5. GIẢI THÍCH CHƯƠNG BA PHÁP – Giải thích Phẩm Bà-la-môn
06. Phẩm Bà-la-môn
Giải Thích Bài Kinh Hai Vị Bà-La-Môn thứ nhất
52. Brāhmaṇavaggassa paṭhame jiṇṇāti jarājiṇṇā. Vuddhāti vayovuddhā. Mahallakāti jātimahallakā. Addhagatāti tayo addhe[1] atikkantā. Vayoanuppattāti tatiyaṃ vayaṃ anuppattā. Yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsūti puttadāre attano vacanaṃ akaronte disvā ‘‘samaṇassa gotamassa santikaṃ gantvā niyyānikamaggaṃ gavesissāmā’’ti cintetvā upasaṅkamiṃsu. Mayamassu, bho gotama, brāhmaṇāti; bho gotama, mayaṃ brāhmaṇā na khattiyā nāmaccā na gahapatikāti brāhmaṇabhāvaṃ jānāpetvā jiṇṇātiādimāhaṃsu. Akatabhīruttāṇāti akatabhayaparittāṇā. Avassayabhūtaṃ patiṭṭhākammaṃ amhehi na katanti dassenti. Tagghāti ekaṃsatthe nipāto, sampaṭicchanatthe vā. Ekantena tumhe evarūpā, ahampi kho etaṃ sampaṭicchāmīti ca dasseti. Upanīyatīti upasaṃharīyati. Ayaṃ hi jātiyā jaraṃ upanīyati, jarāya byādhiṃ, byādhinā maraṇaṃ, maraṇena puna jātiṃ. Tena vuttaṃ – ‘‘upanīyatī’’ti.
Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm Bà-la-môn, già yếu: già yếu (tình trạng suy nhược) do sự già. Lớn tuổi: đã cao tuổi. Trưởng thượng: Già cả do thâm niên. Đã trải qua cuộc đời: đã đi qua hơn nửa cuộc đời (qua tuổi trung niên). Đã đạt đến tuổi thọ: đã đạt đến chặng cuối của tuổi thọ. Đã đi đến yết kiến Đức Thế Tôn: Sau khi nhìn thấy vợ con không nghe theo lời nói của mình, Bà-la-môn đã nghĩ rằng: “Ta sẽ đến trú xứ của Sa-môn Gotama để tầm cầu con đường đưa đến giải thoát”, rồi đi đến gặp ngài. Thưa ngài Gotama, chúng tôi là những Bà-la-môn…: Hai vị Bà-la-môn sau khi tuyên bố về bản thể Bà-la-môn rằng: “Thưa ngài Gotama, hai chúng tôi là những Bà-la-môn, không phải dòng Sát-đế-lỵ, không phải viên quan đại thần, cũng không phải gia chủ”, rồi đã nói lời bắt đầu rằng: “Chúng tôi đã già , v.v.” Đã không tạo nơi nương náu sự khiếp sợ: Hai vị Bà-la-môn bày tỏ rằng: “Cả hai chúng tôi đã không tạo nơi nương náu sự khiếp sợ. Tức là đã không tạo nghiệp lành làm nơi an trú, làm chỗ trú ẩn/an trú”. Thật vậy: Chỉ là phân từ với ý nghĩa hoàn toàn giống nhau, hoặc với ý nghĩa xác nhận; và Đức Thế Tôn chỉ rõ: “Điều này đến ngay cả ta [Như Lai] cũng xác nhận, các ông đều là như thế bởi hoàn toàn giống nhau.” Đã bị…dẫn dắt: bị dẫn dắt đến/bị lôi kéo vào. Giải thích rằng— Chúng sanh trong thế gian này bị ‘sự sanh’ dẫn đến ‘sự già’, bị ‘sự già’ dẫn đến ‘bệnh tật’, bị ‘bệnh tật’ dẫn đến ‘sự chết’, và bị ‘sự chết’ dẫn đến ‘sự sanh’ nữa. Vì lý do đó, Đức Thế Tôn mới nói rằng— ‘đã bị…dẫn dắt’.
Idāni yasmā te brāhmaṇā mahallakattā pabbajitvāpi vattaṃ pūretuṃ na sakkhissanti, tasmā ne pañcasu sīlesu patiṭṭhāpento bhagavā yodha kāyena saṃyamotiādimāha. Tattha kāyena saṃyamoti kāyadvārena saṃvaro. Sesesupi eseva nayo. Taṃ tassa petassāti taṃ puññaṃ tassa paralokaṃ gatassa tāyanaṭṭhena tāṇaṃ, nilīyanaṭṭhena[2] leṇaṃ, patiṭṭhānaṭṭhena dīpo, avassayanaṭṭhena saraṇaṃ, uttamagativasena parāyaṇañca hotīti dasseti. Gāthā uttānatthāyeva. Evaṃ te brāhmaṇā tathāgatena pañcasu sīlesu samādapitā yāvajīvaṃ pañca sīlāni rakkhitvā sagge nibbattiṃsu.
Bây giờ, bởi vì hai vị Bà-la-môn ấy dù đã xuất gia nhưng cũng không thể làm tròn các phận sự do tuổi tác đã cao. Vì thế, trong khi cho hai vị Bà-la-môn ấy an trú trong 5 giới Đức Thế Tôn đã nói rằng: “sự chế ngự thân ở đời này”. Trong các từ ngữ ấy, sự ngăn giữ ở thân môn gọi là sự chế ngự thân. Các từ ngữ còn lại cũng có phương cách này tương tự. Của người đã qua đời: Đức Thế Tôn chỉ rõ— Phước báu ấy được gọi là chỗ nương tựa theo ý nghĩa là nơi nương tựa của người đi sang thế giới khác; là hang trú ẩn theo ý nghĩa là nơi trú ẩn; là hòn đảo/ngọn đèn theo ý nghĩa là nâng đỡ; là nơi trú ẩn theo ý nghĩa là nơi nương náu; là đích đến vì có khả năng đưa đến cảnh giới tái sanh cao quý hơn. Kệ ngôn này có y nghĩa đơn giản. Hai vị Bà-la-môn ấy sau khi được Như Lai cho thọ trì năm giới như vậy, đã gìn giữ 5 giới cho đến trọn đời và đã được tái sinh vào cõi Trời.
Giải Thích Bài Kinh Hai Vị Bà-La-Môn thứ hai
53. Dutiye bhājananti yaṃkiñci bhaṇḍakaṃ. Sesaṃ paṭhame vuttanayeneva veditabbaṃ.
Trong bài Kinh thứ hai, đồ đạc: bất cứ đồ vật nào. Các từ ngữ còn lại nên được hiểu theo phương thức đã được nói trong bài Kinh thứ nhất.
Giải Thích Bài Kinh Hai Vị Bà-La-Môn khác
54. Tatiye sammodanīyanti sammodajananiṃ. Sāraṇīyanti saritabbayuttakaṃ. Vītisāretvāti pariyosāpetvā. Kittāvatāti kittakena. Sandiṭṭhiko dhammo hotīti sāmaṃ passitabbo hoti. Akālikoti na kālantare phaladāyako. Ehipassikoti ‘‘ehi passā’’ti evaṃ dassetuṃ sakkāti āgamanīyapaṭipadaṃ pucchati. Opaneyyikoti[3] attano cittaṃ upanetabbo. Paccattaṃ veditabboti sāmaṃyeva jānitabbo. Viññūhīti paṇḍitehi. Pariyādinnacittoti ādinnagahitaparāmaṭṭhacitto hutvā. Cetetīti cinteti. Sesamettha uttānameva. Imasmiṃ pana sutte brāhmaṇena lokuttaramaggo pucchito, satthārāpi soyeva kathito. So hi sāmaṃ passitabbattā sandiṭṭhiko nāmāti.
Trong bài Kinh thứ ba, Vừa đủ làm cho hoan hỷ: Làm cho khởi lên sự vui mừng. Vừa đủ để ghi nhớ: Xứng đáng để nhớ đến nhau. sau khi chào hỏi: Sau khi làm cho hoàn tất. Cho đến như thế nào: Với bao nhiêu nguyên nhân. Là Pháp mà người thực hành có thể thấy rõ được bởi tự thân: Là Pháp có thể nhìn thấy bởi tự thân. Không bị chi phối bởi thời gian: Cho kết quả không giới hạn thời gian. Hãy đến và hãy thấy: Bà-la-môn hỏi đến lối thực hành dẫn đến rằng: “Giáo Pháp mà người thực hành có thể chỉ ra như vầy ‘hãy đến để thấy’”. Có khả năng dẫn dắt về hướng (Niết Bàn): Nên hướng tâm của chính mình đến. Nên được hiểu biết tự cá nhân: Nên được biết rõ bởi chính bản thân mình. Bởi các bậc trí tuệ: bởi các bậc hiền trí. Có tâm bị chế ngự: Có tâm đã bị luyến ái nắm giữ, nắm lấy, và bám víu. Suy nghĩ: suy xét. Các từ ngữ còn lại trong bài kinh này đều có ý nghĩa dễ hiểu. Cũng trong bài Kinh này, vị Bà-la-môn đã hỏi Vệ-đào lộ Siêu thế, và ngay cả bậc Đạo Sư cũng ã thuyết Vệ-đào lộ Siêu thế ấy. Bởi vì Đạo lộ Siêu thế ấy là ‘sandiṭṭhiko’ vì có thể nhìn thấy bởi tự thân.
Giải Thích Bài Kinh Du Sĩ
55. Catutthe brāhmaṇaparibbājakoti brāhmaṇajātiko paribbājako, na khattiyādijātiko. Attatthampīti diṭṭhadhammikasamparāyikaṃ lokiyalokuttaramissakaṃ attano atthaṃ.
Trong bài Kinh thứ tư, một Bà-la-môn du sĩ: Một du sĩ thuộc dòng dõi Bà-là-môn, không thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ, v.v. lợi ích của mình: lợi ích của bản thân ở trong đời này và đời sau được kết hợp giữa Hiệp thế và Siêu thế.
Giải Thích Bài Kinh Niết Bàn
56. Pañcame akālikanti na kālantare pattabbaṃ. Opaneyyikanti paṭipattiyā upagantabbaṃ.
Trong bài Kinh thứ năm, Không bị chi phối bởi thời gian: Có thể chứng đạt được không giới hạn thời gian. Có khả năng dẫn dắt về hướng (Niết Bàn): Có thể đi đến bằng pháp hành.
Giải Thích Bài Kinh Tiêu Diệt
57. Chaṭṭhe ācariyapācariyānanti ācariyānañceva[4] ācariyācariyānañca. Avīci maññe phuṭo ahosīti yathā avīci mahānirayo nirantaraphuṭo nerayikasattehi paripuṇṇo, manussehi evaṃ paripuṇṇo hoti. Kukkuṭasaṃpātikāti ekagāmassa chadanapiṭṭhito uppatitvā itaragāmassa chadanapiṭṭhe patanasaṅkhāto kukkuṭasaṃpāto etāsu atthīti kukkuṭasaṃpātikā. Kukkuṭasaṃpādikātipi pāṭho, gāmantarato gāmantaraṃ kukkuṭānaṃ padasā gamanasaṅkhāto kukkuṭasaṃpādo etāsu atthīti attho. Ubhayampetaṃ ghananivāsataṃyeva dīpeti. Adhammarāgarattāti rāgo nāma ekanteneva adhammo, attano parikkhāresu pana uppajjamāno na adhammarāgoti adhippeto, paraparikkhāresu uppajjamānova adhammarāgoti. Visamalobhābhibhūtāti lobhassa samakālo nāma natthi, ekantaṃ visamova esa. Attanā pariggahitavatthumhi pana uppajjamāno samalobho nāma, parapariggahitavatthumhi uppajjamānova visamoti adhippeto. Micchādhammaparetāti avatthupaṭisevanasaṅkhātena micchādhammena samannāgatā. Devo na sammā dhāraṃ anuppavecchatīti vassitabbayutte kāle vassaṃ na vassati. Dubbhikkhanti dullabhabhikkhaṃ. Dussassanti vividhasassānaṃ asampajjanena dussassaṃ. Setaṭṭhikanti sasse sampajjamāne pāṇakā patanti, tehi daṭṭhattā[5] nikkhantanikkhantāni sālisīsāni setavaṇṇāni honti nissārāni. Taṃ sandhāya vuttaṃ ‘‘setaṭṭhika’’nti. Salākāvuttanti vapitaṃ[6] vapitaṃ sassaṃ salākāmattameva sampajjati, phalaṃ na detīti attho. Yakkhāti yakkhādhipatino. Vāḷe amanusse ossajjantīti caṇḍayakkhe manussapathe vissajjenti, te laddhokāsā mahājanaṃ jīvitakkhayaṃ pāpenti.
