Kinh số 130 – Giải Thích Kinh Thiên Sứ
(Devadūtasuttavaṇṇanā)Xem Trung Bộ Kinh – Giải Thích Kinh Thiên Sứ
261. Evamme sutanti Devadūtasuttaṃ. Tattha dve agārātiādi Assapurasutte vitthāritameva.
261. Kinh Thiên Sứ được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, có hai ngôi nhà: đước nói chi tiết trong bài Kinh Assapura.
262. Nirayaṃ upapannāti bhagavā katthaci nirayato paṭṭhāya desanaṃ devalokena osāpeti, katthaci devalokato paṭṭhāya nirayena osāpeti. Sace saggasampattiṃ vitthāretvā kathetukāmo hoti, nirayadukkhaṃ ekadesato katheti, tiracchānayonidukkhaṃ pettivisayadukkhaṃ manussalokasampattiṃ ekadesato katheti, saggasampattimeva vitthāreti. Sace nirayadukkhaṃ vitthāretvā kathetukāmo hoti, devalokamanussalokesu sampattiṃ tiracchānayonipettivisayesu ca dukkhaṃ ekadesato katheti, nirayadukkhameva vitthāreti. So imasmiṃ sutte nirayadukkhaṃ vitthāretukāmo, tasmā devalokato paṭṭhāya desanaṃ nirayena osāpeti. Devalokamanussalokasampattiyo tiracchānayonipettivisayadukkhāni ca ekadesato kathetvā nirayadukkhameva vitthārena kathetuṃ tamenaṃ, bhikkhave, nirayapālātiādimāha.
262. Bị sanh vào địa ngục: Đôi khi đức Thế Tôn thuyết giảng kể bắt đầu từ địa ngục (và) cho kết thúc ở cõi trời, đôi khi bắt đầu từ cõi trời (và) kết thúc ở địa ngục. Nếu muốn nói chi tiết về sự thành tựu cõi trời, (ngài) nói đến khổ đau ở địa ngục vắn tắt, rồi nói đến khổ đau loài bàn sanh, khổ đau loài ngạ quỷ, sự thành tựu ở thế giới loài người vắn tắt. Nếu muốn nói đến khổ đau trong địa ngục một cách chi tiết, (ngài) nói đến sự thành tựu thiên giới và nhân giới, và khổ đau sanh loại bàng sanh, và khổ đau ngạ quỷ vắn tắt. Trong bài Kinh này ngài muốn nói chi tiết khổ đau ở địa ngục, vì thế ngài thuyết bắt đầu từ thiên giới (và) kết thúc ở địa ngục, để thuyết giảng đến sự thành tựu ở thiên giới và nhân giới, và khổ đau về sanh chủng loài bàng sanh và ngạ quỷ vắn tắt, rồi nói đến khổ trong địa ngục một cách chi tiết mới thuyết lời như sau: “Này chư Tỳ khưu, các người cai ngục, sau khi bắt giữ những chúng sanh ở địa ngục ấy…”
Tattha ekacce therā “nirayapālā nāma natthi, yantarūpaṃ viya kammameva kāraṇaṃ kāretī”ti vadanti. tesaṃ taṃ “atthi niraye nirayapālāti, āmantā, atthi ca kāraṇikā”tiādinā nayena abhidhamme[1] paṭisedhitameva. Yathā hi manussaloke kammakāraṇakārakā[2] atthi, evameva niraye nirayapālā atthīti. Yamassa raññoti yamarājā nāma vemānikapetarājā, ekasmiṃ kāle dibbavimāne dibbakapparukkha-dibbauyyāna-dibbanāṭakādisampattiṃ anubhavati, ekasmiṃ kāle kammavipākaṃ, dhammiko rājā. Na cesa ekova hoti, catūsu pana dvāresu cattāro janā honti. Nāddasanti attano santike pesitassa kassaci devadūtassa abhāvaṃ sandhāya evaṃ vadati. Atha naṃ yamo “nāyaṃ bhāsitassa atthaṃ sallakkhetī”ti ñatvā sallakkhāpetukāmo ambhotiādimāha.
Tại đây, một số Trưởng lão nói rằng: “Không có cái gọi là ngục tốt (người giữ địa ngục), chính nghiệp thực hiện việc hành hình giống như một cỗ máy (hình nhân) vậy”. Quan điểm đó của các vị ấy đã bị bác bỏ trong Abhidhamma (Tạng Vô Tỷ Pháp) theo phương thức như sau: “Trong địa ngục có ngục tốt không? – Có. Và có những người hành hình không? [Có]”. (kathā. 866). Thật vậy, cũng giống như ở cõi người có những người thi hành hình phạt, thì cũng y như thế, ở địa ngục có các ngục tốt. Vua Yama: Vua Yama là vua của loài Ngạ quỷ Cung điện (Vemānikapeta). Vào một thời điểm, vị ấy hưởng thụ sự thành tựu như cây như ý, vườn trời, vũ công trời… tại thiên cung; vào một thời điểm khác lại chịu quả của nghiệp [xấu]. Đó là một vị vua công minh. Và vị này không phải chỉ có một, mà tại bốn cửa [địa ngục] có bốn vị vua như thế. Tôi không nhìn thấy: Vua nói như vậy là ám chỉ việc [chúng sanh đó] không nhận biết (sự vắng mặt của sự nhận biết) về bất kỳ thiên sứ nào đã được gửi đến ngay bên cạnh mình. Khi ấy, vua Yama biết rằng: “Kẻ này không nhận ra ý nghĩa của lời đã nói”, và vì muốn cho hắn nhận ra, nên vua mới nói tiếp câu bắt đầu bằng từ “Này người kia” (ambho).
