Kinh số 131 – Giải Thích Kinh Nhất Dạ Hiền Giả
(Bhaddekarattasuttavaṇṇanā)Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Nhất Dạ Hiền Giả
272. Evaṃ me sutanti bhaddekarattasuttaṃ. Tattha bhaddekarattassāti vipassanānuyogasamannāgatattā bhaddakassa ekarattassa. Uddesanti mātikaṃ. vibhaṅganti vitthārabhājanīyaṃ.
272. Kinh Nhất Dạ Hiền Giả được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, Của Nhất Dạ Hiền: nghĩa là của một đêm tốt lành/hiền thiện (bhaddaka) do thành tựu sự chú tâm tu tập Minh sát (vipassanānuyoga). Tổng thuyết [uddesa]: gồm mẫu đề. Biệt thuyết [vibhaṅga]: câu được diễn giải một cách chi tiết.
Atītanti atīte pañcakkhandhe. Nānvāgameyyāti taṇhādiṭṭhīhi nānugaccheyya. Nappaṭikaṅkheti taṇhādiṭṭhīhi na pattheyya. Yadatītanti idamettha kāraṇavacanaṃ. yasmā yaṃ atītaṃ, taṃ pahīnaṃ niruddhaṃ atthaṅgataṃ, tasmā taṃ puna nānugaccheyya. Yasmā ca yaṃ anāgataṃ, taṃ appattaṃ ajātaṃ anibbattaṃ, tasmā tampi na pattheyya.
Quá khứ: năm uẩn đã trôi qua. Không nên hồi tưởng: nghĩa là không nên chạy theo (anugaccheyya) bằng tham ái và tà kiến. Không nên ước vọng: nghĩa là không nên mong cầu (pattheyya) bằng tham ái và tà kiến. Điều nào đã trôi qua rồi: ở kệ ngôn này nói đến nguyên nhân. Bởi vì cái gì đã qua, cái đó đã bị dứt bỏ, đã diệt, đã biến mất (atthaṅgata), do đó không nên quay lại chạy theo nó nữa. Và bởi vì cái gì chưa đến (anāgata), cái đó chưa đạt tới (appatta), chưa sanh (ajāta), chưa hiện khởi (anibbatta), do đó cũng không nên mong cầu cái ấy.
Tattha tatthāti paccuppannampi dhammaṃ yattha yattheva uppanno, tattha tattheva ca naṃ aniccānupassanādīhi sattahi anupassanāhi yo vipassati araññādīsu vā tattha tattheva vipassati. Asaṃhīraṃ asaṃkuppanti idaṃ vipassanāpaṭivipassanādassanatthaṃ vuttaṃ. Vipassanā hi rāgādīhi na saṃhīrati na saṃkuppatīti asaṃhīraṃ asaṃkuppaṃ, taṃ anubrūhaye vaḍḍheyya, paṭivipasseyyāti vuttaṃ hoti. Atha vā nibbānaṃ rāgādīhi na saṃhīrati na saṃkuppatīti asaṃhīraṃ asaṃkuppaṃ. Taṃ vidvā paṇḍito bhikkhu anubrūhaye, punappunaṃ tadārammaṇaṃ taṃ taṃ phalasamāpattiṃ appento vaḍḍheyyāti attho.
Ở chỗ ấy, chỗ ấy: nghĩa là đối với pháp hiện tại, nó sanh khởi ngay tại đâu, thì quán sát nó ngay tại đó bằng bảy loại quán niệm như quán vô thường, v.v… Hoặc là quán sát ngay tại nơi đó, như là ở trong rừng, v.v… Không bị dao động, không bị lay chuyển: điều này được nói để chỉ cho Minh sát (vipassanā) và Phản quán (paṭivipassanā). Thật vậy, Minh sát không bị lôi cuốn, không bị rung chuyển bởi tham ái, v.v… nên gọi là “bất động, bất chuyển”. “Hãy phát triển pháp ấy” (taṃ anubrūhaye): nghĩa là hãy làm cho tăng trưởng, hãy quán xét lại (paṭivipasseyya).
Hoặc là, Niết-bàn không bị lôi cuốn, không bị rung chuyển bởi tham ái, v.v… nên gọi là “bất động, bất chuyển”. Vị tỳ-khưu bậc trí biết rõ điều đó (Niết-bàn) “hãy phát triển nó”, nghĩa là hãy làm cho tăng trưởng bằng cách an trú vào các quả thiền chứng (phalasamāpatti) có Niết-bàn làm cảnh (đối tượng) hết lần này đến lần khác.
