03. GIẢI THÍCH CHƯƠNG BA PHÁP – Giải thích Phẩm Người

03. Phẩm Người 

  

3-1. Giải Thích Bài Kinh Tỳ-khưu Samiddha và Tỳ-khưu Mahākoṭṭhita

 21. Tatiyassa paṭhame jhānaphassaṃ paṭhamaṃ phusati, pacchā nirodhaṃ nibbānaṃ sacchikarotīti kāyasakkhi. Diṭṭhantaṃ pattoti diṭṭhippatto. Saddahanto vimuttoti saddhāvimutto. Khamatīti ruccati. Abhikkantataroti atisundarataro. Paṇītataroti atipaṇītataro. Saddhindriyaṃ adhimattaṃ hotīti samiddhattherassa[1] kira arahattamaggakkhaṇe saddhindriyaṃ dhuraṃ ahosi, sesāni cattāri sahajātindriyāni tasseva parivārāni ahesuṃ. Iti thero attanā paṭividdhamaggaṃ kathento evamāha. Mahākoṭṭhikattherassa pana arahattamaggakkhaṇe samādhindriyaṃ dhuraṃ ahosi, sesāni cattāri indriyāni tasseva parivārāni ahesuṃ. Tasmā sopi samādhindriyaṃ adhimattanti kathento attanā paṭividdhamaggameva kathesi. Sāriputtattherassa pana arahattamaggakkhaṇe paññindriyaṃ dhuraṃ ahosi. Sesāni cattāri indriyāni tasseva parivārāni ahesuṃ. Tasmā sopi paññindriyaṃ adhimattanti kathento attanā paṭividdhamaggameva kathesi.

Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm thứ ba, vị Thánh nhân gọi là bậc thân chứng bởi sự xúc chạm của Thiền; sự xúc chạm trước, chứng ngộ sự diệt tận là Niết Bàn sau. Đạt được do kiến: Do đạt được Pháp mà bản thân đã được thấy. Được giải thoát do đức tin: Trong khi có đức tin, được giải thoát. Ưa thích: vừa lòng. Trên cả tuyệt vời: Vô cùng tốt đẹp. Cao cả hơn: càng quý báu hơn. Có tín quyền là nổi bật: Được biết Trưởng lão Samiddha, ở tại sát-na A-la-hán Đạo, đã có Tín quyền làm nhiệm vụ (làm pháp chủ đạo), còn bốn quyền đồng sanh còn lại của Tín quyền ấy làm pháp tùy tùng (pháp hỗ trợ). Do đó, khi Trưởng lão nói đến Đạo mà bản thân đã thấu triệt, nên mới nói như vậy. Hơn nữa, Trưởng lão Mahākoṭṭhika ở sát-na A-ra-hán Đạo đã có Định quyền làm nhiệm vụ (làm pháp chủ đạo), bốn quyền còn lại làm tùy tùng (làm pháp hỗ trợ). Do đó, Trưởng lão Mahākoṭṭhika ấy khi nói rằng ‘Định quyền là nổi bật’, nên mới nói đến ‘Đạo mà chính bản thân đã thấu triệt’. Hơn nữa, Trưởng lão Sāriputta ở sát-na A-la-hán Đạo đã có Tuệ quyền làm nhiệm vụ (làm pháp chủ đạo). Còn 4 quyền còn lại đóng vai trò làm tùy tùng cho chính Tuệ quyền đó. Do đó, ngay cả Trưởng lão Sāriputta, khi muốn trình bày rằng ‘Tuệ quyền là nổi bật’, nên mới nói đến Đạo mà chính bản thân đã thấu triệt.

Nakhvetthāti na kho ettha. Ekaṃsena byākātunti ekantena byākarituṃ. Arahattāya paṭipannoti arahattamaggasamaṅgiṃ dasseti. Evametasmiṃ sutte tīhipi therehi attanā paṭividdhamaggova kathito, sammāsambuddho pana bhummantareneva kathesi.

Nakhvettha [Trong chuyện này…không dễ gì]: tách thành ‘na kho ettha’. Để trả lời một chiều: Để trả lời một chiều. Là vị thực hành hướng đến bản thể A-la-hán: Đức Thế Tôn chỉ rõ sự hội đủ các yếu tố của A-la-hán Đạo. Trong bài Kinh này, cả 3 vị Trưởng lão chỉ thuyết về Đạo mà bán thân đã thấu triệt theo phương thức đã được giảng giải. Tuy nhiên, đấng Chánh đẳng Chánh giác đã thuyết với tư cách vị đang an trú trong địa vị pháp khác.

3-2. Giải Thích Bài Kinh Người Bệnh

 22. Dutiye sappāyānīti hitāni vuddhikarāni. Patirūpanti anucchavikaṃ. Neva vuṭṭhāti tamhā ābādhāti iminā atekicchena vātāpamārādinā[2] rogena samannāgato niṭṭhāpattagilāno kathito. Vuṭṭhāti tamhā ābādhāti iminā khipitakakacchutiṇapupphakajarādibhedo appamattaābādho kathito. Labhanto sappāyāni bhojanāni no alabhantoti iminā pana yesaṃ paṭijagganena phāsukaṃ hoti, sabbepi te ābādhā kathitā. Ettha ca patirūpo upaṭṭhāko nāma gilānupaṭṭhākaaṅgehi samannāgato paṇḍito dakkho analaso veditabbo. Gilānupaṭṭhāko anuññātoti bhikkhusaṅghena dātabboti anuññāto. Tasmiñhi gilāne attano dhammatāya yāpetuṃ asakkonte bhikkhusaṅghena tassa bhikkhuno eko bhikkhu ca sāmaṇero ca ‘‘imaṃ paṭijaggathā’’ti apaloketvā dātabbā. Yāva pana te taṃ paṭijagganti, tāva gilānassa ca tesañca dvinnaṃ yenattho, sabbaṃ bhikkhusaṅghasseva bhāro.

Trong bài Kinh thứ hai, thích hợp: Có sự lợi ích, là thực hiện sự tăng trưởng. Thích nghi: thích đáng/phù hợp. Không được bình phục từ chứng bệnh ấy: điều này Đức Thế Tôn nói đến người bệnh đã bước vào giai đoạn nguy kịch (người bị bệnh không thể chữa trị được), có các căn bệnh như bệnh phong, bệnh động kinh, v.v., vốn là những căn bệnh không thể chữa trị. Được bình phục từ chứng bệnh ấy: điều này Đức Thế Tôn nói đến các căn bệnh nhẹ được phân thành như: hắt hơi, bệnh ngứa ngáy, sốt do thay đổi thời tiết, v.v. Có được ăn các món thích hợp, không phải không được: Hơn nữa, điều này Đức Thế Tôn nói đến tất cả các loại bệnh sẽ khỏi với phương pháp điều trị. Và trong bài Kinh này, nên được biết rằng bậc trí, khôn khéo, không biếng nhác, hội đủ với các yếu tố phẩm hạnh của người chăm sóc bệnh được gọi là người chăm sóc phù hợp. Người chăm sóc bệnh đã được cho phép/chấp thuận: Đã được cho phép rằng ‘nên được ban cho bởi Hội chúng Tỳ-khưu’. Thật vậy, khi vị Tỳ-khưu bị bệnh ấy không thể tự chăm sóc theo cách thông thường của mình được, Hội chúng Tỳ-khưu nên ban cho một vị Tỳ-khưu và một vị Sa-di đến vị Tỳ-khưu ấy rằng: “Hãy chăm sóc vị này”. Hơn nữa, chừng nào họ còn chăm sóc vị ấy, thì chừng ấy vị bị bệnh và hai vị chăm sóc ấy có nhu cầu nào, tất cả đều là trách nhiệm của Hội chúng Tỳ-khưu.

Aññepi gilānā upaṭṭhātabbāti itarepi dve gilānā upaṭṭhāpetabbā. Kiṃ kāraṇā? Yopi hi niṭṭhapattagilāno, so anupaṭṭhiyamāno ‘‘sace maṃ paṭijaggeyyuṃ, phāsukaṃ me[3] bhaveyya. Na kho pana maṃ paṭijaggantī’’ti manopadosaṃ katvā apāye nibbatteyya. Paṭijaggiyamānassa panassa evaṃ hoti ‘‘bhikkhusaṅghena yaṃ kātabbaṃ, taṃ kataṃ. Mayhaṃ pana kammavipāko īdiso’’ti. So bhikkhusaṅghe mettaṃ paccupaṭṭhāpetvā sagge nibbattissati. Yo pana appamattakena byādhinā samannāgato labhantopi alabhantopi vuṭṭhātiyeva, tassa vināpi bhesajjena vūpasamanabyādhi bhesajje kate khippataraṃ vūpasammati. So tato buddhavacanaṃ vā uggaṇhituṃ sakkhissati, samaṇadhammaṃ vā kātuṃ sakkhissati. Iminā kāraṇena ‘‘aññepi gilānā upaṭṭhātabbā’’ti vuttaṃ.

