Kinh số 128 – Giải Thích Kinh Tùy Phiền Não

(Upakkilesasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Tùy Phiền Não

230. Evamme sutanti upakkilesasuttaṃ. Tattha etadavocāti neva bhedādhippāyena na piyakamyatāya, atha khvāssa etadahosi — “ime bhikkhū mama vacanaṃ gahetvā na oramissanti, buddhā ca nāma hitānukampakā, addhā nesaṃ[1] bhagavā ekaṃ kāraṇaṃ kathessati, taṃ sutvā ete oramissanti, tato tesaṃ phāsuvihāro bhavissatī”ti. Tasmā etaṃ “idha, bhante”tiādivacanamavoca. Mā bhaṇḍanantiādīsu “akatthā”ti pāṭhasesaṃ gahetvā “mā bhaṇḍanaṃ akatthā”ti evaṃ attho daṭṭhabbo. Aññataroti so kira bhikkhu Bhagavato atthakāmo, ayaṃ kirassa adhippāyo — “ime bhikkhū kodhābhibhūtā Satthu vacanaṃ na gaṇhanti, mā bhagavā ete ovadanto kilamī”ti, tasmā evamāha.

230. Kinh Tùy Phiền Não được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” [vị Tỳ khưu] nói lời ấy (etadavoca) không phải vì có ý định gây chia rẽ, cũng không phải vì mong muốn được yêu mến. Mà thật ra, vị ấy đã suy nghĩ như thế này: “Những vị Tỳ-khưu này sẽ không dừng lại (cuộc tranh cãi) chỉ bằng lời nói của ta. Chư Phật, tự bản chất, là những bậc có lòng bi mẫn vì lợi ích (của chúng sanh). Chắc chắn Đức Thế Tôn sẽ nói cho họ nghe một lý do (kāraṇa) nào đó. Sau khi nghe lý do ấy, họ sẽ dừng lại. Từ đó, họ sẽ được an trú thoải mái”. Vì lẽ đó, vị ấy đã nói câu bắt đầu bằng “Bạch ngài, tại đây…”. Trong câu ‘mā bhaṇḍanaṃ’ cần hiểu rằng có một phần văn bản bị thiếu là “akattha“, và nên hiểu ý nghĩa đầy đủ là ‘mā bhaṇḍanaṃ akatthā [chớ có cãi lộn]’. Một vị khác: vị Tỳ-khưu ấy là người mong muốn lợi ích cho Đức Thế Tôn. Được biết, ý định của vị ấy là như vầy: “Những vị Tỳ-khưu này, vì bị sân hận chi phối, sẽ không tiếp nhận lời dạy của Bậc Đạo Sư. Mong rằng Đức Thế Tôn sẽ không phải mệt nhọc khi khuyên dạy họ”. Vì thế, vị ấy đã nói như vậy.

Piṇḍāya pāvisīti na kevalaṃ pāvisi, yenapi janena na diṭṭho, so maṃ passatūtipi adhiṭṭhāsi. Kimatthaṃ adhiṭṭhāsīti? Tesaṃ bhikkhūnaṃ damanatthaṃ. Bhagavā hi tadā piṇḍapātappaṭikkanto “puthusaddo samajano”tiādigāthā bhāsitvā Kosambito Bālakaloṇakāragāmaṃ gato. Tato Pācīnavaṃsadāyaṃ, tato Pālileyyakavanasaṇḍaṃ gantvā Pālileyyahatthināgena upaṭṭhahiyamāno temāsaṃ vasi. Nagaravāsinopi — “Satthā vihāraṃ gato, gacchāma dhammassavanāyā”ti gandhapupphahatthā vihāraṃ gantvā “kahaṃ, bhante, satthā”ti pucchiṃsu. “Kahaṃ tumhe Satthāraṃ dakkhatha, satthā ‘ime bhikkhū samagge karissāmī’ti āgato, samagge kātuṃ asakkonto nikkhamitvā gato”ti. “mayaṃ satampi sahassampi datvā satthāraṃ ānetuṃ na sakkoma, so no ayācito sayameva āgato, mayaṃ ime bhikkhū nissāya satthu sammukhā dhammakathaṃ sotuṃ na labhimhā. Ime Satthāraṃ uddissa pabbajitā, tasmimpi sāmaggiṃ karonte samaggā na jātā, kassāññassa vacanaṃ karissanti. Alaṃ na imesaṃ bhikkhā dātabbā”ti sakalanagare daṇḍaṃ ṭhapayiṃsu. Te punadivase sakalanagaraṃ piṇḍāya caritvā kaṭacchumattampi bhikkhaṃ alabhitvā vihāraṃ āgamaṃsu. Upāsakāpi te puna āhaṃsu — “yāva Satthāraṃ na khamāpetha, tāva vo tameva daṇḍakamman”ti. Te “Satthāraṃ khamāpessāmā”ti Bhagavati Sāvatthiyaṃ anuppatte tattha agamaṃsu. Satthā tesaṃ aṭṭhārasa bhedakaravatthūni desesīti ayamettha pāḷimuttakakathā.

