4. GIẢI THÍCH CHƯƠNG BA PHÁP – Giải thích Phẩm Thiên Sứ

04. Phẩm Thiên Sứ

  

4-1. Giải Thích Bài Kinh Có Phạm Thiên

 31. Catutthassa paṭhame ajjhāgāreti sake ghare. Pūjitā hontīti yaṃ ghare[1] atthi, tena paṭijaggitā gopitā honti. Iti mātāpitupūjakāni kulāni mātāpitūhi sabrahmakānīti pakāsetvā idāni nesaṃ sapubbācariyakādibhāvaṃ pakāsento sapubbācariyakānītiādimāha. Tattha brahmātiādīni tesaṃ brahmādibhāvasādhanatthaṃ vuttāni. Bahukārāti puttānaṃ bahūpakārā. Āpādakāti jīvitassa āpādakā. Puttakānaṃ hi mātāpitūhi jīvitaṃ āpāditaṃ pālitaṃ ghaṭitaṃ anuppabandhena pavattitaṃ. Posakāti hatthapāde vaḍḍhetvā hadayalohitaṃ pāyetvā posetāro. Imassa lokassa dassetāroti puttānaṃ hi imasmiṃ loke iṭṭhāniṭṭhārammaṇassa dassanaṃ nāma mātāpitaro nissāya jātanti imassa lokassa dassetāro nāma.

Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm thứ tư, ở trong nhà: ở trong ngôi nhà của mình. Lật ngược: đặt úp xuống. Kính lễ: Cha mẹ là những người được con cái phụng dưỡng, chăm sóc bằng các vật dụng ở trong gia đình. Đức Thế Tôn, sau khi tuyên bố ở những gia đình (nào) kính lễ/phụng thờ mẹ và cha, (những gia đình ấy) được xem là (gia đình) có Phạm Thiên (thường xuyên ngự ở trong nhà) bởi có mẹ và cha (là Phạm Thiên) như vậy; giờ đây, trong khi tuyên bố (rằng) mẹ và cha còn là “các vị thầy đầu tiên,” v.v., nên mới nói lời bắt đầu như sau: “có các vị thầy đầu tiên,” v.v. Trong số các từ ngữ ấy, ‘Phạm Thiên’ v.v. được Đức Thế Tôn nói nhằm mục đích đưa đến sự thành tựu bản thể vị Phạm Thiên, v.v., cho các gia đình ấy. Có nhiều ích lợi: Có nhiều sự hỗ trợ cho các con. Là những người chăm sóc: Người chăm sóc/bảo vệ sự sống. Giải thích rằng—Thật vậy, mẹ và cha là những người chăm sóc, nuôi dưỡng/dưỡng dục (và) cố gắng duy trì sự sống đối với các con, tức là làm cho sự sống của các con được tiếp diễn lâu dài. Là những người nuôi dưỡng: người đã nuôi dưỡng làm cho tay chân lớn lên (và) cho uống dòng máu (tiết ra) từ lồng ngực (tức là sữa mẹ). Là những người chỉ dạy về thế gian này[2]: Bởi vì được gọi là việc các con được nhìn thấy các cảnh ưa thích và không được ưa thích ở thế gian này đều do nương nhờ vào cha mẹ. Do đó, mẹ và cha được gọi là “những người chỉ dạy về thế gian này”.

Brahmāti mātāpitaroti seṭṭhādhivacanaṃ. Yathā brahmuno catasso bhāvanā avijahitā honti mettā karuṇā muditā upekkhāti, evameva mātāpitūnaṃ puttakesu[3] catasso bhāvanā avijahitā honti. Tā[4] tasmiṃ tasmiṃ kāle veditabbā – kucchigatasmiṃ hi dārake ‘‘kadā nu kho puttakaṃ arogaṃ paripuṇṇaṅgapaccaṅgaṃ passissāmā’’ti mātāpitūnaṃ mettacittaṃ uppajjati. Yadā panesa mando uttānaseyyako ūkāhi vā maṅkulādīhi pāṇakehi daṭṭho dukkhaseyyāya vā pana pīḷito parodati viravati, tadāssa saddaṃ sutvā mātāpitūnaṃ kāruññaṃ uppajjati, ādhāvitvā vidhāvitvā kīḷanakāle pana lobhanīyavayasmiṃ vā ṭhitakāle dārakaṃ oloketvā mātāpitūnaṃ cittaṃ sappimaṇḍe pakkhittasata-vihata-kappāsa-picupaṭalaṃ viya mudukaṃ hoti āmoditaṃ pamoditaṃ, tadā tesaṃ muditā labbhati. Yadā panesa putto dārābharaṇaṃ paccupaṭṭhāpetvā pāṭiyekkaṃ agāraṃ ajjhāvasati, tadā mātāpitūnaṃ ‘‘sakkoti dāni no puttako attano dhammatāya yāpetu’’nti majjhattabhāvo uppajjati, tasmiṃ[5] kāle upekkhā labbhatīti iminā kāraṇena ‘‘brahmāti mātāpitaro’’ti vuttaṃ.

Mẹ và cha … là những Phạm Thiên: Đây là từ biểu trưng chỉ về bậc cao quý. Các vị Phạm thiên không từ bỏ bốn đề mục tu tập là Từ, Bi, Hỷ và Xả như thế nào, thì cha mẹ đối với con cái cũng giống như thế ấy, không bao giờ bỏ rơi bốn tâm quán tưởng này; các bậc cha mẹ đối với con cái cũng tượng tự y như thế, sẽ không từ bỏ bốn phạm trù đối với các con. Bốn đề mục tu tập ấy nên được hiểu theo từng thời điểm—Giải thích như sau: Trong khoảng thời gian thai nhi vẫn còn nằm trong bụng mẹ, cha mẹ khởi từ tâm như vầy: “Khi nào chúng ta mới được nhìn thấy đứa con nhỏ chào đời bình an, có các bộ phận thân thể lớn nhỏ đầy đủ.” Hơn nữa, khi nào đứa bé ấy vẫn còn thơ ấu, nằm ngửa, bị các con rận/chấy, rệp và các loại côn trùng nhỏ bu quanh cắn hoặc bị hành hạ với việc ngủ một cách thoải mái liền oà lên khóc. Khi ấy, cha mẹ nghe thấy tiếng con khóc liền khởi lòng thương xót (tâm bi). Khi nào đứa con ấy biết chạy nhảy vui chơi, hoặc đến tuổi thanh thiếu niên, mẹ và cha khi nhìn thấy (đứa bé ấy) thì tâm trí trở nên mềm mại, hân hoan, vui sướng—giống như bông gòn và lớp bông tơ đã được đánh tơi hàng trăm lần rồi để vào lớp bọt bơ tinh luyện; khi ấy, mẹ và cha có sự hoan hỷ (tâm hỷ). Còn khi nào đứa con ấy bắt đầu có gia đình, tách ra ở riêng để chăm sóc vợ (con); khi ấy, mẹ và cha khởi lên trạng thái (tâm) trung dung rằng: “Giờ đây, con của chúng ta có thể tự nuôi sống bản thân theo bản năng của chính mình.” Do đó, vào thời điểm ấy mẹ và cha có tâm xả. Với các lý do này, Đức Thế Tôn nói rằng: “Mẹ và cha được gọi là những Phạm Thiên”.

Pubbācariyātivuccareti mātāpitaro hi jātakālato paṭṭhāya ‘‘evaṃ nisīda, evaṃ tiṭṭha, evaṃ gaccha, evaṃ saya, evaṃ khāda, evaṃ bhuñja, ayaṃ te, tātāti vattabbo, ayaṃ bhātikāti, ayaṃ bhaginīti, idaṃ nāma kātuṃ vaṭṭati, idaṃ na vaṭṭati, asukaṃ nāma upasaṅkamituṃ vaṭṭati, asukaṃ na vaṭṭatī’’ti gāhāpenti sikkhāpenti. Athāparabhāge aññe ācariyā hatthisippa– assasippa– rathasippa– dhanusippa– tharusippa– muddā– gaṇanādīni sikkhāpenti. Añño saraṇāni deti[6], añño sīlesu patiṭṭhāpeti, añño pabbājeti, añño buddhavacanaṃ uggaṇhāpeti, añño upasampādeti, añño sotāpattimaggādīni pāpeti. Iti sabbepi te pacchācariyā nāma honti, mātāpitaro pana sabbapaṭhamā, tenāha – ‘‘pubbācariyāti vuccare’’ti. Tattha vuccareti vuccanti kathiyanti. Āhuneyyā ca puttānanti puttānaṃ āhutaṃ pāhutaṃ abhisaṅkhataṃ annapānādiṃ arahanti, anucchavikā taṃ paṭiggahetuṃ. Tasmā ‘‘āhuneyyā ca puttāna’’nti vuttaṃ. Pajāya anukampakāti paresaṃ pāṇe acchinditvāpi[7] attano pajaṃ paṭijagganti gopāyanti. Tasmā ‘‘pajāya anukampakā’’ti vuttaṃ.

Ngài gọi là … các vị thầy đầu tiên: Thật vậy, các bậc cha mẹ kể từ khi con cái chào đời, cho con học tập, cho con lắng nghe cẩn thận rằng: “Con hãy ngồi như thế này, hãy đứng như thế này, hãy đi như thế này, hãy nằm như thế này, hãy nhai như thế này, hãy ăn như thế này. Người này con nên gọi là cha, người này nên gọi là anh, người này nên gọi là em. Con nên làm điều này, không nên làm điều này, nên đi đến diện kiến người tên kia, còn người tên kia con không nên đi đến diện kiến.” Vào thời gian sau đó, các vị thầy khác mới dạy cho con học các nghề nghiệp như nghề huấn luyện voi, nghề huấn luyện ngựa, nghề đóng xe, nghề bắn cung, nghề gươm đao, nghề ra dấu hiệu và nghề kế toán, v.v. Các vị thầy khác cho sự nương nhờ (quy y Tam bảo), các vị thầy khác cho thiết lập vào giới, các vị thầy khác cho xuất gia, các vị thầy khác cho học tập Phật ngôn, các vị thầy khác cho tu lên bậc trên (thọ cụ túc giới), và các vị thầy khác cho chứng đạt Đạo-Quả Nhập Lưu, v.v. Vì thế, thậm chí tất cả các vị thầy ấy được gọi là các vị thầy đầu tiên; còn cha mẹ là những người thầy đầu tiên trước tất cả (những người thầy kia), chính vì lý do đó, Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Cha mẹ được gọi là những người thầy đầu tiên.” Trong số các từ ngữ ấy, được gọi là: được gọi là, được nói là. Các bậc xứng đáng sự cống hiến của các con[8]: Cha mẹ xứng đáng được nhận được đồ ăn, thức uống, v.v. mà con cái chuẩn bị để dâng cúng, để tiếp đón; tức là người thích hợp để thọ nhận đồ ăn, thức uống, v.v. ấy. Do đó, Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Các bậc xứng đáng sự cống hiến của các con”. Là những người có lòng thương tưởng đến hàng con cháu[9]: Mẹ và cha chăm sóc, bảo vệ con cái của mình ngay cả với việc sát hại sự sống của các sinh mạng khác. Do đó, Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Là những người có lòng thương tưởng đến hàng con cháu”.

Namasseyyāti namo kareyya. Sakkareyyāti sakkārena paṭimāneyya. Idāni taṃ sakkāraṃ dassento ‘‘annenā’’tiādimāha. Tattha annenāti yāgubhattakhādanīyena. Pānenāti aṭṭhavidhapānena. Vatthenāti nivāsanapārupanakena vatthena. Sayanenāti mañcapīṭhānuppadānena. Ucchādanenāti duggandhaṃ paṭivinodetvā sugandhakaraṇucchādanena. Nhāpanenāti sīte uṇhodakena, uṇhe sītodakena gattāni parisiñcitvā nhāpanena. Pādānaṃ dhovanenāti uṇhodakasītodakehi pādadhovanena ceva telamakkhanena ca. Peccāti paralokaṃ gantvā. Sagge pamodatīti[10] idha tāva mātāpitūsu pāricariyaṃ disvā pāricariyakāraṇā taṃ paṇḍitamanussā idheva[11] pasaṃsanti, paralokaṃ[12] pana gantvā sagge ṭhito so mātāpituupaṭṭhāko dibbasampattīhi āmodati pamodatīti.

Nên kính lễ: Thể hiện sự cung kính. Nên tôn vinh: Nên kính trọng bằng sự tôn vinh. Bây giờ, để trình bày sự tôn vinh đó, Đức Phật mới nói rằng: “với cơm ăn, v.v.” Ở đấy, với cơm ăn: cháo, vật thực mềm cứng, v.v. Nước uống: tám loại thức uống. Vải vóc: Vải dùng để mặc và vải dùng để đắp/khoác. Giường nằm: Vật dụng để nâng đỡ/chỗ nằm, tức là giường và ghế. Với sự xoa bóp: vật thoa xức để loại bỏ mùi hôi (cơ thể), làm cho có mùi thơm. Với việc tắm: bằng việc tắm nước ấm vào mùa lạnh, và với nước mát vào mùa nóng. Việc rửa sạch các bàn chân: với việc rửa chân bằng nước ấm và nước mát, và với việc thoa dầu. Sau khi chết: Sau khi đi đến thế giới khác. Vui hưởng ở cõi Trời: Trước hết ở thế giới này, các bậc hiền trí khi nhìn thấy sự phụng dưỡng đối với mẹ và cha (của người ấy) cũng đều tán thán người ấy ở ngay đời này vì có sự phụng dưỡng làm nhân. Hơn nữa, người phụng dưỡng mẹ và cha ấy sau khi đã đi đến thế giới khác, vững trú ở cõi Trời, (vị ấy) hoan hỷ, mừng rỡ với sự thành tựu ở Thiên giới.

4-2. Giải Thích Bài Kinh Trưởng lão Ānanda

32. Dutiye tathārūpoti tathājātiko. Samādhipaṭilābhoti cittekaggatālābho. Imasmiṃ ca saviññāṇaketi ettha attano ca parassa cāti ubhayesampi kāyo saviññāṇakaṭṭhena ekato katvā[13] imasminti vutto. Ahaṅkāramamaṅkāramānānusayāti ahaṅkāradiṭṭhi ca mamaṅkārataṇhā ca mānānusayo cāti attano ca parassa ca kilesā[14]. Nāssūti na bhaveyyuṃ. Bahiddhā ca sabbanimittesūti rūpanimittaṃ, saddanimittaṃ, gandhanimittaṃ, rasanimittaṃ, phoṭṭhabbanimittaṃ, sassatādinimittaṃ, puggalanimittaṃ dhammanimittanti evarūpesu ca bahiddhā sabbanimittesu. Cetovimuttiṃ paññāvimuttinti phalasamādhiñceva phalañāṇañca. Siyāti bhaveyya.

Trong bài Kinh thứ hai, Vị Tỳ-khưu như thế: Vị có dòng dõi như thế. Đạt được định: việc đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm. Trong cái thân có thức này: Ở đây, Trưởng lão Ānanda nói rằng: ‘này’ do tập hợp ‘cả hai thân’ lại với ý nghĩa là ‘hữu thức/có thức’. Việc tạo thành ‘tôi’, việc tạo thành ‘của tôi’, ngã mạn tùy miên[15]: các phiền não của bản thân và của người khác là— tà kiến là việc tạo thành ‘tôi’, tham ái là việc tạo thành ‘của tôi’ và sự tiềm ẩn là ngã mạn. Không cần có: không nên có. Đối với tất cả hiện tướng ở bên ngoài: Đối với tất cả các hiện tướng ở bên ngoài có hình thức như vầy, là— sắc tướng, thinh tướng, hương tướng, vị tướng, xúc tướng, thường tướng, nhân tướng và pháp tướng. Sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của tuệ: Quả Định (Định tương ưng với Quả) và Trí về Quả. Rất có thể: Nên có.

Idhānanda, bhikkhunoti, ānanda, imasmiṃ sāsane bhikkhuno. Etaṃ santaṃ etaṃ paṇītanti nibbānaṃ dassento āha. Nibbānaṃ hi kilesānaṃ santatāya santaṃ nāma, nibbānaṃ santanti samāpattiṃ appetvāva divasampi nisinnassa cittuppādo santanteva pavattatītipi santaṃ. Paṇītanti samāpattiṃ appetvā nisinnassāpi cittuppādo paṇītanteva pavattatīti nibbānaṃ paṇītaṃ nāma. Sabbasaṅkhārasamathotiādīnipi tasseva vevacanāni. ‘‘Sabbasaṅkhārasamatho’’ti samāpattiṃ appetvā nisinnassa hi divasabhāgampi cittuppādo sabbasaṅkhārasamathoteva pavattati…pe… tathā tīsu bhavesu vānasaṅkhātāya taṇhāya abhāvena nibbānanti laddhanāme[16] tasmiṃ samāpattiṃ appetvā nisinnassa cittuppādo nibbānaṃ nibbānanteva[17] pavattatīti sabbasaṅkhārasamathotiādīni nāmāni labhati. Imasmiṃ pana aṭṭhavidhe ābhogasamannāhāre imasmiṃ ṭhāne ekopi labbhati, dvepi sabbepi labbhanteva.

Ở đây, này Ānanda, vị Tỳ-khưu: Này Ānanda, vị Tỳ-khưu trong Giáo pháp này. Đức Thế Tôn trong khi thuyết về Niết Bàn đã nói rằng: “Đây là an tịnh, đây là thù thắng”. Niết Bàn được gọi là ‘an tịnh’ bởi vì các phiền não đã được an tịnh. Niết Bàn còn được gọi là ‘an tịnh’ bởi tâm sanh khởi của hành giả nhập thiền diệt do suy xét như sau: “Niết Bàn là ranh giới an tịnh” rồi ngồi cả ngày vận hành theo chính sự an tịnh ấy. Thù thắng: Niết Bàn gọi là cao quý bởi vì tâm sanh khởi của hành giả đang ngồi nhập vào sự thể nhập cũng vận hành theo chính sự thù thắng ấy. Sự vắng lặng của tất cả các hành[18], v.v., là một cụm danh từ đồng nghĩa với chính Niết Bàn ấy. Thật vậy, Niết Bàn có được nhiều tên gọi khác nhau, như ‘sự vắng lặng của tất cả các hành’. Vì theo phân tích ngữ nghĩa, tâm sanh khởi của vị hành giả ngồi xuống nhập thiền diệt với suy xét rằng: ‘sự vắng lặng của tất cả các hành’, dù một khoảng thời gian trong ngày (tâm sanh khởi ấy) cũng được vận hành như sau: “sự vắng lặng của tất cả các hành”, …như trên… Mặt khác, tâm sanh khởi của vị hành giả ngồi nhập thiền diệt trong ‘sự vắng lặng của tất cả các hành’ ấy được gọi là Niết Bàn vì không có tham ái được xem là sợi dây trói buộc trong ba cõi cũng vận hành trong chính Niết Bàn đó. Hơn nữa, trong việc suy xét theo cả tám phương cách như vậy, ở đây (vị ấy) có thể suy xét theo một cách cũng được, hai cách cũng được, hoặc cả tám cách cũng đều được tương tự như nhau.

Saṅkhāyāti ñāṇena jānitvā. Paroparānīti parāni ca oparāni ca[19]. Para-attabhāvasaka-attabhāvāni hi[20] parāni ca oparāni cāti vuttaṃ hoti. Yassāti yassa arahato. Iñjitanti rāgiñjitaṃ dosamohamānadiṭṭhikilesaduccaritiñjitanti imāni satta iñjitāni calitāni phanditāni. Natthi kuhiñcīti katthaci ekārammaṇepi natthi.

Sau khi đã suy xét: sau khi biết được bằng trí. Paroparāni [Tự ngã của người khác và của chính mình] được tách thành ‘Parāni ca oparāni ca’, giải thích rằng: Tự ngã của người khác và tự ngã của chính mình, v.v., gọi là Para là tự ngã của người khác và gọi là Opara là tự ngã của chính mình. Người nào: Của bậc A-la-hán nào. Sự xao động: Bảy sự xao động, sự khuấy động, hay sự làm rung chuyển này là:

  • sự xao động do luyến ái,
  • sự xao động do sân,
  • sự xao động do si,
  • sự xao động do ngã mạn,
  • sự xao động do tà kiến,
  • sự xao động do phiền não và
  • sự xao động do uế hạnh,

không có … tại bất cứ nơi nào: Không có dầu chỉ là ở một đối tượng tại bất kỳ nơi nào.

Santoti paccanīkakilesānaṃ santatāya santo. Vidhūmoti kāyaduccaritādidhūmavirahito. Anīghoti rāgādiīghavirahito. Nirāsoti nittaṇho. Atārīti tiṇṇo uttiṇṇo samatikkanto. Soti so arahaṃ khīṇāsavo. Jātijaranti ettha jātijarāgahaṇeneva byādhimaraṇampi gahitamevāti veditabbaṃ. Iti suttantepi[21] gāthāyapi arahattaphalasamāpattiyeva kathitāti.

Là bậc an tịnh: là bậc an tịnh bởi sự vắng lặng của các phiền não là pháp đối nghịch. Không còn khói mù: Tránh khỏi khói mù có thân uế hạnh, v.v. Không phiền muộn: Tránh khỏi nguy hiểm, nguy khốn có luyến ái, v.v. Không mong cầu: Không có tham ái. Vượt qua: là vị đã băng qua, đã vượt lên, đã vượt qua hẳn. Vị ấy: Vị ấy là bậc A-ra-hán, có các lậu hoặc đã được cạn kiệt. Sanh và già: Ở đây, ngay cả sự đau yếu và sự chết cần được hiểu rằng ngài muốn ám chỉ đến chúng tương tự với chính cụm từ ‘sanh và già’. Sự thể nhập Thánh Quả của bậc A-la-hán đã được Đức Thế Tôn nói đến cả trong bài Kinh và cả trong các câu kệ bằng phương thứ như đã được giải thích.

4-3. Giải Thích Bài Kinh Trưởng lão Sāriputta

 33. Tatiye saṃkhittenāti mātikāṭhapanena. Vitthārenāti ṭhapitamātikāvibhajanena. Saṃkhittavitthārenāti kāle saṃkhittena kāle vitthārena. Aññātāro ca dullabhāti paṭivijjhanakapuggalā pana dullabhā. Idaṃ bhagavā ‘‘sāriputtattherassa ñāṇaṃ ghaṭṭemī’’ti adhippāyena kathesi. Taṃ sutvā thero kiñcāpi ‘‘ahaṃ, bhante, ājānissāmī’’ti na vadati, adhippāyena pana ‘‘vissatthā tumhe, bhante, desetha, ahaṃ tumhehi desitaṃ dhammaṃ nayasatena nayasahassena paṭivijjhissāmi, mamesa bhāro hotū’’ti satthāraṃ desanāya ussāhento etassa bhagavā kālotiādimāha.

Trong bài Kinh thứ ba, một cách tóm lược: Với việc thiết lập các tiêu đề. một cách chi tiết: Việc phân tích các tiêu đề đã được thiết lập. Một cách tóm lược và chi tiết: Đôi khi thì vắn tắt, đôi khi thì chi tiết. Và những người hiểu được thật là khó tìm! Hơn nữa, hạng người thấu triệt thật là khó tìm. Đức Thế Tôn đã thuyết lời này với ý định rằng: “Ta sẽ đánh vào trí tuệ của Trưởng lão Sāriputta.” Sau khi nghe điều ấy, Trưởng lão tuy không nói: “Bạch ngài, con sẽ tự mình hiểu được”, – Nhưng với ý định rằng: “Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy an tâm. Con sẽ thấu triệt Pháp đã được thuyết giảng bởi ngài bằng một trăm phương pháp, một nghìn phương pháp; xin hãy để việc này là phần trách nhiệm của con,” trong khi làm cho bậc Đạo Sư khởi lên sự nỗ lực trong việc thuyết giảng Giáo Pháp, vị ấy mới nói câu bắt đầu bằng: “Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn”.

Athassa satthā tasmātihāti desanaṃ ārabhi. Tattha imasmiñca saviññāṇaketiādi vuttanayameva. Acchecchi[22]taṇhanti maggañāṇasatthena taṇhaṃ chindi. Vivattayi[23] saṃyojananti dasavidhampi saṃyojanaṃ samūlakaṃ ubbattetvā chaḍḍesi. Sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassāti sammā upāyena sammā paṭipattiyā navavidhassa mānassa pahānābhisamayena vaṭṭadukkhassa antamakāsi. Idañca pana metaṃ, sāriputta, sandhāya bhāsitanti, sāriputta, mayā pārāyane udayapañhe idaṃ phalasamāpattimeva sandhāya etaṃ bhāsitaṃ.

Khi đó, bậc Đạo Sư bắt đầu thuyết giảng cho Trưởng lão Sāriputta rằng “Vì thế, ở đây, này Sāriputta, hãy học tập như sau…” Trong số các từ ngữ ấy thì câu trong cái thân có thức này, v.v., có phương thức như đã trình bày. Đã chặt đứt tham ái: Đã cắt đứt Tham ái bằng thanh gươm là ‘Trí về Đạo’. Đã bứng gốc sự trói buộc[24]: Vị ấy đã nhỏ bỏ cả mười sự trói buộc cùng với toàn bộ gốc rễ. Nhờ vào sự lĩnh hội về ngã mạn một cách đúng đắn đã thực hiện việc chấm dứt khổ[25]: đã thực hiện việc chấm dứt vòng sinh tử khổ đau nhờ vào sự lãnh hội do từ bỏ chín loại ngã mạn bằng đường lối đúng đắn và lối thực hành chân chánh. Lại nữa, này Sāriputta, liên hệ đến vấn đề này, Ta đã nói như thế: Này Sāriputta, liên quan đến việc thể nhập thiền quả này trong ‘bài Kinh Câu Hỏi Của Udaya’ thuộc Phẩm Đi Đến Bờ Kia, nên Ta đã nói điều này.

Idāni yaṃ taṃ bhagavatā bhāsitaṃ, taṃ dassento pahānaṃ kāmasaññānantiādi āraddhaṃ. Udayapañhe ca etaṃ padaṃ ‘‘pahānaṃ kāmacchandāna’’nti (su. ni. 1112; cūḷani. udayamāṇavapucchāniddeso 75) āgataṃ, idha pana aṅguttarabhāṇakehi ‘‘kāmasaññāna’’nti āropitaṃ. Tattha byañjanameva nānaṃ, attho pana ekoyeva. Kāmasaññānanti kāme ārabbha uppannasaññānaṃ, aṭṭhahi vā lobhasahagatacittehi sahajātasaññānaṃ. Domanassāna cūbhayanti etāsañca kāmasaññānaṃ cetasikadomanassānañcāti ubhinnampi pahānaṃ paṭippassaddhipahānasaṅkhātaṃ arahattaphalaṃ aññāvimokkhaṃ pabrūmīti attho. Niddese pana ‘‘kāmacchandassa ca domanassassa ca ubhinnaṃ pahānaṃ vūpasamaṃ paṭinissaggaṃ paṭippassaddhiṃ amataṃ nibbāna’’nti (cūḷani. udayamāṇavapucchāniddeso 75) vuttaṃ, taṃ atthuddhāravasena vuttaṃ. Pahānanti hi khīṇākārasaṅkhāto vūpasamopi vuccati, kilese paṭinissajjanto[26] maggopi, kilesapaṭippassaddhisaṅkhātaṃ phalampi, yaṃ āgamma kilesā pahīyanti, taṃ amataṃ nibbānampi. Tasmā tattha tāni padāni āgatāni. ‘‘Aññāvimokkhaṃ pabrūmī’’ti vacanato pana arahattaphalameva adhippetaṃ. Thinassaca panūdanantipi thinassa ca panūdanante uppannattā arahattaphalameva adhippetaṃ. Kukkuccānaṃ nivāraṇanti kukkuccanivāraṇassa maggassa anantaraṃ uppannattā phalameva adhippetaṃ.

Giờ đây, điều nào đã được thuyết bởi Đức Thế Tôn, trong khi thuyết giảng điều đó ngài mới bắt đầu rằng: “Sự dứt bỏ các dục tưởng, v.v.” Và câu này “sự dứt bỏ đối với lòng mong muốn ngũ dục”[27] được đề cập trong ‘bài Kinh Câu Hỏi Của Udaya’. Tuy nhiên, trong bài Kinh này, các vị trì tụng đã sắp đặt thành “các dục tưởng”. Giữa hai từ ấy chỉ khác về văn tự, còn về mặt ý nghĩa thì hoàn toàn giống nhau. Các dục tưởng: Tưởng sanh khởi liên quan đến các dục, hoặc tưởng đồng sanh với 8 tâm đi cùng với tham. Và những nỗi ưu phiền: Như Lai nói đến sự dứt bỏ các tâm sở bất thiện, thậm chí cả hai—là các dục tưởng này và các tâm sở thọ ưu, chính là A-la-hán Quả được gọi là việc dứt bỏ do sự tịch tịnh, là sự giải thoát do trí giác ngộ. Tuy nhiên, Đức Thế Tôn nói trong phần Diễn Giải rằng: “Sự dứt bỏ, sự vắng lặng, sự buông bỏ, sự tịch tịnh đối với những mong muốn về dục và những nỗi ưu phiền, cả hai loại, là Bất Tử, Niết Bàn,”[28] lời ấy ngài nói về phương diện nêu ra kết quả. Bởi vì sự vắng lặng là trạng thái đã cạn kiệt, được gọi là ‘sự dứt bỏ’; Đạo đang buông bỏ phiền não cũng được gọi là ‘sự dứt bỏ’; và Quả được xem là sự tịch tịnh các phiền não cũng được gọi là ‘sự dứt bỏ’. Các phiền não được dứt bỏ do đạt đến Niết Bàn nào, thì Niết Bàn ấy gọi là Bất Tử, Niết Bàn. Vì thế, các từ ngữ này mới xuất hiện trong phần Diễn Giải ấy. Tuy nhiên, trong khi nói rằng: “Ta nói về sự giải thoát do trí giác ngộ,” chỉ ‘A-la-hán Quả’ được đề cập. Cả Phật ngôn rằng ‘và việc xua đi sự dã dượi[29]’: Chỉ ‘A-la-hán Quả’ được đề cập do A-la-hán Quả sanh khởi ở sát na cuối cùng của việc xua đi sự dã dượi/hôn trầm. Việc ngăn cản các trạng thái hối hận[30]’: Chỉ ‘Quả’ được đề cập, bởi vì Quả sanh khởi liền kề của Đạo là nhân ngăn chặn các trạng thái hối hận.