Các người bệnh khác cần phải được chăm sóc như vậy: Ngoài hai hạng người bệnh này Tăng chúng cũng nên được chăm sóc. Tại sao? Bởi vì, người bệnh đã bước vào giai đoạn nguy kịch (người bị bệnh không thể chữa trị được), khi Chư Tăng không chăm sóc, người ấy sẽ sanh tâm oán hận (nghĩ rằng): “Nếu như các vị Tỳ-khưu chăm sóc, ta sẽ bình phục; nhưng các vị Tỳ-khưu không chăm sóc ta” — (do tâm oán hận đó) (vị ấy) có thể tái sinh vào cõi khổ. Tuy nhiên, khi được Chư Tăng chăm sóc, vị ấy sẽ có suy nghĩ như vầy rằng: “Điều nào cần được thực hiện, điều đó đã được thực hiện bởi Chư Tăng. Tuy nhiên, căn bệnh như thế này là kết quả của nghiệp của chính ta”, vị ấy sẽ tăng trưởng từ tâm đối với Chư Tăng, và sẽ tái sinh về Thiên giới (do kết quả đó). Còn vị nào có bệnh nhẹ, dầu được chăm sóc hay không được chăm sóc cũng đều khỏi bệnh; căn bệnh của vị ấy dù không sử dụng dược phẩm cũng tự khỏi, nhưng khi được điều chế thuốc dâng cúng thì sẽ mau chóng lành bệnh hơn. Vị ấy, sau khi bình phục sẽ có thể học tập Phật ngôn, hoặc sẽ có thể thực hành phận sự của Sa-môn. Với lý do này, Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Ngay cả những Tỳ-khưu bệnh khác, Chư Tăng cũng nên chăm sóc”.

Neva okkamatīti neva pavisati. Niyāmaṃ kusalesu dhammesu sammattanti kusalesu dhammesu magganiyāmasaṅkhātaṃ sammattaṃ. Iminā padaparamo puggalo kathito. Dutiyavārena ugghaṭitaññū gahito sāsane nālakattherasadiso buddhantare ekavāraṃ paccekabuddhānaṃ santike ovādaṃ labhitvā paṭividdhapaccekabodhiñāṇo ca. Tatiyavārena vipañcitaññū puggalo kathito, neyyo pana tannissitova hoti.

Không có nhập vào: không đi vào đúng con đường. Bản thể chơn chánh trong các Thiện pháp: Bản thể đúng đắn là đúng đường lối đối với các thiện pháp (đúng theo đường lối của Pháp). Với cụm từ này, (Đức Thế Tôn) muốn ám chỉ đến ‘hạng người hạng người có trí tuệ kém[4]’. Ở trong đoạn thứ hai, (Đức Thế Tôn) muốn ám chỉ đến hạng người hiểu nhanh[5], như Trưởng lão Nālaka trong Giáo pháp; sau khi nhận lời giáo huấn trong sự hiện diện của chư Phật Độc Giác chỉ một lần đã thấu triệt trí giác ngộ của vị Phật Độc Giác ngay tức khắc trong khoảng thời gian giữa hai vị Phật.  Ở trong đoạn thứ ba, (Đức Thế Tôn) muốn ám chỉ đến hạng người hiểu chậm[6]. Còn đối với hạng người cần được dẫn dắt phải nương tựa vào chính phương pháp ấy.

Dhammadesanā anuññātāti māsassa aṭṭha vāre dhammakathā anuññātā. Aññesampi dhammo desetabboti itaresampi dhammo kathetabbo. Kiṃ kāraṇā? Padaparamassa hi imasmiṃ attabhāve dhammaṃ paṭivijjhituṃ asakkontassāpi anāgate paccayo bhavissati. Yo pana tathāgatassa rūpadassanaṃ labhantopi alabhantopi dhammavinayañca savanāya labhantopi alabhantopi dhammaṃ abhisameti, so alabhanto tāva abhisameti. Labhanto pana khippameva abhisamessatīti iminā kāraṇena tesaṃ dhammo desetabbo. Tatiyassa pana punappunaṃ desetabbova.

Việc thuyết pháp được chấp nhận: Việc giảng Pháp được cho phép mỗi tháng tám lần. Nên thuyết giảng Pháp cho cả những người khác: Pháp nên được thuyết giảng cho cả những người khác. Vì lý do gì? Bởi vì, đối với hạng người có trí tuệ kém, dù không thể thấu triệt Giáo pháp trong bản thể này (tức là ngay trong kiếp sống này), nhưng sẽ là duyên lành trong thời vị lai. Còn người nào trong khi đạt được hoặc không đạt được sự chiêm ngưỡng hình dáng của Như Lai; khi đạt được hoặc không đạt được việc lắng nghe Pháp và Luật (sẽ) lãnh hội được Pháp; người ấy ban đầu không đạt được sự lãnh hội. Hơn nữa, khi đạt được (sự chiêm ngưỡng hình dáng của Như Lai, và việc nghe Pháp và Luật) sẽ đạt được sự lãnh hội vô cùng nhanh chóng; với lý do này, mới nên thuyết giảng Pháp cho cả những người khác. Còn đối với hạng người thứ ba (hạng người cần được dẫn dắt) thì cần phải thuyết giảng Pháp lặp đi lặp lại nhiều lần.

3-3. Giải Thích Bài Kinh Các Hành

23. Tatiye sabyābajjhanti sadukkhaṃ[7]. Kāyasaṅkhāranti kāyadvāre cetanārāsiṃ. Abhisaṅkharotīti āyūhati rāsiṃ karoti piṇḍaṃ karoti. Vacīmanodvāresupi eseva nayo. Sabyābajjhaṃ lokanti sadukkhaṃ lokaṃ. Sabyābajjhā phassā phusantīti sadukkhā vipākaphassā phusanti. Sabyābajjhaṃ vedanaṃ vediyatīti sadukkhaṃ vipākavedanaṃ vediyati, sābādhaṃ nirassādanti attho. Seyyathāpi sattā nerayikāti yathā niraye nibbattasattā ekantadukkhaṃ vedanaṃ vediyanti, evaṃ vediyatīti attho. Kiṃ pana tattha upekkhāvedanā natthīti? Atthi, dukkhavedanāya pana balavabhāvena sā abbohārikaṭṭhāne ṭhitā. Iti nirayova nirayassa upamaṃ katvā āhaṭo[8]. Tatra paṭibhāgaupamā nāma kira esā.

Trong bài Kinh thứ ba, có não hại/gây tổn hại: có sự khổ đau. Thân hành/sự tạo tác của thân: Khối/nhóm (tâm sở) tư trong thân hành. Tạo tác: tích trữ, tức là làm thành một đống, làm thành một khối. Luôn cả ở khẩu môn và ý môn: cũng có phương thức tương tự. Trong thế giới có não hại: chúng sanh có sự đau khổ. Các xúc chạm với sự xúc chạm có não hại: Các xúc chạm với sự xúc chạm là quả có khổ. Cảm giác với cảm thọ có não hại: Cảm giác với cảm thọ là quả có khổ, giải thích rằng— Cảm nhận sự đau ốm và bệnh tật, tức là kết thúc sự dễ chịu. Như các chúng sanh sanh ở trong địa ngục: Người ấy cảm nhận các cảm thọ thuần túy (sự đau khổ cùng tột) giống như chúng sanh sanh ra ở địa ngục, cảm nhận như vậy là ý nghĩa. Vậy ở địa ngục ấy không có thọ xả hay sao? — Có, nhưng vì khổ thọ có tính chất mạnh mẽ nên thọ ấy được đặt vào trường hợp không được kể. Vì vậy, ngài đã đem chính địa ngục ấy ra để so sánh với địa ngục. Tại đấy, được biết rằng đây là ‘ví dụ đối chiếu’.

Seyyathāpi devā subhakiṇhāti idhāpi devalokova devalokassa upamaṃ katvā āhaṭo. Yasmā pana heṭṭhimesu brahmalokesu sappītikajjhānavipāko vattati, subhakiṇhesu nippītiko ekantasukhova, tasmā te aggahetvā subhakiṇhāva kathitā. Iti ayampi tatra paṭibhāgaupamā nāmāti veditabbā.

Luôn cả trong câu ‘như chư Thiên ở Biến Tịnh Thiên’ này, Đức Thế Tôn cũng đem chính cõi chư Thiên đó đến để so sánh với cõi chư Thiên. Hơn nữa, vì quả dị thục của Thiền có Hỷ sẽ vận hành trong cõi Phạm thiên thấp, còn quả dị thục của Thiền không có Hỷ, chỉ có sự an lạc vận hành trong cõi Biến Tịnh Thiên. Do đó, Đức Thế Tôn mới thuyết về cõi Biến Tịnh Thiên mà không lấy các cõi Phạm Thiên thấp kia. Tại đấy, ngay cả điều này, cũng nên được hiểu là ‘ví dụ đối chiếu’.

Vokiṇṇasukhadukkhanti vomissakasukhadukkhaṃ. Seyyathāpi manussāti manussānaṃ hi kālena sukhaṃ hoti, kālena dukkhaṃ. Ekacce ca devāti kāmāvacaradevā. Tesampi kālena sukhaṃ hoti, kālena dukkhaṃ. Tesaṃ hi hīnatarānaṃ mahesakkhatarā devatā disvā āsanā vuṭṭhātabbaṃ hoti, maggā ukkamitabbaṃ, pārutavatthaṃ apanetabbaṃ, añjalikammaṃ kātabbanti taṃ sabbampi dukkhaṃ nāma hoti. Ekacce ca vinipātikāti vemānikapetā. Te hi kālena sampattiṃ anubhavanti kālena kammanti vokiṇṇasukhadukkhāva honti. Iti imasmiṃ sutte tīṇi sucaritāni lokiyalokuttaramissakāni kathitānīti veditabbāni.

