Kinh số 146 – Giải Thích Kinh Giáo Giới Nandaka

(Nandakovādasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Giáo Giới Nandaka

398. Evaṃ me sutanti Nandakovādasuttaṃ. Tattha tena kho pana samayenāti Bhagavā Mahāpajāpatiyā yācito bhikkhunisaṅghaṃ uyyojetvā bhikkhusaṅghaṃ sannipātetvā — “Therā bhikkhū vārena bhikkhuniyo ovadantū”ti saṅghassa bhāraṃ akāsi. Taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. Tattha pariyāyenāti vārena. Na icchatīti attano vāre sampatte dūraṃ gāmaṃ vā gantvā sūcikammādīni vā ārabhitvā “ayaṃ nāmassa papañco”ti[1] vadāpesi. Imaṃ pana pariyāyena ovādaṃ bhagavā Nandakattherasseva kāraṇā akāsi. kasmā? imāsañhi bhikkhunīnaṃ theraṃ disvā cittaṃ ekaggaṃ hoti pasīdati. Tena tā tassa ovādaṃ sampaṭicchitukāmā, dhammakathaṃ sotukāmā. Tasmā bhagavā — “nandako attano vāre sampatte ovādaṃ dassati, dhammakathaṃ kathessatī”ti vārena ovādaṃ akāsi. Thero pana attano vāraṃ na karoti, kasmāti ce? Tā kira bhikkhuniyo pubbe therassa Jambudīpe rajjaṃ kārentassa orodhā ahesuṃ. Thero pubbenivāsañāṇena taṃ kāraṇaṃ ñatvā cintesi — “maṃ imassa bhikkhunisaṅghassa majjhe nisinnaṃ upamāyo ca kāraṇāni ca āharitvā dhammaṃ kathayamānaṃ disvā añño pubbenivāsañāṇalābhī bhikkhu imaṃ kāraṇaṃ oloketvā ‘āyasmā nandako yāvajjadivasā orodhe na vissajjeti, sobhatāyamāyasmā orodhaparivuto’ti vattabbaṃ maññeyyā”ti. Etamatthaṃ sampassamāno thero attano vāraṃ na karoti. Imāsañca kira bhikkhunīnaṃ therasseva desanā sappāyā bhavissatīti ñatvā atha kho bhagavā āyasmantaṃ nandakaṃ āmantesi.

