷāya chabbassāni dukkarakārikaṃ karontopi amataṃ paṭivijjhituṃ asakkonto oḷārikāhārapaṭisevanena kāyaṃ santappesi. 

Ở đây sẽ nói ý nghĩa theo tuần tự – như đã nghe vào ngày Ngài thực hiện sự xuất gia vĩ đại, Bồ tát đã nhìn thấy trong phòng những người hầu nữ hở hang (lúc đó Ngài) có tâm bị chấn động, Ngài đã gọi Channa “hãy mang ngựa Kaṇḍaka đến” có Channa là người bạn hữu, Ngài bước lên yên ngựa rời khỏi kinh thành, Ngài đã chỉ vị trí bảo điện nơi để cho ngựa Kaṇḍaka quay trở về, Ngài đã vượt qua ba vương quốc, cởi bỏ những đồ trang sức, Ngài đã (cắt tóc) trở thành vị xuất gia ở gần bờ sông Anomā, tuần tự du hành trong thành Rājagaha để tìm kiếm thức ăn, ngồi ở hòn đá lớn paṇḍava. Khi được đức vua Bimbisāra hỏi đến tên và dòng tộc, rồi xin Ngài thọ nhận tài sản hoàng gia. Nhưng Ngài nói: “Đừng, thưa Đại vương, bần Tăng không mong cầu tài sản hoàng gia, đến để thực hành sự tinh tấn nhằm mục đích trợ giúp thế gian, xuất gia với ý nguyện trở thành một vị Phật, cắt đứt vòng luân chuyển trong thế gian. Ngài đã chấp nhận lời thỉnh cầu của Vua Bimbisāra rằng: “Nếu vậy, (khi nào) Ngài trở thành một vị Phật. Hãy trở lại đất nước của tôi trước.” Rồi Ngài đi đến tìm đạo sĩ Āḷara Kālāma và đạo sĩ Uddakasarāmaputta trong khi không tìm gặp cốt lõi Giáo Pháp của 2 vị đạo sĩ đó, mới rời khỏi để đi thực hành sáu năm khổ hạnh ở tại Uruveḷā, khi không thể thấu triệt được Pháp bất tử, làm cho thẩn thể trở nên ốm yếu gầy gò bởi việc thọ dụng vật thô cứng. 

tadā ca uruvelagāme sujātā nāma kuṭumbiyadhītā ekasmiṃ nigrodharukkhe patthanamakāsi — “sacāhaṃ samānajātikaṃ kulagharaṃ gantvā paṭhamagabbhe puttaṃ labhissāmi, balikammaṃ karissāmī”ti. tassā sā patthanā samijjhi. sā visākhapuṇṇamadivase pātova balikammaṃ karissāmīti rattiyā paccūsasamaye eva pāyasaṃ paṭiyādesi. tasmiṃ pāyase paccamāne mahantamahantā pupphuḷā uṭṭhahitvā dakkhiṇāvaṭṭā hutvā sañcaranti. ekaphusitampi bahi na gacchati. mahābrahmā chattaṃ dhāresi. cattāro lokapālā khaggahatthā ārakkhaṃ gaṇhiṃsu. 

Khi đó, con gái của kuṭumbiya là Sujādā ở làng Uruveḷa phát nguyện ở tại gốc cây Nigrodha “nếu như con kết hôn với người cùng dòng dõi, và có được đứa con trai đầu lòng, con sẽ thực hiện lễ cúng dường đến Thiên nhân”, bà đã thành tựu được ước nguyện ấy rồi vào ngày trăng tròn tháng Visākha, bà đã chuẩn bị cơm sữa thượng vị vào đêm hôm, với ý định cúng dường đến Thiên nhân vào lúc sáng sớm. Trong khi đang nấu cơm sữa bong bóng cơm sữa lớn nổi lên cuộn thành vòng tròn xoay vòng bên phải, Ngay cả phần chạm vào cũng không bắn tóe ra bên ngoài dù chi một giọt. Đại Phạm thiên đã ngăn chặn bằng cây lộng. Chư thiên hộ trì  4 cõi tay cầm gươm để bảo vệ. 

sakko alātāni samānento aggiṃ jālesi. devatā catūsu dīpesu ojaṃ saṃharitvā M.2.88 tattha pakkhipiṃsu. bodhisatto bhikkhācārakālaṃ āgamayamāno pātova gantvā rukkhamūle nisīdi. rukkhamūle sodhanatthāya gatā dhātī āgantvā sujātāya ārocesi — “devatā rukkhamūle nisinnā”ti. sujātā, sabbaṃ pasādhanaṃ pasādhetvā satasahassagghanike suvaṇṇathāle pāyasaṃ vaḍḍhetvā aparāya suvaṇṇapātiyā pidahitvā ukkhipitvā gatā mahāpurisaṃ disvā saheva pātiyā hatthe ṭhapetvā vanditvā “yathā mayhaṃ manoratho nipphanno, evaṃ tumhākampi nipphajjatū”ti vatvā pakkāmi 

