Kinh số 141 – Giải Thích Kinh Phân Biệt Về Sự Thật
(Saccavibhaṅgasuttavaṇṇanā)Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Về Sự Thật
371. Evaṃ me sutanti saccavibhaṅgasuttaṃ. Tattha ācikkhanāti idaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ nāma … pe … ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ nāmāti. sesapadesupi eseva nayo. Apicettha paññāpanā nāma dukkhasaccādīnaṃ ṭhapanā. Āsanaṃ ṭhapento hi āsanaṃ paññapetīti vuccati. Paṭṭhapanāti paññāpanā. Vivaraṇāti vivaṭakaraṇā. Vibhajanāti vibhāgakiriyā. Uttānīkammanti pākaṭabhāvakaraṇaṃ.
371. Kinh Phân Biệt Về Sự Thật được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, sự phát biểu: nói rằng ‘đây gọi là chân lý cao thượng về khổ …nt… đây là chân lý cao thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận khổ.” Ngay cả từ còn lại cũng theo phương thức này tương tự. Và hơn nữa trong trường hợp này việc thiết lập chân lý cao thượng về khổ gọi là sự làm cho nhận biết. Cũng trong khi thiết lập chỗ ngồi gọi là đã sửa soạn chỗ ngồi. Sự thiết lập: sự làm cho nhận biết. Sự phô bày: làm phơi bày ra. Sự phân giải: hành động phân tích. Hành động làm cho rõ: làm cho hiển lộ.
Anuggāhakāti āmisasaṅgahena dhammasaṅgahenāti dvīhipi saṅgahehi anuggāhakā. Janetāti[1] janikā mātā. Āpādetāti posetā. Posikamātā viya Moggallānoti dīpeti. Janikamātā hi nava vā dasa vā māse loṇambilādīni pariharamānā kucchiyā dārakaṃ dhāretvā kucchito nikkhantaṃ posikamātaraṃ dhātiṃ paṭicchāpeti. Sā khīranavanītādīhi dārakaṃ posetvā[2] vaḍḍheti, so vuddhimāgamma yathāsukhaṃ vicarati. Evameva Sāriputto attano vā paresaṃ vā santike pabbajite dvīhi saṅgahehi saṅgaṇhanto gilāne paṭijagganto kammaṭṭhāne yojetvā sotāpannabhāvaṃ ñatvā apāyabhayehi vuṭṭhitakālato paṭṭhāya — “Idāni paccattapurisakārena uparimagge nibbattessantī”ti tesu anapekkho hutvā aññe nave nave ovadati.
Người sách tấn: người hỗ trợ bằng việc giúp đỡ kể cả 2 loại là sự giúp đỡ bằng vật chất và sự giúp đỡ bằng Giáo Pháp. Sanh mẫu: người mẹ sanh ra. Dưỡng mẫu: Người nuôi dưỡng. Trình bày rằng (trưởng lão) Moggallān như thể người mẹ chăm sóc. Vì người mẹ sanh ra phải kiêng cử những món mặn và những món chua v.v, xuyên suốt chín tháng hoặc mười tháng trong thời kỳ thai bào, cho mẹ nuôi dưỡng là vú em tiếp nhận đứa bé khi lọt lòng. Người mẹ ấy nuôi dưỡng hài nhi bằng sữa và bơ tươi v.v, cho phát triển. Đứa trẻ ấy khi đã trưởng thành cũng đi một cách thoải mái. Trưởng lão Sārīputta cũng như thế, (ngài) giúp đỡ tất cả những vị xuất gia ở trú xứ của mình hoặc những vị Tỳ khưu khác bằng 2 việc trợ giúp là chăm sóc những vị Tỳ khưu bệnh, giảng dạy về các đề mục nghiệp xứ. Khi biết họ đã chứng đắc quả Dự lưu (sotāpannabhāva) — tức là lúc họ đã thoát khỏi hiểm họa của các khổ cảnh — Ngài không còn bận tâm (anapekkho) đến họ nữa với ý nghĩ rằng: “Giờ đây, bằng nỗ lực của tự thân, họ sẽ tự chứng đắc các đạo quả cao hơn”, rồi Ngài lại tiếp tục giáo giới cho những vị mới khác.
Mahāmoggallānopi attano vā paresaṃ vā santike pabbajite tatheva saṅgaṇhitvā kammaṭṭhāne yojetvā heṭṭhā tīṇi phalāni pattesupi anapekkhataṃ na āpajjati. Kasmā? evaṃ kirassa hoti — vuttaṃ bhagavatā — “Seyyathāpi, bhikkhave, appamattakopi gūtho duggandho hoti … pe … appamattakampi muttaṃ… kheḷo… pubbo… lohitaṃ duggandhaṃ hoti, evameva kho ahaṃ, bhikkhave, appamattakampi bhavaṃ na vaṇṇemi antamaso accharāsaṅghatamattampī”ti[3]. Tasmā yāva arahattaṃ na pāpuṇanti, tāva tesu anapekkhataṃ anāpajjitvā arahattaṃ pattesuyeva āpajjatīti. Tenāha Bhagavā — “Seyyathāpi, bhikkhave, janetā evaṃ Sāriputto. Seyyathāpi jātassa āpādetā, evaṃ Moggallāno. Sāriputto, bhikkhave, sotāpattiphale vineti, moggallāno uttamatthe”ti. Pahotīti sakkoti.
