Kinh số 123 – Giải Thích Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp

(Acchariyaabbhutasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp

197. Evamme sutanti Acchariyābbhutasuttaṃ. Tattha yatra hi nāmāti acchariyatthe nipāto. Yo nāma tathāgatoti attho. Chinnapapañceti ettha papañcā nāma taṇhā māno diṭṭhīti ime tayo kilesā. Chinnavaṭumeti ettha vaṭumanti kusalākusalakammavaṭṭaṃ vuccati. Pariyādinnavaṭṭeti tasseva vevacanaṃ. Sabbadukkhavītivatteti sabbaṃ vipākavaṭṭasaṅkhātaṃ dukkhaṃ vītivatte. Anussarissatīti[1] idaṃ yatrāti nipātavasena anāgatavacanaṃ, attho panettha atītavasena veditabbo. Bhagavā hi te Buddhe anussari, na idāni anussarissati. Evaṃjaccāti Vipassīādayo khattiyajaccā, Kakusandhādayo brāhmaṇajaccāti. Evaṃgottāti Vipassīādayo Koṇḍaññagottā, Kakusandhādayo Kassapagottāti. Evaṃsīlāti lokiyalokuttarasīlena evaṃsīlā. Evaṃdhammāti ettha samādhipakkhā dhammā adhippetā. lokiyalokuttarena samādhinā evaṃsamādhinoti attho. Evaṃpaññāti lokiyalokuttarapaññāya evaṃpaññā. Evaṃvihārīti ettha pana heṭṭhā samādhipakkhānaṃ dhammānaṃ gahitattā vihāro gahitova, puna kasmā gahitameva gaṇhātīti ce, na idaṃ gahitameva. Idañhi nirodhasamāpattidīpanatthaṃ, tasmā evaṃnirodhasamāpattivihārīti ayamettha attho.

197. Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, yatra hi nāmā: đây là phân từ được sử dụng với ý nghĩa thật vi diệu. Có nghĩa là đấng Như Lại nào. Gọi là ‘chướng ngại pháp – papañca’ trong cụm từ ‘đã đoạn các chướng ngại pháp’ này bao gồm 3 loại phiền não là tham ái, ngã mạn và tà kiến. Nghiệp luân thuộc thiện và bất thiện ngài gọi là ‘vòng luân hồi’ trong cụm từ ‘đã chấm dứt luân hồi’. ‘Đã làm cạn kiệt luân hồi’ là từ đồng nghĩa với chính cụm từ ‘đã chấm dứt luân hồi’. ‘Đã vượt qua mọi khổ’ vượt qua mọi khổ đau được xem là toàn bộ quả luân. Sẽ biết được: đây là từ nói đến thời vị lai do sử dụng từ yatra, nhưng ở đây nên biết ý nghĩa ngài dùng để đề cập đến quá khứ. Thật vậy, đức Thế Tôn nhớ đến những vị Phật đó, chớ không phải sẽ nhớ đến trong lúc này. Có sanh chủng như vầy: Chư Phật có đức Phật Vipassī v.v, có sanh chủng thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, chư Phật có đức Phật Kakusandha có sanh chủng thuộc giai cấp Bà-la-môn. Có họ tộc như vầy: Chư Phật có đức Phật Vipassī v.v, thuộc họ tộc Koṇḍañña, chư Phật có đức Phật Kakusandha v.v, thuộc họ tộc Kassapa. Có giới như vầy: có giới như vầy là có giới thuộc cả Hiệp thế và cả Siêu thế. Có pháp như vầy: này ngài muốn đề cập đến pháp vận hạnh ở nhóm thiền định, giải thích rằng – có định như vầy là có định Hiệp thế và cả định Siêu thế. Có tuệ như vầy: có tuệ như vầy là có tuệ Hiệp thế và cả tuệ Siêu thế. Có pháp trú như vầy: này cũng do giữ lấy pháp vận hành ở nhóm thiền định được đặt ở trước, cũng chính là nắm lấy pháp trú, nếu như có người phản đối rằng: vì sao ngài lại giữ lấy thứ đã được giữ lấy nữa. Ngài không nắm lấy như vậy. Thật ra, việc mà ngài giữ lấy những thứ đã được giữ lấy nữa, bởi để trình bày đến sự thể nhập thiền diệt, vì thế ở đây với ý nghĩa như vầy rằng có sự an trú bởi sự thể nhập thiền diệt như vậy.

Evaṃvimuttāti ettha vikkhambhanavimutti tadaṅgavimutti samucchedavimutti paṭippassaddhivimutti nissaraṇavimuttīti pañcavidhā vimuttiyo. Tattha aṭṭha samāpattiyo sayaṃ vikkhambhitehi nīvaraṇādīhi vimuttattā vikkhambhanavimuttīti saṅkhaṃ gacchanti. Aniccānupassanādikā satta anupassanā sayaṃ tassa tassa paccanīkaṅgavasena paricattāhi niccasaññādīhi vimuttattā tadaṅgavimuttīti saṅkhaṃ gacchanti. Cattāro ariyamaggā sayaṃ samucchinnehi kilesehi vimuttattā samucchedavimuttīti saṅkhaṃ gacchanti. Cattāri sāmaññaphalāni maggānubhāvena kilesānaṃ paṭippassaddhante uppannattā paṭippassaddhivimuttīti saṅkhaṃ gacchanti. nibbānaṃ sabbakilesehi nissaṭattā apagatattā dūre ṭhitattā nissaraṇavimuttīti saṅkhaṃ gataṃ. Iti imāsaṃ pañcannaṃ vimuttīnaṃ vasena evaṃvimuttāti evamettha attho veditabbo.

Có giải thoát như vầy: này bao gồm 5 sự giải thoát là sự giải thoát do chế ngự, sự giải thoát do thay thế, sự giải thoát do đoạn trừ, sự giải thoát do tịch tịnh, sự giải thoát do thoát khỏi. Trong 5 sự giải thoát đó 8 thiền chứng được xem là sự giải thoát do chế ngự bởi đã thoát khỏi từ phiền não có pháp ngăn che v.v, mà bản thân tự chế ngự. 7 tùy quán có tùy quán về vô thường v.v, được xem là sự giải thoát do thay thế bởi vì đã được thoát khỏi ‘thường tưởng’ v.v, mà bản thân đã từ bỏ nhờ mãnh lực của các yếu tố đối nghịch của Đạo đó. 4 Thánh Đạo được xem là sự giải thoát do đoạn trừ bởi thoát khỏi tất cả mọi phiền não mà chính bản thân tự mình nhổ bỏ. 4 quả của Sa-môn được xem là sự giải thoát do tịch tịnh bởi tất cả phiền não đã sanh lên ở tận cùng của sự tịnh lặng do mãnh lực của Đạo. Nibbāna được xem là sự giải thoát do thoát khỏi bởi được thoát ra, đã dời đi, được vững trú xa tất cả mọi phiền não. Trong câu này nên hiểu ý nghĩa như vậy rằng – sự giải thoát như vầy do tác động của 5 sự giải thoát là như thế.

199. Tasmātihāti yasmā tvaṃ “tathāgatā acchariyā”ti vadasi, tasmā taṃ bhiyyoso mattāya paṭibhantu tathāgatassa acchariyā abbhutadhammāti. Sato sampajānoti ettha dvesampajaññāni manussaloke devaloke ca. Tattha Vessantarajātake brāhmaṇassa dve putte datvā punadivase Sakkassa deviṃ datvā Sakkena pasīditvā dinne aṭṭha vare gaṇhanto —

“ito vimuccamānāhaṃ, saggagāmī visesagū.

anivattī tato assaṃ, aṭṭhametaṃ varaṃ vare”ti. (jā. 2.22.2300) —

Evaṃ tusitabhavane me paṭisandhi hotūti varaṃ aggahesi, tato paṭṭhāya Tusitabhavane uppajjissāmīti jānāti, idaṃ manussaloke sampajaññaṃ. Vessantarattabhāvato pana cuto puna tusitabhavane nibbattitvā nibbattosmīti aññāsi, idaṃ devaloke sampajaññaṃ.

199. Do vậy: do ngài nói rằng “Tất cả các đức Như Lai thật phi thường”, vì thế các pháp kỳ diệu phi thường của đức Như Lai càng rõ ràng hơn. Có niệm, có sự nhận biết rõ:  này có 2 sự nhận biết rõ là cả ở trong thế giới loài người và thế giới chư thiên. Trong hai sự nhận biết rõ ấy trong Bổn sanh Vessantara, đại vương Vessantara đã trao hai đưa con của mình đến Bà-la-môn, vào ngày hôm sau bố thí Hoàng hậu đến vua trời Sakka khi chọn lấy 8 điều ước muốn được vua trời Sakka đã khởi lên lòng tịnh tín ban cho (ngài) được chọn lấy điều ước muốn như sau: ta hãy tái sanh vào cõi trời Tusita [Đẩu Suất] như vầy –

Trong khi được giải thoát từ nơi này, mong ta có sự đi đến cõi Trời, đi đến cõi trời Tusita [Đẩu Suất] là cõi trời đặc biệt, từ nơi ấy tôi không có sự tái sanh nữa; tôi chọn điều ước muốn thứ tám này.” (jā. 2.22.2300).

Kể từ đó trở đi biết được rằng ta sẽ hóa sanh vào cõi trời Tusita, đây là sự nhận biết rõ ở thế giới loài người. Hơn nữa, sau khi thân hoại mạng chung từ bản thể Vessantara, ngài đã hóa sanh vào cõi trời Tusita biết rằng: ta đã hóa sanh rồi, đây là sự nhận biết rõ ở thế giới chư thiên.

Kiṃ pana sesadevatā na jānantīti? No na jānanti. Tā pana uyyānavimānakapparukkhe oloketvā devanāṭakehi tūriyasaddena pabodhitā “mārisa ayaṃ devaloko tumhe idha nibbattā”ti sāritā jānanti. Bodhisatto paṭhamajavanavāre na jānāti, dutiyajavanato paṭṭhāya jānāti. iccassa aññehi asādhāraṇajānanaṃ hoti.

Các vị thiên còn lại không biết hay sao? Không phải không biết. Tuy nhiên những vị thiên ấy phải quan sát cây Kappa [như ý thọ] gần thiên cung trong vườn thượng uyển nơi những thiên nữ ca múa trồng để đánh thức bằng âm thanh những nhạc cụ khiến nhớ đến rằng: “thưa ngài đây thế giới chư thiên, ngài đã hóa sanh vào thế giới chư thiên này” như thế (họ) mới biết. Bồ-tát không biết ở sát-na đầu tiên, tính từ sát-na thứ hai trở đi (ngài) biết được. Cái biết của ngài không phổ biến giống như người khác như đã giải thích.

Aṭṭhāsīti ettha kiñcāpi aññepi devā tattha ṭhitā ṭhitamhāti jānanti, te pana chasu dvāresu balavatā iṭṭhārammaṇena abhibhuyyamānā satiṃ vissajjetvā attano bhuttapītabhāvampi ajānantā[2] āhārūpacchedena kālaṃ karonti. Bodhisattassa kiṃ tathārūpaṃ ārammaṇaṃ natthīti? No natthi. So hi sesadeve dasahi ṭhānehi adhiggaṇhāti, ārammaṇena pana attānaṃ maddituṃ na deti, taṃ ārammaṇaṃ abhibhavitvā[3] tiṭṭhati. tena vuttaṃ — “sato sampajāno, Ānanda, bodhisatto Tusite kāye aṭṭhāsī”ti.

Đang ngự: ngay cả những vị thiên khác dù an trú trong thế giới ấy cũng biết được rằng: thật sự chúng tôi đang duy trì, nhưng những vị thiên ấy bị đối tượng tốt có năng lực đang chi phối tất cả các môn, thất niệm, thậm chí không biết rằng bản thân mình đã ăn uống (hay chưa?) rồi mệnh chung do thiếu vật thực. Đức Bồ-tát không có đối tượng như thế hay sao? Không có cũng không phải. Bởi vì ngài vượt ngoài các vị thiên còn lại với 10 vị trí [ṭhāna], hơn nữa ngài không chấp nhận để đối tượng dẫm nát, ngài chế ngự đối tượng đó vững trú được. Vì thế, mới thuyết rằng – “Này Ānanda, Bồ-tát có niệm, có sự nhận thức rõ, ngự trong chúng thiên ở cõi trời Tusita.”

200. Yāvatāyukanti sesattabhāvesu kiṃ yāvatāyukaṃ na tiṭṭhattīti? Āma na tiṭṭhati. Aññadā hi dīghāyukadevaloke nibbatto tattha pāramiyo na sakkā pūretunti akkhīni nimīletvā adhimuttikālaṃkiriyaṃ nāma katvā manussaloke nibbattati. Ayaṃ kālaṅkiriyā aññesaṃ na hoti. Tadā pana adinnadānaṃ nāma natthi, arakkhitasīlaṃ nāma natthi, sabbapāramīnaṃ pūritattā yāvatāyukaṃ aṭṭhāsi.

200. Cho đến mạng chung: trong tự thân [attabhāva] còn lại Bồ-tát không duy trì đến hết tuổi thọ sao? Phải rồi, không duy trì đến hết tuổi thọ. Bởi vì vào thời gian khác Bồ-tát hóa sanh vào thế giới chư thiên mà thế giới chư thiên có tuổi thọ lâu dài, không thể thực hành ba-la-mật ở trong thế giới chư thiên ấy được, vì thế Bồ-tát đã nhắm cả hai mắt thực hiện việc chấm dứt mạng sống bằng cách hướng tâm rằng sẽ không ở lại nơi đây rồi hạ sanh vào thế giới loài người. Việc kết thúc mạng sống này không có nơi các vị thiên khác. Hơn nữa, trong lần đó không có việc trộm cắp, không có người không giữ giới, ngài an trú cho đến mạng chung do bởi đã thực hành đầy đủ trọn vẹn tất cả mọi ba-la-mật.