398. Kinh Giáo Giới Nandaka được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, vào lúc bấy giờ: Khi đức Thế Tôn nhận được lời thỉnh cầu từ Mahāpajāpatī Gotamī, đã tiễn đưa hội chúng Tỳ khưu ni đi, rồi triệu tập hội chúng Tỳ khưu lại – đã thực hiện phận sự cho chư Tăng như sau “chư Tỳ khưu là bậc trưởng lão hãy thay phiên nhau ban lời giáo huấn các Tỳ khưu ni”. Trưởng lão Ānanda nói đề cập đến điều đó nên mới nói lời này. Trong bài kinh đó từ ‘pariyāyena’ ám chỉ đến ‘theo luân phiên’. không mong muốn: khi đến phiên của mình, vị Tỳ khưu giảng dạy Tỳ khưu ni sẽ đi đến một ngôi làng rất xa, hoặc bắt đầu làm những phận sự như may y v.v. rồi ra lệnh cho dạy thay (rằng): “đây là sự chậm trễ của vị Tỳ khưu ấy.” Tuy nhiên, đức Thế Tôn đã bàn giao việc thay phiên giảng dạy này để trở thành nhiệm vụ đặc biệt của trưởng lão Nandaka. Vì sao? Bởi vì các Tỳ khưu ni này vừa mới nhìn thấy trưởng lão tâm trở nên được tịnh tín, (đi đến trạng thái) nhất tâm. Vì thế, các Tỳ khưu ni ấy mong muốn nhận được lời giáo huấn của ngài, mong muốn lắng nghe Pháp thoại. Cho nên, đức Thế Tôn đã ban lời giáo huấn theo sự luân phiên như sau: “Khi đến lượt của mình thì Nandaka sẽ ban lời giáo huấn, sẽ thuyết giảng Pháp thoại.” Còn phía trưởng lão không chịu thực hiện theo phiên của mình, nếu như có câu hỏi rằng – tại sao? (vị ấy) cũng đáp rằng – được biết rằng những Tỳ khưu ấy khi trưởng lão nắm giữ vương quyền ở Jambudīpa ở kiếp trước, các Tỳ khưu ni ấy là những phi tần. Trưởng lão biết được nguyên nhân ấy bằng trí nhớ về các kiếp sống trước mới nghĩ rằng: “Tỳ khưu khác cũng đạt được trí nhớ về các kiếp sống trước, khi nhìn thấy ta ngồi giữa chúng Tỳ khưu ni sẽ dẫn lấy ví dụ so sánh và nhiều lý do khác nhau đến thuyết Pháp, nhìn vào lý do này cũng có thế suy nghĩ lời nên nói rằng ‘Tôn giả Nandaka không chấp nhận từ bỏ các phi tần cho đến tận ngày hôm nay, Tôn giả Nandaka có các phi tần vây quanh thật xinh đẹp’. Trưởng lão Nandaka trong khi suy xét đến vấn đề này mới không chấp nhận thực hiện (nhiệm vụ) tới lượt của mình. Và được biết rằng – đức Thế Tôn biết được chỉ có Pháp thoại của trưởng lão mới trở nên phù hợp cho các Tỳ khưu ni này, “rồi Thế Tôn cho gọi Tôn giả Nandaka.”

Tāsaṃ bhikkhunīnaṃ pubbe tassa orodhabhāvajānanatthaṃ idaṃ vatthuṃ — pubbe kira Bārāṇasiyaṃ pañca dāsasatāni pañca dāsisatāni cāti jaṅghasahassaṃ ekatova kammaṃ katvā ekasmiṃ ṭhāne vasi. Ayaṃ Nandakatthero tasmiṃ kāle jeṭṭhakadāso hoti, Gotamī jeṭṭhakadāsī. Sā jeṭṭhakadāsassa pādaparicārikā ahosi paṇḍitā byattā. jaṅghasahassampi puññakammaṃ karontaṃ ekato karoti. Atha vassūpanāyikasamaye pañca paccekabuddhā Nandamūlakapabbhārato Isipatane otaritvā nagare piṇḍāya caritvā Isipatanameva gantvā — “vassūpanāyikakuṭiyā atthāya hatthakammaṃ yācissāmā”ti cīvaraṃ pārupitvā sāyanhasamaye nagaraṃ pavisitvā seṭṭhissa gharadvāre aṭṭhaṃsu. Jeṭṭhakadāsī kuṭaṃ gahetvā udakatitthaṃ gacchantī paccekabuddhe nagaraṃ pavisante addasa. seṭṭhi tesaṃ āgatakāraṇaṃ sutvā “amhākaṃ okāso natthi, gacchantū”ti āha.

Để biết rõ họ từng là phi tần của Tôn giả (Nandaka) trong quá khứ, nên có câu chuyện này: Tương truyền thuở xưa tại thành Bārāṇasī, có 500 nam nô lệ và 500 tỳ nữ, tổng cộng là một ngàn người, thường làm việc cùng nhau và sinh hoạt tại cùng một nơi. Lúc bấy giờ, Trưởng lão Nandaka là người trưởng nhóm nô lệ nam (jeṭṭhakadāso), và bà Gotamī là trưởng nhóm nô lệ nữ (jeṭṭhakadāsī). Bà là vợ của ông trưởng nhóm nô lệ nam, là người thông minh và tháo vát. Mặc dù là nhóm một ngàn người lao động chân tay, nhưng khi làm phước thì họ luôn làm cùng nhau.