Trong bài Kinh thứ sáu, bậc thầy của các bậc thầy: các vị thầy và luôn cả thầy của các vị thầy. Tràn ngập…tưởng chừng như đại địa ngục Avīci: Giống như đại địa ngục Avīci tràn ngập không một khoảng trống, đông đúc bởi chúng sanh ở địa ngục; tương tự như thế [nơi ấy] cũng đông đúc bởi loài người. Cách nhau khoảng cách một tầm bay của gà trống: khoảng cách một tầm bay của gà trống là khoảng cách con gà trống có thể bay từ mái nhà của ngôi làng này rồi đáp xuống mái nhà của ngôi làng kia; vì lý do đó, những ngôi làng này được gọi là cách nhau khoảng cách một tầm bay của gà trống. Cũng có văn bản ghi là ‘Kukkuṭasampādikā’, có giải thích rằng— tầm bay của gà trống là sự bước đi của con gà trống từ ngôi làng này sang ngôi làng khác, tình trạng như vậy tồn tại ở những ngôi làng này. Bị say đắm bởi luyến ái phi pháp[7]: Luyến ái là hoàn toàn phi pháp; tuy nhiên, sự say đắm trong khi khởi lên đối với các vật dụng của bản thân thì không được gọi là ‘luyến ái phi pháp’, chính sự say đắm khởi lên đối với các món vật dụng của người khác thì được gọi là ‘luyến ái phi pháp’. Bị chinh phục bởi tham không chừng mực[8]: Thời điểm chừng mực của tham là không có, tham này hoàn toàn không chừng mực; Tuy nhiên, tham ái khi khởi lên ở đối tượng/vật mà bản thân sở hữu/chiếm giữ gọi là tham chừng mực, còn chính tham ái khởi lên ở đối tượng/vật của người khác sở hữu/chiếm giữ gọi là tham không chừng mực. Bị chi phối bởi tình trạng sái quấy[9]: Được thành tựu bởi tình trạng sái quấy là việc thân cận với điều không phải là đối tượng. Trời không đổ mưa đầy đủ, hợp thời: Trời mưa không rơi đúng vào thời điểm cần phải mưa. Khó khăn về vật thực: Sự khó khăn trong việc tìm kiếm vật thực. Mùa màng hư mất: Mùa màng hư hoại bởi vì các loại ngũ cốc không đạt được kết quả. Trắng xóa với côn trùng: khi lúa đang trổ đồng đồng, các loài sâu bọ sẽ tấn công ăn sạch các bông lúa vừa trổ, (làm cho bông lúa) trắng xơ và không có hạt do bị các loài sâu bọ ấy đục phá. Đức Thế Tôn đề cập đến lúa đó mới nói rằng “trắng xóa với côn trùng”. Chỉ còn lại thân cây: hạt lúa được gieo xuống chỉ phát triển thành thân cây. Giải thích rằng— không trổ bông/đồng đồng. Dạ-xoa: các thủ lĩnh Dạ-xoa. Thả ra các loài phi nhân dữ tợn: Thả các loài Dạ-xoa hung dữ vào cõi nhân loại. Các loài Dạ-xoa đó khi có được cơ hội sẽ làm cho đám đông người đi đến sự chấm dứt mạng sống.
Giải Thích Bài Kinh Du sĩ Vacchagotta
58. Sattame mahapphalanti mahāvipākaṃ. Dhammassa cānudhammaṃ byākarontīti ettha dhammo nāma kathitakathā, anudhammo nāma kathitassa paṭikathanaṃ. Sahadhammikoti sakāraṇo sahetuko. Vādānupātoti vādassa anupāto, anupatanaṃ pavattīti attho. Gārayhaṃ ṭhānanti garahitabbayuttaṃ kāraṇaṃ. Idaṃ vuttaṃ hoti – bhotā gotamena vuttā sakāraṇā vādappavatti[10] kiñcipi gārayhaṃ kāraṇaṃ na āgacchatīti. Atha vā tehi parehi vuttā sakāraṇā vādappavatti kiñci gārayhaṃ kāraṇaṃ na āgacchatīti pucchati.
Trong bài Kinh thứ bảy, có quả báu lớn: Có kết quả to lớn. Nói lời đúng pháp và thuận pháp: Ở đây, Pháp là lời dạy đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng. Tùy pháp là việc nói lại nội dung đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng. Đúng theo pháp: Có lý do, có nguyên nhân. Sự thuận theo lời nói: Sự thuận theo lời nói/học thuyết; giải thích rằng— sự thực hành thuận theo, vận hành theo. Tình trạng đáng chỉ trích: Nguyên nhân đáng khiển trách. Điều này đã được nói rằng— “Sự thực hành theo lời nói có nguyên nhân đã được thuyết bởi ngài Gotama không đi đến bất kỳ lý do đáng bị chê trách.” Hoặc hơn nữa, Bà-la-môn hỏi rằng: “Sự thực hành theo lời nói có lý do đã được thuyết bởi những người khác không đi đến bất kỳ lý do nào đáng bị chê trách chăng?”
Antarāyakaro hotīti antarāyaṃ vināsaṃ kicchalābhakaṃ vilomakaṃ karoti. Pāripanthikoti panthadūhanacoro[11]. Khato ca hotīti guṇakhananena khato hoti. Upahatoti guṇupaghāteneva upahato. Candanikāyāti asucikalalakūpe. Oligalleti niddhamanakalale. So cāti so sīlavāti vuttakhīṇāsavo. Sīlakkhandhenāti sīlarāsinā. Sesapadesupi eseva nayo. Ettha ca vimuttiñāṇadassanaṃ vuccati paccavekkhaṇañāṇaṃ, taṃ asekkhassa pavattattā asekkhanti vuttaṃ. Itarāni sikkhāpariyosānappattatāya sayampi asekkhāneva. Tāni ca pana lokuttarāni, paccavekkhaṇañāṇaṃ lokiyaṃ.
Là kẻ gây chướng ngại: Tạo ra chướng hại, là sự tiêu hoại, khó đạt được, làm khởi lên sự phiền muộn. Là kẻ cướp đường: Kẻ trộm cướp cướp bóc người đi đường. Bị bứng gốc: Bị đào lên do đào bỏ các đức hạnh. Bị tổn thương: Bị phá hoại bởi việc hủy hoại các đức hạnh. Hố nước dơ: Trông hồ nước bùn lầy không sạch sẽ. Hầm chứa phân: (ống dẫn) chưa được rửa sạch bùn. Bởi vị ấy có giới: Bậc Lậu Tận được ngài nói rằng ‘vị có giới ấy’. Giới uẩn: Bằng nhóm giới. Các từ còn lại cũng có phương thức này tương tự. Và ở đây, trí về việc quán xét lại được gọi là Giải thoát tri kiến, trí về việc quán xét lại ấy được gọi là ‘Vô học’ do trạng thái đã vận hành cho ‘bậc Vô học’. Các loại ‘Trí’ còn lại, bản thân chúng đã là ‘Vô học’ do đã đạt được tại điểm tận cùng của sự học tập. Và hơn nữa, các loại ‘Trí’ ấy thuộc Siêu thế, còn ‘trí về việc quán xét lại’ thuộc Hiệp thế.
Rohiṇīsūti rattavaṇṇāsu. Sarūpāsūti attano vacchakehi samānarūpāsu. Pārevatāsūti kapotavaṇṇāsu. Dantoti nibbisevano. Puṅgavoti usabho. Dhorayhoti dhuravāho. Kalyāṇajavanikkamoti kalyāṇena ujunā javena gantā[12]. Nāssa vaṇṇaṃ parikkhareti assa goṇassa sarīravaṇṇaṃ na upaparikkhanti, dhuravahanakammameva pana upaparikkhanti. Yasmiṃ kasmiñci jātiyeti yattha katthaci kulajāte. Yāsu kāsuci etāsūti etāsu khattiyādippabhedāsu yāsu kāsuci jātīsu.
Màu đỏ: Có màu đỏ. Màu sắc tự nhiên của mình: Có màu sắc giống với con bê của chính nó. Có màu sắc giống như chim bồ câu: Có màu sắc giống như chim bồ câu. Đã được thuần phục: Không còn hung dữ nữa. Bò đực thì gọi là Puṅgava (con bò đực đầu đàn). Con vật kéo: Là con bò kéo xe. Có sự nhanh nhẹn và là loài vật trung thành: sở hữu sự nhanh nhẹn, lanh lợi và đẹp, là trung thành. Không tính đến màu sắc của nó: không quan tâm đến màu da của con bò đó, chỉ quan tâm đến công việc là khả năng gánh vác nhiệm vụ. Dầu có sanh ra ở bất cứ kiếp nào: Đã được sanh ra trong bất kỳ gia đình/dòng dõi nào đó. Trong bất cứ một dòng dõi nào: Trong bất cứ một sanh chủng nào đó, được phân ra thành giai cấp Sát-đế-lỵ, v.v.
Brahmacariyassa kevalīti brahmacariyassa kevalena samannāgato, paripuṇṇabhāvena yuttoti attho. Khīṇāsavo hi sakalabrahmacārī nāma hoti. Tenetaṃ vuttaṃ. Pannabhāroti oropitabhāro[13], khandhabhāraṃ kilesabhāraṃ kāmaguṇabhārañca oropetvā ṭhitoti attho. Katakiccoti catūhi maggehi kiccaṃ katvā ṭhito. Pāragū sabbadhammānanti sabbadhammā vuccanti pañcakkhandhā dvādasāyatanāni aṭṭhārasa dhātuyo, tesaṃ sabbadhammānaṃ abhiññāpāraṃ, pariññāpāraṃ[14], pahānapāraṃ, bhāvanāpāraṃ, sacchikiriyāpāraṃ, samāpattipārañcāti chabbidhaṃ pāraṃ gatattā pāragū. Anupādāyāti aggahetvā. Nibbutoti kilesasantāparahito. Virajeti rāgadosamoharajarahite.
Có Phạm hạnh toàn hảo: Được thành tựu với sự đầy đủ của Phạm hạnh. Giải thích rằng— Được thành tựu với trạng thái trọn vẹn. Thật vậy, bậc Lậu Tận được gọi là vị có Phạm hành trọn vẹn; Do đó, điều này được nói đến. Đã đặt xuống gánh nặng: Gánh nặng đã để xuống một bên. Giải thích rằng— Đã đặt xuống gánh nặng là các uẩn, gánh nặng là các phiền não, và gánh nặng là năm loại dục rồi an trú. Đã làm xong phận sự: Đã thực hiện xong phận sự bằng 4 Đạo rồi an trú. Đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp: năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới được gọi là tất cả các Pháp, bởi vì trạng thái đến bờ bên kia bằng 6 cách, đó là— (1) bờ kia là thắng trí, (2) bờ kia là biết toàn diện, (3) bờ kia là sự dứt bỏ, (4) bờ kia là sự tu tập, (5) bờ kia là sự tác chứng và (6) bờ kia là sự thể nhập. Do không chấp thủ: Do không nắm lấy. Được tịch diệt: Lìa khỏi/thoát khỏi sự nóng đốt do phiền não. Thoát khỏi bụi bẩn: không còn bụi bẩn là luyến ái, sân và si.
Avijānantāti khettaṃ ajānantā. Dummedhāti nippaññā. Assutāvinoti khettavinicchayasavanena rahitā. Bahiddhāti imamhā sāsanā bahiddhā. Na hi sante upāsareti buddhapaccekabuddhakhīṇāsave uttamapurise na upasaṅkamanti. Dhīrasammateti paṇḍitehi sammate sambhāvite. Mūlajātā patiṭṭhitāti iminā sotāpannassa saddhaṃ dasseti. Kule vā idha jāyareti idha vā manussaloke khattiyabrāhmaṇavessakule jāyanti. Ayameva hi tividhā kulasampatti nāma. Anupubbena nibbānaṃ, adhigacchantīti sīlasamādhipaññāti ime guṇe pūretvā anukkamena nibbānaṃ adhigacchantīti.
Không biết rõ: không biết đến ruộng phước. Ngu muội: không có/thiếu vắng tuệ. Không được lắng nghe: Tránh khỏi việc lắng nghe sự phân tích liên quan đến ruộng phước”. Bên ngoài: bên ngoài Giáo pháp này. Không đến gần bậc chân nhân: Không đi đến diện kiến các vị Phật Toàn Giác, các vị Phật Độc Giác và các vị Lậu Tận– những bậc tối thượng. Được người ta tôn xưng là bậc sáng trí: Được tán dương, khen ngợi bởi bậc sáng suốt. Đã được mọc rễ, đã được thiết lập: Đức Thế Tôn chỉ rõ đến đức tin của vị Nhập Lưu. Hoặc là được sanh ra trong gia đình tốt lành ở thế gian này: Hoặc được sanh ra trong gia đình Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, thương buôn trong thế giới loài người này. Thật vậy, chính 3 sự thành tựu này được gọi là ‘sự thành tựu về gia tộc’. Đạt đến Niết Bàn theo tuần tự: sau khi làm tròn đủ các đức hạnh này là Giới, Định, Tuệ, rồi đắc chứng Niết Bàn theo tuần tự.