Tassa pana anubrūhantassa atthāya — ajjeva kiccamātappanti kilesānaṃ ātāpanaparitāpanena ātappanti laddhanāmaṃ vīriyaṃ ajjeva kātabbaṃ. Ko jaññā maraṇaṃ suveti sve jīvitaṃ vā maraṇaṃ vā ko jānāti. Ajjeva dānaṃ vā dassāmi, sīlaṃ vā rakkhissāmi, aññataraṃ vā pana kusalaṃ karissāmīti hi “ajja tāva papañco atthi, sve vā punadivase vā karissāmī”ti cittaṃ anuppādetvā ajjeva karissāmīti evaṃ vīriyaṃ kātabbanti dasseti. Mahāsenenāti aggivisasatthādīni anekāni maraṇakāraṇāni tassa senā, tāya mahatiyā senāya vasena mahāsenena evarūpena maccunā saddhiṃ “katipāhaṃ tāva āgamehi yāvāhaṃ buddhapūjādiṃ attano avassayakammaṃ karomī”ti. evaṃ mittasanthavākārasaṅkhāto[1] vā, “idaṃ sataṃ vā sahassaṃ vā gahetvā katipāhaṃ āgamehī”ti evaṃ lañjānuppadānasaṅkhāto vā, “imināhaṃ balarāsinā paṭibāhissāmī”ti evaṃ balarāsisaṅkhāto vā saṅgaro natthi. Saṅgaroti hi mittasanthavākāralañjānuppadānabalarāsīnaṃ nāmaṃ, tasmā ayamattho vutto.
Hơn nữa, vì lợi ích cho vị đang phát triển (Minh sát) ấy [mà có câu]: Sự nhiệt tâm là việc cần phải làm ngay trong ngày hôm nay: Sự tinh tấn được gọi là sự nhiệt tâm do thiêu đốt tất cả mọi phiền não hoặc làm tất cả phiền não đều bị nóng bừng có thể thực hiện ngay trong ngày hôm nay. Ai có thể biết cái chết (có thể xảy ra) vào ngày mai? ai có thể biết được rằng (tôi) sẽ sống hay sẽ chết vào ngày mai. (nên suy nghĩ) tôi sẽ bố thí, hoặc tôi sẽ thọ trì giới, hoặc tôi sẽ tạo bất kỳ phước thiện nào ngay ngày hôm nay, (không nên suy nghĩ) “ngày hôm nay tôi sẽ nghỉ ngơi trước, ta có thể biết được ngày mai hoặc ngày kia hay sao?” cần phải tinh tấn như vầy “tôi sẽ làm ngay ngày hôm nay”. (Ma vương) vị có đạo quân đông đảo: Quân lính của nó là vô số nguyên nhân gây chết như lửa, thuốc độc, khí giới… Với Thần Chết (Maccu) có đạo quân hùng hậu như vậy, thì “không có sự thương lượng” (saṅgaro natthi). Không có sự thương lượng nào theo kiểu thân tình bằng hữu như: “Xin ngài hãy đợi vài ngày để tôi làm các việc phước nương nhờ cho mình như cúng dường Đức Phật v.v…”; hoặc theo kiểu hối lộ như: “Ngài hãy cầm lấy một trăm hay một ngàn đồng này rồi đợi cho vài ngày”; hoặc theo kiểu dùng binh lực như: “Ta sẽ dùng đạo quân này để đánh trả”. Sự thương lượng: chính là tên gọi của các hành động: thân tình bằng hữu, hối lộ, và dùng binh lực. Do đó ý nghĩa này mới được nói đến.
Atanditanti analasaṃ uṭṭhāhakaṃ. Evaṃ paṭipannattā bhaddo ekaratto assāti bhaddekaratto. Iti taṃ evaṃ paṭipannapuggalaṃ “bhaddekaratto ayan”ti. Rāgādīnaṃ santatāya santo buddhamuni ācikkhati.
Không mệt mỏi: người không lười biếng, tức siêng năng. Do thực hành như vậy mới gọi là vị có một đêm tăng trưởng, bởi tính chất hạng người ấy là vị thực hành như thế, vì lý do ấy mà người đó được gọi là hạng người có một đêm tăng trưởng. Bậc “Trầm Lặng” (Muni – Mâu-ni), tức là đức Phật, bậc đã an tịnh (santo) do sự vắng lặng của tham ái v.v…, gọi hạng người thực hành như vậy là “người có một đêm tăng trưởng”.
