Giải Thích Kinh Hộ Trì Āṭānāṭiya
(Āṭānāṭiyasuttavaṇṇanā (32))Xem Trường Bộ Kinh – Kinh Hộ Trì Āṭānāṭiya (Kinh A-sá-nang-chi)
Giảng thích về tụng phẩm thứ nhất
275. Evaṃme sutanti āṭānāṭiyasuttaṃ. Tatrāyamapubbapadavaṇṇanā – catuddisaṃ rakkhaṃ ṭhapetvāti asurasenāya nivāraṇatthaṃ sakkassa devānamindassa catūsu disāsu ārakkhaṃ ṭhapetvā. Gumbaṃ ṭhapetvāti balagumbaṃ ṭhapetvā. Ovaraṇaṃ ṭhapetvāti catūsu disāsu ārakkhake ṭhapetvā. Evaṃ sakkassa devānamindassa ārakkhaṃ susaṃvihitaṃ katvā āṭānāṭanagare nisinnā satta buddhe ārabbha imaṃ parittaṃ bandhitvā ‘‘ye satthu dhammaāṇaṃ amhākañca rājaāṇaṃ na suṇanti, tesaṃ idañcidañca karissāmā’’ti sāvanaṃ katvā attanopi catūsu disāsu mahatiyā ca yakkhasenāyātiādīhi catūhi senāhi ārakkhaṃ saṃvidahitvā abhikkantāya rattiyā…pe… ekamantaṃ nisīdiṃsu.
275. Bài Kinh Hộ Trì Āṭānāṭiya bắt đầu như sau— ‘Tôi đã nghe như vầy…’ Tiếp theo là phần giải thích các từ ngữ chưa được giải thích trong bài Kinh – Sau khi bố trí sự bảo vệ ở bốn hướng: Sau khi thiết lập sự bảo vệ cho Thiên chủ Sakka, Chúa của chư Thiên, ở bốn hướng nhằm mục đích ngăn chặn đội quân A-tu-la. Sau khi bố trí sự đóng quân: Sau khi thiết lập sự một toán quân. Sau khi bố trí sự canh phòng: Sau khi bố trí người canh gác ở bốn hướng. Giải thích rằng – Như vậy, bốn vị Đại Thiên Vương đã khéo sắp xếp sự bảo vệ cho Thiên chủ Sakka, Chúa của chư Thiên, đang ngồi ở thành Aṭanāṭā, liên quan đến bảy vị Phật, đã buộc kết sự hộ trì này, và tuyên bố: “Kẻ nào không lắng nghe về oai lực Giáo Pháp của bậc Đạo Sư và quyền hành của vua của chúng ta, chúng ta sẽ làm điều này, điều này cho kẻ đó!” Sau đó, sắp xếp sự bảo vệ với bốn loại binh chủng có đội quân Dạ-xoa, v.v., hùng mạnh ở bốn hướng của mình, khi đêm trôi qua … rồi đã ngồi xuống ở một bên.
Abhikkantāya rattiyāti ettha abhikkantasaddo khayasundarābhirūpaabbhanumodanādīsu dissati. Tattha ‘‘abhikkantā, bhante ratti, nikkhanto paṭhamo yāmo, ciranisinno bhikkhusaṅgho uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṃ pātimokkha’’nti (a. ni. 8.20) evamādīsu khaye dissati. ‘‘Ayaṃ imesaṃ catunnaṃ puggalānaṃ abhikkantataro paṇītataro cā’’ti (a. ni. 4.100) evamādīsu sundare.
Ở đây từ ‘abhikkanta’ trong câu ‘khi đêm đã trôi qua’ được xuất hiện với ý nghĩa (1) cạn kiệt, (2) tốt đẹp, (3) vượt trội, (4) tuyệt vời. Ở đấy, xuất hiện với ý nghĩa cạn kiệt như vầy – “Bạch Ngài, đêm đã khuya, canh một đã tàn, hội chúng Tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các Tỳ khưu.” (a. ni. 8.20); Ý nghĩa tốt đẹp trong câu như vầy: “Trong bốn hạng người này, thì hạng người… là tốt đẹp hơn, và thù thắng hơn.” (a. ni. 4.100);
‘‘Ko me vandati pādāni, iddhiyā yasasā jalaṃ; Abhikkantena vaṇṇena, sabbā obhāsayaṃ disā’’ti. (vi. va. 857); Evamādīsu abhirūpe.
Ý nghĩa vượt trội trong câu như vầy: “Người nào, trong khi đang chói sáng nhờ vào thần lực và danh tiếng, trong khi đang làm cho tất cả các phương sáng rực lên nhờ vào màu da vượt trội, mà đảnh lễ các bàn chân của Ta?” (vi. va. 857);
‘‘Abhikkantaṃ, bho gotamā”ti (pārā. 15) evamādīsu abbhanumodane. Idha pana khaye. Tena abhikkantāya rattiyā, parikkhīṇāya rattiyāti vuttaṃ hoti.
Ý nghĩa tuyệt vời trong câu như vầy: “Thưa ngài Gotama, thật là tuyệt vời!” (pārā. 15); Tuy nhiên, trong ngữ cảnh này ‘Abhikkanta’ được sử dụng với hàm ý ‘cạn kiệt’. Chính vì vậy, Ngài mới nói rằng: ‘Khi đêm đã trôi qua, khi đêm đã hoàn toàn chấm dứt’.
Abhikkantavaṇṇāti idha abhikkantasaddo abhirūpe. Vaṇṇasaddo pana chavithutikulavaggakāraṇasaṇṭhānapamāṇarūpāyatanādīsu dissati. Tattha ‘‘suvaṇṇavaṇṇosi bhagavā’’ti (ma. ni. 2.399) evamādīsu chaviyaṃ. ‘‘Kadā saññūḷhā pana te, gahapati, ime samaṇassa gotamassa vaṇṇā’’ti (ma. ni. 2.77) evamādīsu thutiyaṃ. ‘‘Cattārome, bho gotama, vaṇṇā’’ti (dī. ni. 1.266) evamādīsu kulavagge. ‘‘Atha kena nu vaṇṇena gandhathenoti vuccatī’’tiādīsu (saṃ. ni. 1.234) kāraṇe. ‘‘Mahantaṃ hatthirājavaṇṇaṃ abhinimminitvā’’ti (saṃ. ni. 1.138) evamādīsu saṇṭhāne. ‘‘Tayo pattassa vaṇṇā’’ti (pārā. 602) evamādīsu pamāṇe. ‘‘Vaṇṇo gandho raso ojā’’ti evamādīsu rūpāyatane. So idha chaviyaṃ daṭṭhabbo. Tena ‘‘abhikkantavaṇṇā abhirūpacchavī’’ti vuttaṃ hoti.
Ở đây, từ ‘Abhikkanta’ mang ý nghĩa là ‘vóc dáng xinh đẹp’ trong cụm từ ‘có màu da vô cùng xinh đẹp’. Hơn nữa, từ ‘vaṇṇa’ xuất hiện với ý nghĩa sau– (1) màu da, (2) ưu điểm, (3) giai cấp, (4) lý do, (5) hình tướng, (6) kích thước, (7) sắc xứ, v.v. Trong số những từ đó, ‘vaṇṇa’ trong ý nghĩa ‘màu da’ như vầy: “Bạch đức Thế Tôn, Ngài có màu da như vàng.” (ma. ni. 2.399); Trong ý nghĩa ‘khen ngợi’ như vầy: “Này gia chủ, ông chất chứa những ưu điểm này về Sa-môn Gotama từ bao giờ?” (ma. ni. 2.77); Trong ý nghĩa ‘giai cấp’ như vầy: “Bạch Ngài đức Thế Tôn, có bốn giai cấp.” (dī. ni. 3.115). Trong ý nghĩa ‘lý do’ như vầy: “Như thế, bởi lý do gì Ngài nói rằng (tôi) ăn trộm mùi hương.” (saṃ. ni. 1.234). Trong ý nghĩa ‘lý do’ như vầy: “Sau khi hóa hiện thành hình tướng một Chúa Tượng.” (saṃ. ni. 1.138). Trong ý nghĩa ‘kích thước’ như vầy: “Bình bát có 3 kích cỡ” (pārā. 602); Trong ý nghĩa ‘sắc xứ’ như vầy: “Cảnh sắc, cảnh khí, cảnh vị, các dưỡng tố”. Trong ngữ cảnh này, từ ‘vaṇṇa’ nên được hiểu với ý nghĩa là ‘màu da’. Vì lý do đó, abhikkantavaṇṇā được Ngài nói rằng: “có màu da vô cùng xinh đẹp, có màu da tuyệt đẹp.”
