Kinh số 152 – Giải Thích Kinh Sự Phát Triển Quyền

(Indriyabhāvanāsuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Căn tu tập

453. Evaṃ me sutanti Indriyabhāvanāsuttaṃ. Tattha Gajaṅgalāyanti[1] evaṃnāmake nigame. Suveḷuvaneti suveḷu nāma ekā rukkhajāti, tehi sañchanno mahāvanasaṇḍo, tattha viharati. Cakkhunā rūpaṃ na passati, sotena saddaṃ na suṇātīti cakkhunā rūpaṃ na passitabbaṃ, sotena saddo na sotabboti evaṃ desetīti adhippāyena vadati.

453. Kinh Sự Phát Triển Quyền được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, thị trấn Gajaṅgalāya: Trong thị trấn có tên gọi như vậy. Ở rừng trúc: Suveḷu là một loại cây (rừng trúc hoặc rừng tre), được bao phủ bởi những bụi cây ấy tạo thành khu rừng lớn rậm rạp, Đức Thế Tôn trú tại đó. Không nhìn cảnh sắc bằng mắt, không nghe âm thanh bằng tai: Thanh niên Uttara nói câu ấy với ý muốn [diễn đạt rằng] Bà-la-môn Pārasariya giảng dạy như vầy: ‘Không nên nhìn cảnh sắc bằng mắt, không nên nghe âm thanh bằng tai.’

Aññathā ariyassa vinayeti iminā Bhagavā attano sāsane asadisāya indriyabhāvanāya kathanatthaṃ ālayaṃ akāsi. Athāyasmā Ānando — “satthā ālayaṃ dasseti, handāhaṃ imissaṃ parisati bhikkhusaṅghassa indriyabhāvanākathaṃ kāremī”ti satthāraṃ yācanto etassa bhagavātiādimāha. Athassa Bhagavā indriyabhāvanaṃ kathento tena hānandātiādimāha.

Với lời nói này — “trong giới luật của bậc Thánh là một cách khác” – đức Thế Tôn đã tạo ra duyên cớ để thuyết giảng về sự tu tập quyền vô song trong giáo pháp của ngài. Tôn giả Ānanda nghĩ rằng – “Bậc Đạo Sư bày tỏ ý định sẽ thuyết giảng, như vậy ta sẽ khẩn cầu ngài thuyết giảng về vấn đề sự phát triển quyền cho các Tỳ khưu ở trong hội chúng này” Khi thỉnh cầu Đức Thế Tôn, Tôn giả nói: “Kính bạch đức Thế Tôn, nay đã đến thời!” Sau đó, đức Thế Tôn, nhân khi thuyết giảng sự tu tập quyền cho ngài Ānanda, đã nói rằng: “Này Ānanda, nếu vậy v.v,”

454. Tatha yadidaṃ upekkhāti yā esā vipassanupekkhā nāma, esā santā esā paṇītā, atappikāti attho. Iti ayaṃ bhikkhu cakkhudvāre rūpārammaṇampi iṭṭhe ārammaṇe manāpaṃ, aniṭṭhe amanāpaṃ, majjhatte manāpāmanāpañca cittaṃ, tassa rajjituṃ vā dussituṃ vā muyhituṃ vā adatvāva pariggahetvā vipassanaṃ majjhatte ṭhapeti. cakkhumāti sampannacakkhuvisuddhanetto. cakkhābādhikassa hi uddhaṃ ummīlananimmīlanaṃ na hoti, tasmā so na gahito.

454. Trong những lời ấy ‘đó là xả’: Chỉ xả tuệ quán (vipassanupekkhā) ấy – xả này an tịnh, xả này thù thắng, xả này không bị thiêu đốt.

Vị Tỳ-khưu ấy, khi sắc hiện khởi tại nhãn môn, dù đối tượng đáng ưa thích, không đáng ưa thích, hay trung tính, vị ấy không để tâm bị tham nhiễm, không bị sân hận, không bị si mê. Thay vào đó, vị ấy nắm bắt đối tượng, thiết lập tuệ quán ở trạng thái xả trung tính.