Ngài đi khất thực:

Ngài không chỉ đơn thuần đi vào (thành) để khất thực, mà còn phát nguyện rằng: “Mong rằng người nào chưa nhìn thấy ta cũng sẽ nhìn thấy ta.”

Ngài phát nguyện như vậy vì mục đích gì? Để chế ngự (hoặc: cảm hóa) các vị Tỳ-khưu ấy.

Thật vậy, lúc ấy, sau khi đi khất thực trở về, Đức Thế Tôn đã nói lên những câu kệ ngôn bắt đầu bằng “puthusaddo samajano”¹ rồi Ngài rời Kosambī để đi đến làng Bālakaloṇakāra. Từ đó, Ngài đi đến Pācīnavaṃsadāya (khu rừng phía Đông), rồi từ đó đi đến khu rừng Pālileyyaka. Tại đây, Ngài đã an trú suốt ba tháng, được voi chúa Pālileyya hầu hạ.

Dân chúng trong thành cũng nghĩ rằng: “Bậc Đạo Sư đã vào tịnh xá, chúng ta hãy đến nghe pháp,” rồi tay cầm hương hoa đi đến tịnh xá và hỏi: “Bạch ngài, Bậc Đạo Sư ở đâu?”

(Các Tỳ-khưu ở lại đáp:) “Các vị làm sao gặp được Bậc Đạo Sư nữa? Ngài đã đến đây với ý định làm cho các Tỳ-khưu này hòa hợp lại, nhưng vì không thể làm cho họ hòa hợp được nên Ngài đã rời đi rồi.”

(Nghe vậy, dân chúng bàn với nhau:) “Chúng ta dù bỏ ra cả trăm, cả ngàn (tiền vàng) cũng không thể thỉnh được Bậc Đạo Sư về đây. Vậy mà Ngài đã tự mình đến dù chúng ta không thỉnh cầu. Chỉ vì các vị Tỳ-khưu này mà chúng ta không được nghe pháp thoại trực tiếp từ Bậc Đạo Sư. Các vị này đã xuất gia vì Bậc Đạo Sư, thế mà ngay cả khi Ngài đứng ra hòa giải, họ cũng không chịu hòa hợp. Vậy thì họ còn nghe lời ai nữa? Thôi đủ rồi! Không nên cúng dường vật thực cho những vị Tỳ-khưu này nữa.” Nói rồi, họ quyết định một hình phạt chung cho cả thành phố (là không cúng dường).

Ngày hôm sau, các vị Tỳ-khưu ấy đi khất thực khắp thành phố nhưng không nhận được một muỗng vật thực nào, bèn quay trở về tịnh xá. Các vị cận sự nam (upāsaka) lại nói với họ rằng: “Chừng nào các ngài chưa đến xin Đức Đạo Sư tha thứ, thì chừng đó hình phạt này vẫn sẽ áp dụng cho các ngài.”

Các vị Tỳ-khưu ấy nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ đến xin Đức Đạo Sư tha thứ,” và khi Đức Thế Tôn đã đến Sāvatthī, họ cũng đã đi đến đó. Bậc Đạo Sư đã thuyết giảng cho họ về mười tám nguyên nhân gây chia rẽ (bhedakaravatthūni). Đây là câu chuyện thuộc phần ngoại điển (Pāḷimuttakakathā).