Jātidhammoti jātisabhāvo, aparimutto jātiyā, jāti nāma mayhaṃ abbhantareyeva atthīti[3]. Parato jarādhammotiādīsupi eseva nayo.
Có trạng thái sanh: nghĩa là có bản tánh phải sanh, không thoát khỏi sự sanh, [ý thức rằng] “cái gọi là sự sanh có mặt ngay bên trong ta”. Đối với các câu tiếp theo như ‘Có trạng thái già’ cũng có phương thức tương tự.
263. Paṭhamaṃ devadūtaṃ samanuyuñjitvāti ettha daharakumāro atthato evaṃ vadati nāma “passatha, bho, mayhampi tumhākaṃ viya hatthapādā atthi, sake panamhi muttakarīse palipanno, attano dhammatāya uṭṭhahitvā nhāyituṃ na sakkomi, ahaṃ kiliṭṭhagattomhi, nhāpetha manti vattumpi na sakkomi, jātitomhi aparimuttatāya ediso jāto. Na kho panāhameva, tumhepi jātito aparimuttāva. Yatheva hi mayhaṃ, evaṃ tumhākampi jāti āgamissati, iti tassā pure āgamanāva kalyāṇaṃ karothā”ti. Tenesa devadūto nāma jāto, vacanattho pana maghadevasutte vuttova.
263. Khi thẩm vấn…đến thiên sứ thứ nhất:
Tại đây, đứa trẻ sơ sinh (daharakumāro) [được xem là] nói như vầy theo ý nghĩa [của sự hiện diện đó]: “Này các ngài, hãy nhìn tôi! Tôi cũng có tay và chân giống như các ngài, nhưng tôi lại phải nằm dầm mình trong đống phân và nước tiểu của chính mình. Theo bản tánh tự nhiên, tôi không thể tự đứng dậy để tắm rửa. Thân thể tôi dơ bẩn, nhưng thậm chí tôi cũng không thể nói rằng ‘hãy tắm cho tôi’. Tôi sanh ra như thế này là do chưa thoát khỏi sự sanh. Nhưng không phải chỉ riêng tôi, mà ngay cả các ngài cũng chưa thoát khỏi sự sanh. Cũng giống như tôi vậy, sự sanh sẽ đến với các ngài. Do đó, các ngài hãy làm những việc thiện lành trước khi sự sanh ấy đến [với các ngài]”. Vì lý do ấy, đứa trẻ đó được gọi là Thiên sứ. Còn ý nghĩa của từ ngữ này đã được nói đến trong bài kinh Makhādeva.
Dutiyaṃ devadūtanti etthāpi jarājiṇṇasatto atthato evaṃ vadati nāma — “passatha, bho, ahampi tumhe viya taruṇo ahosiṃ ūrubalabāhubalajavanasampanno, tassa me tā balajavanasampattiyo antarahitā, vijjamānāpi me hatthapādā hatthapādakiccaṃ na karonti, jarāyamhi[4] aparimuttatāya ediso jāto. Na kho panāhameva, tumhepi jarāya aparimuttāva. Yatheva hi mayhaṃ, evaṃ tumhākampi jarā āgamissati, iti tassā pure āgamanāva kalyāṇaṃ karothā”ti. tenesa devadūto nāma jāto.
Thiên sứ thứ 2: Tại đây, chúng sanh già yếu [được xem là] nói như vầy theo ý nghĩa [của sự hiện diện đó]: “Này các ngài, hãy nhìn tôi! Tôi cũng đã từng là thanh niên, đầy đủ sức mạnh bắp đùi, sức mạnh cánh tay và sự nhanh nhẹn giống như các ngài. [Nhưng nay] sự thành tựu về sức lực và nhanh nhẹn ấy của tôi đã biến mất. Dẫu tay chân tôi vẫn còn đó, nhưng chúng không thể làm được phận sự của tay và chân nữa. Tôi trở nên như thế này là do chưa thoát khỏi sự già. Nhưng không phải chỉ riêng tôi, mà ngay cả các ngài cũng chưa thoát khỏi sự già. Cũng giống như tôi vậy, sự già sẽ đến với các ngài. Do đó, các ngài hãy làm những việc thiện lành trước khi sự già ấy đến”. Vì lý do ấy, chúng sanh già nua đó được gọi là Thiên sứ.
Tatiyaṃ devadūtanti etthāpi gilānasatto[5] atthato eva vadati nāma — “passatha, bho, ahampi tumhe viya nirogo ahosiṃ, somhi etarahi byādhinā abhihato[6] sake muttakarīse palipanno, uṭṭhātumpi na sakkomi, vijjamānāpi me hatthapādā hatthapādakiccaṃ na karonti, byādhitomhi aparimuttatāya ediso jāto. Na kho panāhameva, tumhepi byādhito aparimuttāva. yatheva hi mayhaṃ, evaṃ tumhākaṃ byādhi āgamissati, iti tassa pure āgamanāva kalyāṇaṃ karothā”ti. Tenesa devadūto nāma jāto.