Sato sampajāno Tusitā kāyā cavitvā mātukucchiṃ okkamatīti evaṃ tāva sabbapāramiyo pūretvā tadā bodhisatto yāvatāyukaṃ aṭṭhāsi. Devatānaṃ pana — “manussagaṇanāvasena idāni sattahi divasehi cuti bhavissatī”ti pañca pubbanimittāni uppajjanti — mālā milāyanti, vatthāni kilissanti, kacchehi sedā muccanti, kāye dubbaṇṇiyaṃ okkamati, devo devāsane na saṇṭhāti.

Bồ-tát có niệm, có sự nhận thức rõ sau khi thân hoại mạng chung từ cõi trời Tusita rồi nhập vào mẫu thai: Bồ-tát đã thực hành tất cả ba-la-mật trước rồi mới duy trì mạng sống cho đến khi hết tuổi thọ trong lần ấy với cách thức như đã trình bày. Năm dấu hiệu báo trước – các tràng hoa bị héo úa, y phục bị phai màu, mồ hôi bị tiết ra ở nách, vị thiên nhân không ngự trong tư thế của vị trời nữa. (những dấu hiệu này) khởi lên cho tất cả chư thiên để nhắc nhở cho biết rằng – “bây giờ chỉ còn bảy này nữa sẽ chấm dứt tuổi thọ theo sự tính đếm của loài người”

Tattha mālāti paṭisandhiggahaṇadivase piḷandhanamālā. Tā kira saṭṭhisatasahassādhikā sattapaṇṇāsa-vassakoṭiyo amilāyitvā tadā milāyanti. Vatthesupi eseva nayo. Ettakaṃ pana kālaṃ devānaṃ neva sītaṃ na uṇhaṃ hoti, tasmiṃ kāle sarīrato bindubinduvasena sedā muccanti. ettakañca kālaṃ tesaṃ sarīre khaṇḍiccapāliccādivasena vivaṇṇatā na paññāyati, devadhītā soḷasavassuddesikā viya, devaputtā vīsativassuddesikā viya khāyanti. Maraṇakāle pana nesaṃ kilantarūpo attabhāvo hoti. Ettakañca nesaṃ kālaṃ devaloke ukkaṇṭhitā nāma natthi, maraṇakāle pana nissasanti vijambhanti, sake āsane nābhiramanti.

Ở đây, ‘tràng hoa’ bao gồm tràng hoa trang điểm được tính kể từ khi tục sinh. Được biết những tràng hoa đó không héo úa trong suốt khoảng thời gian 57 koṭi kiếp thêm 60 triệu năm (và) chỉ úa tàn trong lần đó. Kể cả y phục cũng có cách thức tương tự như vậy. Hơn nữa các vị Thiên không biết lạnh và cũng không biết nóng suốt khoảng thời gian ngần ấy, nhưng vào lúc đó mồ hôi tiết ra từ thân thể thành từng hột. Cũng trong suốt khoảng thời gian ngần ấy thân thể của các vị thiên ấy chưa từng hiển lộ sự mệt mỏi chẳng hạn như răng rụng, hoặc tóc bạc. Thiên nữ hiển lộ sắc thân tựa như cô gái ở độ tuổi 16, còn vị thiên nam hiển lộ sắc thân tựa như một thanh niên ở độ tuổi 20. Vào lúc sắp mệnh chung những vị thiên ấy có sắc thân mệt mỏi. Hơn nữa, những vị thiên ấy không có sự lo lắng vào thế giới chư thiên suốt khoảng thời gian ngần ấy nhưng vào lúc sắp mệnh chung những vị ấy mệt mỏi, buồn chán, run sợ, không vui thú nơi sàng toạ của chính mình.

Imāni pana[4] pubbanimittāni, yathā loke mahāpuññānaṃ rājarājamahāmattādīnaṃyeva ukkāpātabhūmicālacandaggāhādīni nimittāni paññāyanti, na sabbesaṃ, evameva mahesakkhānaṃ devatānaṃyeva paññāyanti, na sabbesaṃ. Yathā ca manussesu pubbanimittāni nakkhattapāṭhakādayova jānanti, na sabbe, evameva tānipi sabbe devā na jānanti, paṇḍitā eva pana jānanti. Tattha ye ca mandena kusalakammena nibbattā devaputtā, te tesu uppannesu — “idāni ko jānāti[5], kuhiṃ nibbattissāmā”ti bhāyanti. Ye mahāpuññā, te — “amhehi dinnaṃ dānaṃ rakkhitaṃ sīlaṃ bhāvitaṃ bhāvanaṃ āgamma uparidevalokesu sampattiṃ anubhavissāmā”ti na bhāyanti. Bodhisattopi tāni pubbanimittāni disvā “idāni anantare attabhāve Buddho bhavissāmī”ti na bhāyi. Athassa tesu nimittesu pātubhūtesu dasasahassacakkavāḷadevatā sannipatitvā — “mārisa tumhehi dasa pāramiyo pūrentehi na sakkasampattiṃ na mārabrahmacakkavattisampattiṃ patthentehi pūritā, lokanittharaṇatthāya pana Buddhattaṃ patthayamānehi pūritā. So vo idāni kālo mārisa Buddhattāya, samayo mārisa buddhattāyā”ti yācanti.

Những điều này được xem là năm dấu hiệu báo trước, những dấu hiệu này có những ngôi sao băng rơi, quả địa cầu rung chuyển, và nguyệt thực v.v, xuất hiện đặc biệt cho người đại phước trong thế gian chẳng hạn như đức vua, các quan tể tướng của đức vua v.v, không xuất hiện nơi thường dân, cũng tương tự như thế năm dấu hiệu báo trước chỉ xuất hiện đặc biệt đối với những vị thiên có oai lực lớn, không phổ biến đối với tất cả chư thiên. Và như trong loài người chỉ có nhà chiêm tinh v.v, mới biết được các dấu hiệu, không phải tất cả, cũng tương tự như thế chúng thiên thông thường ấy cũng không biết được, hơn nữa chỉ có những vị thiên trí tuệ mới biết được. Trong số những vị thiên ấy, thiên tử hóa sanh bằng chút ít thiện nghiệp khi dấu hiệu báo trước khởi lên nghĩ rằng – “bây giờ, ai biết được rằng chúng ta sẽ tái sanh ở đâu?” (những vị ấy) sợ hãi. Còn những vị đại phước nghĩ rằng – “chúng ta nương nhờ vật thí được bố thí, giới được gìn giữ, tham thiền đã được tu tập, sẽ thọ hưởng sự thành tựu ở cõi trời cao hơn nữa” (những vị ấy) không sợ hãi. Đối với Bồ-tát sau khi nhìn thấy dấu hiệu báo trước nghĩ rằng: “bây giờ, ta sẽ trở thành một vị Phật trong bản ngã [attabhāva]” (ngài) không sợ hãi. Lúc đó, khi những dấu hiệu báo trước đó xuất hiện nơi đức Bồ-tát, chư thiền trong mười ngàn thế giới đến tự họp để thỉnh cầu – “Thưa ngài, việc thực hành mười pháp ba-la-mật không mong cầu sự thành tựu để trở thành vua trời Sakka, không mong cầu sự thành tựu để trở thành Ma-vương, không mong cầu sự thành tựu để trở thành Phạm thiên, không mong cầu sự thành tựu để trở thành vị Chuyển-luân-thánh-vương, nhưng việc thực hành với nguyện vọng trở thành một vị Phật nhằm mục đích vượt khỏi thế gian. Kính bạch ngài, bây giờ là thời điểm thích hợp cho việc giác ngộ của ngài, kính thưa ngài, bây giờ là thời khắc thích hợp cho việc giác ngộ của ngài.”

Atha mahāsatto devatānaṃ paṭiññaṃ adatvāva kāladīpadesakulajanettiāyuparicchedavasena pañcamahāvilokanaṃ nāma vilokesi. tattha “kālo nu kho, na kālo”ti paṭhamaṃ kālaṃ vilokesi. Tattha vassasatasahassato uddhaṃ vaḍḍhitāayukālo kālo nāma na hoti. Kasmā? Tadā hi sattānaṃ jātijarāmaraṇāni na paññāyanti, buddhānañca dhammadesanā nāma tilakkhaṇamuttā natthi, tesaṃ aniccaṃ dukkhaṃ anattāti kathentānaṃ “kiṃ nāmetaṃ kathentī”ti neva sotuṃ na saddhātuṃ maññanti, tato abhisamayo na hoti, tasmiṃ asati aniyyānikaṃ sāsanaṃ hoti. Tasmā so akālo. Vassasatato ūnāayukālopi kālo nāma na hoti. Kasmā? Tadā hi sattā ussannakilesā honti, ussannakilesānañca dinnovādo ovādaṭṭhāne na tiṭṭhati. Udake daṇḍarāji viya khippaṃ vigacchati. tasmā sopi akālo. satasahassato pana paṭṭhāya heṭṭhā vassasatato paṭṭhāya uddhaṃ āyukālo kālo nāma. tadā ca vassasatakālo hoti. atha mahāsatto “nibbattitabbakālo”ti kālaṃ passi.

Lúc bấy giờ, đức Bồ-tát vẫn chưa nhận lời cùng với các vị thiên. Ngài xem xét năm khía cạnh Mahāvilokana: thời gian, lục địa, đất nước, dòng tộc và việc xác định tuổi của người mẹ. Trong năm Mahāvilokana, ngài xem xét thời gian trước như sau: “Liệu đây có phải là thời điểm thích hợp hay không?” Thời gian mà loài người có tuổi thọ dài hơn một trăm nghìn năm tuổi trở đi, được gọi là thời điểm không thích hợp trong năm Mahāvilokana đó. Vì sao? Bởi vì vào thời gian đó thì sự sanh, sự già và sự chết không hiển lộ cùng tất cả chúng sanh và việc thuyết giảng Giáo pháp của chư Phật không vượt ngoài Tam tướng, khi ngài thuyết về vô thường, khổ não, và vô ngã thì tất cả mọi người nghĩ rằng: “ngài thuyết cái gì vậy” (vì thế) họ không chú tâm để lắng nghe, không chấp nhận, xem trọng, hoặc tin tưởng, từ đó sẽ không thể giác ngộ Đạo và Quả, khi không thể giác ngộ Đạo và Quả thì lời dạy không được xem là pháp dẫn dắt chúng sanh xuất khỏi các hữu. Vì thế, thời gian ấy là phi thời. Thời gian mà loài người có tuổi thọ ít hơn một trăm năm cũng chưa được xem là thời gian thích hợp. Vì sao? Bởi vì thời gian đó loài người vẫn còn phiền não dày đặc và lời dạy được ban cho người có quá nhiều phiền não dĩ nhiên không thể vững trú ở vị trí – ṭhāna trong lời giáo huấn, tan biến ngay lập tức, cũng giống như lấy một cái que diêm thả xuống nước, vì lý do đó, kể cả thời gian đó cũng vẫn không được xem là thời gian phù hợp. Nhưng thời gian xác định tuổi thọ được tính từ trăm nghìn năm trở xuống (và) từ một trăm năm trở lên được xem là hợp thời. Và trong lần đó là thời gian mà chúng sanh có tuổi thọ khoảng chừng 100 năm tuổi. Sau đó bậc Đại sĩ quan sát thấy rằng: là thời gian phù hợp có thể hạ sanh.

Tato dīpaṃ vilokento saparivāre cattāro dīpe oloketvā — “tīsu dīpesu Buddhā na nibbattanti, Jambudīpeyeva nibbattantī”ti dīpaṃ passi.

Sau đó trong khi quan sát châu lục (ngài) đã quan sát cả 4 châu cùng với những châu nhỏ, thấy rằng – “Chư Phật không sanh vào 3 châu mà chỉ hạ sanh vào châu Jambudīpa”.

Tato — “Jambudīpo nāma mahā, dasayojanasahassaparimāṇo, katarasmiṃ nu kho padese buddhā nibbattantī”ti desaṃ vilokento majjhimadesaṃ[6] passi. Majjhimadeso nāma “puratthimāya disāya Gajaṅgalaṃ[7] nāma nigamo”tiādinā nayena vinaye (mahāva. 259) vuttova. So pana āyāmato tīṇi yojanasatāni. Vitthārato aḍḍhatiyāni, parikkhepato navayojanasatānīti. Etasmiñhi padese cattāri aṭṭha soḷasa vā asaṅkhyeyyāni, kappasatasahassañca pāramiyo pūretvā sammāsambuddhā uppajjanti. Dve asaṅkhyeyyāni, kappasatasahassañca pāramiyo pūretvā paccekabuddhā uppajjanti, ekaṃ asaṅkhyeyyaṃ, kappasatasahassañca pāramiyo pūretvā Sāriputtamoggallānādayo mahāsāvakā uppajjanti, catunnaṃ mahādīpānaṃ dvisahassānaṃ parittadīpānañca   issariyādhipaccakārakacakkavattirājāno uppajjanti, aññe ca mahesakkhā khattiyabrāhmaṇagahapatimahāsālā uppajjanti. Idañcettha Kapilavatthu nāma nagaraṃ, tattha mayā nibbattitabbanti niṭṭhamagamāsi.