Kevalakappanti ettha kevalasaddo anavasesa yebhuyya abyāmissānatirekadaḷhattha visaṃyogādianekattho. Tathā hissa ‘‘kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariya’’nti (pārā. 1) evamādīsu anavasesatā attho. ‘‘Kevalakappā ca aṅgamāgadhā pahūtaṃ khādanīyaṃ bhojanīyaṃ ādāya abhikkamitukāmā hontī’’ti (mahāva. 43) evamādīsu yebhuyyatā. ‘‘Kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī’’ti (mahāva. 1) evamādīsu abyāmissatā. ‘‘Kevalaṃ saddhāmattakaṃ nūna ayamāyasmā’’ti (a. ni. 6.55) evamādīsu anatirekatā. ‘‘Āyasmato, bhante, anuruddhassa bāhiko nāma saddhivihāriko kevalakappaṃ saṅghabhedāya ṭhito’’ti (a. ni. 4.243) evamādīsu daḷhatthatā. ‘‘Kevalī vusitavā uttamapurisoti vuccatī’’ti (a. ni. 10.12) evamādīsu visaṃyogo. Idha panassa anavasesattho adhippeto.
Từ kevala trong từ kevalakappaṃ này có nhiều ý nghĩa chẳng hạn như không còn dư sót, đa số, không trộn lẫn, không vượt quá, chắc chắn (daḷhatthatā), không gắn bó v.v. Quả thật vậy, từ kevala có ý nghĩa không còn dư sót (đầy đủ) trong câu bắt đầu như vầy: “Phạm hạnh thanh tịnh đầy đủ và trọn vẹn.” (pārā. 1); Có ý nghĩa đa số trong câu bắt đầu như vầy: “Vả toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha đem lại nhiều thức ăn loại cứng loại mềm với ý định tham dự.” (mahāva. 43); Có ý nghĩa không trộn lẫn trong câu bắt đầu như vầy: “(Như vậy) là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này” (vibha. 225); Có ý nghĩa không vượt quá: “Vị đại đức này hoàn toàn y cứ vào đức tin.” (a. ni. 6.55). Có ý nghĩa chắc chắn: “Vị đồng cộng trú của đại đức Anuruddha là Bāhiya hoàn toàn đứng về phía chia rẽ Tăng Chúng.” (a. ni. 4.243). Có ý nghĩa không gắn bó: “Ta gọi bậc tối thượng nhân, vị sống thành tựu viên mãn các Phạm hạnh”. (saṃ. ni. 3.57); Ở đây, từ ‘kevala’ được đề cập trong ý nghĩa ‘không còn dư sót’.
Kappasaddo panāyaṃ abhisaddahana vohāra kāla paññatti chedana vikappa lesa samantabhāvādi anekattho. Tathā hissa ‘‘okappaniyametaṃ bhoto gotamassa. Yathā taṃ arahato sammāsambuddhassā’’ti (ma. ni. 1.387) evamādīsu abhisaddahanamattho. ‘‘Anujānāmi, bhikkhave, pañcahi samaṇakappehi phalaṃ paribhuñjitu’’nti (cūḷava. 250) evamādīsu vohāro. ‘‘Yena sudaṃ niccakappaṃ viharāmī’’ti (ma. ni. 1.387) evamādīsu kālo. ‘‘Iccāyasmā kappo’’ti (su. ni. 1098) evamādīsu paññatti. ‘‘Alaṅkato kappitakesamassū’’ti (vi. va. 1094) evamādīsu chedanaṃ. ‘‘Kappati dvaṅgulakappo’’ti (cūḷava. 446) evamādīsu vikappo, atthi kappo nipajjitu’’nti (a. ni. 8.80) evamādīsu leso. ‘‘Kevalakappaṃ veḷuvanaṃ obhāsetvā’’ti (saṃ. ni. 1.94) evamādīsu samantabhāvo. Idha pana samantabhāvo attho adhippeto. Tasmā ‘‘kevalakappaṃ gijjhakūṭa’’nti ettha anavasesaṃ samantato gijjhakūṭanti evamattho daṭṭhabbo.
Từ kappa này có nhiều ý nghĩa chẳng hạn như: đáng tin cậy, vohāra (sự diễn tả luật học), thời gian, paññatti (sự quy định), cắt đứt, vượt qua, lesa (đưa ra lý do bào chữa), sự bao trùm toàn bộ v.v. Quả thật vậy, từ kappa có ý nghĩa đáng tin cậy trong câu như vầy: “Lời này của Ngài Gotama thật đáng tin cậy, vị giống như bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác.” (ma. ni. 1.387). Có nghĩa là vohāra (sự diễn tả luật học) trong câu như vầy: “Này chư Tỳ khưu, Ta cho phép thọ dụng trái cây đã được làm thành được phép đối với Sa-môn theo năm cách này...” (cūḷava. 250). Có ý nghĩa thời gian trong câu như vầy: “Ta sống an trú với sự thể nhập thiền định trường cửu, vĩnh viễn.” (ma. ni. 1.387). Có ý nghĩa paññatti (sự quy định) trong câu như vầy: “Đại đức Kappa nói”. (saṃ. ni. 3.124). Có ý nghĩa cắt đứt trong câu bắt đầu như sau: “sửa soạn trang điếm, cạo bỏ sạch râu tóc” (saṃ. ni. 4.365). Có ý nghĩa xem xét trong câu như vầy: “Vị Tỳ khưu được phép thọ thực khi bóng mặt trời đã qua hai ngón tay” (cūḷava. 446). Có ý nghĩa lesa (đưa ra lý do bào chữa) trong câu như vầy: “Ta nhuốm bệnh rồi, cần thiết phải nghỉ ngơi, vậy ta hãy nằm nghỉ” (a. ni. 8.80). Có ý nghĩa sự bao trùm toàn bộ trong câu như vầy “đã làm chói sáng toàn bộ tịnh xá Jetavana” (saṃ. ni. 1.94). Ở đây, từ ‘kappa’ được đề cập trong ý nghĩa ‘sự bao trùm toàn bộ’. Vì lý do đó, ở đây ‘toàn bộ núi Gijjhakūṭa’ nên được hiểu ý nghĩa như vầy “ánh sáng bao trùm toàn bộ ngọn núi Gijjhakūṭa, không có dư sót”.
Obhāsetvāti vatthamālālaṅkārasarīrasamuṭṭhitāya ābhāya pharitvā, candimā viya sūriyo viya ca ekobhāsaṃ ekapajjotaṃ karitvāti attho. Ekamantaṃ nisīdiṃsūti devatānaṃ dasabalassa santike nisinnaṭṭhānaṃ nāma na bahu, imasmiṃ pana sutte parittagāravavasena nisīdiṃsu.
Đã làm rực sáng: Sau khi làn tỏa ánh sáng được phát ra từ y phục, vòng hoa, đồ trang sức và sắc thân. Có nghĩa là– làm trở thành một luồng sáng thống nhất, một khối ánh sáng duy nhất tựa như mặt trăng và mặt trời. Ngồi xuống ở một bên: Chỗ ngồi của chư Thiên trong sự hiện diện của đấng Thập Lực là không nhiều (không phải ai cũng được ngồi gần). Tuy nhiên, chư Thiên đã ngồi xuống với sự kính trọng trong bài Kinh Paritta (Kinh Hộ Trì) này.
276. Vessavaṇoti kiñcāpi cattāro mahārājāno āgatā, vessavaṇo pana dasabalassa vissāsiko kathāpavattane byatto susikkhito, tasmā vessavaṇo mahārājā bhagavantaṃ etadavoca.
276. Đại Thiên Vương Vessavaṇa: Mặc dù bốn vị Đại Thiên Vương đã đến, nhưng Đại Thiên Vương Vessavaṇa là vị thân tín của đấng Thập Lực, kinh nghiệm trong việc khai mở cuộc trò chuyện, khéo được học tập. Vì thế, Đại Thiên Vương Vesaavaṇa đã nói với đức Thế Tôn điều này.
Uḷārāti mahesakkhānubhāvasampannā. Pāṇātipātā veramaṇiyāti pāṇātipāte diṭṭhadhammikasamparāyikaṃ ādīnavaṃ dassetvā tato veramaṇiyā dhammaṃ deseti. Sesesupi eseva nayo. Tattha santi uḷārā yakkhā nivāsinoti tesu senāsanesu santi uḷārā yakkhā nibaddhavāsino. Āṭānāṭiyanti āṭānāṭanagare baddhattā evaṃnāmaṃ. Kiṃ pana bhagavato apaccakkhadhammo nāma atthīti, natthi. Atha kasmā vessavaṇo ‘‘uggaṇhātu, bhante, bhagavā’’tiādimāha? Okāsakaraṇatthaṃ. So hi bhagavantaṃ imaṃ parittaṃ sāvetuṃ okāsaṃ kārento evamāha. Satthu kathite imaṃ parittaṃ garu bhavissatītipi āha. Phāsuvihārāyāti gamanaṭṭhānādīsu catūsu iriyāpathesu sukhavihārāya.