Đế Thích giữ cây khô để đốt lửa, chư Thiên tụ hội lại mang dưỡng tố Oja từ bốn cõi đến đổ vào trong cơm sữa đó. Bồ-tát đợi thời gian để đi khất thực, khi đến giờ Ngài ra đi từ sáng sớm và ngồi xuống dưới gốc cây. Người hầu gái đến để dọn dẹp xung quanh gốc cây, sau khi quay trở về nói với bà Sujātā rằng: “Vị Thiên nhân đang ngồi dưới gốc cây.” Bà Sujātā trang điểm với tất cả các đồ trang sức. Tỉ mỉ dọn cơm sữa đặt vào một khay vàng trị giá 100.000 và đậy lên đó một khay vàng khác, sau đó cầm lên rồi mang đi sau khi đã nhìn thấy bậc Đại Nhân, bà mới đặt khay cháo sữa trong tay xuống, đảnh lễ rồi nói rằng “ý nguyện của con đã thành tựu như thế nào, cầu mong cho ý nguyện của Ngài cũng được thành tựu như thế đó, rồi trở về.” 

bodhisatto nerañjarāya tīraṃ gantvā suvaṇṇathālaṃ tīre ṭhapetvā nhatvā paccuttaritvā ekūnapaṇṇāsapiṇḍe karonto pāyasaṃ paribhuñjitvā “sacāhaṃ ajja buddho bhavāmi, thālaṃ paṭisotaṃ gacchatū”ti khipi. thālaṃ paṭisotaṃ gantvā thokaṃ ṭhatvā kālanāgarājassa bhavanaṃ pavisitvā tiṇṇaṃ buddhānaṃ thālāni ukkhipitvā aṭṭhāsi. 

Bồ-tát đã đi đến bờ sông Nerañjara, đã đặt cái khay vàng xuống cạnh bờ sông để tắm, khi bước lên bờ, (Ngài) vò cơm sữa thành 49 vắt rồi thọ dụng cơm sữa. Phát nguyện rằng: “Nếu ta chứng đạt quả vị Phật trong ngày hôm nay, nguyện cho khay vàng này trôi ngược dòng nước, như thế rồi ném khay xuống nước”. Cái khay cũng trôi ngược theo dòng nước rồi dừng lại chìm xuống cõi của Long vương Kālanāga, (cái khay ấy) đã chồng lên cái khay của ba vị Phật quá khứ. 

mahāsatto vanasaṇḍe divāvihāraṃ katvā sāyanhasamaye sottiyena dinnā aṭṭha tiṇamuṭṭhiyo gahetvā bodhimaṇḍaṃ āruyha dakkhiṇadisābhāge aṭṭhāsi. so padeso paduminipatte udakabindu viya akampittha. mahāsatto, “ayaṃ mama guṇaṃ dhāretuṃ na sakkotī”ti pacchimadisābhāgaṃ agamāsi, sopi tatheva akampittha. uttaradisābhāgaṃ agamāsi, sopi tatheva akampittha. puratthimadisābhāgaṃ agamāsi, tattha pallaṅkappamāṇaṃ ṭhānaṃ sunikhātaindakhilo viya niccalamahosi. mahāsatto “idaṃ ṭhānaṃ sabbabuddhānaṃ kilesabhañjanaviddhaṃsanaṭṭhānan”ti tāni tiṇāni agge gahetvā cālesi. tāni cittakārena tūlikaggena paricchinnāni viya ahesuṃ. bodhisatto V.2.86, “bodhiṃ appatvā imaṃ pallaṅkaṃ na bhindissāmī”ti caturaṅgavīriyaṃ adhiṭṭhahitvā pallaṅkaṃ ābhujitvā nisīdi. 

Bậc Đại Nhân nghỉ trưa ở bìa rừng, đến chiều Ngài nhận tám bó cỏ tươi mà Bà-la-môn Sotthiya đã cúng dường. Sau đó, Ngài đi đến khuôn viên của cội Bồ Đề và đứng ở phần phía nam. Bậc Đại Nhân tư duy rằng: “Hướng này không thể nâng đỡ đức hạnh của ta được, Ngài đã đi về hướng tây, cả nơi đó cũng lắc lư như vậy, Ngài đã quay sang hướng bắc, cả hướng đó cũng bị lắc lư tương tự. Vì vậy, Ngài quay về phía đông, ở vị trí đặt chỗ ngồi không bị lay động giống như một cây cọc được dựng chắc chắn. Bậc Đại Nhân tư duy rằng: “Đây là nơi tháo gỡ cánh của phiền não của tất cả chư Phật. Ngài lấy bó cỏ ấy trải ra những ngọn cỏ này cũng trở nên tuyệt đẹp như một họa sĩ vẽ bằng đầu cây cọ. Bồ-tát đến gần cây bồ đề, Ngài phát nguyện với sự tinh tấn có 4 yếu tố rằng “Nếu không chứng ngộ Tuệ giác, sẽ không phá vỡ chỗ ngồi này” rồi ngồi xuống gấp chân bắt tréo nhau thực hành thiền. 

