02. GIẢI THÍCH CHƯƠNG BA PHÁP – Giải thích Phẩm Người Đóng Xe
Phẩm Người Đóng Xe
2-1. Giải Thích Bài Kinh Vị Tỳ-khưu Có Danh Tiếng
11. Dutiyassa paṭhame ñātoti paññāto pākaṭo. Ananulomiketi sāsanassa na anulometīti ananulomikaṃ, tasmiṃ ananulomike. Kāyakammeti pāṇātipātādimhi kāyaduccarite. Oḷārikaṃ vā etaṃ, na evarūpe samādapetuṃ sakkoti. Disā namassituṃ vaṭṭati, bhūtabaliṃ kātuṃ vaṭṭatīti evarūpe samādapeti gaṇhāpeti. Vacīkammepi musāvādādīni oḷārikāni, attano santakaṃ parassa adātukāmena ‘‘natthī’’ti ayaṃ vañcanamusāvādo[1] nāma vattuṃ vaṭṭatīti evarūpe samādapeti. Manokammepi abhijjhādayo oḷārikā, kammaṭṭhānaṃ visaṃvādetvā kathento pana ananulomikesu dhammesu samādapeti nāma dakkhiṇavihāravāsitthero viya. Taṃ kira theraṃ eko upaṭṭhāko amaccaputto upasaṅkamitvā ‘‘mettāyantena paṭhamaṃ kīdise puggale mettāyitabba’’nti pucchi. Thero sabhāgavisabhāgaṃ anācikkhitvā ‘‘piyapuggale’’ti āha. Tassa ca bhariyā piyā hoti manāpā, so taṃ ārabbha mettāyanto ummādaṃ pāpuṇi. Kathaṃ panesa bahujanaahitāya paṭipanno hotīti? Evarūpassa hi saddhivihārikādayo ceva upaṭṭhākādayo ca tesaṃ ārakkhadevatā ādiṃ katvā tāsaṃ tāsaṃ mittabhūtā yāva brahmalokā sesadevatā ca ‘‘ayaṃ bhikkhu na ajānitvā karissatī’’ti tena katameva karonti, evamesa bahujanaahitāya paṭipanno hoti.
Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm thứ hai, vị Tỳ-khưu có danh tiếng: Được đông đảo quần chúng biết đến, người nổi tiếng. Không tùy thuận: Thân nghiệp được gọi là không tùy thuận do không phù hợp với Giáo pháp, trong thân nghiệp không phù hợp đó. Trong thân nghiệp: Ở uế hạnh về thân có sát sanh, v.v. Mặt khác, uế hạnh về thân là thô thiển, nhưng vị Tỳ-khưu ấy có thể khuyến khích thọ trì ở uế hạnh về thân ấy; tức là xúi giục thọ trì, nắm giữ ở các nghiệp như vầy– “Việc đảnh lễ các phương hướng là thích hợp, sự cúng tế chư thiên/thần linh là thích đáng.” Luôn cả trong khẩu nghiệp có nói dối, v.v, là thô thiển. Vị ấy khuyến khích người khác thọ trì những điều có hình thức như vậy rằng: ‘được gọi là việc nói dối để lừa gạt kẻ ngu này là ‘không có’ bởi vì không muốn cho người khác tài vật của mình’” cũng thích đáng để nói. Luôn cả trong ý nghiệp có tham đắm, v.v, là thô thiển. Tuy nhiên, vị Tỳ-khưu khi nói về nghiệp xứ (đề mục hành thiền) sai lệch thì không gọi là khuyến khích thọ trì ý nghiệp thích hợp, giống như trường hợp của Trưởng lão cư ngự ở Tịnh xá Dakkhiṇa. Kể rằng, con trai của viên quan đại thần là một thị giả sau khi đến gặp Trưởng lão ấy đã hỏi rằng: “Hành giả phát triển tâm từ cần phải tu tập tâm từ trên đối tượng như thế nào trước?” Trưởng lão không nói đến hạng người đồng đẳng và hạng người không đồng đẳng, mà lại nói rằng “người mình yêu quý”. Và vợ của vị ấy là người đáng yêu, đáng mến; vị ấy bắt đầu rải tâm từ đến nàng dẫn đến sự điên loạn. Vậy vị Tỳ-khưu nói về nghiệp xứ (đề mục hành thiền) này là người thực hành không vì lợi ích cho đa số như thế nào? Bởi vì tập thể của vị Tỳ-khưu có hình thức như thế—có các đệ tử, các người hộ độ, v.v, tính cả chư Thiên còn lại vốn là bạn của các chư Thiên ấy, bắt đầu từ chư Thiên hộ trì tập thể ấy cho đến cõi Phạm thiên đều sẽ làm theo điều mà vị Tỳ-khưu ấy đã làm, với suy nghĩ rằng: “Vị Tỳ-khưu này không biết sẽ không làm.” Vị Tỳ-khưu này được gọi là vị thực hành không vì lợi ích cho đa số như đã đề cập.