Upekkhāsatisaṃsuddhanti catutthajjhānike phale uppannāya upekkhāya ca satiyā ca saṃsuddhaṃ. Dhammatakkapurejavanti dhammatakko vuccati sammāsaṅkappo, so ādito hoti, purato hoti, pubbaṅgamo hoti aññāvimokkhassāti dhammatakkapurejavo. Taṃ dhammatakkapurejavaṃ. Aññāvimokkhanti aññindriyapariyosāne uppannaṃ vimokkhaṃ, aññāya vā vimokkhaṃ aññāvimokkhaṃ, paññāvimuttanti attho. Avijjāya pabhedananti avijjāya pabhedanante uppannattā, avijjāya pabhedanasaṅkhātaṃ vā nibbānaṃ ārabbha uppannattā evaṃladdhanāmaṃ arahattaphalameva. Iti sabbehipi imehi pahānantiādīhi padehi arahattaphalameva pakāsitanti veditabbaṃ.

Có xả và niệm hoàn toàn trong sạch: Hoàn toàn trong sạch bởi ‘Xả’ và ‘Niệm’ sanh khởi trong (Tâm) Quả được vận hành ở Tứ thiền. Có sự suy tầm đúng pháp đi trước: sự suy tầm đúng pháp nói đến chánh tư duy, nó là đầu tiên, là trước hết, là yếu tố đi đầu của sự giải thoát do trí giác ngộ; Như Lai nói đó là ‘có sự suy tầm đúng pháp đi trước’. Sự giải thoát do trí giác ngộ[31]: sự giải thoát sanh khởi ở sát-na cuối cùng của Dĩ tri quyền, hoặc sự giải thoát do phẩm vị A-la-hán được gọi là ‘sự giải thoát do trí giác ngộ’, giải thích rằng—bao gồm sự giải thoát của tuệ. Về sự phá vỡ vô minh[32]: Là phương tiện phá tan vô minh do sanh khởi ở giai đoạn cuối cùng của sự phá tan vô minh. Hoặc là, chính A-la-hán Quả đạt được tên gọi như vậy do sanh khởi liên quan đến Niết Bàn. Chính quả vị A-la-hán ấy nên được hiểu rằng Đức Thế Tôn đã tuyên thuyết với các từ ngữ được bắt đầu với “sự dứt bỏ,” v.v., thậm chí tất cả như đã giải thích.

4-4. Giải Thích Bài Kinh Các Căn Nguyên

 34. Catutthe nidānānīti kāraṇāni. Kammānanti vaṭṭagāmikammānaṃ. Lobho nidānaṃ kammānaṃ samudayāyāti lubbhanapalubbhanasabhāvo lobho vaṭṭagāmikammānaṃ samudayāya piṇḍakaraṇatthāya nidānaṃ kāraṇaṃ paccayoti attho. Dosoti dussanapadussanasabhāvo doso. Mohoti muyhanapamuyhanasabhāvo[33]

Trong bài Kinh thứ tư, các căn nguyên: các lý do/nguyên nhân. Nghiệp: Nghiệp dẫn dắt chúng sanh đến luân hồi. Là căn nguyên đưa đến sanh khởi các nghiệp: Tham có sự tham đắm và mê đắm là thực tính, là căn nguyên, là lý do, là duyên; nhằm đưa đến sự sanh khởi (và) đưa đến việc tích lũy của các nghiệp dẫn đến luân hồi là ý nghĩa. Sân: Sân có sự dữ tợn và sự làm tổn thương là thực tính. Si: Si có sự quên lãng và sự lầm lạc là thực tính.

Lobhapakatanti lobhena pakataṃ, lobhābhibhūtena luddhena hutvā katakammanti attho. Lobhato jātanti lobhajaṃ. Lobho nidānamassāti lobhanidānaṃ. Lobho samudayo assāti lobhasamudayaṃ. Samudayoti paccayo, lobhapaccayanti attho. Yatthassa attabhāvo nibbattatīti yasmiṃ ṭhāne assa lobhajakammavato puggalassa attabhāvo nibbattati, khandhā pātubhavanti. Tattha taṃ kammaṃ vipaccatīti tesu khandhesu taṃ kammaṃ vipaccati. Diṭṭhe vā dhammetiādi yasmā taṃ kammaṃ diṭṭhadhammavedanīyaṃ vā hoti upapajjavedanīyaṃ vā aparapariyāyavedanīyaṃ vā, tasmā taṃ pabhedaṃ dassetuṃ vuttaṃ. Sesadvayepi eseva nayo.

Nghiệp phát khởi do tham: Người tạo nghiệp do tham. Giải thích rằng: Người đã tạo nghiệp do tham chế ngự (và) do mê đắm. Nghiệp nào khởi lên từ tham, nghiệp ấy gọi là ‘nghiệp phát khởi do tham’. Tham là căn nguyên nghiệp ấy, nghiệp ấy gọi là ‘nghiệp có tham là căn nguyên’. Tham là tập khởi/nhân sanh khởi của nghiệp ấy, nghiệp ấy gọi là ‘có tham là nhân sanh khởi’. Duyên gọi là ‘nhân sanh khởi’, giải thích rằng—Có tham làm duyên. Tại chỗ nào tự ngã được sanh ra: Ở nơi nào tự ngã của hạng người ấy có nghiệp phát khởi do tham, tức là năm uẩn được hiện hữu. Tại chỗ ấy nghiệp được chín muồi: Nghiệp ấy được chín muồi trong chính năm uẩn ấy. Hoặc ở kiếp hiện tại, v.v. Đức Thế Tôn thuyết nhằm mục đích phân loại nghiệp ấy, bởi vì nghiệp ấy là nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại (nghiệp trổ quả ngay trong đời này), hoặc nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp (nghiệp trổ quả ở kiếp kế tiếp), hoặc nghiệp có thể được cảm thọ ở kiếp khác (nghiệp trổ quả ở các đời sau nữa). Luôn cả trong hai đoạn còn lại [về Sân và Si] cũng có phương thức này tương tự.

Akhaṇḍānīti abhinnāni. Apūtīnīti pūtibhāvena[34] abījattaṃ appattāni. Avātātapahatānīti na vātena na ca ātapena hatāni. Sārādānīti gahitasārāni sāravantāni na nissārāni. Sukhasayitānīti sannicayabhāvena sukhaṃ sayitāni. Sukhetteti maṇḍakhette. Suparikammakatāya bhūmiyāti naṅgalakasanena ceva aṭṭhadantakena ca suṭṭhu parikammakatāya khettabhūmiyā. Nikkhittānīti ṭhapitāni ropitāni. Anuppaveccheyyāti anuppaveseyya. Vuddhintiādīsu uddhaggamanena vuddhiṃ, heṭṭhā mūlappatiṭṭhānena virūḷhiṃ, samantā vitthārikabhāvena vepullaṃ.

Không bị bể vỡ: không bị phá vỡ. Không hư thối: không rơi vào tình trạng mất mầm/không còn hạt giống do không bị hư thối. Không bị phá hại bởi gió và sức nóng: không bị phá hoại bởi sức gió và sức nóng. Có lõi bên trong[35]: Có phần lõi/phần cốt yếu có thể nắm giữ được, tức là có cốt lõi chứ không phải không có cốt lõi/rỗng tuếch. Được gieo cẩn thận: Được gieo cẩn thận do được bảo quản tốt. Nơi cánh đồng màu mỡ: Ở thửa ruộng màu mỡ. Khi mảnh đất đã khéo được chuẩn bị: Trên thửa ruộng đã được chuẩn bị kỹ lưỡng bằng việc cày và bừa. Được gieo xuống: đã được đặt xuống, đã được gieo trồng. Trời đổ mưa: mưa rơi xuống đều đặn. Sự phát triển, v.v, sự phát triển bởi phát triển cao lên, sự tăng trưởng bởi có bám rễ chắc chắn ở phía dưới, sự lớn mạnh bởi lan rộng ra xung quanh.

Yaṃ panettha diṭṭhe vā dhammetiādi vuttaṃ, tattha asammohatthaṃ imasmiṃ ṭhāne kammavibhatti nāma kathetabbā. Suttantikapariyāyena hi ekādasa kammāni vibhattāni. Seyyathidaṃ –

Hơn nữa, trong kinh này, lời nào đã được Đức Thế Tôn nói có sự bắt đầu như sau “ở kiếp hiện tại”, để tránh nhầm lẫn về các lời đó, trong trường hợp này nên trình bày về ‘sự phân loại về Nghiệp’. Thật vậy, theo phương thức của Kinh Tạng, Đức Thế Tôn đã phân loại Nghiệp thành 11 loại. Đó là—

Diṭṭhadhammavedanīyaṃ upapajjavedanīyaṃ aparapariyāyavedanīyaṃ[36], yaggarukaṃ yabbahulaṃ yadāsannaṃ kaṭattā vā pana kammaṃ, janakaṃ upatthambhakaṃ upapīḷakaṃ upaghātakanti. Tattha ekajavanavīthiyaṃ sattasu cittesu kusalā vā akusalā vā paṭhamajavanacetanā diṭṭhadhammavedanīyakammaṃ nāma. Taṃ imasmiṃyeva attabhāve vipākaṃ deti kākavaḷiyapuṇṇaseṭṭhīnaṃ viya kusalaṃ, nandayakkha– nandamāṇavaka– nandagoghāta– kakokāliya– suppabuddha– devadatta– ciñcamāṇavikānaṃ viya ca akusalaṃ. Tathā asakkontaṃ pana ahosikammaṃ nāma hoti, avipākaṃ sampajjati. Taṃ migaluddakopamāya sādhetabbaṃ. Yathā hi migaluddakena migaṃ disvā dhanuṃ ākaḍḍhitvā khitto saro sace na virajjhati, taṃ migaṃ tattheva pāteti, atha naṃ migaluddako niccammaṃ katvā khaṇḍākhaṇḍikaṃ chetvā maṃsaṃ ādāya puttadāraṃ tosento gacchati. Sace pana virajjhati, migo palāyitvā puna taṃ disaṃ na oloketi. Evaṃ sampadamidaṃ daṭṭhabbaṃ. Sarassa avirajjhitvā migavijjhanaṃ viya hi diṭṭhadhammavedanīyassa kammassa vipākavārapaṭilābho, avijjhanaṃ viya avipākabhāvāya sampajjananti.

  1. Nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại,
  2. Nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp,
  3. Nghiệp có thể được cảm thọ ở kiếp khác,
  4. Nghiệp trọng yếu/nghiệp nặng
  5. Nghiệp thường cận/tập hành nghiệp,
  6. Cận tử nghiệp (nghiệp diễn ra lúc cận tử),
  7. Khinh thiểu nghiệp/nghiệp đã từng tạo,
  8. Sanh nghiệp (nghiệp trợ cho quả sanh),
  9. Nghiệp hỗ trợ (cho các nghiệp khác),
  10. Chướng nghiệp/nghiệp làm trở ngại, và
  11. Đoạn nghiệp.

Trong số 11 loại nghiệp ấy, trong số bảy đổng lực tâm thì ‘Tâm sở tư ở sát-na đổng lực thứ nhất’ là thiện hoặc bất thiện ở lộ trình đổng lực đầu tiên được gọi là Nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại. Nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại đó chỉ trổ quả ngay trong chính kiếp sống hiện tại này; giống như thiện nghiệp cho kết quả đến Trưởng giả Kākavaḷiya và Trưởng giả Puṇṇaka v.v… Và bất thiện nghiệp cho kết quả đến Dạ-xoa Nanda, thanh niên Nanda, gã đồ tể Nanda, Tỳ-khưu Kakokāliya, Vua Suppabuddha, Tỳ-khưu Devadatta và nàng Ciñcāmāṇavikā v.v… Tuy nhiên, khi không thể cho kết quả như vậy thì nó sẽ trở thành Vô hiệu nghiệp, tức là trở thành không có kết quả. Nghiệp này nên được minh chứng bằng ví dụ người thợ săn. Giống như mũi tên của người thợ săn, khi nhìn thấy con mồi liền giương cung lên và bắn đi, nếu không trượt (trúng con mồi) sẽ làm cho con mồi gục ngã ngay tại chỗ đó. Khi ấy, người thợ săn sẽ lột da con mồi, xẻ ra thành từng miếng nhỏ miếng lớn, mang thịt về nuôi vợ con. Nhưng nếu bắn trượt (không trúng con mồi), con mồi sẽ bỏ chạy và không ngoảnh đầu nhìn lại hướng đó nữa. Ví dụ so sánh này cũng nên được hiểu tương tự y như thế ấy. Giải thích rằng— Việc đạt được cơ hội trổ quả của nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện giống như mũi tên bắn trúng con mồi không bị trượt, còn việc nghiệp ấy trở thành Vô hiệu nghiệp giống như mũi tên bị bắn trượt (con mồi).

Atthasādhikā pana sattamajavanacetanā upapajjavedanīyakammaṃ nāma. Taṃ anantare attabhāve vipākaṃ deti. Taṃ panetaṃ[37] kusalapakkhe aṭṭhasamāpattivasena, akusalapakkhe pañcānantariyakammavasena veditabbaṃ. Tattha aṭṭhasamāpattilābhī ekāya samāpattiyā brahmaloke nibbattati. Pañcannampi ānantariyānaṃ kattā[38] ekena kammena niraye nibbattati, sesasamāpattiyo ca kammāni ca ahosikammabhāvaṃyeva āpajjanti, avipākāni honti. Ayampi attho purimaupamāyayeva dīpetabbo[39].

Còn ‘Tâm sở tư ở sát-na đổng lực thứ 7’ có khả năng làm cho quả được thành tựu. được gọi là Nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp. Nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp ấy sẽ cho kết quả ở kiếp sống liền sau đó (tức là kiếp sống kế tiếp). Tuy nhiên, trong cả hai phần thiện và bất thiện này, nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp ở phần thiện nên được hiểu do tác động của tám sự chứng đắc/tám tầng thiền, còn ở phần bất thiện nên được biết do tác động của năm nghiệp vô gián/ngũ nghịch đại tội. Trong cả hai loại nghiệp ấy, hành giả đạt được tám sự chứng đắc sẽ tái sinh vào thế giới Phạm thiên do tác của một sự thể nhập nào đó. Còn hạng người đã tạo năm nghiệp vô gián sẽ sanh vào cõi địa ngục do một nghiệp. Còn các sự thể nhập còn lại và các nghiệp còn lại đều trở thành ‘vô hiệu nghiệp/nghiệp không có kết quả’. Luôn cả ý nghĩa này cũng nên được hiểu theo ví dụ thứ nhất.

Ubhinnaṃ antare pana pañcajavanacetanā aparapariyāyavedanīyakammaṃ nāma. Taṃ anāgate yadā okāsaṃ labhati, tadā vipākaṃ deti. Sati saṃsārappavattiyā ahosikammaṃ nāma na hoti. Taṃ sabbaṃ sunakhaluddakena dīpetabbaṃ. Yathā hi sunakhaluddakena migaṃ disvā sunakho vissajjito migaṃ anubandhitvā yasmiṃ ṭhāne pāpuṇāti, tasmiṃ yeva ḍaṃsati; evamevaṃ idaṃ kammaṃ yasmiṃ ṭhāne okāsaṃ labhati, tasmiṃyeva vipākaṃ deti, tena mutto satto nāma natthi.

Tâm sở tư ở năm sát-na đổng lực còn lại khởi lên ở khoảng giữa hai sát-na đổng lực (tức là đổng lực tâm thứ nhất và đổng lực tâm đẩu thứ 7) được gọi là Nghiệp có thể được cảm thọ ở kiếp khác (Nghiệp cho quả ở các kiếp kế tiếp từ kiếp thứ ba trở đi). Nghiệp có thể được cảm thọ ở kiếp khác ấy khi nào có được cơ hội trong thời vị lai, khi ấy nó sẽ cho quả. Khi sự xoay vần của luân hồi vẫn còn hiện hữu, nghiệp ấy không được gọi là vô hiệu nghiệp/nghiệp không còn cho quả. Tất cả các nghiệp ấy cần được minh họa bằng câu chuyện về người thợ săn cùng với những con chó săn. Giống như con chó săn được người thợ săn thả ra khi nhìn thấy con mồi liền rượt đuổi theo; hễ đuổi kịp ở chỗ nào thì nó sẽ cắn ở ngay tại chỗ đó. Tương tự y như thế, nghiệp này hễ có được thời cơ ở đâu thì nó sẽ lập tức trổ quả ở đó. Chúng sinh thoát khỏi nghiệp ấy là không có.

Kusalākusalesu pana garukāgarukesu yaṃ garukaṃ hoti, taṃ yaggarukaṃ nāma. Tadetaṃ kusalapakkhe mahaggatakammaṃ, akusalapakkhe pañcānantariyakammaṃ veditabbaṃ. Tasmiṃ sati sesāni kusalāni vā akusalāni vā vipaccituṃ na sakkonti, tadeva duvidhampi paṭisandhiṃ deti. Yathā hi sāsapappamāṇāpi[40] sakkharā vā ayaguḷikā vā udakarahade pakkhittā udakapiṭṭhe uplavituṃ[41] na sakkoti, heṭṭhāva pavisati; evameva kusalepi akusalepi yaṃ garukaṃ, tadeva gaṇhitvā gacchati.

Còn trong số các trọng nghiệp và không phải trọng nghiệp là thiện và bất thiện, thì nghiệp nào nặng thì nghiệp đó gọi là Trọng nghiệp. Trong đó, Trọng nghiệp này đây ở phần thiện cần được biết là Đại hành nghiệp (Hành động thuộc Đáo đại, tức là thiền Sắc giới và Vô sắc giới); Còn về phần bất thiện, trọng nghiệp cần được hiểu là năm nghiệp Vô gián. Khi Trọng nghiệp ấy có mặt thì các thiện nghiệp hoặc bất thiện nghiệp còn lại sẽ không thể cho kết quả được. Chính cả hai loại Trọng nghiệp ấy sẽ cho sự tiếp nối (tái sanh). Điều này giống một viên sỏi hay một cục sắt, dù có kích thước chỉ nhỏ bằng hạt cải, khi ném xuống dòng nước thì không thể nào nổi lên trên mặt nước, mà sẽ chìm xuống đáy; cũng tương tự y như thế, đối với thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp, nghiệp ở phần nào nặng hơn, kẻ ấy sẽ nắm lấy (hoặc lãnh thọ) chính nghiệp phần đó mà đi (tái sanh).

Kusalākusalesu pana yaṃ bahulaṃ hoti, taṃ yabbahulaṃ nāma. Taṃ dīgharattaṃ laddhāsevanavasena veditabbaṃ. Yaṃ vā balavakusalakammesu somanassakaraṃ, akusalakammesu santāpakaraṃ, etaṃ yabbahulaṃ nāma. Tadetaṃ yathā nāma dvīsu mallesu yuddhabhūmiṃ otiṇṇesu yo balavā, so itaraṃ pātetvā gacchati; evameva itaraṃ dubbalakammaṃ avattharitvā yaṃ āsevanavasena vā bahulaṃ, āsannavasena[42] vā balavaṃ, taṃ vipākaṃ deti, duṭṭhagāmaṇiabhayarañño kammaṃ viya.

Còn trong tất cả các thiện nghiệp và bất thiện nghiệp, nghiệp nào được thực hiện nhiều (lặp đi lặp lại nhiều lần) thì nghiệp đó gọi là Tập hành nghiệp/nghiệp thường cận. Nghiệp thường cận ấy nên biết do tác động của sự huân tập mà đạt được qua thời gian dài. Mặt khác, về phần thiện nghiệp, nghiệp nào có sức mạnh tạo ra sự hỷ lạc; còn về phần bất thiện nghiệp, nghiệp nào gây ra sự đau khổ/sự buồn rầu, nghiệp đó được gọi là nghiệp thường cận. Điều này giống như hai võ sĩ bước lên đài, người nào có sức mạnh nhiều hơn thì người đó sẽ làm đối phương ngã (đánh bại); Cũng tương tự y như vậy, nghiệp thường cận này đây sẽ đè bẹp các nghiệp có sức mạnh yếu hơn. Nghiệp nào nhiều do thói quen huân tập, hoặc có sức mạnh do tác động làm cho đau khổ/buồn rầu nhiều, thì nghiệp ấy sẽ cho quả (tái sanh), giống như nghiệp của vua Duṭṭhagāmaṇī Abhaya.

So kira cūḷaṅgaṇiyayuddhe parājito vaḷavaṃ āruyha palāyi. Tassa cūḷupaṭṭhāko tissāmacco nāma ekakova pacchato ahosi. So[43] ekaṃ aṭaviṃ pavisitvā nisinno jighacchāya bādhayamānāya[44] – ‘‘bhātika tissa, ativiya no jighacchā bādhati, kiṃ karissāmā’’ti āha. Atthi, deva, mayā sāṭakantare ṭhapetvā ekaṃ suvaṇṇasarakabhattaṃ ābhatanti. Tena hi āharāti. So nīharitvā rañño purato ṭhapesi. Rājā disvā, ‘‘tāta, cattāro koṭṭhāse karohī’’ti āha. Mayaṃ tayo janā, kasmā devo[45] cattāro koṭṭhāse kārayatīti? Bhātika tissa, yato paṭṭhāya ahaṃ attānaṃ sarāmi, na me ayyānaṃ adatvā āhāro paribhuttapubbo atthi, svāhaṃ ajjapi adatvā na paribhuñjissāmīti. So cattāro koṭṭhāse akāsi. Rājā ‘‘kālaṃ ghosehī’’ti āha. Chaḍḍitāraññe kuto, ayye, labhissāma devāti . ‘‘Nāyaṃ tava bhāro. Sace mama saddhā atthi, ayye, labhissāma, vissattho kālaṃ ghosehī’’ti āha. So ‘‘kālo, bhante, kālo, bhante’’ti tikkhattuṃ ghosesi.

Nghe rằng, đức vua Duṭṭhagāmaṇī Abhaya ấy khi bị đánh bại trong trận chiến Cūḷaṅgaṇiya đã cưỡi con lừa tháo chạy. Chỉ có duy nhất một viên quan đại thần tên là Tissa đi theo phò tá ngài. Sau khi đi vào khu rừng rậm, ngài đã ngồi xuống do bị cơn đói hành hạ, ngài mới nói rằng— “Này khanh Tissa, chúng ta đang bị cơn đói hành hạ quá mức, phải làm sao đây?” — Tâu Bệ hạ, có thức ăn ạ! Thần đã mang theo phần thức ăn được đặt trong một cái tô vàng và cất trong áo choàng. — Nếu vậy thì hãy mau lấy ra đây! Vị ấy liền lấy phần thức ăn ra đặt ở trước mặt đức vua. — Sau khi nhìn thấy (phần thức ăn), Đức vua đã nói rằng: “Này khanh, hãy chia phần thức ăn này làm 4 phần!” — Viên quan đại thần liền hỏi: “Chúng ta chỉ có 3 (tính cả con ngựa), cớ sao Bệ hạ lại bảo chia làm 4 phần?” — Này khanh Tissa, kể từ khi trẫm nhớ lại bản thân, trẫm chưa từng thọ dụng bất kỳ bữa ăn nào mà chưa dâng cúng đến chư Tăng trước cả. Kể cả ngày hôm nay, trẫm cũng sẽ không thọ dụng khi chưa dâng cúng phần vật thực đến chư Tăng. — Viên đại thần liền chia phần thức ăn ra làm 4 phần. Đức vua nói rằng: “Khanh hãy thông báo thời gian!” — Tâu Bệ hạ, trong khu rừng hoang vắng này làm sao tìm được chư Tăng? — Việc đó không phải là trách nhiệm của khanh. Nếu đức tin của trẫm vẫn còn, trẫm tự khắc sẽ có được sự hiện diện của chư Tăng. Khanh cứ yên tâm mà thông báo thời gian!” — Vị đại thần liền thông báo đến 3 lần rằng: “Bạch ngài, đã đến giờ! Bạch ngài, đã đến giờ!”

Athassa bodhimātumahātissatthero taṃ saddaṃ dibbāya sotadhātuyā sutvā ‘katthāyaṃ saddo’ti taṃ āvajjento ‘‘ajja duṭṭhagāmaṇiabhayamahārājā yuddhaparājito aṭaviṃ pavisitvā nisinno ekaṃ sarakabhattaṃ cattāro koṭṭhāse kāretvā ‘ekakova na paribhuñjissāmī’ti kālaṃ ghosāpesī’’ti ñatvā ‘‘ajja mayā rañño saṅgahaṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti manogatiyā āgantvā rañño purato aṭṭhāsi. Rājā disvā pasannacitto ‘‘passa, bhātika, tissā’’ti vatvā theraṃ vanditvā ‘‘pattaṃ, bhante, dethā’’ti āha. Thero pattaṃ nīhari. Rājā attano koṭṭhāsena saddhiṃ therassa koṭṭhāsaṃ patte pakkhipitvā, ‘‘bhante, āhāraparissayo nāma mā kadāci hotū’’ti vanditvā aṭṭhāsi[46]. Tissāmaccopi ‘‘mama ayyaputte passante bhuñjituṃ na sakkhissāmī’’ti attano koṭṭhāsaṃ therasseva patte ākiri. Vaḷavāpi cintesi – ‘‘mayhampi koṭṭhāsaṃ therasseva dātuṃ vaṭṭatī’’ti. Rājā vaḷavaṃ oloketvā ‘‘ayampi attano koṭṭhāsaṃ therasseva patte pakkhipanaṃ[47] paccāsīsatī’’ti ñatvā tampi tattheva pakkhipitvā theraṃ vanditvā uyyojesi. Thero taṃ bhattaṃ ādāya gantvā ādito paṭṭhāya bhikkhusaṅghassa ālopasaṅkhepena adāsi.

Vào lúc ấy, sau khi nghe được âm thanh ấy bằng Thiên nhĩ giới Trưởng lão Bodhimātumahātissa hướng tâm đến âm thanh ấy (nghĩ) rằng: ‘Âm thanh này ở đâu?’ Sau khi biết rằng: “Hôm nay Đại vương Duṭṭhagāmaṇī Abhaya sau khi thất bại ở chiến trận, đã đi vào rừng rồi ngồi xuống (và) cho chia phần vật thực duy nhất thành 4 phần; (nghĩ rằng): “Trẫm sẽ không thọ dụng một mình’ mới cho thông báo giờ thọ thực.’ — (Trưởng lão nghĩ rằng): “Hôm nay ta nên thực hiện việc tiếp độ đức vua”, sau khi đi đến bằng ý rồi đã đứng ngay trước mặt đức vua. Đức vua sau khi nhìn thấy vị Trưởng lão liền sanh tâm tịnh tín, liền nói với viên đại thần: “Này khanh Tissa, khanh đã thấy chưa!” Sau khi đảnh lễ Trưởng lão, đức vua đã nói rằng: “Kính bạch Ngài, xin Ngài hãy ban cho bình bát.” — Trưởng lão đã đưa bát ra, đức vua đã đặt phần chia dành cho Trưởng lão cùng với phần ăn của mình vào trong bình bát, rồi nói rằng: “Kính bạch Ngài, mong rằng sự khó khăn về vật thực hãy đừng xảy ra trong bất kỳ thời điểm nào!’ Sau đó, đức vua đảnh lễ rồi đã đứng một bên. Viên đại thần Tissa nghĩ rằng: “Khi bậc quân chủ của ta đang đứng nhìn, ta sẽ không thể thọ dụng được,” cũng đã đặt phần ăn của mình vào bình bát của Trưởng lão. Ngay cả con lừa cũng nghĩ rằng: “Thậm chí cả ta cũng nên dâng phần của mình cho vị Trưởng lão.” Đức vua nhìn con lừa đã biết được rằng: “Ngay cả con lừa này cũng mong muốn dâng phần của nó vào bình bát của Trưởng lão,” nên đã đặt luôn phần ăn của nó vào bình bát, sau khi đảnh lễ đã tiễn Trưởng lão đi. Sau khi nhận lấy phần vật thực ấy vị Trưởng lão đã ra đi và đã dâng đến Hội chúng Tỳ-khưu lần lượt bằng việc chia thành từng miếng nhỏ.

Rājāpi cintesi – ‘‘ativiyamhā jighacchitā, sādhu vatassa sace atirekabhattasitthāni pahiṇeyyā’’ti[48]. Thero rañño cittaṃ ñatvā atirekabhattaṃ etesaṃ yāpanamattaṃ katvā pattaṃ ākāse khipi, patto āgantvā rañño hatthe patiṭṭhāsi. Bhattaṃ tiṇṇampi janānaṃ yāvadatthaṃ ahosi. Atha rājā pattaṃ dhovitvā ‘‘tucchapattaṃ na pesissāmī’’ti uttarisāṭakaṃ mocetvā udakaṃ puñchitvā sāṭakaṃ[49] patte ṭhapetvā ‘‘patto gantvā mama ayyassa hatthe patiṭṭhātū’’ti ākāse khipi. Patto gantvā therassa hatthe patiṭṭhāsi.

Đức vua suy nghĩ: “Chúng ta đói quá rồi! Lành thay nếu ngài Trưởng lão có thể gửi lại phần vật thực còn dư.” Sau khi biết được suy nghĩ của đức vua, Trưởng lão đã biến hóa phần vật thực còn lại vừa đủ cho những người ấy duy trì mạng sống, rồi mới tung bình bát lên không trung. Bình bát đã đi đến và đáp vào tay của đức vua. Phần vật thực trong bình bát cũng vừa đủ để cả 3 người (đức vua, đại thần Tissa và con ngựa) duy trì sự sống. Sau đó, đức vua rửa sạch bình bát rồi nghĩ rằng: “Ta sẽ không gửi trả lại bình bát rỗng không,” nên mới cởi chiếc áo choàng của mình ra, giặt sạch rồi đặt chiếc áo choàng vào trong bình bát, (phát nguyện rằng) — “Nguyện cho chiếc bình bát này hãy được đặt vào bàn tay ngài Trưởng lão của chúng con!” rồi tung bình bát vào trong không trung. Bình bát đã đi đến và đáp vào tay của Trưởng lão.

Aparabhāge rañño tathāgatassa sarīradhātūnaṃ aṭṭhamabhāgaṃ patiṭṭhāpetvā vīsaratanasatikaṃ mahācetiyaṃ kārentassa apariniṭṭhiteyeva cetiye kālakiriyāsamayo anuppatto. Athassa mahācetiyassa dakkhiṇapasse nipannassa pañcanikāyavasena bhikkhusaṅghe sajjhāyaṃ karonte chahi devalokehi cha rathā āgantvā purato ākāse aṭṭhaṃsu. Rājā ‘‘puññapotthakaṃ āharathā’’ti ādito paṭṭhāya puññapotthakaṃ vācāpesi. Atha naṃ kiñci kammaṃ na paritosesi. So ‘‘parato[50] vācethā’’ti āha. Potthakavācako ‘‘cūḷaṅgaṇiyayuddhe parājitena te deva aṭaviṃ pavisitvā nisinnena ekaṃ sarakabhattaṃ cattāro koṭṭhāse kāretvā bodhimātumahātissattherassa bhikkhā dinnā’’ti āha. Rājā ‘‘ṭhapehī’’ti vatvā bhikkhusaṅghaṃ pucchi, ‘‘bhante, kataro devaloko ramaṇīyo’’ti? Sabbabodhisattānaṃ vasanaṭṭhānaṃ tusitabhavanaṃ mahārājāti. Rājā kālaṃ katvā tusitabhavanato āgataratheva patiṭṭhāya tusitabhavanaṃ agamāsi. Idaṃ balavakammassa vipākadāne vatthu.