taṅkhaṇaññeva māro bāhusahassaṃ māpetvā diyaḍḍhayojanasatikaṃ girimekhalaṃ nāma hatthiṃ āruyha navayojanaṃ mārabalaṃ gahetvā addhakkhikena olokayamāno pabbato viya ajjhottharanto upasaṅkami. mahāsatto, “mayhaṃ dasa pāramiyo pūrentassa añño samaṇo vā brāhmaṇo vā devo vā māro vā brahmā vā sakkhi natthi, vessantarattabhāve pana mayhaṃ sattasu vāresu mahāpathavī sakkhi ahosi; idānipi me ayameva acetanā kaṭṭhakaliṅgarūpamā mahāpathavī sakkhī”ti hatthaṃ pasāreti. mahāpathavī tāvadeva ayadaṇḍena pahataṃ kaṃsathālaṃ viya ravasataṃ ravasahassaṃ muñcamānā viravitvā parivattamānā mārabalaṃ cakkavāḷamukhavaṭṭiyaṃ muñcanamakāsi. 

Ngay lập tức Ma vương đưa ra một nghìn cánh tay cưỡi trên một con voi tên là Girimekhala, cao 150 do tuần, nắm lấy bằng sức mạnh của Ma vương 9 do tuần đến bao vay, giống như một ngọn núi nhìn chỉ được một nửa con mắt (không nhìn thấy được đỉnh núi). Bậc Đại Nhân đưa tay ra nói: Ta đang thực hành mười Ba-la-mật mà không có Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương hay Phạm thiên làm chứng. Nhưng chính cái tự ngã này là Vessantara, Đại địa đã làm chứng cho tôi trong bảy trí. Ngay cả lúc này Đại địa cũng không co tâm thức  và giống như những cành cây này trước mặt hãy làm chứng. Ngay lập tức, Đại đị phát ra âm thanh run lên cả trăm cả ngàn lần giống như cái cồng được vỗ vào bằng cái thanh sắt, đã cuốn trôi toàn bộ sức mạnh của Ma vương chất đống nơi rìa vũ trụ. 

mahāsatto sūriye dharamāneyeva mārabalaṃ vidhamitvā paṭhamayāme pubbenivāsañāṇaṃ, majjhimayāme dibbacakkhuṃ visodhetvā pacchimayāme paṭiccasamuppāde ñāṇaṃ otāretvā vaṭṭavivaṭṭaṃ sammasitvā aruṇodaye buddho hutvā P.2.184, “mayā anekakappakoṭisatasahassaṃ addhānaṃ imassa pallaṅkassa atthāya vāyāmo kato”ti sattāhaṃ ekapallaṅkena nisīdi. athekaccānaṃ devatānaṃ, “kiṃ nu kho aññepi buddhattakarā dhammā atthī”ti kaṅkhā udapādi. 

Ngay khi mặt trời còn chưa lặn, bậc Đại Nhân đã chế ngự được lực lượng của Ma Vương và đã làm cho trong sạch (chứng đạt) Túc Mạng Minh vào canh đầu, Thiên Nhãn Minh vào canh giữa, và đưa trí tuệ vào Pháp tùy thận duyên sanh vào canh cuối, quán chiếu vaṭṭa và vivaṭṭa. Vào lúc bình minh trở thành một vị Phật, Ngài suy nghĩ rằng: “Ta đã phấn đấu vì ngôi vị này xuyên suốt hàng trăm ngàn koṭi kiếp.” Vì vậy, Ngài đã ngồi kiết già trong suốt một tuần lễ. Sau đó, một số chư Thiên hoài nghi rằng: “Tồn tại Pháp thực hành bản thể của Phật nữa sao? 

atha bhagavā aṭṭhame divase samāpattito vuṭṭhāya devatānaṃ kaṅkhaṃ ñatvā kaṅkhāvidhamanatthaṃ ākāse uppatitvā yamakapāṭihāriyaṃ dassetvā tāsaṃ kaṅkhaṃ vidhamitvā pallaṅkato īsakaṃ pācīnanissite uttaradisābhāge ṭhatvā cattāri asaṅkhyeyyāni kappasatasahassañca pūritānaṃ pāramīnaṃ phalādhigamaṭṭhānaṃ pallaṅkañceva bodhirukkhañca animisehi akkhīhi olokayamāno sattāhaṃ vītināmesi, taṃ ṭhānaṃ animisacetiyaṃ nāma jātaṃ. 

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn xuất khỏi 8 thiền chứng, biết được sự hoài nghi của chư Thiên Ngài đã bay lên trong hư không thị hiện Song Thông phá tan sự hoài nghi ấy, khi phá tan được sự hoài nghi ấy rồi, Ngài đứng hướng về phía bắc, chếch một chút về phía đông từ chỗ ngồi, quán chiếu lại nơi chứng đắc Quả của các ba-la-mật đã thực hành trong suốt bốn a-tăng-kỳ và trăm nghìn đại kiếp. Chỗ ngồi và cây Bồ-đề cùng với đôi mắt không chớp nháy trọn bảy ngày. Nơi đó được gọi là bảo điện Animisa. 