237. Idāni puthusaddotiādigāthāsu puthu mahāsaddo assāti puthusaddo. samajanoti samāno ekasadiso jano, sabbovāyaṃ bhaṇḍanakārakajano samantato saddaniccharaṇena puthusaddo ceva sadiso cāti vuttaṃ hoti. Na bālo koci maññathāti tatra koci ekopi ahaṃ bāloti na maññati, sabbepi paṇḍitamāninoyeva. Nāññaṃ bhiyyo amaññarunti koci ekopi ahaṃ bāloti na ca maññi, bhiyyo ca[2] saṅghasmiṃ bhijjamāne aññampi ekaṃ “mayhaṃ kāraṇā saṅgho bhijjatī”ti idaṃ kāraṇaṃ na maññīti attho.

237. Bây giờ lý giải kệ ngôn ‘có tiếng động ồn ào’ như sau: ‘có tiếng động ồn ào’ bởi ý nghĩa âm thanh ầm ĩ, âm thanh to lớn. mọi người đều ngang bằng: mọi người giống nhau, tương tự nhau, người người như nhau. Có thể hiểu rằng, toàn bộ nhóm người gây gổ này, vì cùng phát ra âm thanh ồn ào từ mọi phía, nên được gọi là vừa ‘ồn ào’ (puthusaddo) lại vừa ‘giống nhau’ (sadiso).  Không ai nghĩ mình là kẻ ngu: Trong nhóm người ấy không có ai dù chỉ một người nghĩ mình rằng: ‘ta là kẻ ngủ’, mà mọi người lại nghĩ rằng: ‘mình đều là bậc trí’. Chúng đã không suy nghĩ đến chuyện khác: không có bất cứ ai dù chỉ một người nghĩ rằng ‘ta là kẻ ngu’. Có nghĩa là khi hội chúng bị chia rẽ, mọi người không ai nghĩ đến một lý do nào khác tốt hơn, là không nghĩ đến lý do này ‘hội chúng bị chia rẽ bởi do ta làm nhân’.

Parimuṭṭhāti muṭṭhassatino. Vācāgocarabhāṇinoti rākārassa rassādeso kato; vācāgocarāva, na satipaṭṭhānagocarā, bhāṇino ca[3], kathaṃ bhāṇino? Yāvicchanti mukhāyāmaṃ, yāva mukhaṃ pasāretuṃ icchanti, tāva pasāretvā bhāṇino, ekopi saṅghagāravena mukhasaṅkocanaṃ na karotīti attho. Yena nītāti yena kalahena imaṃ nillajjabhāvaṃ nītā. Na taṃ vidū na taṃ jānanti “evaṃ sādīnavo ayan”ti.

Hoàn toàn quên lãng: có niệm xao lãng. Chúng có những lời nói khiêu khích dẫn đến đấu khẩu: Ngài thay đổi mẫu tự ‘rā’ trở thành mẫu tự ‘ra’ (Nghĩa là) họ chỉ nói những lời trong phạm vi của lời nói (vācāgocara), chứ không phải trong phạm vi của các nền tảng chánh niệm (satipaṭṭhānagocara). Họ nói như thế nào? Chúng mong muốn mỗi việc khua môi múa mỏ: Chúng muốn mở miệng bao nhiêu thì mở bấy nhiêu mà nói, không một ai vì lòng tôn kính Tăng đoàn mà chịu ngậm miệng lại. (Lý do) bị dẫn dắt: sự tranh cãi nào dẫn đến sự lỗ mãng này. Không biết lý do: Họ không biết, không nhận ra rằng: “Sự tranh cãi này có sự nguy hại (ādīnava) như vậy.”

Ye ca taṃ upanayhantīti taṃ akkocchi mantiādikaṃ ākāraṃ ye upanayhanti. sanantanoti porāṇo.

Những người nào ấp ủ điều ấy: Những người nào ghi lòng thù hận có biểu hiện v.v, rằng: ‘người này đã rầy la ta như vầy’. Cổ xưa: thuộc về xa xưa.

Pareti paṇḍite ṭhapetvā tato aññe bhaṇḍanakārakā pare nāma. Te ettha saṅghamajjhe kalahaṃ karontā “mayaṃ yamāmase upayamāma[4] nassāma satataṃ samitaṃ maccusantikaṃ gacchāmā”ti na jānanti. Ye ca tattha vijānantīti ye ca tattha paṇḍitā “mayaṃ maccuno samīpaṃ gacchāmā”ti vijānanti. Tato sammanti medhagāti evañhi te jānantā yonisomanasikāraṃ uppādetvā medhagānaṃ kalahānaṃ vūpasamāya paṭipajjanti.