Còn trưởng lão Mahāmoggallāna trợ giúp cho các vị xuất gia ở trú xứ của mình hoặc của những vị Tỳ khưu khác tương tự như thế, giảng dạy đề mục nghiệp xứ, không thể thờ ơ đến khi những vị xuất gia ấy đã chứng đạt 3 Quả thấp. Tại sao? Vì Ngài có tâm niệm đúng như lời Đức Thế Tôn đã dạy: “Này các Tỳ-kheo, ví như phân dẫu chỉ một ít cũng hôi thối… dẫu chỉ một ít nước tiểu… nước dãi… mủ… máu cũng hôi thối như thế nào; cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán hữu (sự hiện hữu), dù chỉ trong khoảnh khắc một cái búng tay.” Do đó, cho đến khi họ chưa chứng đắc quả A-la-hán, Ngài vẫn không thôi bận tâm; chỉ khi họ đã đắc quả A-la-hán, Ngài mới thôi quan tâm. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Cũng vậy, này các Tỳ khưu, như một sanh mẫu, như vậy là Sāriputta,! Như một dưỡng mẫu, như vậy là Moggalāna! Này các Tỳ khưu, Sāriputta hướng dẫn đến quả vị Nhập-lưu, còn Moggallāna hướng dẫn đưa đến quả vị cao hơn.” Có thể: có thể được.
Dukkhe ñāṇanti savanasammasanapaṭivedhañāṇaṃ, tathā dukkhasamudaye. Dukkhanirodhe savanapaṭivedhañāṇanti vaṭṭati, tathā dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya. Nekkhammasaṅkappādīsu kāmapaccanīkaṭṭhena, kāmato nissaṭabhāvena vā, kāmaṃ sammasantassa uppannoti vā, kāmapadaghātaṃ kāmavūpasamaṃ karonto uppannoti vā, kāmavivittante uppannoti vā nekkhammasaṅkappo. Sesapadadvayepi eseva nayo. Sabbepi cete pubbabhāge nānācittesu, maggakkhaṇe ekacitte labbhanti. Tatra hi micchāsaṅkappacetanāya samugghātako ekova saṅkappo labbhati, na nānā labbhati. Sammāvācādayopi pubbabhāge nānācittesu, vuttanayeneva maggakkhaṇe ekacitte labbhanti. Ayamettha saṅkhepo, vitthārena pana saccakathā visuddhimagge ca sammādiṭṭhisutte (ma. ni. 1.89 ādayo) ca vuttāyevāti.
Trí về khổ: trí thấu hiểu thông qua việc nghe (pháp học), quán sát (pháp hành) và thấu triệt (pháp quả). Đối với Trí về Nguồn gốc của Khổ (Dukkhasamudaye) cũng tương tự như thế. Đối với Sự diệt Khổ, trí được gọi là trí thấu hiểu qua việc nghe và sự thấu triệt; đối với Con đường đưa đến sự diệt Khổ cũng tương tự như vậy.
Trong các chi như Tư duy về sự ly dục (Nekkhammasaṅkappa), v.v.: được gọi là tư duy ly dục vì nó đối nghịch với các dục, hoặc vì có tính chất thoát ly khỏi các dục, hoặc nó sinh khởi nơi người đang quán xét về dục, hoặc sinh khởi khi đang thực hiện việc đoạn trừ và làm an tịnh các dục, hoặc sinh khởi trong sự tĩnh lặng tách biệt khỏi các dục. Đối với hai cụm từ còn lại (Tư duy không sân và Tư duy không hại), phương thức giải thích cũng tương tự như thế.
Tất cả các chi này, ở giai đoạn sơ khởi (pubbabhāge – khi chưa đắc Đạo), chúng sinh khởi trong nhiều tâm khác nhau; nhưng ở sát-na tâm Đạo (maggakkhaṇe), chúng cùng có mặt trong một tâm duy nhất. Bởi vì tại đó (trong tâm Đạo), chỉ có một chi Tư duy duy nhất có khả năng tiêu diệt hoàn toàn sở hữu tư (tâm ý) thuộc về tà tư duy, chứ không phải nhiều tư duy khác nhau. Các chi khác như Chánh ngữ, v.v., ở giai đoạn sơ khởi cũng sinh khởi trong nhiều tâm khác nhau, nhưng ở sát-na tâm Đạo, chúng cùng có mặt trong một tâm theo như phương thức đã nêu.
Ở đây chỉ có ý nghĩa vắn tắt, còn phần giảng giải chi tiết đã được nói trong Thanh Tịnh Đạo và bài Kinh Chánh Tri Kiến (ma. ni. 1.89 ādayo).
Giải Thích Kinh Phân Biệt Về Sự Thật Kết Thúc.