atha pallaṅkassa ca ṭhitaṭṭhānassa ca antarā puratthimapacchimato āyate ratanacaṅkame caṅkamanto sattāhaṃ vītināmesi, taṃ ṭhānaṃ ratanacaṅkamacetiyaṃ nāma jātaṃ. tato pacchimadisābhāge devatā ratanagharaṃ māpayiṃsu, tattha pallaṅkena nisīditvā abhidhammapiṭakaṃ visesato cettha anantanayasamantapaṭṭhānaṃ vicinanto sattāhaṃ vītināmesi, taṃ ṭhānaṃ ratanagharacetiyaṃ nāma jātaṃ. evaṃ bodhisamīpeyeva cattāri sattāhāni vītināmetvā pañcame sattāhe bodhirukkhamūlā yena ajapālanigrodho V.2.87 tenupasaṅkami, tatrāpi dhammaṃ vicinantoyeva vimuttisukhañca paṭisaṃvedento nisīdi, dhammaṃ vicinanto cettha evaṃ abhidhamme nayamaggaṃ sammasi — paṭhamaṃ dhammasaṅgaṇīpakaraṇaṃ nāma, tato vibhaṅgapakaraṇaṃ, dhātukathāpakaraṇaṃ, puggalapaññattipakaraṇaṃ, kathāvatthu nāma pakaraṇaṃ, yamakaṃ nāma pakaraṇaṃ, tato mahāpakaraṇaṃ paṭṭhānaṃ nāmāti. 

Sau đó Ngài đi kinh hành , địa điểm kinh hành ở con đường kinh hành bằng ngọc từ hướng đông và hướng tây giữa chỗ ngồi và vị trí đứng trọn bảy ngày, chỗ đó được gọi là bảo điện ratanacaṅkama. Sau đó, các vị Thiên ở phía tây kiến tạo một ngôi nhà làm bằng thủy tinh. Ngồi kiết già trong ngôi nhà đó quán xét Abhidhamma Piṭaka đặc biệt cao thượng bộ Paṭṭhāna với vô số phương pháp (anantanayasamanta) trong Abhidhamma Piṭaka đó trọn bảy ngày, nơi đó được gọi là bảo điện Ratanaghara. Nơi đó gần chính là Bodhimaṇḍa (nơi thành đạo và tọa thiền trong trong tuần lễ đầu tiên) trải qua bốn tuần lễ bằng biểu hiện như thế. Vào tuần thứ năm, Ngài rời cội Bồ đề, đi đến cây Ajapālanigrodha, để quán xét Pháp ở tại nơi đó, ngồi thọ hưởng sự an lạc giải thoát. Khi suy xét pháp Ngài chỉ quán chiếu về phương Pháp của Abhidhamma trong Pháp đó, bộ đầu tiên được gọi là bộ Dhammasaṅgaṇī, rồi bộ Vibhaṅga, bộ Dhātukathā, bộ Puggalapaññatti, bộ Kathāvatthu, bộ Yamaka, và tiếp đó là bộ Mahā Paṭṭhāna. 

atthassa saṇhasukhumapaṭṭhānamhi citte otiṇṇe pīti uppajji; pītiyā uppannāya lohitaṃ pasīdi, lohite pasanne chavi pasīdi. chaviyā pasannāya puratthimakāyato kūṭāgārādippamāṇā rasmiyo uṭṭhahitvā ākāse pakkhandachaddantanāgakulaṃ viya pācīnadisāya anantāni cakkavāḷāni pakkhandā, pacchimakāyato uṭṭhahitvā pacchimadisāya, dakkhiṇaṃsakūṭato uṭṭhahitvā dakkhiṇadisāya, vāmaṃsakūṭato uṭṭhahitvā uttaradisāya anantāni cakkavāḷāni pakkhandā, pādatalehi pavāḷaṅkuravaṇṇā rasmiyo nikkhamitvā mahāpathaviṃ vinivijjhitvā udakaṃ dvidhā bhinditvā vātakkhandhaṃ padāletvā ajaṭākāsaṃ pakkhandā, sīsato samparivattiyamānaṃ maṇidāmaṃ viya nīlavaṇṇā rasmivaṭṭi uṭṭhahitvā cha devaloke vinivijjhitvā nava brahmaloke vehapphale pañca suddhāvāse ca vinivijjhitvā cattāro āruppe atikkamma ajaṭākāsaṃ pakkhandā. tasmiṃ divase aparimāṇesu cakkavāḷesu aparimāṇā sattā sabbe suvaṇṇavaṇṇāva ahesuṃ. taṃ divasañca pana bhagavato sarīrā nikkhantā yāvajjadivasāpi tā rasmiyo anantā lokadhātuyo gacchantiyeva. 