Sau đó, trong khi quan sát quốc độ – “Jambudīpo là châu lục lớn, có khoảng chừng mười ngàn do-tuần, chư Phật sẽ sanh vào quốc độ nào? quan sát thấy các vị đều ở vùng Trung tâm quốc độ. Được xem là ở Trung tâm quốc độ bao gồm quốc độ được ngài nói trong Luật Tạng theo cách sau: “Ở hướng Đông có thị trấn gọi là Gajaṅgala” (mahāva. 259). Hơn nữa ở Trung tâm quốc độ dài 300 do-tuần, rộng 250 do-tuần, có chu vi 900 do-tuần. Các bậc Chánh-đẳng-Chánh-giác thực hành ba-la-mật suốt 4 a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp, 8 a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp, 16 a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp đều xuất hiện ở trong quốc độ này. Chư Phật-độc-giác thực hành ba-la-mật 2 a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp được sanh ra (ở quốc độ này). Các vị Đại thinh văn có Sāriputta và Moggallāna v.v, thực hành ba-la-mật 1 a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp được sanh ra (ở quốc độ này). Vị Chuyển-luân-thánh-vương vị thống lãnh cả bốn châu lớn có hai ngàn châu lục nhỏ xung quanh đến sanh. Hơn nữa, cả Sát-đế-lý, Bà-la-môn và cả người gia chủ phú hào, người có quyền to lớn khác cũng được sanh ra ở quốc độ này. Và ở đây trong quốc độ này có thành phố Kapilavatthu là thủ đô, ngài đã đồng ý rằng: ta sẽ hạ sanh vào thành phố Kapilavatthu ấy.

Tato kulaṃ vilokento — “Buddhā nāma lokasammate kule nibbattanti, idāni ca khattiyakulaṃ lokasammataṃ, tattha nibbattissāmi, Suddhodano nāma rājā me pitā bhavissatī”ti kulaṃ passi.

Sau đó, ngài quan sát đến dòng tộc, xem xét dòng tộc như sau: – “thông thường chư Phật sanh vào dòng tộc được đồng tình bởi thế gian, bây giờ dòng tộc Sát-đế-lỵ là dòng tộc được đồng tình bởi thế gian, ta sẽ hạ sanh vào dòng tộc Sát-đế-lỵ ấy, đức vua tên là Suddhodana sẽ trở thành cha của ta.”

Tato mātaraṃ vilokento — “Buddhamātā nāma lolā surādhuttā na hoti, kappasatasahassaṃ pūritapāramī jātito paṭṭhāya akhaṇḍapañcasīlā hoti, ayañca mahāmāyā nāma Devī edisā. ayaṃ me mātā bhavissati. Kittakaṃ panassā āyū”ti āvajjanto — “dasannaṃ māsānaṃ upari satta divasānī”ti passi.

Sau đó, ngài quan sát người mẹ (ngài) xem xét rằng: “Được gọi là Phật mẫu phải là người không ham muốn, không phải người nghiện rượu, thực hành ba-la-mật đến một trăm ngàn kiếp, tính từ lúc sanh phải có 5 giới không bị đứt, và hoàng hậu tên là Mahāmayā, bà có tướng trạng như thế. Bà sẽ trở thành mẹ của ta”. Nhưng bà sẽ có tuổi thọ bao nhiêu, thấy rằng – “Tuổi thọ của bà (sau khi thọ thai) mười tháng (hạ sanh) sẽ có bảy ngày.

Iti imaṃ pañcamahāvilokanaṃ viloketvā — “kālo me mārisā Buddhabhāvāyā”ti devatānaṃ saṅgahaṃ karonto paṭiññaṃ datvā “gacchatha tumhe”ti tā devatā uyyojetvā tusitadevatāhi parivuto Tusitapure Nandanavanaṃ pāvisi. Sabbadevalokesu hi Nandanavanaṃ atthiyeva. Tattha naṃ devatā — “ito cuto sugatiṃ gaccha, ito cuto sugatiṃ gacchā”ti pubbekatakusalakammokāsaṃ sārayamānā vicaranti. So evaṃ devatāhi kusalaṃ sārayamānāhi parivuto tattha vicarantova cavi.

Đức Bồ-tát sau khi quan sát năm mahāvilokana này như đã trình bày đã nói rằng – “Thưa ngài đến thời ta sẽ trở thành một vị Phật”, trong khi thực hiện nhiếp hợp đã ban lời xác nhận đến các vị thiên, đưa những vị thiên ấy đi bằng lời nói như sau “các ngài hãy quay trở về đi” được vây quanh bởi chư thiên cõi Tusita ngài đi vào vườn Nanda ở cung trời Tusita. Bởi ở trong tất cả các cõi trời đều có vườn Nanda. Thậm chí trong vườn Nanda ấy các vị trời thường nhắc nhở cho Bồ-tát nhớ lại những nơi mà ngài đã từng tạo nghiệp thiện trong tiền kiếp: “Ngài hãy tử từ Tusita này đi đến thiện thú, hãy tử từ Tusita này đi đến thiện thú”. Đức Bồ-tát được vây quanh bởi các vị trời , người giúp đỡ cho nhớ đến các thiện nghiệp như vậy, tử vào lúc ngài du hành ở trong chính khu vườn Nanda.

Evaṃ cuto cavāmīti pajānāti, cuticittaṃ na jānāti. Paṭisandhiṃ gahetvāpi paṭisandhicittaṃ na jānāti, imasmiṃ me ṭhāne paṭisandhi gahitāti evaṃ pana jānāti. Keci pana therā “āvajjanapariyāyo nāma laddhuṃ vaṭṭati, dutiyatatiyacittavāreyeva jānissatī”ti vadanti. Tipiṭakamahāsīvatthero panāha — “mahāsattānaṃ paṭisandhi na aññesaṃ paṭisandhisadisā, koṭippattaṃ tesaṃ satisampajaññaṃ. yasmā pana teneva cittena taṃ cittaṃ ñātuṃ na sakkā, tasmā cuticittaṃ na jānāti. Cutikkhaṇepi cavāmīti pajānāti, paṭisandhiṃ gahetvāpi paṭisandhicittaṃ na jānāti, asukasmiṃ ṭhāne paṭisandhi gahitāti pajānāti, tasmiṃ kāle dasasahassī kampatī”ti. Evaṃ sato sampajāno mātukucchiṃ okkamanto pana ekūnavīsatiyā paṭisandhicittesu mettāpubbabhāgassa somanassa-sahagata-ñāṇasampayutta-asaṅkhārika-kusalacittassa sadisamahāvipākacittena paṭisandhiṃ gaṇhi. Mahāsīvatthero pana “upekkhāsahagatenā”ti āha.

Trong khi tử như vậy (ngài) cũng biết rằng: ‘ta đang tử, không phải biết tâm tử’. Kể cả sau khi tục sanh cũng không biết tâm tục sanh, ngài biết rõ như vầy rằng: ‘ta tục sanh ở chỗ này’. Một số trưởng lão nói rằng: “Nên có được tiến trình khai môn, đức Bồ-tát sẽ biết được chính chót tâm thứ hai và chót tâm thứ ba. Nhưng trưởng lão Tipiṭaka Mahāsīva nói rằng: “Sự tục sanh của các bậc Đại nhân không giống sự tục sanh của những chúng sanh khác, niệm và sự nhận biết rõ của các bậc Đại nhân ấy đã đạt đến tận cùng cũng bởi không thể biết được tâm đó bằng tâm đó, vì thế bậc Đại nhân không biết được tâm tử kể cả sát-na tử mà biết được rằng: ‘ta đang tử’, tục sanh cũng không biết tâm tục sanh, (nhưng) biết rõ rằng: ‘ta tục sanh ở chỗ đó’, vào lúc ấy mười ngàn thế giới rúng động”. Khi bậc Đại nhân bước xuống nhập mẫu thai như vậy, trong số 19 tâm tục sanh thì ngài tục sanh bằng tâm đại quả như tâm thiện vô trợ câu hành với hỷ và tương ưng với trí có tâm từ dẫn đầu. Còn trưởng lão Siva lại nói rằng: ‘với tâm đại quả câu hành với thọ xả’.

Paṭisandhiṃ gaṇhanto pana Āsāḷhīpuṇṇamāyaṃ uttarāsāḷhanakkhattena aggahesi. Tadā kira Mahāmāyā pure puṇṇamāya sattamadivasato paṭṭhāya vigatasurāpānaṃ mālāgandhavibhūsanasampannaṃ nakkhattakīḷaṃ anubhavamānā sattame divase pāto vuṭṭhāya gandhodakena nhāyitvā sabbālaṅkāravibhūsitā varabhojanaṃ bhuñjitvā uposathaṅgāni adhiṭṭhāya sirīgabbhaṃ pavisitvā sirīsayane nipannā niddaṃ okkamamānā idaṃ supinaṃ addasa — “cattāro kira naṃ mahārājāno sayaneneva saddhiṃ ukkhipitvā anotattadahaṃ netvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. Atha nesaṃ deviyo āgantvā manussamalaharaṇatthaṃ nhāpetvā dibbavatthaṃ nivāsetvā gandhehi vilimpetvā dibbapupphāni piḷandhitvā tato avidūre rajatapabbato, tassa anto kanakavimānaṃ atthi, tasmiṃ pācīnato sīsaṃ katvā nipajjāpesuṃ. Atha bodhisatto setavaravāraṇo hutvā tato avidūre eko suvaṇṇapabbato, tattha caritvā tato oruyha rajatapabbataṃ abhiruhitvā uttaradisato āgamma kanakavimānaṃ pavisitvā mātaraṃ padakkhiṇaṃ katvā dakkhiṇapassaṃ phāletvā kucchiṃ paviṭṭhasadiso ahosi.

Hơn nữa, bậc Đại nhân khi tục sanh đã tục sanh liên hệ đến vì sao Āsāḷha nhằm ngày trăng tròn Āsāḷha. Được biết khi ấy hoàng hậu Mahāmayā cảm thấy hân hoan ở lễ hội khi có vài chòm sao xuất hiện được đầy đủ trọn vẹn với những thức uống không có chất say, ngăn nắp vật thơm và vật trang trí, vào ngày thứ bảy từ ngày trăng tròn Āsāḷha trước, vào ngày thứ bảy bà đi ra rất sớm tắm rửa bằng nước hoa, trang điểm thân thể với tất cả những đồ trang sức, sau khi thọ dụng thức ăn thượng hạng, đã phát nguyện thọ trị (tám) chi phần uposatha, rồi đi về ngự phòng, nằm lên chiếc giường xa hoa lộng lẫy, ngủ thiếp đi, đã thấy giấc mộng như vầy: Tứ-đại-thiên-vương nâng bà cùng với chiếc giường đưa đến hồ Anotatta rồi đặt xuống một bên. Khi ấy hoàng hậu của Tứ-đại-thiên-vương đã đến cho bà tắm rửa để tẩy sạch cấu uế của loài người, rồi cho bận thiên y, được thoa hương thơm, được trang điểm bằng hoa trời, cho nằm quay đầu về hướng Đông của thiên cung vàng ở trong ngọn núi bạc được thiết lập không xa hồ Anotatta. Khi ấy đức Bồ-tát là thớt tượng đi quanh trên một ngọn núi vàng được thiết lập không xa hồ Anotatta, xuống từ ngọn núi vàng ấy bước lên ngọn núi bạc, đến từ hướng Bắc tiến vào cung điện vàng thực hiện đi nhiễu quanh người mẹ, đã trở thành như thể tách phần (hông) bên phải ra rồi bước vào trong bụng.

Atha pabuddhā devī taṃ supinaṃ rañño ārocesi. Rājā pabhātāya rattiyā catusaṭṭhimatte brāhmaṇapāmokkhe pakkosāpetvā haritūpalittāya lājādīhi katamaṅgalasakkārāya bhūmiyā mahārahāni āsanāni paññāpetvā tattha nisinnānaṃ brāhmaṇānaṃ sappimadhusakkarābhisaṅkhārassa varapāyāsassa suvaṇṇarajatapātiyo pūretvā suvaṇṇarajatapātītiheva paṭikujjitvā adāsi, aññehi ca ahatavatthakapilagāvīdānādīhi te santappesi. Atha nesaṃ sabbakāmasantappitānaṃ supinaṃ ārocāpetvā — “Kiṃ bhavissatī”ti pucchi. Brāhmaṇā āhaṃsu — “mā cintayi mahārāja, deviyā te kucchimhi gabbho patiṭṭhito, so ca kho purisagabbho, na itthigabbho, putto te bhavissati. so sace agāraṃ ajjhāvasissati, rājā bhavissati cakkavattī. sace agārā nikkhamma pabbajissati, buddho bhavissati loke vivaṭṭacchado”ti. Evaṃ sato sampajāno bodhisatto tusitakāyā cavitvā mātukucchiṃ okkamati.

Sau đó, hoàng hậu đã tỉnh giấc rồi kể lại giấc mộng đó cho đức vua. Khi bình minh ló dạng đức vua đã truyền lệnh cho trưởng nhóm Bà-la-môn khoảng 64 vị đến yết kiến, sắp xếp trải chỗ ngồi có giá trị lớn ở trên mặt đất có cỏ xanh tươi, trang hoàng với những lễ vật (mang lại) điềm lành được làm bằng cốm gạo v.v, rồi mang cơm sữa thượng hạng hòa trộn với bơ lỏng, mật ong và mật mía đựng trong hũ vàng, hũ bạc đầy ắp, rồi đậy lại bằng hũ vàng, hũ bạc tương tự như vậy, ban cho các Bà-la-môn ngồi ở trên chỗ ngồi đó. Làm cho những Bà-la-môn đó cảm thấy hài lòng với y phục và những bò cái đốm được những người khác mạng lại nữa. Kế tiếp, đức vua đã thuật lại cho các Bà-la-môn những vị đã cảm thấy vừa ý, thỏa mãn được biết đến giấc mộng ấy, rồi hỏi rằng “có điều gì xảy ra?” Các Bà-la-môn đáp rằng: – “Tâu đại vương, chớ nên suy nghĩ, hoàng hậu của ngài đã thọ thai, và bào thai ấy là bào thai của một thái tử, không phải là bào thai công chúa, ngài sẽ có một thái tử, nếu thái tử sống đời sống tại gia thì (vị ấy) sẽ trở thành vị Chuyển-luân-thánh-vương, còn nếu xuất gia thì (vị ấy) sẽ trở thành đức Phật, vị diệt tận mọi phiền não ở đời.” Đức Bồ-tát có niệm và có sự nhận thức rõ, tử từ chúng thiên cõi trời Tusita nhập vào mẫu thai hoàng hậu như vậy.

