Kinh số 135 – Giải Thích Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt

(Cūḷakammavibhaṅgasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt

289. Evaṃ me sutanti cūḷakammavibhaṅgasuttaṃ. Tattha Subhoti so kira dassanīyo ahosi pāsādiko, tenassa aṅgasubhatāya Subhotveva nāmaṃ akaṃsu. Māṇavoti pana taṃ taruṇakāle vohariṃsu, so mahallakakālepi teneva vohārena vohariyati.  Todeyyaputtoti todeyyassa nāma Pasenadirañño Purohitabrāhmaṇassa putto. So kira Sāvatthiyā avidūre Tudigāmo nāma atthi, tassa adhipatittā todeyyoti saṅkhaṃ gato. Mahādhano pana hoti sattāsītikoṭivibhavo paramamaccharī, “dadato bhogānaṃ aparikkhayo nāma natthī”ti cintetvā kassaci kiñci na deti. Vuttampi cetaṃ —

“añjanānaṃ khayaṃ disvā, vammikānañca sañcayaṃ.

madhūnañca samāhāraṃ, paṇḍito gharamāvase”ti.

289. Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, Subho được biết vị ấy là người đáng nhìn, dễ mến, vì lý do đó gia quyến mới đặt tên cho vị ấy là Subho, nhờ vào các chi phần xinh đẹp của vị ấy. Hơn nữa gọi vị ấy là thanh niên trong thời còn non trẻ. Vị ấy được gọi theo chế định thế gian thậm chí khi vị ấy lớn tuổi (già). Todeyyaputta: Con trai của Bà-la-môn Purohita của đức vua Pasenadi Kosala tên là Todeyya. Được biết rằng vị ấy đi đến danh xưng Todeyya bởi vị ấy làm đứng đầu ngôi làng tên là Tudigāma gần thành Sāvatthī, hơn nữa, vi ấy có nhiều của cải, có tài sản đến tám mươi bảy koṭi nhưng lại vô cùng keo kiệt. Khi cho cũng phải suy nghĩ rằng: “toàn bộ tài sản của người cho sẽ không hao tổn ắt hẳn không có, cho nên mới không bất kỳ ai cái gì.” Và điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:

Bậc trí sau khi nhìn thấy sự cạn kiệt của những giọt thuốc nhỏ mắt. Việc tích lũy của những con mối, và việc gom góp của những con ong, có thể sống đời sống tại gia.

Evaṃ adānameva sikkhāpesi. Dhuravihāre vasato sammāsambuddhassa yāgūḷuṅgamattaṃ vā bhattakaṭacchumattaṃ vā adatvā dhanalobhena kālaṃ katvā tasmiṃyeva ghare sunakho hutvā nibbatto. Subho taṃ sunakhaṃ ativiya piyāyati, attano bhuñjanakabhattaṃyeva bhojeti, ukkhipitvā varasayane sayāpeti. Atha Bhagavā ekadivasaṃ paccūsasamaye lokaṃ volokento taṃ sunakhaṃ disvā — “Todeyyabrāhmaṇo dhanalobhena attanova ghare sunakho hutvā nibbatto, ajja mayi subhassa gharaṃ gate maṃ disvā sunakho bhukkāraṃ karissati, athassāhaṃ ekaṃ vacanaṃ vakkhāmi, so ‘jānāti maṃ samaṇo gotamo’ti gantvā uddhanaṭṭhāne[1] nipajjissati. Tatonidānaṃ Subhassa mayā saddhiṃ eko kathāsallāpo bhavissati, so dhammaṃ sutvā saraṇesu patiṭṭhahissati, sunakho pana kālaṃ katvā niraye nibbattissatī”ti imaṃ māṇavassa saraṇesu patiṭṭhānabhāvaṃ ñatvā bhagavā taṃ divasaṃ sarīrapaṭijagganaṃ katvā ekakova gāmaṃ pavisitvā nikkhante māṇave taṃ gharaṃ piṇḍāya pāvisi.