Những kẻ khác: ngoại trừ các bậc trí người tạo ra sự gây gỗ được gọi là những kẻ khác ngoài những bậc trí, những kẻ ấy khi tạo ra sự cãi vã ở giữa Tăng Chúng này hẳn không biết rằng: “chúng ta sẽ bị thiệt hại, bị nguy hiểm đến gần chết ở mọi lúc không đứt quãng”.  Còn những ai tại nơi ấy nhận thức được (điều ấy): trong số những người ấy trong nhóm đó tại chỗ đó là bậc trí biết rõ rằng “chúng ta gần tử thần này”. Nhờ thế các sự tranh chấp được lặng yên: Những bậc trí, khi biết như vậy, liền khởi lên sự tác ý khéo léo (yonisomanasikāra) và thực hành để dập tắt những xung đột và cãi vã.

Aṭṭhicchinnāti ayaṃ gāthā Jātake (jā. 1.9.16) āgatā, Brahmadattañca Dīghāvukumārañca sandhāya vuttā. Ayañhettha attho — tesampi tathā pavattaverānaṃ hoti saṅgati, kasmā tumhākaṃ na hoti, yesaṃ vo neva mātāpitūnaṃ aṭṭhīni chinnāni, na pāṇā haṭā na gavāssadhanāni haṭānīti.

Những kẻ chuyên bẻ gãy xương: này đến từ Bổn Sanh (jā. 1.9.16) ngài muốn đề cập đến Brahmadatta và Dīghāvukumāra. Trong kệ ngôn có nội dung như sau – Dầu cho những người ấy là những người gieo lòng thù hận đến như thế vẫn có thể hòa giải được, tại sao các ngươi không hòa giải với nhau? Các ngươi vẫn chưa đến mức bẻ gãy xương của mẹ và cha của nhau, vẫn chưa đến mức tước đoạt mạng sống của nhau, vẫn chưa đến mức cướp bò, ngựa và tài sản của nhau.

Sace labhethātiādigāthā paṇḍitasahāyassa ca bālasahāyassa ca vaṇṇāvaṇṇadīpanatthaṃ vuttā. Abhibhuyya sabbāni parissayānīti pākaṭaparissaye ca paṭicchannaparissaye ca abhibhavitvā tena saddhiṃ attamano satimā careyyāti.

Thuyết kệ ngôn sau: ‘nếu có thể đạt được’ v.v, để thuyết giảng đức hạnh và lỗi lầm của người bạn là bậc trí và người bạn là kẻ ngu. Sau khi vượt qua mọi hiểm nạn: Cần hoan hỷ, có niệm, du hành cùng với bạn bảo vệ nhau khỏi mọi hiểm nguy xuất hiện và cả không xuất hiện.

Rājāva raṭṭhaṃ vijitanti yathā attano vijitaraṭṭhaṃ Mahājanakarājā ca Arindamamahārājā ca pahāya ekakā vicariṃsu, evaṃ vicareyyāti attho. Mātaṅgaraññeva nāgoti mātaṅgo araññe nāgova. Mātaṅgoti hatthi vuccati. Nāgoti mahantādhivacanametaṃ. Yathā hi mātuposako Mātaṅganāgo araññe eko cari, na ca pāpāni akāsi, yathā ca Pālileyyako, evaṃ eko care, na ca pāpāni kayirāti vuttaṃ hoti.

Giống như vị vua đã từ bỏ đất nước thâu phục được: Có thể ra đi giống như đức vua Mahājanaka và đức vua Arindama từ bỏ vùng đất mà ngài đã chinh phục, ngài ra đi một mình. Như voi Mātaṅga ở trong rừng: giống như voi Mātaṅga đi một mình ở trong rừng. Mātaṅga là để chỉ con voi (hatthi). Còn Nāga là một từ chỉ sự to lớn (mahantādhivacana). Có thể hiểu rằng: Giống như voi chúa Mātaṅga, con voi nuôi mẹ, đã đi một mình trong rừng mà không làm điều ác, và giống như voi Pālileyyaka, người ấy cũng nên đi một mình và không làm các điều ác.