Thiên sứ thứ 3: Tại đây, chúng sanh bệnh tật [được xem là] nói như vầy theo ý nghĩa [của sự hiện diện đó]: “Này các ngài, hãy nhìn tôi! Tôi cũng đã từng khỏe mạnh giống như các ngài, nhưng nay tôi bị bệnh tật áp chế, phải nằm dầm mình trong phân và nước tiểu của chính mình, thậm chí không thể tự đứng dậy nổi. Dẫu tay chân tôi vẫn còn đó, nhưng chúng không thể làm được phận sự của tay và chân nữa. Tôi trở nên như thế này là do chưa thoát khỏi bệnh tật. Nhưng không phải chỉ riêng tôi, mà ngay cả các ngài cũng chưa thoát khỏi bệnh tật. Cũng giống như tôi vậy, bệnh tật sẽ đến với các ngài. Do đó, các ngài hãy làm những việc thiện lành trước khi bệnh tật ấy đến”. Vì lý do ấy, chúng sanh bệnh tật đó được gọi là Thiên sứ.
265. Catutthaṃ devadūtanti ettha pana kammakāraṇā vā devadūtāti kātabbā kammakāraṇikā vā. Tattha pana kammakāraṇapakkhe bāttiṃsa tāva kammakāraṇā atthato evaṃ vadanti nāma — “mayaṃ nibbattamānā na rukkhe vā pāsāṇe vā nibbattāma, tumhādisānaṃ sarīre nibbattāma, iti amhākaṃ pure nibbattitova kalyāṇaṃ karothā”ti. Tenete devadūtā nāma jātā. Kammakāraṇikāpi atthato evaṃ vadanti nāma — “mayaṃ dvattiṃsa kammakāraṇā karontā na rukkhādīsu karoma, tumhādisesu sattesuyeva karoma, iti amhākaṃ tumhesu pure kammakāraṇākaraṇatova[7] kalyāṇaṃ karothā”ti. tenetepi devadūtā nāma jātā.
265. Thiên sứ thứ 4: Tại đây, hoặc là những hình phạt (kammakāraṇā), hoặc là những người thi hành án (kammakāraṇikā) cần được xem là Thiên sứ.
Trong đó, về phía những hình phạt, thì 32 loại hình phạt [được xem là] nói như vầy theo ý nghĩa [của sự hiện diện đó]: “Chúng tôi khi sanh khởi, không sanh khởi nơi cây cối hay đất đá, mà sanh khởi ngay nơi thân thể của những người giống như các ngài. Do đó, các ngài hãy làm những việc thiện lành trước khi chúng tôi sanh khởi [nơi thân các ngài]”. Vì thế, những hình phạt ấy được gọi là Thiên sứ.
Ngay cả những người thi hành án cũng [được xem là] nói như vầy theo ý nghĩa [của hành động đó]: “Chúng tôi khi thực hiện 32 loại hình phạt, không thực hiện trên cây cối v.v…, mà chỉ thực hiện trên những chúng sanh giống như các ngài. Do đó, các ngài hãy làm những việc thiện lành trước khi chúng tôi thực hiện hình phạt lên các ngài”. Vì thế, những người thi hành án ấy cũng được gọi là Thiên sứ.
266. Pañcamaṃ devadūtanti ettha matakasatto atthato evaṃ vadati nāma — “passatha bho maṃ āmakasusāne chaḍḍitaṃ uddhumātakādibhāvaṃ pattaṃ, maraṇatomhi aparimuttatāya ediso jāto. na kho panāhameva, tumhepi maraṇato aparimuttāva. yatheva hi mayhaṃ, evaṃ tumhākampi maraṇaṃ āgamissati, iti tassa pure āgamanāva kalyāṇaṃ karothā”ti. tenesa devadūto nāma jāto.
266. Thiên sứ thứ 5: Tại đây, chúng sanh đã chết [được xem là] nói như vầy theo ý nghĩa [của sự hiện diện đó]: “Này các ngài, hãy nhìn tôi! Tôi bị vứt bỏ nơi bãi tha ma, đã rơi vào trạng thái trương phình, v.v… Tôi trở nên như thế này là do chưa thoát khỏi cái chết. Nhưng không phải chỉ riêng tôi, mà ngay cả các ngài cũng chưa thoát khỏi cái chết. Cũng giống như tôi vậy, cái chết sẽ đến với các ngài. Do đó, các ngài hãy làm những việc thiện lành trước khi cái chết ấy đến”. Vì lý do ấy, chúng sanh đã chết đó được gọi là Thiên sứ.