Vị ấy thường xuyên nhắc nhở suy nghĩ như vậy. Vị ấy không cho bất kỳ vật gì thậm chí là một muỗng cháo hoặc một muỗng đồ ăn đến bậc Chánh đẳng Chánh giác cư trú ở gần Tinh xá, do dính mắc của cải tài sản sau khi thân hoại mạng chung vị ấy đã tái sanh làm con chó ngay chính trong căn nhà đó. Subha vô cùng yêu quý con chó ấy, cho ăn uống thọ dụng những vật thực mà bản thân thọ dụng, cho nằm ngủ ở chỗ nằm cao quý. Một ngày nọ đức Thế Tôn quan sát thế gian vào lúc gần sáng nhìn thấy con chó đó đã khởi lên suy nghĩ rằng: – “Bà-la-môn Todeyya sau khi chết đã tái sinh thành một con chó trong chính ngôi nhà của mình, do tham đắm vào tài sản, ngày hôm nay khi ta đến nhà của Subha, con chó sau khi đã thấy ta (nó) sẽ sủa và tru lên. Sau đó ta sẽ nói một lời với con chó, nó sẽ biết ta là Sa-môn Gotama, rồi chạy vào nằm ở dưới bếp, do điều đó làm nguyên nhân, Subha sẽ có một cuộc trò chuyện với ta, Subha ấy sau khi lắng nghe Pháp thoại sẽ vững trú nương nhờ vào Tam Bảo, còn con chó  sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục.” Đức Thế Tôn biết được tính chất vững trú trong các sự nương nhờ (Tam Bảo), vào ngày hôm ấy sau khi đã thực hiện thanh tẩy thân thể ngài đến tư gia ấy để khất thực cùng lúc với thanh niên đi ra khỏi nhà.

Sunakho Bhagavantaṃ disvā bhukkāraṃ karonto Bhagavato samīpaṃ gato. Tato naṃ Bhagavā etadavoca — “Todeyya tvaṃ pubbepi maṃ bho bhoti paribhavitvā sunakho jāto, idānipi bhukkāraṃ katvā avīciṃ gamissasī”ti. Sunakho taṃ sutvā — “jānāti maṃ Samaṇo gotamo”ti vippaṭisārī hutvā gīvaṃ onāmetvā uddhanantare[2] chārikāyaṃ nipanno. Manussā ukkhipitvā sayane sayāpetuṃ nāsakkhiṃsu. Subho āgantvā — “kenāyaṃ sunakho sayanā oropito”ti āha. Manussā na kenacīti vatvā taṃ pavattiṃ ārocesuṃ. Māṇavo sutvā — “mama pitā brahmaloke nibbatto, todeyyo nāma sunakho natthi. Samaṇo pana Gotamo pitaraṃ sunakhaṃ karoti, yaṃkiñci esa mukhāruḷhaṃ bhāsatī”ti kujjhitvā Bhagavantaṃ musāvādena niggahetukāmo vihāraṃ gantvā taṃ pavattiṃ pucchi.

Sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn con chó đã sủa và tru lên rồi đi đến gần Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn đã nói lời này cùng Todeyya (như sau) – “Này Todeyya, ngươi đã từng với lời phỉ báng ta rằng – này ông, này ông đã sanh làm loài chó, mà bây giờ vẫn còn sủa và tru lên (ngươi) sẽ tái sanh vào địa ngục Avīcī. Con cho sau khi nghe lời nói ấy – “Biết được rằng ta là Sa-môn Gotama” có sự nóng đốt, cúi đầu đi nằm ở đống tro ở giữa bếp lò. Mọi người không thể mang (nó) lên giường cho nằm ở chỗ nằm cao quý được. Khi Subha trở về nói rằng: – “ai đã đưa con chó nằm ở dưới?” Mọi người nói rằng – ‘không ai hết’ rồi thuật lại câu chuyện đã xảy ra. Thanh niên sau khi nghe đã nổi giận – “Cha của ta đã tái sanh vào Phạm thiên giới, không có con chó nào tên Todeyya cả nhưng Sa-môn Gotama lại làm cho cha của ta trở thành chó, Sa-môn Gotama đã nói những lời khiếm nhã như vậy” mong muốn bắt lỗi đức Thế Tôn bằng lời nói dối mới đi đến Tinh xá hỏi về chuyện xảy ra.

Bhagavāpi tassa tatheva vatvā avisaṃvādanatthaṃ āha — “atthi pana te māṇava pitarā anakkhātaṃ dhanan”ti. Atthi, bho gotama, satasahassagghanikā suvaṇṇamālā satasahassagghanikā suvaṇṇapādukā satasahassagghanikā suvaṇṇapāti satasahassañca kahāpaṇanti. Gaccha taṃ[3] sunakhaṃ appodakapāyāsaṃ bhojāpetvā sayane āropetvā īsakaṃ niddaṃ okkantakāle puccha, sabbaṃ te ācikkhissati. Atha naṃ jāneyyāsi “pitā me eso”ti. Māṇavo — “sace saccaṃ bhavissati, dhanaṃ lacchāmi, no ce, samaṇaṃ gotamaṃ musāvādena niggaṇhissāmī”ti dvīhipi kāraṇehi[4] tuṭṭho gantvā tathā akāsi. Sunakho — “ñātomhi iminā”ti roditvā[5] huṃ hunti karonto dhananidhānaṭṭhānaṃ gantvā pādena pathaviṃ khaṇitvā saññaṃ adāsi, māṇavo dhanaṃ gahetvā — “bhavapaṭicchannaṃ nāma evaṃ sukhumaṃ paṭisandhiantaraṃ pākaṭaṃ samaṇassa Gotamassa, addhā esa sabbaññū”ti Bhagavati pasannacitto cuddasa pañhe abhisaṅkhari. Aṅgavijjāpāṭhako kiresa, tenassa etadahosi — “idaṃ dhammapaṇṇākāraṃ gahetvā samaṇaṃ gotamaṃ pañhe pucchissāmī”ti dutiyagamanena yena bhagavā tenupasaṅkami, tena puṭṭhapañhe pana bhagavā ekappahāreneva vissajjento kammassakātiādimāha.

