Kinh số 147 – Giải Thích Tiểu Kinh Giáo Giới Rāhula
(Cūḷarāhulovādasuttavaṇṇanā)Xem Trung Bộ Kinh – Tiểu Kinh Giáo Giới Rāhula
416. Evaṃ me sutanti Rāhulovādasuttaṃ. Tattha vimuttiparipācanīyāti vimuttiṃ paripācentīti vimuttiparipācanīyā. Dhammāti pannarasa dhammā. te saddhindriyādīnaṃ visuddhikāraṇavasena veditabbā. vuttañhetaṃ —
416. Tiểu Kinh Giáo Giới Rāhula được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, vimuttiparipācanīyā (các pháp đưa đến giải thoát thuần thục): nghĩa là những pháp làm cho sự giải thoát được chín muồi. Pháp: gồm 15 Pháp. Những pháp ấy cần được hiểu theo phương diện nguyên nhân thanh tịnh hóa các quyền như Tín quyền, v.v… Điều này đã được Ngài nói như sau –
“assaddhe puggale parivajjayato, saddhe puggale sevato bhajato payirupāsato pasādanīye suttante paccavekkhato imehi tīhākārehi saddhindriyaṃ visujjhati. Kusīte puggale parivajjayato āraddhavīriye puggale sevato bhajato payirupāsato sammappadhāne paccavekkhato imehi tīhākārehi vīriyindriyaṃ visujjhati. Muṭṭhassatī puggale parivajjayato upaṭṭhitassatī puggale sevato bhajato payirupāsato satipaṭṭhāne paccavekkhato imehi tīhākārehi satindriyaṃ visujjhati. Asamāhite puggale parivajjayato samāhite puggale sevato bhajato payirupāsato jhānavimokkhe paccavekkhato imehi tīhākārehi samādhindriyaṃ visujjhati. Duppaññe puggale parivajjayato paññavante puggale sevato bhajato payirupāsato gambhīrañāṇacariyaṃ paccavekkhato imehi tīhākārehi paññindriyaṃ visujjhati. Iti ime pañca puggale parivajjayato pañca puggale sevato bhajato payirupāsato pañca suttantakkhandhe paccavekkhato imehi pannarasahi ākārehi imāni pañcindriyāni visujjhantī”ti.[1]
“Đối với vị đang xa lánh các kẻ không có đức tin, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có đức tin, đang quán xét lại các bài kinh khơi dậy đức tin; tín quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.
Đối với vị đang xa lánh các kẻ biếng nhác, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có sự ra sức tinh tấn, đang quán xét lại các sự nỗ lực đúng đắn; tấn quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.
Đối với vị đang xa lánh các kẻ có niệm bị quên lãng, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có niệm được thiết lập, đang quán xét lại các sự thiết lập niệm; niệm quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.
Đối với vị đang xa lánh các kẻ không định tĩnh, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người định tĩnh, đang quán xét lại các định và giải thoát; định quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.
“Đối với vị đang xa lánh các kẻ có tuệ kém, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có tuệ, đang quán xét lại hành vi của trí thâm sâu; tuệ quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.”
Như thế, do tránh xa 5 hạng người [xấu] này, do thân cận, gần gũi, hầu hạ 5 hạng người [tốt] này, và do quán xét 5 nhóm đề tài trong kinh điển, thì 5 quyền này được thanh tịnh theo 15 cách này”.
Aparepi pannarasa dhammā vimuttiparipācanīyā — saddhādīni pañcimāni indriyāni, aniccasaññā, anicce dukkhasaññā, dukkhe anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññāti, imā pañca nibbedhabhāgiyā saññā, Meghiyattherassa kathitā kalyāṇamittatādayo pañcadhammāti. Kāya pana velāya bhagavato etadahosīti. paccūsasamaye lokaṃ volokentassa.
Lại nữa, vẫn còn 15 pháp đưa đến giải thoát thuần thục khác – đó là 5 quyền gồm Tín quyền, v.v…; 5 loại tưởng thuộc phần thấu triệt (quyết trạch) là: (1) vô thường tưởng, (2) khổ tưởng trong vô thường, (3) vô ngã tưởng trong khổ, (4) đoạn tận tưởng, (5) ly tham tưởng; và 5 pháp bắt đầu bằng việc có bạn lành v.v… đã được thuyết cho Trưởng lão Meghiya
Udāna 4.1:
“Này Meghiya, khi tâm giải thoát chưa thuần thục, có năm pháp đưa đến sự thuần thục của tâm giải thoát. Năm pháp ấy là gì?
- Ở đây, này Meghiya, vị Tỷ-kheo có thiện tri thức (kalyāṇamitto hoti), có thiện hữu (kalyāṇasahāyo hoti), có thiện bạn (kalyāṇasahāyo hoti). Khi tâm giải thoát chưa thuần thục, này Meghiya, đây là pháp thứ nhất đưa đến sự thuần thục của tâm giải thoát.