Thượng đẳng: Là vị có uy lực lớn nhờ thành tựu thần lực. Tránh xa việc giết hại sinh mạng: Đức Thế Tôn, sau khi chỉ ra điều bất lợi xảy ra ở hiện tại và vị lai trong việc sát sanh, rồi Ngài chỉ bảo pháp tránh xa điều đó. Cả những từ còn lại cũng áp dụng theo cách thức này. Ở đấy, có những Dạ-xoa thượng đẳng trú ngụ trong rừng: Tại các chỗ cư ngụ ấy, có những Dạ-xoa thượng đẳng thường trú. Bài kệ hộ trì Āṭānāṭiya: Bài kệ có tên như vậy vì được sáng tác tại thành Āṭānāṭa. – Có chăng Pháp gọi là chưa được tỏ tường đối với đức Thế Tôn? – Không có. – Vậy thì, tại sao Đại Thiên Vương Vessavaṇa lại nói rằng: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy học bài kệ hộ trì Āṭānāṭiya…” – Là để tìm kiếm cơ hội. Bởi vì vị ấy chờ đợi cơ hội để được nghe Kinh Hộ Trì này từ đức Thế Tôn, nên đã nói như vậy. (Các bậc sáng suốt) đã nói rằng: “Khi Đại Thiên Vương Vessavaṇa nói cùng bậc Đạo Sư, chính bài Kinh Hộ Trì này sẽ là thầy, là như thế.” Có sự sống thoải mái: Để sống được an lạc trong bốn oai nghi, bao gồm đi, đứng, v.v.
277. Cakkhumantassāti na vipassīyeva cakkhumā, sattapi buddhā cakkhumanto, tasmā ekekassa buddhassa etāni satta satta nāmāni honti. Sabbepi buddhā cakkhumanto, sabbe sabbabhūtānukampino, sabbe nhātakilesattā nhātakā. Sabbe mārasenāpamaddino, sabbe vusitavanto, sabbe vimuttā, sabbe aṅgato rasmīnaṃ nikkhantattā aṅgīrasā. Na kevalañca buddhānaṃ etāneva satta nāmāni asaṅkhyeyyāni nāmāni saguṇena mahesinoti vuttaṃ.
277. Bậc Hữu Nhãn: Không phải chỉ riêng Đức Phật Vipassī là bậc Hữu Nhãn, mà cả bảy vị Phật đều có mắt. Vì thế, mỗi vị Phật đều có bảy danh hiệu này. Tất cả các đức Phật đều là bậc Hữu Nhãn, vị có lòng thương tưởng đến mọi sinh linh, vị gột rửa phiền não vì các phiền não đã được thanh tịnh, vị có sự tiêu diệt đội binh của Ma Vương, vị sống hoàn mãn (Phạm hạnh), vị đã giải thoát về mọi mặt. Ngài có danh hiệu là Aṅgīrasā vì hào quang phát ra từ kim thân. Và không chỉ riêng bảy danh hiệu này của chư Phật, mà còn vô số danh hiệu khác nữa đã được nói đến là bậc Đại Ẩn Sĩ bởi ân đức.
Vessavaṇo pana attano pākaṭanāmavasena evamāha. Te janāti idha khīṇāsavā janāti adhippetā. Apisuṇāthāti desanāsīsamattametaṃ, amusā apisuṇā apharusā mantabhāṇinoti attho. Mahattāti mahantabhāvaṃ pattā. ‘‘Mahantā’’tipi pāṭho, mahantāti attho. Vītasāradāti nissāradā vigatalomahaṃsā.
Hơn nữa, Thiên Vương Vesaavaṇa đã nói như vậy nhờ vào năng lực danh hiệu hiện khởi nơi bản thân. Những người ấy: Ở đây, Ngài muốn đề cập đến những người là các bậc đã cạn kiệt các lậu. Không nói lời đâm thọc: Đây chỉ là điểm nhấn trong việc thuyết giảng. Không nói lời nói dối, không nói lời đâm thọc, không nói lời độc ác, không nói lời mê hoặc là ý nghĩa. Là các bậc vĩ đại: Đã đạt được bản thể vĩ đại. Văn bản Pāḷī từ ‘Mahantā’ cũng có, trạng thái vĩ đại là ý nghĩa. Có sự tự tin: Không có sự run sợ, có sự sởn lông đã được xa lìa.
Hitanti mettāpharaṇena hitaṃ. Yaṃ namassantīti ettha yanti nipātamattaṃ. Mahattanti mahantaṃ. Ayameva vā pāṭho, idaṃ vuttaṃ hoti ‘‘ye cāpi loke kilesanibbānena nibbutā yathābhūtaṃ vipassisuṃ, vijjādiguṇasampannañca hitaṃ devamanussānaṃ gotamaṃ namassanti, te janā apisuṇā, tesampi namatthū’’ti. Aṭṭhakathāyaṃ pana te janā apisuṇāti te buddhā apisuṇāti evaṃ paṭhamagāthāya buddhānaṃyeva vaṇṇo kathito, tasmā paṭhamagāthā sattannaṃ buddhānaṃ vasena vuttā. Dutiyagāthāya ‘‘gotama’’nti desanāmukhamattametaṃ. Ayampi hi sattannaṃyeva vasena vuttāti veditabbā. Ayañhettha attho – loke paṇḍitā devamanussā yaṃ namassanti gotamaṃ, tassa ca tato purimānañca buddhānaṃ namatthūti.
Ban phước: Việc ban phước thông qua việc rải tâm từ. Ở đây, từ ‘nào đó’ trong câu ‘họ lễ bái vị nào đó’ chỉ là phân từ. Bậc vĩ đại: bậc vĩ đại. Hơn nữa, trong Chánh văn Pāli cũng như thế, điều này đã được nói rằng: “Và các vị Phật nào đã diệt tận bởi sự diệt tắt phiền não ở thế gian đã thấy rõ đúng theo bản thể; chư Thiên và nhân loại đảnh lễ vị Gotama, bậc ban phước đến chư Thiên và nhân loại, bậc đầy đủ Minh và Hạnh, các vị Phật ấy không nói lời đâm thọc, hãy đảnh lễ đến các vị ấy. Nhưng trong Chú Giải Aṭṭhakathā cũng nói rằng– Những người ấy không nói lời đâm thọc: (tức là) các vị Phật ấy không nói lời đâm thọc. Đại Thiên Vương Vesaavaṇa đã tán thán chư Phật qua câu kệ thứ nhất như thế. Do đó, câu kệ ấy đã được vị ấy nói do nhờ oai lực của bảy vị Phật. “Gotama” ở câu kệ thứ hai này chỉ là phần mở đầu trong việc thuyết giảng. Cũng nên hiểu rằng câu kệ này cũng được Ngài nói ra nhờ oai lực của cả bảy vị Phật. Bởi vì, ở đây điều này có ý nghĩa như sau: Chư thiên và loài người, là những bậc sáng suốt ở thế gian đảnh lễ vị Gotama, hãy đảnh lễ vị Gotama và chư Phật trong quá khứ từ vị ấy.
278. Yato uggacchatīti yato ṭhānato udeti. Ādiccoti aditiyā putto, vevacanamattaṃ vā etaṃ sūriyasaddassa. Mahantaṃ maṇḍalaṃ assāti maṇḍalīmahā. Yassa cuggacchamānassāti yamhi uggacchamāne. Saṃvarīpi nirujjhatīti ratti antaradhāyati. Yassa cuggateti yasmiṃ uggate.
278. Mọc lên ở hướng nào: Mọc lên ở nơi nào. Vầng Thái Dương: Con trai của thần mặt trời, hoặc từ này chỉ là từ đồng nghĩa của từ ‘mặt trời’. Mặt trời được gọi là Maṇḍalīmahā vì có vòng tròn vĩ đại. Và khi mặt trời đang mọc lên: Khi mặt trời đang mọc. Đêm bị tiêu diệt: Màn đêm biến mất. Và khi mặt trời đã mọc lên: khi mặt trời đã mọc lên.
Rahadoti udakarahado. Tatthāti yato uggacchati sūriyo, tasmiṃ ṭhāne. Samuddoti yo so rahadoti vutto, so na añño, atha kho samuddo. Saritodakoti visaṭodako, saritā nānappakārā nadiyo assa udake paviṭṭhāti vā saritodako. Evaṃ taṃ tattha jānantīti taṃ rahadaṃ tattha evaṃ jānanti. Kinti jānanti? Samuddo saritodakoti evaṃ jānanti.
Có hồ nước: Có một hồ nước. Tại nơi ấy: khi mặt trời mọc lên, ở tại nơi ấy. Là đại dương: đại dương nào đó được gọi là hồ nước sâu, đại dương ấy không phải đại dương nào khác, chính là đại dương đó. Có nước từ các dòng sông: có nước chảy tràn ra, các con sông khác nhau chảy vào dòng nước của đại dương ấy, gọi là có nước từ các dòng sông. Tại đó, họ biết nơi ấy là như vậy: Biết dòng nước ấy ở tại nơi đó là như vậy. – Biết như thế nào? – Biết như vầy: “Đại dương có nước từ các dòng sông.”
Itoti sineruto vā tesaṃ nisinnaṭṭhānato vā. Janoti ayaṃ mahājano. Ekanāmāti indanāmena ekanāmā. Sabbesaṃ kira tesaṃ sakkassa devarañño nāmameva nāmamakaṃsu. Asīti dasa eko cāti ekanavutijanā. Indanāmāti indoti evaṃnāmā.