Ngay cả đức Thế Tôn cũng nói như thế cũng thanh niên Subha, để không cho xảy ra cuộc tranh luận mới nói rằng: “Này người thanh niên có phải còn tài sản mà cha của ngươi không nói cho ông biết phải không?” – Thanh niên đáp: “Phải, thưa ngài, tràng hoa được làm bằng vàng trị giá một trăm ngàn, đôi hài vàng tri giá một trăm ngàn và một trăm ngàn đồng tiền kahāpaṇa. – “Ngươi hãy đi hãy hỏi con chó ấy vào lúc cho ăn cơm sữa ráo nước, rồi ẵm lên chỗ nằm, khi nó ngủ được một chút rồi hỏi nó xem, nó sẽ nói toàn bộ tài sản cho ngươi. Sau đó người có thể biết được rằng ‘con chó là cha của ngươi’. Người thanh niên vui mừng với hai lý do – “nếu đó là sự thật ta sẽ có được tài sản, nếu không, ta sẽ chỉ trích Sa-môn Gotama bằng lời nói dối ấy” rồi thực hiện theo. Con chó biết rằng: – “ta đã bị thanh niên biết được, đã khóc lên ‘ẳng ẳng’ đi đến chỗ chôn giấu tài sản, cào xới mặt đất bằng đôi chân rồi ra dấu, thanh niên đã lấy tài sản, có tâm tịnh tín đối với đức Thế Tôn rằng: “Thường chỗ cất giấu tài sản xuất hiện là những thứ vi tế, trong giai đoạn tục sanh như vậy, đó quả thật là bậc trí Toàn giác của Sa-môn Gotama, mới tập hợp lại mười bốn vấn đề. Kể rằng thanh niên ấy là một vị thầy về tướng số, vì thế thanh niên ấy mới có suy nghĩ rằng: “Ta đã giữ lấy quà biếu Giáo Pháp này sẽ hỏi vấn đề cùng Sa-môn Gotama” đã đến gặp đức Thế Tôn ở chỗ cư trú của ngài vào lần đi thứ hai này. Tuy nhiên, đức Thế Tôn giải đáp tất cả mọi vấn đề mà thanh niên ấy hỏi cùng một lúc (ngài) đã nói (rằng): “tất cả chúng sanh có nghiệp là của mình” v.v.

Tattha kammaṃ etesaṃ sakaṃ attano bhaṇḍakanti kammassakā. Kammassa dāyādāti kammadāyādā, kammaṃ etesaṃ dāyajjaṃ bhaṇḍakanti attho. Kammaṃ etesaṃ yoni kāraṇanti kammayonī. kammaṃ etesaṃ bandhūti kammabandhū, kammañātakāti attho. Kammaṃ etesaṃ paṭisaraṇaṃ patiṭṭhāti kammapaṭisaraṇā. Yadidaṃ hīnappaṇītatāyāti yaṃ idaṃ “tvaṃ hīno bhava, tvaṃ paṇīto, tvaṃ appāyuko, tvaṃ dīghāyuko … pe … tvaṃ duppañño bhava, tvaṃ paññavā”ti evaṃ hīnappaṇītatāya vibhajanaṃ, taṃ na añño koci karoti, kammameva evaṃ satte vibhajatīti attho. Na māṇavo kathitassa atthaṃ sañjānāsi, ghanadussapaṭṭenassa mukhaṃ bandhitvā madhuraṃ purato ṭhapitaṃ viya ahosi. Mānanissito kiresa paṇḍitamānī, attanā samaṃ na passati[6]. Athassa “kiṃ samaṇo Gotamo katheti, yamahaṃ jānāmi, tadeva kathetīti ayaṃ māno mā ahosī”ti mānabhañjanatthaṃ Bhagavā “āditova duppaṭivijjhaṃ katvā kathessāmi, tato ‘nāhaṃ bho Gotama jānāmi, vitthārena me pākaṭaṃ katvā kathethā’ti maṃ yācissati, athassāhaṃ yācitakāle kathessāmi, evañcassa sātthakaṃ bhavissatī”ti duppaṭivijjhaṃ katvā kathesi.

