Kinh số 148 – Giải Thích Kinh Chachakka
(Chachakkasuttavaṇṇanā)Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Chachakka
420. Evaṃ me sutanti chachakkasuttaṃ. Tattha ādikalyāṇantiādimhi kalyāṇaṃ bhaddakaṃ niddosaṃ katvā desessāmi. Majjhapariyosānesupi eseva nayo. Iti bhagavā Ariyavaṃsaṃ navahi, Mahāsatipaṭṭhānaṃ sattahi, Mahāassapuraṃ sattahiyeva padehi thomesi. idaṃ pana suttaṃ navahi padehi thomesi.
420. Kinh Chachakka [6 Pháp 6 nhóm] được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, toàn hảo ở đoạn đầu: Ta sẽ thuyết giảng làm cho thiện lành, tốt đẹp, không có lỗi lầm ở đoạn đầu. Đối với đoạn giữa và đoạn cuối cũng theo phương thức ấy (Trung thiện và Hậu thiện). Đức Thế Tôn đã tán thướng Kinh Ariyavaṃsa (Thánh Chủng) bằng 9 lời (từ/câu), Kinh Mahāsatipaṭṭhāna (Đại Niệm Xứ) bằng 7 lời, Kinh Mahāassapura (Đại Kinh Xóm Ngựa) cũng bằng 7 lời; riêng đối với bài Kinh này, Ngài tán thưởng bằng 9 lời.
Veditabbānīti sahavipassanena maggena jānitabbāni. Manāyatanena tebhūmakacittameva kathitaṃ, dhammāyatanena bahiddhā tebhūmakadhammā ca, manoviññāṇena ṭhapetvā dve pañcaviññāṇāni sesaṃ bāvīsatividhaṃ lokiyavipākacittaṃ. phassavedanā yathāvuttavipākaviññāṇasampayuttāva. Taṇhāti vipākavedanāpaccayā javanakkhaṇe uppannataṇhā.
Nên biết: nghĩa là cần phải được liễu tri bằng Đạo cùng với Minh sát.
-
Về Ý xứ: chính là nói về tâm thuộc tam giới.
-
Về Pháp xứ: chính là các pháp thuộc tam giới ở bên ngoài.
-
Về Ý thức: ngoại trừ hai loại ngũ thức (ngũ song thức), thì [Ý thức ở đây] chính là 22 loại tâm quả hiệp thế còn lại.[1]
-
Xúc và Thọ: chính là [các sở hữu] tương ưng với loại thức quả như đã nói ở trên.
-
Tham ái: tham ái sanh khởi ở sát-na của đổng lực javana có thọ quả [vipāka-vedanā] làm duyên.
422. Cakkhu attāti pāṭiyekko anusandhi. Heṭṭhā kathitānañhi dvinnaṃ saccānaṃ anattabhāvadassanatthaṃ ayaṃ desanā āraddhā. Tattha na upapajjatīti na yujjati. Vetīti vigacchati nirujjhati.
422. Mắt là tự ngã: Đây là một sự liên kết [đề tài] riêng biệt. Thật vậy, pháp thoại này được bắt đầu nhằm mục đích chỉ ra bản chất vô ngã của hai chân lý (Khổ và Tập) đã được nói đến ở phần trước. Trong câu đó, không thích hợp: không phù hợp. Hoại diệt: biến mất, diệt mất.
424. Ayaṃ kho pana, bhikkhaveti ayampi pāṭiyekko anusandhi. ayañhi desanā tiṇṇaṃ gāhānaṃ vasena vaṭṭaṃ dassetuṃ āraddhā. dukkhaṃ samudayoti dvinnaṃ saccānaṃ vasena vaṭṭaṃ dassetuntipi vadantiyeva. Etaṃ mamātiādīsu taṇhāmānadiṭṭhigāhāva veditabbā. Samanupassatīti gāhattayavasena passati.
424. Này các Tỳ khưu, đây là con đường…: Đây cũng là một sự liên kết [đề tài] riêng biệt. Thật vậy, pháp thoại này được bắt đầu để chỉ ra Luân hồi (vaṭṭa) thông qua 3 sự chấp thủ. Cũng có [giáo thọ sư] nói rằng: “[Pháp thoại này bắt đầu] để chỉ ra Luân hồi thông qua hai chân lý là Khổ và Tập”. Đó là của tôi v.v, nên biết sự chấp thủ bởi chính do tham ái, ngã mạn và tà kiến. Quán xét: nhìn thấy do tác động của cả 3 sự chấp thủ.