Từ nơi này: Từ núi Sineru hoặc từ nơi các vị chư Thiên ấy đang ngồi. Người: đám đông người này. Có cùng một tên: Có cùng một tên là Inda. Được biết rằng bốn vị Đại Thiên Vương đã đặt tên của Chúa Trời Sakka trở thành tên của những con trai của các vị ấy. Tám mươi, mười và một: Chín mươi mốt vị Thiên tử. Có tên là Inda: Có tên như vầy là ‘Inda’.
Buddhaṃ ādiccabandhunanti kilesaniddāpagamanenāpi buddhaṃ. Ādiccena samānagottatāyapi ādiccabandhunaṃ. Kusalena samekkhasīti anavajjena nipuṇena vā sabbaññutaññāṇena mahājanaṃ olokesi. Amanussāpi taṃ vandantīti amanussāpi taṃ ‘‘sabbaññutaññāṇena mahājanaṃ olokesī’’ti vatvā vandanti. Sutaṃ netaṃ abhiṇhasoti etaṃ amhehi abhikkhaṇaṃ sutaṃ. Jinaṃ vandatha gotamaṃ, jinaṃ vandāma gotamanti amhehi puṭṭhā jinaṃ vandāma gotamanti vadanti.
Bậc giác ngộ (bậc dã tỉnh thức), bà con của mặt trời: ‘Bậc đã tỉnh thức’ vì đã thoát khỏi giấc ngủ là phiền não; ‘bà con của mặt trời’ vì có dòng dõi đồng đẳng với mặt trời. Ngài xem xét với sự thiện xảo: Ngài quan sát đại chúng bằng Trí Toàn Tri không có lỗi lầm và tinh tế. Luôn cả các phi nhân cũng đảnh lễ Ngài: Sau khi nói rằng: “Đức Phật quan sát đại chúng bằng Trí Toàn Tri,” luôn cả các phi nhân cũng đảnh lễ Ngài. Điều này chúng tôi thường được nghe: Điều này chúng tôi thường được nghe. Các vị hãy đảnh lễ đấng Chiến Thắng Gotama, chúng tôi đảnh lễ đấng Chiến Thắng Gotama: Chúng tôi đã hỏi họ rằng– “Các vị có đảnh lễ đấng Chiến Thắng không?” – họ đồng loạt trả lời rằng “chúng tôi cũng đảnh lễ Ngài.”
279. Yenapetā pavuccantīti petā nāma kālaṅkatā, te yena disābhāgena nīhariyantūti vuccanti. Pisuṇā piṭṭhimaṃsikāti pisuṇāvācā ceva piṭṭhimaṃsaṃ khādantā viya parammukhā garahakā ca. Ete ca yena nīhariyantūti vuccanti, sabbepi hete dakkhiṇadvārena nīharitvā dakkhiṇato nagarassa ḍayhantu vā chijjantu vā haññantu vāti evaṃ vuccanti. Ito sā dakkhiṇā disāti yena disābhāgena te petā ca pisuṇādikā ca nīhariyantūti vuccanti, ito sā dakkhiṇā disā. Itoti sineruto vā tesaṃ nisinnaṭṭhānato vā. Kumbhaṇḍānanti te kira devā mahodarā honti, rahassaṅgampi ca nesaṃ kumbho viya mahantaṃ hoti. Tasmā kumbhaṇḍāti vuccanti.
279. Những người đã quá vãng…ở hướng nào: Những người đã chết được gọi là ngạ quỷ (hương linh), mọi người nói rằng– “Hãy đưa những người đã khuất ấy ra đi bằng hướng nào?” Những kẻ nói đâm thọc, nói xấu sau lưng: Người nói lời đâm thọc ví như kẻ cắn xé thịt phía sau người khác và chê bai ở sau lưng. Mọi người cùng nhau hỏi rằng: “Sẽ dẫn những người này đi ra bằng hướng nào đây?” Mọi người lại nói như vầy: “Hãy đưa những kẻ đó đi ra bằng hướng Nam, hãy hỏa táng, hoặc hãy chặt đứt, hoặc hãy giết ở phía Nam của Thành phố.” Từ nơi này… “đó là hướng Nam”: Mọi người nói rằng– “Hãy đưa những kẻ nói lời đâm thọc, v.v., và những người đã chết đi ra bằng hướng nào? Từ nơi này, hướng đó được gọi là hướng Nam. Từ nơi này: Từ núi Suneru hoặc từ chỗ mà các vị Thiên ấy ngồi. (Vị ấy là chúa tể) của các Cưu-bàn-trà: Được biết rằng, các vị Thiên đó là những vị có cái bụng lớn. Hơn nữa, tinh hoàn của các vị Thiên đó lớn như cái nồi. Do đó, Ngài mới nói rằng: “Các Cưu-bàn-trà.”
280. Yattha coggacchati sūriyoti yasmiṃ disābhāge sūriyo atthaṃ gacchati.
280. Phương hướng nào, mặt trời lặng xuống: Mặt trời lặn ở hướng nào.
281. Yenāti yena disābhāgena. Mahānerūti mahāsineru pabbatarājā. Sudassanoti sovaṇṇamayattā sundaradassano. Sinerussa hi pācīnapassaṃ rajatamayaṃ, dakkhiṇapassaṃ maṇimayaṃ, pacchimapassaṃ phalikamayaṃ, uttarapassaṃ sovaṇṇamayaṃ, taṃ manuññadassanaṃ hoti. Tasmā yena disābhāgena sineru sudassanoti ayametthattho. Manussā tattha jāyantīti tattha uttarakurumhi manussā jāyanti. Amamāti vatthābharaṇapānabhojanādīsupi mamattavirahitā. Apariggahāti itthipariggahena apariggahā. Tesaṃ kira ‘‘ayaṃ mayhaṃ bhariyā’’ti mamattaṃ na hoti, mātaraṃ vā bhaginiṃ vā disvā chandarāgo nuppajjati.
281. Phương hướng nào: Ở hướng nào (thì theo hướng đó). Có ngọn núi Neru to lớn: Ngọn núi chúa là ngọn núi Sineru to lớn. Có dáng đẹp: Có hình dáng xinh đẹp do được làm bằng vàng. Thật vậy, hướng Đông của ngọn núi Suneru làm bằng bạc, hướng Nam được làm bằng ngọc ma-ni, hướng Tây được làm bằng ngọc pha lê, hướng Bắc được làm bằng vàng, và hướng đó là hướng có hình dáng đẹp. Do đó, ngọn núi Sineru là ngọn núi có dáng đẹp ở hướng nào, ở đây điều này là ý nghĩa. Những người sanh ra ở nơi ấy: Những người được sanh ra ở tại Uttarakuru đó. Là không chấp của tôi: Tránh xa trạng thái chấp ‘là của tôi’, ngay cả y phục, đồ trang sức, thức uống và vật thực, v.v. Không vật sở hữu: Không chiếm hữu với sự chiếm hữu đối với phụ nữ. Nghe rằng những người đó không có trạng thái chiếm hữu “đây là vợ của tôi”, sự mong muốn và ái luyến (dục vọng) không sanh khởi do nhìn thấy mẹ hoặc em gái.
Napi nīyanti naṅgalāti naṅgalānipi tattha ‘‘kasikammaṃ karissāmā’’ti na khettaṃ nīyanti. Akaṭṭhapākimanti akaṭṭhe bhūmibhāge araññe sayameva jātaṃ. Taṇḍulapphalanti taṇḍulāva tassa phalaṃ hoti.
Cái lưỡi cày cũng không được kéo đi bởi họ: Ngay cả cái cày cũng không cần phải đem ra đồng với ý định rằng “Chúng ta sẽ làm nông nghiệp trên cánh đồng đó.” Lúa Sāḷi mọc tự nhiên: Lúa Sālī tự mọc lên trong rừng ở mảnh đất không cần phải cày xới. Hạt gạo: Hạt gạo ấy chính là kết quả của vùng đất ấy.
Tuṇḍikīre pacitvānāti ukkhaliyaṃ ākiritvā niddhumaṅgārena agginā pacitvā. Tattha kira jotikapāsāṇā nāma honti. Atha kho te tayo pāsāṇe ṭhapetvā taṃ ukkhaliṃ āropenti. Pāsāṇehi tejo samuṭṭhahitvā taṃ pacati. Tato bhuñjanti bhojananti tato ukkhalito bhojanameva bhuñjanti, añño sūpo vā byañjanaṃ vā na hoti, bhuñjantānaṃ cittānukūloyevassa raso hoti. Te taṃ ṭhānaṃ sampattānaṃ dentiyeva, macchariyacittaṃ nāma na hoti. Buddhapaccekabuddhādayopi mahiddhikā tattha gantvā piṇḍapātaṃ gaṇhanti.