Trong câu đó nghiệp là của những chúng sanh ấy, là tư trang của riêng mình, do đó những chúng sanh ấy gọi là chủ nhân của nghiệp. Tất cả chúng sanh là kẻ thừa tự của nghiệp vì thế những chúng sanh ấy gọi là kẻ thừa tự của nghiệp, giải thích rằng nghiệp là sự kế thừa, là tư trang của những chúng sanh ấy. Nghiệp là căn nguyên, tức làm nhân của những chúng sanh ấy, vì thế những chúng sanh ấy gọi là có nghiệp là căn nguyên. Nghiệp làm thân quyến của những chúng sanh ấy, vì thế những chúng sanh ấy gọi là có nghiệp là thân quyến, tức là có nghiệp làm thân quyến. Nghiệp là nơi nương tựa là nơi vững trú của những chúng sanh ấy, vì thế những chúng sanh ấy gọi là có nghiệp làm nơi nương tựa. Theo tính chất hạ liệt hay cao quý: việc phân loại hạng người hạ liệt hay cao quý như vầy: “ông hãy là người hạ liệt, hãy là người cao quý, ông là người yểu thọ, ông là người trường tín …nt… ông là người có tuệ kém, ông là người có tuệ” không một ai khác có thể phân chia tính chất người hạ liệt và cao quý ấy, mà chính do nghiệp đã phân chia tất cả chúng sanh trở nên như vậy. Thanh niên không hiểu ý nghĩa của uddesa đã trình bày, giống như buộc chặt miệng của thanh niên ấy bằng một miếng vải dày rồi để đồ ngọt ở trước mặt. Được biết thanh niên ấy ỷ vào lòng ngã mạn có sự tự mãn (cho mình) là bậc sáng suốt, quan sát không thấy ai bằng mình. Khi ấy đức Thế Tôn suy nghĩ – “Thanh niên ấy chớ có ngã mạn này, Sa-môn Gotama thuyết cái gì?” thuyết toàn những điều ta đã biết.” Để phá tan ngã mạn của vị ấy mới suy tư nữa: “Ta sẽ nói làm cho kẻ ấy khó lãnh hội ngay từ lúc bắt đầu,” từ đó, thanh niên ấy sẽ khẩn xin ta rằng: ‘Thưa ngài Gotama, tôi không hiểu, xin ngài hãy thuyết giảng để hiện hữu cùng tôi một cách chi tiết’, khi ấy ta sẽ thuyết giảng cho vị ấy vào lúc khẩn cầu, lúc đó sẽ mang lại lợi ích cho thanh niên ấy, cho nên đã nói để cho vị ấy khó lãnh hội (trước).

Idāni so attano appaṭividdhabhāvaṃ pakāsento na kho ahantiādimāha.

Bây giờ, thanh niên ấy khi tuyên bố tính chất bản thân là người không lãnh hội mới nói rằng: ‘tôi không hiểu ý nghĩa’

290. Samattenāti paripuṇṇena. Samādinnenāti gahitena parāmaṭṭhena. Appāyukasaṃvattanikā esā, māṇava, paṭipadā yadidaṃ pāṇātipātīti yaṃ idaṃ pāṇātipātakammaṃ, esā appāyukasaṃvattanikā paṭipadāti.

290. Thành đạt: thành tựu. Chấp trì: đã nắm giữ, đã bám lấy. Này thanh niên, hạng người thích tước đoạt mạng sống của chúng sanh…đây là đạo lộ đưa đến sự đoản mạng: nghiệp sát sanh, chính là đạo lộ đưa đến yểu thọ.

Kathaṃ panesā appāyukataṃ karoti? Cattāri hi kammāni upapīḷakaṃ upacchedakaṃ janakaṃ upatthambhakanti. Balavakammena hi nibbattaṃ pavatte upapīḷakaṃ āgantvā atthato evaṃ vadati nāma — “sacāhaṃ paṭhamataraṃ jāneyyaṃ, na te idha nibbattituṃ dadeyyaṃ, catūsuyeva taṃ apāyesu nibbattāpeyyaṃ. Hotu, tvaṃ yattha katthaci nibbatta[7], ahaṃ upapīḷakakammaṃ nāma taṃ pīḷetvā nirojaṃ niyūsaṃ kasaṭaṃ karissāmī”ti. Tato paṭṭhāya taṃ tādisaṃ karoti. Kiṃ karoti? Parissayaṃ upaneti, bhoge vināseti.