Evaṃ vaṭṭaṃ dassetvā idāni tiṇṇaṃ gāhānaṃ paṭipakkhavasena, nirodho maggoti imesaṃ vā dvinnaṃ saccānaṃ vasena vivaṭṭaṃ dassetuṃ ayaṃ kho panātiādimāha. Netaṃ mamātiādīni taṇhādīnaṃ paṭisedhavacanāni. Samanupassatīti aniccaṃ dukkhamanattāti passati.
Sau khi chỉ ra Luân hồi như vậy, bây giờ Ngài nói câu bắt đầu bằng “Lại nữa, này…” (ayaṃ kho panā…) nhằm mục đích chỉ ra sự Chấm dứt luân hồi (vivaṭṭa) thông qua sự đối trị (paṭipakkha) lại 3 sự chấp thủ ấy; hoặc là [chỉ ra sự Chấm dứt luân hồi] thông qua hai chân lý là Diệt và Đạo. Các câu “Cái này không phải của tôi” v.v… là những lời phủ nhận tham ái v.v… Samanupassati (Quán nhận/Quán thấy) [ở đoạn này]: nghĩa là thấy rằng vô thường, khổ, vô ngã.
425. Evaṃ vivaṭṭaṃ dassetvā idāni tiṇṇaṃ anusayānaṃ vasena puna vaṭṭaṃ dassetuṃ cakkhuñca, bhikkhavetiādimāha. tattha abhinandatītiādīni taṇhādiṭṭhivaseneva vuttāni. Anusetīti appahīno hoti. Dukkhassāti vaṭṭadukkhakilesadukkhassa.
425. Sau khi thuyết về ‘xuất khỏi luân hồi’ như vậy, bây giờ để tiếp tục thuyết về ‘luân hồi’ do mãnh lực của cả 3 tùy miên mới thuyết rằng: “Này chư Tỳ khưu, do y cứ con mắt và sắc”. Ở đó, hân hoan v.v, đức Thế Tôn thuyết do mãnh lực của chính tham ái và tà kiến. Ngủ ngầm: vẫn chưa dứt trừ. Của khổ đau: của vòng luân hồi khổ và phiền não khổ.
426. Evaṃ tiṇṇaṃ anusayānaṃ vasena vaṭṭaṃ kathetvā idāni tesaṃ paṭikkhepavasena vivaṭṭaṃ dassento puna cakkhuñcātiādimāha. Avijjaṃ pahāyāti vaṭṭamūlikaṃ avijjaṃ pajahitvā. Vijjanti arahattamaggavijjaṃ uppādetvā.
426. Sau khi thuyết về ‘luân hồi’ với mãnh lực cả 3 tùy miên như vậy, bây giờ để thuyết về xuất ly luân hồi theo cách đối trị với ba tùy miên ấy, Đức Thế Tôn lại nói cakkhuñcati v.v. (con mắt và…). Đoạn trừ vô minh: nghĩa là sau khi đã đoạn trừ vô minh là căn nguyên của luân hồi Minh: nghĩa là sau khi làm sanh khởi Minh thuộc A-la-hán Đạo.
427. Ṭhānametaṃ vijjatīti ettakeneva kathāmaggena vaṭṭavivaṭṭavasena desanaṃ matthakaṃ pāpetvā puna tadeva sampiṇḍetvā dassento evaṃ passaṃ, bhikkhavetiādimāha. Saṭṭhimattānaṃ bhikkhūnanti ettha anacchariyametaṃ, yaṃ sayameva Tathāgate desente saṭṭhi bhikkhū arahattaṃ pattā. Imañhi suttaṃ Dhammasenāpatimhi kathentepi saṭṭhi bhikkhū arahattaṃ pattā, Mahāmoggallāne kathentepi, asītimahātheresu kathentesupi pattā eva. etampi anacchariyaṃ. mahābhiññappattā hi te sāvakā.