Tattha sato sampajānoti iminā catutthāya gabbhāvakkantiyā okkamatīti dasseti. Catasso hi gabbhāvakkantiyo.

Ở đây, có niệm và có sự nhận thức rõ này ngài chỉ ra rằng: đức Bồ-tát bước xuống nhập vào bào thai theo cách thứ 4. Bởi vì việc nhập vào bào thai có 4 cách.

“Catasso imā, bhante, gabbhāvakkantiyo. Idha, bhante, ekacco asampajāno mātukucchiṁ okkamati; asampajāno mātukucchismiṁ ṭhāti; asampajāno mātukucchimhā nikkhamati. Ayaṁ paṭhamā gabbhāvakkanti.

(Trưởng lão Sārīputta) “Bạch ngài, có bốn loại nhập vào bào thai này. Bạch ngài, có một số chúng sanh trong đời này không biết mình nhập vào bụng mẹ, không biết mình trú trong bụng người mẹ và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ nhất.

Puna caparaṃ, bhante, idhekacco sampajāno mātukucchiṃ okkamati, asampajāno mātukucchismiṃ ṭhāti, asampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṃ dutiyā gabbhāvakkanti.

Lại nữa bạch ngài, có một số chúng sanh trong đời này biết mình nhập bụng người mẹ, nhưng không biết mình an trú trong bụng người mẹ và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai nhứ hai.

Puna caparaṃ, bhante, idhekacco sampajāno mātukucchiṃ okkamati, sampajāno mātukucchismiṃ ṭhāti, asampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṃ tatiyā gabbhāvakkanti.

Lại nữa bạch ngài, có một số chúng sanh trong đời này biết mình nhập bụng người mẹ, biết mình an trú trong bụng người mẹ, và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ ba.

Puna caparaṃ, bhante, idhekacco sampajāno mātukucchiṃ okkamati, sampajāno mātukucchismiṃ ṭhāti, sampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṃ catutthā gabbhāvakkantī”ti (dī. ni. 3.147).

Lại nữa bạch ngài, có một số chúng sanh trong đời này biết mình nhập bụng người mẹ, biết mình an trú trong bụng người mẹ và biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ tư. (dī. ni. 3.147).

Etāsu paṭhamā lokiyamanussānaṃ hoti, dutiyā asītimahāsāvakānaṃ, tatiyā dvinnaṃ aggasāvakānaṃ paccekabodhisattānañca. Te kira kammajavātehi uddhaṃpādā adhosirā anekasataporise papāte viya yonimukhe tāḷacchiggalena hatthī viya ativiya sambādhena yonimukhena nikkhamamānā anantaṃ dukkhaṃ pāpuṇanti. Tena nesaṃ “mayaṃ nikkhamāmā”ti sampajānatā na hoti. Catutthā sabbaññubodhisattānaṃ. Te hi mātukucchismiṃ paṭisandhiṃ gaṇhantāpi jānanti, tattha vasantāpi jānanti. nikkhamanakālepi nesaṃ kammajavātā uddhaṃpāde adhosire katvā khipituṃ na sakkonti, dve hatthe pasāretvā akkhīni ummīletvā ṭhitakāva nikkhamanti.

Trong bốn cách nhập thai, cách thứ nhất là của nhóm người nhân loại, cách thứ hai là của tám mươi vị Thánh thinh văn, cách thứ ba là của hai vị đệ tử hàng đầu và Bồ-tát độc-giác. Được biết rằng ba nhóm người khi bị gió tạo ra từ nghiệp thổi chân quay lên, đầu quay xuống dưới, ra khỏi đường tử cung quá chật hẹp, dẫn đến đau đớn khôn cùng, tựa như bị ném nắm ném xuống vực thẳm sâu hàng trăm thân người hoặc giống như con voi rời khỏi hốc cây tāla. Vì thế sự nhận biết rõ rằng “ta đang ra” không có cùng 3 nhóm người ấy. Việc nhập thai thứ 4 có riêng biệt cũng chư vị Bồ-tát Toàn giác. Thật vậy, chư vị Bồ-tát Toàn giác ấy khi sanh vào bào thai của người mẹ (vị ấy) biết, kể cả trong khi ở trong bụng mẹ (vị ấy) cũng biết, thậm chí vào thời ra khởi bụng mẹ thì gió được tạo ra từ nghiệp không thể thổi khiến chân của chư vị Bồ-tát Toàn giác quay lên trên, (và) đầu quay xuống dưới, các vị ấy vươn cả hai cánh tay, mở đôi mắt, đứng dậy rồi bước ra.

201. Mātukucchiṃ okkamatīti ettha mātukucchiṃ okkanto hotīti attho. Okkante hi tasmiṃ evaṃ hoti, na okkamamāne. Appamāṇoti buddhappamāṇo, vipuloti attho. Uḷāroti tasseva vevacanaṃ. Devānubhāvanti ettha devānaṃ ayamānubhāvo — nivatthavatthassa pabhā dvādasa yojanāni pharati, tathā sarīrassa, tathā alaṅkārassa, tathā vimānassa, taṃ atikkamitvāti attho.

201. Nhập vào mẫu thai: này có lời giải thích như sau – bước vào trong bụng người mẹ. Thật vậy, khi Bồ-tát ấy nhập vào bụng của người mẹ cũng có lý do phi thường như vầy, khi không bước xuống (nhập thai) cũng không có lý do phi thường. Vô lượng:  vô lượng tăng trưởng, tức là quãng đại. Uḷāro là từ đồng nghĩa với từ ‘vô lượng’. Năng lực của chư thiên này, năng lực này của chư thiên ấy có như vầy – hào quang của y phục lan tỏa 12 do-tuần, của cơ thể cung lan tỏa như vậy, của vật trang sức của lan tỏa như thế, của thiên cung cũng lan tỏa được như thế, vượt quá năng lực siêu phàm của chư thiên ấy.

Lokantarikāti tiṇṇaṃ tiṇṇaṃ cakkavāḷānaṃ antarā ekeko Lokantarikā[8] hoti, tiṇṇaṃ sakaṭacakkānaṃ pattānaṃ vā aññamaññaṃ āhacca ṭhapitānaṃ majjhe okāso viya. so pana Lokantarikanirayo parimāṇato aṭṭhayojanasahasso hoti. Aghāti niccavivaṭā. Asaṃvutāti heṭṭhāpi appatiṭṭhā. Andhakārāti tamabhūtā. Andhakāratimisāti cakkhuviññāṇuppattinivāraṇato andhabhāvakaraṇatimisena samannāgatā. Tattha kira cakkhuviññāṇaṃ na jāyati. Evaṃmahiddhikāti candimasūriyā kira ekappahāreneva tīsu dīpesu paññāyanti, evaṃmahiddhikā. Ekekāya disāya navanavayojanasatasahassāni andhakāraṃ vidhamitvā ālokaṃ dassenti, evaṃ mahānubhāvā. Ābhāya nānubhontīti attano pabhāya nappahonti. Te kira cakkavāḷapabbatassa vemajjhena caranti, cakkavāḷapabbatañca atikkamma Lokantarikanirayo, tasmā te tattha ābhāya nappahonti.

Địa ngục Lokantarika: mỗi một địa ngục Lokantarika nằm giữa hệ thống ba vũ trụ. Địa ngục Lokantarika ấy rộng khoảng tám ngàn do-tuần, giống như khoảng trống ở chính giữa ba bánh xe kéo hoặc ba bình bát được đặt sát vào nhau. Bao la: đã mở ra thường xuyên. Không có gì ngăn cản: không có chỗ giữ thăng bằng, kể cả ở bên dưới. Tối tâm: u ấm. Vô cùng tăm tối: gắn liền với đám mây (và) sương mù làm tạo ra sự tối tăm bởi ngăn chặn sự sanh khởi của nhãn thức. Được biết nhãn thức không sanh ở trong địa ngục Lokantarika đó. Có oai lực nhiều như vậy: được biết rằng mặt trăng và mặt trời xuất hiện ở cả 3 châu cùng một lúc, có sức mạnh như vậy, ánh sáng của mặt trăng và mặt trời xua tan sự tăm tối rồi truyền ánh sáng đi tám triệu một trăm ngàn do-tuần ở mỗi hướng, có năng lực nhiều như vậy. Ánh sáng truyền đi không đến: ánh sáng của chính mình không đủ. Được biết mặt trăng và mặt trời không thể truyền ánh sáng đến khoảng giữa ngọn núi Cakkavāḷapabbata. Và địa ngục Lokantarika nằm ngoài ngọn núi Cakkavāḷapabbata, vì thế ngài mới trình bày rằng mặt trăng và mặt trời ấy không có ánh sáng truyền đi đến địa ngục Lokantarika.

Yepi tattha sattāti yepi tasmiṃ Lokantaramahāniraye sattā upapannā. Kiṃ pana kammaṃ katvā te tattha uppajjantīti? Bhāriyaṃ dāruṇaṃ mātāpitūnaṃ dhammikasamaṇabrāhmaṇānañca upari aparādhaṃ aññañca divase divase[9] pāṇavadhādisāhasikakammaṃ[10] katvā uppajjanti Tambapaṇṇidīpe Abhayacoranāgacorādayo viya. Tesaṃ attabhāvo tigāvutiko hoti, vaggulīnaṃ viya dīghanakhā honti. Te rukkhe vagguliyo viya nakhehi Cakkavāḷapāde lagganti. Yadā pana saṃsappantā aññamaññassa hatthapāsaṃ gatā honti, atha “bhakkho no laddho”ti maññamānā tattha vāvaṭā viparivattitvā lokasandhārakaudake patanti. Vāte paharante madhukaphalāni viya chijjitvā udake patanti. Patitamattā ca accantakhāre udake piṭṭhapiṇḍi viya vilīyanti.

Thậm chí những chúng sanh sanh ra trong địa ngục ấy: những chúng sanh sanh ra trong đại địa ngục Lokantara ấy đã tạo nghiệp gì mới phải sanh vào nơi đó? Đã tạo nghiệp nặng nề nghiêm trọng đối với mẹ cha, Sa-môn, Bà-la-môn vị vững trú trong pháp, tạo những sai phạm khác chồng chất thêm, tạo nghiệp thô bạo chẳng hạn tước đoạt mạng sống chúng sanh v.v, thường xuyên mỗi ngày sẽ tái sanh vào địa ngục Lokantara như AbhayacoraNāgacora v.v, ở hòn đảo Tambapaṇṇi. Bản ngã của những chúng sanh đó cao khoảng 3 gāvuta, móng tay dài giống như móng loài dơi. Chúng sanh ấy sử dụng móng tay bám vào chân ngọn núi Cakkavāḷa giống như loài dơi treo mình vào cây. Nhưng khi nào bò trườn chạm vào phần tay của nhau, khi ấy ai cũng nghĩ rằng ‘ta có được thức ăn” chay bao vây xung quanh ở chân núi Cakkavāḷa, rơi xuống thế giới với nước bao bọc xung quanh. Khi gió thổi đã chẻ đôi rơi xuống nước giống như quả madhuka. Và vừa rơi xuống cũng tan biến mất tương tự như cục bột rơi xuống nước cực mặn.

Aññepi kira bho santi sattāti — “yathā mayaṃ mahādukkhaṃ anubhavāma, evaṃ aññepi kira sattā idaṃ dukkhaṃ anubhavantā idhūpapannā”ti taṃ divasaṃ passanti. Ayaṃ pana obhāso ekayāgupānamattampi na tiṭṭhati, yāvatā niddāyitvā pabuddho ārammaṇaṃ vibhāveti, tattakaṃ kālaṃ hoti. Dīghabhāṇakā pana “accharāsaṅghāṭamattameva[11] vijjubhāso viya niccharitvā kiṃ idanti bhaṇantānaṃyeva antaradhāyatī”ti vadanti. Saṅkampatīti samantato kampati. Itaradvayaṃ purimapasseva vevacanaṃ. Puna appamāṇo cātiādi nigamanatthaṃ vuttaṃ.

Kể cả những chứng sanh khác cũng tái sanh ở đây: nhìn thấy rõ ràng vào ngày hôm ấy rằng – “ngay cả những chúng sanh khác cũng sanh vào địa ngục Lokantara này lãnh chịu khổ đau cũng giống như chúng ta đang lãnh thọ đau khổ lớn lao”. Hơn nữa, ánh sáng này không vững trú dù chỉ một khoảnh khắc uống nước cháo, mà chỉ có trong khoảng thời gian tiếp nhận đối tượng sau khi ngủ rồi tỉnh giấc. Còn một số vị thầy thuyết Trường Bộ Kinh đã nói như sau:  “Ánh sáng ấy hiển lộ riêng biệt chỉ trong khoảnh khắc búng ngón tay rồi biến mất, khi có người nói rằng: đây là gì? cũng biến mất giống như ánh sáng của tia chớp. Rúng động: xung quanh đều bị rúng động. Hai câu còn lại chính là từ đồng nghĩa với câu thứ nhất, để tóm tắt ý nghĩa ngài đã nói rằng: và…vô lượng v.v.