Hơn nữa việc thực hành này khiến cho yểu thọ như thế nào? Bởi vì bốn loại nghiệp là chướng nghiệp, đoạn nghiệp, sanh nghiệp, và trợ nghiệp. Bởi chướng nghiệp trong thời bình nhật xảy ra do nghiệp có sức mạnh, đế nói với ý nghĩa như vậy – “nếu như ta có thể biết trước, không nên để cho nghiệp ấy sanh khởi ở đây, nên khiến cho nó sanh ở cả bốn địa ngục, mặc kệ ngươi muốn sanh ở bất cứ nơi nào thì tùy, ta sẽ áp bức nghiệp được gọi là chướng nghiệp ấy, sẽ trở nên không có sinh lực, không có nhựa sống, làm cho mất giá trị. Kể từ đó chướng nghiệp làm cho kẻ ấy trở nên như thế. Làm như thế nào? Đem sự nguy hiểm đến (và) làm tiêu tan tài sản.

Tattha dārakassa mātukucchiyaṃ nibbattakālato paṭṭhāya mātu assādo[8] vā sukhaṃ vā na hoti, mātāpitūnaṃ pīḷāva uppajjati. Evaṃ parissayaṃ upaneti. Dārakassa pana mātukucchimhi nibbattakālato paṭṭhāya gehe bhogā udakaṃ patvā loṇaṃ viya rājādīnaṃ vasena nassanti, kumbhadohanadhenuyo khīraṃ na denti, sūratā goṇā[9] caṇḍā honti, kāṇā honti, khujjā honti, gomaṇḍale rogo patati, dāsādayo vacanaṃ na karonti, vāpitaṃ sassaṃ na jāyati, gehagataṃ gehe, araññagataṃ araññe nassati, anupubbena ghāsacchādanamattaṃ dullabhaṃ hoti, gabbhaparihāro na hoti, vijātakāle mātuthaññaṃ chijjati, dārako parihāraṃ alabhanto pīḷito nirojo niyūso kasaṭo hoti, idaṃ upapīḷakakammaṃ nāma.

Chướng nghiệp ấy vốn dĩ từ lúc đứa bé nhập mẫu thai, người mẹ không có sự thoải mái, hoặc không có sự an lạc và sự o ép khởi sanh nơi cha và mẹ, mang đến sự nguy hại như vậy. Vốn dĩ từ lúc đứa bé nhập mẫu thai, toàn bộ tài sản trong nhà đều tiêu tan do uy quyền của nhà vua v.v, như muối gặp nước. Các con bò mẹ được vắt sữa cũng không cho sữa, đàn bò được thuần hóa trở nên hung dữ, mắt mờ trở nên tàn tật, bệnh truyền nhiễm trong chuồng gia súc, người tùy tùng gồm nô lệ v.v, không nghe lời, mễ cốc được gieo không phát triển, mễ cốc ở trong nhà bị hủy hoại trong nhà, chỗ ở trong rừng cũng bị hủy hoại trong rừng, vật liệu được cho để điều trị cái đói, cái khát cũng khó khan hiếm, khó tìm, dụng cụ bảo vệ thai nhi cũng không có, khi đứa bé lọt lòng, sữa của mẹ cũng mất, đứa bé ấy không được bảo vệ cũng bị o ép, không có sinh lực, không có nhựa sống, không còn giá trị, đây gọi là chướng nghiệp – upapīḷakakamma.

Dīghāyukakammena pana nibbattassa upacchedakakammaṃ āgantvā āyuṃ chindati. yathā hi puriso aṭṭhusabhagamanaṃ katvā saraṃ khipeyya tamañño dhanuto vimuttamattaṃ muggarena paharitvā tattheva pāteyya, evaṃ dīghāyukakammena nibbattassa upacchedakakammaṃ āyuṃ chindati. Kiṃ karoti? Corānaṃ[10] aṭaviṃ paveseti, vāḷamacchodakaṃ otāreti, aññataraṃ vā pana saparissayaṭṭhānaṃ upaneti, idaṃ upacchedakakammaṃ nāma, “upaghātakan”tipi etasseva nāmaṃ.

Còn hạng người đã sanh do nghiệp làm cho trường thọ, đoạn nghiệp đến cắt đứt tuổi thọ giống như người đàn ông bắn một mũi tên xa 8 usubha[11] khi mũi tên vừa rời khỏi cung, có một người sử dụng búa phang khiến (mũi tên) rơi xuống như thế nào, đoạn nghiệp cắt đứt tuổi thọ của hạng người đã sanh bởi nghiệp làm cho trường thọ cũng như thế ấy. Làm như thế nào? Tên cướp xui khiến người ấy đi đến khu rừng rậm, lội qua dòng nước có cá dữ, hoặc đưa đến khu vực nguy hiểm khác. Đây gọi là đoạn nghiệp – upacchedakakamma. Chính đoạn nghiệp ấy có tên gọi là ‘đoạn nghiệp – upaghātaka’.