Sau đó, vào dịp sắp an cư mùa mưa , có năm trăm vị Phật Độc Giác từ núi Nandamūla đi xuống Isipatana, vào thành khất thực, rồi trở ra Isipatana. Các ngài suy nghĩ: “Chúng ta sẽ đi xin công sức lao động để làm cốc liêu an cư mùa mưa”. Các ngài đắp y, vào buổi chiều đi vào thành và đứng trước cổng nhà một vị trưởng giả. Bà trưởng nhóm tỳ nữ đang mang bình nước đi ra bến sông, nhìn thấy các vị Phật Độc Giác đang đi vào thành. Vị trưởng giả nghe lý do các ngài đến thì nói: “Chúng tôi không có thời gian rảnh, mời các ngài đi đi”.

Atha te nagarā nikkhamante jeṭṭhakadāsī kuṭaṃ gahetvā pavisantī disvā kuṭaṃ otāretvā vanditvā onamitvā mukhaṃ pidhāya — “ayyā nagaraṃ paviṭṭhamattāva nikkhantā, kiṃ nu kho”ti pucchi. Vassūpanāyikakuṭiyā hatthakammaṃ yācituṃ āgamimhāti. Laddhaṃ, bhanteti. Na laddhaṃ upāsiketi? Kiṃ panesā kuṭi issareheva kātabbā, duggatehipi sakkā kātunti. Yena kenaci sakkāti? Sādhu, bhante, mayaṃ karissāma. Sve mayhaṃ bhikkhaṃ gaṇhathāti nimantetvā udakaṃ netvā puna kuṭaṃ gahetvā āgamma titthamagge ṭhatvā āgatā avasesadāsiyo “ettheva hothā”ti vatvā sabbāsaṃ āgatakāle āha — “amma kiṃ niccameva parassa dāsakammaṃ karissatha, udāhu dāsabhāvato muccituṃ icchathā”ti? Ajjeva muccitumicchāma ayyeti. Yadi evaṃ mayā pañca paccekabuddhā hatthakammaṃ alabhantā svātanāya nimantitā, tumhākaṃ sāmikehi ekadivasaṃ hatthakammaṃ dāpethāti. Tā sādhūti sampaṭicchitvā sāyaṃ aṭavito āgatakāle sāmikānaṃ ārocesuṃ. Te sādhūti jeṭṭhakadāsassa gehadvāre sannipatiṃsu.

Khi ấy, bà trưởng nhóm tỳ nữ đang mang bình nước đi vào, thấy các ngài đi ra khỏi thành bèn đặt bình nước xuống, đảnh lễ, che miệng (mukhaṃ pidhāya – một cử chỉ cung kính khi nói chuyện với bậc tôn túc) và hỏi: “Thưa các Ngài, các Ngài vừa mới vào thành đã rời khỏi, có chuyện gì vậy?” “Chúng tôi đến xin để nhân công vì mục đích xây dựng cốc liêu an cư mùa mưa”. “Thưa Ngài, có được không?”. “Này tín nữ, không được”. “Thưa Ngài, cốc liêu ấy nên được làm bởi người có quyền thế thôi, hay cả người nghèo khó cũng có thể làm?” – “Bất cứ ai cũng có thể làm.” “Lành thay! bạch Ngài, chúng con sẽ làm. Lành thay! Bạch Ngài, chúng con sẽ làm. Xin thỉnh các Ngài thọ nhận đồ ăn khất thực của con vào ngày mai”. Sau khi thỉnh mời (các vị Phật Độc Giác) liền cầm lấy bình nước đứng ở lối đi đến bến nước nới (bà) đã đến, rồi nói với các tỳ nữ còn lại (những người) đã đến rằng: “Các em hãy đợi ở đây nhé!” Khi tất cả đến đông đủ, bà mới nói rằng: “Này các em, các em muốn làm nô lệ cho người khác mãi mãi, hay mong muốn thoát khỏi kiếp nô lệ?” – “Thưa chị, chúng em muốn thoát khỏi (kiếp nô lệ) ngay ngày hôm nay.” – “Nếu vậy, chị đã thỉnh mời năm trăm vị Phật Độc Giác vẫn chưa xin được nhân công đến thọ trai vào ngày mai. Các em hãy cho chồng của các em làm nhân công một ngày.” Họ đã đồng ý (nói rằng): “Lành thay!” Rồi nói với các ông chồng (về việc ấy) khi họ rời khỏi cánh rừng vào lúc trời tối. Các ông chồng cũng đồng ý (nói rằng): “Lành thay!” rồi tập hợp tại cửa nhà của trưởng nhóm tỳ nữ.