Giải Thích Bài Kinh Bà-la-môn Tikaṇṇa
59. Aṭṭhame tikaṇṇoti tassa nāmaṃ. Upasaṅkamīti ‘‘samaṇo kira gotamo paṇḍito, gacchissāmi tassa[15] santika’’nti cintetvā bhuttapātarāso mahājanaparivuto upasaṅkami. Bhagavato sammukhāti dasabalassa purato nisīditvā. Vaṇṇaṃ bhāsatīti kasmā bhāsati? So kira ito pubbe tathāgatassa santikaṃ agatapubbo. Athassa etadahosi – ‘‘buddhā nāma durāsadā, mayi[16] paṭhamataraṃ akathente[17] katheyya vā na vā. Sace na kathessati, atha maṃ samāgamaṭṭhāne kathentaṃ evaṃ vakkhanti ‘tvaṃ idha kasmā kathesi, yena te samaṇassa gotamassa santikaṃ gantvā vacanamattampi na laddha’nti. Tasmā ‘evaṃ me ayaṃ garahā muccissatī’’’ti maññamāno bhāsati. Kiñcāpi brāhmaṇānaṃ vaṇṇaṃ bhāsati, tathāgatassa pana ñāṇaṃ ghaṭṭessāmīti adhippāyeneva bhāsati. Evampi tevijjā brāhmaṇāti tevijjakabrāhmaṇā evaṃpaṇḍitā evaṃdhīrā evaṃbyattā evaṃbahussutā evaṃvādino, evaṃsammatāti attho. Itipīti iminā tesaṃ paṇḍitādiākāraparicchedaṃ dasseti. Ettakena kāraṇena paṇḍitā…pe… ettakena kāraṇena sammatāti ayañhi ettha attho.
Trong bài Kinh thứ tám, Bà-la-môn Tikaṇṇa: là tên của vị ấy. Đi đến diện kiến: Vị Bà-la-môn nghĩ rằng: “Nghe nói Sa-môn Gotama là bậc trí tuệ, ta sẽ đến trú xứ của ngài,” sau khi dùng bữa, vị ấy có đông đảo quần chúng tháp tùng đi đến gặp Đức Thế Tôn. Ở trước mặt Đức Thế Tôn: Đã ngồi xuống ở trước mặt của đấng Thập Lực. Nói lời khen ngợi: Tại sao lại nói như vậy? Nghe nói, trước đây vị Bà-la-môn đó chưa từng đến trú xứ của Như Lai. Vì thế, Bà-la-môn mới đã khởi ý điều này: “Các vị Phật là khó lại gần. Khi ta không mở lời trước, (thì) ngài có thể đáp lại hoặc không. Nếu ngài không đáp lại, khi ấy đám đông sẽ chê trách ta, người vừa nói ở nơi tụ hội như vầy rằng: ‘Tại sao ông lại nói ở đây? Bởi vì ông đã đến trú xứ của Sa-môn Gotama cũng không nhận được dầu chỉ là chút ít lời nói!” Do đó, vị Bà-la-môn trong khi nghĩ rằng: ‘Ta sẽ tránh khỏi những lời chê trách bằng phương cách này như vậy”, nên mới nói. Mặc dù vị Bà-la-môn ca ngợi các vị Bà-la-môn, nhưng nói đến (ba kiến thức Vệ-đà) chỉ với ý định duy nhất rằng: “Ta sẽ kết nối (thăm dò năng lực) trí của Đức Như Lai.” Các vị Bà-la-môn tinh thông ba kiến thức Vệ-đà là như vậy: Các vị Bà-la-môn tinh thông ba kiến thức Vệ-đà là các bậc sáng suốt như vầy, là các bậc sáng trí như vầy, là các vị thiện xảo như vầy, là các bậc đa văn như vầy, là các vị có học thuyết như vầy, giải thích rằng— là những vị được đồng thuận như vậy. Là như vậy: Đức Thế Tôn chỉ rõ sự xác định biểu hiện của bậc sáng suốt, v.v., của các vị Bà-la-môn ấy. Thật vậy, ở đây, điều này có lời giải thích như sau: Là bậc hiền trí chỉ với chừng ấy lý do, …nt… được đồng thuận chỉ với chừng ấy lý do.
Yathā kathaṃ pana brāhmaṇāti ettha yathāti kāraṇavacanaṃ, kathaṃ panāti pucchāvacanaṃ. Idaṃ vuttaṃ hoti – kathaṃ pana, brāhmaṇa, brāhmaṇā tevijjaṃ paññāpenti. Yathā evaṃ[18] sakkā hoti jānituṃ, taṃ kāraṇaṃ vadehīti. Taṃ sutvā brāhmaṇo ‘‘jānanaṭṭhāneyeva maṃ sammāsambuddho pucchi, no ajānanaṭṭhāne’’ti attamano hutvā idha, bho gotamātiādimāha. Tattha ubhatoti dvīhipi pakkhehi. Mātito ca pitito cāti yassa mātā brāhmaṇī, mātu mātā brāhmaṇī, tassāpi mātā brāhmaṇī. Pitā brāhmaṇo, pitu pitā brāhmaṇo, tassāpi pitā brāhmaṇo, so ubhato sujāto mātito ca pitito ca. Saṃsuddhagahaṇikoti yassa saṃsuddhā mātu gahaṇī, kucchīti attho. ‘‘Samavepākiniyā gahaṇiyā’’ti pana ettha kammajatejodhātu gahaṇīti vuccati.
Bà-la-môn…như thế nào (Yathā kathaṃ pana brāhmaṇā): Ở đây, Yathā là từ chỉ về nguyên nhân/lý do; Kathaṃ pana là từ để hỏi. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói rằng: “Này Bà-la-môn, các Bà-la-môn tuyên bố vị Bà-la-môn tinh thông ba kiến thức Vệ-đà như thế nào? Bằng cách nào mà ta có thể biết được như vậy, ông hãy nói về nguyên đó.’ Sau khi nghe xong điều đó, vị Bà-la-môn đã trở nên hoan hỷ rằng: “Đấng Chánh đẳng Chánh giác chỉ hỏi đến các pháp trong phạm vi có thể biết, chứ không hỏi đến các pháp nằm ngoài khả năng nhận biết.’” nên mới nói rằng: “Thưa ngài Gotama… ở thế gian này”. Ở đấy, cả hai: cả hai phía. Mẹ và cha: Người nào có mẹ là nữ Bà-la-môn, bà ngoại là nữ Bà-la-môn, cho đến bà cố ngoại cũng là nữ Bà-la-môn; có cha là nam Bà-la-môn, ông nội là nam Bà-la-môn, cho đến ông cố nội cũng là nam Bà-la-môn; người đó được gọi là người được thiện sanh ở cả hai bên, phía mẹ và phía cha. Có sự thụ thai được hoàn toàn trong sạch[19]: người nào có sự thụ thai tức là bụng của người mẹ được hoàn toàn trong sạch. Tuy nhiên, ở đây ‘có sự thụ thai được hoàn toàn trong sạch’ Đức Thế Tôn gọi là ‘sự nắm lấy hỏa giới do nghiệp sanh’.
Yāva sattamā pitāmahayugāti ettha pitu pitā pitāmaho, pitāmahassa yugaṃ pitāmahayugaṃ. Yuganti āyuppamāṇaṃ vuccati. Abhilāpamattameva cetaṃ, atthato pana pitāmahoyeva pitāmahayugaṃ. Tato uddhaṃ sabbepi pubbapurisā pitāmahaggahaṇeneva gahitā. Evaṃ yāva sattamo puriso, tāva saṃsuddhagahaṇiko, atha vā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādenāti dasseti. Akkhittoti ‘‘apanetha etaṃ, kiṃ iminā’’ti evaṃ akkhitto anavakkhitto. Anupakkuṭṭhoti na upakkuṭṭho, na akkosaṃ vā nindaṃ vā pattapubbo. Kena kāraṇenāti? Jātivādena. ‘‘Itipi hīnajātiko eso’’ti evarūpena vacanenāti attho.
Cho đến tổ tiên nội ngoại đời thứ bảy: Ở đây, cha của cha gọi là ông nội. Thế hệ của ông nội được gọi là thế hệ ông (bà). Ước lượng tuổi thọ được gọi là tuổi thọ hay là một đời người. Và đây chỉ là một thuật ngữ dùng để gọi nhau mà thôi. Tuy nhiên, về mặt ý nghĩa thì chính ông nội/ông ngoại mới gọi là thế hệ ông nội/ông ngoại. Ông bà tổ tiên, thậm chí tất cả từ đó trở về trước đều được bao hàm trong chính thuật ngữ ‘thế hệ ông (bà)’. Như vậy, chừng nào đến người thứ bảy, (thì) chừng ấy được xem là ‘có sự thụ thai được hoàn toàn trong sạch’; hoặc hơn nữa, Ngài chỉ rõ rằng người ấy không bị khinh thường, không bị chỉ trích về phương diện nòi giống. Không bị khinh thường: Không bị coi khinh, không bị chỉ trích như vầy— “các ngươi hãy đuổi vị ấy ra ngoài, người này có ích gì”. Không bị chỉ trích: không bị khiển trách, là người chưa từng bị nói lời gay gắt hoặc chưa từng bị chê bai trước đây. Do nguyên nhân gì? Về phương diện nòi giống — Giải thích rằng: với lời nói có hình thức như vầy— “Người này có sanh chủng thấp hèn”.
Ajjhāyakoti idaṃ ‘‘na dānime jhāyanti, na dānime jhāyantīti kho, vāseṭṭha, ajjhāyakā ajjhāyakāteva tatiyaṃ akkharaṃ upanibbatta’’nti (dī. ni. 3.132) evaṃ paṭhamakappikakāle jhānavirahitānaṃ brāhmaṇānaṃ garahavacanaṃ uppannaṃ. Idāni pana taṃ ajjhāyatīti ajjhāyako, mante parivattetīti iminā atthena pasaṃsāvacanaṃ katvā voharanti. Mante dhāretīti mantadharo.
Vị học giả: Lời quở trách sanh khởi đối với các vị Bà-la-môn không tham thiền vào thời sơ kiếp như vầy: ‘Những người này giờ đây không tham thiền,’ như thế, này các Vāseṭṭha, ‘các học giả, các học giả’ chính là từ ngữ thứ ba được tạo ra.’”[20] Hơn nữa, trong thời hiện tại, vị Bà-la-môn gọi là ‘Vị học giả’ do học tập ba kiến thức Vệ-đà ấy. Mọi người khen ngợi với ý nghĩa này rằng: ‘Vị Bà-la-môn trì tụng chú thuật (kiến thức Vệ-đà)’. Là vị nắm vững chú thuật: Bởi nắm vững chú thuật (kiến thức Vệ-đà).
Tiṇṇaṃ vedānanti irubbedayajubbedasāmabbedānaṃ. Oṭṭhapahatakaraṇavasena pāraṃ gatoti pāragū. Saha nighaṇḍunā ca keṭubhena ca sanighaṇḍukeṭubhānaṃ. Nighaṇḍūti nāmanighaṇḍurukkhādīnaṃ[21] vevacanapakāsakasatthaṃ. Keṭubhanti kiriyākappavikappo kavīnaṃ upakārāya satthaṃ. Saha akkharappabhedena sākkharappabhedānaṃ. Akkharappabhedoti sikkhā ca nirutti ca. Itihāsapañcamānanti āthabbaṇavedaṃ[22] catutthaṃ katvā itiha āsa, itiha āsāti īdisavacanapaṭisaṃyutto purāṇakathāsaṅkhāto khattavijjāsaṅkhāto vā itihāso pañcamo etesanti itihāsapañcamā. Tesaṃ itihāsapañcamānaṃ vedānaṃ.
Ba kiến thức Vệ-đà: bao gồm Irubbeda (các Thánh thi ca ngợi các vị Thần), Yajubbeda (hướng dẫn về nghi lễ hiến tế), và Sāmabbeda (các Thánh thi về nghi lễ hiến tế). Vị Bà-la-môn được gọi là ‘tinh thông’ là vì đã đến bến bờ kia với khả năng của việc ngưng ghi nhớ (nghĩa là đã thuộc nằm lòng và nắm vững rồi. (Kiến thức Vệ-đà) cùng với ‘các từ vựng’ và ‘các nghi thức/nghi lễ’ thì gọi là ‘các từ vựng và nghi thức’. Các từ vựng là môn học phân loại tên gọi (của các đồ vật khác nhau), tức là ngành học nói về tên của các loại cây cối, v.v. Các nghi thức/nghi lễ là môn học quy định các cử chỉ, điệu bộ khi thực hiện tế lễ, tức là môn nghệ thuật hỗ trợ cho các thi sĩ. (Kiến thức Vệ-đà) cùng với sự phân tích các mẫu tự thì gọi là ‘cùng với âm từ với sự phân tích’; Các điều học và các ngôn từ cũng được gọi là với âm từ với sự phân tích. Truyền thống là thứ năm: Kiến thức Vệ-đà được gọi là ‘có truyền thống là thứ 5’, bởi vì có truyền thống gắn liền với lời nói như thế này ‘chuyện đã xảy ra như thế, chuyện đã xảy ra như thế’, được xem là bộ sách về những câu chuyện cổ hoặc được xem là bộ sách nói về chính trị là thứ năm, sau khi đã lấy ‘kiến thức về bùa chú’ là thứ tư của các kiến thức Vệ-đà đó mà có truyền thống là thứ năm.