Sau khi nấu ở nồi: Sau khi đổ gạo vào nồi, cơm đã được nấu với ngọn lửa từ than hồng không khói. Nghe rằng, ở nơi đó có tên là ‘tảng đá phát lửa’. Tiếp đó, (mọi người) sau khi đặt ba hòn đá xuống, đã đặt cái nồi lên. Ngọn lửa bùng lên từ những hòn đá đó và nấu cơm. Họ thọ dụng bữa ăn từ cái nồi ấy: Họ thọ dụng bữa ăn từ chính nồi cơm đó. Không có món canh hay các món phụ nào khác, (hơn nữa) hương vị của cơm đó là hương vị nuôi dưỡng tâm ý của người đang thọ dụng. Họ chỉ cho những người đã đến nơi ấy; cái gọi là tâm keo kiệt không có. Ngay cả đức Phật và các vị Phật Độc Giác, v.v., những bậc có thần lực lớn, sau khi đi đến cũng nhận lấy đồ ăn khất thực ở tại nơi đó.
Gāviṃekakhuraṃ katvāti gāviṃ gahetvā ekakhuraṃ vāhanameva katvā. Taṃ abhiruyha vessavaṇassa paricārakā yakkhā. Anuyanti disodisanti tāya tāya disāya caranti. Pasuṃ ekakhuraṃ katvāti ṭhapetvā gāviṃ avasesacatuppadajātikaṃ pasuṃ ekakhuraṃ vāhanameva katvā disodisaṃ anuyanti.
Họ sử dụng bò cái làm ngựa cưỡi: Sau khi bắt lấy con bò cái đã sử dụng làm phương tiện di chuyển giống như ngựa có một móng guốc. Các Dạ-xoa, là người hầu cận của Thiên Vương Vessavaṇa đã cưỡi con bò ấy. Đi hướng này hướng khác: Di chuyển hướng này hướng nọ. Họ sử dụng thú bốn chân làm ngựa cưỡi: Họ đã sử dụng các loài gia súc bốn chân còn lại trừ bò cái thành vật cưỡi có một móng guốc, rồi đi theo khắp các hướng lớn nhỏ.
Itthiṃ vā vāhanaṃ katvāti yebhuyyena gabbhiniṃ mātugāmaṃ vāhanaṃ karitvā. Tassā piṭṭhiyā nisīditvā caranti. Tassā kira piṭṭhi onamituṃ sahati. Itarā pana itthiyo yāne yojenti. Purisaṃ vāhanaṃ katvāti purise gahetvā yāne yojenti. Gaṇhantā ca sammādiṭṭhike gahetuṃ na sakkonti. Yebhuyyena paccantima-milakkhu-vāsike gaṇhanti. Aññataro kirettha jānapado ekassa therassa samīpe nisīditvā niddāyati, thero ‘‘upāsaka ativiya niddāyasī’’ti pucchi. ‘‘Ajja, bhante, sabbarattiṃ vessavaṇadāsehi kilamitomhī’’ti āha.
Họ sử dụng đàn bà làm phương tiện kéo xe: Họ sử dụng người phụ nữ có thai làm cỗ xe rồi ngồi lên lưng người phụ nữ đó mà đi lại. Nghe rằng: Lưng của người phụ nữ mang thai ấy có thể chịu đựng được khi cúi xuống. Còn những người phụ nữ khác được dùng thắng vào cỗ xe. Họ sử dụng đàn ông làm phương tiện kéo xe: Bắt đàn ông để kéo xe. Tuy nhiên, khi bắt, họ không thể bắt những người có Chánh kiến. Phần lớn, họ chỉ bắt những người sống ở vùng biên địa và những người man rợ. Kể rằng, có một người dân làng nào đó trong số những người này đang ngủ gật gần một vị Trưởng lão. Vị trưởng lão hỏi: ‘Này người cư sĩ, ông ngủ gật à?’ Người ấy đáp: ‘Kính thưa Ngài, hôm nay con rất mệt vì đã phục vụ Đại Thiên Vương Vessavaṇa suốt cả đêm.’
Kumāriṃ vāhanaṃ katvāti kumāriyo gahetvā ekakhuraṃ vāhanaṃ katvā rathe yojenti. Kumāravāhanepi eseva nayo. Pacārā tassa rājinoti tassa rañño paricārikā. Hatthiyānaṃ assayānanti na kevalaṃ goyānādīniyeva, hatthiassayānādīnipi abhiruhitvā vicaranti. Dibbaṃ yānanti aññampi nesaṃ bahuvidhaṃ dibbayānaṃ upaṭṭhitameva hoti, etāni tāva nesaṃ upakappanayānāni. Te pana pāsāde varasayanamhi nipannāpi pīṭhasivikādīsu ca nisinnāpi vicaranti. Tena vuttaṃ ‘‘pāsādā sivikā cevā’’ti. Mahārājassa yasassinoti evaṃ ānubhāvasampannassa yasassino mahārājassa etāni yānāni nibbattanti.
Họ sử dụng bé gái làm phương tiện kéo xe: Sau khi bắt bé gái đã sử dụng làm vật kéo có một móng guốc thắng vào cỗ xe. Luôn cả trong việc sử dụng bé trai làm phương tiện kéo xe cũng có phương thức tương tự. Trong số những người hầu cận của vị vua ấy: Những người phụ nữ là người hầu cận của vị vua ấy. Xe voi, xe ngựa: Không chỉ sử dụng xe bò (làm phương tiện di chuyển) mà còn cưỡi cả xe voi, xe ngựa, v.v., để đi lại. Thiên xa: Ngay cả các cỗ xe thuộc cõi Trời khác cũng đã hiện ra cho những người đó. Những phương tiện này tự động đến chỗ những người đó trước. Ngoài ra, họ còn nằm trên những chiếc giường cao quý trong tòa lâu đài, hoặc ngồi trên ghế dài, kiệu khiêng, v.v., để đi lại. Vì lý do đó, Ngài mới nói rằng “các tòa lâu đài và các kiệu khiêng, v.v,’ là như vậy. Của vị Đại Thiên Vương có danh tiếng: Các phương tiện này hiện khởi cho Đại Thiên Vương có danh tiếng, vị đã thành tựu nhờ vào thần lực như vậy.
Tassaca nagarā ahu antalikkhe sumāpitāti tassa rañño ākāse suṭṭhu māpitā ete āṭānāṭādikā nagarā ahesuṃ, nagarāni bhaviṃsūti attho. Ekañhissa nagaraṃ āṭānāṭā nāma āsi, ekaṃ kusināṭā nāma, ekaṃ parakusināṭā nāma, ekaṃ nāṭasūriyā nāma, ekaṃ parakusiṭanāṭā nāma.
Và các Thành phố ấy đã khéo được hóa hiện ở trên không trung: Vị vua ấy đã khéo được hóa hiện ở trên không trung các thành phố như Āṭānāṭā, v.v., các Thành phố đã xuất hiện là ý nghĩa. Thật vậy, một thành phố của vị Đại Thiên Vương đó có tên là Thành Āṭānāṭā, một Thành phố là Kusināṭā, một Thành phố là Parakusināṭā, một Thành phố là Nāṭapariyā, một Thành phố là Parakusiṭanāṭā.
Uttarena kasivantoti tasmiṃ ṭhatvā ujuṃ uttaradisāya kasivanto nāma aññaṃ nagaraṃ. Janoghamaparena cāti etassa aparabhāge janoghaṃ nāma aññaṃ nagaraṃ. Navanavatiyoti aññampi navanavatiyo nāma ekaṃ nagaraṃ. Aparaṃ ambaraambaravatiyo nāma. Āḷakamandāti aparampi āḷakamandā nāma rājadhānī.
Về phía Bắc là Thành phố Kapivanta: Ngay ở phía Bắc có một Thành phố khác tên là Kapīvanta nằm ở phía Bắc đó. Và hướng khác là Thành phố Janogha: Ở vùng đất khác của phía Bắc đó, có một thành phố khác tên là Janogha. Thành phố Navanavatiya: Một Thành phố khác tên là Navanavatiya. (Và) một thành phố khác tên là Ambaraambaravatiya. Thành phố Āḷakamandā: Còn có một Kinh thành khác tên là Āḷakamandā.
Tasmākuvero mahārājāti ayaṃ kira anuppanne buddhe kuvero nāma brāhmaṇo hutvā ucchuvappaṃ kāretvā satta yantāni yojesi. Ekissāya yantasālāya uṭṭhitaṃ āyaṃ āgatāgatassa mahājanassa datvā puññaṃ akāsi. Avasesasālāhi tattheva bahutaro āyo uṭṭhāsi, so tena pasīditvā avasesasālāsupi uppajjanakaṃ gahetvā vīsati vassasahassāni dānaṃ adāsi. So kālaṃ katvā cātumahārājikesu kuvero nāma devaputto jāto. Aparabhāge visāṇāya rājadhāniyā rajjaṃ kāresi. Tato paṭṭhāya vessavaṇoti vuccati.