238. Bālakaloṇakāragāmoti Upāligahapatissa bhogagāmo[5]. Tenupasaṅkamīti kasmā upasaṅkami? gaṇe kirassa ādīnavaṃ disvā ekavihāriṃ bhikkhuṃ passitukāmatā udapādi, tasmā sītādīhi pīḷito uṇhādīni patthayamāno viya upasaṅkami. Dhammiyā kathāyāti ekībhāve ānisaṃsappaṭisaṃyuttāya. Yena Pācīnavaṃsadāyo, tattha kasmā upasaṅkami? Kalahakārake kirassa diṭṭhādīnavattā samaggavāsino bhikkhū passitukāmatā udapādi, tasmā sītādīhi pīḷito uṇhādīni patthayamāno viya tattha upasaṅkami. Āyasmā ca anuruddhotiādi vuttanayameva.

Làng Bālakaloṇakāra: ngôi làng cống nạp của gia chủ Upālī. Sau khi đến: (Câu hỏi là:) Tại sao Ngài đến? Tương truyền rằng, sau khi thấy được sự nguy hại trong Tăng chúng (đang tranh cãi ở Kosambī), ý muốn gặp một vị Tỳ-khưu sống một mình (ekavihāriṃ bhikkhuṃ) đã khởi lên trong Ngài. Do đó, Ngài đã đến đó, giống như người bị cái lạnh v.v. áp bức mong mỏi sự ấm áp v.v. Với kệ ngôn liên hệ với pháp: Có liên hệ đến lợi ích trong lối sống độc cư. Tại sao đức Thế Tôn lại đi đến Pācīnavaṃsadāya đó? Tương truyền rằng, vì đã thấy sự nguy hại nơi những Tỳ-khưu gây gổ (kalahakārake), nên trong Ngài khởi lên ý muốn gặp những vị Tỳ-khưu sống hòa hợp (samaggavāsino bhikkhū). Do đó, Ngài đã đến đó, giống như người bị cái lạnh v.v. áp bức mong mỏi sự ấm áp v.v. Tôn giả Anuruddha v.v, có phương thức như đã trình bày.

241. Atthi pana voti pacchimapucchāya lokuttaradhammaṃ puccheyya. So pana therānaṃ natthi, tasmā taṃ pucchituṃ na yuttanti parikammobhāsaṃ pucchati. Obhāsañceva sañjānāmāti parikammobhāsaṃ sañjānāma. Dassanañca rūpānanti dibbacakkhunā rūpadassanañca sañjānāma. Tañca nimittaṃ nappaṭivijjhāmāti tañca kāraṇaṃ na jānāma, yena no obhāso ca rūpadassanañca antaradhāyati.

241. Khi các ông…phải không? nên hỏi pháp Siêu thế bằng câu hỏi sau cùng. Hơn nữa pháp Siêu thế không có nơi các trưởng lão, vì thế việc hỏi đến pháp Siêu thế không phù hợp, cho nên ngài mới hỏi đến ánh sáng của parikamma [tâm chuẩn bị]. Nhận biết được hào quang: nhận biết được hào quang của parikamma. Và việc nhìn thấy sắc: nhận biết rõ việc nhìn thấy sắc bằng thiên nhãn. Chúng con vẫn không thấu triệt được hiện tướng ấy: hào quang và việc nhìn thấy sắc của chúng con biến mất do nguyên nhân nào? chúng con không vẫn không biết được nguyên nhân đó.

Taṃ kho pana vo Anuruddhā nimittaṃ paṭivijjhitabbanti taṃ vo kāraṇaṃ jānitabbaṃ. Ahampi sudanti anuruddhā tumhe kiṃ na āḷulessanti, ahampi imehi ekādasahi upakkilesehi āḷulitapubboti dassetuṃ imaṃ desanaṃ ārabhi. Vicikicchā kho metiādīsu mahāsattassa ālokaṃ vaḍḍhetvā dibbacakkhunā nānāvidhāni rūpāni disvā “idaṃ kho kin”ti vicikicchā udapādi. Samādhi cavīti parikammasamādhi cavi. Obhāsoti parikammobhāsopi antaradhāyi, dibbacakkhunāpi rūpaṃ na passi. Amanasikāroti rūpāni passato vicikicchā uppajjati, idāni kiñci na manasikarissāmīti amanasikāro udapādi.