Padaṃ tadavasesañca byākaraṇaṃ adhīyati vedeti cāti padako veyyākaraṇo. Lokāyataṃ vuccati vitaṇḍavādasatthaṃ. Mahāpurisalakkhaṇanti mahāpurisānaṃ buddhādīnaṃ lakkhaṇadīpakaṃ dvādasasahassaganthapamāṇaṃ satthaṃ, yattha soḷasasahassagāthāpadaparimāṇā buddhamantā nāma ahesuṃ, yesaṃ vasena ‘‘iminā lakkhaṇena samannāgatā buddhā nāma honti, iminā paccekabuddhā, dve aggasāvakā, asīti mahāsāvakā, buddhamātā, buddhapitā, aggupaṭṭhākā, aggupaṭṭhāyikā, rājā cakkavattī’’ti ayaṃ viseso ñāyati[23]. Anavayoti imesu lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anūno paripūrakārī, avayo na hotīti vuttaṃ hoti. Avayo nāma yo tāni atthato ca ganthato ca sandhāretuṃ[24] na sakkoti. Atha vā anavayoti anu avayo, sandhivasena ukāralopo. Anu avayo paripuṇṇasippoti attho.
Gọi là biết về cú pháp, về văn phạm bởi vì ghi nhớ và thông hiểu cả cú pháp lẫn văn phạm và các cú pháp còn lại ấy. Thế gian luận: Môn học về chủ nghĩa ngụy biện. Các tướng trạng của bậc Đại nhân: Môn học có khoảng 12.000 bài kệ làm sáng tỏ các tướng trạng của các bậc Đại nhân như Đức Phật, v.v., được gọi là Phật chú có khoảng 16.000 bài kệ; do tác động của các Phật chú này có thể nhận biết các sự khác biệt như sau— “Người sở hữu những tướng trạng này là Đức Phật Toàn Giác; người sở hữu những tướng trạng này là Đức Phật Độc Giác, người sở hữu những tướng trạng này là hai vị Thượng thủ Thinh văn/hai vị Thinh văn hàng đầu, người sở hữu những tướng trạng này là 80 vị Đại Thinh văn; người sở hữu những tướng trạng này là mẹ của Đức Phật; người sở hữu những tướng trạng này là cha của Đức Phật, người sở hữu những tướng trạng này là nam cư sĩ hàng đầu, người sở hữu những tướng trạng này là nữ cư sĩ hàng đầu; và người sở hữu những tướng trạng này là vị Chuyển Luân Vương.” Tinh thông: Là người không bị khiếm khuyết, tức là người hoàn thành về thế gian luận và các tướng của bậc Đại nhân này. Có lời giải thích rằng: Không phải là người yếu kém. Người nào không thể ghi nhớ và nắm giữ các môn học đó từ mặt ý nghĩa và từ đoạn văn, người ấy gọi là người yếu kém. Hoặc hơn nữa, Anavayo được tách thành ‘Anu’ và ‘Avayo’ với tác động sự nối âm, xóa ký tự ‘u’, do đó ‘Anu-avayo’ trở thành ‘Anavayo’. Giải thích rằng— Có nghề nghiệp đầy đủ.
Tenahīti idaṃ bhagavā naṃ āyācantaṃ[25] disvā ‘‘idānissa pañhaṃ kathetuṃ kālo’’ti ñatvā āha. Tassattho – yasmā maṃ āyācasi, tasmā suṇāhīti. Vivicceva kāmehītiādi visuddhimagge (visuddhi. 1.70) vitthāritameva. Idha panetaṃ tissannaṃ vijjānaṃ pubbabhāgapaṭipattidassanatthaṃ vuttanti veditabbaṃ. Tattha dvinnaṃ vijjānaṃ anupadavaṇṇanā ceva bhāvanānayo ca visuddhimagge (visuddhi. 2.402 ādayo) vitthāritova.
Đức Thế Tôn khi thấy vị Bà-la-môn ấy đang thỉnh cầu, biết rằng: “Bây giờ là thời điểm thích hợp để ta giải đáp câu hỏi của vị Bà-la-môn ấy”, nên mới nói rằng: “Vậy thì…” Ý nghĩa của lời ấy rằng— Vì lý do ngươi đã thỉnh cầu ta, cho nên ngươi hãy lắng nghe. Sau khi đã tách ly khỏi các dục, v.v, đã được giải thích chi tiết trong bộ Thanh Tịnh Đạo. Nhưng ở đây, sau khi đã tách ly khỏi các dục v.v. này nên hiểu rằng Đức Thế Tôn nói nhằm mục đích chỉ rõ lối thực hành thuộc phần sơ khởi của 3 Minh. Trong số 3 Minh ấy, việc diễn giải 2 Minh theo thứ tự từ ngữ hay phương pháp tu tập 2 Minh ấy cũng đã được giải thích chi tiết trong bộ Thanh Tịnh Đạo[26].
Paṭhamā vijjāti paṭhamaṃ uppannāti paṭhamā, viditakaraṇaṭṭhena vijjā. Kiṃ viditaṃ karoti? Pubbenivāsaṃ. Avijjāti tasseva pubbenivāsassa aviditakaraṇaṭṭhena tappaṭicchādako moho vuccati. Tamoti sveva moho paṭicchādakaṭṭhena tamoti vuccati. Ālokoti sāyeva vijjā obhāsakaraṇaṭṭhena ālokoti vuccati. Ettha ca vijjā adhigatāti ayaṃ attho. Sesaṃ pasaṃsāvacanaṃ. Yojanā panettha ayamassa vijjā adhigatā, athassa adhigatavijjassa avijjā vihatā vinaṭṭhāti attho. Kasmā? Yasmā vijjā uppannā. Itarasmimpi padadvaye eseva nayo. Yathā tanti ettha yathāti opammaṃ, tanti nipātamattaṃ. Satiyā avippavāsena appamattassa. Vīriyātāpena ātāpino. Kāye ca jīvite ca anapekkhatāya pahitattassa. Pesitattassāti attho. Idaṃ vuttaṃ hoti – yathā appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avijjā vihaññeyya, vijjā uppajjeyya. Tamo vihaññeyya, āloko uppajjeyya, evameva tassa avijjā vihatā, vijjā uppannā. Tamo vihato, āloko uppanno. Etassa tena padhānānuyogassa anurūpameva phalaṃ laddhanti.
Minh thứ nhất: Minh thứ nhất bởi vì sanh khởi lần đầu tiên, được gọi là ‘Minh’ theo ý nghĩa làm cho rõ ràng/minh bạch. Làm cho điều gì rõ ràng? Làm cho các uẩn từng nương gá trong các kiếp sống trước được rõ ràng. Sự si mê che đậy trí nhớ lại các kiếp sống quá khứ với ý nghĩa là làm cho chính trí nhớ lại các kiếp sống quá khứ ấy không được sáng tỏ — được gọi là ‘Vô minh’. Bóng tối: Chính sự si mê ấy được gọi là bóng tối theo ý nghĩa che đậy. Ánh sáng: chính Minh ấy được gọi là ánh sáng theo ý nghĩa làm cho chói sáng. Và trong bài Kinh này, có lời giải thích rằng— (vị Tỳ-khưu ấy) đã chứng đạt Minh. Các từ còn lại là những lời ca ngợi. Hơn nữa, ở đây có lời giải thích như sau— Vị ấy đã chứng đạt Minh này, khi đó đối với người đã chứng đạt Minh (thì) Vô minh được diệt tận. Giải thích rằng— Làm cho (Vô minh) tiêu tan. Tại sao? — Vì Minh đã được sanh khởi. Luôn cả hai đoạn còn lại ngoài đoạn này cũng có phương thức này tương tự. ‘Yathā’ trong cụm ‘Yathā taṃ’ là từ so sánh (giống như). Từ ‘taṃ’ chỉ là một phần từ/tiểu từ. Gọi là ‘không xao lãng’ bởi không bị mất niệm. Gọi là có nhiệt tâm vì có sự nỗ lực thiêu đốt phiền não. Gọi là ‘có bản tánh cương quyết’ vì không mong cầu gì ở thân thể và mạng sống. Giải thích rằng: vị tự mình đã dấn thân. Điều này đã được nói rằng— giống như đối với một người sống không xao lãng, có nhiệt tâm, có bản tánh cương quyết thì Vô minh có thể tiêu tan, Minh có thể sanh khởi. Bóng tối có thể tiêu tan, ánh sáng có thể sanh khởi; tương tự y như thế, Vô minh được diệt tận, Minh được sanh khởi. Bóng tối được diệt tận, ánh sáng được sanh. Vị Bà-la-môn ấy đã đạt được kết quả tương xứng cho sự nỗ lực và sự chuyên cần ấy.
Cutūpapātakathāyaṃ vijjāti dibbacakkhuñāṇavijjā. Avijjāti sattānaṃ cutipaṭisandhippaṭicchādikā avijjā. Sesaṃ vuttanayameva.
Lời nói giải thích ‘trí về sự sanh tử’, Minh là trí về thiên nhãn được gọi là Minh. Sự không biết che đậy sự chết và sự tái sinh của các chúng sinh gọi là Vô minh. Các từ còn lại cũng đều có phương thức như đã đề cập.
Tatiyavijjāya so evaṃ samāhite citteti vipassanāpādakaṃ catutthajjhānacittaṃ veditabbaṃ. Āsavānaṃ khayañāṇāyāti arahattamaggañāṇatthāya. Arahattamaggo hi āsavavināsanato āsavānaṃ khayoti vuccati, tatra cetaṃ ñāṇaṃ tattha pariyāpannattāti. Cittaṃ abhininnāmetīti vipassanācittaṃ abhinīharati. So idaṃ dukkhanti evamādīsu ettakaṃ dukkhaṃ, na ito bhiyyoti sabbampi dukkhasaccaṃ sarasalakkhaṇappaṭivedhena yathābhūtaṃ pajānāti paṭivijjhati, tassa ca dukkhassa nibbattikaṃ taṇhaṃ ‘‘ayaṃ dukkhasamudayo’’ti, tadubhayampi yaṃ ṭhānaṃ patvā nirujjhati, taṃ tesaṃ apavattiṃ[27] nibbānaṃ ‘‘ayaṃ dukkhanirodho’’ti. Tassa ca sampāpakaṃ ariyamaggaṃ ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti sarasalakkhaṇappaṭivedhena yathābhūtaṃ pajānāti paṭivijjhatīti evamattho veditabbo.
Ở ‘Minh thứ ba’, khi tâm được định tĩnh: nên được biết rằng— bao gồm tâm Tứ thiền làm nền tảng của Minh sát. Diệt trừ các lậu hoặc: vì lợi ích cho ‘trí của đạo A-la-hán’. Bởi vì đạo A-la-hán được gọi là có sự đoạn tận các lậu hoặc, do làm cho các lậu hoặc bị tiêu diệt. Và trí của đạo A-la-hán trong cụm từ ‘trí diệt trừ các lậu hoặc’ đó được gọi là ‘trí’ vì có liên quan tới Đạo A-la-hán ấy. Hướng dẫn tâm đến: Hướng dẫn tâm đến Minh sát. Trong lời nói được bắt đầu như sau— “ Vị ấy … ‘Đây là Khổ”: nên được hiểu ý nghĩa như vầy: Vị ấy biết rõ, thấu triệt ‘Khổ đế’ đúng theo thực thể bởi việc thấu triệt trạng thái cùng với phận sự rằng: “Khổ chỉ có chừng này, không nhiều hơn thế”.Vị ấy biết rõ, thấu triệt tham ái là nguồn sanh khởi của Khổ ấy, rằng: “Đây là nguyên nhân của Khổ” đúng theo thực thể bởi việc thấu triệt trạng thái cùng với phận sự. (Vị ấy biết rõ, thấu triệt) nơi nào sau khi đã đạt đến thì cả hai cả (Khổ đế và Tập đế) đều diệt, tức là Niết Bàn — nơi mà chúng không vận hành đúng theo thực thể bởi việc thấu triệt trạng thái cùng với phận sự rằng: “Đây là sự Diệt Khổ”. Và vị ấy biết rõ, thấu triệt Thánh đạo dẫn đến Niết Bàn đó đúng theo thực thể bởi việc thấu triệt trạng thái cùng với phận sự rằng: “Đây là sự thực hành đưa đến sự Diệt Khổ”.