Sukkapakkhe pāṇātipātā veramaṇiādīnaṃyeva vasena kāyakammavacīkammāni veditabbāni. Kammaṭṭhānaṃ pana avisaṃvādetvā kathento anulomikesu dhammesu samādapeti nāma koḷitavihāravāsī catunikāyikatissatthero viya. Tassa kira jeṭṭhabhātā nandābhayatthero[2] nāma potaliyavihāre vasanto ekasmiṃ roge samuṭṭhite kaniṭṭhaṃ pakkosāpetvā āha – ‘‘āvuso, mayhaṃ sallahukaṃ katvā ekaṃ kammaṭṭhānaṃ kathehī’’ti. Kiṃ, bhante, aññena kammaṭṭhānena, kabaḷīkārāhāraṃ pariggaṇhituṃ vaṭṭatīti? Kimatthiko esa, āvusoti? Bhante, kabaḷīkārāhāro upādārūpaṃ, ekasmiñca upādārūpe diṭṭhe tevīsati upādārūpāni pākaṭāni hontīti. So ‘‘vaṭṭissati, āvuso, ettaka’’nti taṃ uyyojetvā kabaḷīkārāhāraṃ pariggaṇhitvā upādārūpaṃ sallakkhetvā vivaṭṭetvā arahattaṃ pāpuṇi. Atha naṃ theraṃ bahivihārā anikkhantameva pakkositvā, ‘‘āvuso, mahāavassayosi mayhaṃ jāto’’ti kaniṭṭhattherassa attanā paṭiladdhaguṇaṃ ārocesi. Bahujanahitāyāti etassapi hi saddhivihārikādayo ‘‘ayaṃ na ajānitvā karissatī’’ti tena katameva karontīti bahujanahitāya paṭipanno nāma hotīti.
Trong phần Pháp trắng nên được hiểu về Thân nghiệp và Khẩu nghiệp do tác động của tư tâm sở có tác ý tránh xa việc giết hại sinh mạng, v.v. Hơn nữa, trong khi nói về đề mục thiền định không lệch lạc gọi là khuyến khích các pháp tùy thuận, giống như Trưởng lão Tissa, vị thông suốt 4 bộ Nikāya cư ngụ ở Tịnh xá Kolita. Kể rằng Trưởng lão Nandābhaya là anh trai cả của Trưởng lão Tissa ấy, khi đang cư ngụ tại Tịnh xá Potaliya thì một căn bệnh bộc phát. Ngài đã cho mời vị sư em đến rồi nói rằng– “Này em, em hãy chỉ giúp cho anh một đề mục hành thiền nào đó nhẹ nhàng với”. – Thưa sư huynh, lợi ích gì với đề mục hành thiền khác? Sư huynh chỉ cần xác định về đoàn thực. – Này em, đoàn thực này có lợi ích gì? – Thưa sư huynh, đoàn thực là sắc y đại sinh, khi nhìn thấy một sắc y đại sinh nào đó, 23 sắc y đại sinh còn lại cũng được hiển hiện. Người anh nghe xong liền bảo: “Này em, chỉ chừng này có lẽ cũng vừa đủ,” rồi mời sư em trở về. Sau đó, ngài bắt đầu xác định về đoàn thực, rồi tiếp tục xác định đi xác định lại các sắc y đại sinh, và cuối cùng đã đắc được bản thể A-la-hán. Ngay lập tức, người anh liền gọi Trưởng lão là người em vẫn còn chưa bước ra khỏi khuôn viên Tịnh xá quay trở lại và nói rằng: “Này em, em đúng là chỗ nương tựa vĩ đại của anh!” Ngài thông báo về ân đức đã đạt được cho Trưởng lão là em trai biết. Vì sự lợi ích cho nhiều người: Thật vậy, tập thể của vị Tỳ-khưu này là các đệ tử, v.v, đều làm theo những điều mà vị Tỳ-khưu ấy đã làm, với suy nghĩ rằng: “Vị Tỳ-khưu này không biết sẽ không làm.” Những người hộ độ, v.v… cũng tương tự như thế. Chư Thiên hộ trì tập thể đó, chư Thiên ngự trên địa cầu là bạn của chư Thiên hộ trì ấy, chư Thiên ngự trên hư không là bạn của chư Thiên ngự trên địa cầu, tính cả chư Thiên sanh khởi trong cõi Phạm thiên cũng đều làm theo những điều mà vị Tỳ-khưu đó đã làm, vị Tỳ-khưu ấy được gọi là vị thực hành vì sự lợi ích cho nhiều người.