202. Cattāro[12] devaputtā catuddisaṃ ārakkhāya upagacchantīti ettha cattāroti catunnaṃ mahārājūnaṃ vasena vuttaṃ, dasasahassacakkavāḷe pana cattāro cattāro katvā cattālīsadasasahassā honti. Tattha imasmiṃ cakkavāḷe mahārājāno khaggahatthā āgantvā bodhisattassa ārakkhaṇatthāya upagantvā sirīgabbhaṃ paviṭṭhā, itare gabbhadvārato paṭṭhāya avaruddhapaṃsupisācakādiyakkhagaṇe paṭikkamāpetvā yāva cakkavāḷā ārakkhaṃ gaṇhiṃsu.

202. Từ ‘cả bốn (vị)’ trong câu ‘cả bốn vị thiên tử đến canh gác bảo vệ ở bốn phương’ ngài nói đề cập đến Tứ-đại-thiên-vương, hơn nữa trong mười ngàn thế giới có bốn mươi nghìn Đại-thiên-vương thường trú chia thành 4 thế giới vũ trụ. Trong số các vị Đại-thiên-vương ấy thì Đại-thiên-vương trong thế giới này tay cầm gươm đã đến đi vào hoàng cung nhằm mục đích bảo vệ đức Bồ-tát, ngoài ra các vị ấy còn phần tán để xua đuổi chúng Dạ-xoa có loài phiêu-phong-quỷ v.v, mà họ nhốt lại đã cho trở lui rồi canh gác từ cửa ngự phòng cho đến hết thế giới vũ trụ.

Kimatthaṃ panāyaṃ rakkhā āgatā? Nanu paṭisandhikkhaṇe kalalakālato paṭṭhāya sacepi koṭisatasahassā mārā koṭisatasahassaṃ sineruṃ ukkhipitvā bodhisattassa vā bodhisattamātuyā vā antarāyakaraṇatthaṃ āgaccheyyuṃ, sabbe antarāva antaradhāyeyyuṃ[13]. Vuttampi cetaṃ Bhagavatā ruhiruppādavatthusmiṃ — “Aṭṭhānametaṃ, bhikkhave, anavakāso, yaṃ parūpakkamena Tathāgataṃ jīvitā voropeyya. anupakkamena, bhikkhave, Tathāgatā parinibbāyanti. Gacchatha tumhe, bhikkhave, yathāvihāraṃ, arakkhiyā, bhikkhave, Tathāgatā”ti (cūḷava. 341). Evametaṃ, na[14] parūpakkamena tesaṃ jīvitantarāyo atthi. Santi kho pana amanussā virūpā duddasikā, bheravarupā[15] pakkhino, yesaṃ rūpaṃ disvā saddaṃ vā sutvā bodhisattamātu bhayaṃ vā santāso vā uppajjeyya, tesaṃ nivāraṇatthāya rakkhaṃ aggahesuṃ. Apica kho bodhisattassa puññatejena sañjātagāravā attano gāravacoditāpi te evamakaṃsu.

Việc đi đến canh gác này nhằm lợi ích gì? Bởi vì kể từ lúc tục sanh đến lúc thụ thai đầu tiên trong lòng mẹ có hàng trăm nghìn koṭi ma-vương nâng hàng trăm nghìn koṭi núi Suneru có thể đến để làm hại đức Bồ-tát hoặc mẹ của Bồ-tát, (hoặc) làm hại toàn bộ, cũng có thể không hiện hữu không phải hay sao? Tóm lại như đã nói đức Thế Tôn thuyết rằng: trong chuyện Devadatta đã làm cho bàn chân (đức Phật) bầm máu như sau – “này chư Tỳ khưu, việc người nào tước đoạt mạng sống của Như Lai bằng sự hãm hại (của người khác) là không hợp lý và không có cơ sở, này chư Tỳ khưu, các đức Như Lai tịch diệt Nibbāna không do sự hãm hại (của người khác). Này các Tỳ khưu, các ngươi hãy đi về trú xá của mỗi người. Này các tỳ khưu, các đức Như Lai không cần được bảo vệ.” (cūḷava. 341). Điều đó như vậy, sự nguy hại của mạng sống không có nơi các đức Như Lai do sự hãm hại của người khác. Nhóm phi nhân nhân loại có sắc thân đáng nhờm gớm , loài chim có thân hình đáng sợ cũng tồn tại, sự sợ hãi và sự kinh sợ có thể khởi sanh nơi mẹ của Bồ-tát bởi do nhìn thấy sắc hoặc nghe âm thanh của những phi nhân đó, để ngăn chặn những phi nhân ấy nên mới cần phải bảo vệ. Và hơn nữa những Đại-thiên-vương ấy có sự tôn kính khởi lên do nhờ năng lực phước báu ba-la-mật của Bồ-tát, cả bản thân cũng có sự tôn làm nền tảng nên rồi nên mới làm như vậy.

Kiṃ pana te antogabbhaṃ pavisitvā ṭhitā cattāro mahārājāno bodhisattamātuyā attānaṃ dassenti na dassentīti? nahānamaṇḍanabhojanādisarīrakiccakāle na dassenti, sirīgabbhaṃ pavisitvā varasayane nipannakāle pana dassenti. tattha kiñcāpi amanussadassanaṃ nāma manussānaṃ sappaṭibhayaṃ hoti, bodhisattamātā pana attano ceva puttassa ca puññānubhāvena te disvā na bhāyati, pakatiantepurapālakesu viya assā tesu cittaṃ uppajjati.

Lại nữa, Tứ-đại-thiên-vương vào đứng bên trong ngự phòng hiển lộ bản thân cho mẹ của Bồ-tát (thấy) hay không hiển lộ. Không hiểu lộ trong suốt thời gian mẹ của Bồ-tát làm phận sự của mình như tắm gội, trang điểm, và dùng bữa v.v, ma chỉ hiển lộ vào lúc bà bước vào ngự phòng rồi nằm xuống long sàng. Thân thể của loài phi nhân là thứ đáng nhờm gớm trước mắt của tất cả mọi người nhưng đối với mẹ của Bồ-tát sau khi nhìn thấy phi nhân (bà) không sợ hãi do nhờ năng lực phước báu chính bà và thái tử. Hoàng hậu có sự cảm nhận trong nhóm phi nhân đó giống như (nhìn thấy) người cận vệ canh gác nói chung.

203. Pakatiyā sīlavatīti sabhāveneva sīlasampannā. Anuppanne kira Buddhe manussā tāpasaparibbājakānaṃ santike vanditvā ukkuṭikaṃ nisīditvā sīlaṃ gaṇhanti, bodhisattamātāpi Kāladevilassa isino santike gaṇhāti. Bodhisatte pana kucchigate aññassa pādamūle nisīdituṃ nāma na sakkā, samāsane nisīditvā gahitasīlampi avaññā kāraṇamattaṃ[16] hoti. Tasmā sayameva sīlaṃ aggahesīti vuttaṃ hoti.

203. Là vị có giới hạnh tự nhiên: vị thành tựu về giới do chính bản thể. Tương truyền rằng khi đức Phật vẫn chưa xuất hiện, tất cả mọi người cùng nhau đến đảnh lễ, ngồi chồm hổm thọ trì giới ở trong trú xứ của các Đạo sĩ và các du sĩ. Thậm chí mẹ của Bồ-tát cũng thọ giới ở trú xứ của Đạo sĩ Kāladevila. Nhưng khi Bồ-tát trú trong bụng hoàng hậu không thể ngồi gần chân của người khác, thậm chí giới hạnh mà hoàng hậu ngồi trên tọa cụ ngang bằng để nhận lãnh thì cũng chỉ là hình thức để người khác nhận biết mà thôi. Vì lý do đó ấy mới nói như vầy rằng: mẹ của Bồ-tát tự chính mình thọ trì giới hạnh.

Purisesūti bodhisattassa pitaraṃ ādiṃ katvā kesuci manussesu purisādhippāyacittaṃ nuppajjati. Tañca kho bodhisatte gāravena, na pahīnakilesatāya. Bodhisattamātu rūpaṃ pana sukusalāpi sippikā potthakammādīsupi kātuṃ na sakkonti, taṃ disvā purisassa rāgo nuppajjatīti na sakkā vattuṃ. Sace pana taṃ rattacitto upasaṅkamitukāmo hoti, pādā na vahanti, dibbasaṅkhalikā viya bajjhanti. Tasmā “anatikkamanīyā”tiādi vuttaṃ.

Đối với nam nhân: không khởi lên tâm ước muốn đối với bất kỳ nam nhân nào, bắt đầu từ cha của Bồ-tát. Và điều ấy khởi lên do sự tôn kính đối với đức Bồ-tát không phải khởi lên do dứt trừ ô nhiễm. Hơn nữa đối với những họa sĩ tài hoa cũng không thể nào vẽ được hình dáng mẹ của Bồ-tát trong một bức họa. Ai ai cũng không thể nói rằng luyến ái không khởi lên cùng do bởi nhìn thấy hình tướng mẹ của Bồ-tát. Hơn nữa, nếu như người có tâm ái luyến muốn đi vào tìm bà sẽ, thì đôi chân người ấy không thể bước, giống như bị trói chặt lại bằng sợi dây xích thuộc cõi trời. Vì thế ngài mới nới rằng: “không bị xâm phạm”.

Pañcannaṃ kāmaguṇānanti pubbe “kāmaguṇūpasaṃhitan”ti purisādhippāyavasena vatthupaṭikkhepo kathito, idha ārammaṇappaṭilābho dassito. Tadā kira “deviyā evarūpo putto kucchismiṃ uppanno”ti, sutvā samantato rājāno mahagghāabharaṇatūriyādivasena pañcadvārārammaṇavatthubhūtaṃ paṇṇākāraṃ pesenti, bodhisattassa ca bodhisattamātuyā ca katakammassa ussannattā lābhasakkārassa pamāṇaparicchedo nāma natthi.

Tận hưởng năm dục trưởng dưỡng đầy đủ: việc ngăn chặn vật-vatthu do tác động của sự chú ý ngài đã nói trước đó bằng câu sau: “không liên hệ với năm dục trưởng dưỡng”, ở đây chỉ thuyết riêng về đối tượng. Được biết trong lần đó “Các đức vua xung quanh biết được tin thái tử có hình thức như vậy hạ sanh trong bụng của hoàng hậu, đã gửi quà biếu làm nơi thiết lập đối tượng của cả năm cửa-dvāra trở thành vật trang trí có giá trị lớn và dụng cụ âm nhạc v.v, đối với Bồ-tát và mẹ của Bồ-tát có được sự lợi đắc và sự cung kính không thể ước lường được, bởi vì sự tích trữ phước báu đã được tạo (trong quá khứ).

204. Akilantakāyāti yathā aññā itthiyo gabbhabhārena kilamanti, hatthapādā uddhumātakādīni pāpuṇanti, na evaṃ tassā koci kilamatho ahosi. Tirokucchigatanti antokucchigataṃ. Kalalādikālaṃ atikkamitvā sañjātāṅgapaccaṅgaṃ ahīnindriyabhāvaṃ upagataṃyeva passati. Kimatthaṃ passati? Sukhavāsatthaṃ. Yatheva hi mātā puttena saddhiṃ nisinnā vā nipannā vā “hatthaṃ vā pādaṃ vā olambantaṃ ukkhipitvā saṇṭhapessāmī”ti sukhavāsatthaṃ puttaṃ oloketi, evaṃ bodhisattamātāpi yaṃ taṃ mātu uṭṭhānagamanaparivattananisajjādīsu uṇhasītaloṇikatittakakaṭukāhārājjhoharaṇakālesu ca gabbhassa dukkhaṃ uppajjati, atthi nu kho me taṃ puttassāti sukhavāsatthaṃ bodhisattaṃ olokayamānā pallaṅkaṃ ābhujitvā nisinnaṃ bodhisattaṃ passati. Yathā hi aññe antokucchigatā pakkāsayaṃ ajjhottharitvā āmāsayaṃ ukkhipitvā udarapaṭalaṃ piṭṭhito katvā piṭṭhikaṇṭakaṃ nissāya ukkuṭikā dvīsu muṭṭhīsu hanukaṃ ṭhapetvā deve vassante rukkhasusire makkaṭā viya nisīdanti, na evaṃ bodhisatto. Bodhisatto pana piṭṭhikaṇṭakaṃ piṭṭhito katvā dhammāsane dhammakathiko viya pallaṅkaṃ ābhujitvā puratthābhimukho nisīdati. Pubbe katakammaṃ panassā vatthuṃ sodheti, suddhe vatthumhi sukhumacchavilakkhaṇaṃ nibbattati. Atha naṃ kucchigataṃ taco paṭicchādetuṃ na sakkoti, olokentiyā bahi ṭhito viya paññāyati. Tamatthaṃ upamāya vibhāvento seyyathāpīti-ādimāha. Bodhisatto pana antokucchigato mātaraṃ na passati. Na hi antokucchiyaṃ cakkhuviññāṇaṃ uppajjati.