273. Evaṃrūpotiādīsu kāḷopi samāno indanīlamaṇivaṇṇo ahosinti evaṃ manuññarūpavaseneva evaṃrūpo ahosiṃ. Kusalasukhasomanassavedanāvaseneva evaṃvedano. Taṃsampayuttānaṃyeva saññādīnaṃ vasena evaṃsañño evaṃsaṅkhāro evaṃviññāṇo ahosiṃ atītamaddhānanti.
273. Có sắc như vậy v.v, [nghĩa là]: “Dù [thực tế] là người da đen, [nhưng lại nghĩ] ta đã có màu da như ngọc bích (Indanīla)”; [như vậy] “tôi đã có sắc như vầy” chính là do mãnh lực của sắc khả ái (đáng hài lòng). “Tôi đã có thọ như vầy” chính là do mãnh lực của lạc thọ và hỷ thọ thuộc thiện. “Tôi đã có tưởng như vầy, hành như vầy, thức như vầy trong thời quá khứ” chính là do mãnh lực của tưởng v.v… tương ưng với chính [cảm thọ] đó.
Tattha nandiṃ samanvānetīti tesu rūpādīsu taṇhaṃ samanvāneti anupavatteti. hīnarūpādivasena pana evaṃrūpo ahosiṃ … pe … evaṃviññāṇo ahosinti na maññati.
Hồi tưởng sự hân hoan trong năm uẩn đó: nghĩa là truy tìm, làm cho tham ái tiếp diễn đối với sắc v.v… đó. Nhưng [người ấy] không suy nghĩ rằng: “Ta đã có sắc như vầy… (lược)… ta đã có thức như vầy” bằng cách [nhớ đến] các sắc hạ liệt v.v…
Nandiṃ na samanvānetīti taṇhaṃ vā taṇhāsampayuttadiṭṭhiṃ vā nānupavattayati.
Không hồi tưởng đến sự hân hoan: nghĩa là không làm cho tham ái hoặc tà kiến tương ưng với tham ái được tiếp diễn.
274. Evaṃrūpo siyantiādīsupi taṃmanuññarūpādivaseneva taṇhādiṭṭhipavattasaṅkhātā nandisamanvānayanāva veditabbā.
274. Ngay cả trong các câu bắt đầu bằng: “Mong rằng tôi sẽ có sắc như vầy”, cần phải hiểu rằng sự “truy tìm hân hoan” chính là sự vận hành của tham ái và tà kiến, cũng chỉ do mãnh lực của sắc khả ái v.v… đó mà thôi.
275. Kathañca, bhikkhave, paccuppannesu dhammesu saṃhīratīti idaṃ “paccuppannañca yo dhammaṃ, tattha tattha vipassati. Asaṃhīraṃ asaṃkuppan”ti uddesassa niddesatthaṃ vuttaṃ. Kāmañcettha “kathañca, bhikkhave, paccuppannaṃ dhammaṃ na vipassatī”tiādi vattabbaṃ siyā, yasmā pana asaṃhīrāti ca asaṃkuppāti ca vipassanā vuttā, tasmā tassā eva abhāvañca bhāvañca dassetuṃ saṃhīratīti mātikaṃ uddharitvā vitthāro vutto. Tattha saṃhīratīti vipassanāya abhāvato taṇhādiṭṭhīhi ākaḍḍhiyati. Na saṃhīratīti vipassanāya bhāvena taṇhādiṭṭhīhi nākaḍḍhiyati. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
275. Và này các Tỳ khưu, con người bị lung lay trong các pháp thuộc hiện tại như thế nào? được nói ra nhằm mục đích giải thích ý nghĩa cho phần tóm tắt (uddesa) [trong bài kệ]: “Và người nào quán chiếu pháp hiện tại ngay tại đó, không bị lôi cuốn, không bị lay chuyển”. Lẽ ra ở đây nên nói rằng: “Và này các Tỳ-khưu, thế nào là không quán chiếu pháp hiện tại?” v.v…, nhưng bởi vì Minh sát (Vipassanā) đã được gọi là “không bị lôi cuốn” và “không bị lay chuyển”, nên để chỉ ra sự vắng mặt và sự hiện hữu của chính [Minh sát] đó, [Đức Thế Tôn] mới nêu lên mẫu đề là “bị lôi cuốn” rồi thuyết giảng chi tiết.
Trong đó, “bị lôi cuốn” nghĩa là bị lôi kéo bởi tham ái và tà kiến do không có Minh sát. “Không bị lôi cuốn” nghĩa là không bị lôi kéo bởi tham ái và tà kiến do có sự hiện hữu của Minh sát. Phần còn lại trong tất cả các đoạn đều đã rõ ràng.
Giải Thích Kinh Nhất Dạ Hiền Giả Kết Thúc
[1] Ka. – mittasanthavakaraṇa….