Này các Anuruddha, tướng ấy các ông cần phải thấu triệt: các ông nên biết nguyên nhân đó. Đức Thế Tôn bắt đầu thuyết giảng pháp thoại bằng lời sau: ‘Chính ta cũng vậy’ cũng để thuyết rằng: ‘Này các Anuruddha, các ông đang âu sầu phải không? thậm chí ta cũng đã từng bị khuấy động bởi mười một loại tùy phiền não này. Nghi hoặc khởi lên nơi ta v.v, đức Bồ-tát tu tập đề mục ánh sáng nhìn thấy các sắc khác nhau bằng thiên nhãn mới khởi lên nghi hoặc rằng ‘đây là cái gì?’. Định suy giảm: chuẩn bị định [parikamma-samādhi] bị suy giảm. Hào quang [biến mất] nghĩa là ngay cả ánh sáng của giai đoạn chuẩn bị (parikammobhāsa) cũng biến mất, và vị ấy không thấy được sắc ngay cả bằng thiên nhãn. Không tác ý: khi đang thấy các sắc, hoài nghi khởi lên, [vị ấy nghĩ]: “Bây giờ ta sẽ không tác ý đến bất cứ điều gì”, và thế là sự không tác ý khởi lên.

Thinamiddhanti kiñci amanasikarontassa thinamiddhaṃ udapādi.

Hôn trầm và thụy miên: Khi không tác ý đến bất cứ điều gì, hôn trầm và thụy miên khởi lên.

Chambhitattanti himavantābhimukhaṃ ālokaṃ vaḍḍhetvā dānavarakkhasājagarādayo addasa, athassa chambhitattaṃ udapādi.

 Sự sợ hãi: [Bồ-tát] phát triển ánh sáng hướng về phía Hy-mã-lạp sơn và đã nhìn thấy các loài như quỷ thần (dānava), la-sát (rakkhasa), trăn lớn (ajagara), v.v… khi ấy, sự sợ hãi khởi lên nơi Ngài.

Uppilanti[6] “mayā diṭṭhabhayaṃ[7] pakatiyā olokiyamānaṃ natthi. Adiṭṭhe kiṃ nāma bhayan”ti cintayato uppilāvitattaṃ[8] udapādi. Sakidevāti ekapayogeneva pañca nidhikumbhiyopi passeyya.

 Sự hưng phấn: Khi vị ấy suy tư rằng: “Cái đáng sợ mà ta thấy, khi quan sát một cách bình thường thì nó không có thật. Với cái không thấy được thì có gì mà phải sợ chứ?”, sự hưng phấn tột độ (uppilāvitattaṃ) đã khởi lên. [Ví dụ trong kinh] “Một lần duy nhất” [tìm thấy năm hũ châu báu] nghĩa là chỉ với một nỗ lực mà có thể thấy được cả năm hũ châu báu vậy.

Duṭṭhullanti mayā vīriyaṃ gāḷhaṃ paggahitaṃ, tena me uppilaṃ uppannanti vīriyaṃ sithilamakāsi, tato kāyadaratho kāyaduṭṭhullaṃ kāyālasiyaṃ udapādi.

Sự thô trược: [Vị ấy] suy nghĩ: “Vì ta đã nỗ lực tinh tấn quá căng, do đó sự hưng phấn đã khởi lên”, rồi Ngài nới lỏng sự tinh tấn. Từ đó, sự bất an nơi thân (kāyadaratha), sự thô trược nơi thân (kāyaduṭṭhullaṃ), và sự dã dượi nơi thân (kāyālasiyaṃ) khởi lên.

Accāraddhavīriyanti mama vīriyaṃ sithilaṃ karoto duṭṭhullaṃ uppannanti puna vīriyaṃ paggaṇhato accāraddhavīriyaṃ udapādi. Patameyyāti mareyya.

Sự tinh tấn quá căng: [Vị ấy] suy nghĩ: “Vì ta đã nới lỏng tinh tấn nên sự thô trược đã khởi lên”, rồi Ngài lại nỗ lực tinh tấn. Khi ấy, sự tinh tấn quá căng khởi lên. “Patameyya” nghĩa là có thể chết.