Về sau, khi đức vua cho xây dựng ngôi đại bảo tháp cao 120 hắc-tay tôn trí xá-lợi phần thứ tám của Đức Như Lai, nhưng khi công trình ngôi đại bảo tháp vẫn chưa hoàn thành thì giờ phút băng hà của ngài đã cận kề. Lúc ấy, trong khi Hội chúng Tỳ-khưu đang tụng đọc cả 5 bộ Kinh dâng lên đức vua, vị đang ngài nằm ở hướng nam của ngôi đại bảo tháp, thì 6 chiếc xe từ 6 cõi Trời đã đến và dừng lại xếp theo thứ tự trên không trung ngay trước mặt đức vua. Đức vua liền truyền lệnh: “Các khanh hãy mang cuốn sách ghi chép về phước báu đến đây!” rồi ra lệnh đọc lên nội dung cuốn sách ghi chép về phước báu ấy từ dòng đầu tiên. Tuy nhiên, không có bất cứ hành động nào làm cho ngài vừa lòng. Ngài liền ra lệnh: “Hãy đọc tiếp đi!” Người đọc lại đọc tiếp rằng: “Tâu Bệ hạ, khi ngài bị bại trận trong trận chiến ở Cūḷaṅgaṇiya, đã đi vào rừng sâu, ngồi xuống rồi cúng dường phần ăn đến Trưởng lão Bodhiyāmālaka Mahātissa bằng việc chia phân vật thực duy nhất làm 4 phần. Đức vua liền ra lệnh “hãy dừng”, rồi hỏi chư Tăng rằng: “Bạch các ngài, cõi Trời nào là thú vị nhất?” — Chư Tăng nói rằng: “Tâu Đại vương, cung trời Đâu Suất là nơi cư ngụ của tất cả các vị Bồ-tát.” Sau khi băng hà, đức vua đã đứng ở ngay trong chính chiếc xe được đưa đến từ cõi Đâu Suất và đã đi đến cõi trời Đâu Suất. Đây là câu chuyện (minh họa) trong việc trổ quả của nghiệp có sức mạnh.

Yaṃ pana kusalākusalesu āsannamaraṇe anussarituṃ sakkoti, taṃ yadāsannaṃ nāma. Tadetaṃ yathā nāma gogaṇaparipuṇṇassa vajassa dvāre vivaṭe parabhāge dammagavabalavagavesu santesupi yo vajadvārassa āsanno hoti antamaso dubbalajaraggavopi, so eva paṭhamataraṃ nikkhamati, evameva aññesu kusalākusalesu santesupi maraṇakālassa āsannattā vipākaṃ deti.

Hơn nữa, trong số tất cả các thiện nghiệp và bất thiện nghiệp, nghiệp nào có khả năng làm cho nhớ đến vào lúc sắp từ trần, nghiệp đó gọi là cận tử nghiệp. Điều này giống như khi mở cửa một chuồng bò có nhiều con bò, trong số những con bò được huấn luyện và những con bò khỏe mạnh đang đứng ở những vị trí khác (xa cửa chuồng), thì con bò nào ở gần cửa chuồng nhất, cho dù là con bò già và yếu sức đi chăng nữa thì con bò đó cũng sẽ đi ra ngoài trước; cũng tương tự y như vậy, khi tất cả các thiện nghiệp và bất thiện nghiệp khác vẫn còn tồn tại, (nghiệp ấy) sẽ cho quả (trước) vì tính chất gần kề với thời điểm cận tử.

Tatrimāni vatthūni – madhuaṅgaṇagāme kira eko damiḷadovāriko pātova baḷisaṃ ādāya gantvā macche vadhitvā tayo koṭṭhāse katvā ekena taṇḍulaṃ gaṇhāti, ekena dadhiṃ, ekaṃ pacati. Iminā nīhārena paññāsa vassāni pāṇātipātakammaṃ[51] katvā aparabhāge mahallako anuṭṭhānaseyyaṃ upagacchati[52]. Tasmiṃ khaṇe girivihāravāsī cūḷapiṇḍapātikatissatthero ‘‘mā ayaṃ satto mayi passante nassatū’’ti gantvā tassa gehadvāre aṭṭhāsi. Athassa bhariyā, ‘‘sāmi, thero āgato’’ti ārocesi. Ahaṃ paññāsa vassāni therassa santikaṃ na gatapubbo, katarena me guṇena thero āgamissati, gacchāti naṃ vadathāti. Sā ‘‘aticchatha, bhante’’ti āha. Thero ‘‘upāsakassa kā sarīrappavattī’’ti pucchi. Dubbalo, bhanteti. Thero gharaṃ pavisitvā satiṃ uppādetvā ‘‘sīlaṃ gaṇhissasī’’ti āha. Āma, bhante, dethāti. Thero tīṇi saraṇāni datvā pañca sīlāni dātuṃ ārabhi. Tassa pañca sīlānīti vacanakāleyeva jivhā papati[53]. Thero ‘‘vaṭṭissati ettaka’’nti nikkhamitvā gato. Sopi kālaṃ katvā cātumahārājikabhavane nibbatti. Nibbattakkhaṇeyeva ca ‘‘kiṃ nu kho kammaṃ katvā mayā idaṃ laddha’’nti āvajjento theraṃ nissāya laddhabhāvaṃ ñatvā devalokato āgantvā theraṃ vanditvā ekamantaṃ[54] aṭṭhāsi. ‘‘Ko eso’’ti ca vutte ‘‘ahaṃ, bhante, damiḷadovāriko’’ti āha. Kuhiṃ nibbattosīti? Cātumahārājikesu, bhante, sace me ayyo pañca sīlāni adassa, upari devaloke nibbatto assaṃ. Ahaṃ kiṃ karissāmi, tvaṃ gaṇhituṃ nāsakkhi, puttakāti. So theraṃ vanditvā devalokameva gato. Idaṃ tāva kusalakamme vatthu.

Ở đây, có câu chuyện như sau — Kể rằng tại làng Madhuaṅgaṇa, có một người gác cổng thuộc tộc Damiḷa mỗi sáng sớm đều mang cần câu đi. Sau khi câu được cá, liền chia làm 3 phần— một phần dùng đổi lấy gạo, một phần đổi lấy sữa, còn một phần nấu canh. Ông đã làm công việc sát hai sanh mạng theo cách này suốt 50 năm, về sau khi tuổi già sức yếu, ông đã nằm bất động trên giường. Vào thời điểm ấy, Trưởng lão Cūḷapiṇḍapātika Tissa cư ngụ tại Tịnh xá Giri, nghĩ rằng: “Chúng sanh này khi ta còn nhìn thấy hãy đừng bị diệt vong”, rồi đã đi đến và đứng trước cửa nhà của ông. Lúc ấy, vợ của ông ấy mới nói rằng: “Này ông! Trưởng lão đã đến.” — Ông đáp: “Suốt 50 năm qua, tôi chưa từng đến trú xứ của Trưởng lão, do đức hạnh gì của tôi mà ngài phải đến? Bà hãy mời ngài đi nơi khác. — Bà đã nói với Trương lão rằng: “Bạch ngài, mời ngài hãy đi cho.” — Trưởng lão hỏi rằng: “Này bà tín nữ, tình trạng thân thể của ông thiện nam ra sao?” — Bà đáp: “Đã yếu lắm, thưa ngài.” Sau khi đi vào nhà của gia chủ, Trưởng lão đã làm cho niệm sanh khởi, rồi nói rằng: “Này ông thiện nam, ông sẽ giữ giới chứ?” — “Dạ vâng, thưa ngài, xin Ngài hãy truyền giới cho con.” — Trưởng lão truyền Tam Quy (Ba phép nương nhờ: nương nhờ Phật, Pháp, Tăng), rồi bắt đầu truyền Ngũ giới. Ngay trong chính khoảnh khắc mà ông ấy nói ‘ngũ giới’, cái lưỡi của ông đã bị cứng lại. Trưởng lão nghĩ rằng: “Chỉ chừng ấy cũng vừa đủ”, rồi đi ra ngoài. Sau khi mệnh chung ông ấy được tái sinh vào cõi Trời Tứ Đại Thiên Vương. Và ngay chính trong khoảnh khắc được sanh ra, vị ấy suy xét: “Ta đã tạo nghiệp gì mà lại đạt được sự thành tựu này?” Biết được rằng: do nhờ sự nâng đỡ của Trưởng lão, vị ấy đã từ cõi Trời xuống đảnh lễ Trưởng lão rồi đứng ở một bên. Khi Trưởng lão hỏi: “Ai đó?” — Vị ấy đáp: “Bạch ngài, con là người gác cổng thuộc tộc Damiḷa.” — Trưởng lão hỏi: “Vậy ông đã sanh về đâu?” — Vị ấy đáp: “Bạch Ngài, con đã tái sinh vào cõi Trời Tứ Đại Thiên Vương.” Giá như ngài truyền trọn vẹn ngũ giới cho con thì có lẽ con đã được sanh vào tầng Trời cao hơn. Con sẽ làm thế nào? — Trưởng lão đáp: “Này Thiên tử, bản thân ông không thể thọ nhận thôi.” Vị ấy đã đảnh lễ Trưởng lão rồi trở về lại cõi Trời. Đây là câu chuyện (minh họa) trong thiện nghiệp (trổ quả) trước.

Antaragaṅgāya pana mahāvācakālaupāsako nāma ahosi. So tiṃsa vassāni sotāpattimaggatthāya dvattiṃsākāraṃ sajjhāyitvā ‘‘ahaṃ evaṃ dvattiṃsākāraṃ sajjhāyanto obhāsamattampi nibbattetuṃ nāsakkhiṃ, buddhasāsanaṃ aniyyānikaṃ bhavissatī’’ti diṭṭhivipallāsaṃ patvā kālakiriyaṃ katvā mahāgaṅgāya navausabhiko susumārapeto hutvā nibbatti. Ekaṃ samayaṃ kacchakatitthena saṭṭhi pāsāṇatthambhasakaṭāni agamaṃsu. So sabbepi te goṇe ca pāsāṇe ca khādi. Idaṃ akusalakamme vatthu.

Ngoài ra, ở giữa dòng sông Gaṅgā, có một thiện nam tên là Mahāvātakāḷa. ông đã trì tụng/quán chiếu 32 thể trược (32 chi phần của cơ thể) nhằm mục đích hướng đến Đạo Nhập Lưu suốt 30 năm (nhưng) lại đạt đến ‘sự lầm lạc của kiến’ rằng: “Ta đã trì tụng 32 thể trược như thế này mà vẫn không thể làm cho phát sanh dù chỉ một chút ánh sáng; có lẽ Phật giáo sẽ không phải là Giáo pháp dẫn dắt chúng sanh ra khỏi các Hữu.” Sau khi mệnh chung, ông đã bị tái sanh làm một con cá sấu con dài 9 usabha ở dòng sông Maha-Gaṅgā. Một lần nọ, đoàn xe bò chở 60 cột đá di chuyển qua bến Kacchaka, con cá sấu đó đã táp nuốt chửng hết toàn bộ cả bò lẫn những cột đá ấy. Đây là câu chuyện (minh họa) trong bất thiện nghiệp (cho kết quả vào thời khắc cận tử).

Etehi pana tīhi muttaṃ aññāṇavasena kataṃ kaṭattā vā pana kammaṃ nāma. Taṃ yathā nāma[55] ummattakena khittadaṇḍaṃ yattha vā tattha vā gacchati, evameva tesaṃ abhāve yattha katthaci vipākaṃ deti.

Còn loại nghiệp nằm ngoài 3 loại nghiệp đã đề cập ở trên (Trọng nghiệp, nghiệp thường cận và cận tử nghiệp), là những nghiệp đã làm do không biết/không cố ý được gọi là Khinh thiểu nghiệp/nghiệp đã từng tạo. Điều đó giống như một khúc gỗ được quăng đi bởi người điên, nó sẽ rơi xuống chỗ này hoặc chỗ nọ (không có mục đích). Tương tự y như vậy, khinh thiểu nghiệp ấy cho kết quả ở một kiếp nào đó do không có 3 loại nghiệp kia.

Janakaṃ nāma ekaṃ paṭisandhiṃ janetvā pavattiṃ na janeti, pavatte aññaṃ kammaṃ vipākaṃ nibbatteti. Yathā hi mātā janetiyeva, dhātiyeva pana jaggati; evamevaṃ mātā viya paṭisandhinibbattakaṃ janakakammaṃ, dhāti viya pavatte sampattakammaṃ[56]. Upatthambhakaṃ nāma kusalepi labbhati akusalepi. Ekacco hi kusalaṃ katvā sugatibhave nibbattati. So tattha ṭhito punappunaṃ kusalaṃ katvā taṃ kammaṃ upatthambhetvā anekāni vassasatasahassāni sugatibhavasmiṃyeva vicarati. Ekacco akusalaṃ katvā duggatibhave nibbattati. So tattha ṭhito punappunaṃ akusalaṃ katvā taṃ kammaṃ upatthambhetvā bahūni vassasatasahassāni duggatibhavasmiṃyeva vicarati.

Nghiệp chỉ làm sanh khởi sự tiếp nối (tái sanh) mà không làm cho sanh khởi trong thời bình nhật, còn nghiệp khác lại cho kết quả trong thời bình nhật thì được gọi là Sanh nghiệp (nghiệp trợ cho quả sanh). Giống như người mẹ chỉ sinh ra đứa trẻ, còn chính vú nuôi thì nuôi dưỡng; cũng tương tự y như vậy, sanh nghiệp làm cho sanh khởi sự tiếp nối (tái sanh) giống như người mẹ, còn nghiệp thành tựu trong thời bình nhật thì giống như người vú nuôi. Thông thường, nghiệp hỗ trợ có được cả ở thiện lẫn ở bất thiện. Bởi vì, có một số người sau khi đã làm tạo thiện nghiệp rồi sanh vào chốn an vui; Vị ấy trong khi an trú ở tại đó đã thường xuyên tạo thiện nghiệp trợ giúp cho nghiệp ấy (và) luân chuyển ở chính chốn an vui ấy suốt nhiều trăm ngàn năm. Còn có một số người sau khi đã tạo bất thiện nghiệp rồi sanh vào cõi khổ; người ấy trong khi an trú ở đó đã thường xuyên tạo bất thiện nghiệp trợ giúp cho nghiệp ấy, và luân chuyển ở chính cõi khổ ấy suốt nhiều trăm ngàn năm.

Aparo nayo – janakaṃ nāma kusalampi hoti akusalampi. Taṃ paṭisandhiyampi pavattepi rūpārūpavipākakkhandhe janeti. Upatthambhakaṃ pana vipākaṃ janetuṃ na sakkoti, aññena kammena dinnāya paṭisandhiyā janite vipāke uppajjanakasukhadukkhaṃ upatthambheti, addhānaṃ pavatteti. Upapīḷakaṃ nāma aññena kammena dinnāya paṭisandhiyā janite vipāke uppajjanakasukhadukkhaṃ pīḷeti bādheti, addhānaṃ pavattituṃ na deti. Tatrāyaṃ nayo – kusalakamme vipaccamāne akusalakammaṃ upapīḷakaṃ hutvā tassa vipaccituṃ na deti. Akusalakamme vipaccamāne kusalakammaṃ upapīḷakaṃ hutvā tassa vipaccituṃ na deti. Yathā vaḍḍhamānakaṃ rukkhaṃ vā gacchaṃ vā lataṃ vā kocideva daṇḍena vā satthena vā bhindeyya vā chindeyya vā, atha so rukkho vā gaccho vā latā vā vaḍḍhituṃ na sakkuṇeyya; evamevaṃ kusalaṃ vipaccamānaṃ akusalena upapīḷitaṃ, akusalaṃ vā pana vipaccamānaṃ kusalena upapīḷitaṃ vipaccituṃ na sakkoti. Tattha sunakkhattassa[57] akusalakammaṃ kusalaṃ upapīḷesi, coraghātakassa kusalakammaṃ akusalaṃ upapīḷesi.

Mặc khác — Cả thiện nghiệp lẫn bất thiện nghiệp đều được gọi là sanh nghiệp. Sanh nghiệp ấy làm cho sanh khởi các uẩn quả thuộc Sắc (Sắc uẩn) và Vô sắc (Danh uẩn) cả trong thời tái tục và cả trong thời bình nhật. Còn nghiệp hỗ trợ thì không có khả năng làm cho sanh khởi quả thành tựu, nhưng nghiệp ấy sẽ trợ giúp lạc khổ được sanh khởi do quả thành tựu làm cho sanh lên bởi sự tiếp nối mà nghiệp khác cho quả, được duy trì lâu dài. Nghiệp có đặc tính là áp bức, làm trở ngại đến lạc khổ được sanh khởi do quả thành tựu làm cho sanh lên bởi sự tiếp nối mà nghiệp khác cho quả, không được duy trì lâu dài thì được gọi là chướng nghiệp/nghiệp làm trở ngại. Ở đây, điều này có phương cách như sau — Khi thiện nghiệp đang cho quả, bất thiện nghiệp là chướng ngại không cho thiện nghiệp đó trổ quả. Ngay cả khi bất thiện nghiệp đó đang cho quả, thiện nghiệp là chướng ngại không cho bất thiện nghiệp đó trổ quả. Giống như thân cây, bụi cây hay dây leo đang phát triển, có ai đó lấy khúc gỗ đập vào hoặc dùng dao chặt đứt; khi ấy, thân cây, bụi cây hay dây leo đó không còn khả năng phát triển nữa; cũng tương tự y như vậy, thiện nghiệp khi đang cho quả nhưng bị bất thiện nghiệp làm trở ngại, hoặc khi bất thiện nghiệp đang trổ quả nhưng bị thiện nghiệp làm trở ngại thì sẽ không thể trổ quả. Trong hai trường hợp ấy, đối với Sunakkhatta, bất thiện nghiệp được gọi là làm trở ngại thiện nghiệp; còn đối với Coraghātaka, thiện nghiệp được gọi là làm trở ngại bất thiện nghiệp.

Rājagahe kira vātakāḷako paññāsa vassāni coraghātakammaṃ akāsi. Atha naṃ rañño ārocesuṃ – ‘‘deva, vātakāḷako mahallako core ghātetuṃ na sakkotī’’ti. ‘‘Apanetha naṃ tasmā ṭhānantarāti. Amaccā naṃ apanetvā aññaṃ tasmiṃ ṭhāne ṭhapayiṃsu. Vātakāḷakopi yāva taṃ kammaṃ akāsi, tāva ahatavatthāni vā acchādituṃ surabhipupphāni vā piḷandhituṃ pāyāsaṃ vā bhuñjituṃ ucchādananhāpanaṃ vā paccanubhotuṃ nālattha. So ‘‘dīgharattaṃ me kiliṭṭhavesena carita’’nti ‘‘pāyāsaṃ me pacāhī’’ti bhariyaṃ āṇāpetvā nhānīyasambhārāni gāhāpetvā nhānatitthaṃ gantvā sīsaṃ nhatvā ahatavatthāni acchādetvā gandhe vilimpitvā pupphāni piḷandhitvā gharaṃ āgacchanto sāriputtattheraṃ disvā ‘‘saṃkiliṭṭhakammato camhi apagato, ayyo ca me diṭṭho’’ti tuṭṭhamānaso theraṃ gharaṃ netvā navasappisakkaracuṇṇābhisaṅkhatena pāyāsena parivisi.

Kể rằng, ông Vātakāḷaka đã thực hiện xử tử bọn trộm cướp (đao phủ) suốt 50 năm trong thành Rājagaha. Sau đó, các cận thần đã tâu trình với đức vua rằng: “Tâu Bệ hạ, ông Vātakāḷaka giờ đã già yếu, không còn đủ sức để xử tử bọn trộm cướp nữa.” Đức vua liền truyền lệnh: “Các khanh hãy bãi nhiệm ông ta khỏi vị trí ấy, các quan đại thần sau khi bãi nhiệm ông ta và đã bổ nhiệm người khác vào vị trí đó. Về phần Vātakāḷaka, suốt thời gian làm công việc ấy, ông chưa từng được mặc một chiếc áo mới, không được trang sức bằng vật thơm và đeo những bông hoa, không được thọ dụng món cháo sữa, cũng không được kinh qua việc kỳ cọ và tắm gọi. Ông ta nghĩ rằng: “Ta đã sống với hình tướng của kẻ dơ bẩn trong thời gian dài,” nên mới bảo vợ nấu món cháo sữa, mang theo các dụng cụ để tắm gội đi đến bến sông. Sau khi gội đầu, mặc trang phục mới, thoa vật thơm và cài những bông hoa. Trên đường trở về nhà, ông đã nhìn thấy Trưởng lão Sāriputta, với tâm tư mừng rỡ (nghĩ rằng): “Ta đã thoát khỏi nghiệp không thanh tịnh và còn được gặp gỡ ngài đại đức của ta nữa.” Ông liền thỉnh mời Trưởng lão về tư gia rồi phục vụ (ngài) bằng món cháo sữa được trộn với bơ lỏng, bơ đặc và đường phèn.

Thero tassa anumodanamakāsi. So anumodanaṃ sutvā anulomikakhantiṃ paṭilabhitvā theraṃ anugantvā nivattamāno antarāmagge taruṇavacchāya gāviyā madditvā jīvitakkhayaṃ pāpito gantvā tāvatiṃsabhavane nibbatti. Bhikkhū tathāgataṃ pucchiṃsu – ‘‘bhante, coraghātako ajjeva kiliṭṭhakammato apanīto, ajjeva kālaṅkato, kahaṃ nu kho nibbatto’’ti? Tāvatiṃsabhavane, bhikkhaveti. Bhante, coraghātako dīgharattaṃ purise ghātesi, tumhe ca evaṃ vadetha, natthi nu kho pāpakammassa phalanti. Mā, bhikkhave, evaṃ avacuttha, balavakalyāṇamittūpanissayaṃ labhitvā dhammasenāpatissa piṇḍapātaṃ datvā anumodanaṃ sutvā anulomikakhantiṃ paṭilabhitvā so tattha nibbattoti.

‘‘Subhāsitaṃ suṇitvāna, nāgariyo[58] coraghātako;
          Anulomakhantiṃ laddhāna, modatī tidivaṃ gato’’ti.

Trưởng lão đã thể hiện lời tùy hỷ (phước báu) đến ông. Sau khi nghe lời tùy hỷ (phước báu), ông đã đạt được sự nhẫn nại phù hợp (anulomikakhanti – quả vị Nhập Lưu). Sau khi theo tiễn chân Trưởng lão, trong khi quay trở về trên đường đi ông đã bị một con cái với con bê non húc ngã dẫn đến chấm dứt mạng sống, rồi được sanh lên cung trời Đao Lợi. Các vị Tỳ-khưu đã hỏi Như Lai: “Bạch ngài, vào ngày hôm nay người xử tử bọn trộm cướp ấy đã được đưa ra khỏi nghiệp không thanh tịnh, và ông ấy cũng đã mệnh chung trong ngày hôm nay, vậy ông ấy đã sanh về đâu?” – Này các Tỳ-khưu, ở cung trời Đao Lợi. – Bạch ngài, người xử tử bọn trộm cướp ấy đã giết người trong suốt thời gian dài, và ngài cũng dạy như vậy, lẽ nào không có quả báo của ác nghiệp? — Này các tỳ-khưu, các ông chớ nói như vậy, người xử tử bọn trộm cướp ấy được bậc Thiện trí thức có uy lực lớn làm duyên hỗ trợ, sau khi dâng cúng đồ ăn khất thực đến vị Tướng quân Chánh pháp đã được nghe lời tùy hỷ mà đạt được sự nhẫn nại phù hợp (anulomikakhanti – quả vị Nhập Lưu), nên mới được tái sanh vào cõi ấy.

“Sau khi lắng nghe lời thiện thuyết, người xử tử bọn trộm cướp trong thành phố đã đạt được sự nhẫn nại phù hợp (anulomikakhanti – quả vị Nhập Lưu), (ông ấy) hân hoan đi về cõi Trời.”

Upaghātakaṃ pana sayaṃ kusalampi akusalampi samānaṃ aññaṃ dubbalakammaṃ ghātetvā tassa vipākaṃ paṭibāhitvā attano vipākassa okāsaṃ karoti. Evaṃ pana kammena kate okāse taṃ vipākaṃ uppannaṃ nāma vuccati. Upacchedakantipi etasseva nāmaṃ. Tatrāyaṃ nayo – kusalakammassa vipaccanakāle ekaṃ akusalakammaṃ uṭṭhāya taṃ kammaṃ chinditvā pāteti. Akusalakammassapi vipaccanakāle ekaṃ kusalakammaṃ uṭṭhāya taṃ kammaṃ chinditvā pāteti. Idaṃ upacchedakaṃ nāma. Tattha ajātasattuno kammaṃ kusalacchedakaṃ ahosi, aṅgulimālattherassa akusalacchedakanti. Evaṃ suttantikapariyāyena ekādasa kammāni vibhattāni.

Còn Đoạn nghiệp dù là thiện hoặc bất thiện tự nó tồn tại cắt đứt các nghiệp khác có lực yếu hơn, ngăn chặn quả thành tựu của nghiệp ấy và tạo cơ hội cho quả thành tựu của chính nó. Hơn nữa, khi nghiệp tạo ra cơ hội như vậy, nghiệp ấy được gọi là đã cho ra kết quả. Chính Đoạn nghiệp này đây cũng được gọi là nghiệp cắt đứt (nghiệp khác). Ở đây, nghiệp này có cách thức (giải thích) như sau— Vào thời điểm thiện nghiệp trổ quả, một bất thiện nghiệp nào đó đã sanh khởi cắt đứt thiện nghiệp ấy và làm cho rơi xuống. Tương tự, vào thời điểm bất thiện nghiệp trổ quả, một thiện nghiệp nào đó cũng đã sanh khởi cắt đứt bất thiện nghiệp đó và làm cho rơi xuống. Đây gọi là Đoạn nghiệp. Ở đấy, nghiệp của Vua Ajātasattu là nghiệp bất thiện cắt đứt thiện nghiệp. Còn nghiệp của Trưởng lão Aṅgulimāla là nghiệp thiện cắt đứt bất thiện nghiệp. Như vậy, ngài đã phân chia thành 11 loại nghiệp theo phương thức của Kinh Tạng.

Abhidhammapariyāyena pana soḷasa kammāni vibhattāni, seyyathidaṃ – ‘‘atthekaccāni pāpakāni kammasamādānāni gatisampattipaṭibāḷhāni na vipaccanti, atthekaccāni pāpakāni kammasamādānāni upadhisampattipaṭibāḷhāni na vipaccanti, atthekaccāni pāpakāni kammasamādānāni kālasampattipaṭibāḷhāni na vipaccanti, atthekaccāni pāpakāni kammasamādānāni payogasampattipaṭibāḷhāni na vipaccanti. Atthekaccāni pāpakāni kammasamādānāni gativipattiṃ āgamma vipaccanti, upadhivipattiṃ, kālavipattiṃ, payogavipattiṃ āgamma vipaccanti. Atthekaccāni kalyāṇāni kammasamādānāni gativipattipaṭibāḷhāni na vipaccanti, upadhivipatti, kālavipatti, payogavipattipaṭibāḷhāni na vipaccanti. Atthekaccāni kalyāṇāni kammasamādānāni gatisampattiṃ āgamma vipaccanti, upadhisampattiṃ, kālasampattiṃ, payogasampattiṃ āgamma vipaccantī’’ti (vibha. 810)

Còn theo phương thức của Tạng Abhidhamma, ngài đã phân chia thành 16 loại nghiệp, là—  (1) có sự thọ trì một số ác nghiệp bị cản trở bởi sanh thú thuận lợi (sự thành tựu về cõi tái sanh) không cho quả, (2) có sự thọ trì một số ác nghiệp bị cản trở bởi sanh y thuận lợi (sự thành tựu về bản thể của sự tái sanh) không cho quả, (3) có sự thọ trì một số ác nghiệp bị cản trở bởi thời kỳ thuận lợi (sự thành tựu về thời kỳ) không cho quả, (4) có sự thọ trì một số ác nghiệp bị cản trở bởi việc thực hành thuận lợi (sự thành tựu về việc thực hành) không cho quả, (5) có sự thọ trì một số ác nghiệp y cứ vào sanh thú bất lợi (sự hư hỏng về cõi tái sanh) không cho quả, (6) có sự thọ trì một số ác nghiệp y cứ vào sanh y bất lợi (sự hư hỏng về bản thể của sự tái sanh) không cho quả, (7) có sự thọ trì một số ác nghiệp y cứ vào thời kỳ bất lợi (sự hư hỏng về thời kỳ) không cho quả, (8) có sự thọ trì một số ác nghiệp y cứ vào việc thực hành bất lợi (sự hư hỏng về việc thực hành) không cho quả, (9) có sự thọ trì một số thiện nghiệp bị cản trở bởi sanh thú bất lợi (sự hư hỏng về cõi tái sanh) không cho quả, (10) có sự thọ trì một số thiện nghiệp bị cản trở bởi sanh y bất lợi (sự hư hỏng về bản thể của sự tái sanh) không cho quả, (11) có sự thọ trì một số thiện nghiệp bị cản trở bởi thời kỳ bất lợi (sự hư hỏng về thời kỳ)  không cho quả, (12) có sự thọ trì một số thiện nghiệp bị cản trở bởi việc thực hành bất lợi (sự hư hỏng về hành vi) không cho quả, (13) có sự thọ trì một số thiện nghiệp y cứ vào sanh thú thuận lợi (sự thành tựu về cõi tái sanh) cho quả, (14) có sự thọ trì một số thiện nghiệp y cứ vào sanh y thuận lợi (sự thành tựu về bản thể của sự tái sanh) cho quả, (15) có sự thọ trì một số thiện nghiệp y cứ vào thời kỳ thuận lợi (sự thành tựu về thời kỳ) cho quả, (16) có sự thọ trì một số thiện nghiệp y cứ vào việc thực hành thuận lợi (sự thành tựu về việc thực hành) cho quả.[59]

Tattha pāpakānīti lāmakāni. Kammasamādānānīti kammaggahaṇāni. Gahitasamādinnānaṃ kammānametaṃ adhivacanaṃ. Gatisampattipaṭibāḷhāni na vipaccantītiādīsu aniṭṭhārammaṇānubhavanārahe kamme vijjamāneyeva sugatibhave nibbattassa taṃ kammaṃ gatisampattipaṭibāḷhaṃ na vipaccati nāma. Gatisampattiyā patibāhitaṃ hutvā na vipaccatīti attho. Yo pana pāpakammena dāsiyā vā kammakāriyā vā kucchiyaṃ nibbattitvā upadhisampanno hoti, attabhāvasamiddhiyaṃ tiṭṭhati. Athassa sāmikā tassa rūpasampattiṃ disvā ‘‘nāyaṃ kiliṭṭhakammassānucchaviko’’ti cittaṃ uppādetvā attano jātaputtaṃ viya[60] bhaṇḍāgārikādiṭṭhānesu ṭhapetvā sampattiṃ[61] yojetvā pariharanti. Evarūpassa kammaṃ upadhisampattipaṭibāḷhaṃ na vipaccati nāma. Yo pana paṭhama kappikakālasadise sulabhasampannarasabhojane subhikkhakāle[62] nibbattati, tassa vijjamānampi pāpakammaṃ kālasampattipaṭibāḷhaṃ na vipaccati nāma. Yo pana sammāpayogaṃ nissāya jīvati, upasaṅkamitabbayuttakāle upasaṅkamati, paṭikkamitabbayuttakāle paṭikkamati, palāyitabbayuttakāle palāyati. Lañjadānayuttakāle lañjaṃ[63] deti, corikayuttakāle corikaṃ karoti, evarūpassa pāpakammaṃ payogasampattipaṭibāḷhaṃ na vipaccati nāma.