Khi tâm Ngài chìm vào trong Paṭṭhāna vi tế trong Tạng Abhidhamma niềm hoan hỷ cũng khởi lên. Khi hỷ khởi lên, máu huyết trở nên trong veo, màu da cũng trở nên tươi sáng, khi màu da tươi sáng thì vầng hào quang có kích thước bằng ngôi nhà mái nhọn, v.v phát ra ở phía trước ngực, trải qua vô tận thế giới vũ trụ phía đông giống như đàn voi Chaddanta đi dạo trong không trung; (hào quang) phát ra từ vai bên phải, di chuyển về phía nam; phát ra từ vai bên trái, di chuyển qua vũ trụ vô tận ở phía bắc. Hào quang có màu sắc như màu ngọc san hô phát ra từ lòng đất dưới chân Ngài và xuyên thủng vào Đại địa, xẻ nước ra làm đôi, bẻ gãy cơn gió. di chuyển suốt trong hư không không có rào cản. 

sīsato samparivattiyamānaṃ maṇidāmaṃ viya nīlavaṇṇā rasmivaṭṭi uṭṭhahitvā cha devaloke vinivijjhitvā nava brahmaloke vehapphale pañca suddhāvāse ca vinivijjhitvā cattāro āruppe atikkamma ajaṭākāsaṃ pakkhandā. tasmiṃ divase aparimāṇesu cakkavāḷesu aparimāṇā sattā sabbe suvaṇṇavaṇṇāva ahesuṃ. taṃ divasañca pana bhagavato sarīrā nikkhantā yāvajjadivasāpi tā rasmiyo anantā lokadhātuyo gacchantiyeva. 

 A Nó giống như một chùm ngọc xoay tròn từ đầu của Đức Phật, xuyên qua sáu cõi trời, qua chín cõi trời và bay qua A-xà-thế. Tất cả họ đều có đẳng cấp vàng. Rồi vào ngày hôm đó, những hào quang tỏa ra từ thân thể của Đức Thế Tôn vẫn tiếp tục trong suốt thế giới vĩnh cửu Thậm chí ngày nay. Quầng xanh xoắn ốc xen lẫn giống như một khối ngọc Ma-ni xoay tròn phát ra từ đỉnh đầu của đức Phật, xuyên qua sáu cõi trời Dục giới, qua chín cõi Phạm thiên và xuyên qua hư không Ajaṭākāsa. Ngày hôm đó tất cả chúng sanh vô lượng trong vũ trụ không thể ước chừng được đều có màu da như màu vàng rồng. Cũng vào ngày hôm đó, hào quang ấy phát ra từ thân thể của đức Thế Tôn vẫn tiếp tục duy trì xuyên suốt thế giới vô tận thậm chí đến ngày nay. 

evaṃ bhagavā ajapālanigrodhe sattāhaṃ vītināmetvā tato aparaṃ sattāhaṃ mucalinde nisīdi, nisinnamattasseva cassa sakalaṃ cakkavāḷagabbhaṃ pūrento mahāakālamegho udapādi. evarūpo kira mahāmegho dvīsuyeva kālesu vassati cakkavattimhi vā uppanne buddhe vā. idha buddhakāle udapādi. tasmiṃ pana uppanne mucalindo nāgarājā cintesi — “ayaṃ megho satthari mayhaṃ bhavanaṃ paviṭṭhamatteva uppanno, vāsāgāramassa laddhuṃ vaṭṭatī”ti. so sattaratanamayaṃ pāsādaṃ nimminituṃ sakkontopi evaṃ kate mayhaṃ mahapphalaṃ na bhavissati, dasabalassa kāyaveyyāvaccaṃ karissāmīti mahantaṃ attabhāvaṃ katvā satthāraṃ sattakkhattuṃ bhogehi parikkhipitvā upari phaṇaṃ dhāresi. parikkhepassa anto okāso heṭṭhā lohapāsādappamāṇo ahosi. icchiticchitena iriyāpathena satthā viharissatīti nāgarājassa ajjhāsayo ahosi. tasmā evaṃ mahantaṃ okāsaṃ parikkhipi. majjhe ratanapallaṅko paññatto hoti, upari suvaṇṇatārakavicittaṃ samosaritagandhadāmakusumadāmacelavitānaṃ ahosi. catūsu koṇesu gandhatelena dīpā jalitā, catūsu disāsu vivaritvā candanakaraṇḍakā ṭhapitā. evaṃ bhagavā taṃ sattāhaṃ tattha vītināmetvā tato aparaṃ sattāhaṃ rājāyatane nisīdi. 