Evaṃ sarūpato saccāni dassetvā idāni kilesavasena pariyāyato dassento ime āsavātiādimāha. Tassa evaṃ jānato evaṃ passatoti tassa bhikkhuno evaṃ jānantassa evaṃ passantassa. Saha vipassanāya koṭippattaṃ maggaṃ kathesi. Kāmāsavāti kāmāsavato. Vimuccatīti iminā maggakkhaṇaṃ dasseti. Maggakkhaṇe hi cittaṃ vimuccati, phalakkhaṇe vimuttaṃ hoti. Vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇanti iminā paccavekkhaṇañāṇaṃ dasseti. Khīṇā jātītiādīhi tassa bhūmiṃ. Tena hi ñāṇena so paccavekkhanto khīṇā jātītiādīni pajānāti. Katamā panassa jāti khīṇā, kathañca naṃ pajānātīti? Na tāvassa atītā jāti khīṇā pubbeva khīṇattā, na anāgatā, anāgate vāyāmābhāvato, na paccuppannā, vijjamānattā. Yā pana maggassa abhāvitattā uppajjeyya ekacatupañcavokārabhavesu ekacatupañcakkhandhappabhedā jāti, sā maggassa bhāvitattā anuppādadhammataṃ āpajjanena khīṇā. Taṃ so maggabhāvanāya pahīnakilese paccavekkhitvā kilesābhāve vijjamānampi kammaṃ āyatiappaṭisandhikaṃ hotīti jānanto pajānāti.
Đức Thế Tôn sau khi thuyết về các Chân Lý một cách tóm tắt như vậy; bây giờ, khi thuyết các Chân Lý một cách gián tiếp do tác động của phiền não, mới nói lời bắt đầu rằng: “Đây là các lậu hoặc, v.v.” Đối với vị ấy, trong khi biết được như thế, trong khi thấy được như thế: Trong khi vị Tỳ-khưu đang biết như vậy, đang thấy như vậy. Đức Thế Tôn đã thuyết về Đạo đạt đến đỉnh cao cùng với Minh sát. Dục Lậu: Từ dục lậu. (Tâm) được giải thoát: Đức Thế Tôn thuyết đến sát-na Đạo. Bởi vì, ở tại sát-na (tâm) Đạo (thì) tâm đang được giải thoát, ở sát-na của (tâm) Quả (thì) tâm đã được giải thoát. Khi đã được giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát.’ này Đức Thế Tôn thuyết về Trí quán xét lại. Sự tái sanh đã cạn kiệt v.v,: thuyết về lĩnh vực của Trí quán xét lại đó. Bởi vì, Đức Thế Tôn ấy trong khi quán xét lại bằng trí tuệ đó mới biết rõ rằng: Sự tái sanh đã cạn kiệt v.v. Kiếp sống nào của Đức Thế Tôn ấy đã cạn kiệt’? Và ngài biết rõ được kiếp sống đó như thế nào? — Không phải kiếp quá khứ của Đức Thế Tôn đã đoạn tận, bởi vì kiếp quá khứ đã qua rồi; không phải kiếp sống vị lai của ngài sẽ đoạn tận, bởi vì ngài không có sự nỗ lực trong tương lai; không phải kiếp sống hiện tại được đoạn tận, bởi vì kiếp sống hiện tại (Ngũ Uẩn) vẫn đang diễn tiến. Nhưng ở kiếp sống nào chia chẽ thành Nhất Uẩn trong cõi Nhất Uẩn, Tứ Uẩn trong cõi Tứ Uẩn, và Ngũ Uẩn trong cõi Ngũ Uẩn có thể sanh khởi do tính chất không tu tập của Thánh Đạo sanh khởi; (thì) kiếp sống đó được gọi là đã đoạn tận bởi đạt đến bản chất không sanh khởi do tính chất tu tập của Thánh Đạo. Sau khi quán xét phiền não đã đoạn trừ do sự tu tập Đạo; và trong khi biết rằng: Dù nghiệp vẫn còn tồn tại, nhưng không tạo tác sự tái tục trong vị lai nữa bởi vì không còn phiền não, như vậy gọi là biết rõ kiếp sống ấy.
Vusitanti vutthaṃ parivutthaṃ, kataṃ caritaṃ niṭṭhitanti attho. Brahmacariyanti maggabrahmacariyaṃ. Puthujjanakalyāṇakena hi saddhiṃ satta sekkhā brahmacariyavāsaṃ vasanti nāma, khīṇāsavo vutthavāso. Tasmā so attano brahmacariyavāsaṃ paccavekkhanto ‘‘vusitaṃ brahmacariya’’nti pajānāti. Kataṃ karaṇīyanti catūsu saccesu catūhi maggehi pariññāpahānasacchikiriyābhāvanābhisamayavasena[28] soḷasavidhampi kiccaṃ niṭṭhāpitanti attho. Puthujjanakalyāṇakādayo hi taṃ kiccaṃ karonti, khīṇāsavo katakaraṇīyo. Tasmā so attano karaṇīyaṃ paccavekkhanto ‘‘kataṃ karaṇīya’’nti pajānāti. Nāparaṃ itthattāyāti puna itthabhāvāya, evaṃ soḷasavidhakiccabhāvāya kilesakkhayāya vā maggabhāvanākiccaṃ me natthīti pajānāti. Atha vā itthattāyāti itthabhāvato, imasmā evaṃ pakārā idāni vattamānakkhandhasantānā aparaṃ khandhasantānaṃ mayhaṃ natthi, ime pana pañcakkhandhā pariññātā tiṭṭhanti chinnamūlakā rukkhā viya. Te carimakaviññāṇanirodhena anupādāno viya jātavedo nibbāyissantīti pajānāti. Idha vijjāti arahattamaggañāṇavijjā. Avijjāti catusaccappaṭicchādikā avijjā. Sesaṃ vuttanayameva.
Đã thành: đã sống, đã sống hoàn hảo, giải thích rằng— đã được làm, đã được thực hiện, đã hoàn thành. Phạm hạnh: đạo lộ Phạm hạnh. Cả thảy bảy bậc Hữu học cùng với phàm nhân tốt lành gọi là đang thực hành Phạm hạnh, còn bậc Lậu Tận gọi là đã trải qua cuộc sống (của bậc Thánh). Vì thế, trong khi quán xét lại sự sống Phạm hạnh của bản thân, ngài biết rõ rằng— “Phạm hạnh đã sống”. Việc cần làm đã làm: Có lời giải thích rằng— tất cả 16 phận sự do khả năng lãnh hội về sự biết toàn diện, lãnh hội về sự dứt bỏ, lãnh hội về sự tác chứng, và lãnh hội về sự tu tập với cả 4 Đạo trong 4 Đế đã được thành tựu. Bởi vì, phàm nhân tốt lành, v.v, đang làm phận sự đó, còn bậc Lậu có việc cần làm đã làm. Do đó, trong khi quán xét lại phận sự mà bản thân cần phải làm, ngài biết rõ rằng: “Việc cần làm đã làm.” Không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa: Đức Thế Tôn biết rõ rằng— phận sự là sự tu tập đối với Đạo đưa đến bản thể (A-la-hán) này nữa, tức là để làm cho 16 phận sự phát triển hoặc nhằm diệt trừ các phiền não như vậy thì không có cho ta. Hoặc hơn nữa, đối với bản thể (A-ra-hán) này: (Đức Thế Tôn) biết rõ rằng— “sự liên tục của các Uẩn khác từ bản thể này, tức là từ sự liên tục của Uẩn đang tồn tại ở kiếp sống này có cách thức như vậy (điều này) không có nơi ta. Hơn nữa, Ngũ uẩn này đã được ta biết toàn diện vẫn còn duy trì giống như thân cây có gốc rễ đã bị chặt đứt, Ngũ uẩn ấy sẽ diệt do thức cuối cùng đoạn diệt giống như ngọn lửa đã hết tim đèn (nhiên liệu) rồi tắt. Minh là trí của đạo A-la-hán được gọi là Minh trong trường hợp này. Sự không biết che đậy bốn Chân Lý được gọi là Vô minh. Các từ còn lại đều có phương thức như đã giải thích.
Anuccāvacasīlassāti yassa sīlaṃ kālena hāyati, kālena vaḍḍhati, so uccāvacasīlo nāma hoti. Khīṇāsavassa pana sīlaṃ ekantavaḍḍhitameva. Tasmā so anuccāvacasīlo nāma hoti. Vasībhūtanti vasippattaṃ. Susamāhitanti suṭṭhu samāhitaṃ, ārammaṇamhi suṭṭhapitaṃ. Dhīranti dhitisampannaṃ. Maccuhāyinanti maccuṃ jahitvā ṭhitaṃ. Sabbappahāyinanti sabbe pāpadhamme pajahitvā ṭhitaṃ. Buddhanti catusaccabuddhaṃ. Antimadehinanti[29] sabbapacchimasarīradhārinaṃ. Taṃ namassanti gotamanti taṃ gotamagottaṃ buddhasāvakā namassanti. Atha vā gotamabuddhassa sāvakopi gotamo, taṃ gotamaṃ devamanussā namassantīti attho.
Giới hạnh không cao không thấp: Người có giới hạnh đôi lúc suy giảm, đôi lúc tăng trưởng được gọi là người có giới hạnh khi cao khi thấp (không ổn định). Còn đối với bậc Lậu Tận thì giới hạnh hoàn toàn tăng trưởng. Do đó, ngài mới được gọi là có giới hạnh không cao không thấp. Khéo được định tĩnh: tâm đã được định tĩnh khéo léo, tức là đã được thiết lập khéo léo trong đối tượng. Bậc sáng trí: Là vị đầy đủ với trí tuệ ghi nhớ. có sự chiến thắng Thần Chết: bậc đã từ bỏ Thần Chết rồi an trú. Có sự dứt bỏ tất cả: Bậc đã từ bỏ tất cả các ác pháp rồi an trú. Đức Phật: Bậc đã giác ngộ Bốn Chân Lý (Tứ Thánh Đế). Vị có thân tối hậu: Vị mang thân xác (này) lần cuối cùng. Các vị Thinh Văn chắp tay lễ bái ngài Gotama: Các vị Thinh Văn của đức Phật chắp tay đảnh lễ dòng họ Gotama đó. Hoặc hơn nữa, có lời giải thích rằng— Luôn cả vị Thinh Văn của Đức Phật Gotama cũng được gọi là Gotama, chư Thiên và loài người đều chắp tay đảnh lễ vị Gotama đó.
Pubbenivāsanti pubbenivutthakkhandhaparamparaṃ. Yovetīti yo aveti avagacchati. Yovedītipi pāṭho. Yo avedi, viditaṃ pākaṭaṃ katvā ṭhitoti attho. Saggāpāyañca passatīti cha kāmāvacare nava brahmaloke cattāro ca apāye passati. Jātikkhayaṃ pattoti arahattaṃ patto. Abhiññāvositoti jānitvā kiccavosānena vosito. Munīti moneyyena samannāgato khīṇāsavamuni. Etāhīti heṭṭhā niddiṭṭhāhi pubbenivāsañāṇādīhi. Nāññaṃ lapitalāpananti yo panañño tevijjoti aññehi lapitavacanamattameva lapati, tamahaṃ tevijjoti na vadāmi, attapaccakkhato ñatvā parassapi tisso vijjā kathentamevāhaṃ tevijjoti vadāmīti attho. Kalanti koṭṭhāsaṃ. Nāgghatīti na pāpuṇāti. Idāni brāhmaṇo bhagavato kathāya pasanno pasannākāraṃ karonto abhikkantantiādimāha.
Các kiếp sống quá khứ: Các uẩn ở quá khứ nối tiếp nhau. Người nào biết rõ: Người nào biết được, hiểu được. Cũng có bản ghi là ‘Yo vedi’, giải thích rằng: Người đã biết, tức là sau khi làm cho điều đã biết hiển lộ rồi an trụ. Nhìn thấy cõi Trời và đọa xứ: Người ấy nhìn thấy 6 cõi Trời Dục giới, 9 cõi Phạm thiên (hoặc các cõi Phạm thiên) và 4 cõi khổ. Đạt đến sự diệt trừ tái sanh: đạt đến bản thể A-la-hán. Đã được hoàn hảo về thắng trí: Đã được hoàn hảo bởi sự hoàn thành phận sự do biết. Bậc hiền trí là bậc Lậu Tận, vị hội đủ với sự tốt đẹp về hạnh kiểm, (vị ấy) gọi là bậc hiền trí. Này: Với các loại Trí như trí nhớ lại các kiếp sống quá khứ, v.v. đã được giải thích ở phần trước. Chứ không phải kẻ khác với lời nói lảm nhảm được thốt lên: Tuy nhiên, người nào khác nói lên chính lời nói được nói ra bởi những người khác rằng: ‘người ấy là bậc có Tam minh’, ta không gọi kẻ đó là vị có ba Minh, giải thích rằng— ta gọi người tự mình biết rõ rồi nói về ba Minh ấy cho người khác là ‘vị có Tam minh’. Kalaṃ: phần. Có giá trị không đến…/không giá trị bằng…: Không đến. Giờ đây, vị Bà-la-môn đã được tịnh tín với lời nói của Đức Thế Tôn, khi thuyết giảng biểu hiện của vị có niềm tịnh tín mới nói lời được bắt đầu rằng: “Thật là tuyệt vời!, v.v.”