427. Điều này là có cơ sở: Với lộ trình thuyết giảng chừng ấy, sau khi đưa thời pháp thoại lên đến tột đỉnh thông qua [hai phương diện] luân hồi và chấm dứt luân hồi, Ngài lại tóm tắt chính điều đó để chỉ ra [lần nữa], nên Ngài mới nói câu bắt đầu bằng: “Này các Tỳ khưu, vị Thánh Thinh văn đệ tử sau khi nghe đã thấy như vậy”. Ở đây, có khoảng 60 vị Tỳ khưu, Trong sự kiện này, việc 60 vị Tỳ khưu đắc quả A-la-hán khi chính Đức Như Lai đang thuyết giảng thì không có gì đáng ngạc nhiên. Bởi vì ngay cả khi vị Tướng quân Chánh pháp (Sāriputta) thuyết giảng bài kinh này, cũng có 60 vị Tỳ khưu đắc A-la-hán; khi ngài Mahāmoggallāna thuyết giảng cũng thế; hay thậm chí khi 80 vị Đại Trưởng lão thuyết giảng thì [các tỳ khưu] cũng đắc quả như vậy. Điều đó cũng không đáng ngạc nhiên. Vì sao? Vì các vị đệ tử ấy (các vị thuyết giảng) đều là những bậc đã chứng đạt Đại thắng trí (mahābhiññā).
Aparabhāge pana Tambapaṇṇidīpe Māleyyadevatthero[2] nāma heṭṭhā lohapāsāde idaṃ suttaṃ kathesi. Tadāpi saṭṭhi bhikkhū arahattaṃ pattā. yathā ca lohapāsāde, evaṃ thero mahāmaṇḍapepi idaṃ suttaṃ kathesi. Mahāvihārā nikkhamitvā cetiyapabbataṃ gato, tatthāpi kathesi. Tato Sākiyavaṃsavihāre[3], Kūṭālivihāre, Antarasobbhe, Muttaṅgaṇe[4], Vātakapabbate[5], Pācinagharake, Dīghavāpiyaṃ, Lokandare, Nomaṇḍalatale[6] kathesi. Tesupi ṭhānesu saṭṭhi saṭṭhi bhikkhū arahattaṃ pattā. Tato nikkhamitvā pana thero Cittalapabbataṃ gato. Tadā ca Cittalapabbatavihāre atirekasaṭṭhivasso mahāthero, pokkharaṇiyaṃ Kuruvakatitthaṃ nāma paṭicchannaṭṭhānaṃ atthi, tattha thero nhāyissāmīti otiṇṇo. Devatthero tassa santikaṃ gantvā nhāpemi, bhanteti āha. Thero paṭisanthāreneva — “Māleyyadevo nāma atthīti vadanti, so ayaṃ bhavissatī”ti ñatvā tvaṃ devoti āha. Āma, bhanteti. Saṭṭhivassaddhānaṃ me, āvuso, koci sarīraṃ hatthena phusituṃ nāma na labhi, tvaṃ pana nhāpehīti uttaritvā tīre nisīdi.
Về sau này, tại đảo Tambapaṇṇi (Tích Lan), Trưởng lão Māleyyadeva cũng đã thuyết bài kinh này ở tầng dưới của Lầu Đồng (Lohapāsāda). Khi ấy cũng có 60 vị Tỳ-khưu đắc quả A-la-hán. Và như [đã thuyết] tại Lầu Đồng, Trưởng lão cũng thuyết bài kinh này tại Đại Đình (Mahāmaṇḍapa). Sau khi rời Đại Tinh xá (Mahāvihāra), Ngài đi đến núi Cetiyapabbata (Mihintale), và cũng thuyết tại đó. Từ đó, Ngài thuyết giảng tại Tinh xá Sākiyavaṃsa, Tinh xá Kūṭāli, tại Antarasobbha, Muttaṅgaṇa, Vātakapabbata, Pācinagharaka, Dīghavāpi, Tinh xá Lokandara, và tại Nomaṇḍalatala. Tại mỗi nơi trong các địa điểm ấy đều có 60 vị Tỳ-khưu đắc quả A-la-hán.
Sau khi rời khỏi nơi đó, Trưởng lão đi đến núi Cittalapabbata. Lúc bấy giờ, tại Tinh xá Cittalapabbata có một vị Đại Trưởng lão hạ lạp đã hơn 60. Tại hồ sen nọ có một bến nước kín đáo tên là Kuruvaka, vị Đại Trưởng lão ấy bước xuống đó với ý định sẽ tắm. Trưởng lão Deva đi đến gần ngài và thưa: “Bạch Ngài, để con tắm cho Ngài”. Vị Đại Trưởng lão, qua cử chỉ ân cần ấy (paṭisanthāreneva), suy nghĩ rằng: “Người ta nói có vị tên là Māleyyadeva, chắc hẳn là vị này đây”, nên mới hỏi: “Hiền giả có phải là Deva không?” — “Thưa vâng, bạch Ngài.” Vị Đại Trưởng lão nói: “Này hiền giả, suốt chặng đường 60 năm nay, ta chưa từng cho phép ai chạm tay vào thân thể ta, nhưng Hiền giả hãy tắm [cho ta]”, rồi ngài bước lên ngồi trên bờ.