Ở đấy, xấu ác: tội lỗi. Sự thọ trì về nghiệp/hành động: sự tiếp nhận hành động. Sự thọ trì về nghiệp này là từ biểu trưng của các nghiệp được cá nhân tiếp nhận thọ trì. Bị cản trở bởi sanh thú thuận lợi không cho quả, v.v, Khi nghiệp có sự cảm nghiệm các đối tượng bất khả ý/không được ưa thích vẫn đang hiện diện, nghiệp ấy của chúng sanh tái sanh vào chốn an vui/thiện thú được gọi là bị cản trở bởi sanh thú thuận lợi (sự thành tựu về cõi tái sanh) không cho quả. Giải thích rằng: Là nghiệp đã bị cản trở bởi sự thành tựu về cõi tái sanh không cho quả. Lại nữa, người nào sanh vào bụng của người nữ nô tỳ hoặc nữ lao công do nghiệp ác, (nhưng) là người có sanh y thuận lợi (sự thành tựu về bản thể của sự tái sanh), an trú trong sự thành tựu là vẻ đẹp của vóc dáng. Khi chủ nhân của người ấy nhìn thấy sự thành tựu về sắc tướng ấy, liền khởi lên ý nghĩ rằng: “Người này không thích hợp làm những công việc thấp kém”, rồi bổ nhiệm người đó vào vị trí người giữ kho, v.v, bàn giao tài sản rồi nuôi dưỡng như con của mình. Nghiệp của người có hình thức như vậy được gọi là bị cản trở bởi sanh y thuận lợi không cho quả. Còn người nào sanh vào thời kỳ có vật thực dễ kiếm và có hương vị thơm ngon như thời kỳ của loài người sơ kiếp, nghiệp ác của người đó dù có tồn tại cũng được gọi là bị cản trở bởi thời kỳ thuận lợi (sự thành tựu về thời kỳ) không cho quả. Còn người nào y cứ vào sự nỗ lực đúng đắn để nuôi mạng, (nhưng) đến gặp vào thời điểm nên đến gặp, rời khỏi vào thời điểm nên rời khỏi, bỏ chạy vào thời điểm nên bỏ chạy, đút lót/hối lộ (dùng tiền mua chuộc) vào thời điểm nên đưa hối lộ, hoặc thực hiện việc trộm cắp vào thời điểm nên thực hiện hành động trộm cắp, thì nghiệp ác của hạng người có hình thức như thế được gọi là bị cản trở bởi việc thực hành thuận lợi không cho quả.

Duggatibhave nibbattassa pana pāpakammaṃ gativipattiṃ āgamma vipaccati nāma. Yo pana dāsiyā vā kammakāriyā vā kucchismiṃ nibbatto dubbaṇṇo hoti dussaṇṭhāno, ‘‘yakkho nu kho manusso nu kho’’ti vimatiṃ uppādeti. So sace puriso hoti, atha naṃ ‘‘nāyaṃ aññassa kammassa anucchaviko’’ti hatthiṃ vā rakkhāpenti assaṃ vā goṇe vā, tiṇakaṭṭhādīni vā āharāpenti, kheḷasarakaṃ vā gaṇhāpenti. Sace itthī hoti, atha naṃ hatthiassādīnaṃ bhattamāsādīni vā pacāpenti, kacavaraṃ vā chaḍḍāpenti, aññaṃ vā pana jigucchanīyakammaṃ kārenti. Evarūpassa pāpakammaṃ upadhivipattiṃ āgamma vipaccati nāma. Yo pana dubbhikkhakāle vā parihīnasampattikāle vā antarakappe vā nibbattati, tassa pāpakammaṃ kālavipattiṃ āgamma vipaccati nāma. Yo pana payogaṃ sampādetuṃ na jānāti, upasaṅkamitabbayuttakāle upasaṅkamituṃ na jānāti…pe… corikayuttakāle corikaṃ kātuṃ na jānāti, tassa pāpakammaṃ payogavipattiṃ āgamma vipaccati nāma.

Còn nghiệp ác của người sanh vào khổ cảnh được gọi là y cứ vào sanh thú bất lợi (sự hư hỏng về cõi tái sanh) cho quả. Lại nữa, người nào sanh vào bụng của người nữ nô tỳ hoặc nữ lao công, có màu da xấu xí, vóc dáng không xinh xắn, khiến cho người ta khởi lên sự nghi ngờ rằng: “Phải chăng là Dạ-xoa hay là con người?” nếu người ấy là nam nhân, mọi người sẽ nghĩ rằng: “Người này không phù hợp với những công việc khác”, rồi giao cho người ấy công việc chăn nuôi voi, chăn ngựa, chăn bò, hoặc sai đi kiếm cỏ, kiếm củi, cho đổ bô vứt uế bẩn; nếu người ấy là nữ nhân, mọi người sẽ cho nấu cháo, nấu đậu cho voi, ngựa, v.v, cho đồ rác rến/đồ dơ hoặc sai làm các việc đáng ghê tởm khác. Nghiệp ác của người có hình thức như thế được gọi là y cứ vào sanh y bất lợi (sự hư hỏng về bản thể của sự tái sanh) cho quả. Còn người nào sinh vào thời kỳ vật thực khan hiếm, thời kỳ gia sản bị suy sụp, hoặc thời kỳ trung kiếp, nghiệp ác của người đó được gọi là y cứ vào thời kỳ bất lợi (sự hư hỏng về thời kỳ) cho quả. Còn người nào không biết cố gắng hoàn thành sự nỗ lực, không biết đến gặp vào thời điểm nên đến gặp … không biết thực hiện việc trộm cắp vào thời điểm nên thực hiện việc trộm cắp, nghiệp ác của hạng người đó được gọi là y cứ vào việc thực hành bất lợi (sự hư hỏng về việc thực hành) cho quả.

Yo pana iṭṭhārammaṇānubhavanārahe kamme vijjamāneyeva gantvā duggatibhave nibbattati, tassa taṃ kammaṃ gativipattipaṭibāḷhaṃ na vipaccati nāma. Yo pana puññānubhāvena rājarājamahāmattādīnaṃ gehe nibbattitvā kāṇo vā hoti kuṇī vā khañjo[64] vā pakkhahato vā, tassa oparajjasenāpatibhaṇḍāgārikaṭṭhānādīni na anucchavikānīti na denti. Iccassa taṃ puññaṃ upadhivipattipaṭibāḷhaṃ na vipaccati nāma. Yo pana dubbhikkhakāle vā parihīnasampattikāle vā antarakappe vā manussesu nibbattati, tassa taṃ kalyāṇakammaṃ kālavipattipaṭibāḷhaṃ na vipaccati nāma. Yo heṭṭhā vuttanayeneva payogaṃ sampādetuṃ na jānāti, tassa kalyāṇakammaṃ payogavipattipaṭibāḷhaṃ na vipaccati nāma.

Còn người nào khi nghiệp (thiện) có sự cảm nghiệm các đối tượng khả ý/đáng ưa thích vẫn đang hiện diện mà tái sanh vào khổ cảnh, thì thiện nghiệp đó của người ấy được gọi là bị cản trở bởi sanh thú bất lợi (sự hư hỏng về cõi tái sanh) không cho quả. Còn người nào sanh vào hoàng tộc hoặc gia đình của các viên quan đại thần do nhờ năng lực của phước báu… nhưng lại là người bị mù, bị tay quắp, bị què chân, hoặc bị bại liệt; mọi người không chấp thuận trao địa trí cho người ấy bởi vì thấy rằng người đó không phù hợp với địa vị Phó vương, Tướng quân hay viên quan giữ kho, v.v, phước báu của người ấy như đã nói đến gọi là bị cản trở bởi sanh y bất lợi (sự hư hỏng về bản thể của sự tái sanh) không cho quả. Còn người nào sanh vào thế giới loài người trong thời kỳ khan hiếm vật thực, thời kỳ gia sản suy sụp, hoặc thời kỳ trung kiếp, nghiệp thiện đó của người ấy được gọi là bị cản trở bởi thời kỳ bất lợi (sự hư hỏng về thời kỳ) không cho quả. Còn người nào không biết cố gắng hoàn thành sự nỗ lực đúng theo phương thức đã được nói ở phần trước, nghiệp thiện của người ấy được gọi là bị bị cản trở bởi việc thực hành bất lợi (sự hư hỏng về việc thực hành) không cho quả.

Kalyāṇakammena pana sugatibhave nibbattassa taṃ kammaṃ gatisampattiṃ āgamma vipaccati nāma. Rājarājamahāmattādīnaṃ kule nibbattitvā upadhisampattiṃ pattassa[65] attabhāvasamiddhiyaṃ ṭhitassa devanagare samussitaratanatoraṇasadisaṃ attabhāvaṃ disvā ‘‘imassa oparajjasenāpatibhaṇḍāgārikaṭṭhānādīni anucchavikānī’’ti daharasseva sato tāni ṭhānantarāni denti, evarūpassa kalyāṇakammaṃ upadhisampattiṃ āgamma vipaccati nāma. Yo paṭhamakappikesu vā sulabhannapānakāle vā nibbattati, tassa kalyāṇakammaṃ kālasampattiṃ āgamma vipaccati nāma. Yo vuttanayeneva payogaṃ sampādetuṃ jānāti, tassa kammaṃ payogasampattiṃ āgamma vipaccati nāma. Evaṃ abhidhammapariyāyena soḷasa kammāni vibhattāni.

Nhưng nghiệp đó của hạng người được sanh vào chốn an vui (thiện thú) do nhờ nghiệp thiện gọi là y cứ vào sanh thú thuận lợi trổ quả. Sau khi khi nhìn thấy bản thân của người được sanh ra trong hoàng gia hoặc gia đình các viên quan đại thần, v.v… đạt đến sự thành tựu về bản thể của sự tái sanh — tức là an trú trong sự sung túc của bản thân, giống như cổng vào bằng ngọc quý được dựng lên ở thành phố chư Thiên, liền nhận thấy rằng: “Người này phù hợp với vị trí Phó vương, Tướng quân hoặc viên quan giữ kho, v.v… Mặc dù người ấy vẫn còn trẻ, vẫn được trao cho các địa trí ấy. Nghiệp thiện của hạng người có hình thức như vậy gọi là y cứ vào sanh y thuận lợi (sự thành tựu về bản thể của sự tái sanh) trổ quả. Người nào sanh vào thời kỳ sơ kiếp hoặc vào thời kỳ cơm ăn nước uống dễ kiếm, nghiệp thiện của người đó gọi là y cứ vào thời kỳ thuận lợi (sự thành tựu về thời kỳ) trổ quả. Người nào biết cố gắng hoàn thành sự nỗ lực đúng theo phương thức đã được nói, nghiệp của người đó gọi là y cứ vào việc thực hành thuận lợi trổ quả. Ngài đã phân chia 16 loại nghiệp theo phương thức của Tạng Abhidhamma như vậy.

Aparānipi paṭisambhidāmaggapariyāyena dvādasa kammāni vibhattāni. Seyyathidaṃ – ‘‘ahosi kammaṃ ahosi kammavipāko, ahosi kammaṃ nāhosi kammavipāko, ahosi kammaṃ atthi kammavipāko, ahosi kammaṃ natthi kammavipāko, ahosi kammaṃ bhavissati kammavipāko, ahosi kammaṃ na bhavissati kammavipāko, atthi kammaṃ atthi kammavipāko, atthi kammaṃ natthi kammavipāko, atthi kammaṃ bhavissati kammavipāko, atthi kammaṃ na bhavissati kammavipāko, bhavissati kammaṃ bhavissati kammavipāko, bhavissati kammaṃ na bhavissati kammavipāko’’ti (paṭi. ma. 1.234).

Mặc khác, ngài đã phân chia thành 12 loại nghiệp theo phương thức của bộ Phân Tích Đạo—Paṭisambhidāmagga. Tức là— (1) Có nghiệp (quá khứ) có kết quả của nghiệp (quá khứ), (2) có nghiệp (quá khứ) nhưng không có kết quả của nghiệp (quá khứ), (3) có nghiệp (quá khứ) có kết quả của nghiệp (hiện tại), (4) có nghiệp (quá khứ) nhưng không có kết quả của nghiệp (hiện tại), (5) có nghiệp (quá khứ) có kết quả của nghiệp (vị lai), (6) có nghiệp (quá khứ) nhưng không có kết quả của nghiệp (vị lai), (7) có nghiệp (hiện tại) có kết quả của nghiệp (hiện tại), (8) có nghiệp (hiện tại) không có kết quả của nghiệp (hiện tại), (9) có nghiệp (hiện tại) có kết quả của nghiệp (vị lai), (10) có nghiệp (vị lai) không có kết quả của nghiệp (vị lai), (11) có nghiệp (vị lai) có kết quả của nghiệp (vị lai), (12) có nghiệp (vị lai) không có kết quả của nghiệp (vị lai).[66]

Tattha yaṃ kammaṃ atīte āyūhitaṃ atīteyeva vipākavāraṃ labhi, paṭisandhijanakaṃ paṭisandhiṃ janesi, rūpajanakaṃ rūpaṃ, taṃ ahosi kammaṃ ahosi kammavipākoti vuttaṃ. Yaṃ pana vipākavāraṃ na labhi, paṭisandhijanakaṃ paṭisandhiṃ rūpajanakaṃ vā rūpaṃ janetuṃ nāsakkhi, taṃ ahosi kammaṃ nāhosi kammavipākoti vuttaṃ. Yaṃ pana atīte āyūhitaṃ etarahi laddhavipākavāraṃ paṭisandhijanakaṃ paṭisandhiṃ janetvā rūpajanakaṃ rūpaṃ janetvā ṭhitaṃ, taṃ ahosi kammaṃ atthi kammavipākoti vuttaṃ. Yaṃ aladdhavipākavāraṃ paṭisandhijanakaṃ vā paṭisandhiṃ rūpajanakaṃ vā rūpaṃ janetuṃ nāsakkhi, taṃ ahosi kammaṃ natthi kammavipākoti vuttaṃ. Yaṃ pana atīte āyūhitaṃ anāgate vipākavāraṃ labhissati, paṭisandhijanakaṃ paṭisandhiṃ rūpajanakaṃ rūpaṃ janetuṃ sakkhissati, taṃ ahosi kammaṃ bhavissati kammavipākoti vuttaṃ. Yaṃ anāgate vipākavāraṃ na labhissati, paṭisandhijanakaṃ paṭisandhiṃ rūpajanakaṃ vā rūpaṃ janetuṃ na sakkhissati, taṃ ahosi kammaṃ na bhavissati kammavipākoti vuttaṃ.

Trong số 12 loại nghiệp đó, nghiệp nào đã được tích lũy trong quá khứ (và) đã có được cơ hội trổ quả ngay trong quá khứ, vốn làm sanh khởi sự nối liền tái sanh cũng đã làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh, làm cho sanh khởi sắc thì đã làm cho sanh khởi sắc (trong quá khứ); nghiệp đó được ngài nói là “có nghiệp (quá khứ) có kết quả của nghiệp (quá khứ)”. Còn nghiệp nào không có được cơ hội trổ quả vốn làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh nhưng không thể làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh (trong quá khứ), hoặc làm cho sanh khởi sắc nhưng không thể làm cho sanh khởi sắc (trong quá khứ); nghiệp đó được ngài nói là “có nghiệp (quá khứ) nhưng không có kết quả của nghiệp (quá khứ)”. Còn nghiệp nào đã được tích lũy trong quá khứ và có được cơ hội trổ quả ở hiện tại vốn làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh cũng đã làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh, hoặc làm cho sanh khởi sắc thì đã làm cho sanh khởi sắc rồi an trú/tồn tại; nghiệp đó được ngài nói là “có nghiệp (quá khứ) có kết quả của nghiệp (hiện tại)”. Còn nghiệp nào không có được cơ hội trổ quả vốn làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh nhưng không thể làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh, hoặc làm cho sanh khởi sắc nhưng không thể làm cho sanh khởi sắc (trong hiện tại); nghiệp đó được ngài nói là ‘có nghiệp (quá khứ) nhưng không có kết quả của nghiệp (hiện tại)’. Còn nghiệp nào đã được tích lũy trong quá khứ (và) sẽ nhận được cơ hội trổ quả trong vị lai vốn làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh thì sẽ có thể làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh, hoặc làm cho sanh khởi sắc thì sẽ có thể làm cho sanh khởi sắc; nghiệp ấy được ngài nói là ‘có nghiệp (quá khứ) có kết quả của nghiệp (vị lai)’. Còn nghiệp nào sẽ không có được cơ hội trổ quả trong tương lai vốn làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh nhưng sẽ không thể làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh, hoặc làm cho sanh khởi sắc nhưng cũng sẽ không thể làm cho sanh khởi sắc; nghiệp ấy được ngài nói là ‘có nghiệp (quá khứ) nhưng không có kết quả của nghiệp (vị lai)’.

Yaṃ pana etarahi āyūhitaṃ etarahiyeva vipākavāraṃ labhati, taṃ atthi kammaṃ atthi kammavipākoti vuttaṃ. Yaṃ pana etarahi vipākavāraṃ na labhati, taṃ atthi kammaṃ natthi kammavipākoti vuttaṃ. Yaṃ pana etarahi āyūhitaṃ anāgate vipākavāraṃ labhissati, paṭisandhijanakaṃ paṭisandhiṃ rūpajanakaṃ rūpaṃ janetuṃ sakkhissati, taṃ atthi kammaṃ bhavissati kammavipākoti vuttaṃ. Yaṃ pana vipākavāraṃ na labhissati, paṭisandhijanakaṃ paṭisandhiṃ rūpajanakaṃ vā rūpaṃ janetuṃ sakkhissati, taṃ atthi kammaṃ na bhavissati kammavipākoti vuttaṃ.

Còn nghiệp nào được tích lũy trong hiện tại và có được cơ hội trổ quả ngay trong hiện tại; nghiệp đó được ngài nói là ‘có nghiệp (hiện tại) có kết quả của nghiệp (hiện tại)’. Còn nghiệp nào không có được cơ hội trổ quả trong hiện tại; nghiệp đó được ngài nói là ‘có nghiệp (hiện tại) không có kết quả của nghiệp (hiện tại)’. Còn nghiệp nào được tích lũy trong hiện tại nhưng sẽ có được cơ hội trổ quả trong tương lai vốn làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh cũng sẽ có thể làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh, hoặc làm cho sanh khởi sắc cũng sẽ làm cho sanh khởi sắc (trong tương lai); nghiệp đó được ngài nói là ‘có nghiệp (hiện tại) có kết quả của nghiệp (vị lai)’. Còn nghiệp nào sẽ không có được cơ hội trổ quả vốn làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh nhưng sẽ không thể làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh (trong tương lai), hoặc làm cho sanh khởi sắc nhưng sẽ không thể làm cho sanh khởi sắc (trong tương lai); nghiệp đó được ngài nói là ‘có nghiệp (vị lai) không có kết quả của nghiệp (vị lai)’.

Yaṃ panānāgate āyūhissati, anāgateyeva vipākavāraṃ labhissati, paṭisandhijanakaṃ paṭisandhiṃ rūpajanakaṃ vā rūpaṃ janessati, taṃ bhavissati kammaṃ bhavissati kammavipākoti vuttaṃ. Yaṃ pana[67] vipākavāraṃ na labhissati, paṭisandhijanakaṃ paṭisandhiṃ rūpajanakaṃ vā rūpaṃ janetuṃ na sakkhissati, taṃ bhavissati kammaṃ na bhavissati kammavipākoti vuttaṃ. Evaṃ paṭisambhidāmaggapariyāyena dvādasa kammāni vibhattāni.

Còn nghiệp nào sẽ được tích lũy trong tương lai và sẽ có được cơ hội trổ quả ngay trong tương lai, vốn làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh thì sẽ làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh, hoặc làm cho sanh khởi sắc thì sẽ làm cho sanh khởi sắc; nghiệp đó được ngài nói là ‘có nghiệp (vị lai) có kết quả của nghiệp (vị lai)’. Còn nghiệp nào sẽ không có được cơ hội trổ quả vốn làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh (nhưng) sẽ không thể làm cho sanh khởi sự nối liền tái sanh, hoặc vốn làm cho sanh khởi sắc (nhưng) sẽ không thể làm cho sanh khởi sắc; — nghiệp đó được ngài nói là ‘có nghiệp (vị lai) không có kết quả của nghiệp (vị lai)’. Như vậy, ngài đã phân chia 12 theo phương thức của bộ Phân Tích Đạo.

Iti imāni ceva dvādasa abhidhammapariyāyena vibhattāni ca soḷasa[68] kammāni attano ṭhānā osakkitvā suttantikapariyāyena vuttāni ekādasa kammāniyeva bhavanti. Tānipi tato osakkitvā tīṇiyeva kammāni honti diṭṭhadhammavedanīyaṃ, upapajjavedanīyaṃ, aparapariyāyavedanīyanti. Tesaṃ saṅkamanaṃ natthi, yathāṭhāneyeva tiṭṭhanti. Yadi hi diṭṭhadhammavedanīyaṃ kammaṃ upapajjavedanīyaṃ vā aparapariyāyavedanīyaṃ vā bhaveyya, ‘‘diṭṭhe vā dhamme’’ti satthā na vadeyya. Sacepi upapajjavedanīyaṃ diṭṭhadhammavedanīyaṃ vā aparapariyāyavedanīyaṃ vā bhaveyya, ‘‘upapajja vā’’ti[69] satthā na vadeyya. Athāpi aparapariyāyavedanīyaṃ diṭṭhadhammavedanīyaṃ vā upapajjavedanīyaṃ vā bhaveyya, ‘‘apare vā pariyāye’’ti satthā na vadeyya.

Như vậy, 12 loại nghiệp này và 16 loại nghiệp đã được phân chia theo phương pháp của Abhidhamma rồi rút ngắn từ vị trí của chính chúng xuống thành 11 loại nghiệp được nói theo phương pháp của Kinh Tạng. Ngay cả khi các nghiệp ấy rút ngắn từ 11 loại nghiệp ấy chỉ còn lại 3 loại, đó là—

  • Nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại
  • Nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp, và
  • Nghiệp có thể được cảm thọ ở kiếp khác.

Các nghiệp này không xen lẫn vào nhau, chúng được thiết lập ở đúng vị trí của chính mình. Bởi vì, nếu như ‘nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại’ trở thành ‘nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp’ hay ‘nghiệp có thể được cảm thọ ở kiếp khác’, thì bậc Đạo Sư đã không nói rằng: ‘hoặc ở kiếp hiện tại’. Tương tự, nếu như ‘nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp’ trở thành ‘nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại’ hay ‘nghiệp có thể được cảm thọ ở kiếp khác’, thì bậc Đạo Sư đã không nói rằng: ‘hoặc vào kiếp kế tiếp’. Mặt khác, nếu như ‘nghiệp có thể được cảm thọ ở kiếp khác’ trở thành ‘nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại’ hay ‘nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp’, thì bậc Đạo Sư đã không nói rằng: “hoặc ở kiếp khác”.

Sukkapakkhepi imināva nayena attho veditabbo. Ettha pana lobhe vigateti lobhe apagate niruddhe. Tālavatthukatanti tālavatthu viya kataṃ, matthakacchinnatālo viya puna aviruḷhisabhāvaṃ katanti attho. Anabhāvaṃ katanti anuabhāvaṃ kataṃ, yathā puna nuppajjati, evaṃ katanti attho. Evassūti evaṃ bhaveyyuṃ. Evameva khoti ettha bījāni viya kusalākusalaṃ kammaṃ daṭṭhabbaṃ, tāni agginā ḍahanapuriso viya yogāvacaro, aggi viya maggañāṇaṃ, aggiṃ datvā bījānaṃ ḍahanakālo viya maggañāṇena kilesānaṃ daḍḍhakālo[70], masikatakālo viya pañcannaṃ khandhānaṃ chinnamūlake katvā ṭhapitakālo, mahāvāte opunitvā nadiyā vā pavāhetvā appavattikatakālo viya upādinnakasantānassa nirodhena chinnamūlakānaṃ pañcannaṃ khandhānaṃ appaṭisandhikabhāvena nirujjhitvā puna bhavasmiṃ paṭisandhiṃ aggahitakālo[71] veditabbo.

Luôn cả ở phần trắng (thiện nghiệp), cũng nên được hiểu ý nghĩa theo chính phương thức này tương tự như vậy. Hơn nữa, ở đây, khi tham đã biến mất: khi tham đã lìa, đã diệt. Đã được làm như thân cây thốt-nốt (đã bị đứt ngọn): Đã được làm giống như thân cây thốt-nốt. Giải thích rằng— Đã làm cho (nó) không phát triển lại nữa, giống như cây thốt nốt đã bị chặt đứt ngọn. Đã bị làm cho không còn hiện hữu: Đã bị làm cho không còn tồn tại về sau; giải thích rằng: không sanh lên nữa như thế nào, (thì) đã bị làm tương tự như vậy. Evassu đồng nghĩa với ‘evaṃ bhaveyyuṃ – có thể trở thành như vậy’. Tương tự y như vậy: Trong trường hợp này, nên biết so sánh thiện nghiệp và bất thiện nghiệp cần được nhận thấy giống như hạt giống.  Hành giả nên được nhận thấy giống như người đàn ông dùng ngọn lửa đốt cháy những hạt giống ấy; ‘Trí về Đạo’ giống như ngọn lửa. Thời điểm phiền não bị ‘Trí về Đạo’ thiêu đốt giống như thời điểm ngọn lửa đốt các hạt giống. Thời điểm hành giả an trú sau khi cắt đứt gốc rễ của ngũ uẩn giống như thời điểm người đàn ông đốt các hạt giống thành tro bụi. Thời điểm bậc Lậu Tận không còn sự nối liền tái sanh trong các kiếp sống mới vì đã diệt tận năm uẩn vốn có gốc rễ đã bị cắt đứt, không còn sự nối liền tái sanh nữa vì đã diệt tận sự liên tục của các hành do chấp thủ giống như thời điểm hạt giống bị người ấy rải rắc vào cơn gió lớn hoặc thả trôi theo dòng nước làm cho chúng không thể quay trở lại được nữa.

Mohajañcāpaviddasūti mohajañcāpi aviddasu. Idaṃ vuttaṃ hoti – yaṃ so avidū andhabālo lobhajañca dosajañca mohajañcāti[72] kammaṃ karoti, evaṃ karontena yaṃ tena pakataṃ kammaṃ appaṃ vā yadi vā bahuṃ. Idheva taṃ vedaniyanti taṃ kammaṃ tena bālena idha sake attabhāveyeva vedanīyaṃ, tasseva taṃ attabhāve vipaccatīti attho. Vatthuṃ aññaṃ na vijjatīti tassa kammassa vipaccanatthāya aññaṃ vatthu natthi. Na hi aññena kataṃ kammaṃ aññassa attabhāve vipaccati. Tasmā lobhañca dosañca, mohajañcāpi viddasūti tasmā yo vidū medhāvī paṇḍito taṃ lobhajādibhedaṃ kammaṃ na karoti, so vijjaṃ uppādayaṃ bhikkhu, sabbā duggatiyo jahe, arahattamaggavijjaṃ uppādetvā taṃ vā pana vijjaṃ uppādento sabbā duggatiyo jahati. Desanāsīsamevetaṃ, sugatiyopi pana so khīṇāsavo jahatiyeva. Yampi cetaṃ ‘‘tasmā lobhañca dosañcā’’ti vuttaṃ, etthāpi lobhadosasīsena lobhajañca dosajañca kammameva niddiṭṭhanti veditabbaṃ. Evaṃ suttantesupi[73] gāthāyapi vaṭṭavivaṭṭameva kathitanti.

Người ngu tạo nghiệp…và si mê: những kẻ ngu muội không tạo nghiệp đều phát khởi từ sự si mê. Điều này đã được nói như sau— Người ấy là người không biết, là kẻ ngu muội tạo nghiệp phát khởi do tham, phát khởi từ sân, và cả phát khởi từ si mê; nghiệp nào mà kẻ ấy đang làm hoặc đã làm như vậy dù ít hay nhiều. Được cảm thọ ngay ở bản thể này: Nghiệp này là nghiệp mà kẻ ngu ấy sẽ được cảm thọ ngay trong chính bản ngã này của mình ở đời này. Giải thích rằng— nghiệp ấy sẽ cho kết quả ngay trong bản ngã của chính kẻ ấy. Không tìm thấy đối tượng nào khác (nâng đỡ nghiệp ấy): Không có đối tượng nào khác đưa đến lợi ích cho việc tiếp nhận kết quả của nghiệp ấy. Bởi vì nghiệp mà người này đã tạo không thể cho kết quả trên bản ngã của người kìa được. Do đó … bậc trí từ bỏ tham, sân và cả si: Do đó, vị Tỳ-khưu nào là vị có sự rành rẽ, có sự thông minh, sáng suốt (sẽ) không tạo nghiệp đó được phân chia thành nghiệp phát khởi do tham, v.v. Vị ấy là vị Tỳ-khưu làm cho Minh sanh khởi, có thể từ bỏ tất cả các cảnh giới khổ đau; tức là khi làm cho Minh đi cùng với Đạo A-la-hán sanh khởi (sẽ) từ bỏ tất cả các khổ cảnh. Đây chỉ là tiêu đề (ví dụ) của bài Pháp thoại mà thôi, còn đối với bậc Lậu Tận thì ngay cả cảnh giới an vui cũng từ bỏ hết thảy. Và ngay cả trong câu được nói rằng: “Do đó … tham, và sân…” này cũng nên được hiểu rằng: “Ngài thuyết đến nghiệp được phát khởi từ tham và phát khởi từ sân tương tự dựa trên tiêu đề là tham và sân. Như vậy, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng về cả luân hồi và xuất luân hồi trong cả bài Kinh và luôn cả Kệ ngôn.