Atha ne jeṭṭhakadāsī sve tātā[2] paccekabuddhānaṃ hatthakammaṃ dethāti ānisaṃsaṃ ācikkhitvā yepi na kātukāmā, te gāḷhena ovādena tajjetvā paṭicchāpesi. Sā punadivase paccekabuddhānaṃ bhattaṃ datvā sabbesaṃ dāsaputtānaṃ saññaṃ adāsi. te tāvadeva araññaṃ pavisitvā dabbasambhāre samodhānetvā sataṃ sataṃ hutvā ekekakuṭiṃ ekekacaṅkamanādiparivāraṃ katvā mañcapīṭhapānīyaparibhojanīyabhājanādīni ṭhapetvā paccekabuddhe temāsaṃ tattha vasanatthāya paṭiññaṃ kāretvā vārabhikkhaṃ paṭṭhapesuṃ. Yo attano vāradivase na sakkoti. Tassa jeṭṭhakadāsī sakagehato āharitvā deti. Evaṃ temāsaṃ jaggitvā jeṭṭhakadāsī ekekaṃ dāsaṃ ekekaṃ sāṭakaṃ vissajjāpesi. Pañca thūlasāṭakasatāni ahesuṃ. Tāni parivattāpetvā pañcannaṃ paccekabuddhānaṃ ticīvarāni katvā adāsi. Paccekabuddhā yathāphāsukaṃ agamaṃsu. Tampi jaṅghasahassaṃ[3] ekato kusalaṃ katvā kāyassa bhedā devaloke nibbatti[4]. Tāni pañca mātugāmasatāni kālena kālaṃ tesaṃ pañcannaṃ purisasatānaṃ gehe honti, kālena kālaṃ sabbāpi jeṭṭhakadāsaputtasseva gehe honti. Atha ekasmiṃ kāle jeṭṭhakadāsaputto devalokato cavitvā rājakule nibbatto. tāpi pañcasatā devakaññā mahābhogakulesu nibbattitvā tassa rajje ṭhitassa gehaṃ agamaṃsu. Etena niyāmena saṃsarantiyo amhākaṃ bhagavato kāle Koliyanagare Devadahanagare ca khattiyakulesu nibbattā.