Như vậy đức Thế Tôn khi tĩnh tọa ở dưới gốc cây Ajapālanigrodha trải qua trọn bảy ngày với trạng thái như vậy, kể từ đó Ngài ngồi ở vị trí Muccalinda thêm một lần nữa, chỉ khi đấng Thế Tôn ngồi xuống một cơn mưa lớn trái mùa cũng đã xảy ra, làm cho lâp đầy trong lòng vũ trụ. Kể rằng cơn mưa lớn đó chỉ rơi xuống 2 lần là khi đức Vua Chuyển Luân xuất hiện và đức Phật xuất hiện, lần này khởi lên do đức Phật xuất hiện. Khi cơn mưa lớn xuất hiện rồng chúa Mucalindo nghĩ rằng: “Cơn mưa này này xuất hiện khi bậc Đạo Sư đi đến thế giới của ta.Ngài nên có một ngôi nhà để che mưa.” Rồng chúa  Mucalindo cũng nghĩ rằng: ‘Dẫu ta có thể hóa hiện lâu đài 7 báu, khi làm như vậy thì sẽ không có kết quả to lớn, ta sẽ nỗ lực bằng cách cúng dường  thập lực, rồi phình to thân ra bản thân để được lớn, lấy thân bao quanh bậc Đạo Sư thành 7 tầng và phần đầu đặt trên đỉnh đầu, khoảng trống bên trong phần bụng, phần bên dưới có kích thước của một lâu đài bằng đồng. Rồng chúa có phỏng đoán rằng bậc Đạo Sư sẽ trú thuận theo các oai nghi mà ngài muốn. Bởi thế bới bao quanh một khoảng trống lớn như vậy. Trang trí một bảo tọa bằng ngọc báu ở chính giữa, có mái che xanh bằng vải với những vật thơm. Những vòng hoa được trang trí bằng những ngôi sao vàng bên trên. Những ngọn đèn dầu thơm được thắp sáng ở bốn góc, đặt hộp gỗ đàn hương được mở ra ở bốn hướng. Đức Thế Tôn trú ở chõ rồng chúa Mucalinda trọn bảy ngày với trạng thái như thế, kể từ đó ngài cũng đã ngồi an trú vào thiền định bảy ngày đêm ở cội cây Rājāyatana. 

aṭṭhame sattāhe sakkena devānamindena ābhataṃ dantakaṭṭhañca osadhaharītakañca P.2.186 khāditvā mukhaṃ dhovitvā catūhi lokapālehi upanīte paccagghe selamaye patte tapussabhallikānaṃ piṇḍapātaṃ paribhuñjitvā puna paccāgantvā ajapālanigrodhe nisinnassa sabbabuddhānaṃ āciṇṇo ayaṃ vitakko udapādi. 

Tuần lễ thứ 8 từ cội cây Rājāyatana, Ngài nhai dantakaṭṭha (thuốc chữa răng miệng) và một loại trái tên là osadhaharītaka được vua trời Sakka mang đến cúng dường. Sau khi súc miệng, Tứ Địa Thiên vương hộ trì bốn châu mang bình bát có giá trị đặc biệt đến cúng dường. Sau khi thọ dụng vật thực khất thực của hai thương buông Tapussa và Bhallika, rồi quay trở lại và ngồi xuống ở cội cây ajapālanigrodha, ngài sinh ra trong sự hoảng loạn mà tất cả chư Phật trong quá khứ đã từng hoảng sợ, rồi khởi lên suy tầm này mà chư Phật cũng từng đã suy tầm. 

tattha paṇḍitoti paṇḍiccena samannāgato. viyattoti veyyattiyena samannāgato. medhāvīti ṭhānuppattiyā paññāya samannāgato. apparajakkhajātikoti samāpattiyā vikkhambhitattā nikkilesajātiko visuddhasatto. ājānissatīti sallakkhessati paṭivijjhissati. ñāṇañca pana meti mayhampi sabbaññutaññāṇaṃ uppajji. bhagavā kira devatāya kathiteneva niṭṭhaṃ agantvā sayampi sabbaññutaññāṇena olokento ito sattamadivasamatthake kālaṃ katvā ākiñcaññāyatane nibbattoti addasa. taṃ sandhāyāha — “ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādī”ti. 

Ở đó, Bậc trí là vị hội đủ tính chất là bậc trí. Viyatto (thông minh) là vị hội đủ với tinh thần sáng suốt. Medhāvī (có tuệ) là người hội đủ trí tuệ làm nền tảng. Apparajakkhajātiko (người có phiền não giống như chút ít hạt bụi trong tròng mắt) là chúng sanh tịnh khiết mọi phiền não, nguyên nhân chế ngự được bằng các thiền chứng. ājānissati (sẽ biết) là nhận biết thấu triệt. ñāṇañca pana me (ta khởi lên trí tuệ và sự nhận thức): Trí toàn giác khởi lên nơi ta. Kể rằng đức Thế Tôn không chỉ đồng ý lời nói của vị Thiện, ngài tự quán xét bằng Trí toàn giác biết rằng đạo sĩ Āḷāra Kālāmaputta đã từ trần được 7 ngày tính từ ngày hôm này, hóa sanh trong cõi Vô sở hữu xứ. Đức Thế Tôn muốn đề cập đến điều này mới nói rằng: “Ta khởi lên trí tuệ và sự nhận thức biết được như vậy”. 

mahājāniyoti sattadivasabbhantare pattabbamaggaphalato parihīnattā mahatī jāni assāti mahājāniyo. akkhaṇe nibbattattā gantvā desiyamānaṃ dhammampissa sotuṃ sotappasādo natthi, idha dhammadesanaṭṭhānaṃ āgamanapādāpi natthi, evaṃ mahājāniyo jātoti dasseti. abhidosakālaṅkatoti aḍḍharatte kālaṅkato. ñāṇañca pana meti mayhampi sabbaññutaññāṇaṃ udapādi. idhāpi kira bhagavā devatāya vacanena sanniṭṭhānaṃ akatvā sabbaññutaññāṇena olokento “hiyyo aḍḍharatte kālaṅkatvā udako rāmaputto nevasaññānāsaññāyatane nibbatto”ti addasa. tasmā evamāha. sesaṃ purimanayasadisameva. bahukārāti bahūpakārā. padhānapahitattaṃ upaṭṭhahiṃsūti padhānatthāya pesitattabhāvaṃ vasanaṭṭhāne pariveṇasammajjanena pattacīvaraṃ gahetvā anubandhanena mukhodakadantakaṭṭhadānādinā ca upaṭṭhahiṃsu. ke pana te pañcavaggiyā nāma? yete — 