4-5. Giải Thích Bài Kinh Gia Chủ Hatthaka

 35. Pañcame āḷaviyanti āḷaviraṭṭhe. Gomaggeti gunnaṃ gamanamagge. Paṇṇasanthareti sayaṃ patitapaṇṇasanthare. Athāti evaṃ gunnaṃ gamanamaggaṃ ujuṃ mahāpathaṃ nissāya siṃsapāvane sayaṃ patitapaṇṇāni saṅkaḍḍhitvā katasanthare sugatamahācīvaraṃ pattharitvā pallaṅkaṃ ābhujitvā nisinne tathāgate. Hatthako āḷavakoti hatthato hatthaṃ gatattā evaṃladdhanāmo āḷavako rājaputto. Etadavocāti etaṃ ‘‘kacci, bhante, bhagavā’’tiādivacanaṃ avoca. Kasmā pana sammāsambuddho taṃ ṭhānaṃ gantvā nisinno, kasmā rājakumāro tattha gatoti? Sammāsambuddho tāva aṭṭhuppattikāya dhammadesanāya samuṭṭhānaṃ disvā tattha nisinno, rājakumāropi pātova uṭṭhāya pañcahi upāsakasatehi parivuto buddhupaṭṭhānaṃ gacchanto mahāmaggā okkamma gopathaṃ gahetvā ‘‘buddhānaṃ pūjanatthāya missakamālaṃ ocinissāmī’’ti gacchanto satthāraṃ disvā upasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ nisīdi, evaṃ so tattha gatoti. Sukhamasayitthāti sukhaṃ sayittha.

Trong bài Kinh thứ năm, tại thành Āḷavī: trong thành Āḷavī. Gần lối đi của những con bò: Lối đi của đàn bò. Trên tấm thảm bằng lá: Trên tấm thảm lót bằng những lá cây tự rụng xuống. Khi ấy: Trong khi Như Lai trải tấm y lớn của bậc Thiện Thệ lên trên tấm thảm bằng lá cây tự rụng xuống đã được quét gom lại thành đống trong khu rừng cây Siṃsapa bên cạnh con đường lớn thẳng tắp là đường đi của những con bò (được tách ra) như vậy rồi ngồi xuống xếp chân thế kiết già. Hatthaka người ở thành Āḷavī: Hoàng tử ở thành Āḷavī có nhận được danh xưng như vậy bởi vì ngài đã được chuyển từ tay (của Dạ-xoa Āḷavaka) sang tay (của đấng Chánh đẳng Chánh giác). Đã nói điều này: Hoàng tử Hatthaka đã nói điều này là lời được bắt đầu rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, ngài nằm nghỉ được thoải mái không?” Vậy vì lý do gì đấng Chánh đẳng Chánh giác lại đi đến ngồi ở nơi ấy? Và vì lý do gì Hoàng tử cũng đi đến nơi ấy? Trước hết, đấng Chánh đẳng Chánh giác sau khi nhìn thấy nguyên nhân sanh khởi bài Pháp thoại có câu chuyện làm nguồn sanh khởi, nên mới đi đến ngồi ở đó. Còn Hoàng tử, đã thức dậy từ sáng sớm, có 500 vị cận sự nam tháp tùng đang đi đến nơi Đức Phật ngự, (vị ấy) đã rẽ sang con đường lớn và đã nắm lấy con đường của những con bò, đi với mục đích rằng: “Ta sẽ hái nhặt các loại hoa hỗn hợp nhằm mục đích cúng đường đến Đức Phật”. Sau khi nhìn thấy bậc Đạo Sư liền đi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống ở một bên thích hợp, Hoàng tử đã đi đến nơi đó như vậy. Sukhamasayittha tách từ thành sukhaṃ sayittha nghĩa là–‘ngài nằm nghỉ được thoải mái không?’

Antaraṭṭhakoti māghaphagguṇānaṃ antare aṭṭhadivasaparimāṇo kālo. Māghassa hi avasāne cattāro divasā, phagguṇassa ādimhi cattāroti ayaṃ ‘‘antaraṭṭhako’’ti vuccati. Himapātasamayoti himassa patanasamayo. Kharāti pharusā kakkhaḷā vā. Gokaṇṭakahatāti navavuṭṭhe[74] deve gāvīnaṃ akkantakkantaṭṭhāne khurantarehi kaddamo uggantvā tiṭṭhati, so vātātapena sukkho kakacadantasadiso hoti dukkhasamphasso. Taṃ sandhāyāha – ‘‘gokaṇṭakahatā bhūmī’’ti. Gunnaṃ khurantarehi chinnātipi attho. Verambho vāto vāyatīti catūhi disāhi vāyanto vāto vāyati. Ekāya disāya vā dvīhi vā disāhi tīhi vā disāhi vāyanto vāto verambhoti na vuccati.

Khoảng thời gian: Trong khoảng thời gian giữa tháng Māgha[75] và tháng Phagguṇa[76] (tuyết rơi) kéo dài 8 ngày. Giải thích rằng– thời gian tuyết rơi được gọi là khoảng thời gian bởi vì vào kỳ cuối tháng Māgha có 4 ngày và vào kỳ đầu của tháng Phagguṇa có thêm 4 ngày. Thời gian tuyết rơi: Thời gian tuyết rơi. Cứng rắn: Thô hoặc cứng. Bị dẫm đạp bởi móng chân bò: Khi trời vừa tạnh mưa tại những chỗ bị giẫm đạp bởi móng chân bò, bùn đất từ giữa các móng chân ấy đã trồi lên rồi đọng dính lại đó. Bùn đất đó bị khô cứng lại bởi gió và nắng trở nên giống như cái răng cưa có sự tiếp xúc gây khó chịu. Để đề cập đến bùn đất ấy (Hoàng tử Hatthaka) đã nói rằng: “Đất bị dẫm đạp bởi móng chân bò. Giải thích rằng– mặt đất nứt nẻ ra do móng chân bò. Lạnh là cơn gió lốc đang thổi: Gió thổi từ cả 4 hướng. Còn gió chỉ thổi từ 1 hướng, 2 hướng hay 3 hướng thì không được gọi là cơn gió lốc.

Tena hi rājakumārāti idaṃ satthā ‘‘ayaṃ rājakumāro lokasmiṃ neva sukhavāsino, na dukkhavāsino jānāti, jānāpessāmi na’’nti upari desanaṃ vaḍḍhento āha. Tattha yathā te khameyyāti yathā tuyhaṃ rucceyya. Idhassāti imasmiṃ loke assa. Gonakatthatoti caturaṅgulādhikalomena kāḷakojavena atthato. Paṭikatthatoti uṇṇāmayena setattharaṇena atthato. Paṭalikatthatoti ghanapupphena[77] uṇṇāmayaattharaṇena atthato. Kadalimigapavarapaccattharaṇoti kadalimigacammamayena uttamapaccattharaṇena atthato. Taṃ kira paccattharaṇaṃ setavatthassa upari kadalimigacammaṃ attharitvā sibbitvā karonti. Sauttaracchadoti saha uttaracchadena, upari baddhena rattavitānena saddhinti attho. Ubhatolohitakūpadhānoti sīsūpadhānañca pādūpadhānañcāti pallaṅkassa ubhato ṭhapitalohitakūpadhāno. Pajāpatiyoti bhariyāyo. Manāpena paccupaṭṭhitā assūti manāpena upaṭṭhānavidhānena paccupaṭṭhitā bhaveyyuṃ.

Bậc Đạo Sư nghĩ rằng: “Hoàng tử này không biết hạng người sống an lạc, cũng không biết hạng người sống đau khổ ở đời này. Ta sẽ làm cho Hoàng tử ấy biết.” Khi mở rộng bài Pháp thoại lên mức cao hơn, Ngài mới nói lời này rằng: “Dẫu vậy, này Hoàng tử…” Trong số các từ ấy, Hoàng tử nhận định như thế nào: Đức Thế Tôn hỏi Hoàng tử rằng—Hoàng tử nhận định như thế nào. Ở đời này: Có thể có ở thế gian này. Có trải tấm thảm lông dài: Chỗ nằm được trải ra với tấm thảm màu đen có lông dài 4 lóng tay. Có trải tấm thảm lông cừu màu trắng: Trải bằng tấm thảm màu trắng làm từ lông cừu. Có tấm trải giường bằng len có thêu bông hoa: Trải bằng tấm trải giường được thuê dệt với những bông hoa và lông cừu dày. Có trải thảm da nai giống quý: Trải bằng tấm thảm lót thượng hạng được làm từ da nai giống quý. Kể rằng, loại thảm lót đó người ta làm bằng việc trải tấm da nai giống quý lên trên tấm vải trắng rồi khâu lại. Có mái che phía trên: (ghế dài) có cả trần che phía trên. Giải thích rằng–có cả trần che màu đỏ được buộc chặt ở bên trên. Gối màu đỏ ở hai đầu này: Gối màu đỏ được đặt ở cả hai đầu của chiếc ghế dài. Bà vợ: Người vợ (hiền thê). Nên hầu hạ bằng cách thức làm cho vừa lòng: Nên nhận được sự chăm sóc bằng cách phục vụ mang lại sự hài lòng.

Kāyikāti pañcadvārakāyaṃ khobhayamānā. Cetasikāti manodvāraṃ khobhayamānā. So rāgo tathāgatassa pahīnoti tathārūpo rāgo tathāgatassa pahīnoti attho. Yo pana tassa rāgo, na so tathāgatassa pahīno nāma. Dosamohesupi eseva nayo.

Thuộc về thân: sự khó chịu làm cho thân phối hợp với 5 môn bị xao động. Thuộc về ý: làm cho ý môn bị xao động. Luyến ái ấy Như Lai đã đoạn trừ: Nghĩa là luyến ái có hình thức như vậy Như Lai đã đoạn trừ. Còn luyến ái nào của gia chủ hay con trai người gia chủ ấy, (thì) luyến ái ấy không gọi là đã được Như Lai đoạn trừ. Luôn cả sân và si có phương thức này (ý nghĩa tương tự vậy).

Brāhmaṇoti bāhitapāpo khīṇāsavabrāhmaṇo. Parinibbutoti kilesaparinibbānena parinibbuto. Na limpati[78] kāmesūti vatthukāmesu ca kilesakāmesu ca taṇhādiṭṭhilepehi[79] na limpati. Sītibhūtoti abbhantare tāpanakilesānaṃ abhāvena sītibhūto. Nirūpadhīti kilesūpadhīnaṃ abhāvena nirūpadhi. Sabbā āsattiyo chetvāti āsattiyo vuccanti taṇhāyo, tā sabbāpi rūpādīsu ārammaṇesu āsattavisattā āsattiyo chinditvā. Vineyya hadaye daranti hadayanissitaṃ darathaṃ vinayitvā vūpasametvā. Santiṃ pappuyya cetasoti cittassa kilesanibbānaṃ pāpuṇitvā. Karaṇavacanaṃ vā etaṃ ‘‘sabbacetaso samannāharitvā’’tiādīsu viya, cetasā nibbānaṃ pāpuṇitvāti attho.

Có điều ác đã được xa lánh được gọi là Bà-la-môn, có các lậu hoặc đã cạn kiệt được gọi là Bà-la-môn. Vị đã được hoàn toàn dập tắt: vị đã được hoàn toàn dập tắt vì đã dập tắt hoàn toàn các phiền não. Vị không bị làm dơ bẩn trong các dục: không bị làm dơ bẩn trong các vật dục và phiền não dục bởi (vật liệu) trét tô là tham ái và tà kiến. Có trạng thái mát mẻ: có trạng thái mát mẻ vì không có các phiền não làm cho thiêu đốt ở bên trong. Không còn mầm mống tái sanh: Không còn mầm mống tái sanh bởi không có mầm móng tái sanh là phiền não. Sau khi đoạn lìa các sự vướng mắc: Các phiền não có tham ái, v.v, được gọi là các sự vướng mắc, Vị Bà-la-môn đã cắt lìa tất cả toàn bộ các sự vướng mắc ấy vốn chấp thủ và vướng vào trong các đối tượng như sắc, v.v. Vị ấy có thể điều phục nỗi khổ trong tâm: Đã chế phục, đã làm vắng lặng sự đau đớn/sự buồn rầu lắng đọng trong tâm. Sau khi tâm đã đạt được Niết Bàn: Sau khi đạt đến sự diệt tắt phiền não của tâm. Hoặc là, ‘trong tâm’ ấy là công cụ cách (cách thứ 3). Giải thích rằng– Sau khi chứng đắc Niết Bàn bằng tâm, giống như trong câu sau: “đã tập trung tất cả tâm ý.”

4-6. Giải Thích Bài Kinh Sứ Giả Của Trời

 36. Chaṭṭhe devadūtānīti devadūtā. Ayaṃ panettha vacanattho – devoti maccu, tassa dūtāti devadūtā. Jiṇṇabyādhimatā hi saṃvegajananaṭṭhena ‘‘idāni te maccusamīpaṃ gantabba’’nti codenti viya, tasmā devadūtāti vuccanti. Devā viya dūtātipi devadūtā. Yathā hi alaṅkatapaṭiyattāya devatāya ākāse ṭhatvā ‘‘tvaṃ asukadivase marissasī’’ti vutte tassā vacanaṃ saddhātabbaṃ hoti; evamevaṃ jiṇṇabyādhimatāpi dissamānā ‘‘tvampi evaṃdhammo’’ti codenti viya, tesañca taṃ vacanaṃ anaññathābhāvitāya devatāya byākaraṇasadisameva hotīti devā viya dūtāti devadūtā. Visuddhidevānaṃ dūtātipi devadūtā. Sabbabodhisattā hi jiṇṇabyādhimatapabbajite disvāva saṃvegaṃ āpajjitvā nikkhamma pabbajiṃsu. Evaṃ visuddhidevānaṃ dūtātipi devadūtā. Idha pana liṅgavipallāsena ‘‘devadūtānī’’ti vuttaṃ.

Trong bài Kinh thứ sáu, Thiên sứ: các sứ giả của trời. Ở đây, ‘Thiên sứ’ này có các ý nghĩa như sau: ‘sự tử vong’ được gọi là ‘Deva-vị trời’, sứ giả của vị trời ấy gọi là ‘Thiên sứ’. Thật vậy người già, người bệnh và người chết giống như đang được nhắc nhở rằng: “Bây giờ, quý vị đang đến gần sự chết”, nhằm mục đích làm cho khởi lên sự chấn động tâm. Do đó, được được gọi là ‘Thiên sứ’. Gọi là ‘Thiên sứ’ vì là sứ giả giống như chư Thiên. Khi một vị Thiên nhân đã được trang điểm và sửa soạn rồi đứng nói trên hư không rằng: “Ngươi sẽ chết vào ngày đó”, lời nói của vị Thiên nhân ấy con người cần phải tin tưởng như thế nào; tương tự y như thế ấy người già, người bệnh và người chết khi xuất hiện cũng giống như đang nhắc nhở rằng: “Ngay cả ngươi cũng có tính chất như vậy.” Và lời nói ấy của người già, người bệnh và người chết ấy giống như lời tiên đoán của chư Thiên vì bản chất không thể thay đổi khác đi được. Do đó, mới gọi là ‘Thiên sứ’ vì là sứ giả giống như chư Thiên. Mặt khác, gọi là ‘Thiên sứ’ vì là sứ giả của các vị chư Thiên do thanh tịnh. Thật vậy, tất cả các vị Bồ Tát khi nhìn thấy người già, người bệnh, người chết và vị xuất gia đã khởi lên sự chấn động tâm rồi đi xuất gia. Như vậy, người già, người bệnh, người chết và vị xuất gia được gọi là ‘Thiên sứ’ vì là sứ giả của các vị chư Thiên do thanh tịnh. Nhưng trong bài Kinh này ngài nói rằng: ‘Thiên sứ’ do sự biến đổi về mặt giới tính (ngữ pháp).

Kāyenaduccaritantiādi kasmā āraddhaṃ? Devadūtānuyuñjanaṭṭhānupakkama– kamma– dassanatthaṃ. Iminā hi kammena ayaṃ satto niraye nibbattati, atha naṃ tattha yamo rājā devadūte samanuyuñjati. Tattha kāyena duccaritaṃ caratīti kāyadvārena tividhaṃ duccaritaṃ carati. Vācāyāti vacīdvārena catubbidhaṃ duccaritaṃ carati. Manasāti manodvārena tividhaṃ duccaritaṃ carati.

Tại sao Đức Thế Tôn bắt đầu bằng cụm từ “uế hạnh bằng thân, v.v.?” – Để thấy rõ nghiệp dẫn người đến gần vị trí (cho vua Yama) chất vấn về các vị Thiên sứ. Thật vậy, chúng sanh này sanh vào địa ngục do nghiệp này; khi đó, ở tại nơi ấy, vua Yama mới chất vấn người ấy về các Thiên sứ. Trong các từ ngữ ấy, thực hành uế hạnh bằng thân: Thực hành 3 loại uế hạnh bằng Thân môn. Bằng khẩu: Thực hành 4 loại uế hạnh bằng Khẩu môn. Bằng ý: Thực hành 3 loại uế hạnh bằng Ý môn.

Tamenaṃ, bhikkhave, nirayapālāti ettha ekacce therā ‘‘nirayapālā nāma natthi, yantarūpaṃ viya kammameva kāraṇaṃ kāretī’’ti vadanti. Taṃ ‘‘atthi niraye nirayapālāti, āmantā. Atthi ca kāraṇikā’’tiādinā nayena abhidhamme (kathā. 866) paṭisedhitameva. Yathā hi manussaloke kammakāraṇakārakā atthi, evameva niraye nirayapālā atthīti. Yamassaraññoti yamarājā nāma vemānikapetarājā. Ekasmiṃ kāle dibbavimāne dibbakapparukkha– dibbauyyāna– dibbanāṭakādisabbasampattiṃ anubhavati, ekasmiṃ kāle kammavipākaṃ, dhammiko rājā, na cesa ekova hoti, catūsu pana dvāresu cattāro janā honti. Amatteyyoti mātu hito matteyyo, mātari sammā paṭipannoti attho. Na matteyyoti amatteyyo, mātari micchā paṭipannoti attho. Sesapadesupi eseva nayo. Abrahmaññoti ettha ca khīṇāsavā brāhmaṇā nāma, tesu micchā paṭipanno abrahmañño nāma.

Rồi này các Tỳ-khưu những người canh giữ địa ngục: Ở đây, một số vị Trưởng lão nói rằng: “Những người canh giữ địa ngục là không có, mà chính nghiệp giống như cỗ máy tự nó ra lệnh làm những việc nên làm.” Lời nói đó hoàn toàn bị bác bỏ trong bộ Vi Diệu Pháp, theo phương thức như sau: có những người canh giữ địa ngục trong địa ngục chăng? Có, và có cả những người hành hình không? [Có]”. (kathā. 866). Thật vậy, trong thế giới loài người có những người thi hành hình phạt như thế nào; ở địa ngục cũng có những người canh giữ địa ngục tương tự như thế ấy. Vua Yama: chúa của loài Ngạ quỷ Vemānika[80] được gọi là Vua Yama. Một thời gian, vị ấy thọ hưởng tất cả sự thành tựu có cây như ý ở cõi trời, khu vườn ở cõi trời, và các vũ công ở cõi trời… ở tại Thiên cung; Một thời gian khác lại lãnh chịu quả của ác nghiệp, là một vị vua công minh. Và vị này không chỉ có một, mà có đến bốn vị ở bốn cửa. Không cung kính mẹ: người cung kính đối với mẹ được gọi là Matteyya, giải thích rằng— Người thực hành đúng đắn (hiếu thảo) đối với mẹ. Người không cung kính (bất hiếu) đối với mẹ thì gọi là Amatteyya, giải thích rằng— Người thực hành sai quấy đối với mẹ. Nhưng từ ngữ còn lại cũng áp dụng cách thức này. Không cung kính Bà-la-môn này có lời giải thích như sau: Bậc Lậu Tận được gọi là Bà-la-môn. Người thực hành sai quấy (xúc phạm, không kính trọng) đối với các vị ấy thì gọi là không cung kính Bà-la-môn.

Samanuyuñjatīti anuyogavattaṃ āropento pucchati, laddhiṃ patiṭṭhāpento pana samanuggāhati nāma, kāraṇaṃ pucchanto samanubhāsati nāma. Nāddasanti attano santike pahitassa kassaci devadūtassa abhāvaṃ sandhāya evaṃ vadati.

Thẩm vấn: Vua Yama đưa ra luật lệ trong việc dò xét để thẩm vấn, còn khi cho xác nhận lại quan niệm thì gọi là cật vấn/tra hỏi; khi hỏi về nguyên nhân/lý do thì gọi là nạn vấn/nhắc nhở. Con chưa từng thấy: Chúng sanh trong địa ngục nói như vậy để ám chỉ rằng: “Không có bất kỳ Thiên sứ nào được phái đến chỗ ở của mình.”

Atha naṃ yamo ‘‘nāyaṃ bhāsitassa atthaṃ sallakkhetī’’ti ñatvā atthaṃ sallakkhāpetukāmo ambhotiādimāha. Tattha jiṇṇanti jarājiṇṇaṃ. Gopānasivaṅkanti gopānasī viya vaṅkaṃ. Bhogganti bhaggaṃ. Imināpissa vaṅkabhāvameva dīpeti. Daṇḍaparāyaṇanti daṇḍapaṭisaraṇaṃ daṇḍadutiyaṃ. Pavedhamānanti kampamānaṃ. Āturanti jarāturaṃ. Khaṇḍadantanti jarānubhāvena khaṇḍitadantaṃ. Palitakesanti paṇḍarakesaṃ. Vilūnanti luñcitvā gahitakesaṃ viya khallāṭaṃ[81]. Khalitasiranti[82] mahākhallāṭasīsaṃ[83]. Valitanti sañjātavaliṃ. Tilakāhatagattanti setatilakakāḷatilakehi vikiṇṇasarīraṃ. Jarādhammoti jarāsabhāvo, aparimutto jarāya, jarā[84] nāma mayhaṃ abbhantareyeva pavattatīti. Parato byādhidhammo maraṇadhammoti padadvayepi eseva nayo.

Khi ấy, Vua Yama biết rằng— “người này vẫn chưa hiểu được ý nghĩa của lời nói,” có ý định cho người ấy hiểu mới nói lời bắt đầu như “Này người kia!…” Trong số các từ ngữ ấy, già nua: Suy tàn/suy nhược do sự già nua. Bị oằn xuống như xà nhà: Cong vẹo như xà nhà. Bị bẻ cong: Bẻ cong/uốn cong. Vua Yama làm sáng tỏ trạng thái người ấy có lưng cong bằng chính từ ‘bị bẻ cong’ này. Chống gậy: Có cây gậy làm điểm tựa, có cây gậy làm bạn đồng hành. Vừa đi vừa run rẩy: Run rẩy. Bị bệnh: Bệnh đau do sự già nua. Răng rụng: Có răng rụng do trạng thái già nua. Tóc bạc: Có tóc trắng/tóc bạc. Đầu tóc lưa thưa: Bị hói ít (tóc mọc lưa thưa) giống như bị ai đó nhổ hết tóc. Đầu sói: Đầu hói nhiều. Da nhăn: Da nổi nếp nhăn. Thân thể điểm đồi mồi: Thân thể rải rác các chấm trắng, chấm đen (xuất hiện đồi mồi). Có bản chất già: Có sự già nua là bản chất, không thoát khỏi sự già nua; thông thường sự già nua luôn vận hành ở ngay bên trong bản thân chúng ta. Luôn cả trong hai cụm từ tiếp theo là có bản chất bệnh và có bản chất chết cũng có phương thức này tương tự.

Paṭhamaṃ devadūtaṃ samanuyuñjitvāti ettha jarājiṇṇasatto atthato evaṃ vadati nāma – ‘‘passatha, bho, ahampi tumhe viya taruṇo ahosiṃ ūrubalī bāhubalī javasampanno, tassa me tā balajavasampattiyo antarahitā, vijjamānāpi me hatthapādā hatthapādakiccaṃ na karonti, jarāyamhi aparimuttatāya ediso jāto. Na kho panāhameva, tumhepi jarāya aparimuttāva. Yatheva hi mayhaṃ, evaṃ tumhākampi jarā āgamissati. Iti tassā pure āgamanāva kalyāṇaṃ karothā’’ti . Tenevesa devadūto nāma jāto. Ābādhikanti bādhikaṃ. Dukkhitanti dukkhappattaṃ. Bāḷhagilānanti adhimattagilānaṃ.

Sau khi thẩm vấn…về vị Thiên sứ thứ nhất: Thông thường chúng sinh bị suy nhược do sự già nua sẽ có nội dung như vầy: “Này quý vị! Hãy nhìn xem, tôi cũng từng là một thanh niên có đầy đủ sức lực với sức mạnh của chân, sức mạnh của tay và sự nhanh nhẹn giống như quý vị bây giờ vậy. Nhưng sự đầy đủ về sức mạnh và sự nhanh nhẹn đó của tôi nay đã biến mất. Ngay cả tay và chân của tôi cũng không còn thực hiện được chức năng của tay và chân nữa. Tôi trở thành một người như thế vì không thoát khỏi được sự già nua. Không chỉ riêng một mình tôi, ngay cả quý vị cũng không thể thoát khỏi được sự già nua tương tự. Giống như sự già nua đã đến với tôi như thế nào, thì sự già nua cũng sẽ đến với quý vị như thế ấy. Bởi vì sự già nua sẽ đến như đã nói vào những ngày sau đó (sẽ đến sớm trong tương lai), mong rằng quý vị hãy làm điều lành (tức là tạo thiện nghiệp).” Bởi lý do đó, chúng sanh bị suy nhược do sự già nua ấy nên mới được gọi là Thiên sứ. Bệnh hoạn: người bệnh. Khổ não: Có sự đau đớn. Nguy kịch: Bị bệnh vô cùng nghiêm trọng.

Dutiyaṃ devadūtanti etthapi gilānasatto atthato evaṃ vadati nāma – ‘‘passatha, bho, ahampi tumhe viya nirogo ahosiṃ, somhi etarahi byādhinā abhihato, sake muttakarīse palipanno, uṭṭhātumpi na sakkomi. Vijjamānāpi me hatthapādā hatthapādakiccaṃ na karonti, byādhitomhi aparimuttatāya ediso jāto. Na kho panāhameva, tumhepi byādhito aparimuttāva. Yatheva hi mayhaṃ, evaṃ tumhākampi byādhi āgamissati. Iti tassa pure āgamanāva kalyāṇaṃ karothā’’ti. Tenevesa devadūto nāma jāto.

Về vị Thiên sứ thứ hai: Luôn cả trong trường hợp này, thông thường một chúng sanh bị đau bệnh sẽ nói lên ý nghĩa như vầy rằng— “Này quý vị! Hãy nhìn xem, chính tôi đã từng là một người khỏe mạnh giống như quý vị. Nhưng giờ đây, tôi bị chế ngự bởi bệnh tật, rơi nằm trong phân và nước tiểu của chính mình. Kể cả việc chống tay tự đứng dậy cũng không đủ khả năng, tay và chân của tôi dù vẫn còn đó nhưng cũng không thể thực hiện được chức năng của tay và chân nữa. Tôi trở thành người như thế này do không thể thoát khỏi bệnh tật. Và không chỉ riêng một mình tôi, ngay cả quý vị cũng không thể thoát khỏi bệnh tật tương tự. Thật vậy bệnh tật đã đến với tôi như thế nào, thì bệnh tật cũng sẽ đến với quý vị tương tự y như thế ấy. Bởi vì bệnh tật chắc chắn sẽ đến đúng như đã nói vào những ngày sau đó (sẽ đến sớm trong tương lai), mong rằng quý vị hãy làm điều lành (tức là tạo thiện nghiệp).” Bởi lý do đó, chúng sanh ấy được gọi là Thiên sứ.

Ekāhamatantiādīsu ekāhaṃ matassa assāti ekāhamato, taṃ ekāhamataṃ. Parato padadvayepi eseva nayo. Bhastā viya vāyunā uddhaṃ jīvitapariyādānā yathākkamaṃ samuggatena sūnabhāvena uddhumātattā uddhumātakaṃ. Vinīlo vuccati viparibhinnavaṇṇo, vinīlova vinīlako, taṃ vinīlakaṃ. Paṭikūlattā vā kucchitaṃ vinīlanti vinīlakaṃ. Vipubbakanti vissandamānapubbakaṃ, paribhinnaṭṭhāne hi paggharitena pubbena palimakkhitanti attho.

Chết đã được một ngày: Chúng sanh ấy đã chết được một ngày, vì lý do đó mới gọi là chết đã được một ngày. (Ngươi không nhìn thấy) chúng sanh chết được một ngày ấy chăng? Ngay cả trong hai cụm từ tiếp theo (chết đã được hai ngày hoặc ba ngày) cũng theo có phương thức này. Tử thi đã bị trương sình: Bởi vì nó căng phồng lên do trạng thái trương phình, ngày càng phồng lên theo tuần tự kể từ lúc chấm dứt mạng sống, giống như cái ống bễ thổi lò được thổi đầy hơi. Tử thi có màu da đã bị biến đổi khắp cơ thể được gọi là có màu xanh thâm, chính có màu xanh thẫm ấy là tử thi đã đổi màu xanh thẫm. (Ngươi không nhìn thấy) tử thi đã đổi màu xanh thẫm đó chăng? Mặt khác, tử thi đã đổi màu xanh ấy đáng ghê tởm vì bản chất đáng kinh tởm. Đã có trạng thái chảy nước vàng: Tử thi có nước vàng chảy rỉ ra. Giải thích rằng— Tử thi bị vấy bẩn bởi nước vàng chảy ra từ những chỗ đã bị nứt vỡ.

Tatiyaṃdevadūtanti ettha matakasatto atthato evaṃ vadati nāma – ‘‘passatha, bho, maṃ āmakasusāne chaḍḍitaṃ uddhumātakādibhāvappattaṃ, maraṇatomhi aparimuttatāya ediso jāto. Na kho panāhameva, tumhepi maraṇato aparimuttā. Yatheva hi mayhaṃ, evaṃ tumhākampi maraṇaṃ āgamissati. Iti tassa pure āgamanāva kalyāṇaṃ karothā’’ti. Tenevassa devadūto nāma jāto.