Khi ấy, trưởng nhóm tỳ nữ nói với họ rằng: “Này các anh em, vào ngày mai hãy dâng các nhân công đến các vị Phật Độc Giác,”  rồi nói về sự lợi ích (của việc làm phước); và đối với những người không muốn làm, bằng những lời chỉ bảo cứng rắn để răn đe, khiến cho tất cả đều phải chấp thuận. Ngày hôm sau, sau khi dâng vật thực đến các vị Phật Độc Giác, bà đã ra dấu cho tất cả các nam nô lệ. Ngay lập tức, họ đi vào rừng thu gom những cây gỗ và vật liệu xây dựng, chia thành từng nhóm một trăm người, xây cho mỗi vị một am thất, bố trí khu vực có đường kinh hành và các công trình phụ xung quanh v.v… và đã đặt các giường ghế, nệm gối, nước uống, nước sinh hoạt, v.v…, rồi xin các vị Phật Độc Giác hứa khả sẽ trú ngụ tại nơi đó suốt ba tháng an cư mùa mưa, và đã chuẩn bị các vật thực cúng dường luân phiên. Người nào đến lượt mình mà không đủ khả năng, trưởng nhóm tỳ nữ sẽ tự mình mang vật thực từ nhà đến dâng cúng thay cho người đó. Trưởng nhóm tỳ nữ đã hộ trì (các vị Phật Độc Giác) suốt ba tháng an cư mùa mưa như vậy. (Vận động) cho các nữ tỳ chuẩn bị mỗi người một tấm vải choàng, tổng cộng được 500 tấm vải choàng thô. Bà cho biến đổi những tấm vải choàng thô ấy làm thành các bộ tam y dâng cúng đến năm trăm vị Phật Độc Giác. Các vị Phật Độc Giác đã ra đi theo như ý thích. Nhóm một ngàn người ấy nhờ cùng nhau làm thiện nghiệp nên sau khi thân hoại mạng chung đã sanh về thiên giới. Năm trăm người nữ ấy thỉnh thoảng làm vợ của năm trăm người nam kia, thỉnh thoảng tất cả đều làm vợ của (vị trời tái sinh từ) người con trai trưởng nhóm nô lệ. Sau một thời gian, người con trai trưởng nhóm nô lệ từ thiên giới mạng chung, tái sinh vào dòng dõi vua chúa. Năm trăm thiên nữ kia cũng tái sinh vào các gia đình đại phú, rồi về làm vợ của vị ấy khi vị ấy lên ngôi vua. Luân chuyển theo cách ấy, đến thời Đức Thế Tôn của chúng ta, họ tái sinh vào dòng dõi Sát-đế-lỵ ở thành Koliya và thành Devadaha.

Nandakattheropi pabbajitvā arahattaṃ patto, jeṭṭhakadāsidhītā vayaṃ āgamma Suddhodanamahārājassa aggamahesiṭṭhāne ṭhitā, itarāpi tesaṃ tesaṃ rājaputtānaṃyeva gharaṃ gatā. Tāsaṃ sāmikā pañcasatā rājakumārā udakacumbaṭakalahe[5] satthu dhammadesanaṃ sutvā pabbajitā, rājadhītaro tesaṃ ukkaṇṭhanatthaṃ sāsanaṃ pesesuṃ. Te ukkaṇṭhite Bhagavā kuṇāladahaṃ netvā sotāpattiphale patiṭṭhapetvā mahāsamayadivase arahatte patiṭṭhāpesi. Tāpi pañcasatā rājadhītaro nikkhamitvā Mahāpajāpatiyā santike pabbajiṃsu. Ayamāyasmā Nandako ettāva tā bhikkhuniyoti evametaṃ vatthu dīpetabbaṃ.

(Về sau), Trưởng lão Nandaka cũng xuất gia và chứng đắc quả A-la-hán. (Người phụ nữ) con gái của bà trưởng nhóm tỳ nữ xưa kia, nay đến tuổi trưởng thành, đã ở ngôi vị Chánh hậu của Đại vương Suddhodana (tức là bà Mahāpajāpatī Gotamī). Những người nữ còn lại cũng về làm vợ của các hoàng tử [dòng Thích-ca].

Năm trăm hoàng tử chồng của các vị ấy, trong vụ tranh chấp nước (udakacumbaṭakalahe – vụ tranh nước sông Rohiṇī), sau khi nghe pháp thoại của Bậc Đạo Sư, đã xuất gia. Các công chúa (vợ cũ) đã gửi tin nhắn (sāsanaṃ) đến nhằm mục đích khiến cho các vị ấy sinh lòng chán nản (ukkaṇṭhanatthaṃ – chán ghét phạm hạnh, muốn hoàn tục).