Imaṃ pana devadūtānuyogaṃ ko labhati, ko na labhatīti? yena tāva bahuṃ pāpaṃ kataṃ, so gantvā niraye nibbattatiyeva. Yena pana parittaṃ pāpakammaṃ kataṃ, so labhati. Yathā hi sabhaṇḍaṃ coraṃ gahetvā kattabbameva karonti, na vinicchinanti. Anuvijjitvā gahitaṃ pana vinicchayaṭṭhānaṃ nayanti, so vinicchayaṃ labhati. Evaṃsampadametaṃ. Parittapāpakammā hi attano dhammatāyapi saranti, sāriyamānāpi saranti.
[Hỏi]: Ai nhận được sự thẩm vấn về các Thiên sứ (devadūtānuyoga) này, ai không nhận được?
[Đáp]: Người nào đã tạo nhiều ác nghiệp, người ấy đi thẳng xuống địa ngục và sanh ở đó luôn [nên không được thẩm vấn]. Còn người nào tạo ít ác nghiệp, người ấy mới nhận được [sự thẩm vấn này].
Ví như người ta bắt được tên trộm cùng với tang vật, họ liền xử lý ngay (kattabbameva karonti), không cần xét xử. Nhưng nếu bắt được do nghi ngờ [cần phải] điều tra, họ dẫn đến nơi xét xử, người ấy mới được xét xử. Trường hợp này cũng tương tự như vậy.
Thật vậy, những người có ít ác nghiệp thì [có khi] tự mình nhớ lại [thiện nghiệp] theo lẽ tự nhiên, [có khi] được nhắc nhở mới nhớ lại.
Tattha Dīghajayantadamiḷo nāma attano dhammatāya sari. So kira damiḷo Sumanagirivihāre ākāsacetiyaṃ rattapaṭena pūjesi. Atha niraye Ussadasāmante nibbatto aggijālasaddaṃ sutvāva attano pūjitapaṭaṃ anussari, so gantvā sagge nibbatto. Aparopi puttassa daharabhikkhuno khalisāṭakaṃ dento pādamūle ṭhapesi, maraṇakālamhi paṭapaṭāti sadde nimittaṃ gaṇhi, sopi Ussadasāmante nibbatto jālasaddena taṃ sāṭakaṃ anussaritvā sagge nibbatto. Evaṃ tāva attano dhammatāya kusalaṃ kammaṃ saritvā sagge nibbattatīti.
Trong đó, người Tamil tên là Dīghajayanta đã tự mình nhớ lại theo lẽ tự nhiên. Nghe nói rằng, người Tamil ấy đã cúng dường một tấm vải đỏ lên bảo tháp Ākāsa (Hư Không tháp) tại tịnh xá Sumanagiri. Sau đó, khi sanh vào địa ngục phụ (Ussada), vừa nghe tiếng ngọn lửa [phừng phực], ông ta nhớ lại tấm vải mình đã cúng dường, thế là ông đi thẳng lên tái sanh ở cõi trời.
Một người khác nữa, khi dâng y cho người con trai là vị Tỳ-khưu trẻ, đã đặt [tấm y] dưới chân [vị ấy]. Lúc lâm chung, người ấy nắm giữ tướng trạng qua âm thanh “phạch phạch” (paṭa paṭa – tiếng giũ vải). Người ấy cũng sanh vào địa ngục phụ, nhờ tiếng lửa cháy [kêu phạch phạch] mà nhớ lại tấm y đó, rồi tái sanh lên cõi trời.
Như vậy là trường hợp tự mình nhớ lại thiện nghiệp theo lẽ tự nhiên rồi tái sanh lên cõi trời.
Attano dhammatāya asarante pana pañca devadūte pucchati. Tattha koci paṭhamena devadūtena sarati, koci dutiyādīhi. yo pana pañcahipi na sarati, taṃ yamo rājā sayaṃ sāreti. eko kira amacco sumanapupphakumbhena mahācetiyaṃ pūjetvā yamassa pattiṃ adāsi, taṃ akusalakammena niraye nibbattaṃ yamassa santikaṃ nayiṃsu. tasmiṃ pañcahipi devadūtehi kusale asarante yamo sayaṃ olokento disvā — “nanu tvaṃ mahācetiyaṃ sumanapupphakumbhena pūjetvā mayhaṃ pattiṃ adāsī”ti sāresi, so tasmiṃ kāle saritvā devalokaṃ gato. Yamo pana sayaṃ oloketvāpi apassanto — “mahādukkhaṃ nāma anubhavissati ayaṃ satto”ti tuṇhī hoti.
Còn nếu không tự mình nhớ lại được theo lẽ tự nhiên, thì [vua Yama] mới hỏi về năm Thiên sứ. Trong đó, có người nhớ lại nhờ Thiên sứ thứ nhất, có người nhờ Thiên sứ thứ hai v.v… Nhưng người nào qua cả năm Thiên sứ mà vẫn không nhớ ra, thì vua Yama tự mình nhắc cho nhớ (sayaṃ sāreti).
Nghe nói, một vị quan đại thần nọ sau khi dùng những chậu hoa lài cúng dường Đại Bảo Tháp (Mahācetiya), đã hồi hướng phước báu đến vua Yama. Do ác nghiệp, vị ấy sanh vào địa ngục và bị [quỷ sứ] dẫn đến trước mặt vua Yama. Khi vị quan ấy không nhớ ra thiện nghiệp qua cả năm Thiên sứ, vua Yama tự mình quán xét và thấy [sự kiện kia], bèn nhắc rằng:
– “Chẳng phải nhà ngươi đã cúng dường những chậu hoa lài lên Đại Bảo Tháp rồi chia phước cho ta sao?”