Giải Thích Bài Kinh Bà-la-môn Jāṇussoṇi
60. Navame yassassūti yassa bhaveyyuṃ. Yaññotiādīsu yajitabboti yañño, deyyadhammassetaṃ nāmaṃ. Saddhanti matakabhattaṃ. Thālipākoti varapurisānaṃ dātabbayuttaṃ bhattaṃ. Deyyadhammanti vuttāvasesaṃ yaṃkiñci deyyadhammaṃ nāma. Tevijjesu brāhmaṇesu dānaṃ dadeyyāti sabbametaṃ dānaṃ tevijjesu dadeyya, tevijjā brāhmaṇāva paṭiggahetuṃ yuttāti dasseti. Sesamettha heṭṭhā vuttanayamevāti.
Trong bài Kinh thứ chín, người nào có: của người nào có thể có. Lễ hiến tế, v.v, có lời giải thích rằng— (vật thí) gọi là vật tế lễ vì là vật cần dùng để cúng tế, từ này là tên gọi của vật thí. (Có vật chất có thể cho) bằng niềm tin: Thức ăn dùng để hồi hướng đến người đã quá vãng (Cơm cúng các hương linh). (Có thức ăn có thể cho) người khác: Thức ăn có thể ban phát đến tập thể khác. Bất cứ những vật thí còn lại nào ngoài những vật thí đã đề cập đều được gọi chung là vật thí. Cho các vị Bà-la-môn có ba minh: Tất cả các lễ vật bố thí này xứng đáng được dâng đến vị có Tam Minh. Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng: Chỉ những vị Bà-la-môn có Tam Minh mới xứng đáng được nhận lãnh (lễ vật bố thí). Các từ còn lại trong Kinh này đều có phương thức như đã được nói ở phần trước.
Giải Thích Bài Kinh Bà-la-môn Saṅgārava
61. Dasame saṅgāravoti evaṃnāmako rājagahanagare jiṇṇapaṭisaṅkharaṇakārako āyuttakabrāhmaṇo. Upasaṅkamīti bhuttapātarāso hutvā mahājanaparivuto upasaṅkami. Mayamassūti ettha assūti nipātamattaṃ, mayaṃ, bho gotama, brāhmaṇā nāmāti idameva atthapadaṃ. Yaññaṃ yajāmāti bāhirasamaye sabbacatukkena sabbaṭṭhakena sabbasoḷasakena sabbadvattiṃsāya sabbacatusaṭṭhiyā sabbasatena sabbapañcasatenāti ca evaṃ pāṇaghātapaṭisaṃyutto yañño nāma hoti. Taṃ sandhāyevamāha. Anekasārīrikanti anekasarīrasambhavaṃ. Yadidanti yā esā. Yaññādhikaraṇanti yajanakāraṇā ceva yājanakāraṇā cāti[30] attho. Ekasmiñhi bahūnaṃ dadantepi dāpentepi bahūsupi bahūnaṃ dentesupi dāpentesupi puññapaṭipadā anekasārīrikā nāma hoti. Taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. Tuyhañca tuyhañca[31] yajāmīti vadantassāpi tvañca tvañca[32] yajāhīti āṇāpentassāpi ca anekasārīrikāva hoti. Tampi sandhāyetaṃ vuttaṃ. Yassa vā tassa vāti yasmā vā tasmā vā. Ekamattānaṃ dametīti attano indriyadamanavasena ekaṃ attānameva dameti. Ekamattānaṃ sametīti attano rāgādisamanavasena[33] ekaṃ attānameva sameti. Parinibbāpetīti rāgādiparinibbāneneva parinibbāpeti. Evamassāyanti evaṃ santepi ayaṃ.
Trong bài Kinh thứ mười, Saṅgāravo: là vị trông nom, vị sửa chữa/tu bổ các công trình cũ ở thành Rājagaha có tên gọi như vậy. Đi đến gặp: Vị Bà-la-môn sau khi dùng xong bữa sáng, có đông đảo quần chúng tháp tùng đã đi đến yết kiến Đức Thế Tôn. Từ ‘assu’ trong cụm từ ‘Mayamassu’: Đây chỉ là một phân từ để biểu đạt ý nghĩa rằng: ‘Thưa ngài Gotama, chúng tôi là những Bà-la-môn.’ Chúng tôi làm lễ tế đàn và khuyên các người khác làm lễ tế đàn: Các lễ tế đàn liên quan đến việc sát hại sanh mạng như vầy— mỗi nhóm có 4 con, mỗi nhóm có 8 con, mỗi nhóm có 16 con, mỗi nhóm có 32 con, mỗi nhóm có 64 con, mỗi nhóm có 100 con, và mỗi nhóm có 500 con trong các học thuyết bên ngoài (học thuyết ngoại đạo). Đức Thế Tôn nói đề cập đến chính lễ tế đàn ấy. Liên quan đến nhiều người: liên quan đến nhiều người. Yadidaṃ tương đương với ‘Yā esā’, dịch là ‘đó là’. Kết quả của tế đàn: nghĩa là— có việc hiến tế làm nguyên nhân, và có việc khuyên người khác hiến tế làm nguyên nhân. Thật vậy, lối thực hành phước thiện đối với các vật thì mà một người tự mình cho hoặc bảo người khác cho đến nhiều người; cho đến nhiều vật thí mà tự mình cho hoặc bảo người khác cho đến nhiều người, thì đều gọi là lối thực hành liên quan đến nhiều người. Điều này Đức Thế Tôn đề cập đến lối thực hành phước thiện đó. Và lối thực hành của người đang nói rằng: “Ta làm lễ hiến tế cho ngươi, cho ngươi”, hoặc người sai khiến người khác rằng: “ngươi hãy làm lễ hiến tế, ngươi hãy làm lễ hiến tế”, thì cũng gọi là lối thực hành liên quan đến nhiều người. Điều này Đức Thế Tôn nói đề cập đến lối thực hành phước thiện đó. Yassa vā tassa vā tương đương với ‘yasmā vā tasmā vā’ (từ gia đình nào đó). Thuần hóa chính bản thân: Chỉ nhiếp phục bản thân của mình do tác động chế ngự các các giác quan (căn/quyền) của chính mình. An tịnh chính bản thân: Chỉ an tịnh bản thân của mình do tác động việc an tịnh luyến ái, v.v… của chính mình. Hoàn toàn tịch tịnh: Hoàn toàn tịch tịnh việc diệt tận hoàn toàn luyến ái, v.v… Như vậy: Luôn cả việc xuất gia cũng ngang bằng với lối thực hành phước thiện này.
Evamidaṃ brāhmaṇassa kathaṃ sutvā satthā cintesi – ‘‘ayaṃ brāhmaṇo pasughātakasaṃyuttaṃ mahāyaññaṃ anekasārīrikaṃ puññapaṭipadaṃ vadeti, pabbajjāmūlakaṃ pana puññuppattipaṭipadaṃ[34] ekasārīrikanti vadeti. Nevāyaṃ ekasārīrikaṃ jānāti, na anekasārīrikaṃ, handassa ekasārīrikañca anekasārīrikañca paṭipadaṃ desessāmī’’ti upari desanaṃ vaḍḍhento tena hi brāhmaṇātiādimāha. Tattha yathā te khameyyāti yathā tuyhaṃ rucceyya. Idha tathāgato loke uppajjatītiādi visuddhimagge vitthāritameva. Ethāyaṃ maggoti etha tumhe, ahamanusāsāmi, ayaṃ maggo. Ayaṃ paṭipadāti tasseva vevacanaṃ. Yathā paṭipannoti yena maggena paṭipanno. Anuttaraṃ brahmacariyogadhanti arahattamaggasaṅkhātassa brahmacariyassa anuttaraṃ ogadhaṃ uttamapatiṭṭhābhūtaṃ nibbānaṃ. Iccāyanti iti ayaṃ.
Sau khi lắng nghe lời nói của vị Bà-la-môn như vậy, bậc Đạo Sư đã nghĩ rằng— “Vị Bà-la-môn này nói đến đại lễ đại lễ tế đàn liên quan đến việc sát hại sanh mạng là ‘lối thực hành đưa đến phước thiện cho nhiều người’, nhưng lại nói về lối thực hành đưa đến phước thiện có việc xuất gia làm nền tảng là ‘lối thực hành đưa đến phước thiện cho một cá nhân’. Vị Bà-la-môn này không biết về lối thực hành liên quan đến một cá nhân, cũng không hiểu rõ lối thực hành liên quan đến nhiều người. Thôi được rồi, ta sẽ thuyết giảng lối thực hành liên quan đến cá nhân và liên quan đến nhiều người cho vị ấy,” khi mở rộng bài Pháp thoại hơn nữa, nên mới nói lời bắt đầu rằng: “Vậy thì, này Bà-la-môn…”Ở đây, ông nhận định thế nào: ông chấp thuận như thế nào. Như Lai hiện khởi ở thế gian này: Đã được giải thích chi tiết trong bộ Thanh Tịnh Đạo. Đây là con đường: Này các vị, hãy đến đây! Ta sẽ giảng dạy, đây là con đường. Đây là lối thực hành: Đây là từ đồng nghĩa với ‘con đường’ ấy. Người thực hành theo: Thực hành bằng con đường nào. Có sự đi sâu vào mục đích tối thượng của Phạm hạnh: Niết Bàn là nơi nương tựa tối thượng, có sự đi sâu vào mục đích vô thượng của Phạm hạnh được xem là Đạo A-la-hán. Iccāyaṃ tách ra thành ‘Iti ayaṃ’ (sự việc này là như vậy,).
Appaṭṭhatarāti[35] yattha bahūhi veyyāvaccakarehi vā upakaraṇehi vā attho natthi. Appasamārambhatarāti yattha bahūnaṃ kammacchedavasena pīḷāsaṅkhāto samārambho natthi. Seyyathāpi bhavaṃ gotamo , bhavaṃ cānando, ete me pujjāti yathā bhavaṃ gotamo, bhavañcānando, evarūpā mama pūjitā, tumheyeva dve janā mayhaṃ pujjā ca pāsaṃsā cāti imamatthaṃ sandhāyetaṃ vadati. Tassa kira evaṃ ahosi – ‘‘ānandatthero maṃyeva imaṃ pañhaṃ kathāpetukāmo, attano kho pana vaṇṇe vutte padussanako nāma natthī’’ti. Tasmā pañhaṃ akathetukāmo vaṇṇabhaṇanena vikkhepaṃ karonto evamāha.
Ít công việc hơn: là lối thực hành không cần nhiều sự trợ giúp hoặc không cần nhiều dụng cụ/vật dụng. Ít nỗ lực hơn: là lối thực hành không có sự cống cao được xem là sự làm tổn hại do tác động cắt đứt nghiệp của nhiều người. Giống như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ānanda, cả hai đối với tôi là đáng đảnh lễ …: Bà-la-môn nói điều này để đề cập đến ý nghĩa này rằng: “Tôi lễ bái những bậc có hình như thế này là ngài Gotama và ngài Ānanda như thế nào; tôi đảnh lễ và tán thán cả hai vị đều như thế ấy.” Nghe nói rằng, vị Bà-la-môn đó có suy nghĩ như vầy: “Trưởng lão Ānanda muốn chính bản thân ta phải trả lời câu hỏi này, nhưng khi ta tán thán của bản thân thì người không hoan hỷ là không có.” Do đó, trong khi muốn tránh né việc trả lời câu hỏi, vị Bà-la-môn mới nói như vậy với việc nói lời tán thán.
Nakho tyāhanti na kho te ahaṃ. Theropi kira cintesi – ‘‘ayaṃ brāhmaṇo pañhaṃ akathetukāmo parivattati, imaṃ pañhaṃ etaṃyeva kathāpessāmī’’ti. Tasmā naṃ evamāha.
Nakho tyāhaṃ (Này Bà-la-môn, Ta không hỏi ông như vậy) tách thành ‘na kho te ahaṃ’. Nghe rằng, ngay cả Trưởng lão cũng nghĩ rằng: “Vị Bà-la-môn này không có ý định trả lời câu hỏi nên mới lảng tránh, ta sẽ khiến vị Bà-la-môn này phải trả lời cho bằng được câu hỏi này.” Do đó, ngài mới nói như vậy với vị Bà-la-môn ấy.
Sahadhammikanti sakāraṇaṃ. Saṃsādetīti saṃsīdāpeti. No vissajjetīti na katheti. Yaṃnūnāhaṃ parimoceyyanti yaṃnūnāhaṃ ubhopete vihesato parimoceyyaṃ. Brāhmaṇo hi ānandena pucchitaṃ pañhaṃ akathento viheseti, ānandopi brāhmaṇaṃ akathentaṃ kathāpento. Iti ubhopete vihesato mocessāmīti cintetvā evamāha. Kā nvajjāti kā nu ajja. Antarākathā udapādīti aññissā kathāya antarantare katarā kathā uppajjīti pucchati. Tadā kira rājantepure[36] tīṇi pāṭihāriyāni ārabbha kathā udapādi, taṃ pucchāmīti satthā evamāha. Atha brāhmaṇo ‘‘idāni vattuṃ sakkhissāmī’’ti rājantepure uppannaṃ kathaṃ ārocento ayaṃ khvajja, bho gotamātiādimāha. Tattha ayaṃ khvajjāti ayaṃ kho ajja. Pubbe sudanti ettha sudanti nipātamattaṃ. Uttari manussadhammāti dasakusalakammapathasaṅkhātā manussadhammā uttariṃ. Iddhipāṭihāriyaṃ dassesunti bhikkhācāraṃ gacchantā ākāseneva gamiṃsu ceva āgamiṃsu cāti evaṃ pubbe pavattaṃ ākāsagamanaṃ sandhāyevamāha. Etarahi pana bahutarā ca bhikkhūti idaṃ so brāhmaṇo ‘‘pubbe bhikkhū ‘cattāro paccaye uppādessāmā’ti maññe evamakaṃsu, idāni paccayānaṃ uppannabhāvaṃ ñatvā soppena ceva pamādena ca vītināmentī’’ti laddhiyā evamāha.