204. Thân thể không bị khó nhọc: Những người phụ nữ khác khó nhọc với việc chăm sóc bào thai, tay và chân sưng lên, còn hoàng hậu không bị bất cứ khó nhọc nào giống như những người phụ nữ ấy cả. (ngài) trú trong bụng tựa như trú ở bên ngoài: trú ngụ ở bên trong bụng, trải qua thời gian kalalarūpa [chất thụ thai đầu tiên trong bụng mẹ] v.v,  (mẹ của Bồ-tát) nhìn thấy đức Bồ-tát có đầy đủ các chi phần lớn lớn, có các giác quan không bị khuyết tật. Ngắm nhìn vì lợi ích gì? Để sống được an vui. Thường những người mẹ ngồi hoặc nằm cùng với con sẽ ngắm nhìn đứa con của mình để sống thoải mái rằng “ta sẽ nâng bàn tay và bàn chân xuống điều chỉnh cho thích hợp” ngay cả mẹ của Bồ-tát cũng như thế, (bà) ngắm nhìn Bồ-tát để sống được an vui do suy nghĩ rằng: Bất cứ khổ đau nào khởi lên cho đứa bé ở trong bụng vào lúc mẹ đứng dậy, bước đi, xoay người và ngồi v.v, vào lúc mẹ nuốt thức ăn nóng, lạnh, mặn, đắng và cay, khổ đau đó có mặt cùng thái tử con trai của ta phải chăng? cũng đều nhìn thấy Bồ-tát ngồi xếp chân thế kiết già. Thông thường đứa bé khác ở trong bụng ngồi trên phần vật thực cũ đội phần ruột non xoay lưng  về phía bụng mẹ, ngồi xổm, tựa lưng, hai tay chống cằm, y như đàn khi ngồi trong hốc gỗ lúc trời mưa, còn đức Bồ-tát thì không phải thế. Ngài tựa lưng ngồi xếp chân thế kiết già, xoay mặt về hướng Đông như thể vị Pháp sư đang ngồi trên Pháp toạ. Nghiệp lực mà mẹ của Bồ-tát đã tạo ở tiền kiếp làm vật-vatthu (buồng tử cung) của bà được sạch sẽ khi vật-vatthu sạch sẽ, tính chất của màu da được vi tế mềm mại sanh khởi, khi ấy không thể che phủ đức Bồ-tát đang ngụ ở trong bào thai, khi quan sát sẽ hiển lộ tượng tự y như đang đứng ở bên ngoài. Để làm sáng tỏ ý nghĩa đó bằng ví dụ so sánh ngài đã nói như sau: ‘ví như v.v.’ Hơn nữa, đức Bồ-tát trú bên trong bào thai sẽ không thể nhìn thấy mẫu thân, bởi vì nhãn thức vẫn chưa sanh khởi bên trong bào thai.

205. Kālaṃ karotīti na vijātabhāvapaccayā, āyuparikkhayeneva. Bodhisattena vasitaṭṭhānañhi cetiyakuṭisadisaṃ hoti aññesaṃ aparibhogaṃ, na ca sakkā bodhisattamātaraṃ apanetvā aññaṃ aggamahesiṭṭhāne ṭhapetunti tattakaṃyeva bodhisattamātu āyuppamāṇaṃ hoti, tasmā tadā kālaṃ karoti. Katarasmiṃ pana vaye kālaṃ karotīti? Majjhimavaye. Paṭhamavayasmiñhi sattānaṃ attabhāve chandarāgo balavā hoti, tena tadā sañjātagabbhā itthī taṃ gabbhaṃ anurakkhituṃ na sakkonti, gabbho bahvābādho hoti. Majjhimavayassa pana dve koṭṭhāse atikkamma tatiyakoṭṭhāse vatthuṃ visadaṃ[17] hoti, visade vatthumhi nibbattā dārakā arogā honti. Tasmā bodhisattamātāpi paṭhamavaye sampattiṃ anubhavitvā majjhimavayassa tatiyakoṭṭhāse vijāyitvā kālaṃ karoti.

205. Hoàng hậu mệnh chung: Bà mệnh chung không phải vì hạ sanh đức Bồ-tát, mà do bà đã hết tuổi thọ. Sự thật thì Bồ-tát an trú (trong bụng mẹ) cũng giống như một cái liêu cốc ở trong Bảo điện không thích hợp để những người khác sử dụng chung và không ai có đủ khả năng để tướt (vị trí) mẹ của Bồ-tát rồi phong một người phụ nữ khác lên vị trí hoàng hậu, vì lý do đó, ước chừng tuổi thọ mẹ của Bồ-tát chỉ bấy nhiêu, vì thế hoàng hậu mới mệnh chung vào thời gian ấy. Hoàng hậu mệnh chung ở độ tuổi nào? Vào giai đoạn trung niên. Sự thật vào giai đoạn thanh niên tự ngã của tất cả chúng sanh đều có dục vọng và ái luyến mãnh liệt, vì thế người nữ mang thai vào thời gian ấy, không đủ khả năng bảo hộ bào thai ấy, bào thai dễ có nhiều bệnh tật, khi đã vượt qua giai đoạn của thời kỳ trung niên thì vatthu-vật (buồng tử cung) được thanh tịnh, trong giai đoạn thứ ba khi vật-vatthu được sạch sẽ đứa bé sanh ra không có bệnh. Vì thế, mẹ của Bồ-tát thọ hưởng sự thành tựu vào giai đoạn thanh thiếu niên, hạ sanh (Bồ-tát) vào giai đoạn thứ 3 của thời kỳ trung niên, bà đã mệnh chung như vậy.

Nava vā dasa vāti ettha -saddena[18] vikappanavasena satta vā aṭṭha vā ekādasa vā dvādasa vāti evamādīnampi saṅgaho veditabbo. Tattha sattamāsajāto jīvati, sītuṇhakkhamo pana na hoti. aṭṭhamāsajāto na jīvati, sesā jīvanti.

Ở đây, từ ‘hoặc’ trong cụm từ ‘chín tháng hoặc mười tháng’ nên hiểu rằng cần tập hợp câu bắt đầu như vầy ‘chín tháng hoặc mười tháng hoặc mười một tháng hoặc mười hai tháng’ vào chung do sự suy tính. Ở đấy, chúng sanh ở trong bụng mẹ suốt 7 tháng cho đến khi lọt lòng, nhưng không kham nhẫn được sự lạnh và sự nóng ở trong bụng mẹ suốt 8 tháng lọt lòng (nhưng) không qua khỏi, ngoài ra sẽ qua khỏi.

Ṭhitāvāti ṭhitāva hutvā. Mahāmāyāpi devī upavijaññā[19] ñātikulagharaṃ gamissāmīti rañño ārocesi. Rājā Kapilavatthuto Devadahanagaragāmimaggaṃ alaṅkārāpetvā deviṃ suvaṇṇasivikāya nisīdāpesi. Sakalanagaravāsino Sakyā parivāretvā gandhamālādīhi pūjayamānā deviṃ gahetvā pāyiṃsu[20]. Sā Devadahanagarassa avidūre Lumbinisālavanuyyānaṃ disvā uyyānavicaraṇatthāya cittaṃ uppādetvā rañño saññaṃ adāsi. Rājā uyyānaṃ paṭijaggāpetvā ārakkhaṃ saṃvidahāpesi. Deviyā uyyānaṃ paviṭṭhamattāya kāyadubbalyaṃ ahosi, athassā maṅgalasālamūle sirīsayanaṃ paññāpetvā sāṇiyā parikkhipiṃsu. Sā antosāṇiṃ pavisitvā sālasākhaṃ hatthena gahetvā aṭṭhāsi. Athassā tāvadeva gabbhavuṭṭhānaṃ ahosi.

Đã đứng: đã đứng. Chính hoàng hậu Mahāmāyā suy nghĩ như vầy: ta sẽ trở về gia đình thân quyến ở nhà (quê hương) rồi tâu với đức vua. Đức vua truyền lệnh dọn dẹp trang trí lại con đường để hoàng hậu đi bắt từ thành Kapilavatthu cho đến Devadaha rồi cho hoàng hậu ngồi trên kiệu vàng. Toàn bộ các Sakya ở trong thành đến vây quanh dâng lên các vật thơm và tràng hoa v.v, tiễn đưa hoàng hậu lên đường. Bà đưa mắt nhìn vườn cây sāla ở Lumbinī không xa thành Devadaha khởi lên sự ưa thích đi quanh khu vườn mới ra hiệu với đức vua. Đức vua ra lệnh dọn dẹp trang trí lại khu vườn, rồi sắp xếp bảo vệ. Khi hoàng hậu bước vào khu vườn, cùng là lúc sức lực yếu dần. Vào lúc ấy, các nữ hầu đã trải chỗ nằm lộng lẫy ở dưới gốc cây sāla hạnh phúc, rồi che màn dâng lên hoàng hậu. Bà đi vào bên trong màn đứng níu vào một nhánh cây sāla. Sau đó bà đã hạ sanh thái tử tức khắc vào ngay lúc ấy.

Devā naṃ paṭhamaṃ paṭiggaṇhantīti khīṇāsavā suddhāvāsabrahmāno paṭiggaṇhanti. Kathaṃ? Sūtivesaṃ gaṇhitvāti eke. Taṃ pana paṭikkhipitvā idaṃ vuttaṃ — tadā bodhisattamātā suvaṇṇakhacitaṃ vatthaṃ nivāsetvā macchakkhisadisaṃ dukūlapaṭaṃ yāva pādantāva pārupitvā aṭṭhāsi. Athassā sallahukaṃ gabbhavuṭṭhānaṃ ahosi dhammakaraṇato udakanikkhamanasadisaṃ. atha te pakatibrahmaveseneva upasaṅkamitvā paṭhamaṃ suvaṇṇajālena paṭiggahesuṃ. tesaṃ hatthato manussā dukūlacumbaṭakena paṭiggahesuṃ. tena vuttaṃ — “devā naṃ paṭhamaṃ paṭiggaṇhanti pacchā manussā”ti.

Chư thiên đỡ lấy ngài trước: Phạm thiên cõi Tịnh Cư là những bậc lậu tận đỡ lấy ngài trước. Đỡ lấy như thế nào? Một số vị thầy nói rằng: “Nhóm Phạm thiên cõi Tịnh cư thay đổi hình tướng trở thành người hầu cận để nâng đỡ sự ra đời (của Bồ-tát). Hơn nữa,  sau khi đã khước từ lời của những vị ấy đã nói lời giải rằng – Thời gian đó mẹ của Bồ-tát quấn y phục được trang trí bằng vàng, mặc một loại vải 2 lớp thật mịn tựa như màu mắt cá, che phủ đến gót chân ở tư thế đứng và việc hạ sanh thái của bà cũng đơn giản, tựa như dòng nước chảy ra từ ống tre, vào lúc ấy những Phạm thiên cõi Tịnh cư ấy tiến vào với hình tướng Phạm thiên thông thường rồi đỡ lấy Bồ-tát bằng lưới vàng trước. Người nhân loại đỡ lấy sau đó từ đôi tay của những Phạm thiên ấy bằng tấm khăn trùm đầu thượng hạng. Vì lý do đó, ngài mới nói rằng chư thiên đã đỡ lấy (ngài) trước, người nhân loại đỡ lấy (ngài) sau”.

206. Cattāro naṃ devaputtāti cattāro mahārājāno. Paṭiggahetvāti ajinappaveṇiyā paṭiggahetvā. Mahesakkhoti mahātejo mahāyaso lakkhaṇasampannoti attho.

206. Cả bốn vị thiên tử (đỡ lấy) đức Bồ-tát ấy: ám chỉ đến Tứ-đại-thiên-vương. Đã đỡ lấy: đỡ lấy bằng lưới được làm bằng da cọp. Có đại thần lực: có oai lực vĩ đại, có danh tiếng vĩ đại, có nghĩa là thành tựu trọn vẹn bởi trạng thái.

Visadova nikkhamatīti yathā aññe sattā yonimagge laggantā bhaggavibhaggā nikkhamanti, na evaṃ nikkhamati, alaggo hutvā nikkhamatīti attho. Udenāti udakena. Kenaci asucināti yathā aññe sattā kammajavātehi uddhaṃpādā adhosirā yonimagge pakkhittā sataporisanarakapapātaṃ patantā viya tāḷacchiddena nikkaḍḍhiyamānā hatthī viya mahādukkhaṃ anubhavantā   nikkhamanti, na evaṃ bodhisatto. Bodhisattañhi kammajavātā uddhaṃpādaṃ adhosiraṃ kātuṃ na sakkonti. So dhammāsanato otaranto dhammakathiko viya nisseṇito otaranto puriso viya ca dve hatthe ca pāde ca pasāretvā ṭhitakova mātukucchisambhavena kenaci asucinā amakkhitova nikkhamati.

Ngài được sanh ra hoàn toàn thanh tịnh: những chúng sanh khác thường bị mắc kẹt ở tử cung và thoát ra ngoài một cách đau đớn, nhưng mẹ của Bồ-tát thì không như thế, tức là hạ sanh ngài một cách dễ dàng không dính bất cứ thứ gì cả. Bởi nước: bởi nước. Không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào: Những chúng sanh khác thường có gió sanh lên do nghiệp thổi phần chân quay lên trên, phần đầu xoay lên xuống dưới qua tử cùng lãnh thọ cảm giác vô cùng đau đớn ví như rơi xuống vực thẳm sâu hàng trăm thân người hoặc giống như con voi rời khỏi hốc cây tāla, nhơ nhuốc với những thứ bất tịnh mới lọt ra được như thế nào Bồ-tát không phải như vậy. Bởi vì gió sanh lên từ nghiệp không thể làm cho Bồ-tát có đôi chân xoay lên trên, đầu xoay xuống dưới được. Ngài duỗi đôi tay và đôi chân cả hai ra trong tư thế đứng tương tự y như vị Pháp sư bước xuống từ Pháp tòa hoặc giống như người đàn ông bước xuống từ cầu thân như thế ấy, không nhơ nhuốc với những thứ bất tịnh được sản sinh ra từ bào thai của người mẹ, rồi hạ sanh.

Udakassa dhārāti udakavaṭṭiyo. Tāsu sītā suvaṇṇakaṭāhe patati, uṇhā rajatakaṭāhe. idañca pathavītale kenaci asucinā asammissaṃ tesaṃ pānīyaparibhojanīyaudakañceva aññehi asādhāraṇaṃ kīḷanaudakañca dassetuṃ vuttaṃ. aññassa pana suvaṇṇarajataghaṭehi āhariyamānaudakassa ceva Haṃsavaṭṭakādipokkharaṇigatassa ca udakassa paricchedo natthi.