- Lại nữa, này Meghiya, vị Tỷ-kheo giữ giới (sīlavā hoti), sống được hộ trì với giới luật (pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati), đầy đủ oai nghi, thấy sợ hãi trong lỗi nhỏ, thực hành đúng giới học. Khi tâm giải thoát chưa thuần thục, này Meghiya, đây là pháp thứ hai đưa đến sự thuần thục của tâm giải thoát.
- Lại nữa, này Meghiya, vị Tỷ-kheo nghe nhiều (bahussuto hoti), thọ trì những gì đã nghe, những pháp ấy là: khởi đầu (ādi) thiện, giữa thiện, cuối thiện, nghĩa và văn đầy đủ, chỉ bày hoàn toàn thanh tịnh, phạm hạnh. Vị ấy nghe nhiều, thọ trì, ghi nhớ, đọc tụng, suy tư, thông suốt bằng trí tuệ. Khi tâm giải thoát chưa thuần thục, này Meghiya, đây là pháp thứ ba đưa đến sự thuần thục của tâm giải thoát.
- Lại nữa, này Meghiya, vị Tỷ-kheo quán sát (atthapaṭisaṅkhāya) các pháp ấy, thời gian nào thích hợp để đi khất thực, thời gian nào thích hợp để thuyết pháp, thời gian nào thích hợp để tham thiền, thời gian nào thích hợp để nói chuyện. Khi tâm giải thoát chưa thuần thục, này Meghiya, đây là pháp thứ tư đưa đến sự thuần thục của tâm giải thoát.
- Lại nữa, này Meghiya, vị Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn (āraddhavīriyo viharati), đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho các pháp thiện được đầy đủ, không phóng dật trong các thiện pháp. Khi tâm giải thoát chưa thuần thục, này Meghiya, đây là pháp thứ năm đưa đến sự thuần thục của tâm giải thoát.
Này Meghiya, vị Tỷ-kheo an trú trong năm pháp này, nên tu tập thêm bốn pháp khác: tu bất tịnh quán để đoạn trừ tham dục, tu từ tâm để đoạn trừ sân hận, tu vô tướng tâm để đoạn trừ ngã mạn, tu vô ngã tưởng để đoạn trừ kiêu mạn. Khi tu tập bốn pháp này, vị ấy đạt đến A-la-hán quả, đoạn tận các lậu hoặc.”
))
. Đức Thế Tôn đã khởi lên suy nghĩ ấy vào thời điểm nào? [Đó là] khi Ngài quan sát thế gian vào lúc rạng đông.
419. Anekānaṃ devatāsahassānanti[2] āyasmatā rāhulena Padumuttarassa Bhagavato pādamūle Pālitanāgarājakāle patthanaṃ paṭṭhapentena saddhiṃ patthanaṃ paṭṭhapitadevatāyeva. Tāsu pana kāci bhūmaṭṭhakā devatā, kāci antalikkhakā, kāci cātumahārājikā, kāci devaloke, kāci brahmaloke nibbattā. Imasmiṃ pana divase sabbā ekaṭṭhāne andhavanasmiṃyeva sannipatitā. Dhammacakkhunti Upāliovāda[3] dīghanakhasuttesu[4] ()[5] paṭhamamaggo dhammacakkhunti vutto, Brahmāyusutte[6] tīṇi phalāni, imasmiṃ sutte cattāro maggā, cattāri ca phalāni dhammacakkhunti veditabbāni. Tattha hi kāci devatā sotāpannā ahesuṃ, kāci sakadāgāmī, anāgāmī, khīṇāsavā. Tāsañca pana devatānaṃ ettakāti gaṇanavasena paricchedo natthi. Sesaṃ sabbattha uttānamevāti
419. Và đối với hàng ngàn chư Thiên ấy: [Đây là] những vị chư Thiên đã cùng thiết lập lời nguyện chung với Tôn giả Rāhula khi ngài thiết lập lời nguyện dưới chân Đức Phật Padumuttara vào thời ngài còn là Rồng chúa Pālita. Hơn nữa, trong số những vị Thiên ấy, một số vị cư ngụ trên mặt đất, một số vị cư ngụ trong hư không, một số cư ngự ở cõi Tứ đại Thiên vương, một số hóa sanh vào Phạm thiên giới. Nhưng ngày hôm nay, toàn bộ chư Thiên đến tụ hội lại với nhau trong cùng một nơi là khu rừng Andhavana. Pháp nhãn: Trong Kinh Giáo giới Upāli và Kinh Dīghanakha (Trường Trảo), Sơ Đạo (Dự lưu) được gọi là Pháp nhãn. Trong Kinh Brahmāyu, ba Quả [đầu] được gọi là Pháp nhãn. Trong bài kinh này, cần phải hiểu Pháp nhãn là 4 Đạo và 4 Quả. Cũng vậy, trong số các vị Thiên ấy, một số vị trở thành bậc Dự lưu, một số là bậc Nhất lai, Bất lai, một số là bậc Lậu tận (A-la-hán). Và đối với các vị Thiên ấy, không có sự giới hạn theo cách đếm số lượng là “bao nhiêu đây” (tức là không thể đếm xuể). Phần còn lại ở mọi chỗ đều đã rõ ràng.
Giải Thích Tiểu Kinh Giáo Giới Rāhula Kết Thúc.