Câu hỏi hợp lý: có nguyên nhân. Ngồi im lặng: giữ thái độ thản nhiên/thờ ơ. Không trả lời: không nói. Hay là Ta nên tháo gỡ việc này: Hay là ta nên tháo gỡ sự khó chịu ở cả hai. Bởi vì, vị Bà-la-môn khi không trả lời câu hỏi được Đại đức Ānanda hỏi sẽ cảm thấy khó chịu; còn Đại đức Ānanda, khi cố ép Bà-la-môn không chịu trả lời phải trả lời cho bằng được cũng cảm thấy khó chịu. Do đó, Đức Thế Tôn đã suy nghĩ rằng: “Ta sẽ tháo gỡ sự khó chịu cho cả hai”, nên mới nói như vậy. Kā nvajjā tách thành ‘Kā nu ajja’ nghĩa là ‘Hôm nay… như thế nào’. Đã khởi lên câu chuyện trao đổi: Đức Thế Tôn hỏi rằng— “Trong khi đang trò chuyện trao đổi với nhau về câu chuyện khác, có chuyện gì đã xảy ra?” Nghe rằng lúc bấy giờ trong Hoàng cung khởi lên câu chuyện liên quan đến ba sự kỳ diệu, bậc Đạo Sư nghĩ rằng: “Ta sẽ hỏi về điều đó”, nên mới nói như vậy. Khi ấy, vị Bà-la-môn nghĩ rằng: “Bây giờ ta có thể nói được”, khi nói đến câu chuyện đã khởi lên trong Hoàng cung, nên đã nói lời bắt đầu rằng: “Thưa ngài Gotama, hôm nay…”. Trong số các từ ngữ ấy, ayaṃ khvajja (hôm nay): tách thành ‘ayaṃ kho ajja’. Từ ‘sudaṃ’ trong cụm từ ‘Pubbe sudaṃ’ chỉ là một phân từ. Pháp thượng nhân: vượt trên pháp của loài người là mười đường lối tạo nghiệp thiện (thập thiện nghiệp đạo). Phô bày sự kỳ diệu của phép thần thông: Vị Bà-la-môn nói như vậy để đề cập đến việc bay lên hư không đã vận hành trong thời quá khứ như vầy— Các vị Tỳ-khưu khi đi khất thực, cả lúc đi lẫn lúc về đều thông qua con đường hư không. Bà-la-môn ấy đã nói lời này: Hiện nay các vị Tỳ-khưu có số lượng nhiều hơn— với biểu hiện như vậy theo quan niệm rằng: “Thuở xưa các vị Tỳ-khưu’ nghĩ rằng ‘chúng ta sẽ làm cho bốn món vật dụng phát sanh’ nên đã làm như vậy; nhưng ngày nay, biết rằng các món vật dụng đã phát sanh, mới trải qua thời gian với sự say ngủ và sự xao lãng.’”
Pāṭihāriyānīti paccanīkapaṭiharaṇavasena pāṭihāriyāni. Iddhipāṭihāriyanti ijjhanavasena iddhi, paṭiharaṇavasena pāṭihāriyaṃ, iddhiyeva pāṭihāriyaṃ iddhipāṭihāriyaṃ. Itaresupi eseva nayo. Anekavihitaṃ iddhividhantiādīnaṃ attho ceva bhāvanānayo ca visuddhimagge (visuddhi. 2.365) vitthāritova.
Các sự kỳ diệu: các sự kỳ diệu do tác động của việc tiêu diệt kẻ thù nghịch. Sự kỳ diệu của phép thần thông: Có lời giải thích rằng— gọi là thần thông do tác động của sự thành tựu; gọi là phép kỳ diệu do tác động xua tan/tiêu diệt. Sự kỳ diệu là thần thông ấy gọi là sự kỳ diệu của phép thần thông. Các phép kỳ diệu khác ngoài ra cũng có phương thức này tương tự. Về mặt ý nghĩa và phương pháp tu tập của các cụm từ bắt đầu rằng: “Có nhiều loại thần thông, v.v,” Trưởng lão Buddhaghosa đã giải thích chi tiết trong bộ Thanh Tịnh Đạo. (visuddhi. 2.365);
Nimittenaādisatīti āgatanimittena vā gatanimittena vā ṭhitanimittena vā ‘‘idaṃ nāma bhavissatī’’ti katheti. Tatridaṃ vatthu – eko kira rājā tisso muttā gahetvā purohitaṃ pucchi ‘‘kiṃ me, ācariya, hatthe’’ti. So ito cito ca olokesi, tena ca samayena ekā sarabū ‘‘makkhikaṃ gahessāmī’’ti pakkhantā[37], gahaṇakāle makkhikā palātā. So makkhikāya muttattā ‘‘muttā mahārājā’’ti āha. Muttā tāva hontu, kati muttāti. So puna nimittaṃ olokesi. Athāvidūre kukkuṭo tikkhattuṃ saddaṃ nicchāresi. Brāhmaṇo ‘‘tisso mahārājā’’ti āha. Evaṃ ekacco āgatanimittena katheti. Etenupāyena gataṭhitanimittehipi kathanaṃ veditabbaṃ. Evampi te manoti evaṃ tava mano somanassito vā domanassito vā kāmavitakkādisaṃyutto vāti. Dutiyaṃ tasseva vevacanaṃ. Itipi te cittanti itipi tava cittaṃ, imañca imañca atthaṃ cintayamānaṃ pavattatīti attho. Bahuṃ cepi ādisatīti bahuṃ cepi katheti. Tatheva taṃ hotīti yathā kathitaṃ, tatheva hoti.
Điểm chỉ dựa vào hiện tướng (đoán tâm tư bằng tướng/dấu hiệu): Tiên đoán/chỉ điểm rằng— “Điều này sẽ xuất hiện” dựa vào biểu hiện đã đến, dựa vào biểu hiện đã đi qua, hoặc dựa vào biểu hiện đang hiện hữu. Trong câu đó, có câu chuyện này làm ví dụ— Nghe rằng có một vị vua nắm trong tay 3 hạt ngọc trai rồi hỏi viên quan tế tự rằng: “Thưa thầy, vật gì đang ở trong tay trẫm?” Viên quan tế tự ấy nhìn bên này bên kia; đúng vào lúc đó, có một con tắc kè chạy đến với ý định “sẽ bắt con ruồi”, nhưng vào lúc nó sắp bắt thì con ruồi lại bay mất. Vị ấy mới tâu rằng: “Tâu Đại vương, đó là ngọc trai,” nhờ vào hiện tướng con ruồi đã thoát được. Đức vua lại hỏi tiếp: “Là ngọc trai cũng mặc kệ, nhưng có bao nhiêu hạt?” Viên quan tế tự lại quan sát hiện tướng lần nữa; có tiếng gà gáy lên 3 lần ở một nơi không xa. Vị Bà-la-môn liền tâu rằng: “Tâu Đại vương, có 3 hạt.” Một số người tiên đoán sự việc qua hiện tướng vừa đến (như đã giải thích). Ngay cả đối với hiện tướng đã đi qua hoặc hiện tướng đang hiện hữu, cũng nên biết sự tiên đoán theo phương thức này. Ý của ngươi là như vậy: Tâm ý của ông là như vậy, tức là y cứ vào sự an vui, y cứ vào sự buồn phiền, hoặc tương ưng với Dục tầm (suy tư về dục), v.v… Câu thứ hai ‘ý của ngươi là thế này’ đồng nghĩa với câu ‘ý của ngươi là như vậy’ đó. Tâm của ngươi là như thế: tâm của ngươi là như thế này; giải thích rằng, tâm của ngươi khi đang suy nghĩ về ý nghĩa của câu này và câu này cũng đã diễn tiến như vậy. Dẫu cho người ấy chỉ điểm nhiều lần: Cho dù vị ấy có tiên đoán nhiều lần đi nữa. Điều ấy vẫn là y như thế: Điều đã được nói ra (tiên đoán) như thế nào, thì điều ấy cũng vẫn xảy ra đúng y như thế.
Amanussānanti yakkhapisācādīnaṃ. Devatānanti cātumahārājikādīnaṃ. Saddaṃ sutvāti aññassa cittaṃ ñatvā kathentānaṃ sutvā. Vitakkavipphārasaddanti vitakkavipphāravasena uppannaṃ vippalapantānaṃ suttappamattādīnaṃ saddaṃ. Sutvāti taṃ sutvā. Yaṃ vitakkayato tassa so saddo uppanno, tassa vasena ‘‘evampi te mano’’tiādisati.
Của phi nhân: có Dạ-xoa và ma quỷ. Của chư Thiên: Có chư Thiên cõi Tứ Đại Thiên Vương, v.v. Sau khi nghe âm thanh: sau khi nghe tiếng của người đang nói mới tiên đoán do đã biết tâm của người khác. Âm thanh lan truyền của sự suy tầm: Âm thanh của người đang ngủ hoặc người xao lãng, v.v… nói mớ trong khi ngủ khởi lên do tác động lan truyền của sự suy tầm. Lắng nghe: Lắng nghe âm thánh đó. Giải thích rằng— Tiên đoán âm thanh phát ra do tác động của đối tượng mà người ấy đang suy tầm rằng: “Ý của ngươi là như vầy, v.v.”
Tatrimāni vatthūni – eko kira manusso ‘‘aṭṭaṃ karissāmī’’ti gāmā nagaraṃ gacchanto nikkhantaṭṭhānato paṭṭhāya ‘‘vinicchayasabhāyaṃ rañño ca rājamahāmattānañca idaṃ kathessāmi idaṃ kathessāmī’’ti vitakkento rājakulaṃ gato viya rañño purato ṭhito viya aṭṭakārakena saddhiṃ kathento viya ca ahosi, tassa taṃ vitakkavipphāravasena niccharantaṃ saddaṃ sutvā eko puriso ‘‘kenaṭṭhena gacchasī’’ti[38] āha. Aṭṭakammenāti. Gaccha, jayo te bhavissatīti. So gantvā aṭṭaṃ katvā jayameva pāpuṇi. Aparopi thero moḷiyagāme piṇḍāya cari. Atha naṃ nikkhamantaṃ ekā dārikā aññavihitā na addasa. So gāmadvāre ṭhatvā nivattitvā oloketvā taṃ disvā vitakkento agamāsi. Gacchantoyeva ca ‘‘kiṃ nu kho kurumānā dārikā na addasā’’ti vacībhedaṃ akāsi. Passe ṭhito eko puriso sutvā ‘‘tumhe, bhante, moḷiyagāme caritthā’’ti āha.
Trong vấn đề đó có câu chuyện như sau— Nghe rằng, có một người đàn ông nghĩ rằng: “Ta sẽ đi giải quyết vụ kiện tụng.” Sau khi rời khỏi nhà đi đến kinh thành, bắt đầu từ chỗ khởi hành, trong khi suy tư rằng: “Ở pháp đình, ta sẽ làm điều này, ta sẽ nói sự việc này lên Đức vua và các viên quan đại thần,” vị ấy tưởng như mình đã bước vào Hoàng cung, tưởng như đã đứng trước mặt Đức vua, và cứ như thể đang đưa ra lời khai với các vị thẩm phán. Một người đàn ông khác nghe được âm thanh của vị ấy thốt ra do tác động lan truyền của sự suy tầm, liền hỏi rằng: “Anh đi vì chuyện gì vậy?” — Anh ta đáp: “Giải quyết vụ kiện tụng” — Người kia mới nói rằng: “Hãy đi đi, anh sẽ giành chiến thắng.” Sau đó, anh ta đi giải quyết vụ kiện tụng và đã giành chiến thắng. Một câu chuyện khác, có một vị Trưởng lão đã đi khất thực ở làng Moḷiya. Vào lúc đó, một bé gái để tâm ở nơi khác nên đã không nhìn thấy ngài đang bước ra. Vị Trưởng lão ấy, sau khi đứng ở cổng làng đã quay trở về, sau khi xem xét đã nhìn thấy bé gái ấy trong khi suy tư ngài đã đến. Và khi đang đi ngài đã phát lên lời nói rằng: “Này cô bé, con đang làm gì vậy mà không nhìn thấy ta?” Một người đàn ông đang đứng ở kế bên sau khi nghe vậy đã nói rằng: “Kính bạch ngài, xin mời ngài hãy đi đến làng Moḷiya.”