Paṭisandhinibbattakaṃ pana kammaṃ janakakammaṃ nāma. Appabhogakulādīsu nibbattassa bhogasampadādikaraṇena upatthambhakakammaṃ upatthambhakakammaṃ nāma.

Còn nghiệp làm cho sanh khởi sự tái tục gọi là sanh nghiệp – janakakamma. Nghiệp hỗ trợ với việc làm cho thành tựu tài sản v.v, của hạng người sanh ra trong các gia đình có gia đình ít tài sản v.v, gọi là trợ nghiệp – upatthambhakakamma.

Imesu catūsu purimāni dve akusalāneva, janakaṃ kusalampi akusalampi, upatthambhakaṃ kusalameva. Tattha pāṇātipātakammaṃ upacchedakakammena appāyukasaṃvattanikaṃ hoti. Pāṇātipātinā vā kataṃ kusalakammaṃ uḷāraṃ na hoti, dīghāyukapaṭisandhiṃ janetuṃ na sakkoti. Evaṃ pāṇātipāto appāyukasaṃvattaniko hoti. Paṭisandhimeva vā niyāmetvā appāyukaṃ karoti, sanniṭṭhānacetanāya vā niraye nibbattati, pubbāparacetanāhi vuttanayena appāyuko hoti.

Trong 4 loại nghiệp này, 2 loại nghiệp đầu thuần bất thiện, sanh nghiệp là thiện nghiệp cũng có (và) bất thiện nghiệp cũng có, trợ nghiệp là thuần thiện nghiệp. Trong những nghiệp ấy nghiệp sát sanh dẫn đến yểu thọ do đoản nghiệp. Hoặc thiện nghiệp mà hạng người thường sát sanh đã tạo, không cao quý, không thể dẫn đến sanh khởi bằng sự tục sanh có tuổi thọ dài. Sát sanh vận hành đưa đến yểu thọ như vậy. Hoặc chỉ xác định sự tục sanh khiến cho có tuổi thọ ngắn, hoặc tái sanh vào địa ngục với tâm sở Tư quyết định [sanniṭṭhāna cetanā], làm nhân dẫn đến yểu thọ với phương thức đã nói do ý định trước khi làm – pubbacetanā và với ý định sau khi làm – paracetanā.

Dīghāyukasaṃvattanikā esā māṇava paṭipadāti ettha parittakammenapi nibbattaṃ pavatte etaṃ pāṇātipātā viratikammaṃ āgantvā atthato evaṃ vadati nāma — “sacāhaṃ paṭhamataraṃ jāneyyaṃ, na te idha nibbattituṃ dadeyyaṃ, devalokeyeva taṃ nibbattāpeyyaṃ. Hotu, tvaṃ yattha katthaci nibbatti, ahaṃ upatthambhakakammaṃ nāma thambhaṃ te karissāmī”ti upatthambhaṃ karoti. Kiṃ karoti? Parissayaṃ nāseti, bhoge uppādeti.

Này thanh niên…đây là con đường dẫn đến trường thọ: ở đây, nghiệp từ bỏ sát sanh như vậy trong thời bình nhật sanh khởi với nghiệp ít ỏi, đến để trình bày với ý nghĩa rằng – “nếu như ta biết trước, không nên để ngươi sanh ở nơi này, nên cho ngươi sanh vào thế giới chư thiên mà thôi, mặc kệ dù ngươi sanh ở đâu đi chăng nữa, ta sẽ thực hiện việc trợ giúp”. Làm như thế nào? Làm cho sự hiểm nguy tiêu tan, làm cho tất cả tài sản được phát sanh.

Tattha dārakassa mātukucchiyaṃ nibbattakālato paṭṭhāya mātāpitūnaṃ sukhameva sātameva hoti. Yepi pakatiyā manussāmanussaparissayā[12] honti, te sabbe apagacchanti. Evaṃ parissayaṃ nāseti. Dārakassa pana mātukucchimhi nibbattakālato paṭṭhāya gehe bhogānaṃ pamāṇaṃ na hoti, nidhikumbhiyo puratopi pacchatopi gehaṃ pavaṭṭamānā pavisanti. Mātāpitaro parehi ṭhapitadhanassāpi sammukhībhāvaṃ gacchanti. Dhenuyo bahukhīrā honti, goṇā sukhasīlā honti, vappaṭṭhāne sassāni sampajjanti. Vaḍḍhiyā vā sampayuttaṃ, tāvakālikaṃ vā dinnaṃ dhanaṃ acoditā sayameva āharitvā denti, dāsādayo suvacā honti, kammantā na parihāyanti. Dārako gabbhato paṭṭhāya parihāraṃ labhati, komārikavejjā sannihitāva honti. gahapatikule jāto seṭṭhiṭṭhānaṃ, amaccakulādīsu jāto senāpatiṭṭhānādīni labhati. evaṃ bhoge uppādeti. so aparissayo sabhogo ciraṃ jīvatīti. evaṃ apāṇātipātakammaṃ dīghāyukasaṃvattanikaṃ hoti.