Về vị Thiên sứ thứ ba: Thông thường, một chúng sanh khi chết sẽ nói lên ý nghĩa như vầy rằng— “Này quý vị! Hãy nhìn xem, tôi bị quăng bỏ ở bãi tha ma, đã đi đến trạng thái bị trương phồng, v.v. Tôi trở thành một người như thế này vì không thể thoát khỏi được sự chết. Và không chỉ riêng mình tôi, mà ngay cả quý vị cũng không thoát khỏi được sự chết tương tự. Thật vậy, sự chết đã đến với tôi như thế nào, thì sự chết cũng sẽ đến với quý vị tương tự y như thế ấy. Bởi vì sự chết chắc chắn sẽ đến đúng như đã nói vào những ngày sau đó (sẽ đến sớm trong tương lai), mong rằng quý vị hãy làm điều lành (tức là tạo thiện nghiệp).” Bởi lý do đó, chúng sanh ấy được gọi là Thiên sứ.

Imaṃ pana devadūtānuyogaṃ ko labhati, ko na labhati? Yena tāva bahuṃ pāpaṃ kataṃ, so gantvā niraye nibbattatiyeva. Yena pana parittaṃ pāpaṃ kataṃ, so labhati. Yathā hi sabhaṇḍaṃ coraṃ gahetvā kattabbameva karonti na vinicchinanti. Anuvijjitvā gahitaṃ pana vinicchayaṭṭhānaṃ nayanti, so vinicchayaṃ labhati. Evaṃsampadametaṃ. Parittapāpakammā hi attano dhammatāyapi saranti, sārīyamānāpi saranti.

Ai nhận được sự thẩm vấn về các Thiên sứ này, ai không nhận được? Người nào đã tạo nhiều ác nghiệp, người ấy (sau khi chết) ngay lập tức đi tái sanh trong địa ngục [nên không được thẩm vấn]. Còn người nào tạo ít ác nghiệp, người ấy (có thể) nhận được [sự thẩm vấn này]. Giống như sau khi bắt được tên trộm cùng với số tang vật, quân lính sẽ ngay lập tức thực hiện hình phạt thích đáng (đối với kẻ ấy) mà không cần phải xét xử; Nhưng quân lính bắt được (kẻ trộm do nghi ngờ) cần phải điều tra, quân lính sẽ áp giải đến pháp đình, kẻ ấy nhận được sự xét xử như thế nào;  Trường hợp này cũng tương tự ynhư vậy. Thật vậy, những người có ít ác nghiệp thì [có khi] tự mình nhớ lại [thiện nghiệp] theo lẽ tự nhiên, [có khi] được nhắc nhở mới nhớ lại.

Tattha dīghajayantadamiḷo[85] nāma attano dhammatāya sari. So kira damiḷo sumanagirimahāvihāre ākāsacetiyaṃ rattapaṭena[86] pūjesi, atha niraye ussadasāmante nibbatto aggijālasaddaṃ sutvāva attanā pūjitapaṭaṃ anussari, so gantvā sagge nibbatto. Aparopi puttassa daharabhikkhuno khalisāṭakaṃ dento pādamūle ṭhapesi, maraṇakālamhi paṭapaṭāti sadde nimittaṃ gaṇhi, sopi ussadasāmante nibbatto jālasaddena taṃ sāṭakaṃ anussaritvā sagge nibbatto. Evaṃ tāva attano dhammatāya kusalaṃ kammaṃ saritvā sagge nibbattatīti.

Việc tự mình nhớ lại được (thiện nghiệp) và việc được nhắc nhở để nhớ lại, có ví dụ như sau, người Damiḷa[87] tên là Dīghajayanta đã tự mình nhớ lại theo lẽ tự nhiên. Kể rằng, người Damiḷa ấy đã từng lấy tấm vải màu đỏ lên Bảo tháp Ākāsa tại Đại Tịnh xá Sumanagiri. Về sau, (sau khi mệnh chung) đã bị sanh vào ở gần địa ngục Ussada, ngay khi được nghe âm thanh ngọn lửa (bùng cháy) liền nhớ lại tấm vải (đỏ) mà bản thân đã cúng dường (đến Bảo tháp Ākāsa), người ấy (tử ở tại nơi ấy) và được sanh vào cõi trời. Có một người khác nữa, trong khi dâng một tấm áo choàng mịn đẹp cho vị Tỳ-khưu trẻ tuổi là con trai của mình, đã đặt ở chân (vị ấy), người ấy đã nắm lấy hiện tướng dựa trên âm thanh của tiếng vải sột soạt-sột soạt. Về sau, người ấy (khi qua đời) đã bị tái sinh vào gần địa ngục Ussada, nhờ nghe được tiếng ngọn lửa bùng cháy đã nhớ lại được tấm áo choàng đó, rồi đã được lên cõi trời. Như vậy, sau khi nhớ đến thiện nghiệp nhờ vào bản thể của chính bản thân họ rồi được sanh vào cõi trời như đã giải thích trước.

Attano dhammatāya asarante pana tayo devadūte pucchati. Tattha koci paṭhamena devadūtena sarati, koci dutiyatatiyehi, koci tīhipi nassarati. Taṃ yamo rājā disvā sayaṃ sāreti. Eko kira amacco sumanapupphakumbhena mahācetiyaṃ pūjetvā yamassa pattiṃ adāsi, taṃ akusalakammena niraye nibbattaṃ yamassa santikaṃ nayiṃsu. Tasmiṃ tīhipi devadūtehi kusalaṃ asarante yamo sayaṃ olokento disvā – ‘‘nanu tvaṃ mahācetiyaṃ sumanapupphakumbhena pūjetvā mayhaṃ pattiṃ adāsī’’ti sāresi, so tasmiṃ kāle saritvā devalokaṃ gato. Yamo pana sayaṃ oloketvāpi apassanto – ‘‘mahādukkhaṃ nāma anubhavissati ayaṃ satto’’ti tuṇhī ahosi.

Còn nếu không nhớ được nhờ vào bản thể của chính bản thân, thì vua Yama mới hỏi đến ba Thiên sứ. Trong số những chúng sanh ấy, có người chỉ nhớ được Thiên sứ thứ nhất, có người chỉ nhớ được Thiên sứ thứ hai và Thiên sứ thứ ba. Nhưng chúng sanh nào không nhớ được cả ba Thiên sứ, thì vua Yama sẽ tự mình nhắc nhở cho chúng sanh ấy nhớ. Kể rằng, một viên quan đại thần nọ sau khi cúng dường ngôi Đại Bảo tháp với những chậu hoa lài, đã chia phân phước báu đến vua Yama. Do bởi bất thiện nghiệp vị ấy bị sanh vào địa ngục và được những người canh giữ địa ngục đã dẫn vị ấy đến trước mặt vua Yama. Khi vị ấy không thể nhớ đến thiện nghiệp qua cả 3 Thiên sứ, vua Yama tự mình xem xét đã thấy [sự kiện kia], liền nhắc nhở rằng: – “Chẳng phải nhà ngươi đã cúng dường ngôi Đại Bảo tháp với những chậu hoa lài rồi chia phần phước cho ta sao?” Vào thời điểm đó, vị ấy đã nhớ lại (thiện pháp ngay tức khắc rồi mệnh chung) và đã tái sanh về cõi trời. Hơn nữa, sau khi tự mình xem xét nhưng vua Yama không thấy [thiện nghiệp nào], ngài sẽ giữ trạng thái im lặng với ý nghĩ rằng: “Chúng sanh này sẽ phải chịu khổ đau lớn lao”.

Tattaṃ ayokhilanti tigāvutaṃ attabhāvaṃ sampajjalitāya lohapathaviyā uttānakaṃ nipajjāpetvā dakkhiṇahatthe tālappamāṇaṃ ayasūlaṃ pavesenti, tathā vāmahatthādīsu. Yathā ca taṃ uttānakaṃ nipajjāpetvā, evaṃ urenapi vāmapassenapi dakkhiṇapassenapi nipajjāpetvā te taṃ kammakāraṇaṃ karontiyeva. Saṃvesetvāti[88] jalitāya lohapathaviyā tigāvutaṃ attabhāvaṃ nipajjāpetvā. Kuṭhārīhīti mahatīhi gehassa ekapakkhacchadanamattāhi kuṭhārīhi tacchanti, lohitaṃ nadī hutvā sandati, lohapathavito jālā uṭṭhahitvā tacchitaṭṭhānaṃ gaṇhāti[89], mahādukkhaṃ uppajjati. Tacchantā pana suttāhataṃ karitvā dāruṃ[90] viya aṭṭhaṃsampi chaḷaṃsampi karonti. Vāsīhīti mahāsuppappamāṇāhi vāsīhi. Rathe yojetvāti saddhiṃ yugayottapakkharathacakkakubbarapājanehi sabbato pajjalite rathe yojetvā. Mahantanti mahākūṭāgārappamāṇaṃ. Āropentīti sampajjalitehi ayamuggarehi pothentā āropenti. Sakimpi uddhanti supakkuthitāya ukkhaliyā pakkhittataṇḍulā viya uddhamadhotiriyañca gacchati. Mahānirayeti avīcimahānirayamhi.

Họ lấy cọc sắt nung đỏ: Những người canh giữ địa ngục bắt thân thể (to lớn) cao 3 gāvuta nằm xuống trên bề mặt tấm đồng được đốt cháy sáng rực, rồi lấy cọc sắt to bằng thân cây thốt nốt đâm vào tay phải; tay trái, v.v, cũng làm tương tự. Và giống như (những người canh giữ địa ngục) bắt chúng sanh địa ngục đó nằm ngửa (rồi thực hiện hình phạt), tương tự như vậy, (những người canh giữ địa ngục) bắt chúng sanh địa ngục đó nằm úp mặt xuống, nằm nghiêng bên trái, nằm nghiêng bên phải rồi thực hiện hình phạt. Bắt nằm xuống: (những người canh giữ địa ngục) bắt thân thể to khoảng 3 Gāvuta xuống trên bề mặt tấm đồng được đốt cháy sáng rực. Lấy những cái rìu: Thái mỏng bằng những chiếc rìu lớn to bằng một bên mái nhà. Máu chảy lênh láng thành sông. Ngọn lửa bùng lên từ bề mặt tấm đồng bén vào chỗ vừa bị thái mỏng. Sự đau khổ cùng cực phát sanh (đến chúng sanh địa ngục). Còn những người canh giữ địa ngục, khi thái mỏng thì đẽo gọt thành 8 cạnh hoặc 6 cạnh, giống như (thợ mộc) kẻ vạch bằng sợi chỉ để đẽo gỗ. Lấy những con dao: Bằng những con dao có kích cỡ bằng cái nia lớn. Cột vào cỗ xe: (Những người canh giữ địa ngục) cột chúng sanh ấy vào cỗ xe cùng với ách, dây thừng, sườn xe, bánh xe, thùng xe và gọng xe có ngọn lửa sáng rực xung quanh. To lớn: Có kích thước bằng một ngôi nhà mái nhọn lớn. Bắt…trèo lên: Đánh đập bằng trái chùy sắt sáng rực lửa rồi bắt buộc (chúng sanh) trèo lên (ngọn núi lửa). Lúc thì nổi lên trên: Chúng sinh địa ngục ấy (bị ngọn lửa thiêu đốt) nổi lên trên, chìm xuống dưới, và trôi ngang, giống tự như hạt gạo được bỏ vào trong nồi nước đang sôi sục. Đại địa ngục: Trong Đại địa ngục Avīci.

Bhāgasomitoti bhāge ṭhapetvā vibhatto. Pariyantoti parikkhitto. Ayasāti upari ayapaṭṭena chādito. Samantā yojanasataṃ, pharitvā tiṭṭhatīti evaṃ pharitvā tiṭṭhati, yathā taṃ samantā yojanasate ṭhatvā olokentassa akkhīni yamakagoḷakā viya nikkhamanti.

Được phân chia thành từng phần: (Đại địa ngục) được chia thành từng phần. Bao quanh: Được bao bọc/bao quanh (bởi các bức tường). Bằng mái sắt: Được che phủ ở phía trên bằng mái sắt. Tỏa khắp và tồn tại xung quanh một trăm do-tuần: Ngọn lửa bùng cháy tỏa khắp và tồn tại như vậy, khi chúng sinh địa ngục đứng nhìn xung quanh một trăm do-tuần, hai con mắt sẽ bị lồi ra ngoài giống như hai cục thịt.

Hīnakāyūpagāti hīnaṃ kāyaṃ upagatā hutvā. Upādāneti taṇhādiṭṭhiggahaṇe. Jātimaraṇasambhaveti jātiyā ca maraṇassa ca kāraṇabhūte. Anupādāti catūhi upādānehi anupādiyitvā. Jātimaraṇasaṅkhayeti jātimaraṇasaṅkhayasaṅkhāte nibbāne vimuccanti. Diṭṭhadhammābhinibbutāti diṭṭhadhamme imasmiṃyeva attabhāve sabbakilesanibbānena nibbutā. Sabbadukkhaṃ upaccagunti sakalavaṭṭadukkhaṃ atikkantā.

Đã đi đến tập thể thấp kém: Đã đi đến tập thể thấp kém. Trong chấp thủ: Trong việc nắm lấy do Tham ái và Tà kiến. Nguồn sanh khởi của sự sanh và sự chết: Là nhân của sự sanh và sự chết. Do không chấp thủ: Do không bám níu lấy với bốn chấp thủ. Do diệt trừ hoàn toàn sanh tử: Được giải thoát ở Niết Bàn được xem là diệt trừ hoàn toàn sự sanh và sự tử. Đã được diệt tắt trong hiện tại: Diệt tắt hoàn toàn (phiền não) nhờ dập tắt toàn bộ phiền não ngay chính trong hiện tại/ngay chính trong bản thể này. Vượt qua khỏi tất cả khổ đau: Vượt qua khỏi toàn bộ mọi khổ đau của sự luân hồi.

4-7. Giải Thích Bài Kinh Tứ Đại Thiên Vương

37. Sattame amaccā pārisajjāti paricārikadevatā. Imaṃ lokaṃ anuvicarantīti aṭṭhamīdivase kira sakko devarājā cattāro mahārājāno[91] āṇāpeti – ‘‘tātā, ajja aṭṭhamīdivase manussalokaṃ[92] anuvicaritvā puññāni karontānaṃ nāmagottaṃ uggaṇhitvā āgacchathā’’ti. Te gantvā attano paricārake pesenti – ‘‘gacchatha, tātā, manussalokaṃ vicaritvā puññakārakānaṃ nāmagottāni suvaṇṇapaṭṭe likhitvā ānethā’’ti. Te tathā karonti. Tena vuttaṃ – ‘‘imaṃ lokaṃ anuvicarantī’’ti. Kaccibahūtiādi tesaṃ upaparikkhākāradassanatthaṃ vuttaṃ. Evaṃ upaparikkhantā hi te anuvicaranti. Tattha uposathaṃ upavasantīti māsassa aṭṭhavāre uposathaṅgāni adhiṭṭhahanti.

Trong bài Kinh thứ bảy, các quan đại thần, các tùy tùng: các vị chư thiên hầu cận. Đi du hành trong thế giới này: Kể rằng, vào ngày mùng tám (mỗi nửa tháng). Chúa Trời Sakka ra lệnh cho bốn vị Đại Thiên Vương rằng: “Này các khanh, hôm nay là ngày mùng 8, các khanh hãy đi du hành ở thế giới loài người, ghi lại danh tánh và họ tộc của những người làm các việc phước thiện.” Bốn vị Đại Thiên Vương ấy sau đó quay về ra lệnh lại cho các tùy tùng của mình rằng: “Này các khanh, hãy đi du hành ở thế giới loài người, (và) khắc lên danh tánh và họ tộc của những người làm các việc phước thiện vào tấm bảng vàng rồi mang về đây.” Các vị ấy làm theo đúng mệnh lệnh đó; Vì lý do ấy, Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Đi du hành trong thế giới này”. Có nhiều người hay không, v.v., được Đức Thế Tôn thuyết nhằm mục đích chỉ rõ việc khảo sát của các vị Thiên ấy. Thật vậy, các vị Thiên du hành để khảo sát theo biểu hiện như vậy. Trong số các từ ngữ ấy, Có làm lễ bát quan trai: Mọi người phát nguyện thọ trì tám chi phần của ngày trai giới (Bát Quan Trai Giới) mỗi tháng 8 lần.

Paṭijāgarontīti paṭijāgarauposathakammaṃ nāma karonti. Taṃ karontā ekasmiṃ addhamāse catunnaṃ uposathadivasānaṃ paccuggamanānuggamanavasena karonti. Pañcamīuposathaṃ paccuggacchantā catutthiyaṃ uposathikā honti, anugacchantā chaṭṭhiyaṃ. Aṭṭhamīuposathaṃ paccuggacchantā sattamiyaṃ, anugacchantā navamiyaṃ. Cātuddasiṃ paccuggacchantā terasiyaṃ, pannarasīuposathaṃ anugacchantā pāṭipade uposathikā honti. Puññāni karontīti saraṇagamana– niccasīla– pupphapūjā– dhammassavana– padīpasahassa– āropanavihārakaraṇādīni nānappakārāni puññāni karonti. Te evaṃ anuvicaritvā puññakammakārakānaṃ nāmagottāni sovaṇṇamaye paṭṭe likhitvā āharitvā catunnaṃ mahārājānaṃ denti. Puttā imaṃ lokaṃ anuvicarantīti catūhi mahārājehi purimanayeneva pahitattā anuvicaranti. Tadahūti taṃdivasaṃ. Uposatheti uposathadivase.

Có sự tỉnh táo: Thực hành việc hành trì trai giới có sự tỉnh táo. Trong khi thực hành việc đó, họ thực hiện do tác động việc rước và việc đưa 4 ngày trai giới trong mỗi nửa tháng (tức là)— Khi rước ngày trai giới vào ngày mùng 5 cần phải thọ trì ngày trai giới vào ngày mùng 4, khi đưa ngày trai giới thì đưa vào ngày mùng 6; Khi rước ngày trai giới vào ngày mùng 8 cần phải thọ trì ngày trai giới vào ngày mùng 7, khi đưa ngày trai giới thì đưa vào ngày mùng 9; Khi rước ngày trai giới vào ngày 14, cần phải thọ trì ngày trai giới vào ngày 13, khi đưa ngày trai giới thì đưa vào ngày 15; Khi rước ngày trai giới vào ngày 15 cần phải thọ trì ngày trai giới vào ngày 14, khi đưa ngày trai giới thì đưa vào ngày mùng 1 (ngày đầu tiên của nửa tháng sau). Có làm các việc phước thiện: Mọi người làm các việc phước thiện bằng nhiều hình thức khác nhau có việc đi đến nương nhờ (quy y Tam bảo), thọ trì thường giới (ngũ giới), sự cúng dường bông hoa, sự lắng nghe Giáo Pháp, thắp hàng ngàn ngọn đèn và xây dựng Tịnh xá, v.v. Các vị ấy sau khi đi du hành như vậy, đã khắc lên danh tánh và họ tộc của những người làm các việc phước thiện vào tấm bảng vàng, rồi mang về dâng lên bốn vị Đại Thiên Vương. Các Hoàng tử … đi du hành trong thế giới này: (Các vị Hoàng tử của bốn vị Đại Thiên Vương) đi du hành (khảo sát) vì được bốn vị Đại Thiên Vương phái đi theo đúng phương thức như đã đề cập ở trước. Vào ngày hôm đó: Vào ngày hôm đó. Ngày trai giới: Vào ngày bát quan trai giới.

Sace, bhikkhave, appakā hontīti catunnaṃ mahārājānaṃ amaccā pārisajjā tā tā gāmanigamarājadhāniyo upasaṅkamanti, tato taṃ upanissāya adhivatthā devatā ‘‘mahārājānaṃ amaccā āgatā’’ti paṇṇākāraṃ gahetvā tesaṃ santikaṃ gacchanti. Te paṇṇākāraṃ gahetvā ‘‘kacci nu kho mārisā bahū manussā matteyyā’’ti vuttanayena manussānaṃ puññapaṭipattiṃ pucchitvā ‘‘āma, mārisa, imasmiṃ gāme asuko ca asuko ca puññāni karontī’’ti vutte tesaṃ nāmagottaṃ likhitvā aññattha gacchanti. Atha cātuddasiyaṃ catunnaṃ mahārājānaṃ puttāpi tameva gahetvā teneva nayena anuvicarantā nāmagottāni likhanti. Tadahuposathe pannarase cattāropi mahārājāno teneva nayena tasmiṃyeva suvaṇṇapaṭṭe nāmagottāni likhanti. Te suvaṇṇapaṭṭaparimāṇeneva – ‘‘imasmiṃ kāle manussā appakā, imasmiṃ kāle bahukā’’ti jānanti. Taṃ sandhāya ‘‘sace, bhikkhave, appakā honti manussā’’tiādi vuttaṃ. Devānaṃ tāvatiṃsānanti paṭhamaṃ abhinibbatte tettiṃsa devaputte upādāya evaṃladdhanāmānaṃ. Tesaṃ pana uppattikathā dīghanikāye sakkapañhasuttavaṇṇanāya vitthāritā. Tenāti tena ārocanena, tena vā puññakārakānaṃ appakabhāvena. Dibbā vata, bho, kāyā parihāyissantīti navanavānaṃ devaputtānaṃ apātubhāvena devakāyā parihāyissanti, ramaṇīyaṃ dasayojanasahassaṃ devanagaraṃ suññaṃ bhavissati. Paripūrissanti asurakāyāti cattāro apāyā paripūrissanti. Iminā[93] ‘‘mayaṃ paripuṇṇe devanagare devasaṅghamajjhe nakkhattaṃ kīḷituṃ na labhissāmā’’ti anattamanā honti. Sukkapakkhepi imināva upāyena attho veditabbo.

Nếu chỉ có ít người giữa loài người, này các Tỳ-khưu…: Các viên quan đại thần, các tùy tùng của bốn vị Đại Thiên Vương đi vào các ngôi làng, thị trấn và kinh thành này nọ; khi ấy, các vị Thiên ngự ở các ngôi làng, thị trấn và kinh thành đó biết rằng “các viên quan đại thần của các vị Đại Thiên Vương đã đến”, liền mang lễ vật đến trú xứ của các vị ấy. Sau khi tiếp nhận lễ vật, các viên quan đại thần ấy đã hỏi về việc thực hành phước thiện của loài người theo phương thức đã được đề cập rằng: “Này các ngài, có nhiều người vẫn còn hiếu kính với mẹ chứ?” Khi vị Thiên thường trú tại ngôi làng, thị trấn và kinh thành báo cáo rằng: “Đúng vậy, thưa ngài, ở ngôi làng này người này và người kia vẫn đang làm các việc phước thiện”, họ liền khắc lên danh tánh và họ tộc của những người ấy (vào tấm bảng vàng) rồi đi nơi khác. Tiếp đó, vào ngày 14, cả những Hoàng tử của bốn vị Đại Thiên Vương cũng cầm theo tấm bảng vàng rồi đi du hành để khắc lên danh tánh và họ tộc theo đúng phương thức ấy. Vào ngày 15 chính là ngày trai giới đó, bốn vị Đại Thiên Vương tự mình khắc lên danh tánh và họ tộc vào tấm bảng vàng ấy theo đúng phương thức đó. Bốn vị Đại Thiên Vương ấy biết được rằng: “Vào thời gian này có ít người (làm các việc phước thiện), vào thời gian này có nhiều người (làm các việc phước thiện)” dựa theo số lượng tấm bảng vàng. Đức Thế Tôn muốn đề cập đến điều đó mới nói lời mở đầu rằng: “Nếu chỉ có ít người giữa loài người, này các Tỳ-khưu”. Chư Thiên ở cõi trời Đạo Lợi/Tam Thập Tam: Các vị chư thiên có được danh xưng như vậy vì y cứ vào 33 vị Thiên tử đã sanh lên lần đầu tiên. Còn câu chuyện về sự sinh khởi (tiểu sử) của các vị Thiên ấy đã được giải thích tường tận trong Chú giải bài kinh Sakkapañha (Đế Thích Sở Vấn) thuộc Trường Bộ Kinh. Do đó: Do việc báo tin ấy, hoặc do loài người làm các việc phước thiện có trạng thái ít ỏi. Thưa ngài, quả thật các tập thể chư Thiên sẽ giảm bớt!: Vì các vị Thiên tử mới không xuất hiện (không sanh lên cõi Trời), nên các tập thể chư thiên sẽ bị giảm bớt; Thành phố chư Thiên rộng lớn khoảng mười ngàn do-tuần vốn có sự đáng thích thú ấy sẽ trở nên trống rỗng. Các tập thể A-tu-la sẽ tăng thêm: Bốn khổ cảnh sẽ chật ních/đầy ắp. Vì chính nguyên nhân đó, chư thiên cõi trời Đạo Lợi mới buồn phiền rằng: “Chúng ta sẽ không được vui chơi lễ hội ở giữa tập thể chư Thiên ở tại Thành phố chư Thiên vốn đã từng đầy ắp (các vị Thiên)”. Ngay cả trong nửa tháng trăng sáng (Bạch nguyệt) cũng cần được hiểu theo phương thức này.

Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, sakko devānamindoti attano sakkadevarājakālaṃ sandhāya katheti. Ekassa vā sakkassa ajjhāsayaṃ gahetvā kathetīti vuttaṃ. Anunayamānoti[94] anubodhayamāno. Tāyaṃ velāyanti tasmiṃ kāle.

Đức Thế Tôn thuyết rằng: “Thuở xưa, này các Tỳ-khưu, Thiên chủ Sakka, v.v,”  nhằm đề cập đến tiền kiếp của ngài khi còn là Thiên chủ Sakka. Mặt khác, có ý kiến cho rằng: “Đức Thế Tôn thuyết để đề cập đến ý định của một vị Thiên chủ Sakka”. Trong khi hướng dẫn: Trong khi làm cho hiểu biết. Vào thời gian ấy: Vào thời gian đó.

Pāṭihāriyapakkhañcāti ettha pāṭihāriyapakkho nāma antovasse temāsaṃ nibaddhuposatho, taṃ asakkontassa dvinnaṃ pavāraṇānaṃ antare ekamāsaṃ nibaddhuposatho, tampi asakkontassa paṭhamapavāraṇato paṭṭhāya eko addhamāso pāṭihāriyapakkhoyeva nāma. Aṭṭhaṅgasusamāgatanti aṭṭhahi guṇaṅgehi samannāgataṃ. Yopissamādiso naroti yopi satto mādiso bhaveyya. Sakkopi kira vuttappakārassa uposathakammassa guṇaṃ jānitvā dve devalokasampattiyo pahāya māsassa aṭṭha vāre uposathaṃ upavasati. Tasmā evamāha. Aparo nayo – yopissa mādiso naroti yopi satto mādiso assa, mayā pattaṃ sampattiṃ[95] pāpuṇituṃ iccheyyāti attho. Sakkā hi evarūpena uposathakammena sakkasampattiṃ pāpuṇitunti ayamettha adhippāyo.

Kể cả các ngày phụ trội của nửa tháng[96]: Ở đây, ngày trai giới được gìn giữ liên tục suốt 3 tháng trong mùa an cư gọi là các ngày phụ trội của nửa tháng. Khi không thể thọ trì ngày  trai giới suốt 3 tháng đó, thì việc thọ trì ngày trai giới liên tục suốt 1 tháng trong khoảng thời gian giữa 2 kỳ lễ Tự tứ cũng được gọi là các ngày phụ trội của nửa tháng. Khi không thể thọ trì ngày trai giới liên tục suốt 1 tháng đó, thì việc thọ trì suốt nửa tháng bắt đầu từ ngày Tự tứ đầu tiên cũng được gọi là các ngày phụ trội của nửa tháng. (Đã tham gia ngày Trai Giới) khéo được hội đủ tám yếu tố: Được hội đủ tám yếu tố ân đức. Người nào giống như ta: chúng sanh nào có thể như ta. Kể rằng, Thiên chủ Sakka biết rõ ân đức của việc hành trì trai giới theo đúng hình thức đã đề cập, nên đã từ bỏ sự thành tựu ở Thiên giới để hành trì trai giới mỗi tháng 8 ngày. Mặt khác, người nào giống như ta: Chúng sinh nào có thể giống như ta — giải thích rằng: Có thể ước muốn đạt được sự thành tựu to lớn. Ở đây điều này có ý nghĩa như sau: Một người có thể đạt được sự thành tựu của Thiên chủ Sakka bằng việc hành trì trai giới với hình thức như thế.

Vusitavāti vutthavāso. Katakaraṇīyoti catūhi maggehi kattabbakiccaṃ katvā ṭhito. Ohitabhāroti khandhabhārakilesabhāraabhisaṅkhārabhāre otāretvā ṭhito. Anuppattasadatthoti sadattho vuccati arahattaṃ, taṃ anuppatto. Parikkhīṇabhavasaṃyojanoti yena saṃyojanena baddho bhavesu ākaḍḍhīyati, tassa khīṇattā parikkhīṇabhavasaṃyojano. Sammadaññā vimuttoti hetunā nayena kāraṇena jānitvā vimutto. Kallaṃ vacanāyāti yuttaṃ vattuṃ.

(Phạm hạnh) đã được hoàn mãn[97]: đã trải qua cuộc sống (của bậc Thánh). Có việc cần làm đã làm: Đã làm nhiệm vụ cần phải làm bằng bốn Đạo, rồi an trú. Có gánh nặng đã được đặt xuống: Đã đặt xuống gánh nặng các uẩn, gánh nặng phiền não và gánh nặng các hành, rồi an trú. có mục đích của mình đã được đạt đến: Quả vị A-la-hán được gọi là lợi ích của bản thân/Tư lợi; vị ấy đã đạt đến lợi ích tối thượng đó. có sự trói buộc/kiết sử ở hữu đã được hoàn toàn cạn kiệt[98]: Do bị trói buộc bởi kiết sử nào mà (chúng sinh) bị lôi kéo vào các hữu, thì do trạng thái cạn kiệt của các kiết ấy (vị ấy được gọi là) có sự trói buộc/kiết sử ở hữu đã được hoàn toàn cạn kiệt. Đã hiểu biết đúng đắn và đã được giải thoát[99]: Đã được giải thoát do đã biết bằng nguyên nhân, bằng suy luận, và bằng lý lẽ. Thích hợp để đưa đến lời nói[100]: Thích hợp để nói.

Yopissa mādiso naroti yopi mādiso khīṇāsavo assa, sopi evarūpaṃ uposathaṃ upavaseyyāti uposathakammassa guṇaṃ jānanto evaṃ vadeyya. Aparo nayo yopissa mādiso naroti yopi satto mādiso assa, mayā pattaṃ sampattiṃ pāpuṇituṃ iccheyyāti attho. Sakkā hi evarūpena uposathakammena khīṇāsavasampattiṃ pāpuṇitunti ayamettha adhippāyo. Aṭṭhamaṃ uttānatthameva.