Xen lẫn lạc và khổ: Thọ có lạc và khổ lẫn lộn. Ví như loài Người: Thật vậy, loài người thỉnh thoảng có lúc vui, thỉnh thoảng có lúc buồn. Một số chư Thiên: Các vị Thiên thuộc cõi Dục. Ngay cả các vị ấy thỉnh thoảng cũng có lạc, thỉnh thoảng cũng có khổ. Bởi vì các vị Thiên thuộc cõi Dục có uy lực thấp khi nhìn thấy các vị Thiên có uy lực cao hơn cần phải đứng dậy từ chỗ ngồi, cần phải tránh đường (nhường đường), cần phải chỉnh sửa y phục và cần phải thực hành sự đảnh lễ, tất cả những việc ấy đều được gọi là khổ. Một số chúng sanh cõi khổ: Loài ngạ quỷ có đền đài tốt đẹp. Thật vậy, loài ngạ quỷ ấy thỉnh thoảng thọ hưởng sự thành tựu và thỉnh thoảng cũng lãnh chịu quả của (ác) nghiệp, (do đó) gọi là có lạc và có khổ lẫn lộn. Như vậy, ba Thiện hạnh (Thân, Khẩu, Ý) trong bài Kinh này nên được biết rằng: Ngài thuyết xen lẫn giữa Hiệp thế và Siêu thế.

3-4. Giải Thích Bài Kinh Người Có Nhiều Sự Lợi Ích

 

24. Catutthe tayome, bhikkhave, puggalāti tayo ācariyapuggalā. Puggalassabahukārāti antevāsikapuggalassa bahūpakārā. Buddhanti sabbaññubuddhaṃ. Saraṇaṃ gato hotīti avassayaṃ gato hoti. Dhammanti satantikaṃ navalokuttaradhammaṃ. Saṅghanti aṭṭhaariyapuggalasamūhaṃ. Idañca pana saraṇagamanaṃ aggahitasaraṇapubbassa akatābhinivesassa vasena vuttaṃ. Iti imasmiṃ sutte saraṇadāyako sotāpattimaggasampāpako arahattamaggasampāpakoti tayo ācariyā bahukārāti āgatā, pabbajjādāyako buddhavacanadāyako kammavācācariyo sakadāgāmimaggasampāpako anāgāmimaggasampāpakoti ime ācariyā na āgatā, kiṃ ete na bahukārāti? No, na bahukārā. Ayaṃ pana desanā duvidhena paricchinnā. Tasmā sabbepete bahukārā[9]. Tesu saraṇagamanasmiṃyeva akatābhiniveso vaṭṭati, catupārisuddhisīla– kasiṇaparikamma– vipassanāñāṇāni pana paṭhamamaggasannissitāni honti, upari dve maggā ca phalāni ca arahattamaggasannissitānīti veditabbāni.

Trong bài Kinh thứ tư, ‘này các Tỳ-khưu, có ba hạng người này’: Ba bậc Thánh nhân. Có nhiều lợi ích cho người khác: Có nhiều sự hỗ trợ đối với người học trò. Đức Phật: Đức Phật Toàn Giác. Đã đi đến nương nhờ: đã đi đến nương nhờ vào đức Phật. Giáo Pháp: Chín Pháp Siêu thế cùng với khuôn mẫu/hệ thống (Pháp học). Hội Chúng: Tập hợp/hội chúng tám bậc Thánh nhân (4 Đạo và 4 Quả). Lại nữa, việc đi đến nương nhờ (quy y) này đã được Đức Thế Tôn nói do tác động của hạng người chưa từng quy y, tức là người chưa từng tạo dựng niềm tin vững chắc. Như vậy, 3 nhóm bổn sư/thầy dạy học được đề cập trong bài Kinh này có nhiều lợi ích là— (1) Vị thầy cho nương nhờ, (2) vị thầy giúp đạt đến Nhập Lưu Đạo, (3) vị thầy giúp đạt đến A-la-hán Đạo. 5 nhóm bổn sư/thầy dạy học không được đề cập trong bài Kinh này là— (1) Vị thầy ban cho sự xuất gia, (2) vị thầy truyền dạy Phật ngôn, (3) vị thầy đọc tuyên ngôn hành sự, (4) vị thầy giúp đạt được Tư-đà-hàm Đạo, (5) vị thầy giúp đạt đến A-na-hàm Đạo. Vậy thì các vị này không có nhiều sự hỗ trợ chăng? – Không phải không có nhiều sự hỗ trợ. Nhưng bài Pháp thoại này được vạch rõ làm 2 phần, do đó tất cả các vị ấy đều được gọi là có nhiều sự hỗ trợ. Trong số các ân đức đó, người không thực hiện sự phát nguyện chỉ phù hợp với việc đi đến nương nhờ. Còn Tứ thanh tịnh giới, đề mục hành thiền kasiṇa và trí minh sát là những ân đức pháp y cứ vào Sơ Đạo (Nhập Lưu Đạo). Đối với hai Đạo và Quả cao hơn (Tư-đà-hàm và A-na-hàm) nên biết rằng chúng y cứ vào A-la-hán Đạo.

Iminā puggalenāti iminā antevāsikapuggalena. Na suppatikāraṃ vadāmīti patikāraṃ kātuṃ na sukaranti vadāmi. Abhivādanādīsu anekasatavāraṃ anekasahassavārampi hi pañcapatiṭṭhitena nipatitvā vandanto āsanā vuṭṭhāya paccuggacchanto diṭṭhadiṭṭhakkhaṇe añjaliṃ paggaṇhanto anucchavikaṃ sāmīcikammaṃ karonto divase divase cīvarasataṃ cīvarasahassaṃ piṇḍapātasataṃ piṇḍapātasahassaṃ dadamāno cakkavāḷapariyantena sabbaratanamayaṃ āvāsaṃ karonto sappinavanītādinānappakāraṃ bhesajjaṃ anuppadajjamāno[10] neva sakkoti ācariyena katassa patikāraṃ nāma kātunti evamattho veditabbo.

Hạng người này: với người đệ tử này. Ta nói rằng người này không dễ dàng đền đáp: Như Lai nói việc đền đáp ân đức không phải là điều dễ dàng thực hiện. Nên biết ý nghĩa như vầy— thật vậy, trong số các sự đảnh lễ, v.v., người đệ tử khi cúi mình đảnh lễ với năm phần thân thể chạm xuống đất (ngũ thể đầu địa) hàng trăm lần, hàng ngàn lần; đứng dậy từ chỗ ngồi để đón tiếp (bổn sư) mỗi khi nhìn thấy đều chắp tay; thực hiện hành động thích hợp; dâng cúng hàng trăm bộ y phục, một ngàn bộ y phục; dâng cúng đồ ăn khất thực một trăm lần, một ngàn lần mỗi ngày; xây dựng trú xá bằng tất cả các loại châu báu (bảy loại châu báu) có vũ trụ làm ranh giới; (và) thường xuyên dâng cúng nhiều loại dược phẩm như như bơ lỏng, bơ đặc v.v… cũng gọi là không thể đền đáp được sự trợ giúp (công ơn) mà thầy/bổn sư đã làm.

3-5. Giải Thích Bài Kinh Người Có Tâm Ví Như Kim Cương

 

25. Pañcame arukūpamacittoti purāṇavaṇasadisacitto. Vijjūpamacittoti ittarakālobhāsanena vijjusadisacitto. Vajirūpamacittoti kilesānaṃ mūlaghātakaraṇasamatthatāya vajirena sadisacitto. Abhisajjatīti laggati[11]. Kuppatīti kopavasena kuppati. Byāpajjatīti pakatibhāvaṃ pajahati, pūtiko hoti. Patitthīyatīti thinabhāvaṃ thaddhabhāvaṃ āpajjati. Kopanti dubbalakodhaṃ. Dosanti dussanavasena tato balavataraṃ. Appaccayanti atuṭṭhākāraṃ domanassaṃ. Duṭṭhārukoti[12] purāṇavaṇo. Kaṭṭhenāti daṇḍakakoṭiyā. Kaṭhalenāti[13] kapālena. Āsavaṃ detīti aparāparaṃ savati. Purāṇavaṇo hi attano dhammatāyeva pubbaṃ lohitaṃ yūsanti imāni tīṇi savati, ghaṭṭito pana tāni adhikataraṃ savati.