Do trợ nghiệp ấy cha và mẹ chỉ có sự an lạc mà thôi, hoàn toàn được an lòng, vốn dĩ từ lúc đưa bé nhập mẫu thai. Sự nguy hiểm từ thế giới loài người và phi nhân một cách bình thường thế nào, toàn bộ những sự nguy hiểm đó biết mất. Tiêu hủy sự nguy hiểm như vậy. Ước lượng toàn bộ tài sản trong nhà không có, vốn dĩ từ lức đứa bé nhập mẫu thai, tất cả hầm châu báu trong đến tập hợp ở trong nhà, cả phía trước lẫn phía sau. Cha và mẹ đi đến sự đầy đủ với tài sản mà những hạng người ấy mang đến đặt để. Ngay cả đàn bò sữa cũng có nhiều sữa. Đàn gia súc cũng sống an lạc, toàn bộ mễ cốc được gieo đều (phát triển) màu mỡ. Tất cả hạng người không ai nhắc nhở đều mang tài sản đến liên quan với sự sinh lời hoặc tài sản được vị ấy cho mượn tạm thời tự đến. Đoàn tùy tùng có nô lệ cũng trở nên dễ dạy. Tất cả việc làm không suy giảm. Đứa bé được bảo vệ từ trong bụng mẹ. Lương y liên quan đến các bé đều đến tụ họp. Đưa bé được sanh ra trong gia đình gia chủ có được vị trí trưởng giả, sanh ra trong các gia đình có gia định quan đại thần v.v, có được các vị trị gồm vị trí tướng quân v.v. trợ nghiệp cho tất cả tài sản sanh khởi như vậy. Vị ấy không có sự hiểm nguy cũng với tài sản duy trì sự sống bền lâu, nghiệp không sát sanh vận hành đưa đến được trường thọ như thế.

Apāṇātipātinā vā kataṃ aññampi kusalaṃ uḷāraṃ hoti, dīghāyukapaṭisandhiṃ janetuṃ sakkoti, evampi dīghāyukasaṃvattanikaṃ hoti. paṭisandhimeva vā niyāmetvā dīghāyukaṃ karoti. sanniṭṭhānacetanāya vā devaloke nibbattati, pubbāparacetanāhi vuttanayena dīghāyuko hoti. iminā nayena sabbapañhavissajjanesu attho veditabbo.

Hoặc thiện nghiệp khác do người không sát sanh đã làm, cao quý, có thể sanh khởi đưa đến sự tục sanh làm cho (người ấy) được trường thọ. Không sát sanh vận hành đưa đến trường thọ như vậy. Hoặc chỉ xác định sự tục sanh khiến cho có tuổi thọ dài, hoặc tái sanh vào cõi trời với tâm sở Tư quyết định [sanniṭṭhāna cetanā], làm nhân được trường thọ với phương thức đã nói do ý định trước khi làm – pubbacetanā và với ý định sau khi làm – paracetanā.

Viheṭhanakammādīnipi hi pavatte āgantvā atthato tatheva vadamānāni viya upapīḷanena nibbhogataṃ āpādetvā paṭijagganaṃ alabhantassa roguppādanādīhi vā, viheṭhakādīhi katassa kusalassa anuḷāratāya vā, āditova paṭisandhiniyāmanena vā, vuttanayeneva pubbāparacetanāvasena vā bahvābādhatādīni karonti, apāṇātipāto viya ca aviheṭhanādīnipi appābādhatādīnīti.

Nên hiểu ý nghĩa trong việc giải đáp mọi vấn đề theo phương thức này, bởi tất cả nghiệp dù có việc làm tổn thương (bằng đôi tay) v.v, cũng đến tương tự trong thời bình nhật như nói lên ý nghĩa cũng cách thức đó, thực hiện mọi phận sự có bệnh nhiều v.v, với các nguyên nhân làm bệnh tật khởi sanh v.v, cho hạng người đi đến sự trống không về tài sản do sự tổn thương, không được thực hành, hoặc với tính chất thiện mà hạng người gây tổn thương đã thực hiện thuộc trạng thái không cao quý, hoặc với việc xác định sự tái tục ngay từ ban đầu, hoặc do mãnh lực Tư tiền – pubbacetanā và Tư hậu – paracetanā theo phương thức như đã trình bày, tất cả nghiệp có việc không gây tổn thương v.v, được làm ngay cả với người ít bệnh như việc không sát sanh.