Vì thế, đại chúng mới gọi Đại Vương Kuvera là Vessavaṇa: Có câu chuyện kể rằng: Trong khi đức Phật vẫn chưa xuất hiện ở trên đời, vị Đại Thiên Vương này (tức Đại Thiên Vương Vessavaṇa sau này) từng là Bà-la-môn tên là Kuvera, vị ấy đã xây dựng một nhà máy ép mía gắn với bảy bộ máy ép mía. Bà-la-môn Kuvera đã dùng lợi nhuận thu được từ một máy ép mía đó để bố thí cho đông đảo quần chúng và đã thực hiện nhiều phước báu. Từ các máy ép còn lại, lợi nhuận đã phát sinh nhiều hơn nữa. Bà-la-môn Kuvera, với niềm tin sâu sắc vào phước thiện đó, đã lấy cả lợi nhuận phát sinh từ các máy ép còn lại để ban phát vật thí trong suốt hai mươi ngàn năm. Khi mệnh chung, vị ấy đã tái sanh trở thành Thiên tử tên là Kuvera ở cõi trời Tứ Đại Thiên Vương. Sau đó, vị ấy đã lên nắm giữ vương quyền tại Kinh thành tên là Visāṇa. Kể từ đó, vị ấy được gọi là Thiên Vương Vessavaṇa.
Paccesanto pakāsentīti paṭiesanto visuṃ visuṃ atthe upaparikkhamānā anusāsamānā aññe dvādasa yakkharaṭṭhikā pakāsenti. Te kira yakkharaṭṭhikā sāsanaṃ gahetvā dvādasannaṃ yakkhadovārikānaṃ nivedenti. Yakkhadovārikā taṃ sāsanaṃ mahārājassa nivedenti. Idāni tesaṃ yakkharaṭṭhikānaṃ nāmaṃ dassento tatolātiādimāha. Tesu kira eko tatolā nāma, eko tattalā nāma, eko tatotalā nāma, eko ojasi nāma, eko tejasi nāma, eko tatojasī nāma. Sūro rājāti eko sūro nāma, eko rājā nāma, eko sūrorājā nāma, ariṭṭho nemīti eko ariṭṭho nāma, eko nemi nāma, eko ariṭṭhanemi nāma.
Tìm kiếm tin tức rồi thông báo: Mười hai Dạ-xoa bảo vệ vùng lãnh thổ nhóm khác, trong khi suy xét, trong khi chỉ dạy các điều lợi ích, và mỗi người đều có một nhiệm vụ riêng biệt. Nghe rằng những vị Dạ-xoa bảo vệ vùng lãnh thổ đó mang tin tức đi rồi thông báo cho mười hai vị Dạ-xoa canh giữ cổng. Các vị Dạ-xoa canh giữ cổng lại thông báo tin tức đó cho Đại Thiên Vương. Bây giờ, trong khi chỉ ra đích danh của các vị Dạ-xoa bảo vệ vùng lãnh thổ đó, Ngài đã nói những lời bắt đầu bằng ‘Dạ-xoa Tatolā, v.v.’ Nghe rằng trong số các Dạ-xoa đó, một vị tên là Tatolā, một vị tên là Tattalā, một vị tên là Tattatolā, một vị tên là Ojasi, một vị tên là Tejāsi, một vị tên là Tatojasi. Sūro Rājā: một vị tên là Sūra, một vị tên là Rājā. Ariṭṭho Nemi: một vị tên là Ariṭṭho, một vị tên là Nemi, một vị tên là Ariṭṭhanemi.
Rahadopitattha dharaṇī nāmāti tattha paneko nāmena dharaṇī nāma udakarahado atthi, paṇṇāsayojanā mahāpokkharaṇī atthīti vuttaṃ hoti. Yato meghā pavassantīti yato pokkharaṇito udakaṃ gahetvā meghā pavassanti. Vassā yato patāyantīti yato vuṭṭhiyo avattharamānā nigacchanti. Meghesu kira uṭṭhitesu tato pokkharaṇito purāṇaudakaṃ bhassati. Upari megho uṭṭhahitvā taṃ pokkharaṇiṃ navodakena pūreti. Purāṇodakaṃ heṭṭhimaṃ hutvā nikkhamati. Paripuṇṇāya pokkharaṇiyā valāhakā vigacchanti. Sabhāpīti sabhā. Tassā kira pokkharaṇiyā tīre sālavatiyā nāma latāya parikkhitto dvādasayojaniko ratanamaṇḍapo atthi, taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ.
Ở đó, có hồ nước tên là Dharaṇī: Tại Kinh thành Visāṇa đó, có một hồ nước mang tên là Dharanī. Ngài đã nói rằng: có một hồ nước lớn, rộng năm mươi do-tuần. Từ đó (hồ nước) các đám mây đổ mưa: Các đám mây hấp thụ nước từ hồ nước đó rồi rơi xuống (tạo thành mưa). Từ đó (đám mây) các trận mưa đổ xuống: Từ đó mưa rơi xuống cho đến khi tràn ngập. Được biết rằng, khi mây tụ lại, nước cũ sẽ chảy ra khỏi hồ nước đó. Mây tụ lại bên trên làm cho hồ nước đó được đầy nước mới. Nước cũ là nước có ở phía dưới (đáy hồ) sẽ chảy đi. Khi hồ đầy nước, mây sẽ di chuyển đi. Có hội trường: nơi hội họp. Được biết rằng tại bờ hồ đó có một sảnh đường bằng ngọc quý rộng khoảng 12 do-tuần, được bao quanh bởi các dây leo tên là Sālavatī (Bhagalavatī). Điều đó được nói để đề cập đến sảnh đường đó.
Payirupāsantīti nisīdanti. Tattha niccaphalā rukkhāti tasmiṃ ṭhāne taṃ maṇḍapaṃ parivāretvā sadā phalitā ambajambuādayo rukkhā niccapupphitā ca campakamālādayoti dasseti. Nānādijagaṇāyutāti vividhapakkhisaṅghasamākulā. Mayūrakoñcābhirudāti mayūrehi koñcasakuṇehi ca abhirudā upagītā.
Nơi các Dạ-xoa hội họp: Đang ngồi. Ở đấy, các cây có trái thường xuyên: Tại nơi ấy cho thấy rằng các cây ăn quả như cây xoài, cây mận đỏ, v.v, xung quanh sảnh đường thường xuyên có trái, và các loài hoa như hoa Campaka, v.v., thì luôn luôn trổ hoa. Đông đảo với các bầy chim khác loại: Có rất nhiều với các bầy chim khác loại. Có chim công, và chim sếu với tiếng hót du dương: Chim công, chim sếu có tiếng hót ngọt ngào, hòa quyện vào nhau.
Jīvañjīvakasaddetthāti ‘‘jīva jīvā’’ti evaṃ viravantānaṃ jīvañjīvakasakuṇānampi ettha saddo atthi. Oṭṭhavacittakāti ‘‘uṭṭhehi, citta, uṭṭhehi cittā’’ti evaṃ vassamānā uṭṭhavacittakasakuṇāpi tattha vicaranti. Kukkuṭakāti vanakukkuṭakā. Kuḷīrakāti suvaṇṇakakkaṭakā. Vaneti padumavane. Pokkharasātakāti pokkharasātakā nāma sakuṇā.
Ở đây, có âm thanh của loài chim Jīvañjīvaka: Ở đây, có âm thanh của loài chim Jīvañjīvaka hót như vầy ‘hãy sống, hãy sống’. Loài chim Oṭṭhavacittaka: Ngay cả loài chim có tiếng hót đánh thức tâm cũng hót như vầy: “Này tâm, hãy phấn khởi! Này tâm, hãy phấn khởi!’ và chúng đi lại ở nơi đó. Gà: gà rừng. Cua: cua vàng. Trong rừng: trong hồ sen. Pokkharasātakā: Loài chim tên là Pokkharasātakā.
Sukasāḷikasaddetthāti sukānañca sāḷikānañca saddo ettha. Daṇḍamāṇavakāni cāti manussamukhasakuṇā. Te kira dvīhi hatthehi suvaṇṇadaṇḍaṃ gahetvā ekaṃ pokkharapattaṃ akkamitvā anantare pokkharapatte suvaṇṇadaṇḍaṃ nikkhipantā vicaranti. Sobhati sabbakālaṃ sāti sā pokkharaṇī sabbakālaṃ sobhati. Kuveranaḷinīti kuverassa naḷinī padumasarabhūtā, sā dharaṇī nāma pokkharaṇī sadā nirantaraṃ sobhati.
Ở đây, có âm thanh chim két, chim Sāḷika: Trong hồ sen đó có tiếng của chim Két và chim Sāḷika. Loài chim Daṇḍamāṇavaka: Là loài chim có khuôn mặt tựa như người. Nghe nói rằng, những con chim đó với hai chân giữ lấy một cành cây bằng vàng đã đậu trên một lá sen, khi đặt cành cây bằng vàng vào lá sen không có khoảng trống, và chúng bay lượn. Hồ sen ấy…luôn luôn chiếu sáng vào mọi lúc: Hồ sen ấy luôn luôn chiếu sáng vào mọi lúc. Hồ sen của Kuvera: Hồ Naḷinī của Thiên Vương Kuvera là hồ sen hồng, hồ sen ấy tên là Dharaṇī luôn luôn chiếu sáng không gián đoạn.
