Kinh số 149 – Giải Thích Đại Kinh Sáu Xứ

(Chachakkasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Đại Kinh Sáu Xứ

428. Evaṃ me sutanti mahāsaḷāyatanikasuttaṃ. tattha mahāsaḷāyatanikanti mahantānaṃ channaṃ āyatanānaṃ jotakaṃ dhammapariyāyaṃ.

428. Đại Kinh Sáu Xứ được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, Đại Kinh Sáu Xứ: là Pháp môn làm sáng tỏ cả 6 xứ quan trọng.

429. Ajānanti sahavipassanena maggena ajānanto. Upacayaṃ gacchantīti vuḍḍhiṃ gacchanti, vasibhāvaṃ gacchantīti attho. Kāyikāti pañcadvārikadarathā. Cetasikāti manodvārikadarathā. Santāpādīsupi eseva nayo.

429. Khi không biết: không biết bằng Đạo cùng với Minh sát. Đi đến tích trữ: đi đến sự phát triển, là đi đến sự thông thạo. Thuộc về thân: là những sự phiền nhiệt (daratha) thuộc về ngũ môn. Thuộc về tâm: là những sự phiền nhiệt thuộc về ý môn. Sự nóng bức v.v, có phương thức tương tự.

430. Kāyasukhanti pañcadvārikasukhaṃ. Cetosukhanti manodvārikasukhaṃ. Ettha ca pañcadvārikajavanena samāpajjanaṃ vā vuṭṭhānaṃ vā natthi, uppannamattakameva hoti. Manodvārikena sabbaṃ hoti. Ayañca maggavuṭṭhānassa paccayabhūtā balavavipassanā, sāpi manodvārikeneva hoti.

430. Sự an lạc của thân: Sự an lạc của 5 môn. Sự an lạc của tâm: sự an lạc của ý môn. Và ở đây, đối với đổng lực (javana) thuộc ngũ môn thì không có sự nhập vào (thiền/đạo) hay xuất ra, mà nó chỉ đơn thuần sanh khởi rồi diệt. Tất cả [việc nhập và xuất] đều xảy ra bằng [đổng lực] thuộc ý môn. Và lại nữa, Minh sát mạnh mẽ làm duyên cho sự Xuất khởi của Đạo (maggavuṭṭhāna), Minh sát ấy cũng chỉ xảy ra nương vào ý môn mà thôi.

431. Tathābhūtassāti[1] kusalacittasampayuttacetosukhasamaṅgībhūtassa. Pubbeva kho panassāti assa bhikkhuno vācākammantājīvā pubbasuddhikā nāma ādito paṭṭhāya parisuddhāva honti. diṭṭhisaṅkappavāyāmasatisamādhisaṅkhātāni pana pañcaṅgāni sabbatthakakārāpakaṅgāni nāma. Evaṃ lokuttaramaggo aṭṭhaṅgiko vā sattaṅgiko vā hoti.

431. Hạng người như thế: là hạng người hội đủ sự an lạc của tâm tương ưng với tâm thiện. Còn…của vị ấy được thanh tịnh tốt đẹp ở phần đầu: nghĩa là Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mạng của vị Tỳ-khưu ấy được gọi là “thanh tịnh từ trước” (pubbasuddhikā), tức là đã hoàn toàn trong sạch kể từ lúc ban đầu [trước khi Đạo sanh khởi]. Còn 5 chi phần là: [Chánh] kiến, [Chánh] tư duy, [Chánh] tinh tấn, [Chánh] niệm, [Chánh] định được gọi là những chi phần tạo tác trong mọi trường hợp (sabbatthaka-kārāpaka). Như vậy, Đạo Siêu thế có 8 chi hoặc 7 chi.[1]

Vitaṇḍavādī pana “yā yathābhūtassa diṭṭhī”ti imameva suttapadesaṃ gahetvā “lokuttaramaggo pañcaṅgiko”ti vadati. so — “evamassāyaṃ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṃ gacchatī”ti iminā anantaravacaneneva paṭisedhitabbo. Uttari ca evaṃ saññāpetabbo — lokuttaramaggo pañcaṅgiko nāma natthi, imāni pana pañca sabbatthakakārāpakaṅgāni maggakkhaṇe virativasena pūrenti. “yā catūhi vacīduccaritehi ārati viratī”ti evaṃ vuttaviratīsu hi micchāvācaṃ pajahati, sammāvācaṃ bhāveti, evaṃ sammāvācaṃ bhāventassa imāni pañcaṅgikāni na vinā, saheva viratiyā pūrenti. sammākammantājīvesupi eseva nayo. Iti vacīkammādīni ādito paṭṭhāya parisuddhāneva vaṭṭanti. Imāni pana pañca sabbatthakakārāpakaṅgāni virativasena paripūrentīti pañcaṅgiko maggo nāma natthi. Subhaddasuttepi[2] cetaṃ vuttaṃ — “yasmiṃ kho, subhadda, dhammavinaye ariyo aṭṭhaṅgiko maggo”ti. Aññesu ca anekesu suttasatesu aṭṭhaṅgikova maggo āgatoti.