Khi các vị ấy dao động, Đức Thế Tôn đã đưa họ đến hồ Kuṇāla, giúp họ an trú vào quả Dự lưu. Và vào ngày Đại Hội (Mahāsamaya), Ngài giúp họ an trú quả A-la-hán. Còn năm trăm công chúa kia cũng rời bỏ gia đình, xuất gia dưới sự dẫn dắt của bà Mahāpajāpatī.

Cần phải giải thích câu chuyện này như vậy: (Trưởng nhóm nô lệ nam xưa kia) chính là Tôn giả Nandaka này, và (nhóm tỳ nữ xưa kia) chính là các vị Tỳ-khưu ni ấy.

Rājakārāmoti Pasenadinā kārito nagarassa dakkhiṇadisābhāge Thūpārāmasadise ṭhāne vihāro.

Vương tự: Tinh xá của vua Pasenadi Kosalla xây dựng ở khu vực gần giống Thūpārāma ở hướng nam của thành phố

399. Sammappaññāya sudiṭṭhanti hetunā kāraṇena vipassanāpaññāya yāthāvasarasato diṭṭhaṃ.

401. Tajjaṃ tajjanti taṃsabhāvaṃ taṃsabhāvaṃ, atthato pana taṃ taṃ paccayaṃ paṭicca tā tā vedanā uppajjantīti vuttaṃ hoti.

402. Pagevassa chāyāti mūlādīni nissāya nibbattā chāyā paṭhamataraṃyeva aniccā.

399. Không nhìn thấy (điều đó) một cách rõ ràng bằng chánh trí tuệ: Nhìn thấy theo nguyên nhân và lý do, bằng tuệ minh sát, tức thấy đúng theo bản thể thực tính.

401. Khởi lên từ nội xứ ấy: Có thực tính tương ứng với nội xứ ấy . Theo ý nghĩa thì: Do nương vào duyên ấy, các cảm thọ tương ứng mới sanh khởi.

402. Bóng mát của cây ấy: Bóng mát được sinh ra do nương vào gốc rễ v.v…, thì tính vô thường đã có ngay từ lúc đầu.

413. Anupahaccāti anupahanitvā. Tattha maṃsaṃ piṇḍaṃ piṇḍaṃ katvā cammaṃ alliyāpento maṃsakāyaṃ upahanati nāma. Cammaṃ baddhaṃ baddhaṃ katvā[6] maṃse alliyāpento maṃsakāyaṃ upahanati nāma. Evaṃ akatvā. Vilimaṃsaṃ nhārubandhananti sabbacamme laggavilīpanamaṃsameva. antarākilesasaṃyojanabandhananti sabbaṃ antarakilesameva[7] sandhāya vuttaṃ.

413. Không làm hư hại (anupahaccā): Không làm tổn hại.
Ở đây: Người đồ tể cắt thịt thành từng đống, rồi để da buông thõng dính vào thịt, gọi là làm hư hại thân thịt. Hoặc làm da dính chặt thành tấm, rồi để thịt buông thõng, cũng gọi là làm hư hại thân thịt. Không làm như vậy. Mọi dây thịt, dây gân, dây khớp xương: phần thịt được bao bọc, dính liền bởi toàn bộ lớp da. Sự trói buộc của kiết sử phiền não bên trong: là nói ám chỉ toàn bộ phiền não bên trong.

414. Satta kho panimeti kasmā āhāti? Yā hi esā paññā kilese chindatīti vuttā, sā na ekikāva attano dhammatāya chindituṃ sakkoti. Yathā pana kuṭhārī na attano dhammatāya chejjaṃ chindati, purisassa tajjaṃ vāyāmaṃ paṭicceva chindati, evaṃ na vinā chahi bojjhaṅgehi paññā kilese chindituṃ sakkoti. Tasmā evamāha. Tena hīti yena kāraṇena tayā cha ajjhattikāni āyatanāni, cha bāhirāni, cha viññāṇakāye, dīpopamaṃ, rukkhopamaṃ, gāvūpamañca dassetvā sattahi bojjhaṅgehi āsavakkhayena desanā niṭṭhapitā, tena kāraṇena tvaṃ svepi tā bhikkhuniyo teneva ovādena ovadeyyāsīti.