Ngay lúc ấy, vị quan nhớ lại và đi lên cõi trời.
Tuy nhiên, nếu vua Yama tự mình quán xét mà cũng không thấy [thiện nghiệp nào], ông nghĩ: “Chúng sanh này sẽ phải chịu khổ đau lớn lao”, rồi ông giữ im lặng.
267. Mahānirayeti Avīcimahānirayamhi. kiṃ panassa pamāṇaṃ? Abbhantaraṃ āyāmena ca vitthārena ca yojanasataṃ hoti. Lohapathavī lohachadanaṃ ekekā ca bhitti navanavayojanikā hoti. Puratthimāya bhittiyā acci uṭṭhitā[8] pacchimaṃ bhittiṃ gahetvā taṃ vinivijjhitvā parato yojanasataṃ gacchati. Sesadisāsupi eseva nayo. Iti jālapariyantavasena āyāmavitthārato aṭṭhārasayojanādhikāni tīṇi yojanasatāni, parikkhepato pana navayojanasatāni catupaṇṇāsayojanāni, samantā pana ussadehi saddhiṃ dasayojanasahassaṃ hoti.
267. Đại địa ngục: tức là Đại địa ngục Avīci (A-tỳ). Kích thước của nó bao nhiêu? Phần bên trong có chiều dài và chiều rộng là 100 do-tuần[9].Nền bằng kim loại, mái che bằng kim loại, và mỗi vách tường dày 9 do-tuần.
Ngọn lửa bốc lên từ vách tường phía Đông lan đến vách tường phía Tây, xuyên thủng vách tường ấy và đi tiếp ra bên ngoài 100 do-tuần nữa. Đối với các hướng còn lại cũng theo cách thức y như vậy.
Như vậy, tính theo chiều dài và chiều rộng bao gồm cả phạm vi của ngọn lửa thì là 318 do-tuần [1]. Còn tính theo chu vi thì là 954 do-tuần. Tính toàn bộ khu vực xung quanh bao gồm cả các địa ngục phụ (Ussada) là mười ngàn do-tuần.
268. Ubbhataṃ tādisameva hotīti ettha akkantapadaṃ yāva aṭṭhito daḍḍhaṃ[10] uddharitumeva na sakkā. Ayaṃ panettha attho — heṭṭhato paṭṭhāya ḍayhati, uparito paṭṭhāya jhāyati[11], iti akkamanakāle ḍayhamānaṃ paññāyati, uddharaṇakāle tādisameva, tasmā evaṃ vuttaṃ. Bahusampattoti bahūni vassasatavassasahassāni sampatto.
268. Khi dở chân lên thì (lành lặn) y như cũ: Tại đây, cái chân vừa bước xuống, chưa kịp dở lên thì đã bị đốt cháy đến tận xương.
Ý nghĩa trong câu này là: Nó bị cháy bắt đầu từ dưới lên, và tái sanh (lành lại) bắt đầu từ trên xuống. Như vậy, trong lúc bước xuống thì thấy bị cháy, trong lúc dở lên thì (lành lặn) y như cũ, do đó Ngài mới nói như vậy.
Đến được sau thời gian dài (Bahusampatto): nghĩa là đã trải qua nhiều trăm ngàn năm mới đến được [vách tường].
Kasmā panesa narako Avīcīti saṅkhaṃ gatoti. Vīci nāma antaraṃ vuccati, tattha ca aggijālānaṃ vā sattānaṃ vā dukkhassa vā antaraṃ natthi. Tasmā so avīcīti saṅkhaṃ gatoti. Tassa hi puratthimabhittito jālā uṭṭhitā saṃsibbamānā yojanasataṃ gantvā pacchimabhittiṃ vinivijjhitvā parato yojanasataṃ gacchati. Sesadisāsupi eseva nayo.
Vì sao địa ngục này được gọi tên là Avīci (Vô Gián)? Chữ vīci nghĩa là khoảng trống (hay sự gián đoạn). Tại đó, không hề có khoảng trống nào không có ngọn lửa, không có chúng sanh, hay không có sự đau khổ. Vì thế nó được gọi là Avīci (không có khoảng trống/không gián đoạn).
Thật vậy, từ vách tường phía Đông của địa ngục ấy, ngọn lửa bốc lên đan xen vào nhau đi suốt 100 do-tuần, xuyên thủng vách tường phía Tây và đi tiếp ra ngoài 100 do-tuần nữa. Các hướng còn lại cũng tương tự như vậy.