Trong bài Kinh thứ năm, có tâm ví như vết thương: Có tâm giống như vết thương kinh niên. Có tâm ví như tia chớp: Có tâm như tia chớp vì chiếu sáng trong thời gian ngắn. Có tâm ví như kim cương: Có tâm ví như kim cương vì có khả năng diệt tận gốc rễ của các phiền não. Tức tối: Mắc vào. Phẫn nộ: phẫn nộ do tác động sự giận dữ. Sân ác: dứt bỏ trạng thái thông thường, là thối rữa/mục nát. Phản kháng: rơi vào trạng thái cáu gắt, trạng thái ương ngạnh. bày tỏ sự bực tức: sự hiềm hận yếu ớt. Sân hận: Sân hận mạnh hơn sự bực tức đó do tác động sự làm tổn hại. Sự không bằng lòng: ưu phiền là biểu hiện của sự không hài lòng. Vết thương đang làm mủ: vết thương mưng mủ. Cây gậy: bằng đầu gậy. Miểng sành: bằng mảnh gốm. Làm khởi lên sự đau nhức: Chảy ra liên tục. Giải thích rằng: Vết thương mưng mủ sẽ rỉ ra 3 thứ này là mủ, máu và chất dịch theo bản chất tự nhiên của chính nó nhưng khi bị va đập vào sẽ tiết ra những thứ đó nhiều hơn nữa.

Evamevakhoti ettha idaṃ opammasaṃsandanaṃ – duṭṭhāruko viya hi kodhanapuggalo[14], tassa attano dhammatāya savanaṃ viya kodhanassapi attano dhammatāya uddhumātassa viya caṇḍikatassa caraṇaṃ, kaṭṭhena vā kaṭhalāya vā ghaṭṭanaṃ viya appamattaṃ vacanaṃ, bhiyyosomattāya savanaṃ viya ‘‘mādisaṃ nāma esa evaṃ vadatī’’ti[15] bhiyyosomattāya uddhumāyanabhāvo daṭṭhabbo.

Tương tự y như vậy: điều này, có ví dụ so sánh như sau— Thật vậy, người hay giận dữ giống như một vết thương mưng mủ, hành vi của người hay giận dữ giống như sự tiết ra chất bẩn của vết thương ấy theo bản chất tự nhiên của nó; hành vi của người hay giận dữ giống như sự tiết ra chất bẩn của tử thi trương sình theo bản chất tự nhiên của nó. Lời nói nhỏ nhặt cũng giống như việc bị va đập bởi một khúc cây hoặc một miểng sành; Trạng thái căng phòng nhiều hơn nữa rằng “Kẻ này sao dám nói như thế với người như ta!” nên được nhìn thấy cũng giống như sự chảy ra càng lúc càng nhiều của vết thương mưng mủ.

Rattandhakāratimisāyanti rattiṃ cakkhuviññāṇuppattinivāraṇena andhabhāvakaraṇe bahalatame. Vijjantarikāyāti vijjuppattikkhaṇe[16]. Idhāpi idaṃ opammasaṃsandanaṃ – cakkhumā puriso viya hi yogāvacaro daṭṭhabbo, andhakāraṃ[17] viya sotāpattimaggavajjhā kilesā, vijjusañcaraṇaṃ viya sotāpattimaggañāṇassa uppattikālo, vijjantarikāya cakkhumato purisassa samantā rūpadassanaṃ viya sotāpattimaggakkhaṇe nibbānadassanaṃ, puna andhakārāvattharaṇaṃ viya sakadāgāmimaggavajjhā kilesā, puna vijjusañcaraṇaṃ viya sakadāgāmimaggañāṇassa uppādo, vijjantarikāya cakkhumato purisassa samantā rūpadassanaṃ viya sakadāgāmimaggakkhaṇe nibbānadassanaṃ, puna andhakārāvattharaṇaṃ viya anāgāmimaggavajjhā kilesā, puna vijjusañcaraṇaṃ viya anāgāmimaggañāṇassa uppādo, vijjantarikāya cakkhumato purisassa samantā rūpadassanaṃ viya anāgāmimaggakkhaṇe nibbānadassanaṃ veditabbaṃ.

Trong đêm tối mù mịt: Vào ban đêm, tức là màn đêm u tối, do tạo ra cảnh tối tăm bởi ngăn chặn không cho nhãn thức sanh khởi.” Vào khoảnh khắc chớp sáng: Vào lúc tia sét lóe lên. Ngay cả trong phần này, cũng có ví dụ so sánh như sau— Thật vậy, hành giả nên được nhìn thấy giống như người nam có đôi mắt sáng, phiền não bị tiêu diệt bởi Đạo Nhập Lưu giống như bóng tối; thời gian sanh khởi của trí về Đạo Nhập Lưu giống như sự lóe sáng của tia sét. Sự nhìn thấy Niết Bàn ở sát-na Nhập Lưu Đạo giống như việc nhìn thấy các sắc xung quanh của người có đôi mắt sáng trong khoảnh khắc tia sét lóe lên. Phiền não bị giết hại (tiêu diệt) bởi Nhất Lai Đạo giống như việc xua tan bóng tối thêm lần nữa. Sự sanh khởi của trí về Nhất Lai Đạo giống như sự lóe sáng của tia sét thêm lần nữa. Sự nhìn thấy Niết Bàn ở sát-na Nhất Lai Đạo giống như việc nhìn thấy các sắc xung quanh của người có mắt sáng trong khoảnh khắc tia sét lóe lên. Phiền não bị giết hại (tiêu diệt) bởi Nhất Lai Đạo giống như việc xua tan bóng tối mờ mịt thêm lần nữa. Sự sanh khởi của trí về Nhất Lai Đạo giống như sự lóe sáng của tia sét thêm lần nữa. Sự nhìn thấy Niết Bàn ở sát-na của A-na-hàm Đạo nên được nhìn thấy giống như việc nhìn thấy các sắc xung quanh của người có đôi mắt sáng trong khoảng khắc tia sét lóe lên.

Vajirūpamacittatāyapi idaṃ opammasaṃsandanaṃ – vajiraṃ viya hi arahattamaggañāṇaṃ daṭṭhabbaṃ, maṇigaṇṭhipāsāṇagaṇṭhi viya arahattamaggavajjhā kilesā, vajirassa[18] maṇigaṇṭhimpi vā pāsāṇagaṇṭhimpi vā vinivijjhitvā agamanabhāvassa natthitā viya arahattamaggañāṇena acchejjānaṃ[19] kilesānaṃ natthibhāvo, vajirena nibbiddhavedhassa puna apatipūraṇaṃ viya arahattamaggena chinnānaṃ kilesānaṃ puna anuppādo daṭṭhabboti.

Ngay cả ở trạng thái người có tâm ví như kim cương, cũng có ví dụ so sánh như sau— Thật vậy, trí về A-ra-hán Đạo nên được nhìn thấy giống như kim cương; các phiền não bị giết hại (tiêu diệt) bởi A-ra-hán Đạo giống như khối ngọc ma-ni hay khối đá. Trạng thái các phiền não không thể bị cắt đứt bởi trí về A-ra-hán Đạo là không có giống như tính chất kim cương không chọc thủng/cắt đứt được khối ngọc ma-ni hay khối đá là không có. Việc các phiền não đã bị cắt đứt bởi A-ra-hán Đạo sẽ không sanh trở lại nên được nhìn thấy giống như khối ngọc ma-ni hoặc khối đá đã bị kim cương cắt đứt không thể làm trọn vẹn trở lại.

3-6. Giải Thích Bài Kinh Người Nên Thân Cận

 

26. Chaṭṭhe sevitabboti upasaṅkamitabbo. Bhajitabboti allīyitabbo. Payirupāsitabboti santike nisīdanavasena punappunaṃ upāsitabbo. Sakkatvā garuṃ katvāti sakkārañceva garukārañca katvā. Hīno hoti sīlenātiādīsu upādāyupādāya hīnatā veditabbā. Tattha yo hi pañca sīlāni rakkhati, so dasa sīlāni rakkhantena na sevitabbo . Yo dasa sīlāni rakkhati, so catupārisuddhisīlaṃ rakkhantena na sevitabbo. Aññatra anuddayā aññatra anukampāti ṭhapetvā anuddayañca anukampañca. Attano atthāyeva hi evarūpo puggalo na sevitabbo, anuddayānukampāvasena pana taṃ upasaṅkamituṃ vaṭṭati.

Trong bài Kinh thứ sáu, nên tiếp cận: Nên đi đến gần. Nên kết thân: nên thân mật/thân thiết. Nên gần gũi: nên hầu cận thường xuyên với việc ngồi ở gần. Sau khi trọng vọng, cung kính: Thể hiện sự trọng vọng và sự cung kính. Có hạng người thấp kém về giới, v.v, nên hiểu sự thấp kém hơn đó bằng việc đối chiếu. Giải thích rằng: Trong số những người đó, người gìn giữ thập giới không nên thân cận với người gìn giữ ngũ giới; người gìn giữ Tứ Thanh Tịnh Giới không nên thân cận với người gìn giữ thập giới. Trừ khi vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn: Ngoại trừ lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn. Bởi vì, ngay cả vì lợi ích bản thân cũng không nên thân cận với hạng người như thế, nhưng đi đến gặp vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn thì nên làm.