2-2. Giải Thích Bài Kinh Đáng Được Ghi Nhớ
12. Dutiye khattiyassāti jātiyā khattiyassa. Muddhāvasittassāti rājābhisekena muddhani abhisittassa. Sāraṇīyāni bhavantīti saritabbāni asammussanīyāni[3] Jātoti nibbatto. Yāvajīvaṃ sāraṇīyanti daharakāle jānitumpi na sakkā, aparabhāge pana mātāpituādīhi ñātakehi vā dāsādīhi vā ‘‘tvaṃ asukajanapade asukanagare asukadivase asukanakkhatte jāto’’ti ācikkhite sutvā tato paṭṭhāya yāvajīvaṃ sarati[4] na sammussati[5]. Tena vuttaṃ – ‘‘yāvajīvaṃ sāraṇīyaṃ hotī’’ti.
Trong bài Kinh thứ hai, dòng Sát-đế-lỵ: Dòng Sát-đế-lỵ thuộc sanh chủng. Đã được làm lễ phong vương: Vị được Hoàng tộc rưới nước lên đầu với việc làm lễ phong vương. Cần phải ghi nhớ: Đáng được ghi nhớ, không bị quên lãng. Hạ sanh: Đã được sanh ra. Cần phải ghi nhớ cho đến trọn đời: Vào lúc thơ ấu vị Đại vương không thể biết được bất kỳ điều gì liên quan đến bản thân. Tuy nhiên, về sau, khi lắng nghe các câu chuyện được Hoàng tộc kể lại có phụ vương, mẫu hậu, v.v, hoặc những người thân cận rằng: “Tâu Đại vương, Ngài đã hạ sanh ở vùng đất đó tại Thành phố đó, vào ngày đó, và vào chòm sao đó”; thì kể từ ngày ấy trở đi, những chuyện do các Hoàng thân kể lại ấy trở thành điều mà vị ấy cần phải ghi nhớ, tức là không quên lãng cho đến trọn đời. Chính vì lý do ấy, Đức Thế Tôn đã nói rằng – “là điều cần phải ghi nhớ đến trọn đời”.
Idaṃ, bhikkhave, dutiyanti abhisekaṭṭhānaṃ nāma rañño balavatuṭṭhikaraṃ hoti, tenassa taṃ yāvajīvaṃ sāraṇīyaṃ. Saṅgāmavijayaṭṭhānepi eseva nayo. Ettha pana saṅgāmanti yuddhaṃ. Abhivijinitvāti jinitvā sattumaddanaṃ katvā. Tameva saṅgāmasīsanti tameva saṅgāmaṭṭhānaṃ. Ajjhāvasatīti abhibhavitvā āvasati.
Đây là pháp thứ hai, này các Tỳ-khưu: Thông thường nơi diễn ra lễ đăng quang là nơi tạo ra niềm hỷ lạc mãnh liệt cho Đức vua; vì vậy, nơi ấy là nơi đức vua cần phải ghi nhớ cho đến trọn đời. Ngay cả ở địa điểm đã chiến thắng cuộc chiến đấu cũng có phương thức ấy. Hơn nữa, ở đây, chiến trận: chiến địa. Sau khi chiến thắng: đã giành chiến thắng, tức là đã đánh bại được kẻ thù. Cuộc chiến đấu ấy: chính ở tại chiến trường diễn ra cuộc chiến ấy. Định cư/sống: sau khi chế ngự (vị ấy) cư ngụ (tại nơi ấy).