Lại nữa, kẻ ngụy biện (Vitaṇḍavādī) nắm lấy một câu trong bài kinh là “cái thấy của người quán sát như thực”, rồi cho rằng: “Đạo Siêu thế [chỉ] có 5 chi”. Kẻ ấy cần phải bị bác bỏ bằng chính câu nói tiếp liền theo đó [trong kinh] là: “như vậy Thánh Đạo tám ngành của vị ấy đi đến sự tu tập viên mãn”.

Hơn nữa, cần phải làm cho [hắn] hiểu rõ như vầy: Không hề có cái gọi là Đạo Siêu thế [chỉ] có 5 chi. 5 chi phần “tạo tác trong mọi trường hợp” này (sabbatthaka-kārāpaka) được làm cho viên mãn vào sát-na Đạo cùng với sự Tiết chế (Virati). Thật vậy, trong các sự Tiết chế được nói đến như: “sự tránh xa, sự tiết chế khỏi 4 ác hạnh về lời nói”, thì [hành giả] đoạn trừ Tà ngữ và tu tập Chánh ngữ. Khi tu tập Chánh ngữ như vậy, 5 chi phần kia không phải là không có (na vinā), mà chúng được làm cho viên mãn cùng với sự Tiết chế. Đối với Chánh nghiệp và Chánh mạng cũng theo phương thức ấy. [2]

Như vậy, các khẩu nghiệp v.v… diễn tiến hoàn toàn thanh tịnh ngay từ đầu. Còn 5 chi phần “tạo tác trong mọi trường hợp” này được làm cho viên mãn cùng với sự Tiết chế, do đó không có cái gọi là Đạo 5 chi. Điều này cũng đã được nói đến trong kinh Subhadda: “Này Subhadda, trong Pháp-Luật nào [không có] Thánh Đạo tám ngành…”. Và trong hàng trăm bài kinh khác cũng chỉ nói đến Đạo tám ngành mà thôi.

433. Cattāropi satipaṭṭhānāti maggasampayuttāva cattāro satipaṭṭhānā. sammappadhānādīsupi eseva nayo. Yuganandhāti[3] ekakkhaṇikayuganandhā. etehi aññasmiṃ khaṇe samāpatti, aññasmiṃ vipassanāti. evaṃ nānākhaṇikāpi honti, ariyamagge pana ekakkhaṇikā.

Vijjā ca vimutti cāti arahattamaggavijjā ca phalavimutti ca. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

433. Cả bốn sự thiết lập niệm: là bốn niệm xứ tương ưng với Đạo. Đối với Chánh cần v.v… cũng theo phương thức ấy. Được chuyển vận song hành: nghĩa là song hành trong cùng một sát-na (ekakkhaṇika). [Bởi vì] các pháp ấy (Chỉ và Quán) có thể khác sát-na nhau, như là: ở sát-na khác là Thiền chứng (Chỉ), ở sát-na khác là Minh sát (Quán). Nhưng trong Thánh Đạo, chúng diễn ra trong cùng một sát-na. Minh và sự giải thoát: là Minh thuộc về A-la-hán Đạo và Giải thoát thuộc về [A-la-hán] Quả. Từ còn lại trong các câu đều đơn giản.

Giải Thích Đại Kinh Sáu Xứ Kết Thúc.

 


[1] Sī. yathābhūtassāti

[2] dī. ni. 2.214

[3] Ka. yuganaddhāti

Chú giải

Chú giải
↥1

Giải thích về “8 chi hoặc 7 chi”:

  • Theo Vi diệu pháp, tại sát-na Đạo siêu thế:

    1. Nếu Đạo sanh khởi tương ứng với Sơ thiền: Có đủ 8 chi (bao gồm cả Tầm/Chánh tư duy).

    2. Nếu Đạo sanh khởi tương ứng với Nhị thiền trở lên: Chi Tầm (Vitakka – Chánh tư duy) bị loại bỏ, nên Đạo chỉ còn 7 chi (Sattaṅgika).

  • Đoạn này giải thích tại sao trong kinh văn đôi khi chỉ liệt kê 5 chi phần tâm lý (Kiến, Tư duy, Tinh tấn, Niệm, Định), còn 3 chi phần giới (Ngữ, Nghiệp, Mạng) được xem là đã thanh tịnh từ trước.

↥2

  • 5 chi phần tạo tác mọi nơi: Tầm, Tấn, Niệm, Định, Tuệ (5 chi này có mặt trong các tầng thiền sắc giới/vô sắc giới).

  • Virati (Tiết chế/Ngăn trừ phần): Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng.

  • Luận điểm ở đây là: Trong Hiệp thế, 5 chi kia có thể hoạt động riêng lẻ, nhưng trong Siêu thế, chúng phải kết hợp với 3 chi Tiết chế (Virati) để tạo thành đủ Bát Chánh Đạo.