282. Yassa kassacīti idaṃ vessavaṇo āṭānāṭiyaṃ rakkhaṃ niṭṭhapetvā tassā parikammaṃ dassento āha. Tattha suggahitāti atthañca byañjanañca parisodhetvā suṭṭhu uggahitā. Samattā pariyāputāti padabyañjanāni ahāpetvā paripuṇṇaṃ uggahitā. Atthampi pāḷimpi visaṃvādetvā sabbaso vā pana appaguṇaṃ katvā bhaṇantassa hi parittaṃ tejavantaṃ na hoti, sabbaso paguṇaṃ katvā bhaṇantasseva tejavantaṃ hoti. Lābhahetu uggahetvā bhaṇantassāpi atthaṃ na sādheti, nissaraṇapakkhe ṭhatvā mettaṃ purecārikaṃ katvā bhaṇantasseva atthāya hotīti dasseti. Yakkhapacāroti yakkhaparicārako.
283. Thiên Vương Vessavaṇa đã hoàn thành bài kệ hộ trì Āṭānāṭiya, khi trình bày việc chuẩn bị mới nói câu này– ‘Đối với bất cứ ai…’ Ở đấy, Khéo được nắm giữ: Bài kệ hộ trì Āṭānāṭiya đối với bất cứ ai làm cho sáng tỏ ý nghĩa và văn tự, và học tập kỹ lưỡng. Được học thuộc lòng trọn vẹn: Không để bỏ sót các câu và văn tự, mà phải học thuộc lòng trọn vẹn. Ngài chỉ rõ rằng– Thật vậy, bài kinh hộ trì là không có năng lực đối với người đọc sai về ý nghĩa, hoặc Pāḷī, hoặc thực hiện không lưu loát. Bài kinh hộ trì là có năng lực đối với người đã thực hành lưu loát mọi mặt rồi mới tụng đọc. Ngay cả khi học vì nguyên nhân lợi lộc rồi tụng đọc thì cũng không thành tựu được lợi ích. Bài kinh hộ trì là có lợi ích đối với người đã vững trú về phương diện thoát khỏi khổ đau, và thực hành tâm từ trở thành chủ đạo khi tụng đọc. Dạ-xoa hầu cận: Dạ-xoa hầu cận
Vatthuṃ vāti gharavatthuṃ vā. Vāsaṃ vāti tattha nibaddhavāsaṃ vā. Samitinti samāgamaṃ. Anāvayhanti na āvāhayuttaṃ. Avivayhanti na vivāhayuttaṃ. Tena saha āvāhavivāhaṃ na kareyyunti attho. Attāhipi paripuṇṇāhīti ‘‘kaḷārakkhi kaḷāradantā’’ti evaṃ etesaṃ attabhāvaṃ upanetvā vuttāhi paripuṇṇabyañjanāhi paribhāsāhi paribhāseyyuṃ yakkhaakkosehi nāma akkoseyyunti attho. Rittampissa pattanti bhikkhūnaṃ pattasadisameva lohapattaṃ hoti. Taṃ sīse nikkujjitaṃ yāva galavāṭakā bhassati. Atha naṃ majjhe ayokhīlena ākoṭenti.
Đất đai: đất đai là nhà cửa. Chỗ ở: Sống thường trú trong ngôi nhà ấy. Cuộc hội họp: Việc tụ họp. Việc không cưới vợ: Không nên thực hiện việc cưới vợ. Việc không gả vợ: Không nên thực hiện việc gả con gái cho gã ấy. Không nên thực hiện việc cưới vợ và việc gả con gái cho gã ấy là ý nghĩa. Với các lời chê bai toàn diện thậm chí về ngoại hình của bản thân: Các phi nhân sau khi hướng vào ngoại hình của các Dạ-xoa ấy như vầy– “gã có con mắt đỏ sẫm, có răng đen xì” v.v., có thể chê bai bằng những lời chê bai với các văn tự toàn diện như đã nói. Có thể phỉ báng bằng lời phỉ báng của Dạ-xoa là ý nghĩa. Cái bình bát rỗng không: Cái bát bằng đồng giống như bình bát của vị Tỳ-khưu đó, được úp cái bình bát ấy lên đầu kéo xuống tận cổ. Sau đó, dùng một cây cột sắt đập vào chính giữa cái bát đó.
Caṇḍāti kodhanā. Ruddhāti viruddhā. Rabhasāti karaṇuttariyā. Neva mahārājānaṃ ādiyantīti vacanaṃ na gaṇhanti, āṇaṃ na karonti. Mahārājānaṃ purisakānanti aṭṭhavīsatiyakkhasenāpatīnaṃ. Purisakānanti yakkhasenāpatīnaṃ ye manassā tesaṃ. Avaruddhā nāmāti paccāmittā verino. Ujjhāpetabbanti parittaṃ vatvā amanusse paṭikkamāpetuṃ asakkontena etesaṃ yakkhānaṃ ujjhāpetabbaṃ, ete jānāpetabbāti attho.
Ác độc: phẫn nộ. Thù địch: kình địch. Hung bạo: hành động vượt quá mức giới hạn. Chúng không tuân lệnh các vị Đại Vương: không nghe lời nói, không làm theo quy định. Các tướng lãnh của các vị Đại Vương: hai mươi tám vị tướng lãnh Dạ-xoa. Các thuộc cấp của các tướng lãnh của các vị Đại Vương: Các tuộc cấp của các tướng lãnh Dạ-xoa. Là kẻ đối địch: kẻ thù, có thù nghịch. (Sự việc) có thể thông báo cho biết: Người không thể tụng đọc kinh hộ trì khiến cho các phi nhân tránh xa, có thể thông báo cho các Dạ-xoa biết, có nghĩa là nên cho các Dạ-xoa ấy biết.
Parittaparikammakathā
Idha pana ṭhatvā parittassa parikammaṃ kathetabbaṃ. Paṭhamameva hi āṭānāṭiyasuttaṃ na bhaṇitabbaṃ, mettasuttaṃ dhajaggasuttaṃ ratanasuttanti imāni sattāhaṃ bhaṇitabbāni. Sace muñcati, sundaraṃ. No ce muñcati, āṭānāṭiyasuttaṃ bhaṇitabbaṃ, taṃ bhaṇantena bhikkhunā piṭṭhaṃ vā maṃsaṃ vā na khāditabbaṃ, susāne na vasitabbaṃ. Kasmā? Amanussā okāsaṃ labhanti. Parittakaraṇaṭṭhānaṃ haritupalittaṃ kāretvā tattha parisuddhaṃ āsanaṃ paññapetvā nisīditabbaṃ.
Tuy nhiên, nên dừng ở đây và nói đến công việc chuẩn bị bài kinh hộ trì. Thật ra, không nên tụng bài Kinh Āṭānāṭiya trước. Nên tụng các bài Kinh này, đó là Kinh Từ Bi, Kinh Ngọn Cờ, và Kinh Châu Báu trong suốt 7 ngày. Nếu vượt qua được thì tốt đẹp. Nếu không vượt qua được, thì nên tụng đọc bài Kinh Āṭānāṭiya. Vị Tỳ-khưu tụng đọc bài Kinh Āṭānāṭiya ấy thì không nên nhai bột hoặc thịt, không nên cư ngụ ở bãi tha ma. Tại sao? (Bởi vì) các phi nhân có được cơ hội. Tại nơi tụng đọc kinh hộ trì, nên thực hiện cỏ trải tươi tốt, sắp đặt chỗ ngồi ngay ngắn ở đó rồi mới nên ngồi.
Parittakārako bhikkhu vihārato gharaṃ nentehi phalakāvudhehi parivāretvā netabbo. Abbhokāse nisīditvā na vattabbaṃ, dvāravātapānāni pidahitvā nisinnena āvudhahatthehi saṃparivāritena mettacittaṃ purecārikaṃ katvā vattabbaṃ. Paṭhamaṃ sikkhāpadāni gāhāpetvā sīle patiṭṭhitassa parittaṃ kātabbaṃ. Evampi mocetuṃ asakkontena vihāraṃ ānetvā cetiyaṅgaṇe nipajjāpetvā āsanapūjaṃ kāretvā dīpe jālāpetvā cetiyaṅgaṇaṃ sammajjitvā maṅgalakathā vattabbā. Sabbasannipāto ghosetabbo. Vihārassa upavane jeṭṭhakarukkho nāma hoti, tattha bhikkhusaṅgho tumhākaṃ āgamanaṃ paṭimānetīti pahiṇitabbaṃ. Sabbasannipātaṭṭhāne anāgantuṃ nāma na labbhati. Tato amanussagahitako ‘‘tvaṃ ko nāmā’’ti pucchitabbo. Nāme kathite nāmeneva ālapitabbo. Itthannāma tuyhaṃ mālāgandhādīsu patti āsanapūjāya patti piṇḍapāte patti, bhikkhusaṅghena tuyhaṃ paṇṇākāratthāya mahāmaṅgalakathā vuttā, bhikkhusaṅghe gāravena etaṃ muñcāhīti mocetabbo. Sace na muñcati, devatānaṃ ārocetabbaṃ ‘‘tumhe jānātha, ayaṃ amanusso amhākaṃ vacanaṃ na karoti, mayaṃ buddhaāṇaṃ karissāmā’’ti parittaṃ kātabbaṃ. Etaṃ tāva gihīnaṃ parikammaṃ. Sace pana bhikkhu amanussena gahito hoti, āsanāni dhovitvā sabbasannipātaṃ ghosāpetvā gandhamālādīsu pattiṃ datvā parittaṃ bhaṇitabbaṃ. Idaṃ bhikkhūnaṃ parikammaṃ.