Idāni yasmā sammāsambuddhassa rañño jātiṭṭhānādīhi kattabbakiccaṃ natthi, imasmiṃ pana sāsane tappaṭibhāge tayo puggale dassetuṃ idaṃ kāraṇaṃ ābhataṃ, tasmā te dassento evameva kho, bhikkhavetiādimāha. Tattha anagāriyaṃ pabbajito hotīti ettha catupārisuddhisīlampi pabbajjānissitamevāti veditabbaṃ. Sāraṇīyaṃ hotīti ‘‘ahaṃ asukaraṭṭhe asukajanapade asukavihāre asukamāḷake asukadivāṭṭhāne asukacaṅkame asukarukkhamūle pabbajito’’ti evaṃ yāvajīvaṃ saritabbameva hoti na sammussitabbaṃ.
Thật vậy, Đức vua Pākitananda không có công việc cần phải làm bởi sanh chủng hay địa vị, v.v. Tuy nhiên, Đức Thế Tôn nêu ra lý do này là nhằm chỉ rõ ba hạng người được so sánh với vị vua ấy. Vì vậy, trong khi trình bày về ba hạng người ấy, Đức Thế Tôn đã nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, tương tự y như thế…” Ở đấy, (đã rời nhà xuất gia) sống không nhà: điều này nên được hiểu rằng ‘bốn Thanh tịnh giới’ được y cứ vào việc xuất gia ấy. Cần phải ghi nhớ: (Nơi mà vị Tỳ-khưu cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, rời bỏ gia đình xuất gia sống không gia đình) là nơi vị ấy cần phải ghi nhớ cho đến trọn đời, tức là không nên quên lãng như vầy: “Tôi đã xuất gia ở tại Vương quốc đó, ở tại xứ sở đó, ở tại Tịnh xá đó, ở tại gian nhà đó, ở tại nơi hành lễ Uposatha đó, ở tại đường kinh hành đó, ở tại gốc cây đó.”
Idaṃdukkhanti ettakaṃ dukkhaṃ, na ito uddhaṃ dukkhaṃ atthi. Ayaṃ dukkhasamudayoti ettako dukkhasamudayo, na ito uddhaṃ dukkhasamudayo atthīti. Sesapadadvayepi eseva nayo. Evamettha catūhi saccehi sotāpattimaggo kathito. Kasiṇaparikammavipassanāñāṇāni pana maggasannissitāneva honti. Sāraṇīyaṃhotīti ‘‘ahaṃ asukaraṭṭhe…pe… asukarukkhamūle sotāpanno jāto’’ti yāvajīvaṃ sāraṇīyaṃ hoti asammussanīyaṃ.
Đây là khổ: Khổ chỉ bấy nhiêu thôi, không có khổ nào khác vượt ngoài cái khổ này. Đây là khổ tập/Nguyên nhân sanh khổ: Nguyên nhân sanh khổ chỉ có bấy nhiêu, không có nguyên nhân sanh khổ nào khác vượt ngoài nguyên nhân sanh khổ này. Đối với hai khổ còn lại cũng có phương thức tương tự. Như vậy, trong bài Kinh này Đức Thế Tôn thuyết về Tu-đà-hoàn Đạo thông qua Tứ Thánh Đế. Hơn nữa, việc chuẩn bị đề mục Kasiṇa và trí minh sát đều nương tựa vào các Thánh Đạo ấy. Cần phải ghi nhớ: (Nơi mà vị Tỳ-khưu chứng đạt quả vị Tu-đà-hoàn) là nơi cần phải ghi nhớ cho đến trọn đời, tức là không nên quên lãng: “Ta đã thành tựu trở thành vị Tu-đà-hoàn ở tại Vương quốc đó … ở tại gốc cây đó.”