Sīlasāmaññagatānaṃ satanti sīlena samānabhāvaṃ gatānaṃ santānaṃ. Sīlakathāca no bhavissatīti evaṃ samānasīlānaṃ amhākaṃ sīlameva ārabbha kathā bhavissati. Sā ca no pavattinī bhavissatīti sā ca amhākaṃ kathā divasampi kathentānaṃ pavattissati na paṭihaññissati. Sā ca no phāsu bhavissatīti sā ca divasampi pavattamānā sīlakathā amhākaṃ phāsuvihāro sukhavihāro bhavissati. Samādhipaññākathāsupi eseva nayo.

Người đi đến sự đồng đẳng về giới: Đối với chúng ta đã đạt đến trạng thái đồng đẳng bởi giới hạnh. Việc đàm luận liên quan đến giới…sẽ có đối với chúng ta: Câu chuyện đề cập về chính Giới ấy sẽ có đối với chúng ta, những người có giới đồng đẳng như vậy.  Việc đàm luận của chúng ta sẽ được diễn tiến: Câu chuyện của chúng ta dù được nói suốt cả ngày cũng sẽ được tiếp diễn, tức là không bị gián đoạn. Và sẽ làm cho hai chúng ta được sự an vui: Và lời nói về giới được diễn ra suốt cả ngày đó sẽ có sự sống được thoải mái, có sự sống được an lạc cho chúng ta. Luôn cả lời nói về định và lời nói về tuệ cũng có phương thức tương tự.

Sīlakkhandhanti sīlarāsiṃ. Tattha tattha paññāya anuggahessāmīti ettha sīlassa asappāye anupakāradhamme vajjetvā sappāye upakāradhamme sevanto tasmiṃ tasmiṃ ṭhāne sīlakkhandhaṃ paññāya anuggaṇhāti nāma. Samādhipaññākkhandhesupi eseva nayo. Nihīyatīti attano hīnataraṃ puggalaṃ sevanto khāraparissāvane āsittaudakaṃ viya satataṃ samitaṃ hāyati parihāyati. Tulyasevīti attanā samānasevī. Seṭṭhamupanamanti seṭṭhaṃ puggalaṃ oṇamanto[20]. Udeti khippanti khippameva vaḍḍhati. Tasmā attano uttariṃ bhajethāti yasmā seṭṭhaṃ puggalaṃ upanamanto udeti khippaṃ, tasmā attano uttaritaraṃ[21] visiṭṭhataraṃ bhajetha.

Giới uẩn: Khối/đống giới. Ta sẽ trợ giúp…với trí tuệ ở chỗ này chỗ kia: Ở đây, Sau khi đã tránh xa các pháp không thích hợp, không có lợi ích cho giới; thân cận các pháp thích hợp, có lợi ích cho giới thì được gọi là trợ giúp giới uẩn bằng trí tuệ ở chỗ này chỗ nọ. Luôn cả trong định uẩn và tuệ uẩn cũng có phương thức tương tự. Bị tiêu hoại: Trong khi thân cận với kẻ thấp kém hơn mình (sẽ) suy giảm, sa sút liên tục giống như nước được rót vào cái dụng cụ lọc chất kiềm. Thân cận người tương đương: Thân cận người ngang bằng với bản thân. Thân cận vị cao thượng: Cúi mình tìm đến người cao quý. sẽ tiến bộ nhanh chóng: Sẽ tăng trưởng nhanh chóng. Vì thế, nên gần gũi với người trội hơn bản thân mình: Vì thế người biết cúi mình tìm đến bậc cao quý sẽ tiến bộ nhanh chóng; cho nên, hãy thân cận/gần gũi với người vượt trội hơn, xuất sắc hơn bản thân mình.

3-7. Giải Thích Bài Kinh Đáng Ghê Tởm

27. Sattame jigucchitabboti gūthaṃ viya jigucchitabbo. Atha kho nanti atha kho assa. Kittisaddoti kathāsaddo. Evameva khoti ettha gūthakūpo viya dussīlyaṃ daṭṭhabbaṃ. Gūthakūpe patitvā ṭhito dhammaniahi viya dussīlapuggalo. Gūthakūpato uddhariyamānena tena ahinā[22] purisassa sarīraṃ āruḷhenāpi adaṭṭhabhāvo viya dussīlaṃ sevamānassāpi tassa kiriyāya akaraṇabhāvo. Sarīraṃ gūthena makkhetvā ahinā gatakālo viya dussīlaṃ sevamānassa pāpakittisaddaabbhuggamanakālo veditabbo.

Trong Bài Kinh thứ bảy, đáng ghê tởm: Đáng gớm ghiếc giống như phân vậy. Atha kho naṃ đồng nghĩa ‘atha kho assa’ [Nhưng…về người ấy]. Tiếng đồn: Tiếng đồn được biết đến (ở đây chỉ tiếng đồn không tốt đẹp). Tương tự y như thế: Nên hiểu ví dụ so sánh như sau: Ở đây, bản thể người ác giới nên được nhìn thấy giống như hố phân. Người ác giới nên được nhìn thấy giống như loài rắn chuột bị rơi xuống hố phân. Trạng thái một người thân cận với người ác giới nhưng không làm theo người ác giới đó nên được nhìn thấy giống như trạng thái một người bị con rắn được mình vớt lên từ hố phân bò lên cơ thể nhưng không cắn. Thời gian người đó thân cận người ác giới cho đến khi tiếng đồn không tốt đẹp được lan truyền khắp nơi nên hiểu giống như thời điểm người đó bị con rắn dính đầy phân cắn trúng.

Tindukālātanti tindukarukkhaalātaṃ. Bhiyyosomattāya cicciṭāyatīti taṃ hi jhāyamānaṃ pakatiyāpi papaṭikāyo muñcantaṃ cicciṭāti ‘‘ciṭiciṭā’’ti saddaṃ karoti, ghaṭṭitaṃ pana adhimattaṃ karotīti attho. Evameva khoti evamevaṃ kodhano attano dhammatāyapi uddhato caṇḍikato hutvā carati, appamattakaṃ pana vacanaṃ sutakāle[23] ‘‘mādisaṃ nāma evaṃ vadati evaṃ vadatī’’ti atirekataraṃ uddhato caṇḍikato hutvā carati[24]. Gūthakūpoti gūthapuṇṇakūpo, gūtharāsiyeva vā. Opammasaṃsandanaṃ panettha purimanayeneva veditabbaṃ. Tasmā evarūpo puggalo ajjhupekkhitabbo na sevitabboti yasmā kodhano atiseviyamāno atiupasaṅkamiyamānopi kujjhatiyeva, ‘‘kiṃ iminā’’ti paṭikkamantepi[25] kujjhatiyeva. Tasmā palālaggi viya ajjhupekkhitabbo na sevitabbo na bhajitabbo. Kiṃ vuttaṃ hoti?[26] Yo hi palālaggiṃ atiupasaṅkamitvā tappati, tassa sarīraṃ jhāyati. Yo atipaṭikkamitvā tappati, tassa sītaṃ na vūpasammati. Anupasaṅkamitvā apaṭikkamitvā pana majjhattabhāvena tappantassa sītaṃ vūpasammati, tasmā palālaggi viya kodhano puggalo majjhattabhāvena ajjhupekkhitabbo, na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo.

Khúc củi đang cháy bằng gỗ tindukā: Khúc củi đang cháy bằng gỗ cây tiṇḍukā. Thời bốc lửa bốc khói ra nhiều hơn: Khúc gỗ cây tindukā đó khi bị đốt cháy đã phóng ra các mảnh than nhỏ/tàn lửa theo tự nhiên tạo thành những âm thanh ‘lốp bốp, lốp bốp’. Giải thích rằng: Nhưng khúc củi bị gõ (đập) vào sẽ tạo ra âm thanh lớn hơn nữa. Tương tự y như thế: Người hay giận dữ tương tự y như thế, theo bản thể tự nhiên của mình (vị ấy) hành xử là người gắt gỏng, hung dữ rồi hành xử; nhưng trong khi nghe những lời nói (trách mắng) dù chỉ một chút ít (vị ấy) cũng trở nên gắt gỏng, hung dữ hơn nữa (nghĩ rằng): “Kẻ này nói như vầy, như vầy với người như ta!” Một hố phân: Một cái hố chứa đầy phân, hay chính là hầm phân. Hơn nữa, trong trường hợp này nên biết việc so sánh theo cách trước. Cho nên, hạng người như vậy cần phải bình thản xem xét, không nên gần gũi: Vì người hay giận dữ, khi được ai đó quá gần gũi hay được quá thân cận cũng nổi giận; thậm chí khi người khác mắng chửi lại cũng nổi giận rằng: ‘Kẻ này thì có lợi ích gì!’. Cho nên, hạng người như vậy cần phải bình thản xem xét, không nên gần gũi, không nên kết thân. Ngài đã giải thích như thế nào? Ngài giải thích rằng— Người nào đi đến quá gần ngọn lửa rơm (người ấy) sẽ bị nóng, cơ thể của người ấy cũng bị thiêu cháy theo; người nào bước lùi ra xa thì (người ấy) sẽ không bị nóng, sự lạnh của người đó không biến mất; còn người nào đang sưởi ấm ở khoảng cách vừa đủ không đi đến quá gần và cũng không lùi ra quá xa, thì sự lạnh của người ấy sẽ biến mất. Vi thế, người hay giận dữ giống như ngọn lửa rơm, cần phải bình thản xem xét bằng việc đặt mình ở vị thế trung lập; không nên tiếp cận, không nên kết thân, và không nên gần gũi.