Imesaṃ channaṃ jālānaṃ majjhe nibbatto Devadatto, tassa yojanasatappamāṇo attabhāvo, dve pādā yāva gopphakā lohapathaviṃ paviṭṭhā, dve hatthā yāva maṇibandhā lohabhittiyo paviṭṭhā, sīsaṃ yāva bhamukaṭṭhito lohachadane paviṭṭhaṃ, adhobhāgena ekaṃ lohasūlaṃ pavisitvā kāyaṃ vinivijjhantaṃ chadane paviṭṭhaṃ, pācīnabhittito nikkhantasūlaṃ hadayaṃ vinivijjhitvā pacchimabhittiṃ paviṭṭhaṃ, uttarabhittito nikkhantasūlaṃ phāsukā vinivijjhitvā dakkhiṇabhittiṃ paviṭṭhaṃ. Niccale Tathāgatamhi aparaddhattā niccalova hutvā paccatīti kammasarikkhatāya ediso jāto. Evaṃ jālānaṃ nirantaratāya avīci nāma.
Devadatta đã sanh vào giữa sáu luồng lửa này. Thân hình của ông ta cao 100 do-tuần. Hai chân ngập sâu vào nền đất bằng đồng đến tận mắt cá, hai bàn tay ngập sâu vào vách tường bằng đồng đến tận cổ tay, cái đầu ngập sâu vào mái nhà bằng đồng đến tận xương trán.
Một ngọn giáo bằng đồng từ phía dưới đâm lên, xuyên thủng qua thân rồi cắm ngập vào mái nhà phía trên. Một ngọn giáo đâm ra từ vách tường phía Đông, xuyên qua tim rồi cắm vào vách tường phía Tây. Một ngọn giáo đâm ra từ vách tường phía Bắc, xuyên qua hông sườn rồi cắm vào vách tường phía Nam.
Do đã phạm tội với Đức Như Lai – bậc Bất Động (Niccala – không lay chuyển), nên ông ta phải chịu nung nấu trong tư thế bất động (Niccala – không nhúc nhích) y như vậy. Ông ta sanh làm chúng sanh như thế là do tính chất tương đồng của nghiệp.
Như vậy, địa ngục này tên là Avīci (Vô Gián) do ngọn lửa cháy liên tục không gián đoạn.
Abbhantare panassa yojanasatike ṭhāne nāḷiyaṃ koṭṭetvā pūritapiṭṭhaṃ viya sattā nirantarā, “imasmiṃ ṭhāne satto atthi, imasmiṃ natthī”ti na vattabbaṃ, gacchantānaṃ ṭhitānaṃ nisinnānaṃ nipannānaṃ anto natthi, gacchante vā ṭhite vā nisinne vā nipanne vā aññamaññaṃ na bādhanti. evaṃ sattānaṃ nirantaratāya avīci.
Bên trong khoảng không gian rộng 100 do-tuần ấy, chúng sanh chen chúc nhau không hở chỗ trống, giống như bột được nhồi đầy vào trong một ống tre (hoặc cái đấu). Không thể nói rằng: “Chỗ này có chúng sanh, chỗ kia không có”.
Không có giới hạn nào cho số lượng chúng sanh đang đi, đứng, ngồi, hay nằm. Dù đang đi, đứng, ngồi hay nằm, chúng cũng không gây trở ngại lẫn nhau.
Như vậy, địa ngục này gọi là Avīci do sự (đông đúc) không gián đoạn của chúng sanh.
Kāyadvāre pana cha upekkhāsahagatāni cittāni uppajjanti, ekaṃ dukkhasahagataṃ. Evaṃ santepi yathā jivhagge cha madhubindūni ṭhapetvā ekasmiṃ tambalohabindumhi ṭhapite anudahanabalavatāya tadeva paññāyati, itarāni abbohārikāni honti, evaṃ anudahanabalavatāya dukkhamevettha nirantaraṃ, itarāni abbohārikānīti. evaṃ dukkhassa nirantaratāya Avīci.
Lại nữa, tại Thân môn, có sáu tâm đồng sanh với thọ Xả khởi lên, và chỉ có một tâm đồng sanh với thọ Khổ [1].
Mặc dù vậy, ví như người ta nhỏ 6 giọt mật ong lên đầu lưỡi, rồi nhỏ thêm một giọt đồng nung chảy vào đó; do sức nóng thiêu đốt mãnh liệt, chỉ có cảm giác (đau đớn) của giọt đồng kia là được nhận biết, còn các vị kia thì không đáng kể (bị lấn át hoàn toàn).
Cũng vậy, do sức mạnh thiêu đốt mãnh liệt, tại đây chỉ có khổ thọ là (xuất hiện) liên tục không gián đoạn, các thọ khác xem như không đáng kể.
Như vậy, địa ngục này gọi là Avīci do sự không gián đoạn của khổ đau.
Chú thích [1]: Theo Vi Diệu Pháp, lộ trình tâm qua thân môn có các tâm quả xả (như quan sát, tiếp thâu…) và tâm thân thức thọ khổ. Dù số lượng tâm thọ xả nhiều hơn về lý thuyết, nhưng thực tế cảm nhận chỉ toàn là khổ.
269. Mahantoti yojanasatiko. So tattha patatīti eko pādo mahāniraye hoti, eko gūthaniraye nipatati. Sūcimukhāti sūcisadisamukhā, te hatthigīvappamāṇā ekadoṇikanāvāppamāṇā vā honti.