293. Ettha pana issāmanakoti issāsampayuttacitto. Upadussatīti issāvaseneva upakkosanto dussati. Issaṃ bandhatīti yavakalāpaṃ bandhanto viya yathā na nassati evaṃ bandhitvā viya ṭhapeti. Appesakkhoti appaparivāro, rattiṃ khitto viya saro na paññāyati, ucchiṭṭhahattho nisīditvā udakadāyakampi na labhati.

293. Hơn nữa, ở đây ‘có tâm ganh tị’: có tâm gắn liền với sự đố kỵ. Mang mối thù hằn: mắng nhiếc do tác động lòng đố kỵ, gây tổn thương. Cột chặt tâm ganh tị: thiết lập sự ganh tị giống như nặn vắt cơm nếp, giống như buộc chặt (sợi dây) lại không để tuột khỏi. Có ít quyền lực: có ít tùy tùng, là không có danh tiếng, giống như cung tên được bắn ra vào ban đêm. Có đôi tay dơ bẩn đã ngồi xuống không nhận được (từ) người cho nước.

294. Na dātā hotīti macchariyavasena na dātā hoti. Tena kammenāti tena macchariyakammena.

294. Không phải người cho: Là người không cho do mãnh lực sự keo kiệt. Do nghiệp ấy: nghiệp là sự keo kiệt này đây.

295. Abhivādetabbanti abhivādanārahaṃ buddhaṃ vā paccekabuddhaṃ vā ariyasāvakaṃ vā. Paccuṭṭhātabbādīsupi eseva nayo. Imasmiṃ pana pañhavissajjane upapīḷakaupatthambhakakammāni na gahetabbāni. na hi pavatte nīcakulinaṃ vā uccākulinaṃ vā sakkā kātuṃ, paṭisandhimeva pana niyāmetvā nīcakuliyaṃ kammaṃ nīcakule nibbatteti, uccākuliyaṃ kammaṃ uccākule.

295. Người đáng đảnh lễ: Đức Phật, Phật-độc-giác, hoặc chư Thánh Thinh văn là những bậc xứng đáng được đảnh lễ. Người nên đứng dậy tiếp đón cũng có phương thức tương tự. Không nên chấp lấy chướng nghiệp và trì nghiệp trong việc giải quyết vấn đề này. Do không thể để thực hành đối với người có dòng dõi thấp, người có dòng dõi cao trong thời bình nhật. Tuy nhiên, nghiệp lực của người tái sanh trong gia đình thấp kém, xác định sự tục sanh cho sanh vào gia đình thấp kém, nghiệp được nuôi dưỡng cho sanh vào dòng dõi cao quý hẳn được sanh vào gia đình cao quý.

296. na paripucchitā hotīti ettha pana aparipucchanena niraye na nibbattati. aparipucchako pana “idaṃ kātabbaṃ, idaṃ na kātabban”ti na jānāti, ajānanto kātabbaṃ na karoti, akātabbaṃ karoti. Tena niraye nibbattati, itaro sagge. Iti kho, māṇava … pe … yadidaṃ hīnappaṇītatāyāti satthā desanaṃ yathānusandhiṃ pāpesi. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

296. Không (đi đến gặp Sa-môn và Bà-la-môn) để hỏi: lại nữa, ở đây sanh vào địa ngục do không hỏi han. Người không hỏi thì không biết rằng: ‘điều này nên làm, còn điều này không nên làm’, trong khi không biết không làm điều nên làm, lại làm điều không nên làm. Tái sanh vào địa ngục do nghiệp ấy. Ngoài hạng người ấy ra (hạng người còn lại) được sanh vào thiên giới. Này thanh niên tất cả chúng sanh đều có nghiệp riêng của mình…nt…có hạ liệt và cao sang: Bậc Đạo Sư kết thúc Pháp thoại theo sự liên kết. Từ còn lại trong các câu đều đơn giản.

Giải Thích Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt Kết Thúc


[1]  Sī. – uddhanadvāre

[2] Ka. – uddhanaṭṭhāne

[3] Ka. – gaccha tvaṃ

[4] Ka. – Dvīhākārehi

[5] Sī, Syā. – Ñātvā

[6] Sī. – attanā samanupassati

[7] Sī. Syā. – nibbatto, Ka. – nibbattaṃ

[8] Sī. – assāso

[9] Ka. – sudantagoṇā

[10] Sī. – corāṭaviṃ

[11] usabha: 18 hattha (cánh tay) = 9 m; 8 usabha = 400 m

[12]  Sī. – manussānaṃ parissayā, Ka. – manussānaṃ manussaparissayā