Manosaṅkhārā paṇihitāti cittasaṅkhārā suṭṭhapitā. Vitakkessatīti vitakkayissati pavattayissatīti pajānāti. Pajānanto ca āgamanena jānāti, pubbabhāgena jānāti, antosamāpattiyaṃ cittaṃ apaloketvā jānāti. Āgamanena jānāti nāma kasiṇaparikammakāleyeva ‘‘yenākārenesa kasiṇabhāvanaṃ āraddho paṭhamajjhānaṃ vā…pe… catutthajjhānaṃ vā aṭṭha vā samāpattiyo nibbattessatī’’ti jānāti. Pubbabhāgena jānāti nāma paṭhamavipassanāya āraddhāyayeva jānāti, ‘‘yenākārena esa vipassanaṃ āraddho sotāpattimaggaṃ vā nibbattessati…pe… arahattamaggaṃ vā nibbattessatī’’ti jānāti. Antosamāpattiyaṃ cittaṃ oloketvā jānāti nāma – ‘‘yenākārena imassa manosaṅkhārā suṭṭhapitā, imassa nāma cittassa anantarā imaṃ nāma vitakkaṃ vitakkessati, ito vuṭṭhitassa etassa hānabhāgiyo vā samādhi bhavissati ṭhitibhāgiyo vā visesabhāgiyo vā nibbedhabhāgiyo vā, abhiññāyo vā nibbattessatī’’ti jānāti. Tattha puthujjano cetopariyañāṇalābhī puthujjanānaṃyeva cittaṃ jānāti, na ariyānaṃ. Ariyesupi heṭṭhimo uparimassa cittaṃ na jānāti, uparimo pana heṭṭhimassa jānāti. Etesu ca sotāpanno sotāpattiphalasamāpattiṃ samāpajjati…pe… arahā arahattaphalasamāpattiṃ samāpajjati. Uparimo heṭṭhimaṃ na samāpajjati. Tesañhi heṭṭhimā heṭṭhimā samāpatti tatravattiyeva hoti. Tatheva taṃhotīti etaṃ ekaṃsena tatheva hoti. Cetopariyañāṇavasena ñātañhi aññathābhāvi nāma natthi.
Các tạo tác về ý … đã được ước nguyện: Các tạo tác về ý đã được khéo thiết lập. Sẽ suy tầm: Biết rõ rằng ‘sẽ suy tầm, sẽ làm cho tâm vận hành’. Và trong khi biết rõ hành giả biết nhờ vào điềm báo vừa trôi qua, biết nhờ vào điềm báo trước, biết do nhìn chăm chú vào nội tâm bên trong các Thiền chứng. Chính vào thời điểm chuẩn bị đề mục kasiṇa vị Tỳ-khưu biết rằng: “Hành giả này bắt đầu tu tập đề mục kasiṇa với biểu hiện nào sẽ làm sanh khởi Sơ thiền hoặc …như trên… Tứ thiền, hoặc tám Thiền chứng với biểu hiện ấy,” được gọi là biết nhờ vào điềm báo vừa trôi qua. Vị ấy biết ngay trong khi bắt đầu tu tập Sơ thiền (Chỉ tịnh) và Minh sát, là biết rằng: “Hành giả này bắt đầu Minh sát với biểu hiện nào, sẽ làm sanh khởi Nhập Lưu Đạo …như trên… hoặc sẽ làm sanh khởi A-la-hán Đạo với biểu hiện ấy,” được gọi là biết nhờ vào điềm báo trước. Vị Tỳ-khưu biết rằng: “Các tạo tác về ý của hành giả này đã được khéo thiết lập; vị ấy sẽ suy tầm đến điều suy tầm này như vầy kế liền tâm này với biểu hiện nào, thì định là pháp đưa đến thoái hóa, là pháp đưa đến bền vững, là pháp đưa đến thù thắng, hay là pháp đưa đến thông suốt/thấu triệt,” sẽ có đối với hành giả này sau khi xuất khỏi Thiền chứng này, hoặc các thắng trí sẽ sanh khởi đối với hành giả ấy với biểu hiện ấy,” — gọi là biết do nhìn chăm chú vào nội tâm bên trong các Thiền chứng. Trong số các vị ấy, hạng phàm phu đạt được Trí biết được tâm (Tha Tâm Thông) thì chỉ biết được tâm của hạng phàm phu, chứ không biết được tâm của các bậc Thánh nhân. Luôn cả trong số các bậc Thánh nhân, (thì) vị bậc thấp không biết tâm của vị bậc cao; nhưng vị bậc cao thì biết được tâm của vị bậc thấp. Và trong số các bậc Thánh nhân này, vị Nhập Lưu thể nhập sự chứng đạt Quả Nhập Lưu … vị A-la-hán thể nhập sự chứng đạt Quả A-la-hán. Vị bậc cao sẽ không thể nhập Thiền chứng của vị bậc thấp, bởi vì các Thiền chứng thấp của các vị bậc thấp chỉ vận hành nơi các vị ấy mà thôi. Điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế: Lời tiên đoán/điểm chỉ ấy hoàn toàn xảy ra đúng y như thế; bởi vì lời tiên đoán được ngài biết do tác động của Trí biết được tâm gọi là không thể thay đổi khác được.
Evaṃ vitakkethāti evaṃ nekkhammavitakkādayo pavattentā vitakketha. Mā evaṃ vitakkayitthāti evaṃ kāmavitakkādayo pavattentā mā vitakkayittha. Evaṃ manasi karothāti evaṃ aniccasaññameva, dukkhasaññādīsu vā aññataraṃ manasi karotha. Mā evanti niccantiādinā nayena mā manasā karittha. Idanti idaṃ pañcakāmaguṇarāgaṃ pajahatha. Idañca upasampajjāti idaṃ catumaggaphalappabhedaṃ lokuttaradhammameva upasampajja pāpuṇitvā nipphādetvā viharatha.
Hãy suy tầm như thế này: Các ngươi hãy suy tầm khiến cho suy tầm về xuất ly, v.v, vận hành như thế này. Chớ suy tầm như vậy: Các ngươi chớ suy tầm khiến cho suy tầm về dục, v.v, vận hành như vậy. Hãy tác ý như thế này: Các ngươi hãy tác ý đến tưởng về vô thường ấy, hoặc đến các tưởng khác như tưởng về khổ não, v.v, như vậy. Chớ tác ý như vậy: Các ngươi chớ tác ý đến theo phương thức rằng ‘thường tồn/sự trường cửu’. Pháp này: Các ngươi hãy dứt bỏ sự luyến ái vào năm loại dục này. Hãy đạt đến Pháp này: Các ngươi hãy đạt đến, tức là chứng đắc chính Pháp Siêu thế được chia thành 4 Đạo và 4 Quả này đây; bao gồm sau khi đã làm cho thành tựu rồi an trú.
Māyāsahadhammarūpaṃ viya khāyatīti māyāya samānakāraṇajātikaṃ viya hutvā upaṭṭhāti. Māyākāropi hi udakaṃ gahetvā telaṃ karoti, telaṃ gahetvā udakanti evaṃ anekarūpaṃ māyaṃ dasseti. Idampi pāṭihāriyaṃ tathārūpamevāti. Idampi me, bho gotama, pāṭihāriyaṃ māyāsahadhammarūpaṃ viya khāyatīti cintāmaṇikavijjāsarikkhakataṃ sandhāya evaṃ āha. Cintāmaṇikavijjaṃ jānantāpi hi āgacchantameva disvā ‘‘ayaṃ idaṃ nāma vitakkento āgacchatī’’ti jānanti. Tathā ‘‘idaṃ nāma vitakkento ṭhito, idaṃ nāma vitakkento nisinno, idaṃ nāma vitakkento nipanno’’ti jānanti.
Xuất hiện…giống như trò ảo thuật: xuất hiện giống như sắc/hình dáng được sanh lên bởi một nguyên nhân tương tự như trò ảo thuật. Bởi vì một ảo thuật gia có thể biểu diễn trò ảo thuật theo nhiều cách như— cầm nước lên rồi biến hóa thành dầu, hoặc cầm dầu lên rồi biến hóa thành nước. Phép kỳ diệu này cũng có hình thức giống như vậy. Vị Bà-la-môn đã nói như vầy: “Thưa ngài Gotama, ngay cả phép kỳ diệu này cũng hiện ra trước mắt con giống như trò ảo thuật” — đề cập đến sự tương đồng giữa phép kỳ diệu với chú thuật Cindāmaṇī. Bởi vì người thông thạo chú thuật Cindāmaṇī này, khi vừa nhìn thấy một người đang đi đến, thì biết được rằng— “Trong khi suy tư về vấn đề này người này đến”. Ngoài ra, vị ấy còn biết rằng— “Trong khi suy tư về vấn đề này người này đứng, trong khi suy tư về vấn đề này người này ngồi, hoặc trong khi suy tư về vấn đề này người này nằm.”
Abhikkantataranti sundarataraṃ. Paṇītataranti uttamataraṃ. Bhavañhi gotamo avitakkaṃ avicāranti idha brāhmaṇo avasesaṃ[39] ādesanāpāṭihāriyaṃ bāhirakanti na gaṇhi. Idañca pana sabbaṃ so brāhmaṇo tathāgatassa vaṇṇaṃ kathentoyeva āha. Addhā kho tyāyanti[40] ekaṃseneva tayā ayaṃ[41]. Āsajja upanīya vācā bhāsitāti mama guṇe ghaṭṭetvā mameva guṇānaṃ santikaṃ upanītā vācā bhāsitā. Apica tyāhaṃ byākarissāmīti apica te ahameva kathessāmīti. Sesaṃ uttānatthamevāti.
Thù thắng hơn: tốt hơn. Cao cả hơn: cao thượng hơn. Thật vậy, ngài Gotama … không Tầm không Tứ: Ở đây, vị Bà-la-môn không lấy các ‘phép kỳ diệu về điểm hóa’ còn lại là học thuyết bên ngoài (ngoài Phật giáo). Vả lại, vị Bà-la-môn ấy khi ca ngợi Như Lai nên mới nói toàn bộ ý nghĩa này. Thật vậy, này Bà-la-môn…: Lời nói này ông nói hoàn toàn đúng đắn. Lời nói của ông cốt ám chỉ ta, cốt nhắm vào ta: lời mà ông thốt ra có liên quan trực tiếp đến ta, ông đã nói rất chính xác. Và Ta sẽ trả lời câu hỏi của ông: Và chính ta sẽ giải đáp cho ông. Các từ còn lại đều có ý nghĩa đơn giản/dễ hiểu.
Giải Thích Phẩm Bà-la-môn thứ nhất – Được kết thúc
[1] Tayo vaye (Sī)
[2] Līyanaṭṭhena (Sī)
[3] Opanayikoti (Sī, Syā)
[4] ādi-ācariyānañceva (Ka)
[5] Viddhattā (Sī, Syā)
[6] Vāpitaṃ vāpitaṃ (Sī)
[7] Adhammarāgaratta: bị tham ái phi pháp làm cho say đắm (HT TMC)
[8] Visamalobhābhibhūta: vì bị ác tham chinh phục (HT TMC)
[9] Micchādhammaparetā: vì bị tà kiến chi phối (HT TMC)
[10] kiñci gārayhaṃ kāraṇaṃ āgacchati nāgacchatīti pucchati (Sī)
[11] Panthadūsanacoro (Ka)
[12] Samannāgato (Ka)
[13] Ohitabhāro (Ka)
[14] Tīraṇapāraṃ (Ka)
[15] Gacchissāmissa (Sī)
[16] Mayā (sabbattha)
[17] Kathitā (Syā), kathetvā (Ka)
[18] etaṃ (Syā)
[19] Saṃsuddhagahaṇiko: huyết thống thanh tịnh (HT TMC)
[20] (dī. ni. 3.132)
[21] Nighaṇḍurukkhādīnaṃ (Ka) Dī-ṭṭha 1. 220; Ma-ṭṭha 3. 249 piṭṭhesupi passitabbaṃ.
[22] Athabbaṇavedaṃ (Sī)
[23] Paṇṇāyati (Syā, Ka)
[24] Santānetuṃ (Sī, Syā)
[25] āyācanaṃ (Sī)
[26] (visuddhi. 2.402 ādayo)
[27] Apavatti (Sī, Syā)
[28] …bhāvanāvasena (Syā, Ka)
[29] Antimasārīranti (Sī)
[30] Yaññakāraṇa ca yajanakāraṇā cāti (Syā, Ka)
[31] Tuyhañca (Ka)
[32] Tvañca (Ka)
[33] Rāgādi-upasamanavasena (Syā, Ka)
[34] Puññasampattipaṭipadaṃ (Ka)
[35] Appatthatarāti (Syā, Ka) Ṭīkā pana passitabbā.
[36] Antepure (Ka)
[37] Pakkhandā (Ka)
[38] Āgacchasīti (Ka)
[39] Anavasesaṃ (Ka)
[40] Tyāyanti (Syā, Ka)
[41] Tassa ahaṃ (Ka)