Dòng nước: dòng nước. Trong dòng nước ấy, dòng nước lạnh chảy xuống bình nước vàng, dòng nước ấm chảy xuống bình nước bạc. Và ngài nói ý nghĩa ấy để chỉ ra rằng nước uống sử sử dụng của các ngài không trộn lẫn với những thứ bất tịnh gì ở trên mặt đất và nước để vui chơi cũng không phổ biến đối với người khác. Nước khác có thể mang lại bằng bình vàng bình bạc, hay nước ở trong hồ tự nhiên tên là Haṃsavaṭṭa v.v, không được xác định (có nhiều).

207. Sampatijātoti muhuttajāto. Pāḷiyaṃ pana mātukucchito nikkhantamatto viya dassito, na pana evaṃ daṭṭhabbaṃ. Nikkhantamattañhi taṃ paṭhamaṃ brahmāno suvaṇṇajālena paṭiggaṇhiṃsu, tesaṃ hatthato cattāro mahārājāno maṅgalasammatāya sukhasamphassāya ajinappaveṇiyā, tesaṃ hatthato manussā dukūlacumbaṭakena, manussānaṃ hatthato muccitvā pathaviyaṃ patiṭṭhito.

207. Trong khi sinh ra: được sinh ra chỉ trong phút chốc. Hơn nữa, trong Pāḷī đã trình bày rằng: Bồ-tát ngay khi sinh ra từ bào thai của người mẹ (ngài) đã đứng trên đôi bàn chân bằng phẳng ở trên mặt đất, nhưng không nên hiểu như vậy. Sự thật thì khi Bồ-tát lọt lòng mẹ các Phạm thiên lấy lưới vàng đỡ lấy trước, Tứ-đại-thiên-vương tiếp đỡ từ tay của những Đại Phạm thiên với mạng lưới được làm bằng da cọp có sự tiếp xúc mềm mại dễ chịu được chấp thuận là điềm hạnh phúc, mọi người mới tiếp đón từ tay của những Đại-thiên-vương ấy bằng khăn đội đầu thượng hạng, khi vừa rời khỏi tay của loài người đã đứng trên mặt đất.

Setamhi chatte anudhāriyamāneti dibbasetacchatte anudhāriyamāne. Ettha ca chattassa parivārāni khaggādīni pañca rājakakudhabhaṇḍānipi āgatāneva. Pāḷiyaṃ pana rājagamane rājā viya chattameva vuttaṃ. Tesu chattameva paññāyati, na chattaggāhakā. tathā khagga-tālavaṇṭa-morahatthaka-vāḷabījani-uṇhīsamattāyeva paññāyanti, na tesaṃ gāhakā. Sabbāni kira tāni adissamānarūpā devatā gaṇhiṃsu. vuttampi cetaṃ —

“anekasākhañca sahassamaṇḍalaṃ,

chattaṃ marū dhārayumantalikkhe.

suvaṇṇadaṇḍā vipatanti[21] cāmarā,

na dissare cāmarachattagāhakā”ti. (su. ni. 693).

Khi vị thiên tử che cây lọng trắng: Khi thiên tử che cây lọng trắng thuộc cõi trời, kể cả năm biểu trương của hoàng gia chẳng hạn như thanh gươm v.v, thuộc một bộ của cây lọng đã đến, trường hợp này cũng tương tự. Nhưng ở trong Pāḷī chỉ nói đến cây lọng trắng mà thôi tựa như đức vua được che lọng trong lúc đức vua bước đi. Trong cả năm biểu trương của hoàng gia ấy chỉ hiển lộ cây lọng trắng mà thôi, không hiển lộ người nắm giữ. Thanh gươm, cái quạt lá cọ, (quạt) bó lông con công, quạt phất trần, khăn bịt đầu cũng xuất hiện tương tự, không hiển lộ người cầm lấy những thứ ấy. Kể rằng các vị thiên tử không được nhìn thấy nắm giữ năm biểu trưng vương quyền ấy (được) đặt đầy đủ mọi thứ. Và điều này đã được nói –

Các vị thiên nhân đã nắm giữ chiếc lọng có nhiều thanh nan, có ngàn khoanh tròn ở giữa không trung, và phe phẩy tới lui những cây phất trần có tay cầm bằng vàng; những người nắm giữ các cây phất trần và chiếc lọng không được nhìn thấy. (su. ni. 693).

Sabbā ca disāti idaṃ sattapadavītihārūpari ṭhitassa viya sabbadisānuvilokanaṃ vuttaṃ, na kho pan’evaṃ[22] daṭṭhabbaṃ. Mahāsatto hi manussānaṃ hatthato muccitvā puratthimadisaṃ olokesi, anekacakkavāḷasahassāni ekaṅgaṇāni ahesuṃ. Tattha devamanussā gandhamālādīhi pūjayamānā — “Mahāpurisa idha tumhehi sadisopi natthi, kuto uttaritaro”ti āhaṃsu. Evaṃ catasso disā, catasso anudisā, heṭṭhā, uparīti dasapi disā anuviloketvā attanā sadisaṃ adisvā ayaṃ uttarā disāti sattapadavītihārena agamāsīti evamettha attho daṭṭhabbo. Āsabhinti uttamaṃ. aggoti guṇehi sabbapaṭhamo. Itarāni dve padāni etasseva vevacanāni. Ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavoti padadvayena imasmiṃ attabhāve pattabbaṃ arahattaṃ byākāsi.

Và ở mọi phương hướng này ngài nói đến việc quan sát ở mọi hướng giống với ngài đang bước đi bảy bước, nhưng câu này không nên hiểu như vậy. Sự thật bậc Đại nhân rời khỏi tay của tất cả mọi người rồi nhìn về hướng Đông, nhiều ngàn vũ trụ xuất hiện thành một gò duy nhất. Chư thiền và nhân loại trong những vũ trụ ấy đưa nhau đến lễ bái cùng với những lễ vật như vật thơm và tràng hoa v.v, rồi nói rằng: “Thưa bậc Đại nhân ở trên đời này không có bất cứ ai ngang bằng với ngài, ở đâu có vượt trội hơn?” Bậc Đại nhân quan sát cả mười phương hướng là 4 hướng chính, 4 hướng phụ, hướng dưới và hướng trên, không thấy bất cứ ai ngang bằng với ngài, xác định rằng: đây là hướng Bắc rồi ngài bước đi bảy bước. Ở đây nên hiểu ý nghĩa như đã giải thích. Sự dũng mãnh: cao thượng. Cao nhất: cao thượng, phát triển nhất, vượt trội hơn mọi người về mọi đức hạnh. Hai câu này chính là từ đồng nghĩa với chính từ ‘cao nhất’. Ngài tuyên bố quả vị A-ra-hán có thể chứng đắc ở trong tự thân này bằng cả hai từ như sau: ‘Kiếp sống này là kiếp sống cuối cùng, giờ đây không còn tái sanh lại nữa.’

Ettha ca samehi pādehi pathaviyaṃ patiṭṭhānaṃ catuiddhipādapaṭilābhassa pubbanimittaṃ, uttarābhimukhabhāvo mahājanaṃ ajjhottharitvā abhibhavitvā gamanassa pubbanimittaṃ, sattapadagamanaṃ sattabojjhaṅgaratanapaṭilābhassa pubbanimittaṃ, dibbasetacchattadhāraṇaṃ vimutticchattapaṭilābhassa pubbanimittaṃ, pañcarājakakudhabhaṇḍāni pañcahi vimuttīhi vimuccanassa pubbanimittaṃ, disānuvilokanaṃ anāvaraṇañāṇapaṭilābhassa pubbanimittaṃ, āsabhīvācābhāsanaṃ appaṭivattiyadhammacakkappavattanassa pubbanimittaṃ. “Ayamantimā jātī”ti sīhanādo anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbānassa pubbanimittanti veditabbaṃ. Ime vārā pāḷiyaṃ āgatā, sambahulavāro pana āgato, āharitvā dīpetabbo.

Trong trường hợp này nên biết lý giải như sau: việc ngài đứng trên mặt đất bằng đôi chân bằng phẳng là điềm báo trước của việc đạt được bốn nền tảng như ý – iddhipāda khi ngài quay mặt về hướng Đông là điềm báo trước của việc ngài ra đi vượt trội hơn hẳn đại chúng. Việc ngài bước đi bảy bước là điềm báo trước của việc chứng đạt bảy báu là thất giác chi. Việc che lọng trắng thuộc cõi trời là điềm báo trước của việc đạt được cây lọng là giải thoát. Năm biểu trưng vương quyền là điềm báo trước của việc giải thoát với năm loại giải thoát. Việc quan sát phương hướng là điềm báo trước của việc chứng đạt trí không bị ngăn che, việc thốt lên tiếng rống của con bò chúa – āsabhīvācā là điềm báo trước của việc chuyển vận bánh xe pháp mà không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi bất cứ ai. Việc gầm lên tiếng gầm sư tử “kiếp sống này là kiếp sống cuối cùng” nên hiểu rằng là điềm báo trước của việc Vô-dư-y Nibbāna ở cảnh giới Nibbāna không còn dư sót. Những đoạn còn lại này đến trong Pāḷī, nhưng Sambahulavāro vẫn chưa đến mới cần đem đến trình bày.

Mahāpurisassa hi jātadivase dasasahassilokadhātu kampi. dasasahassilokadhātumhi devatā ekacakkavāḷe sannipatiṃsu. Paṭhamaṃ devā paṭiggahiṃsu, pacchā manussā. Tantibaddhā vīṇā cammabaddhā bheriyo ca kenaci avāditā sayameva vajjiṃsu, manussānaṃ andubandhanādīni[23] khaṇḍākhaṇḍaṃ bhijjiṃsu. Sabbarogā ambilena dhotatambamalaṃ viya vigacchiṃsu, jaccandhā rūpāni passiṃsu. Jaccabadhirā saddaṃ suṇiṃsu, pīṭhasappī javanasampannā ahesuṃ, jātijaḷānampi eḷamūgānaṃ sati patiṭṭhāsi, videse pakkhandanāvā supaṭṭanaṃ pāpuṇiṃsu, ākāsaṭṭhakabhūmaṭṭhakaratanāni sakatejobhāsitāni ahesuṃ, verino mettacittaṃ paṭilabhiṃsu, Avīcimhi aggi nibbāyi. Lokantare āloko udapādi, nadīsu jalaṃ na pavatti, mahāsamuddesu madhurasadisaṃ udakaṃ ahosi, vāto na vāyi, ākāsapabbatarukkhagatā sakuṇā bhassitvā pathavīgatā ahesuṃ, cando atiroci, sūriyo na uṇho na sītalo nimmalo utusampanno ahosi, devatā attano attano vimānadvāre ṭhatvā apphoṭanaseḷanacelukkhepādīhi mahākīḷaṃ kīḷiṃsu, cātuddīpikamahāmegho vassi, mahājanaṃ neva khudā na pipāsā pīḷesi, dvārakavāṭāni sayameva vivariṃsu, pupphūpagaphalūpagā rukkhā pupphaphalāni gaṇhiṃsu, dasasahassilokadhātu ekaddhajamālā ahosīti.  

Cũng vào ngày Bồ-tát đản sanh mười ngàn thế giới đã rúng động. Tất cả chư thiên trong mười ngàn thế giới tụ hội lại với nhau trong một thế giới. Tất cả chư thiên tiếp đón trước, loài người tiếp đón sau. Các món nhạc khí và các trống được bọc da cũng tự động vang lên mà chẳng có bất kỳ ai điều khiển. Dụng cụ giam cầm như gông cùm và dây xích v.v, của nhân loại đều bị đứt thành từng mảnh từng miếng lớn nhỏ, mọi tật bệnh đều biến mất tương tự như sắt gỉ sét màu nâu được chà bóng bằng chất chua. Người mù bẩm sinh cũng nhìn thấy được mọi sắc. Người điếc bẩm sinh cũng nghe được âm thanh. Người bại liệt được thành tựu đầy đủ sức lực, người mất trí kể cả người đần độn thì được phục hồi lại sự ghi nhớ, tất cả tàu bè đang đi trên biển cũng cập bến được thuận tiện, tất cả các châu báu ở trong hư không và trong lòng đất cũng tự phát sáng, những người thù oán cũng hết oán giận nhau, trở nên cảm thông với nhau, lửa ở địa ngục Avecī cũng được dập tắt. Ánh sáng xuất hiện ở địa ngục không gian, nước ở các con sông không chuyển động, nước ở trong biển cả cũng trở thành nước ngọt, gió yên lặng không thổi, chim chóc đang bay trên bầu trời và đang đậu trên cây, đồi núi, không muốn bay chỉ muốn đậu trên mặt đất, mặt trăng tuyệt đẹp, ánh nắng mặt trời không nóng, không lạnh, không uế nhiễm, thành tựu theo thời tiết. Chư thiên đứng ở cửa thiên cung của mình vui chơi v.v, như vỗ tay, hô hào và vẫy vải, mưa lớn rơi xuống cả bốn hướng, đại chúng không ai có cảm giác đói hay khát, lúc đó tất cả các cửa lớn cửa nhỏ tự động mở ra, cây cối có hoa có trái toàn bộ đều được đơm hoa, kết trái, mười ngàn thế giới lúc đó cờ hoa giăng đầy khắp.