Một mất mát lớn: gọi là mất mát lớn bởi có sự thiệt hại lớn, nguyên nhân người mất mát từ Đạo Quả. Có thể chứng đắc trong vòng 7 ngày. Đạo sĩ Āḷāra Kālāmaputta không có nhĩ thức để nghe thuyết pháp ngay cả khi Ngài đi đến để thuyết giảng bởi vì ngài đã hóa sanh không thuận lợi (vào thời điểm không thích hợp, đức Phật chưa xuất hiện), cơ hội thuyết giảng Giáo Pháp này dầu chỉ một câu cũng không có. Vì thế nên ngài mới nói rằng khởi lên một mất mát lớn. Đã mệnh chung ngày hôm qua: đã từ trần vào đêm qua. ñāṇañca pana me (ta khởi lên trí tuệ và sự nhận thức): và Trí tuệ toàn giác cũng đã khởi lên nơi ta. Kể rằng đức Thế Tôn không đồng thuận theo lời nói của vị Thiên, xem xét bằng trí Toàn giác nhìn thấy rằng đạo sĩ Udaka Rāmaputta đã từ trần lúc nửa đêm hôm qua, đã hóa sanh vào cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vì thế Ngài mới nói như vậy. Các từ còn lại tương tự phương thức ban đầu. Bahukārā dịch là có nhiều lợi ích. padhānapahitattaṃ upaṭṭhahiṃsu (đã hầu hạ Ta khi Ta còn nỗ lực tinh cần) nhóm pañcavaggiyā hỗ trợ ta, người đã thiết lập theo đuổi sự tinh tấn với việc quét dọn khu vực chỗ ở, tiếp nhận bình bát y phục mang theo (bên mình) và với việc dâng nước súc miệng, cây chà răng v.v, nhóm pañcavaggiyā nào? 

♦ rāmo dhajo lakkhaṇo jotimanti, yañño subhojo suyāmo sudatto. 

♦ ete tadā aṭṭha ahesuṃ brāhmaṇā, chaḷaṅgavā mantaṃ viyākariṃsūti. 

bodhisattassa P.2.187 jātakāle supinapaṭiggāhakā ceva lakkhaṇapaṭiggāhakā ca aṭṭha brāhmaṇā. tesu tayo dvedhā byākariṃsu — “imehi lakkhaṇehi samannāgato agāraṃ ajjhāvasamāno rājā hoti cakkavattī, pabbajamāno buddho”ti. pañca brāhmaṇā ekaṃsabyākaraṇā ahesuṃ — “imehi lakkhaṇehi samannāgato agāre na tiṭṭhati, buddhova hotī”ti. tesu purimā tayo yathāmantapadaṃ gatā, ime pana pañca mantapadaṃ atikkantā. te attanā laddhaṃ puṇṇapattaṃ ñātakānaṃ vissajjetvā “ayaṃ mahāpuriso agāraṃ na ajjhāvasissati, ekantena buddho bhavissatī”ti nibbitakkā bodhisattaṃ uddissa samaṇapabbajjaṃ pabbajitā. tesaṃ puttātipi vadanti. taṃ aṭṭhakathāya paṭikkhittaṃ. 

Tức là 8 vị Bà-la-môn là vị tiên đoán về giấc mơ và vị xét đoán các tướng tốt trong lúc Bồ-tát sanh ra bằng kệ ngôn liên kết sau:  

Lúc ấy có 8 vị Bà-la-môn là Rāmo Dhajo Lakkhaṇo Jotimanti, Yañño Subhojo Suyāmo Sudatto, sử dụng 6 yếu tố chú thuật để xét đoán (đặc điểm).  

Trong số 8 vị Bà-la-môn thờ 3 vị xét đoán (ngài) chỉ có 2 hướng đi – “người hội đủ đặc tướng này (nếu) sống đời sống tại gia sẽ trở thành vị Chuyển Luân Thánh Vương, (nếu) xuất gia sẽ trở thành Phật.” Còn 5 vị xét đoán rằng chỉ có một hướng đi duy nhất – “người hội đủ những đắc tướng này sẽ không sống đời sống tại gia, sẽ chỉ (xuất gia) trở thành Phật.” Trong số các vị đó, 3 vị đầu nắm lấy theo câu chú thuật, còn năm vị kia vượt ngoài câu chú thuật. Họ mới từ bỏ những phần quà được đểu đầy trong chậu mà bản thân được nhận từ thân quyến, hết sạch hoài nghi rằng “Bậc Đại Nhân sẽ không sống đời sống tại gia, sẽ chỉ xuất gia trở thành Phật, mới xuất gia làm Sa-môn để liên quan đến Bồ-tát. Một số vị thầy nói rằng ‘nhóm xuất gia trở thành con của Bà-la-môn như thế cũng có.” Lời đó chú giải bát bỏ. 