269. To lớn: khoảng một trăm do-tuần. Kẻ ấy bị rơi xuống địa ngục hố phân ấy: nghĩa là (khi vừa thoát ra), một chân còn ở Đại địa ngục thì chân kia đã bước rơi vào địa ngục Phân. Miệng như mũi kim: là (những con giun) có cái miệng nhọn như cây kim; chúng to bằng cái cổ voi hoặc bằng chiếc thuyền độc mộc.
Kukkulanirayoti yojanasatappamāṇova anto kūṭāgāramattavitaccitāṅgārapuṇṇo ādittachārikanirayo, yattha patitapatitā kudrūsakarāsimhi khittaphālavāsisilādīni[12] viya heṭṭhimatalameva gaṇhanti.
Địa ngục tro nóng: là địa ngục rộng một trăm do-tuần, chứa đầy tro tàn đang cháy đỏ và những hòn than hồng không ngọn (nhưng nóng rực) kích thước cỡ ngôi nhà nóc nhọn.
Tại đây, chúng sanh cứ rơi xuống là chìm nghỉm xuống tận đáy, giống như lưỡi cày, lưỡi rìu hay tảng đá ném vào đống hạt lúa mạch.
Āropentīti ayadaṇḍehi pothentā āropenti. Tesaṃ ārohanakāle te kaṇṭakā adhomukhā honti, orohanakāle uddhaṃmukhā.
Bắt leo lên…: nghĩa là (quỷ sứ) dùng gậy sắt đánh đập bắt chúng phải leo lên (cây gòn gai).
Khi chúng leo lên thì gai hướng mũi xuống dưới, khi leo xuống thì gai hướng mũi lên trên.
Vāteritānīti kammamayena vātena calitāni. Hatthampi chindantīti phalake maṃsaṃ viya koṭṭayamānāni chindanti. Sace uṭṭhāya palāyati, ayopākāro samuṭṭhahitvā parikkhipati, heṭṭhā khuradhārā samuṭṭhāti.
Gió thổi: bị gió sanh lên do nghiệp thổi đi. Chặt tay: giã, cắt xẻo như cắt xẻo thịt trên thớt. Nếu (chúng sanh ấy) đứng dậy bỏ chạy, thì bức tường sắt mọc lên bao vây lại, và phía dưới nền đất mọc lên những lưỡi dao cạo.
Khārodakā nadīti Vetaraṇī nāma tambalohanadī. tattha ayomayāni kharavālika[13] pokkharapattāni, heṭṭhā khuradhārā ubhosu tīresu vettalatā ca kusatiṇāni ca. So tattha dukkhā tibbā kharāti so tattha uddhañca adho ca vuyhamāno pokkharapattesu chijjati. Siṅghāṭakasaṇṭhānāya kharavālikāya[14] kaṇṭakehi vijjhiyati, khuradhārāhi phāliyati, ubhosu tīresu kusatiṇehi vilekhati, vettalatāhi ākaḍḍhiyati, tikkhasattīhi phāliyati.
Dòng sông lớn, nước trở thành vôi: chính là sông đồng sôi tên là Vetaraṇī. Tại đó có những lá sen bằng sắt, dây gai sắc, phía dưới đáy có lưỡi dao cạo, hai bên bờ có dây mây và cỏ tranh (bằng sắt).
Kẻ ấy (thọ lãnh những cảm giác) đau đớn, thống khổ, khốc liệt trong dòng sông ấy: Hắn trôi nổi lên xuống trong đó, bị cắt đứt bởi lá sen. Hắn bị đâm thủng bởi gai của dây Kharavālikā có hình dáng củ ấu (ba góc nhọn), bị xẻ thịt bởi lưỡi dao cạo, bị cào xước bởi cỏ tranh ở hai bờ, bị lôi kéo bởi dây mây, bị đâm chém bởi giáo nhọn (của quỷ sứ).
270. Tattena ayosaṅkunāti tena[15] jigacchitomhīti vutte mahantaṃ lohapacchiṃ lohaguḷānaṃ pūretvā taṃ upagacchanti, so lohaguḷabhāvaṃ ñatvā dante samphuseti, athassa te tattena ayosaṅkunā mukhaṃ vivaranti, tambalohadhārehi mahantena lohakaṭāhena tambalohaṃ upanetvā evamevaṃ karonti. Puna mahānirayeti evaṃ pañcavidhabandhanato paṭṭhāya yāva tambalohapānā tambalohapānato paṭṭhāya puna pañcavidhabandhanādīni kāretvā mahāniraye pakkhipanti. tattha koci pañcavidhabandhaneneva muccati, koci dutiyena, koci tatiyena, koci tambalohapānena muccati, kamme pana aparikkhīṇe puna mahāniraye pakkhipanti.