414. Tại sao ngài lại nói rằng: Có bảy yếu tố trợ giác ngộ này? Bởi vì Tuệ được ngài nói rằng – “Tuệ nào cắt đứt tất cả phiền não” Tuệ ấy thực sự chỉ có một, (tuệ này) không thể tự cắt đứt (phiền não) theo bản thể tự nhiên của chính nó. Giống như cái rìu không thể tự chặt theo bản chất của nó, mà phải nhờ vào nỗ lực tương ứng của người dùng, mới chặt được. Tương tự, nếu thiếu sáu yếu tố trợ giác ngộ khác, tuệ không thể cắt đứt phiền não. Vì thế mới nói như vậy. Và như thế: Do nhân duyên mà ông đã thuyết giảng sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu nhóm thức, ví dụ ngọn đèn, ví dụ cây cối, ví dụ con bò, rồi kết thúc pháp thoại bằng sự đoạn tận lậu hoặc nhờ bảy yếu tố trợ giác ngộ. Chính vì nhân duyên ấy, ngày mai ông cũng nên dùng lời giáo huấn tương tự để dạy các vị Tỳ-khưu ni.

415. Sā sotāpannāti yā sā guṇehi sabbapacchimikā, sā sotāpannā. Sesā pana sakadāgāmianāgāminiyo ca khīṇāsavā ca. Yadi evaṃ kathaṃ paripuṇṇasaṅkappāti. ajjhāsayapāripūriyā. Yassā hi bhikkhuniyā evamahosi — “kadā nu kho ahaṃ ayyassa nandakassa dhammadesanaṃ suṇantī tasmiṃyeva āsane sotāpattiphalaṃ sacchikareyyan”ti, sā sotāpattiphalaṃ sacchākāsi. yassā ahosi “sakadāgāmiphalaṃ anāgāmiphalaṃ arahattan”ti, sā arahattaṃ sacchākāsi. tenāha bhagavā “attamanā ceva paripuṇṇasaṅkappā cā”ti.

415. Vị cuối cùng chứng được quả vị Nhập-lưu: Vị nào là người thấp kém nhất về các đức tánh (trong hội chúng đó), vị ấy [ít nhất] cũng là bậc Dự lưu. Số còn lại là bậc Nhất lai, Bất lai và Lậu tận (A-la-hán). Nếu vậy (nếu có người chỉ là Dự lưu, có người là A-la-hán), thì làm thế nào gọi là “tâm tư được viên mãn”? Đáp: Do sự viên mãn đúng theo ý nguyện. Thật vậy, vị tỳ-khưu-ni nào có suy nghĩ rằng: “Mong sao khi ta đang nghe pháp của ngài Nandaka, ta sẽ tác chứng quả Dự lưu ngay tại chỗ ngồi này”, thì vị ấy đã tác chứng quả Dự lưu (đúng như nguyện). Vị nào có suy nghĩ: “[Mong chứng] quả Nhất lai, quả Bất lai, quả A-la-hán”, thì vị ấy đã tác chứng quả A-la-hán. Chính vì thế Đức Thế Tôn mới nói.…đều hoan hỷ và có tâm tư hoàn mãn”

Giải Thích Kinh Giáo Giới Nandaka Kết Thúc


[1] Ka.  sampattoti

[2] Ka. Svātanāya

[3] Syā. Tepi jaṅghasahassā

[4] Syā. Nibbattiṃsu

[5] Syā. Udakacumbiṭakalahe

[6] Sī. vaṭṭaṃ katvā, Ṭīkā, baddhaṃ katvā

[7] Sī. Antarākilesameva, Syā. Ka. antaraṃ kilesameva