Kalyāṇamittoti sucimitto. Kalyāṇasahāyoti sucisahāyo. Sahāyā nāma sahagāmino saddhiṃcarā. Kalyāṇasampavaṅkoti kalyāṇesu sucipuggalesu sampavaṅko, tanninna-tappoṇa-tappabbhāramānasoti attho.

Có bạn hữu tốt lành: có người bạn trong sạch. có bạn đồng hành tốt lành: có bạn đồng hành trong sạch. Người được gọi là ‘bạn đồng hành’ là người thường đi cùng nhau và thường xuyên lui tới với nhau. Có bạn thâm niên tốt lành: Người hướng về các vị bạn hữu tốt lành, tức là đối với những người trong sạch. Giải thích rằng: Người có tâm hướng đến, xuôi theo và thuận theo các bạn hữu tốt lành ấy.

3-8. Giải Thích Bài Kinh Nói Như Phân

28. Aṭṭhame gūthabhāṇīti yo gūthaṃ viya duggandhakathaṃ katheti. Pupphabhāṇīti yo pupphāni viya sugandhakathaṃ katheti. Madhubhāṇīti yo madhu viya madhurakathaṃ katheti. Sabhaggatoti sabhāya ṭhito. Parisaggatoti gāmaparisāya ṭhito. Ñātimajjhagatoti ñātīnaṃ[27] majjhe ṭhito. Pūgamajjhagatoti seṇīnaṃ[28] majjhe ṭhito. Rājakulamajjhagatoti rājakulassa majjhe mahāvinicchaye ṭhito. Abhinītoti pucchanatthāyānīto. Sakkhipuṭṭhoti sakkhiṃ katvā pucchito. Ehambho purisāti ālapanametaṃ. Attahetu vā parahetu vāti attano vā parassa vā hatthapādādihetu vā dhanahetu vā. Āmisakiñcikkhahetu vāti ettha āmisanti lañjo adhippeto. Kiñcikkhanti yaṃ vā taṃ vā appamattakaṃ antamaso tittiriyavaṭṭakasappipiṇḍanavanītapiṇḍādimattakassa lañjassa hetūti attho. Sampajānamusā bhāsitā hotīti jānantoyeva musāvādaṃ kattā hoti.

Trong bài Kinh thứ tám, người nào nói lời bốc mùi hôi thối như phân, (người ấy) gọi là người nói như phân. Người nào nói lời tỏa hương thơm như hoa, người ấy gọi là người nói như hoa. Người nào nói lời ngọt ngào như mật, người ấy gọi là người nói như mật. Đi đến hiệp hội: Đứng ở phòng hội họp. Đi vào tập thể: Đứng ở trong tập thể người dân trong làng. Đi đến giữa thân quyến: đứng ở giữa các thân quyến. Đi đến giữa đoàn thể: Đứng ở giữa quân đội. Đi đến giữa các vương tộc: Đứng ở giữa hoàng tộc, là ở nơi xét xử/phán quyết của hoàng gia. Bị dẫn đi: Bị đưa đi để thẩm vấn. Bị hỏi cung: Sau khi giáp mặt nhau rồi thẩm vấn. Ehambho purisa [Thưa ông, hãy đến]: Đây là hô cách. Vì nguyên nhân bản thân, hoặc vì nguyên nhân người khác: Vì nguyên nhân các bộ phận cơ thể như tay và chân… hoặc nguyên nhân tài sản của bản thân hoặc của người khác. ‘Tài sản’ trong cụm từ ‘hoặc vì nguyên nhân tài sản,’ được đề cập ở đây chính là lợi lộc/lợi đắc. Nhỏ nhen: Những vật nhỏ nhặt là những thứ ít ỏi, giải thích rằng— nguyên nhân của tài sản, dù chỉ là con chim đa đa, con chim cút, cục bơ lỏng hay cục bơ đặc, v.v. Cố tình nói lời dối trá: cố ý nói lời dối trá dù đã biết rõ.

Nelāti elaṃ vuccati doso, nāssa elanti nelā, niddosāti attho. ‘‘Nelaṅgo setapacchādo’’ti (udā. 65) ettha vuttasīlaṃ viya. Kaṇṇasukhāti byañjanamadhuratāya kaṇṇānaṃ sukhā, sūcivijjhanaṃ viya kaṇṇasūlaṃ na janeti. Atthamadhuratāya sakalasarīre kopaṃ ajanetvā pemaṃ janetīti pemanīyā. Hadayaṃ gacchati appaṭihaññamānā sukhena cittaṃ pavisatīti hadayaṅgamā. Guṇaparipuṇṇatāya pure bhavāti porī. Pure saṃvaḍḍhanārī viya sukumārātipi porī. Purassa esātipi porī. Purassa esāti nagaravāsīnaṃ kathāti attho. Nagaravāsino hi yuttakathā honti, pitimattaṃ pitāti, mātimattaṃ mātāti, bhātimattaṃ bhātāti vadanti. Evarūpī[29] kathā bahuno janassa kantā hotīti bahujanakantā. Kantabhāveneva bahuno janassa manāpā cittavuddhikarāti bahujanamanāpā.

Lỗi lầm được gọi là ‘ela’ trong từ ‘Nelā – không chút lỗi lầm’, lời nói gọi là ‘không chút lỗi lầm’ theo ý nghĩa là không có lỗi lầm. Giải thích là hoàn toàn trong sạch. Lời nói không có lỗi lầm giống như giới đã được Đức Thế Tôn nói trong câu kệ này: “Không chút lỗi lầm, có mái che màu trắng.”[30] Lời nói hạp nhĩ: lời nói dễ nghe/êm tai, vì có các văn tự du dương, lời nói ấy không gây ra sự đau nhức lỗ tai giống như bị kim đâm. Làm sanh khởi sự yêu thương, không làm khởi lên sự giận dữ lan tỏa khắp châu thân vì có ý nghĩa ngọt ngào gọi là lời nói đáng yêu. Đi đến tâm can, là không gây va chạm/xung đột đi vào tâm trí một cách thuận lợi gọi là lời nói đi vào lòng. Lời nói có ở chốn thị thành, bởi vì tròn đủ các phẩm hạnh gọi là lời nói tao nhã. Lại nữa, lời nói trang nhã/tinh tế giống như thiếu nữ trưởng thành ở thành thị gọi là lời nói tao nhã. Ngoài ra, lời nói của cư dân thành thị gọi là lời nói tao nhã, giải thích rằng— là lời nói của những người sinh sống ở thành thị. Thật vậy, cư dân thành thị có lời lẽ phù hợp, họ gọi những người trạc tuổi cha là ‘cha’, gọi những người trạc tuổi anh trai hoặc em trai là ‘anh trai/em trai’. Lời nói làm đẹp lòng nhiều người: Lời nói có hình thức như vầy là lời nói làm đẹp lòng nhiều người. Lời nói làm thích ý nhiều người: Chính trạng thái đáng ưa thích, làm cho tâm được tăng trưởng vì là lời nói mà đa số người yêu mến.

3-9. Giải Thích Bài Kinh Mù Lòa

29. Navame cakkhu na hotīti paññācakkhu na hoti. Phātiṃ kareyyāti phītaṃ vaḍḍhitaṃ kareyya. Sāvajjānavajjeti sadosaniddose. Hīnappaṇīteti adhamuttame. Kaṇhasukkasappaṭibhāgeti kaṇhasukkāyeva aññamaññaṃ paṭibāhanato paṭipakkhavasena sappaṭibhāgāti vuccanti. Ayaṃ panettha saṅkhepo – kusale dhamme ‘‘kusalā dhammā’’ti jāneyya[31], akusale dhamme ‘‘akusalā dhammā’’ti jāneyya. Sāvajjādīsupi eseva nayo. Kaṇhasukkasappaṭibhāgesu pana kaṇhadhamme ‘‘sukkasappaṭibhāgā’’ti jāneyya, sukkadhamme ‘‘kaṇhasappaṭibhāgā’’ti yena paññācakkhunā jāneyya, tathārūpampissa cakkhu na hotīti. Iminā nayena sesavāresupi attho veditabbo.

Trong bài Kinh thứ chín, không có mắt/tròng mắt: không có tuệ nhãn. Làm cho tăng trưởng: Có thể làm trở nên giàu có, thịnh vượng. Có tội và không có tội: Các pháp có tội lỗi và không có tội lỗi. Hạ liệt và cao quý: Các pháp hạ liệt và cao quý. Pháp thuộc thành phần đen và trắng: Chính các pháp đen và các pháp trắng. Đức Thế Tôn nói rằng chúng có sự tương phản bởi là pháp đối nghịch vì chúng gây cản trở lẫn nhau. Hơn nữa, ở đây điều này có ý nghĩa tóm tắt như sau: Nên biết các pháp thiện là “pháp thiện”, nên biết các pháp bất thiện là “pháp bất thiện”. Ngay cả ‘pháp có lỗi lầm’ cũng áp dụng theo phương cách này. Còn trong pháp có sự tương phản giữa pháp đen và pháp trắng, pháp đen nên được biết rằng: “Có sự tương phản với pháp trắng”, và pháp trắng nên được biết rằng: “Có sự sự tương phản với pháp đen”. Bằng tuệ nhãn nào mà con mắt dầu nhìn thấy hình dáng ấy của hạng người ấy không có. Nên hiểu ý nghĩa cả những phần còn lại theo phương thức như đã nêu.