Người nào giống như ta: Người nào là bậc Lậu Tận (vị có các lậu hoặc đã được cạn kiệt) giống như ta, người ấy cũng nên thọ trì bát quan trai giới có hình thức như thế; tức là khi đã biết rõ ân đức của việc hành trì trai giới thì nên sống như vậy. Mặt khác, người nào giống như ta: Chúng sanh nào giống như ta — giải thích rằng: Nên có ước muốn đạt được sự thành tựu to lớn. Ở đây điều này có ý nghĩa như sau: Một người có thể đạt được sự thành tựu của bậc Lậu Tận bằng việc hành trì trai giới với hình thức như thế. Bài Kinh thứ tám đều có ý nghĩa đơn giản/dễ hiểu.

4-9. Giải Thích Bài Kinh Được Nuôi Dưỡng Tế Nhị

39. Navame sukhumāloti niddukkho. Paramasukhumāloti paramaniddukkho. Accantasukhumāloti satataniddukkho. Imaṃ bhagavā kapilapure nibbattakālato paṭṭhāya niddukkhabhāvaṃ gahetvā āha, cariyakāle pana tena anubhūtadukkhassa anto natthīti. Ekatthāti ekissā pokkharaṇiyā. Uppalaṃ vappatīti uppalaṃ ropeti[101]. Sā nīluppalavanasañchannā hoti. Padumanti paṇḍarapadumaṃ. Puṇḍarīkanti rattapadumaṃ. Evaṃ itarāpi dve padumapuṇḍarīkavanehi sañchannā honti.

Trong bài Kinh thứ chín, người được nuôi dưỡng tế nhị: (Như Lai) là người không có sự đau khổ. Người được nuôi dưỡng tế nhị tột cùng: Là người không có sự đau khổ tột cùng. Người được nuôi dưỡng tế nhị tột bực: Người không có sự đau khổ suốt mọi thời gian. Đức Thế Tôn nói lời này có ý rằng: bản thể không có khổ bắt đầu kể từ thời điểm ngài được sanh ra tại Thành Kapila; còn trong thời gian thực hành khổ hạnh (thì) các đau khổ mà ngài gánh chịu là không có giới hạn. Trong một cái hồ: Trong một hồ nước. Gieo giống hoa sen xanh: Người ta trồng hoa sen xanh. Hồ nước ấy được bao phủ bởi khu rừng hoa sen xanh. Padumaṃ[102]: Hoa sen trắng. Puṇḍarīkaṃ: Hoa sen hồng. Cả hai hồ sen còn lại này cũng được bao phủ bởi khu rừng hoa sen trắng và hoa sen đỏ như đã giải thích như vậy.

Bodhisattassa kira sattaṭṭhavassikakāle rājā amacce pucchi – ‘‘taruṇadārakā katarakīḷikaṃ piyāyantī’’ti? Udakakīḷikaṃ devāti. Tato rājā kuddālakammakārake sannipātetvā pokkharaṇiṭṭhānāni gaṇhāpesi. Atha sakko devarājā āvajjento taṃ pavattiṃ ñatvā – ‘‘na yutto mahāsattassa mānusakaparibhogo, dibbaparibhogo yutto’’ti vissakammaṃ āmantetvā – ‘‘gaccha, tāta, mahāsattassa kīḷābhūmiyaṃ pokkharaṇiyo māpehī’’ti āha. Kīdisā hontu, devāti? Apagatakalalakaddamā hontu vippakiṇṇamaṇimuttapavāḷikā sattaratanamayapākāraparikkhittā pavāḷamayauṇhīsehi maṇimayasopānabāhukehi suvaṇṇarajatamaṇimayaphalakehi sopānehi samannāgatā. Suvaṇṇarajatamaṇipavāḷamayā cettha nāvā hontu, suvaṇṇanāvāya rajatapallaṅko hotu, rajatanāvāya suvaṇṇapallaṅko, maṇināvāya pavāḷapallaṅko, pavāḷanāvāya maṇipallaṅko, suvaṇṇarajatamaṇipavāḷamayāva udakasecananāḷikā hontu, pañcavaṇṇehi ca padumehi sañchannā hontūti. ‘‘Sādhu, devā’’ti vissakammadevaputto sakkassa paṭissutvā rattibhāge otaritvā rañño gāhāpitapokkharaṇiṭṭhānesuyeva teneva niyāmena pokkharaṇiyo māpesi.

Nghe rằng, vào thời điểm Bồ Tát được 7–8 tuổi, Đức vua (Suddhodana) hỏi các viên quan đại thần rằng: “Mấy đứa trẻ nhỏ thường thích chơi trò chơi loại nào?” — Các viên quan thưa rằng: “Tâu Đại vương, chúng thích chơi đùa dưới nước.” — Sau đó, Đức vua hạ lệnh tập hợp các công nhân đào đất rồi chọn một địa điểm để xây dựng các hồ nước. — Lúc bấy giờ, Thiên chủ Sakka trong khi quan sát đã biết được sự diễn tiến ấy, nghĩ rằng: “Vật dụng của loài người không xứng đáng với bậc Đại Nhân (Bồ Tát), chỉ có vật dụng ở Thiên giới mới phù hợp.” — Rồi ngài cho truyền Thiên tử Vissakamma đến và nói rằng: “Này khanh, hãy đi tạo lập các hồ nước tại khu vực vui chơi của bậc Đại Nhân.” — Thiên tử Vissakamma thưa hỏi: “Các hồ nước ấy sẽ cho có đặc điểm như thế nào, tâu Bệ hạ?” — Thiên chủ Sakka: “Hồ sen ấy phải không có bùn lầy, được trải ngọc ma-ni, ngọc trai và ngọc san hô; bao quanh bởi bức tường làm bằng 7 loại ngọc quý; trang trí đầy đủ các cầu thang có các bậc thang bằng vàng, bạc và ngọc ma-ni, có lan can làm bằng ngọc ma-ni, có mái vòm cầu thang được làm bằng san hô. Và trong hồ này phải có những chiếc thuyền làm bằng vàng, bạc, ngọc ma-ni và san hô; trong chiếc thuyền vàng phải có chiếc ghế dài bằng bạc, trong chiếc thuyền bạc có chiếc ghế dài bằng vàng, trong chiếc thuyền ngọc ma-ni phải có chiếc ghế dài bằng san hô, trong chiếc thuyền san hô có chiếc ghế dài bằng ngọc ma-ni, phải có các gáo múc nước làm bằng vàng, bạc, ngọc ma-ni và san hô. Đồng thời, các hồ nước phải phủ kín bởi 5 loại hoa sen.” — Thiên tử Vissakamma nhận lệnh Thiên chủ Sakka rằng: “Dạ được, tâu Bệ hạ”, rồi hạ giới vào ban đêm để tạo lập các hồ nước theo đúng phương thức ấy tại vị trí mà Đức vua đã ra lệnh cho lựa chọn.

Nanu cetā apagatakalalakaddamā, kathamettha padumāni pupphiṃsūti? So kira tāsu pokkharaṇīsu tattha tattha suvaṇṇarajatamaṇipavāḷamayā khuddakanāvāyo māpetvā ‘‘etā kalalakaddamapūritā ca hontu, pañcavaṇṇāni cettha padumāni pupphantū’’ti adhiṭṭhāsi. Evaṃ pañcavaṇṇāni padumāni pupphiṃsu, reṇuvaṭṭiyo uggantvā udakapiṭṭhaṃ ajjhottharitvā vicaranti. Pañcavidhā bhamaragaṇā upakūjantā vicaranti. Evaṃ tā māpetvā vissakammo devapurameva gato. Tato vibhātāya rattiyā mahājano disvā ‘‘mahāpurissassa māpitā bhavissantī’’ti gantvā rañño ārocesi. Rājā mahājanaparivāro gantvā pokkharaṇiyo disvā ‘‘mama puttassa puññiddhiyā devatāhi māpitā bhavissantī’’ti attamano ahosi. Tato paṭṭhāya mahāpuriso udakakīḷikaṃ agamāsi.

Chẳng phải các hồ nước này không có bùn lầy hay sao, vậy các loại hoa sen làm sao có thể nở rộ trong hồ này được? —Kể rằng, Thiên tử Vissakamma ấy đã tạo ra các con thuyền nhỏ làm bằng vàng, bạc, ngọc ma-ni và san hô ở nhiều vị trí khác nhau trong các hồ nước ấy, rồi phát nguyện rằng: “Mong cho các con thuyền này tràn đầy bùn lầy, và mong cho 5 loại hoa sen hãy nở ngát trong các con thuyền này.” 5 loại hoa sen đã nở rộ như vậy, các lớp phấn hoa bay lên, phủ khắp mặt nước rồi lan tỏa (hương thơm) khắp nơi. Đàn ong 5 loại rủ nhau bay lượn kêu vo ve. Sau khi tạo lập các hồ nước như vậy, Thiên tử Vissakamma đã trở về Thành phố Chư thiên. Đến lúc trời vừa rạng sáng, đông đảo dân chúng nhìn thấy (cảnh tượng ấy), nghĩ rằng: “Các hồ sen này chắc chắn có ai đó đã hóa hiện để dâng đến bậc Đại Nhân,” liền cùng nhau vào cung rồi tâu với Đức vua. Đức vua có đông đảo dân chúng tháp tùng đã ngự đến, sau khi nhìn thấy các hồ sen, đã hoan hỷ, nghĩ rằng: “Những hồ sen này chắc chắn đã được hóa hiện bởi chư Thiên bằng năng lực thần thông do phước báu của con ta”. Kể từ đó trở đi, bậc Đại Nhân thường đến vui chơi dưới nước.

Yāvadeva mamatthāyāti ettha yāvadevāti payojanāvadhiniyāmavacanaṃ, yāva mameva atthāya, natthettha aññaṃ kāraṇanti attho. Na kho panassāhanti na kho panassa ahaṃ. Akāsikaṃ candananti asaṇhaṃ candanaṃ[103]. Kāsikaṃ, bhikkhave, su me taṃ veṭhananti, bhikkhave, veṭhanampi me kāsikaṃ hoti. Ettha hi suiti ca tanti ca nipātamattaṃ, meti sāmivacanaṃ. Veṭhanampi me saṇhameva hotīti dasseti. Kāsikā kañcukāti pārupanakañcukopi saṇhakañcukova. Setacchattaṃ dhārīyatīti mānusakasetacchattampi dibbasetacchattampi uparidhāritameva[104] hoti. Mā naṃ phusi sītaṃ vāti mā etaṃ bodhisattaṃ sītaṃ vā uṇhādīsu vā aññataraṃ phusatūti attho.

Ở đây, từ ‘chỉ vì’ trong cụm từ ‘chỉ vì đem lại vì sự lợi ích cho ta’ là từ ngữ dùng để xác định phạm vi của việc sử dụng. Giải thích rằng— Chỉ vì đem lại lợi ích cho ta, ở đây không có lý do nào khác nữa. Na kho panassāhaṃ tách từ thành ‘na kho panassa ahaṃ’. Hương chiên đàn từ xứ Kāsī: Gỗ chiên đàn có chất gỗ mịn, mềm mại. Này các Tỳ-khưu, khăn đội đầu của ta cũng được làm từ xứ Kāsī: Này các Tỳ-khưu, ngay cả khăn đội đầu của ta cũng là loại vải xứ Kāsī. Ở đây, ‘su’ và ‘taṃ’ chỉ là một phân từ; ‘me’ là cách thứ sáu (sở thuộc cách). Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng: “Khăn đội đầu của ta là vô cùng mềm mại.’ Áo choàng/áo ngắn cũng được làm từ xứ Kāsī: Ngay cả áo choàng của ngài cũng là loại áo vô cùng mềm mại. Chiếc lọng trắng được che cho ta: Chiếc lọng trắng của loài người và cả lọng trắng của cõi Trời đều được che ở phía trên đầu của ta. Sự lạnh…đừng xúc chạm: Cầu mong sự lạnh hoặc sự nóng… hoặc bất kỳ sự khó chịu nào khác cũng đừng xúc chạm đến vị Bồ Tát ấy.

Tayopāsādā ahesunti bodhisatte kira soḷasavassuddesike jāte suddhodanamahārājā ‘‘puttassa vasanakapāsāde kāressāmī’’ti vaḍḍhakino sannipātāpetvā bhaddakena nakkhattamuhuttena navabhūmikataparikammaṃ[105] kāretvā tayo pāsāde kārāpesi. Te sandhāyetaṃ vuttaṃ. Hemantikotiādīsu yattha sukhaṃ hemante vasituṃ, ayaṃ hemantiko. Itaresupi eseva nayo. Ayaṃ panettha vacanattho – hemante vāso hemantaṃ[106], hemantaṃ arahatīti hemantiko. Itaresupi eseva nayo.

Có ba tòa lâu đài: Nghe rằng, khi Bồ Tát vừa tròn 16 tuổi, Đại vương Suddhodana (nghĩ rằng): “Sẽ cho xây dựng các tòa lâu đài cho Hoàng tử ở,” nên đã triệu tập những người thợ mộc lại. Sau khi đã cho chuẩn bị mặt nền (khung sườn) 9 tầng vào thời khắc ngôi sao tiêu biểu (xuất hiện) rồi cho xây dựng 3 tòa lâu đài. Điều này được nói để ám chỉ đến 3 tòa lâu đài đó. Dành cho mùa lạnh, v.v, có giải thích rằng: Tòa lâu đài an trú vào mùa lạnh được an lạc/dễ chịu, thì đây là tòa lâu đài dành cho mùa lạnh. Đối với những từ ngữ còn lại (tòa lâu đài dành cho mùa nóng, tòa lâu đài dành cho mùa mưa) cũng có cách thức này tương tự. Tuy nhiên, trong cụm từ ‘ tòa lâu đài dành cho mùa lạnh’ này có ý nghĩa của lời nói (như sau)— dành cho mùa lạnh gọi là ‘mùa đông’, tòa lâu đài gọi là ‘thuộc về mùa lạnh’ vì phù hợp với mùa lạnh. Ngay cả trong các từ ngữ còn lại (tòa lâu đài dành cho mùa nóng, tòa lâu đài dành cho mùa mưa) cũng áp dụng phương thức này.

Tattha hemantiko pāsādo navabhūmako ahosi, bhūmiyo panassa uṇhautuggāhāpanatthāya nīcā[107] ahesuṃ. Tattha dvāravātapānāni suphusitakavāṭāni ahesuṃ nibbivarāni. Cittakammampi karontā tattha tattha pajjalite aggikkhandheyeva akaṃsu. Bhūmattharaṇaṃ panettha kambalamayaṃ, tathā sāṇivitānanivāsanapārupanaveṭhanāni. Vātapānāni uṇhaggāhāpanatthaṃ divā vivaṭāni rattiṃ pihitāni honti.

Trong số 3 tòa lâu đài ấy, tòa lâu đài dành cho mùa lạnh có 9 tầng. Mỗi tầng của tòa lâu đài đó lại được làm thấp dần xuống (theo thứ tự từ dưới lên) nhằm mục đích đón nhận bầu không khí ấm áp. Cửa chính và cửa sổ tại tòa lâu đài này đều có cánh khép kín, không hề có kẽ hở. Các người thợ mộc khi thực hiện công việc trang trí cũng vẽ hình những đống lửa đang cháy rực ở từng tầng. Hơn nữa, các tấm thảm trải sàn trong tòa lâu đài này đều được làm bằng len. Rèm cửa, trần nhà, trang phục, chăn đắp và khăn đội đầu cũng tương tự như thế, tức là đều được làm bằng len. Cửa sổ thì mở vào ban ngày rồi đóng lại vào ban đêm để tiếp thu hơi ấm.

Gimhiko pana pañcabhūmako ahosi. Sītautuggāhāpanatthaṃ panettha bhūmiyo uccā asambādhā ahesuṃ[108]. Dvāravātapānāni nātiphusitāni savivarāni sajālāni ahesuṃ. Cittakamme uppalāni padumāni puṇḍarīkāniyeva[109] akaṃsu. Bhūmattharaṇaṃ panettha dukūlamayaṃ, tathā sāṇivitānanivāsanapārupanaveṭhanāni. Vātapānasamīpesu cettha nava cāṭiyo ṭhapetvā udakassa pūretvā nīluppalādīhi sañchādenti. Tesu tesu padesesu udakayantāni karonti, yehi deve vassante viya udakadhārā nikkhamanti. Antopāsāde tattha tattha kalalapūrā doṇiyo ṭhapetvā pañcavaṇṇāni padumāni ropayiṃsu. Pāsādamatthake sukkhamahiṃsacammaṃ bandhitvā yantaṃ parivattetvā yāva chadanapiṭṭhiyā pāsāṇe āropetvā tasmiṃ vissajjenti. Tesaṃ camme pavaṭṭantānaṃ saddo meghagajjitaṃ viya hoti. Dvāravātapānāni panettha divā pihitāni honti rattiṃ vivaṭāni.

Hơn nữa, tòa lâu đài dành cho mùa nóng có 5 tầng. Mỗi tầng của tòa lâu đài này được nâng trần cao lên, không bị chật hẹp (rộng rãi thoáng đãng) nhằm mục đích đón nhận bầu không khí mát lành. Cửa chính và cửa sổ không đóng quá kín, có các kẽ hở và được gắn lưới. Trong khi thực hiện việc trang trí, toàn bộ đều được họa bằng những đóa sen xanh, sen hồng và hoa sen trắng. Các tấm thảm trải sàn trong tòa lâu đài này được chế tác bằng sợi bông/sợi gai. Rèm cửa, trần nhà, trang phục mặc, chăn đắp và khăn đội đầu cũng tương tự như vậy, tức là được làm từ vải sợi bông/sợi gai. Và ở khu vực gần cửa sổ trong tòa lâu đài này, họ cho đặt 9 cái lu lớn chứa đầy nước rồi phủ kín với những đóa sen xanh, v.v, đồng thời làm các dòng nước chảy (thác nước) tại những nói ấy, là nguyên nhân làm cho dòng nước chảy ra giống như khi trời mưa. Bên trong tòa lâu đài đặt các máng gỗ chứa đầy bùn tại những nơi ấy rồi trồng hoa sen 5 màu. Trên đỉnh tòa lâu đài cũng buộc chặt những tấm da trâu khô, sử dụng động cơ quay đòn để nâng các viên đá lên cao đến tận mái nhà, rồi thả rớt xuống trên tấm da trâu khô đó. Khi các viên đá lăn trên bề mặt tấm da sẽ có âm thanh tựa như tiếng sấm rền. Ngoài ra, cửa chính và cửa sổ của tòa lâu đài này sẽ có người đóng lại vào ban ngày và có người mở ra vào ban đêm.

Vassiko sattabhūmako ahosi. Bhūmiyo panettha dvinnampi utūnaṃ gāhāpanatthāya nātiuccā nātinīcā akaṃsu. Ekaccāni dvāravātapānāni suphusitāni[110], ekaccāni savivarāni[111]. Tattha cittakammampi kesuci ṭhānesu pajjalitaaggikkhandhavasena, kesuci jātassaravasena kataṃ. Bhūmattharaṇādīni panettha kambaladukūlavasena ubhayamissakāni. Ekacce dvāravātapānā rattiṃ vivaṭā divā pihitā, ekacce divā vivaṭā rattiṃ pihitā. Tayopi pāsādā ubbedhena samappamāṇā. Bhūmikāsu pana nānattaṃ ahosi.

Dành cho mùa mưa: Tòa lâu đài dành cho mùa mưa có 7 tầng. Hơn nữa, các tầng trong tòa lâu đài này không quá cao cũng không quá thấp, nhằm mục đích đón nhận bầu không khí của cả hai mùa (nóng và lạnh). Một số cửa chính với cửa sổ được đóng khép kín, một số có kẽ hở. Ngay cả việc trang trí trong tòa lâu đài ấy— ở một vài chỗ thì làm thành đống lửa đang cháy rực, nhưng ở một vài chỗ lại họa các hồ nước thiên nhiên. Hơn nữa, các loại vải như thảm trải sàn, v.v, trong tòa lâu đài này sử dụng kết hợp cả hai loại là cả vải len và cả vải sợi bông. Một số cửa chính với một số cửa sổ sẽ có người mở vào ban đêm và có người đóng vào ban ngày; một số cửa sẽ có người mở vào ban ngày và có người đóng vào ban đêm. Cả 3 tòa lâu đài đều có chiều cao tổng thể bằng nhau, chỉ có sự khác biệt tầng lầu.

Evaṃ niṭṭhitesu pāsādesu rājā cintesi – ‘‘putto me vayappatto, chattamassa ussāpetvā rajjasiriṃ passissāmī’’ti. So sākiyānaṃ paṇṇāni pahiṇi – ‘‘putto me vayappatto, rajje naṃ patiṭṭhāpessāmi, sabbe attano attano gehesu vayappattā, dārikā imaṃ gehaṃ pesentū’’ti. Te sāsanaṃ sutvā – ‘‘kumāro kevalaṃ dassanakkhamo rūpasampanno, na kiñci sippaṃ jānāti, dārabharaṇaṃ kātuṃ na sakkhissati, na mayaṃ dhītaro dassāmā’’ti āhaṃsu. Rājā taṃ pavattiṃ sutvā puttassa santikaṃ gantvā ārocesi. Bodhisatto ‘‘kiṃ sippaṃ dassetuṃ vaṭṭati, tātā’’ti āha. Sahassathāmadhanuṃ āropetuṃ vaṭṭati, tātāti. Tena hi āharāpethāti. Rājā āharāpetvā adāsi. Dhanuṃ purisasahassaṃ āropeti, purisasahassaṃ oropeti. Mahāpuriso dhanuṃ āharāpetvā pallaṅke nisinnova jiyaṃ pādaṅguṭṭhake veṭhetvā kaḍḍhanto pādaṅguṭṭhakeneva dhanuṃ āropetvā vāmena hatthena daṇḍe gahetvā dakkhiṇena hatthena kaḍḍhitvā jiyaṃ pothesi. Sakalanagaraṃ uppatanākārappattaṃ ahosi. ‘‘Kiṃ saddo eso’’ti ca vutte ‘‘devo gajjatī’’ti āhaṃsu. Athaññe ‘‘tumhe na jānātha, na devo gajjati, aṅgīrasassa kumārassa sahassathāmadhanuṃ āropetvā jiyaṃ pothentassa jiyappahārasaddo eso’’ti āhaṃsu. Sākiyā tāvatakeneva āraddhacittā ahesuṃ.

Khi tòa lâu đài được hoàn thành như vậy, Đức vua đã suy nghĩ rằng— “Hoàng nhi của trẫm nay đã trưởng thành, trẫm sẽ cho dựng lên chiếc lọng trắng vì Hoàng nhi, rồi cùng chiêm ngưỡng sự vinh hiển của hoàng gia.” Vì vậy, Ngài liền gửi chiếu thư đến các vị thuộc tộc Sākya rằng: “Hoàng nhi của trẫm đã trưởng thành, trẫm sẽ thiết lập Hoàng nhi vào vương vị (sẽ truyền lại vương vị), tất cả các công chúa đã đến tuổi trưởng thành ở cung điện của mỗi vị, mong quý vị hãy đưa các công chúa đến cung điện này.” Các vị tộc Sākya sau khi được nghe chiếu thư ấy, đã nói rằng: “Hoàng tử tuy toàn hảo về ngoại hình đáng chiêm ngưỡng, nhưng không biết bất kỳ môn nghệ thuật nào cả, sẽ không thể chăm sóc Hoàng tử phi được đâu. Chúng ta sẽ không dâng công chúa cho.” Đức vua sau khi nghe được tin ấy, liền đi đến cung của Hoàng tử rồi kể lại sự việc ấy. Bồ Tát đã nói rằng: “Tâu phụ vương, con nên thể hiện môn nghệ thuật nào?” Đức vua đáp rằng: “Này hoàng nhi, hoàng nhi nên giương cây cung nặng phải cần đến sức mạnh của một ngàn người.” Bồ Tát đáp rằng: “Nếu vậy xin phụ vương hãy cho người mang đến.” Đức vua đã hạ lệnh mang cây cung đến. Cây cung đó cần tới một ngàn người nâng lên, và cũng cần tới một ngàn người hạ xuống. Sau khi mang cây cung đến, bậc Đại Nhân đã ngồi trên ngai báu rồi móc dây cung vào ngón chân cái kéo về (phía mình), sau đó dùng chính ngón chân cái ấy để nâng cây cung lên, ngài đã nắm lấy thân cung bằng tay trái và đã kéo căng dây cung bằng tay phải rồi thả dây bật ra. Khắp cả kinh thành đã rơi vào trạng thái hết sức kinh ngạc và khi có ai hỏi rằng: “Đây là âm thanh gì vậy?” Các vị tộc Sākya đã đáp rằng: “Đó là tiếng trời gầm.” — Lúc ấy, một nhóm người lại đáp rằng: “Các ngài không biết sao? Không phải tiếng trời gầm đâu! Đó là tiếng bật dây cung của Hoàng tử thuộc tộc Aṅgīrasa, ngài đã nâng lên cây cung vốn cần đến sức của một ngàn người rồi bật/buông dây đấy.” Chỉ với chừng ấy, các vị tộc Sākya đã có tâm được hài lòng.

Mahāpuriso ‘‘aññaṃ kiṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti āha. Aṭṭhaṅgulamattabahalaṃ ayopaṭṭaṃ kaṇḍena vinivijjhituṃ vaṭṭatīti. Taṃ vinivijjhitvā ‘‘aññaṃ kiṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti āha. Caturaṅgulabahalaṃ asanaphalakaṃ vinivijjhituṃ vaṭṭatīti. Taṃ vinivijjhitvā ‘‘aññaṃ kiṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti āha. Vidatthibahalaṃ udumbaraphalakaṃ vinivijjhituṃ vaṭṭatīti. Taṃ vinivijjhitvā ‘‘aññaṃ kiṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti. Yante baddhaṃ phalakasataṃ vinivijjhituṃ vaṭṭatīti. Taṃ vinivijjhitvā ‘‘aññaṃ kiṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti āha. Saṭṭhipaṭalaṃ sukkhamahiṃsacammaṃ vinivijjhituṃ vaṭṭatīti. Tampi vinivijjhitvā ‘‘aññaṃ kiṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti āha. Tato vālikasakaṭādīni ācikkhiṃsu. Mahāsatto vālikasakaṭampi palālasakaṭampi vinivijjhitvā udake ekusabhappamāṇaṃ kaṇḍaṃ pesesi, thale aṭṭhausabhappamāṇaṃ. Atha naṃ ‘‘idāni vātiṅgaṇasaññāya vālaṃ vijjhituṃ vaṭṭatī’’ti āhaṃsu. Tena hi bandhāpethāti. Saddantare bajjhatu, tātāti. Purato gacchantu[112], gāvutantare bandhantūti. Purato gacchantu, addhayojane bandhantūti. Purato gacchantu yojane bandhantūti. Bandhāpetha, tātāti yojanamatthake vātiṅgaṇasaññāya vālaṃ bandhāpetvā rattandhakāre meghapaṭalacchannāsu disāsu kaṇḍaṃ khipi, taṃ gantvā yojanamatthake vālaṃ phāletvā pathaviṃ pāvisi. Na kevalañca ettakameva, taṃ divasaṃ pana mahāsatto loke vattamānasippaṃ sabbameva sandassesi. Sakyarājāno attano attano dhītaro alaṅkaritvā pesayiṃsu, cattālīsasahassanāṭakitthiyo ahesuṃ. Mahāpuriso tīsu pāsādesu devo maññe paricārento mahāsampattiṃ anubhavati.

Bậc Đại nhân đã nói rằng: “Nhi thần nên làm thêm điều gì khác nữa không?” – Đức vua đáp rằng: “Hoàng nhi nên bắn xuyên qua tấm sắt dày khoảng 8 ngón tay.” Sau khi bắn xuyên qua tấm sắt ấy bậc Đại nhân đã nói rằng: “Nhi thần nên làm thêm điều gì khác nữa?” — Hoàng nhi nên bắn xuyên qua tấm gỗ giáng hương dày 4 ngón tay. — Sau khi bắn xuyên qua tấm gỗ giáng hương ấy bậc Đại nhân đã nói rằng: “Nhi thần nên làm thêm điều gì khác nữa?” — Hoàng nhi nên bắn xuyên qua tấm gỗ sung dày 1 gang tay. Sau khi bắn xuyên qua tấm gỗ sung ấy bậc Đại nhân đã nói rằng: “Nhi thần nên làm thêm điều gì khác nữa?” — Hoàng nhi nên bắn xuyên qua 100 tấm gỗ được buộc nối trên một động cơ. Sau khi bắn xuyên qua 100 tấm gỗ ấy bậc Đại nhân đã nói rằng: “Nhi thần nên làm thêm điều gì khác nữa?” — Hoàng nhi nên bắn xuyên qua tấm da trâu khô dày 60 lớp. Sau khi bắn xuyên qua tấm da trâu khô dày 60 lớp ấy bậc Đại nhân đã nói rằng: “Nhi thần nên làm thêm điều gì khác nữa?” Khi đó, các vị tộc Sākya mới bảo rằng hãy bắn vào xe chở cát, v.v. Bậc Đại nhân bắn xuyên qua cả xe chở cát lẫn xe chở rơm, rồi bắn mũi tên găm xuống lòng nước sâu khoảng 1 Usabha và bắn trên mặt đất xa khoảng 4 Usabha. Khi ấy, các vị tộc Sākya đã nói với bậc Đại rằng: “Bây giờ, Hoàng tử cần phải bắn sợi lông đuôi thú xuyên qua với quả cà làm mục tiêu.” — Bậc Đại Nhân đáp rằng: “Nếu vậy, các Hoàng thúc hãy cho buộc sợi lông đuôi thú.” Các vị Sākya liền ra lệnh rằng: “Này các khanh, hãy cùng nhau buộc sợi lông đuôi thú. Một nhóm hãy buộc ở khoảng cách có âm thanh vang lớn; một nhóm hãy đi về phía trước để buộc ở khoảng cách 1 Gāvuta; một nhóm hãy đi về phía trước nữa để buộc ở khoảng cách nửa do-tuần; và một nhóm hãy đi về phía trước nữa để buộc ở khoảng cách 1 do-tuần. Bậc Đại Nhân đã cho buộc sợi lông đuôi thú ở khoảng cách xa 1 do-tuần với quả cà làm mục tiêu, rồi bắn mũi tên đi về khắp các hướng dày đặc sương mù trong bóng tối ban đêm. Mũi tên xé gió lao đi xuyên qua sợi lông đuôi thú ở khoảng cách xa 1 do-tuần rồi găm sâu xuyên qua mặt đất. Và không chỉ dừng lại ở việc bắn cung ấy, mà ngay trong ngày hôm đó bậc Đại nhân đã phô diễn toàn bộ tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp hiện có ở thế gian. Các vị Sākya liền trang điểm cho các công chúa của mình rồi đưa đến (dâng lên Hoàng tử); số lượng nữ vũ công đã có tới bốn mươi ngàn người. Bậc Đại nhân hưởng thụ sự thành tựu to lớn trong 3 tòa lâu đài như thể một vị Thiên nhân đang được hầu hạ.