Āsavānaṃ khayāti āsavānaṃ khayena. Cetovimuttinti phalasamādhiṃ. Paññāvimuttinti phalapaññaṃ. Sayaṃ abhiññā sacchikatvāti attanāva abhivisiṭṭhāya paññāya paccakkhaṃ katvā. Upasampajja viharatīti paṭilabhitvā viharati. Sāraṇīyanti ‘‘mayā asukaraṭṭhe…pe… asukarukkhamūle arahattaṃ patta’’nti attano arahattapattiṭṭhānaṃ nāma yāvajīvaṃ sāraṇīyaṃ hoti asammussanīyanti yathānusandhināva desanaṃ niṭṭhapesi.
Do sự cạn kiệt của các lậu hoặc: Do sự cạn kiệt của các lậu hoặc. Sự giải thoát của tâm: Quả định (Sự định tâm tương ưng với Tâm Quả Siêu thế). Sự giải thoát của tuệ: Quả tuệ (Tuệ tương ưng với Tâm Quả Siêu thế). Nhờ vào thắng trí của mình, đã chứng ngộ: Việc đã làm cho rõ rệt bằng trí tuệ vô cùng đặc biệt của bản thân. Đạt đến và trú: Sau khi đạt được (vị ấy) an trú. Cần phải ghi nhớ: Thông thường, nơi mà bản thân đã thành tựu quả vị A-la-hán là nơi mà vị ấy cần phải ghi nhớ cho đến trọn đời, tức là không quên lãng rằng: “Ta đã đạt đến phẩm vị A-la-hán tại Vương quốc đó… tại gốc cây đó.” Đức Thế Tôn đã kết thúc Pháp thoại theo sự liên kết như đã nói.
2-3. Giải Thích Bài Kinh Sự Có Hy Vọng
13. Tatiye santoti atthi upalabbhanti. Saṃvijjamānāti tasseva vevacanaṃ. Lokasminti sattaloke. Nirāsoti anāso apatthano. Āsaṃsoti āsaṃsamāno[6] patthayamāno. Vigatāsoti apagatāso. Caṇḍālakuleti caṇḍālānaṃ kule. Venakuleti vilīvakārakule. Nesādakuleti migaluddakānaṃ kule. Rathakārakuleti cammakārakule. Pukkusakuleti pupphacchaḍḍakakule.
Trong bài Kinh thứ ba, có: có/tồn tại, tìm ra được. Đang hiện hữu: là từ đồng nghĩa với từ ‘santo/có’. Ở thế gian: chúng sanh ở trên đời. Người không có sự hy vọng: Người không có sự ước ao, không có sự mong mỏi. Người có sự hy vọng: Người có sự ước ao, có sự mong mỏi. Người lìa hy vọng: người đã từ bỏ hy vọng. Gia đình người nô lệ: Trong gia đình của những người nô lệ. Gia đình người thợ đan lát: Trong gia tộc của thợ đan tre. Gia đình thợ săn: Gia đình thợ săn chẳng hạn như người thợ săn hươu nai, v.v. Gia đình thợ đóng xe: trong gia đình của người thợ thuộc da. Gia đình người đổ rác: Trong gia đình của người đổ rác.
Ettāvatā kulavipattiṃ dassetvā idāni yasmā nīcakule jātopi ekacco aḍḍho hoti mahaddhano, ayaṃ pana na tādiso, tasmāssa bhogavipattiṃ dassetuṃ daliddetiādimāha. Tattha daliddeti dāliddiyena samannāgate. Appannapānabhojaneti parittakaannapānabhojane. Kasiravuttiketi dukkhajīvike, yattha vāyāmena payogena jīvitavuttiṃ sādhenti, tathārūpeti attho. Yattha kasirena ghāsacchādo labbhatīti yasmiṃ kule dukkhena yāgubhattaghāso ca kopīnamattaṃ acchādanañca labbhati.