Vị Tỳ-khưu thực hiện việc trì tụng kinh hộ trì, được các phật tử thỉnh mời từ trú xá đến tư gia (để tụng kinh), thì nên được đưa đi sau khi bao quanh bằng tấm chắn hoặc cây gậy. Không nên ngồi tụng đọc ở ngoài trời, nên đóng cửa lớn và cửa sổ lại rồi mới ngồi, bao quanh toàn diện với tay cầm cây gậy, thực hành tâm từ trở thành chủ đạo rồi mới tụng đọc. Trước tiên, nên cho người nghe thọ trì các điều học (thọ giới), rồi mới tụng kinh hộ trì cho những người đã vững trú trong giới. Ngay cả như vậy mà vẫn không thể vượt qua được (chướng ngại), thì nên đưa (người bệnh/người cần hộ trì) đến tự viện, đặt nằm trên sân Bảo tháp, cho sắp xếp tọa cụ để cúng dường, thắp đèn, quét dọn sân Bảo tháp rồi tụng bài kệ Điềm Lành. Nên thỉnh mời tất cả chư Thiên đến tụ họp. Trong khu rừng gần tự viện có một cây cổ thụ, nên thông báo đến đó rằng: “Hội chúng Tỳ-khưu đang chờ sự xuất hiện của các Ngài.” Gọi là không đi đến cuộc họp toàn thể, thì không nhận được. Sau đó, nên hỏi người bị phi nhân xâm nhập rằng: ‘Ngươi tên gì?’ Khi người ấy nói tên, nên gọi thẳng tên đó. ‘Ngươi nên buông tha người này, bởi vì phần phước báu từ việc lễ bái cùng tràng hoa và hương thơm, v.v., phần phước báu từ việc cúng dường tọa cụ, phần phước báu từ việc cúng dường đồ ăn khất thực của ngươi, và Hội chúng Tỳ-khưu đang tụng những bài kệ Điềm Lành Vĩ Đại để làm quà biếu cho ngươi, với lòng tôn kính đối với Hội chúng Tỳ-khưu, mong ngươi hãy buông tha người đó! Nếu phi nhân không buông tha, nên nói với các chư Thiên rằng: “Xin quý Ngài hãy nhận biết rằng, phi nhân này không làm theo lời của chúng tôi. Chúng tôi sẽ thực hiện oai lực của đức Phật!” Nên tụng đọc bài kinh hộ trì này trước hết là công việc chuẩn bị dành cho cư sĩ. Còn nếu chính vị Tỳ-khưu bị phi nhân xâm nhập, thì nên rửa tọa cụ, rồi thông báo cho tất cả cùng tập trung, hồi hướng phần phước báu từ việc cúng dường các loại hương thơm và tràng hoa, v.v., rồi nên tụng đọc bài kinh hộ trì này là công việc chuẩn bị dành cho các Tỳ-khưu.
Vikkanditabbanti sabbasannipātaṃ ghosāpetvā aṭṭhavīsati yakkhasenāpatayo kanditabbā. Viravitabbanti ‘‘ayaṃ yakkho gaṇhātī’’tiādīni bhaṇantena tehi saddhiṃ kathetabbaṃ. Tattha gaṇhātīti sarīre adhimuccati. Āvisatīti tasseva vevacanaṃ. Atha vā laggati na apetīti vuttaṃ hoti. Heṭhetīti uppannaṃ rogaṃ vaḍḍhento bādhati. Viheṭhetīti tasseva vevacanaṃ. Hiṃsatīti appamaṃsalohitaṃ karonto dukkhāpeti. Vihiṃsatīti tasseva vevacanaṃ. Na muñcatīti appamādagāho hutvā muñcituṃ na icchati, evaṃ etesaṃ viravitabbaṃ.
Nên được kêu vang: Sau khi thông báo tập hợp toàn thể, nên kêu vang với hai mươi tám vị tướng lãnh Dạ-xoa. Nên được kêu gào: Nên được nói với các vị chư Thiên ấy rằng: “Dạ-xoa này xâm nhập vị Tỳ-khưu này” v.v. Ở đây, bắt giữ: bám chặt vào thân. Xâm nhập: là từ đồng nghĩa với từ ‘bắt giữ’. Hoặc hơn nữa, ngài nói rằng- dính vào, không rời đi. Quấy rầy: gây hại khiến bệnh tật đã phát sinh trở nên trầm trọng hơn. Quấy nhiễu: là từ đồng nghĩa với từ ‘quấy rầy’. Hãm hại: Làm cho thịt và máu (trong cơ thể) suy giảm, gây ra đau đớn. Không buông tha: Là người bị cá sấu táp, không mong muốn nhả ra, nên được thông báo cho các vị chư Thiên như vậy.
283. Idāni yesaṃ evaṃ viravitabbaṃ, te dassetuṃ katamesaṃ yakkhānantiādimāha. Tattha indo somotiādīni tesaṃ nāmāni. Tesu vessāmittoti vessāmittapabbatavāsī eko yakkho. Yugandharopi yugandharapabbatavāsīyeva. Hiri netti ca mandiyoti hiri ca netti ca mandiyo ca. Maṇi māṇi varo dīghoti maṇi ca māṇi ca varo ca dīgho ca. Atho serīsako sahāti tehi saha añño serīsako nāma. ‘‘Imesaṃ yakkhānaṃ…pe… ujjhāpetabba’’nti ayaṃ yakkho imaṃ heṭheti viheṭheti na muñcatīti evaṃ etesaṃ yakkhasenāpatīnaṃ ārocetabbaṃ. Tato te bhikkhusaṅgho attano dhammaāṇaṃ karoti, mayampi amhākaṃ yakkharājaāṇaṃ karomāti ussukkaṃ karissanti. Evaṃ amanussānaṃ okāso na bhavissati, buddhasāvakānaṃ phāsuvihāro ca bhavissatīti dassento ‘‘ayaṃ kho sā, mārisa, āṭānāṭiyā rakkhā’’tiādimāha. Taṃ sabbaṃ, tato parañca uttānatthamevāti.
283. Bây giờ, những Dạ-xoa nào nên được kêu gào như vậy, để chỉ rõ chúng nên mới nói rằng: “Đến các Dạ-xoa nào?, v.v.,” Ở đấy, ‘Inda, Soma, v.v.,’ là tên của các Dạ-xoa. Trong số những Dạ-xoa đó, một Dạ-xoa cư trú tại ngọn núi tên là Vessamitta thì được gọi là Dạ-xoa Vessamitta. Dạ-xoa cư trú tại ngọn núi Yugandhara thì được gọi là Dạ-xoa Yugandhara. Hiri, Netti và Mandiya: Dạ-xoa tên là Hiri, Dạ-xoa tên là Netti, Dạ-xoa tên là Mandiya. Maṇi, Māṇi, Vara và Dīgha: Dạ-xoa tên là Maṇi, Dạ-xoa tên là Māṇi, Dạ-xoa tên là Vara và Dạ-xoa tên là Dīgha. Cùng với Serīsaka: Dạ-xoa tên là Serīsaka cùng với những Dạ-xoa khác. Sự việc nên được kêu ca đến các Dạ-xoa nhỏ, Dạ-xoa lớn, đến các tướng quân, đến các tướng quân lớn: Sự việc nên được thông báo đến các tướng lãnh Dạ-xoa này như vầy rằng: ‘Dạ-xoa này quấy rầy, quấy nhiễu, không buông tha.’ Sau đó, các tướng lãnh Dạ-xoa đó sẽ thực hiện sự nhiệt huyết rằng: ‘Hội chúng Tỳ-khưu đang thực hiện oai lực Giáo Pháp của bản thân, ngay cả chúng ta cũng thực hiện mệnh lệnh của Chúa Dạ-xoa của chúng ta. Đại Thiên Vương Vessavaṇa khi chỉ ra rằng: “Với các biểu hiện như vậy, cơ hội (gây hại) của các phi nhân sẽ không có, và các đệ tử của đức Phật sẽ được sống an ổn,” Ngài đã thưa rằng: “Thưa Ngài, bài kệ hộ trì Āṭānāṭiya này đây là nhằm có được sự hộ trì, v.v.” Tất cả các câu đó, và những câu khác còn lại đều có ý nghĩa dễ hiểu.
Giải Thích Kinh Hộ Trì Āṭānāṭiya được kết thúc – Kinh thứ chín (32).
Trong Chú Giải Trường Bộ Kinh là Sumaṅgalavilāsī.