Nippurisehīti purisavirahitehi. Na kevalaṃ cettha tūriyāneva nippurisāni, sabbaṭṭhānānipi nippurisāneva. Dovārikāpi itthiyova, nhāpanādiparikammakarāpi itthiyova. Rājā kira ‘‘tathārūpaṃ issariyasukhasampattiṃ anubhavamānassa purisaṃ disvā parisaṅkā uppajjati, sā me puttassa mā ahosī’’ti sabbakiccesu itthiyova ṭhapesi. Paricārayamānoti modamāno. Na heṭṭhāpāsādaṃ orohāmīti pāsādato heṭṭhā na otarāmi. Iti maṃ cattāro māse añño sikhābaddho puriso nāma passituṃ nālattha. Yathāti yena niyāmena. Dāsakammakaraporisassāti dāsānañceva devasikabhattavetanābhatānaṃ[113] kammakarānañca nissāya jīvamānapurisānañca. Kaṇājakanti sakuṇḍakabhattaṃ. Bilaṅgadutiyanti kañjikadutiyaṃ.

Không có nam giới: Hoàn toàn vắng bóng đàn ông. Trong tòa lâu đài này, không chỉ riêng người chơi nhạc cụ không phải nam giới, mà ở tất cả những chỗ khác cũng không có đàn ông. Ngay cả người gác cổng cũng là phụ nữ; những người làm công việc trong lúc dâng nước tắm, v.v, cũng đều là nữ giới. Nghe rằng, Đức vua đã bố trí toàn nữ nhân đảm nhiệm mọi công việc (với ý nghĩ rằng): “Trong khi đang thọ hưởng sự thành tựu về quyền thế và sự thành tựu lợi lạc có hình thức như thế này, sau khi nhìn thấy một người đàn ông, sẽ khởi lên sự nghi ngờ. Mong rằng sự nghi ngờ ấy đừng xảy ra đối với Hoàng nhi của trẫm!” Được hầu cận: Đang hân hoan. Không bước xuống phía dưới của tòa lâu đài: Ta không bước xuống phía dưới của tòa lâu đài. Như vậy, không một người đàn ông nào khác cho đến một đứa trẻ búi tóc nhìn thấy được ta suốt trong 4 tháng (mùa mưa). Như thế nào: bằng phương thức nào. Cho đầy tớ, người làm công, và người hầu: Cho những người đầy tớ và cho cả những người làm công được cung cấp khẩu phần ăn và tiền thù lao hằng ngày, và cho cả những người sống nương nhờ. Cơm gạo nát: Cơm nấu từ gạo gãy/nát. Cháo chua là món thứ hai/có nước rau muối chua là thứ hai: có món nước rau muối chua là thứ hai.

Với sự thành tựu có hình thức như thế: Người đã thành tựu bằng năng lực thần thông do phước báu tự phát khởi như vậy. Và người được nuôi dưỡng tế nhị như vậy: Người không có sự đau khổ có nguồn gốc sanh khởi như vậy. Chánh văn Pāḷi cũng có chỗ ghi chép là ‘Sokhumālena’. Như vậy, Như Lai đã thuật lại sự vinh hiển và sự thành tựu của bản thân với địa vị chỉ bấy nhiêu. Và trong khi kể lại, Ngài không nói vì lòng tự cao, mà Ngài đã nói để làm rõ trạng thái của sự không xao lãng rằng: “Dù ta đang sống trong sự thành tựu có hình thức như vậy, ta cũng đã không thực hiện sự xao lãng, (mà trái lại) đã trở thành một người hoàn toàn không phóng dật.” Chính vì lý do đó, Ngài đã nói lời bắt đầu như sau: “kẻ phàm nhân không có sự học hỏi.” Trong số các từ ngữ đó, người khác: hạng người khác. Bị tàn tạ: bị tàn tạ do sự già nua. Bị phiền phức: Là người cảm thấy chán ngán, là người bị áp bức. Hổ thẹn: Biết hổ thẹn, xấu hổ. Ghê tởm: Khởi lên sự kinh tởm giống như khi nhìn thấy những vật không sạch sẽ.

Với sự thành tựu có hình thức như thế: Người đã thành tựu bằng năng lực thần thông do phước báu tự phát khởi như vậy. Và người được nuôi dưỡng tế nhị như vậy: Người không có sự đau khổ có nguồn gốc sanh khởi như vậy. Chánh văn Pāḷi cũng có chỗ ghi chép là ‘Sokhumālena’. Như vậy, Như Lai đã thuật lại sự vinh hiển và sự thành tựu của bản thân với địa vị chỉ bấy nhiêu. Và trong khi kể lại, Ngài không nói vì lòng tự cao, mà Ngài đã nói để làm rõ trạng thái của sự không xao lãng rằng: “Dù ta đang sống trong sự thành tựu có hình thức như vậy, ta cũng đã không thực hiện sự xao lãng, (mà trái lại) đã trở thành một người hoàn toàn không phóng dật.” Chính vì lý do đó, Ngài đã nói lời bắt đầu như sau: “kẻ phàm nhân không có sự học hỏi.” Trong số các từ ngữ đó, người khác: hạng người khác. Bị tàn tạ: bị tàn tạ do sự già nua. Bị phiền phức: Là người cảm thấy chán ngán, là người bị áp bức. Hổ thẹn: Biết hổ thẹn, xấu hổ. Ghê tởm: Khởi lên sự kinh tởm giống như khi nhìn thấy những vật không sạch sẽ.

Attānaṃyeva atisitvāti[114] jarādhammampi samānaṃ attānaṃ atikkamitvā aṭṭīyati harāyatīti attho. Jarādhammoti jarāsabhāvo. Jaraṃ anatītoti jaraṃ anatikkanto, anto jarāya vattāmi. Iti paṭisañcikkhatoti evaṃ paccavekkhantassa. Yobbanamadoti yobbanaṃ nissāya uppajjanako mānamado. Sabbasopahīyīti sabbākārena pahīno. Maggena pahīnasadiso[115] katvā dassito. Na panesa maggena pahīno, paṭisaṅkhānena pahīnova kathitoti veditabbo. Bodhisattassa hi devatā jarāpattaṃ dassesuṃ. Tato paṭṭhāya yāva arahattā antarā mahāsattassa yobbanamado nāma na uppajjati. Sesapadadvayepi eseva nayo. Ettha pana ārogyamadoti ahaṃ nirogoti ārogyaṃ nissāya uppajjanako mānamado. Jīvitamadoti ahaṃ ciraṃ jīvīti taṃ nissāya uppajjanako mānamado. Sikkhaṃ paccakkhāyāti sikkhaṃ paṭikkhipitvā. Hīnāyāvattatīti hīnāya lāmakāya gihibhāvāya āvattati.

Quên mất bản thân mình cũng như vậy: cảm thấy chán ngán, hổ thẹn, quên mất bản thân mình cũng có bản chất già nua. Có bản chất già: Có bản chất già nua. Không tránh khỏi già: Không vượt qua khỏi sự già nua, tức là ta vẫn luôn vận hành bên trong sự già nua. Trong khi suy xét như vậy: Người đang quán xét lại như vậy. Sự say mê tuổi trẻ[116]: Sự say mê do tác động ngã mạn nương vào sự trẻ trung sanh khởi. Được đoạn trừ hoàn toàn: Được đoạn trừ với mọi biểu hiện. (Đức Thế Tôn) chỉ rõ ‘sự say mê mạng sống’ làm cho như thể đã được đoạn trừ bằng Đạo; tuy nhiên, (bậc trí) nên hiểu rằng: ‘Sự say mê này không phải đoạn trừ bằng Đạo,’ mà Đức Thế Tôn thuyết rằng: ‘Chỉ được đoạn trừ bằng việc quán xét lại (Minh sát) mà thôi.’ Bởi vì chư Thiên đã hóa hiện người đã đạt đến sự già nua cho Bồ Tát (thấy), kể từ thời điểm đó cho đến khi trở thành vị A-la-hán (thì) sự say mê tuổi trẻ là không sanh khởi đối với bậc Đại Nhân Ngài trong khoảng thời gian ấy. Luôn cả trong cụm từ còn lại cũng có phương thức này tương tự. Hơn nữa, ở đây, Sự say mê do tác động ngã mạn được sanh khởi dựa vào sự không có bệnh tật rằng: “Ta là người mạnh khỏe” gọi là sự say mê sức khỏe. Sự say mê do tác động ngã mạn được sanh khởi dựa vào sự sống rằng “Ta sống lâu” gọi là sự say mê mạng sống. Đã xả bỏ sự học tập: Từ chối sự học tập. Nên đã trở lại đời sống tại gia tầm thường: Quay trở lại bản thể cư sĩ (đời sống thế tục) thấp kém, hạ liệt.

Yathādhammāti byādhiādīhi yathāsabhāvā. Tathāsantāti yathā santā eva[117] aviparītabyādhiādisabhāvāva hutvāti attho. Jigucchantīti parapuggalaṃ jigucchanti. Mama evaṃ vihārinoti mayhaṃ evaṃ jigucchāvihārena viharantassa evaṃ jigucchanaṃ nappatirūpaṃ bhaveyya nānucchavikaṃ. Sohaṃ evaṃ viharantoti so ahaṃ evaṃ paraṃ jigucchamāno viharanto, evaṃ vā iminā paṭisaṅkhānavihārena viharanto. Ñatvā dhammaṃ nirūpadhinti sabbūpadhivirahitaṃ nibbānadhammaṃ ñatvā. Sabbe made abhibhosmīti sabbe tayopi made abhibhaviṃ samatikkamiṃ. Nekkhamme daṭṭhu khematanti nibbāne khemabhāvaṃ disvā. Nekkhammaṃ daṭṭhu khematotipi pāṭho, nibbānaṃ khemato disvāti attho. Tassame ahu ussāhoti tassa mayhaṃ taṃ nekkhammasaṅkhātaṃ nibbānaṃ abhipassantassa ussāho ahu, vāyāmo ahosīti attho. Nāhaṃbhabbo etarahi, kāmāni paṭisevitunti ahaṃ dāni duvidhepi kāme paṭisevituṃ abhabbo. Anivatti bhavissāmīti pabbajjato ca[118] sabbaññutaññāṇato ca na nivattissāmi, anivattako bhavissāmi. Brahmacariyaparāyaṇoti maggabrahmacariyaparāyaṇo jātosmīti attho. Iti imāhi gāthāhi mahābodhipallaṅke attano āgamanīyavīriyaṃ kathesi.

Đúng theo Pháp: Bản thể thật có sự đau bệnh. Tồn tại như thế: Có lời giải thích rằng— là người có sự đau bệnh, v.v, là bản thể thật không bị biến đổi đúng y như trạng thái đang hiện có. Đều sanh tâm ghê tởm: ghê tởm/chán ghét đối với người khác. Đối với ta thường sống như vậy: Khi ta sống với lối sống đáng ghê tởm như vậy, sự ghê tởm như thế thật là điều không thích hợp, không thích đáng. Ta ấy sống như vậy: Ta ấy chán ghét người khác sống như vậy; hoặc là sống bằng lối sống của sự suy xét này như thế. Biết rõ về pháp không còn mầm mống tái sanh: Biết rõ Pháp là Niết Bàn vốn tránh khỏi/trống không tất cả mọi mầm mống tái sanh. Ta đã nhiếp phục/chế ngự mọi sự say mê: Ta đã nhiếp phục, đã vượt qua hết thậm chí cả 3 sự say mê. Sau khi nhìn thấy sự an toàn trong việc xuất ly: Sau khi nhìn thấy trạng thái an toàn trong Niết Bàn. Trong Chánh văn Pāḷi cũng có chỗ ghi là ‘Nekkhammaṃ daṭṭhu khematoti’; có nghĩa là— sau khi nhìn thấy Niết Bàn là an toàn. Sự nỗ lực đã có đối với ta ấy: Sự nỗ lực đã có nơi ta ấy— người nhìn thấy rõ ràng/tường tận Niết-bàn được xem là sự xuất ly ấy; sự tinh tấn đã có là ý nghĩa. Giờ đây Ta không thể thọ dụng các dục vọng: Bây giờ, ta không thể thọ dụng cả hai loại dục (vật dục và phiền não dục) nữa. Ta sẽ không trở lui: Ta sẽ không quay trở lại, sẽ không rút lui khỏi việc xuất gia và từ trí toàn tri. Sẽ có Phạm hạnh là đích đến: Ta đã là người có con đường Phạm hạnh là đích đến. Đức Thế Tôn đã thuyết về sự tinh tấn là nguyên nhân làm cho Ngài đạt được bảo tọa ở tại cội Đại Bồ-đề bằng những bài kệ này như đã giải thích.

4-10. Giải Thích Bài Kinh Quyền Chủ Đạo[119]

 40. Dasame ādhipateyyānīti jeṭṭhakakāraṇato nibbattāni. Attādhipateyyantiādīsu attānaṃ jeṭṭhakaṃ katvā nibbattitaṃ guṇajātaṃ attādhipateyyaṃ. Lokaṃ jeṭṭhakaṃ katvā nibbattitaṃ lokādhipateyyaṃ. Navavidhaṃ lokuttaradhammaṃ jeṭṭhakaṃ katvā nibbattitaṃ dhammādhipateyyaṃ. Na iti bhavābhavahetūti iti bhavo, iti bhavoti evaṃ āyatiṃ, na tassa tassa sampattibhavassa hetu. Otiṇṇoti anupaviṭṭho. Yassa hi jāti antopaviṭṭhā, so jātiyā otiṇṇo nāma. Jarādīsupi eseva nayo. Kevalassa dukkhakkhandhassāti sakalassa vaṭṭadukkharāsissa. Antakiriyā paññāyethāti antakaraṇaṃ paricchedaparivaṭumakaraṇaṃ paññāyeyya. Ohāyāti pahāya. Pāpiṭṭhatareti lāmakatare. Āraddhanti paggahitaṃ paripuṇṇaṃ, āraddhattāva asallīnaṃ. Upaṭṭhitāti catusatipaṭṭhānavasena upaṭṭhitā. Upaṭṭhitattāva asammuṭṭhā. Passaddho kāyoti nāmakāyo ca karajakāyo ca passaddho vūpasantadaratho. Passaddhattāva asāraddho. Samāhitaṃ cittanti ārammaṇe cittaṃ sammā āhitaṃ suṭṭhu ṭhapitaṃ. Sammā āhitattāva ekaggaṃ. Adhipatiṃ karitvāti jeṭṭhakaṃ katvā. Suddhaṃattānaṃ pariharatīti suddhaṃ nimmalaṃ katvā attānaṃ pariharati paṭijaggati, gopāyatīti attho. Ayañca yāva arahattamaggā pariyāyena suddhamattānaṃ pariharati nāma, phalappattova pana nippariyāyena suddhamattānaṃ pariharati.

Trong bài Kinh thứ mười, quyền chủ đạo: quyền chủ đạo được phát sanh từ nguyên nhân quan trọng nhất. Quyền chủ đạo đối với bản thân, v.v, ân đức được sanh khởi vì đã lấy bản thân làm trọng được gọi là quyền chủ đạo đối với bản thân[120]. Ân đức được sanh khởi vì đã lấy thế gian làm trọng được gọi là quyền chủ đạo đối với thế gian[121]. Ân đức được sanh khởi vì lấy chín Pháp Siêu thế làm trọng được gọi là quyền chủ đạo đối với Pháp[122]. Không phải vì nhân có mặt hay không có mặt: Không phải vì nguyên nhân của mỗi một sự thành tựu về hữu có sự tiếp diễn như vầy – hữu là như thế này, hữu là thế thế này. Bị rơi vào: chìm vào. Thật vậy, sự sanh đi vào bên trong của người nào, người đó gọi là bị rơi vào bởi sự sanh. Luôn cả sự già, v.v. cũng có phương thức này tương tự. Của toàn bộ khổ uẩn này: Toàn bộ khối khổ đau cả sự luân hồi. Đưa đến việc chấm dứt…có thể được nhận biết: Việc chấm dứt, là việc làm cho lối đi bao quanh bị gián đoạn có thể được nhận biết. Từ bỏ: Đoạn tận. Tồi tệ hơn: Thấp hèn hơn. Đã khởi sự: Đã được nâng đỡ, đã được làm cho đầy đủ; và gọi là “không bị trì trệ[123]” do đã được khởi sự. Được thiết lập: Được thiết lập do tác động của bốn sự thiết lập niệm. Do niệm được thiết lập ấy gọi là ‘không bị xao lãng’. Có thân được khinh an: Danh thân và Sắc thân được khinh an, tức là có sự lo lắng/buồn phiền được vắng lặng; Do trạng thái an tịnh gọi là không còn rạo rực. Có tâm được định tĩnh: tâm được đặt để đúng đắn, tức là được thiết lập khéo léo ở các đối tượng; gọi là “tập trung/có tâm chuyên nhất” chính trạng thái được đặt để đúng đắn. Làm quyền chủ đạo/làm cho tăng thượng: làm cho quan trọng nhất. Gìn giữ cho bản thân được thanh tịnh: Gìn giữ, tức là thực hành; giải thích rằng— bảo vệ bản thân được trong sạch, tức là làm cho hết sự dơ bẩn. Khi nói theo cách gián tiếp, vị Tỳ-khưu này gọi là gìn giữ bản thân được thanh tịnh cho đến khi đạt đến Đạo A-la-hán. Nhưng khi nói theo cách trực tiếp, chỉ có vị đã chứng đắc Thánh quả mới gọi là gìn giữ bản thân được thanh tịnh.

Svākkhātotiādīni visuddhimagge (visuddhi. 1.147) vitthāritāni. Jānaṃ passaṃ viharantīti taṃ dhammaṃ jānantā passantā viharanti. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi ādhipateyyānīti ettāvatā[124] tīṇi ādhipateyyāni lokiyalokuttaramissakāni kathitāni.

Giáo Pháp đã khéo được tuyên thuyết, v.v, đã được (Trưởng lão Buddhaghosa) giảng giải chi tiết trong bộ Thanh Tịnh Đạo (visuddhi. 1.147). Họ sống biết và thấy: trong khi biết và trong khi thấy Pháp đó, họ an trú. Này các Tỳ-khưu, có ba quyền chủ đạo này: Đức Thế Tôn đã thuyết giảng các quyền chủ đạo ấy kết hợp cả Hiệp thế và Siêu thế.

Pakubbatoti karontassa. Attā te purisa jānāti, saccaṃ vā yadi vā musāti yaṃ tvaṃ karosi, taṃ yadi vā yathāsabhāvaṃ yadi vā no yathāsabhāvanti tava attāva jānāti. Iminā ca kāraṇena veditabbaṃ ‘‘pāpakammaṃ karontassa loke paṭicchannaṭṭhānaṃ nāma natthī’’ti. Kalyāṇanti sundaraṃ. Atimaññasīti atikkamitvā maññasi. Attānaṃ parigūhasīti yathā me attāpi na jānāti, evaṃ naṃ parigūhāmīti vāyamasi. Attādhipateyyakoti attajeṭṭhako[125]. Lokādhipoti lokajeṭṭhako. Nipakoti paññavā. Jhāyīti jhāyanto. Dhammādhipoti dhammajeṭṭhako. Saccaparakkamoti thiraparakkamo bhūtaparakkamo. Pasayha māranti māraṃ pasahitvā. Abhibhuyya antakanti idaṃ tasseva vevacanaṃ. Yo ca phusī jātikkhayaṃ padhānavāti yo jhāyī padhānavā māraṃ abhibhavitvā jātikkhayaṃ arahattaṃ phusi. Sotādisoti so tathāvidho tathāsaṇṭhito. Lokavidūti tayo loke vidite pākaṭe katvā ṭhito. Sumedhoti supañño. Sabbesu dhammesu atammayo munīti sabbe tebhūmakadhamme taṇhāsaṅkhātāya tammayatāya[126] abhāvena atammayo khīṇāsavamuni kadāci katthaci na hīyati na parihīyatīti vuttaṃ hotīti.

Đối với kẻ đang làm: Của người đang làm. Này người kia, chính bản thân ngươi biết rõ là sự thật hay là sự giả dối: Ngươi đã làm điều gì, điều đó dù có bản chất thật hoặc có bản chất không thật đi nữa, chính bản thân ngươi tự biết điều đó. Và vì lý do này, bậc trí nên biết rằng: “Nơi che giấu của kẻ đang làm việc ác là không có ở trên đời.” Tốt lành: tốt đẹp. Lại khinh khi: ngươi nghĩ quá mức (cho rằng mình vượt trội hơn). Và vẫn còn che giấu: ngươi cố gắng rằng: “Bản thân ta không biết như thế nào, (thì) ta sẽ che giấu điều ác đó như vậy.” Người có bản thân làm chủ đạo: Có bản thân tối cao. Người có thế gian làm chủ đạo: Có thế giới tối cao. Người khôn khéo: người có tuệ. Thiền tịnh: Trong khi tham thiền. Người có Pháp làm chủ đạo: Có Pháp tối cao. Người có sự nỗ lực về pháp chân thật: Có sự nỗ lực kiên cố, tức là có sự nỗ lực chân chính. Nhiếp phục được Ma vương: Đã chế ngự được Ma vương. Chế ngự được sự chết/tử thần: Đây là cụm từ dùng để thay thế cho chính cụm từ ‘nhiếp phục được Ma vương’. Và người nào có sự nỗ lực … đã xúc chạm sự diệt trừ tái sanh: Người nào có thiền định, có tinh tấn, sau khi nhiếp phục được Ma vương đã xúc chạm sự diệt trừ tái sanh, tức là (chứng đắc) bản thể A-la-hán. Người như thế: người đó, loại người ấy, người an trú với biểu hiện như thế. Thế Gian Giải: Làm cho thế gian được rõ ràng, tức là làm cho hiển lộ rồi an trú. Diệu chí: người có trí tuệ tốt đẹp. Là bậc hiền trí đã không còn tham ái (tà kiến-ngã mạn) trong tất cả các Pháp: Đức Thế Tôn thuyết rằng: “bậc hiền trí là vị đã cạn kiệt các lậu hoặc được gọi là hết thảy sự thèm muốn vì không còn sự thèm muốn là tham ái trong tất cả các pháp vận hành trong 3 cõi (Tam giới) nên mới không bị suy thoái, không bị suy giảm trong bất cứ thời gian nào, ở bất kỳ nơi đâu.”

Giải Thích Phẩm Thiên Sứ — được kết thúc

[1] Yaṃ yaṃ (Ka)

[2] Imassa lokassa dassetāro: giới thiệu chúng vào đời (HT TMC)

[3] Puttesu (Sī)

[4] Iminā (Ka)

[5] evaṃ tasmiṃ (Sī, Syā)

[6] Aññe saraṇāni denti (Sī)

[7] pāṇe hi chinditvā bhinditvāpi (Sī)

[8] huneyyā ca puttānaṃ: Xứng đáng được cúng dường (HT TMC)

[9] Pajāya anukampakā: Vì thương đến con cháu HT TMC)

[10] Sagge ca modatīti (Sī)

[11] Idha ceva (Sī)

[12] Devalokaṃ (Ka)

[13] Ekoti katvā (Sī)

[14] mānānusayo cāti ete kilesā (Sī, Syā)

[15] Ahaṅkāramamaṅkāramānānusaya: ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên (HT TMC)

[16] laddhanāmena (Sī, Syā)

[17] nibbānanteva (Syā)

[18] Sabbasaṅkhārasamatho: là chỉ tức tất cả hành (HT TMC)

[19] Parovarānīti parāni ca ovarāni ca (Sī)

[20] Para-attabhāvasaka-attabhāvādīni (Sī)

[21] suttepi (Sī)

[22] Acchejji (Syā, Ka)

[23] Vāvattayi (Sī)

[24] Vivattayi saṃyojanaṃ: đã cởi mở kiết sử. (HT TMC)

[25] Sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā: với chơn chánh hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau. (HT TMC)

[26] kilesepaṭissajjano (Sī)

[27] (su. ni. 1112; cūḷani. Câu Hỏi Của Thanh Niên Udaya 75)

[28] (cūḷani. udayamāṇavapucchāniddeso 75)

[29] Thinassaca panūdanaṃ: Và từ bỏ hôn trầm. (HT TMC)

[30] kukkuccānaṃ nivāraṇaṃ: Chặn đứng mọi trạo hối. (HT TMC)

[31] Aññāvimokkhaṃ: trí giải thoát, (HT TMC)

[32] Avijjāya pabhedanaṃ: Vô minh được phá tận (HT TMC)

[33] Muyhanasammuyhanasabhāvo (Ka)

[34] Apūtibhāvena (Ka)

[35] phần của hạt thóc lúa hoặc hạt giống bên trong cái vỏ ngoài cứng; hạt

[36] Aparāpariyāyavedanīyaṃ (Ka)

[37] Panettha (Ka)

[38] Katattā (Ka)

[39] Veditabbo (Ka)

[40] Māsappamāṇāpi (Sī)

[41] Uppilavituṃ (Sī, Syā)

[42] Santāpanavasena (Sī), mahāsantāpavasena (Syā)

[43] Rājā (Ka)

[44] Bādhayamāno (Ka)

[45] Deva (Ka)

[46] Adāsi (Sī)

[47] Pakkhipamānaṃ (Sī)

[48] Pahiṇeyyunti (Sī)

[49] Udakapuñchanasāṭakaṃ (Ka)

[50] Purato (Ka)

[51] pānaṃ (Ka)

[52] Upagañchi (Sī)

[53] Pacalati (Ka)

[54] Caṇkamane (Sī)

[55] Pana (Ka)

[56] Sampattaṃ kammaṃ (Sī), sampattikammaṃ (Ka)

[57] Dukkhavatthussa (Ka)

[58] Nāgaro (Ka)

[59] (vibha. 810)

[60] Attanova puttadhītaraṃ (Ka)

[61] Sabbasampattīhi (Sī), sabbasampattiṃ (Syā)

[62] Kule (Sī)

[63] lañcaṃ (Sī, Syā, Ka)

[64] Khujjo (Ka)

[65] Upadhisampattiladdhassa (Ka)

[66] (paṭi. ma. 1.234).

[67] Yampi (Sī)

[68] Purimāni ca soḷasa (Sī)

[69] Upapajje vāti (Syā)

[70] Vadhakakālo (Ka)

[71] Agahaṇakālo (Sī)

[72] Mohajañcāpi (Sī, Syā)

[73] Suttantesupi (Sī, Ka)

[74] Navavaṭṭhe (Sī)

[75] Māgha: tháng Giêng – tháng Hai DL (Từ Điển của ngài Bửu Chơn), còn theo bản dịch tiếng Thái Lan thì Māgha là tháng 3.

[76] Phagguṇa: tháng Hai – tháng Ba DL (Từ Điển của ngài Bửu Chơn), còn theo bản dịch tiếng Thái Lan thì Phagguṇa là tháng 4.

[77] Ratanamayena (Ka)

[78] Na lippati (Sī, Syā)

[79] Taṇhādiṭṭhikilesehi

[80] Vemānikapeta: Loài ngạ quỷ lãnh chịu khổ đau vào ban ngày, và thọ hưởng sự an-lạc vào ban đêm trong Cung điện ở cõi trời Dục giới.

[81] Khallāṭasīso (Mahāniddese Jarāsuttavaṇṇanāyaṃ)

[82] Khalitaṃ siroti (Sī)

[83] mahākhallitasīsaṃ (Mahāniddese Jarāsuttavaṇṇanāyaṃ)

[84] Jarājiṇṇaṃ (Ka)

[85] dīghajantudamiḷo (Sī)

[86] ākāsacetiyaṃ rattapaṭṭena (Sī, Syā), ākāsacetiye rattapaṭaṃ (Ka)

[87] Thầy tổ của người Tamil hiện nay (người gốc Nam Ấn Độ và Sri Lanka)

[88] Saṃkaḍḍhitvāti (Ka)

[89] Gaṇhanti (Sī)

[90] Dāru (Sī)

[91] Mahārāje (Sī)

[92] Manussaloke (Ka)

[93] Iti (Sī)

[94] Anasaññāyamānoti (Sī)

[95] Mahāsampattiṃ (Syā, Ka)

[96] Pāṭihāriyapakkhaṃ: Kể cả phần đặc biệt (HT TMC)

[97] Vusitavā: Phạm hạnh đã thành (HT TMC)

[98] Parikkhīṇabhavasaṃyojano: hữu kiết sử đã đoạn tận (HT TMC)

[99] Sammadaññā vimutto: Chánh trí và giải thoát (HT TMC)

[100] Kallaṃ vacanāyā: lời nói này mới là thích đáng (HT TMC)

[101] Uppalaṃ pupphatīti nīluppalaṃ byāpīyati (Sī)

[102] Chánh văn Padumaṃ: Hoa sen hồng. Puṇḍarīkaṃ: Hoa sen trắng.

[103] Kāsikaṃ candananti susaṇhaṃ candanaṃ (Syā, Ka)

[104] Upadhāritameva (Sī)

[105] Bhūmikammaṃ (Sī), navabhūmikaparikammaṃ (Syā)

[106] Hemantavāso hemanto (Sī, Syā)

[107] Nīcanīcā (Sī, Syā)

[108] Akaṁsu (Sī)

[109] Cittakamme uppalinipaduminipuṇḍarīkiniyo ca (Sī)

[110] Suphassitāni (Sī)

[111] Suvivarāni (Ka)

[112] Gacchanto (Sī, Ka)

[113] Avasiṭṭhabhattavetanabhaṭānaṃ (Ka)

[114] Atiyitvāti (Sī)

[115] Pahīnasadise (Sī)

[116] Yobbanamado: Kiêu mạn của tuổi trẻ (HT TMC)

[117] Evaṃ (Syā)

[118] Pabbajitato ca (Ka)

[119] ādhipateyyāni: Tăng thượng (HT TMC)

[120] attādhipateyyaṃ: Ngã tăng thượng (HT TMC).

[121] lokādhipateyyaṃ: Thế giới tăng thượng (HT TMC).

[122] dhammādhipateyyaṃ: pháp tăng thượng  (HT TMC).

[123] asallīnaṃ: không có thụ động (HT TMC).

[124] Ettha ca tāni (Syā, Ka)

[125] Attādhipakoti attādhipati attajeṭṭhako (Sī, Syā)

[126] Tammatāya (Sī)