Sau khi trình bày sự băng hoại về gia tộc chỉ với chừng ấy lý do, bây giờ vì lẽ có một số người dù được sanh ra trong gia đình thấp kém nhưng vẫn giàu có (về trí tuệ), có tài sản lớn (về trí tuệ), còn kẻ không có hy vọng này không phải là như thế ấy; do đó, để trình bày sự băng hoại về tài sản của kẻ ấy, Đức Thế Tôn mới nói lời như sau: “Gia đình nghèo đói, v.v.” Ở đấy, trong gia đình nghèo đói: Người đã thành tựu bởi sự nghèo đói. Sự thiếu thốn về cơm nước: Gia đình có thức ăn thức uống ít ỏi để thọ dụng. Đưa đến cảnh khốn cùng/túng quẫn: Gia đình có sự nuôi mạng khó khăn; Ở gia đình nào mà mọi người duy trì được kế sinh nhai bằng sự nỗ lực và sự cố gắng, gia đình có hình thức như thế ấy là ý nghĩa. Nơi tìm kiếm cái ăn cái mặc khó khăn: Ở gia đình nào đó tìm kiếm miếng ăn như cơm, cháo và mặc quần áo đủ để che các phần đáng xấu hổ có được một cách khó khăn.
Idāni yasmā ekacco nīcakule jātopi upadhisampanno hoti attabhāvasamiddhiyaṃ ṭhito, ayañca na tādiso, tasmāssa sarīravipattimpi dassetuṃ so ca hoti dubbaṇṇotiādimāha. Tattha dubbaṇṇoti paṃsupisācako viya jhāmakhāṇuvaṇṇo. Duddasikoti vijātamātuyāpi amanāpadassano. Okoṭimakoti lakuṇḍako[7]. Kāṇoti ekakkhikāṇo vā ubhayakkhikāṇo[8] vā. Kuṇīti ekahatthakuṇī vā ubhayahatthakuṇī vā. Khañjoti ekapādakhañjo vā ubhayapādakhañjo vā. Pakkhahatoti hatapakkho pīṭhasappī. Padīpeyyassāti vaṭṭitelakapallakādino padīpaupakaraṇassa. Tassa na evaṃ hotīti. Kasmā na hoti? Nīcakule jātattā[9].
Giờ đây, bởi vì có một số người dù được sanh ra trong gia đình thấp hèn nhưng vẫn có hình tướng/thân hình hoàn hảo, còn hạng người này không phải là như thế ấy; do đó, để hiện lộ sự băng hoại về sắc thân của kẻ ấy, Đức Thế Tôn đã nói lời như sau: “Và kẻ ấy có màu da xấu xí, v.v…” Ở đấy, có màu da xấu xí: có làn da như gốc cây bị cháy, giống như con quỷ bị dính đầy bụi bẩn. Khó nhìn: Ngắm nhìn bằng sự không vừa lòng ngay cả đối với người mẹ sinh ra mình. Lùn thấp: nhỏ con. Mắt mù: người mù một bên, hoặc người mù cả hai bên. Người què: người co quắp/cong vẹo ở một tay hoặc co quắp/cong vẹo cả hai tay. Người khập khiễng: người què một chân hoặc người què cả hai chân. Người bị bại liệt: Người bị bại liệt nửa người, người tàn tật phải bò/trườn. Vật dụng/nguyên liệu để thắp sáng: Nguyên vật liệu thắp sáng có tim đèn, dầu thắp, và chén bằng đất nung, v.v… Kẻ ấy không có suy nghĩ như vậy: Tại sao kẻ ấy lại không có (suy nghĩ như vậy)? Bởi vì kẻ ấy được sanh ra trong gia đình thấp hèn.
Jeṭṭhoti aññasmiṃ jeṭṭhe sati kaniṭṭho āsaṃ na karoti, tasmā jeṭṭhoti āha. Ābhisekoti jeṭṭhopi[10] na abhisekāraho āsaṃ na karoti, tasmā ābhisekoti āha. Anabhisittoti abhisekārahopi kāṇakuṇiādidosarahito sakiṃ abhisitto puna abhiseke āsaṃ na karoti, tasmā anabhisittoti āha. Acalappattoti[11] jeṭṭhopi ābhiseko[12] anabhisitto mando uttānaseyyako, sopi abhiseke āsaṃ na karoti. Soḷasavassuddesiko pana paññāyamānamassubhedo acalappatto nāma hoti, mahantampi rajjaṃ vicāretuṃ samattho, tasmā ‘‘acalappatto’’ti āha. Tassa evaṃ hotīti kasmā hoti? Mahājātitāya.