Atilīnavīriyanti mama vīriyaṃ paggaṇhato evaṃ jātanti puna vīriyaṃ sithilaṃ karoto atilīnavīriyaṃ udapādi.

Sự tinh tấn quá chùng: [Vị ấy] suy nghĩ: “Vì ta nỗ lực tinh tấn nên chuyện này (tức tinh tấn quá căng) đã xảy ra”, rồi Ngài lại nới lỏng sự tinh tấn. Khi ấy, sự tinh tấn quá chùng khởi lên.

Abhijappāti devalokābhimukhaṃ ālokaṃ vaḍḍhetvā devasaṅghaṃ passato taṇhā udapādi.

Ái dục khởi lên: sau khi phát triển biến xứ ánh sáng thẳng đến thế giới chư thiên nhìn thấy chư thiên khiến tham ái cũng sanh lên.

Nānattasaññāti mayhaṃ ekajātikaṃ rūpaṃ manasikarontassa abhijappā uppannā, nānāvidharūpaṃ manasi karissāmīti kālena devalokābhimukhaṃ kālena manussalokābhimukhaṃ vaḍḍhetvā nānāvidhāni rūpāni manasikaroto nānattasaññā udapādi.

Dị biệt tưởng khởi lên: [Vị ấy] suy nghĩ: “Khi ta tác ý đến một loại sắc duy nhất (tức chư thiên), sự khao khát đã khởi lên. (Vậy) ta sẽ tác ý đến các loại sắc khác nhau”. Rồi Ngài có lúc hướng ánh sáng về cõi trời, có lúc hướng về cõi người, và khi tác ý đến các sắc khác nhau như vậy, tưởng về sự khác biệt đã khởi lên.

Atinijjhāyitattanti mayhaṃ nānāvidhāni rūpāni manasikarontassa nānattasaññā udapādi, iṭṭhaṃ vā aniṭṭhaṃ vā ekajātikameva manasi karissāmīti tathā manasikaroto atinijjhāyitattaṃ rūpānaṃ udapādi.

Quán xét quá mức các sắc: [Vị ấy] suy nghĩ: “Khi ta tác ý đến các sắc khác nhau, tưởng về sự khác biệt đã khởi lên. (Vậy) ta sẽ chỉ tác ý đến một loại sắc duy nhất, dù cho nó là đáng ưa thích (iṭṭhaṃ) hay không đáng ưa thích (aniṭṭhaṃ)”. Khi tác ý như vậy, trạng thái quán xét quá mức đối với các sắc đã khởi lên.

243. Obhāsanimittaṃ manasi karomīti parikammobhāsameva manasi karomi. Na ca rūpāni passāmīti dibbacakkhunā rūpāni na passāmi. Rūpanimittaṃ manasi karomīti dibbacakkhunā visayarūpameva manasi karomi.

243. Ta tác ý đến tướng ánh sáng: Ta có sự nhận biết như vầy rằng: ta chỉ tác ý đến ánh sáng của parikamma mà thôi. Nhưng không nhìn thấy sắc: Ta không nhìn thấy sắc bằng thiên nhãn. Chỉ tác ý đến hiện tướng là sắc: ta chỉ tác ý đến sắc làm đối tượng bằng thiên nhãn.

Parittañceva obhāsanti parittakaṭṭhāne obhāsaṃ. Parittāni ca rūpānīti parittakaṭṭhāne rūpāni. Vipariyāyena dutiyavāro veditabbo. Paritto samādhīti parittako parikammobhāso, obhāsaparittatañhi[9] sandhāya idha parikammasamādhi “paritto”ti vutto. Parittaṃ me tasmiṃ samayeti tasmiṃ samaye dibbacakkhupi parittakaṃ hoti. appamāṇavārepi eseva nayo.

[Câu kinh] “Ánh sáng hạn lượng” có nghĩa là ánh sáng trong một phạm vi hạn lượng.
[Câu kinh] “Và các sắc hạn lượng” có nghĩa là các sắc trong một phạm vi hạn lượng.
Cần phải hiểu trường hợp thứ hai [tức trường hợp vô lượng] theo cách ngược lại.
[Câu kinh] “Định có hạn lượng” có nghĩa là ánh sáng của giai đoạn chuẩn bị (parikammobhāsa) có hạn lượng. Thật vậy, ở đây, chuẩn bị định (parikammasamādhi) được gọi là “hạn lượng” là vì nó liên quan đến sự hạn lượng của ánh sáng.
[Câu kinh] “Lúc ấy, [con mắt] của ta hạn lượng” có nghĩa là: vào lúc đó, ngay cả thiên nhãn cũng có hạn lượng.
Đối với trường hợp vô lượng (appamāṇa), phương pháp [hiểu] cũng tương tự như vậy.