270. Lấy cọc sắt nung đỏ: Khi (chúng sanh ấy) kêu lên “tôi đói”, chúng (quỷ sứ) đổ đầy những hòn sắt vào một cái giỏ sắt lớn rồi đi đến chỗ hắn. Hắn biết đó là hòn sắt (nung đỏ) nên nghiến chặt răng lại. Bấy giờ, chúng dùng cọc sắt nung đỏ cạy miệng hắn ra. (Đối với câu) “nước đồng đỏ”: Chúng đem nước đồng nung chảy trong một cái chảo đồng lớn đến và cũng làm y như vậy (cạy miệng đổ vào khi hắn kêu khát). Lại rơi vào Đại địa ngục: (Quy trình là) bắt đầu từ hình phạt “năm cọc” liên tục cho đến hình phạt uống nước đồng đỏ; rồi từ hình phạt uống nước đồng đỏ lại quay ngược lại chịu hình phạt “năm cọc”… sau đó mới bị ném trả về Đại địa ngục. Tại đó, có kẻ thoát ra được ngay ở hình phạt “năm cọc” (nếu hết nghiệp), có kẻ thoát ở hình phạt thứ hai, thứ ba… có kẻ thoát ở hình phạt uống nước đồng đỏ. Nhưng nếu nghiệp chưa đoạn tận, hắn lại bị ném vào Đại địa ngục.
Idaṃ pana suttaṃ gaṇhanto eko daharabhikkhu, — “bhante, ettakaṃ dukkhaṃ anubhavitasattaṃ[16] punapi mahāniraye pakkhipantī”ti āha. Āma, āvuso, kamme aparikkhīṇe punappunaṃ evaṃ karontīti. Tiṭṭhatu, bhante, uddeso, kammaṭṭhānameva kathethāti kammaṭṭhānaṃ kathāpetvā sotāpanno hutvā āgamma uddesaṃ aggahesi. aññesampi imasmiṃ padese uddesaṃ ṭhapetvā arahattaṃ pattānaṃ gaṇanā natthi. sabbabuddhānañcetaṃ suttaṃ avijahitameva hoti.
Có một vị Tỳ-khưu trẻ khi đang học bài kinh này liền hỏi: “Bạch Ngài, chúng sanh đã thọ lãnh khổ đau nhiều đến thế mà vẫn bị ném trở lại vào Đại địa ngục nữa sao?”.
(Vị Thầy trả lời): “Đúng vậy, này Hiền giả. Khi nghiệp chưa đoạn tận thì chúng vẫn cứ làm đi làm lại như thế mãi”. – (Vị Tỳ-khưu trẻ thưa): “Bạch Ngài, xin hãy dừng việc học văn tự lại, xin Ngài hãy giảng Thiền đề (Kammaṭṭhāna) cho con”.
Sau khi xin học thiền đề, vị ấy (tu tập) trở thành bậc Dự Lưu (Tu-đà-hoàn), rồi mới quay lại học tiếp phần văn tự.
Cũng không thể đếm xuể số lượng những người khác đã dừng việc học văn tự ngay tại đoạn này (để đi hành thiền) và đắc quả A-la-hán.
Bài kinh này là bài kinh không bao giờ bị bỏ qua bởi tất cả các vị Phật (Chư Phật nào cũng thuyết giảng kinh này).
271. Hīnakāyūpagāti hīnakāyaṃ upagatā hutvā. Upādāneti taṇhādiṭṭhigahaṇe. Jātimaraṇasambhaveti jātiyā ca maraṇassa ca kāraṇabhūte. Anupādāti catūhi upādānehi anupādiyitvā. Jātimaraṇasaṅkhayeti jātimaraṇasaṅkhayasaṅkhāte[17] nibbāne vimuccanti.
271. Đi đến thân phận thấp kém: nghĩa là đã đi đến (tái sanh vào) một thân phận thấp kém. Khi chấp thủ: chấp thủ do tham ái và tà kiến. Làm nhân dẫn đến sự sanh và sự chết: Làm nhân dẫn đến sự sanh và sự chết. Khi không chấp thủ: Không chấp thủ với bốn sự chấp thủ. Sự tái sanh và sự chết được đoạn tận: được thoát khỏi do Nibbāna, được xem là chấm dứt sự tái sanh và sự chết.
Diṭṭhadhammābhinibbutāti diṭṭhadhamme imasmiṃyeva attabhāve sabbakilesanibbānena nibbutā. Sabbadukkhaṃ upaccagunti sabbadukkhātikkantā nāma honti.
Dập tắt hoàn toàn ngay trong hiện tại: đã diệt tắt với sự diệt tắt toàn bộ các phiền não ở hiện tại, tức là chính trong chính kiếp sống này. Vượt khỏi tất cả mọi khổ đau: nghĩa là trở thành những bậc đã siêu vượt tất cả mọi khổ đau.
Giải Thích Kinh Thiên Sứ Kết Thúc
[1] abhi. ka. 37/1818/628 (syā)
[2] ka. – kammakaraṇakammakaraṇikā
[3] ka. pavattatīti
[4] Ka. – jarāya
[5] Ka. – gilānappatto
[6] Sī. – abhibhūto
[7] Ka. – kammakāraṇākaraṇatova
[8] Ka. – uṭṭhahitvā
[9] Theo bản Miến Điện là 100 do-tuần
[10] Syā. Ka. – daḷhaṃ
[11] Ka. – jalati
[12] Ka. – khittā sāsaparāsimhi siddhatthaphalādīni
[13] Sī. – ayomayā khāravalliyā…, Ka. – ayomayāni khuravallika…
[14] Sī. – khāravallikāya, Ka. – kharavālukāya
[15] Sī. – tenahi
[16] Ka. – anubhavitabbaṃ
[17] Ka. – jātiyā maraṇassa khayasaṅkhāte