Na ceva bhogā tathārūpāti tathājātikā bhogāpissa na honti. Na ca puññāni kubbatīti puññāni ca na karoti. Ettāvatā bhoguppādanacakkhuno ca puññakaraṇacakkhuno ca abhāvo vutto. Ubhayattha kaliggāhoti idhaloke ca paraloke cāti ubhayasmimpi aparaddhaggāho, parājayaggāho hotīti attho. Atha vā ubhayattha kaliggāhoti ubhayesampi diṭṭhadhammikasamparāyikānaṃ atthānaṃ kaliggāho, parājayaggāhoti attho. Dhammādhammenāti dasakusalakammapathadhammenapi dasaakusalakammapathaadhammenapi. Saṭhoti kerāṭiko. Bhogāni pariyesatīti bhoge gavesati. Theyyena kūṭakammena, musāvādena cūbhayanti theyyādīsu ubhayena pariyesatīti attho. Kathaṃ? Theyyena kūṭakammena ca pariyesati, theyyena musāvādena ca pariyesati , kūṭakammena musāvādena ca pariyesati. Saṅghātunti saṅgharituṃ. Dhammaladdhehīti dasakusalakammapathadhammaṃ[32] akopetvā laddhehi. Uṭṭhānādhigatanti vīriyena adhigataṃ. Abyagghamānasoti[33] nibbicikicchacitto. Bhaddakaṃ ṭhānanti seṭṭhaṃ devaṭṭhānaṃ. Na socatīti yasmiṃ ṭhāne antosokena na socati.

Tài sản như thế không có: Ngay cả loại tài sản ấy cũng không có đối với người đó. Và kẻ mù không tạo phước: Và kẻ ấy không tạo phước. Chỉ bằng chừng ấy lời, (Đức Thế Tôn) đã nói đến sự không có của ‘con mắt’ làm nhân khiến tài sản/của cải phát sanh và ‘con mắt’ làm cho trí (tuệ nhãn) sanh khởi. Nắm bắt lỗi lầm/điều vô ích ở cả hai đời: Nắm lấy sự sai lầm, giải thích rằng: là nằm lấy sự thất bại ở đời này và đời sau, luôn cả hai đời. Hoặc là, nắm bắt lỗi lầm ở cả hai đời: Nắm lấy sự sai lầm, giải thích rằng— Nắm lấy sự thất bại đối với lợi ích trong hiện tại và trong tương lai, thậm chí cả hai. Với chánh pháp và phi pháp: Với chánh pháp là thập thiện nghiệp đạo hoặc với phi pháp là thập bất thiện nghiệp đạo. Giả dối: Dối trá/lừa dối. Tầm cầu các tài sản: tìm kiếm của cải. Bằng hành động trộm cắp, lường gạt, nói dối, cả hai loại: Tìm kiếm tài sản bằng cả hai hành động trong số các hành động như trộm cắp, v.v. Tầm cầu với cả hai hành động như thế nào? Tìm kiếm tài sản bằng việc trộm cắp và dối trá; tức là tìm kiếm bằng việc trộm cắp và nói dối, hoặc bằng hành động dối trá và nói dối. Tích góp: Để gom góp. (Với các của cải) đã nhận được một cách hợp pháp: Với các của cải đã nhận được, không xa rời chánh pháp là thập thiện nghiệp đạo. Bản thân đạt được nhờ vào nghị lực: Đạt được bằng sự tinh tấn. Có tâm không tản mác: Có tâm không nghi ngờ. Ở chỗ tốt lành: Ở chỗ tốt đẹp nhất bao gồm nơi của chư Thiên. Không buồn rầu: không buồn phiền với sự sầu muộn ở nội tâm tại bất kỳ nơi nào.

3-10. Giải Thích Bài Kinh Lộn Ngược

 

30. Dasame avakujjapaññoti adhomukhapañño. Ucchaṅgapaññoti ucchaṅgasadisapañño. Puthupaññoti vitthārikapañño. Ādikalyāṇantiādīsu ādīti pubbapaṭṭhapanā. Majjhanti[34] kathāvemajjhaṃ. Pariyosānanti sanniṭṭhānaṃ. Itissa te dhammaṃ kathentā pubbapaṭṭhapanepi kalyāṇaṃ bhaddakaṃ anavajjameva katvā kathenti, vemajjhepi[35] pariyosānepi. Ettha ca atthi desanāya ādimajjhapariyosānāni, atthi sāsanassa. Tattha desanāya tāva catuppadikagāthāya paṭhamapadaṃ ādi, dve padāni majjhaṃ, avasānapadaṃ pariyosānaṃ. Ekānusandhikassa suttassa nidānaṃ ādi, anusandhi majjhaṃ, idamavocāti appanā pariyosānaṃ. Anekānusandhikassa paṭhamo anusandhi ādi, tato paraṃ eko vā aneke vā majjhaṃ, pacchimo pariyosānaṃ. Ayaṃ tāva desanāya nayo. Sāsanassa pana sīlaṃ ādi, samādhi majjhaṃ, vipassanā pariyosānaṃ. Samādhi vā ādi, vipassanā majjhaṃ, maggo pariyosānaṃ. Vipassanā vā ādi, maggo majjhaṃ, phalaṃ pariyosānaṃ. Maggo vā ādi, phalaṃ majjhaṃ, nibbānaṃ pariyosānaṃ. Dve dve vā kayiramāne sīlasamādhayo ādi, vipassanāmaggā majjhaṃ, phalanibbānāni pariyosānaṃ.

Trong bài Kinh thứ mười, hạng người với trí tuệ lộn ngược: người có tuệ giống như cái chậu lật úp xuống. Hạng người với trí tuệ bắp vế: Người có tuệ giống như bắp vế/bắp đùi. Hạng người có tuệ phổ thông: Người có tuệ rộng rãi. ‘Sự bắt đầu’ trong cụm từ ‘toàn hảo ở đoạn đầu/phần mở đầu’, mở đầu bài pháp thoại gọi là đoạn đầu. Đoạn giữa/phần giữa: phần giữa của bài pháp thoại. Đoạn cuối/phần cuối: phần kết thúc. Các vị ấy khi thuyết pháp cho người ấy như vậy gọi là thuyết làm cho tốt đẹp, làm cho tăng trưởng, hoàn toàn không có lỗi lầm ở đoạn đầu, đoạn giữa và cả đoạn cuối. Và bài pháp trong bài Kinh này có đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, giáo lý cũng có. Trong số các bài pháp thoại và Giáo lý ấy— trước tiên sẽ nói về bài pháp, câu thứ nhất của bài kệ bốn câu là đoạn đầu/phần mở đầu; hai câu ở giữa là đoạn giữa/phần giữa; và câu cuối là đoạn cuối/phần kết thúc. Đối với bài Kinh có một mối liên kết– Phần duyên khởi là đoạn đầu/phần mở đầu; phần liên kết (nội dung) là đoạn giữa/phần giữa; phần kết thúc bài Kinh với câu ‘Đức Thế Tôn đã nói điều này’ là đoạn cuối/phần kết thúc. Đối với bài Kinh có nhiều mối liên kết– Mối liên kết thứ nhất là đoạn đầu/phần mở đầu; một hoặc nhiều hơn thế là đoạn giữa/phần giữa; mối liên kết cuối cùng là đoạn cuối/phần kết thúc. Đây là phương thức của bài Pháp thoại trước. Còn về mặt Giáo lý– Giới là đoạn đầu/phần mở đầu; Định là đoạn giữa/phần giữa; Minh sát là đoạn cuối/phần kết thúc. Hoặc là– Định là đoạn đầu/phần mở đầu, Minh sát là đoạn giữa/phần giữa, Đạo là đoạn cuối/phần kết thúc. Hoặc là– Minh sát là đoạn đầu/phần mở đầu, Đạo là đoạn giữa/phần giữa, Quả là đoạn cuối/phần kết thúc. Hoặc là– Đạo là đoạn đầu/phần mở đầu, Quả là đoạn giữa/phần giữa, Niết Bàn là đoạn cuối/phần kết thúc. Hoặc khi sắp xếp thành từng đôi với nhau thì Giới và Định là đoạn đầu/phần mở đầu, Minh sát và Đạo là đoạn giữa/phần giữa, Quả và Niết Bàn là đoạn cuối/phần kết thúc.

Sātthanti sātthakaṃ katvā desenti. Sabyañjananti akkharapāripūriṃ[36] katvā desenti. Kevalaparipuṇṇanti sakalaparipuṇṇaṃ anūnaṃ katvā desenti. Parisuddhanti parisuddhaṃ nijjaṭaṃ niggaṇṭhiṃ katvā desenti. Brahmacariyaṃ pakāsentīti evaṃ desentā ca seṭṭhacariyabhūtaṃ sikkhattayasaṅgahitaṃ ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ pakāsenti. Neva ādiṃ manasi karotīti neva pubbapaṭṭhapanaṃ manasi karoti.