ete kira daharakāleyeva bahū mante jāniṃsu, tasmā te brāhmaṇā ācariyaṭṭhāne ṭhapayiṃsu. te pacchā amhehi puttadārajaṭaṃ chaḍḍetvā na sakkā bhavissati pabbajitunti daharakāleyeva pabbajitvā ramaṇīyāni senāsanāni paribhuñjantā vicariṃsu. kālena kālaṃ pana “kiṃ, bho, mahāpuriso mahābhinikkhamanaṃ nikkhanto”ti pucchanti. manussā, “kuhiṃ tumhe mahāpurisaṃ passissatha, tīsu pāsādesu tividhanāṭakamajjhe devo viya sampattiṃ anubhotī”ti vadanti. te sutvā, “na tāva mahāpurisassa ñāṇaṃ paripākaṃ gacchatī”ti appossukkā vihariṃsuyeva. kasmā panettha bhagavā, “bahukārā kho ime pañcavaggiyā”ti āha? kiṃ upakārakānaṃyeva esa dhammaṃ deseti, anupakārakānaṃ na desetīti? no na deseti. paricayavasena hesa āḷārañceva kālāmaṃ udakañca rāmaputtaṃ olokesi. etasmiṃ pana buddhakkhette ṭhapetvā aññāsikoṇḍaññaṃ paṭhamaṃ dhammaṃ sacchikātuṃ samattho nāma natthi. kasmā? Tathāvidhaupanissayattā. 

Kể rằng năm vị Bà-la-môn ấy khi còn trẻ đã biết nhiều chú thuật nên được đứng ở vị trí làm thầy. Sau đó, những người Bà-la-môn đó nghĩ rằng: Chúng ta không thể cắt đoạn những người con trai và người vợ để xuất gia, vì vậy chúng ta đã xuất gia khi chúng ta còn trẻ. Sử dụng sàng tọa dễ chịu để cùng nhau du hành. Nhưng sau đó, hỏi nhau rằng liệu bậc Đại Nhân đã rời khỏi (hoàng cung) để xuất gia hay chưa? Các Ngài sẽ gặp bậc Đại Nhân ở đâu? Ngài thọ hưởng tài sản như các vị Thiên, ở giữa có 3 hạng cung nữ trong ba toà lâu đài theo mùa. Các vị Bà-la-môn nghĩ rằng trí tuệ của bậc Đại Nhân vẫn chưa chín muồi, nên họ (trở nên) sống ít nỗ lực. (Hỏi) vì sao? Đức Thế Tôn nói rằng “năm vị ẩn sĩ có nhiều sự hỗ trợ cho Ta” ngài sẽ chỉ thuyết giảng Pháp đến cho nhóm người có nhiều sự trợ giúp, không thuyết giảng Giáo Pháp cho người không có sự hỗ trợ sao? (Đáp) không phải không thuyết giảng Giáo Pháp, sự thật Ngài quán xét xem đạo sĩ Āḷāra Kālāma và Udaka Rāmaputta bởi sự tích lũy Ba-la-mật. Nhưng loại trừ ngài Aññāsikoṇḍañña cũng không có người khả năng thực hiện để chứng ngộ  ở ruộng phước đức Phật này. Vì sao? Bởi vì Ngài Aññāsikoṇḍañña có 3 upanissaya. 

pubbe kira puññakaraṇakāle dve bhātaro ahesuṃ. te ekatova sassaṃ akaṃsu. tattha jeṭṭhakassa V.2.90 “ekasmiṃ sasse navavāre aggasassadānaṃ mayā dātabban”ti ahosi. so vappakāle bījaggaṃ nāma datvā gabbhakāle kaniṭṭhena saddhiṃ mantesi — “gabbhakāle gabbhaṃ phāletvā dassāmā”ti. kaniṭṭho “taruṇasassaṃ nāsetukāmosī”ti āha. jeṭṭho kaniṭṭhassa ananuvattanabhāvaṃ ñatvā khettaṃ vibhajitvā attano koṭṭhāsato gabbhaṃ phāletvā khīraṃ nīharitvā sappiphāṇitehi yojetvā adāsi, puthukakāle puthukaṃ kāretvā adāsi, lāyane lāyanaggaṃ veṇikaraṇe veṇaggaṃ kalāpādīsu kalāpaggaṃ khaḷaggaṃ bhaṇḍaggaṃ koṭṭhagganti evaṃ ekasasse navavāre aggadānaṃ adāsi. kaniṭṭho panassa uddharitvā adāsi, tesu jeṭṭho aññāsikoṇḍaññatthero jāto, kaniṭṭho subhaddaparibbājako. iti ekasmiṃ sasse navannaṃ aggadānānaṃ dinnattā ṭhapetvā theraṃ añño paṭhamaṃ dhammaṃ sacchikātuṃ samattho nāma natthi. “bahukārā kho ime pañcavaggiyā”ti idaṃ pana upakārānussaraṇamattakeneva vuttaṃ.