Thero sabbampi hatthapādādiparikammaṃ katvā mahātheraṃ nhāpesi. taṃ divasañca dhammassavanadivaso hoti. Atha mahāthero — “deva amhākaṃ dhammadānaṃ dātuṃ vaṭṭatī”ti āha. Thero sādhu, bhanteti sampaṭicchi. Atthaṅgate sūriye dhammassavanaṃ ghosesuṃ. Atikkantasaṭṭhivassāva saṭṭhi mahātherā dhammassavanatthaṃ agamaṃsu. Devatthero sarabhāṇāvasāne imaṃ suttaṃ ārabhi, suttantapariyosāne ca saṭṭhi mahātherā arahattaṃ pāpuṇiṃsu. Tato Tissamahāvihāraṃ gantvā kathesi, tasmimpi saṭṭhi therā. Tato Nāgamahāvihāre Kāḷakacchagāme kathesi, tasmimpi saṭṭhi therā. Tato Kalyāṇiṃ gantvā tattha cātuddase heṭṭhāpāsāde kathesi, tasmimpi saṭṭhi therā. Uposathadivase uparipāsāde kathesi, tasmimpi saṭṭhi therāti evaṃ devatthereyeva idaṃ suttaṃ kathente saṭṭhiṭṭhānesu saṭṭhi saṭṭhi janā arahattaṃ pattā.
Trưởng lão [Deva] đã làm các công việc phục vụ (parikamma) như xoa bóp tay chân v.v… rồi tắm cho vị Đại Trưởng lão. Ngày hôm ấy lại là ngày thính Pháp. Bấy giờ, vị Đại Trưởng lão mới nói: — “Này Deva, Hiền giả ban bố Pháp thí cho chúng tôi thì thật là thích hợp.” Trưởng lão [Deva] nhận lời: “Lành thay, bạch Ngài”. Khi mặt trời lặn, họ công bố thời thuyết pháp. Có 60 vị Đại Trưởng lão, [mỗi vị] đều có hơn 60 hạ lạp, đã đến để nghe pháp. Trưởng lão Deva bắt đầu bài kinh này ngay khi phần tụng ngâm (sarabhāṇa) vừa dứt, và khi kết thúc bài kinh thì 60 vị Đại Trưởng lão đều chứng đắc A-la-hán.
Sau đó, Ngài đi đến thuyết tại Đại tinh xá Tissa (Tissamahāvihāra), tại đó cũng có 60 vị Trưởng lão [đắc A-la-hán]. Sau đó, Ngài thuyết tại Đại tinh xá Nāga thuộc làng Kāḷakaccha, tại đó cũng có 60 vị. Sau đó, Ngài đi đến Kalyāṇī. Tại đó, vào ngày 14 (Uposatha), Ngài thuyết ở tầng dưới tòa lâu đài, có 60 vị [đắc quả]. Vào ngày Rằm Bố-tát, Ngài thuyết ở tầng trên tòa lâu đài, cũng có 60 vị [đắc quả]. Như vậy, chỉ riêng khi Trưởng lão Deva thuyết bài kinh này tại 60 địa điểm, thì tại mỗi nơi đều có 60 người chứng đắc A-la-hán.
Ambilakāḷakavihāre pana Tipiṭakacūḷanāgatthere imaṃ suttaṃ kathente manussaparisā gāvutaṃ ahosi, devaparisā yojanikā. Suttapariyosāne sahassabhikkhū arahattaṃ pattā, devesu pana tato tato ekekova[7] puthujjano ahosīti.
Lại nữa, khi Trưởng lão Cūḷanāga (Tiểu Long) – bậc thông thuộc Tam Tạng – thuyết giảng bài kinh này tại Tinh xá Ambilakāḷaka, hội chúng loài người [ngồi] trải rộng một gāvuta, hội chúng chư Thiên trải rộng một do-tuần (yojana). Khi bài kinh kết thúc, có một ngàn vị Tỳ-khưu chứng đắc A-la-hán. Còn về phần chư Thiên, chỉ có một vài vị rải rác đây đó là còn phàm phu (puthujjana) mà thôi.
Giải Thích Kinh Chachakka Kết Thúc