Có mắt tốt: Có mắt hoàn hảo, mắt trong sáng, thanh tịnh. Thật vậy, người bị bệnh mắt thì không thể mở mắt ra hoặc nhắm mắt lại một cách dễ dàng, do đó hạng người ấy không được tính vào (không được xem là có “mắt tốt” theo nghĩa ẩn dụ).

456. Īsakaṃpoṇeti rathīsā viya uṭṭhahitvā ṭhite.

461. Paṭikūle appaṭikūlasaññītiādīsu paṭikūle mettāpharaṇena vā dhātuso upasaṃhārena vā appaṭikūlasaññī viharati. Appaṭikūle asubhapharaṇena vā aniccato upasaṃhārena vā paṭikūlasaññī viharati. Sesapadesupi eseva nayo. Tadubhayaṃ abhinivajjetvāti majjhatto hutvā viharitukāmo kiṃ karotīti? Iṭṭhāniṭṭhesu āpāthagatesu neva somanassiko na domanassiko hoti. Vuttañhetaṃ —

456. Được nghiêng một chút: Nghĩa là ở trạng thái dựng đứng nhưng hơi nghiêng đi một chút, giống như cây cột xe (rathīsā – trục hoặc đòn xe) dựng lên rồi hơi lệch.

461. Có sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm đối với vật nhờm gớm:

  • Với vật đáng ghê tởm, vị ấy an trú bằng cách rải tâm từ hoặc liên tưởng về bản thể, nên thấy nó là không ghê tởm.
  • Với vật không ghê tởm, vị ấy an trú bằng cách quán bất tịnh hoặc liên tưởng vô thường, nên thấy nó là ghê tởm.
  • Các trường hợp còn lại cũng theo phương thức tương tự.

Sau khi loại bỏ hoàn toàn cả hai thái cực ấy, vị ấy muốn an trú ở trạng thái trung lập thì làm thế nào? Khi đối tượng đáng ưa thích và không đáng ưa thích hiện khởi, vị ấy không hoan hỷ, cũng không phiền muộn, mà an trú với tâm xả, có niệm và tỉnh giác.

 Điều này đã được đức Phật thuyết rằng:

“Kathaṃ paṭikūle appaṭikūlasaññī viharati? Aniṭṭhasmiṃ vatthusmiṃ mettāya vā pharati, dhātuto vā upasaṃharati, evaṃ paṭikūle appaṭikūlasaññī viharati. Kathaṃ appaṭikūle paṭikūlasaññī viharati? Iṭṭhasmiṃ vatthusmiṃ asubhāya vā pharati, aniccato vā upasaṃharati, evaṃ appaṭikūle paṭikūlasaññī viharati. Kathaṃ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī viharati? Aniṭṭhasmiñca iṭṭhasmiñca vatthusmiṃ mettāya vā pharati, dhātuto vā upasaṃharati. Evaṃ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī viharati. Kathaṃ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī viharati? Iṭṭhasmiñca aniṭṭhasmiñca vatthusmiṃ asubhāya vā pharati, aniccato vā upasaṃharati, evaṃ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī viharati. Kathaṃ paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṃ abhinivajjetvā upekkhako viharati sato sampajāno? Idha bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno … pe … manasā dhammaṃ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Evaṃ paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṃ abhinivajjetvā upekkhako viharati sato sampajāno”ti.

“Thế nào là an trú vào vật đáng ghê tởm với sự nghĩ tưởng không ghê tởm? Đối với đối tượng không mong muốn, vị ấy rải tâm từ hoặc liên tưởng về bản thể; như vậy là an trú vào vật đáng ghê tởm với sự nghĩ tưởng không ghê tởm.

Thế nào là an trú vào vật không ghê tởm với sự nghĩ tưởng ghê tởm? Đối với đối tượng mong muốn, vị ấy quán bất tịnh hoặc liên tưởng vô thường; như vậy là an trú vào vật không ghê tởm với sự nghĩ tưởng ghê tởm.