Thành tựu về ý nghĩa: Các vị thuyết giảng Giáo pháp làm cho có lợi ích. Thành tựu về văn tự: Thuyết giảng làm cho các âm được trọn vẹn. Một cách trọn vẹn và đầy đủ: Thuyết giảng Pháp trọn vẹn và đầy đủ, không thiếu sót. Thanh tịnh: Thuyết giảng Pháp thanh tịnh, không làm lộn xộn, không có gút mắc/ẩn ý. Tuyên bố về Phạm hạnh: khi thuyết giảng như vậy, gọi là tuyên bố về Thánh Đạo tám chi phần đã được nhiếp hợp trong Tam Học, là hạnh cao quý nhất. Người ấy không có tác ý đến đoạn đầu: khi bắt đầu pháp thoại (người ấy) không tác ý.

Kumbhoti ghaṭo. Nikujjoti[37] adhomukho ṭhapito. Evameva khoti ettha kumbho nikujjo viya avakujjapañño puggalo daṭṭhabbo, udakāsiñcanakālo viya dhammadesanāya laddhakālo, udakassa vivaṭṭanakālo viya tasmiṃ āsane nisinnassa uggahetuṃ asamatthakālo, udakassa asaṇṭhānakālo viya vuṭṭhahitvā[38] asallakkhaṇakālo veditabbo.

Cái ghè/bình: cái nồi. Lật ngược: đặt úp xuống. Cũng vậy: Người có trí tuệ thấp kém (trí tuệ kém cỏi) nên được nhìn thấy giống như cái ghè (bình/hũ) úp miệng xuống. Vào thời điểm người ấy được nghe thuyết giảng Pháp giống như lúc rưới nước lên (trên đít chậu). Vào thời điểm người ấy đang ngồi trên chỗ ngồi mà vẫn không thể học tập giống như lúc nước chảy tràn hết ra ngoài. Vào thời điểm người ấy đứng dậy rồi mà không ghi nhớ gì cả nên được nhìn thấy giống như lúc nước không đọng lại được (trên đáy chậu).

Ākiṇṇānīti pakkhittāni. Satisammosāya pakireyyāti muṭṭhassatitāya vikireyya. Evameva khoti ettha ucchaṅgo viya ucchaṅgapañño puggalo daṭṭhabbo, nānākhajjakāni viya nānappakāraṃ buddhavacanaṃ, ucchaṅge nānākhajjakāni khādantassa nisinnakālo viya tasmiṃ āsane nisinnassa uggaṇhanakālo, vuṭṭhahantassa satisammosā pakiraṇakālo viya tasmā āsanā vuṭṭhāya gacchantassa asallakkhaṇakālo veditabbo.

Được chất đầy: được cất giữ. (Người ấy) có thể làm rơi vãi do thất niệm: (vật thực nên được nhai ấy) có thể rơi vãi lung tung do niệm bị quên lãng. Tương tự như vậy: Hạng người có trí tuệ bắp vế nên hiểu giống như bắp vế. Phật ngôn có nhiều hình thức khác nhau giống như các loại vật thực nhai khác nhau. Thời gian người ấy ngồi học trên chỗ ngồi ấy giống như khi một người ngồi nhai các loại thức ăn sai khác đặt ở trên bắp vế. Thời gian người ấy đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi rồi không thể ghi nhớ nên hiểu giống như thời điểm người ấy đứng dậy làm rơi vãi thức ăn do thất niệm.

Ukkujjoti uparimukho ṭhapito. Saṇṭhātīti patiṭṭhahati. Evameva khoti ettha uparimukho ṭhapito kumbho viya puthupañño puggalo daṭṭhabbo, udakassa āsittakālo viya desanāya laddhakālo, udakassa saṇṭhānakālo viya tattha nisinnassa uggaṇhanakālo, no vivaṭṭanakālo viya vuṭṭhāya gacchantassa sallakkhaṇakālo veditabbo.

Được dựng đứng: (cái ghè) được đặt ngửa (mặt) lên. Được giữ lại: nước được giữ lại (trong cái ghè). Tương tự như vậy: Người có đại trí tuệ nên hiểu giống như chiếc bình được đặt ngửa miệng lên. Vào thời điểm được lắng nghe pháp thoại nên hiểu giống như thời điểm rót nước vào ghè (bình/hũ). Vào thời điểm người ấy ngồi học trên chỗ ngồi ấy nên hiểu giống như thời điểm nước được giữ lại trong bình. Vào thời điểm người ấy đứng dậy bước đi vẫn có thể ghi nhớ nên hiểu giống như thời điểm nước không bị chảy tràn ra ngoài.

Dummedhoti nippañño. Avicakkhaṇoti saṃvidahanapaññāya rahito. Gantāti gamanasīlo. Seyyo etena vuccatīti etasmā[39] puggalā uttaritaroti[40] vuccati. Dhammānudhammappaṭipannoti navalokuttaradhammassa anudhammaṃ saha sīlena pubbabhāgapaṭipadaṃ paṭipanno. Dukkhassāti vaṭṭadukkhassa. Antakaro siyāti koṭikaro paricchedakaro parivaṭumakaro[41] bhaveyyāti.

Kẻ ngu muội: không có tuệ. Không có khôn ngoan: Không có trí tuệ để sự sắp xếp. Đi: có sự đi lại bình thường. Được gọi là tốt hơn: (Người có trí tuệ như bắp vế) được Đức Phật gọi là cao quý hơn hạng người ấy (tức là người có trí tuệ lộn ngược). Có sự thực hành đúng pháp và y theo pháp: Thực hành Pháp phù hợp với chín Pháp Siêu thế, tức là thực hành lối thực hành sơ khởi cùng với giới. Của khổ: Luân hồi khổ (vòng sanh tử khổ đau). Có thể chấm dứt (khổ đau): Có thể là người làm cho chấm dứt, người làm kết thúc, vị làm giới hạn (khổ đau).

Phẩm Người thứ ba – được kết thúc

 

[1] Saviṭṭhattherassa (Sī, Syā)

[2] vātāpamārādinā (Sī, Syā)

[3] Phāsukameva (Ka)

[4] Padaparama: văn cú tối vi, người chỉ giỏi về văn tự là cùng (Từ điển Vô Tỷ Pháp của Trưởng lão Tịnh Sự); hạng người này tối đa chỉ đạt đến chữ nghĩa và chỉ dừng lại ở câu chữ mà không thể chứng ngộ trong đời này (ND).

[5] Ugghaṭitaññū: hạng người hiểu nhanh, là hạng người hiểu khi được nói ngắn gọn, tức là hạng người vừa nghe thuyết giảng tóm tắt đã ngay lập tức thấu đạt chân lý.

[6] vipañcitaññū: hạng người hiểu chậm, là hạng người có thể thấu đạt chân lý sau khi được giải thích chi tiết.

[7] Bản Pāḷī ghi là ‘sabyāpajjanti sadukkhaṃ’, còn bản Miến Điện ghi là ‘sabyābajjhanti sadukkhaṃ’. Theo cách thức của bản Miến Điện, còn ở văn bản Pāḷi và Chú giải có sự tương hợp về nghĩa bởi từ ‘byābajja’, trong Ṭīkā được giải thích chi tiết hơn nữa là ‘byāpādhova byābajjhaṃ’ và bản Pāḷī ‘byāpajjha’, trong toàn bộ bản Miến Điện đều ghi là “byābajjha”.

[8] Āgato (Ka)

[9] Tepi bahukārā (Sī)

[10] Anuppadadamāno (Sī, Syā)

[11] laggati (Sī)

[12] Duṭṭhārukāti (Sī)

[13] Kaṭhalāya (Pāḷiyaṃ)

[14] Kodhanabahulo puggalo (Sī)

[15] Evaṃ vadati evaṃ vadatīti (Ka)

[16] Vijjuppavattikkhaṇe (Sī, Syā)

[17] Andhakārā (Ka)

[18] Vajirena (Sī

[19] Avajjhānaṃ (Kā)

[20] Oṇamanto paṇamanto (Sī), upanamanto (Syā)

[21] Uttariṃ uttaritaraṃ (Sī, Syā)

[22] Ahinā (Ka)

[23] Vuttakāle (Sī, Syā)

[24] Kujjhati (Syā, Ka)

[25] Paṭikkosantepi (Sī, Syā)

[26] Na bhajitabboti vuttaṃ hoti (Ka)

[27] Dāyādānaṃ (Sī, Syā)

[28] Senīnaṃ (Syā, Ka)

[29] Evarūpā hi (Ka)

[30] (udā. 65)

[31] Yena paññācakkhunā jāneyya (Abhi-Ṭṭha 3. 63 piṭṭhe)

[32] …dhammasmimpi (Ka)

[33] abyaggamānaso

[34] Majjheti (Ka)

[35] Evaṃ majjhepi (Ka)

[36] Sākkharaṃ vā pāripūriṃ (Sī)

[37] Nikkujjoti (Sī, Syā)

[38] Uggahetvā (Ka)

[39] Tasmā (Ka)

[40] Uttaritaro (Sī)

[41] Pariyantakaro (Ka)