245. Avitakkampi vicāramattanti pañcakanaye dutiyajjhānasamādhiṃ. Avitakkampi avicāranti catukkanayepi pañcakanayepi jhānattayasamādhiṃ. Sappītikanti dukatikajjhānasamādhiṃ. Nippītikanti dukajjhānasamādhiṃ. Sātasahagatanti tikacatukkajjhānasamādhiṃ. Upekkhāsahagatanti catukkanaye catutthajjhānasamādhiṃ pañcakanaye pañcamajjhānasamādhiṃ.

245. Vô tầm hữu tứ: Định trong nhị thiền trong cách chia năm thiền. Vô tầm vô tứ: là định từ tam thiền trở đi[10] cả trong cách chia bốn thiền lẫn năm thiền. Có hỷ: Định trong nhị thiền[11] và tam thiền[12]. Không có hỷ: là định trong các tầng thiền đã xả ly hỷ [tức tứ thiền và ngũ thiền theo pháp ngũ thiền[13]. Câu hành với lạc: là định trong các tầng thiền còn đi kèm với lạc [tức từ sơ thiền đến tứ thiền theo pháp ngũ thiền][14]. Câu hành với xả: định này là định trong tứ thiền theo pháp tứ thiền, và là định trong ngũ thiền theo pháp ngũ thiền.

Kadā pana Bhagavā imaṃ tividhaṃ samādhiṃ bhāveti? Mahābodhimūle nisinno pacchimayāme. Bhagavato hi paṭhamamaggo paṭhamajjhāniko ahosi, dutiyādayo dutiyatatiyacatutthajjhānikā. Pañcakanaye pañcamajjhānassa maggo natthīti so lokiyo ahosīti lokiyalokuttaramissakaṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. Sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

Vậy, Đức Thế Tôn đã tu tập ba loại định này khi nào? [Ngài đã tu tập] khi ngồi dưới cội Đại Bồ-đề vào canh cuối của đêm.

Thật vậy, Sơ đạo (paṭhamamagga) của Đức Thế Tôn đã khởi sinh trên nền tảng Sơ thiền (paṭhamajjhānika). Các đạo lộ tiếp theo [Nhị đạo, Tam đạo, Tứ đạo] cũng khởi sinh trên nền tảng của Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền.

Theo pháp ngũ thiền (pañcakanaya), vì không có tâm Đạo nào phát sinh từ nền tảng của Ngũ thiền, nên Ngũ thiền ấy chỉ là pháp hiệp thế (lokiya). Điều này được nói ra là nhằm đề cập đến sự hòa trộn giữa pháp hiệp thế (lokiya) và pháp siêu thế (lokuttara) [trong quá trình thành đạo của Ngài].

Từ còn lại trong các câu đều đơn giản.

Giải Thích Kinh Tùy Phiền Não Kết Thúc


[1] Ka. – aṭṭhānemaṃ

[2] Sī. Syā. Ka. – Bhiyyova

[3] Sī. Bhāṇinoti

[4] Sī. Syā. Uparamāma

[5]  Ka. Loṇakāragāmo

[6] Sī. Syā. – Ubbilanti

[7] Ka. – Mahatibhayaṃ

[8] Sī. Syā. ubbilāvitattaṃ

[9] Ka. Obhātaṃ parittaṃ, taṃ

[10] Thiền thứ 2-3-4 trong catukanaya và thiền thứ 3-4-5 trong pañcakanaya

[11] Thiền thứ 1-2 trong catukanaya

[12] Thiền thứ 1-2-3 trong pañcakanaya

[13] Thiền thứ 3-4 trong catukanaya và thiền thứ 4-5 trong pañcakanaya

[14] Thiền thứ 1-2-3 trong catukanaya và thiền thứ 1-2-3-4 trong pañcakanaya