Thế nào là an trú vào cả vật đáng ghê tởm và không ghê tởm với sự nghĩ tưởng không ghê tởm? Đối với cả đối tượng không mong muốn và mong muốn, vị ấy rải tâm từ hoặc liên tưởng về bản thể; như vậy là an trú vào cả hai với sự nghĩ tưởng không ghê tởm.

Thế nào là an trú vào cả vật đáng ghê tởm và không ghê tởm với sự nghĩ tưởng ghê tởm? Đối với cả hai, vị ấy quán bất tịnh hoặc liên tưởng vô thường; như vậy là an trú vào cả hai với sự nghĩ tưởng ghê tởm.

Thế nào là an trú vào vật đáng ghê tởm và không ghê tởm, sau khi loại bỏ cả hai, với tâm xả, có niệm và tỉnh giác? Ở đây, vị Tỳ-khưu thấy sắc bằng mắt mà không vui không buồn, an trú với tâm xả, có niệm và tỉnh giác… (và tương tự cho các căn còn lại, cho đến) nhận thức pháp bằng ý mà không vui không buồn, an trú với tâm xả, có niệm và tỉnh giác. Như vậy là an trú vào vật đáng ghê tởm và không ghê tởm, sau khi loại bỏ cả hai, với tâm xả, có niệm và tỉnh giác.”

Imesu ca tīsu nayesu paṭhamanaye manāpaṃ amanāpaṃ manāpāmanāpanti saṃkilesaṃ vaṭṭati, nikkilesaṃ vaṭṭati. dutiyanaye saṃkilesaṃ, tatiyanaye saṃkilesanikkilesaṃ vaṭṭati. Puna vuttaṃ — “paṭhamaṃ saṃkilesaṃ vaṭṭati, dutiyaṃ saṃkilesampi nikkilesampi, tatiyaṃ nikkilesameva vaṭṭatī”ti. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

Trong ba phương thức trên:

  • Phương thức thứ nhất: cả tham nhiễm (saṃkilesa – phiền não) và không phiền não đều có thể áp dụng (manāpaṃ amanāpaṃ manāpāmanāpaṃ).
  • Phương thức thứ hai: chỉ phiền não áp dụng.
  • Phương thức thứ ba: cả phiền não và không phiền não đều áp dụng.

Như có lời dạy thêm: “Phương thức thứ nhất là phiền não thích hợp, phương thức thứ hai là cả phiền não lẫn không phiền não, phương thức thứ ba chỉ là không phiền não thích hợp.”

Từ còn lại trong các câu đều đơn giản.

Giải Thích Kinh Sự Phát Triển Quyền Kết Thúc.

Yo cāyaṃ “sabbadhammamūlapariyāyaṃ vo, bhikkhave, desissāmī”ti āraddhattā ādikalyāṇo, majjhe “suttaṃ geyyaṃ veyyākaraṇaṃ gāthā udānaṃ itivuttakaṃ jātakaṃ abbhutadhammaṃ vedallan”ti vacanato majjhekalyāṇo, sanniṭṭhāne “ariyo bhāvitindriyo”ti vacanato pariyosānakalyāṇoti tividhakalyāṇo majjhimanikāyo “mahāvipassanā nāmāyan”ti vutto, so vaṇṇanāvasena samatto hoti.

Như thế Trung Bộ Kinh “được gọi là Đại trí tuệ Minh sát – Mahāvipassanā” vì có 3 sự toàn hảo:

    • Toàn hảo ở đoạn đầu: Bắt đầu với câu “Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông về Pháp Môn Căn Bản của tất cả pháp” (Kinh Mūlapariyāya).

    • Toàn hảo ở đoạn giữa: Qua việc thuyết giảng chín thể loại giáo lý (Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ ngôn, Tự thuyết, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng).

    • Toàn hảo ở đoạn cuối: Kết thúc với lời dạy về “Bậc Thánh đã tu tập các căn” (Kinh Indriyabhāvanā).

    Như vậy, việc giải thích (chú giải) cho Kinh Trung Bộ đến đây là hoàn tất trọn vẹn.

 

 


[1] Sī. Kajaṅgalāyanti