Trưởng nam: khi có một vị trưởng nam khác thì người em không tạo lập sự hy vọng/sự mong mỏi; do đó, Đức Thế Tôn mới nói rằng: ‘trưởng nam/hoàng huynh’. Xứng đáng làm lễ quán đảnh: dù là vị không xứng đáng làm lễ quán đảnh thì cũng không tạo lập sự hy vọng/sự mong mỏi; do đó, Đức Thế Tôn mới nói rằng: ‘xứng đáng làm lễ quán đảnh’. Vị vẫn chưa làm lễ quán đảnh: Dù là vị xứng đáng làm lễ quán đảnh, không có các khuyết điểm như mắt mù, tay/chân tàn tật, v.v… đã được làm lễ đăng quang một lần thì không tạo lập sự hy vọng/sự mong mỏi vào việc quán đảnh nữa; vì thế, Đức Thế Tôn đã nói rằng ‘vị vẫn chưa làm lễ quán đảnh’. Đạt đến địa vị bất động: Về phía vị trưởng nam khi vẫn còn là đứa con nít ngây thơ nằm ngửa xứng đáng để được làm lễ quán đảnh, nhưng chưa làm lễ quán đảnh, thì vị ấy cũng không tạo lập sự hy vọng/sự mong mỏi vào việc quán đảnh. Nhưng sau khi đến độ tuổi khoảng mười sáu, bắt đầu có râu mọc, được gọi là ‘đạt đến địa vị bất động’, có đủ khả năng cai quản cả một Vương quốc to lớn; do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Đạt đến địa vị bất động’. Ngài ấy có suy nghĩ như vậy, tại sao ngài có suy nghĩ như vậy? Bởi vì ngài có xuất thân (sanh chủng) cao quý.
Dussīloti nissīlo. Pāpadhammoti lāmakadhammo. Asucīti asucīhi kāyakammādīhi samannāgato. Saṅkassarasamācāroti saṅkāhi saritabbasamācāro, kiñcideva asāruppaṃ disvā ‘‘idaṃ iminā kataṃ bhavissatī’’ti evaṃ paresaṃ āsaṅkanīyasamācāro, attanāyeva vā saṅkāhi saritabbasamācāro, sāsaṅkasamācāroti attho. Tassa hi divāṭṭhānādīsu sannipatitvā kiñcideva mantayante bhikkhū disvā[13] ‘‘ime ekato hutvā mantenti, kacci nu kho mayā katakammaṃ jānitvā mantentī’’ti evaṃ sāsaṅkasamācāro hoti. Paṭicchannakammantoti paṭicchādetabbayuttakena pāpakammena samannāgato. Assamaṇo samaṇapaṭiññoti assamaṇo hutvāva samaṇapatirūpakatāya ‘‘samaṇo aha’’nti evaṃ paṭiñño. Abrahmacārī brahmacāripaṭiññoti aññe brahmacārino sunivatthe supārute sumbhakapattadhare gāmanigamarājadhānīsu piṇḍāya caritvā jīvikaṃ kappente disvā sayampi tādisena ākārena tathā paṭipajjanato ‘‘ahaṃ brahmacārī’’ti paṭiññaṃ dento viya hoti. ‘‘Ahaṃ bhikkhū’’ti vatvā uposathaggādīni pavisanto pana brahmacāripaṭiñño hotiyeva, tathā saṅghikaṃ lābhaṃ gaṇhanto. Antopūtīti pūtinā kammena anto anupaviṭṭho. Avassutoti rāgādīhi[14] tinto. Kasambujātoti sañjātarāgādikacavaro. Tassa na evaṃ hotīti. Kasmā na hoti? Lokuttaradhammaupanissayassa natthitāya. Tassaevaṃ hotīti. Kasmā hoti? Mahāsīlasmiṃ paripūrakāritāya.