Tatrāpissa dasasahassilokadhātukampo sabbaññutañāṇapaṭilābhassa pubbanimittaṃ, devatānaṃ ekacakkavāḷe sannipāto dhammacakkappavattanakāle ekappahārena sannipatitvā dhammapaṭiggaṇhanassa pubbanimittaṃ, paṭhamaṃ devatānaṃ paṭiggahaṇaṃ catunnaṃ rūpāvacarajjhānānaṃ paṭilābhassa pubbanimittaṃ. pacchā manussānaṃ paṭiggahaṇaṃ catunnaṃ arūpajjhānānaṃ paṭilābhassa pubbanimittaṃ, tantibaddhavīṇānaṃ sayaṃ vajjanaṃ anupubbavihārapaṭilābhassa pubbanimittaṃ, cammabaddhabherīnaṃ vajjanaṃ mahatiyā dhammabheriyā anussāvanassa pubbanimittaṃ, andubandhanādīnaṃ chedo asmimānasamucchedassa pubbanimittaṃ, sabbarogavigamo sabbakilesavigamassa pubbanimittaṃ, jaccandhānaṃ rūpadassanaṃ dibbacakkhupaṭilābhassa pubbanimittaṃ, jaccabadhirānaṃ saddassavanaṃ dibbasotadhātupaṭilābhassa pubbanimittaṃ, pīṭhasappīnaṃ javanasampadā catuiddhipādādhigamassa pubbanimittaṃ, jaḷānaṃ satipatiṭṭhānaṃ catusatipaṭṭhānapaṭilābhassa pubbanimittaṃ, videsapakkhandanāvānaṃ supaṭṭanasampāpuṇanaṃ catupaṭisambhidādhigamassa pubbanimittaṃ, ratanānaṃ sakatejobhāsitattaṃ yaṃ lokassa dhammobhāsaṃ dassessati tassa pubbanimittaṃ.

Thậm chí sự vi diệu ấy nên biết lý giải như sau: sự rúng động của mười ngàn thế giới là điềm báo trước của việc đạt được Trí toàn giác của đức Bồ-tát, chư thiên tụ hội lại với nhau trong cùng một thế giới là điềm báo trước của việc hội họp để tiếp nhận Chánh pháp trong cùng một thời điểm vào lúc chuyển vận bánh xe pháp. Chư thiên đỡ lấy Bồ-tát trước là điềm báo trước của việc chứng đạt cả 4 thiền Sắc-giới, loài người đỡ lấy Bồ-tát sau là điềm báo trước của việc chứng đạt cả 4 thiền Vô-sắc-giới. Các nhạc khí đã được căng dây tự động vang lên là điềm báo trước của việc chứng đạt sự an trú theo tuần tự, trống được bọc da tự động vang lên là điềm báo trước của việc giảng dạy dhammabherī vĩ đại, dụng cụ giam cầm như gông cùm và dây xích v.v, đều đứt đoạn là điềm báo trước của việc cắt đứt ngã mạn [asmimāna] một cách hoàn toàn, tất cả mọi người dứt khỏi mọi bệnh tật là điềm báo trước của việc thoát khỏi tất cả phiền não, người mù bẩm sinh nhìn thấy được các sắc là điềm báo trước của việc chứng đạt thiên nhãn, người điếc bẩm sinh nghe được âm thanh là điềm báo trước của việc chứng đạt thiên nhĩ, người bại liệt được thành tựu đầy đủ sức lực là điềm báo trước của việc chứng đắc cả bốn nền tảng như ý, người mất trí được phục hồi lại sự ghi nhớ là điềm báo trước của việc chứng đắc bốn sự thiết lập niệm. Tất cả tàu bè đang đi trên biển cũng cập bến được thuận tiện là điềm báo trước của việc chứng đắc bốn tuệ phân tích. Tất cả các châu báu tự phát sáng là điềm báo trước của ánh sáng pháp bảo được ngài tuyên thuyết đến người thế gian.

Verīnaṃ mettacittapaṭilābho catubrahmavihārapaṭilābhassa pubbanimittaṃ, avīcimhi agginibbānaṃ ekādasāgginibbānassa pubbanimittaṃ, lokantarāloko avijjandhakāraṃ vidhamitvā ñāṇālokadassanassa pubbanimittaṃ, mahāsamuddassa madhuratā nibbānarasena ekarasabhāvassa pubbanimittaṃ, vātassa avāyanaṃ dvāsaṭṭhidiṭṭhigatabhindanassa pubbanimittaṃ, sakuṇānaṃ pathavīgamanaṃ mahājanassa ovādaṃ sutvā pāṇehi saraṇagamanassa pubbanimittaṃ, candassa ativirocanaṃ bahujanakantatāya pubbanimittaṃ, sūriyassa uṇhasītavivajjanautusukhatā kāyikacetasikasukhuppattiyā pubbanimittaṃ, devatānaṃ vimānadvāresu apphoṭanādīhi kīḷanaṃ buddhabhāvaṃ patvā udānaṃ udānassa pubbanimittaṃ, cātuddīpikamahāmeghavassanaṃ mahato dhammameghavassanassa pubbanimittaṃ, khudāpīḷanassa abhāvo kāyagatāsatiamatapaṭilābhassa pubbanimittaṃ, pipāsāpīḷanassa abhāvo vimuttisukhena sukhitabhāvassa pubbanimittaṃ, dvārakavāṭānaṃ sayameva vivaraṇaṃ aṭṭhaṅgikamaggadvāravivaraṇassa pubbanimittaṃ, rukkhānaṃ pupphaphalagahaṇaṃ vimuttipupphehi pupphitassa ca sāmaññaphalabhārabharitabhāvassa ca pubbanimittaṃ, dasasahassilokadhātuyā ekaddhajamālatā ariyaddhajamālāmālitāya pubbanimittanti veditabbaṃ. Ayaṃ sambahulavāro nāma.

Những người thù oán cũng hết oán giận nhau, trở nên từ ái là điềm báo trước của việc chứng đạt bốn Phạm trú. Lửa địa ngục Avecī diệt tắt là điềm báo trước của việc dập tắt mười một ngọn lửa (khổ đau), ánh sáng xuất hiện ở địa ngục không gian là điềm báo trước của việc ngài xua tan sự tăm tối là vô minh rồi nhìn thấy ánh sáng bằng trí, nước ở trong biển cả có vị ngọt là điềm báo trước của bản thể pháp chỉ có một vị duy nhất (vị giải thoát), gió yên lặng không thổi là điềm báo trước của việc hội chúng của đức Phật không bị chia rẽ do tác động của sáu mươi hai loại tà kiến, chim chóc đậu trên mặt đất là điềm báo trước của việc đại chúng lắng nghe lời dạy (đã đi đến) xin nương nhờ bằng cả mạng sống, mặt trăng tuyệt đẹp là điềm báo trước của việc đại chúng quan tâm đến pháp, ánh nắng mặt trời không nóng, không lạnh cho sự thuận tiện theo thời tiết là điềm báo trước của đại chúng đạt đến (trạng thái) thân an lạc và tâm an lạc. Chư thiên vui chơi có vỗ tay v.v, ở cửa thiên cung là điềm báo trước của việc bậc Đại nhân đạt đến bản thể của một vị Phật rồi thốt lên lời cảm hứng, mưa lớn rơi xuống cả bốn hướng là điềm báo trước của việc dòng nước là Chánh pháp rơi xuống rất nhiều, đại chúng không ai có cảm giác đói hay khát là điềm báo trước của việc chứng đắc pháp bất tử là niệm đặt ở thân [kāyagatāsati], đại chúng không ai bị sự đói hay khát hành hạ là điềm báo trước của việc hội chúng đức Phật đạt đến sự an lạc nhờ lạc giải thoát, các cửa lớn cửa nhỏ tự động mở ra là điềm báo trước của việc mở cánh cửa đạo lộ có tám chi phần, cây cối toàn bộ đều được đơm hoa kết trái là điềm báo trước của Chánh pháp được nở hoa là sự giải thoát và dày đặc với quả vị của Sa-môn, mười ngàn thế giới lúc đó cờ hoa giăng đầy khắp nên hiểu rằng là điềm báo của việc hội chúng đức Phật có lá cờ của bậc Thánh nhân làm tràng hoa. Đây được gọi là sambahulavāra.

Ettha pañhe pucchanti — “Yadā mahāpuriso pathaviyaṃ patiṭṭhahitvā uttarābhimukho gantvā āsabhiṃ vācaṃ bhāsati, tadā kiṃ pathaviyā gato, udāhu ākāsena? Dissamāno gato, udāhu adissamāno? Acelako gato, udāhu alaṅkatappaṭiyatto? Daharo hutvā gato, udāhu mahallako? Pacchāpi kiṃ tādisova ahosi, udāhu puna bāladārako”ti? Ayaṃ pana pañho heṭṭhā Lohapāsāde saṅghasannipāte Tipiṭakacūḷābhayattherena vissajjitova. Thero kirettha niyati pubbekatakamma-issaranimmānavādavasena taṃ taṃ bahuṃ vatvā avasāne evaṃ byākāsi — “Mahāpuriso pathaviyaṃ gato, mahājanassa pana ākāse gacchanto viya ahosi. Dissamāno gato, mahājanassa pana adissamāno viya ahosi. Acelako gato, mahājanassa pana alaṅkatappaṭiyattova upaṭṭhāsi. Daharova gato, mahājanassa pana soḷasavassuddesiko viya ahosi. Pacchā pana bāladārakova ahosi, na tādiso”ti. Evaṃ vutte parisā cassa “Buddhena viya hutvā bho therena pañho kathito”ti attamanā ahosi. Lokantarikavāro vuttanayo eva.

Ở đây có một câu hỏi: “Khi Bồ-tát đứng trên mặt đất bước chân đi về phía Bắc rồi nói lên tiếng rống của con bò chúa, khi ấy ngài đứng trên mặt đất, hay hỏng trên mặt đất? Cơ thể ngài phơi bày, hay không phơi bày? Cơ thể ngài lõa lồ, hay được sửa soạn trang điểm? trong hình thức đứa bé, hay người lớn? thậm chí về sau cũng có tính chất như vậy, hay trở lại một bé sơ sinh?” Lại nữa, tiếp đó về sau trưởng lão Tipiṭaka Cūḷābhaya đã giải thích vấn đề này trong lần họp mặt ở Lâu Đài Bằng Đồng [Lohapāsāda]. Được biết rằng câu này trưởng lão đã nói rất nhiều về vấn đề đó do tác động niyata-vāda [thuyết cố định], pubbekatakamma-vāda [thuyết về nghiệp lực đã tạo trong quá khứ] và issaranimmāna-vāda [thuyết do tạo hóa] ở cuối cùng đã nói như vầy – “Bồ-tát đã đi trên mặt đất, nhưng (hiển lộ cùng) đại chúng giống giống như ngài đi trên hư không. Cơ thể ngài được phơi bày, nhưng (hiển lộ cùng) đại chúng nhìn giống như không thấy. Cơ thể không mặc y phục, nhưng (hiển lộ cùng) đại chúng giống như được sửa soạn trang điểm một cách khéo léo. Mặc dù là đứa bé, nhưng (hiển lộ cùng) đại chúng giống như một thanh niên mười sáu tuổi. Nhưng sau đó thì trở thành đứa bé sơ sinh như bình thường, không còn giống như đã hiện bày. Và khi trưởng lão đã giải thích như vậy thì cả hội chúng của ngài mọi người đều hài lòng đã nói rằng: “Kính bạch ngài, trưởng lão đã giải quyết vấn đề rõ ràng tương tự như đức Phật”. Phần Lokantarika có phương thức như đã trình bày.

Viditāti pākaṭā hutvā. Yathā hi sāvakā nahānamukhadhovanakhādanapivanādikāle anokāsagate atītasaṅkhāre nippadese sammasituṃ na sakkonti, okāsapattayeva sammasanti, na evaṃ Buddhā. Buddhā hi sattadivasabbhantare vavatthitasaṅkhāre ādito paṭṭhāya sammasitvā tilakkhaṇaṃ āropetvāva vissajjenti, tesaṃ avipassitadhammo nāma natthi, tasmā “viditā”ti āha. Sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

Hiện bày: đã hiện hữu. Thật sự chư vị Thinh văn không thể nào tìm kiếm cơ hội quán xét các Hành ở quá khứ, khi không có cơ hội như thời gian đi tắm, rửa mặt, ăn, và uống v.v, chỉ có thể quán xét khi có cơ hội, chư Phật thì không phải như vậy. Bởi vì chư Phật quán xét các Hành đã trôi qua trong 7 ngày từ lúc bắt đầu đưa vào Tam Tướng, được giải thích rõ, được gọi là pháp không rõ ràng cùng chư Phật ấy hẳn không có, vì thế ngài mới nói ‘hiện bày’. Từ còn lại trong các câu đều đơn giản.

Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp Kết Thúc.


[1] Sī. – Jānissatīti

[2] Ka. – na jānanti

[3] Ka. – adhibhavitvā

[4] Syā. – Imāni pañca

[5] Ka. – kiṃ jānāma

[6] Sī. – Majjhimapadesaṃ

[7] Sī. – Kajaṅgalaṃ

[8] Sī. – ekā lokantarikā

[9] Ka. – Aññe ca tādise

[10] Ka. – pāṇavadhādisāhasikakamme

[11] Ka. – Accharāsaṅghāṭasamaye

[12] Si. Syā. – Cattāro naṃ

[13]  Sī. Ka. – Antaradhāpeyyuṃ

[14] Ka. – evamete

[15] Ka. – bheravarūtā

[16] Ka. – āvajjanakāraṇamattaṃ

[17] Syā. – Visuddhaṃ

[18] Sī., Ma., Ka. – vāsaddo

[19] Ka. – attano

[20] Sī. – vāyaṃsu

[21] Sī. – Vītipatanti

[22] Sī. Ka. – na kho panetaṃ

[23] Ka. – addhubandhanādīni