Kẻ có giới tồi: Kẻ không có giới. Có ác pháp: có pháp thấp hèn. Bất tịnh: Kẻ đã thành tựu các nghiệp có thân nghiệp, v.v, không sạch sẽ. Sở hành đáng nghi ngờ: Người có sở hành mà những người khác đáng ghi nhớ bởi sự nghi ngờ, giải thích rằng— Người có sở hành đáng bị nghi ngờ đối với người khác như vầy: “Kẻ này sẽ thực hành ác nghiệp này!” bởi vì họ đã nhìn thấy một số ác nghiệp nào đó không phù hợp (ở nơi vị ấy); hoặc người có sở hành mà chính bản thân cần phải ghi nhớ bởi sự nghi ngờ, được gọi là có sở hành đáng nghi ngờ. Thật vậy, sau khi nhìn thấy các vị Tỳ-khưu đã tụ họp lại để thảo luận một số chuyện ở một số nơi như chỗ nghỉ ban ngày v.v…, cũng có suy nghĩ như vầy: “Các vị đã tụ họp lại (một chỗ) để thảo luận, phải chăng sau khi biết được ác nghiệp mà ta đã làm nên mới thảo luận?” Như vậy, người ấy là người có sở hành đáng nghi ngờ. Có hành động che giấu: Người có ác nghiệp cần phải che giấu. Phi Sa-môn, giả mạo Sa-môn: Hạng người không phải là Sa-môn, nhưng thừa nhận rằng: “Ta là Sa-môn”, bởi vì kẻ ấy chỉ là Sa-môn giả mạo. Phi Phạm hạnh, giả mạo Phạm hạnh: (Hạng người không phải Phạm hạnh) nhưng khi nhìn thấy những vị thực hành Phạm hạnh khác mặc y phục chỉnh tề, đắp y kín đáo, mang bình bát đất loại bình thường đi khất thực để duy trì sự sống trong làng mạc, thị trấn, kinh thành, v.v, có vẻ như đang tự nhận rằng: “Ta là người thực hành Phạm hạnh”, bởi vì chính bản thân cũng thực hành với biểu hiện như thế là như thế. Nhưng khi nói rằng: “Ta là Tỳ-khưu” rồi đi vào trong nhà hành lễ Uposatha, v.v, đích thực là– “ự nhận mình là người sống phạm hạnh”, khi thọ nhận lợi lộc của chư Tăng cũng tương tự như vậy, tức là tự nhận mình là người sống phạm hạnh. Nội tâm thối nát: Có nội tâm hôi thối/ghê gớm bởi các ác nghiệp. Nhiễm dục vọng: người bị ướt đẫm bởi các phiền não có luyến ái, v.v, thường sanh khởi. Có bản chất dơ bẩn: những thứ rác rưởi là phiền não có luyến ái thường xuyên sanh khởi. Người ấy không suy nghĩ như vậy, tại sao người ấy không có suy nghĩ như vậy? Bởi vì người ấy không có sự nâng đỡ của Pháp Siêu thế. Người ấy có suy nghĩ như vậy, tại sao người ấy có suy nghĩ như vậy? Bởi vì thực hành làm cho đầy đủ các đại giới.
2-4. Giải Thích Bài Kinh Vị Chuyển Luân Vương
14. Catutthe catūhi saṅgahavatthūhi janaṃ rañjetīti rājā. Cakkaṃ vattetīti cakkavattī. Vattitaṃ vā anena cakkanti cakkavattī[15]. Dhammo assa atthīti dhammiko. Dhammeneva dasavidhena cakkavattivattena rājā jātoti dhammarājā. Sopi na arājakanti sopi aññaṃ nissayarājānaṃ alabhitvā cakkaṃ nāma vattetuṃ na sakkotīti attho. Iti satthā desanaṃ paṭṭhapetvā yathānusandhiṃ apāpetvāva tuṇhī ahosi. Kasmā? Anusandhikusalā uṭṭhahitvā anusandhiṃ pucchissanti, bahū hi imasmiṃ ṭhāne tathārūpā bhikkhū, athāhaṃ tehi puṭṭho desanaṃ vaḍḍhessāmīti. Atheko anusandhikusalo bhikkhu bhagavantaṃ pucchanto ko pana, bhantetiādimāha. Bhagavāpissa byākaronto dhammo bhikkhūtiādimāha.
Trong bài Kinh thứ tư, được gọi là ‘Đức Vua’ vì làm cho dân chúng yêu mến bằng bốn việc làm thu phục[16]. Được gọi là “Đức Chuyển Luân Thánh Vương” vì quay tròn/xoay chuyển bánh xe. Hoặc, bởi vì bánh xe đã được vị ấy làm cho xoay chuyển, nên gọi là vị Chuyển Luân.” Bậc công minh[17]: vì có nghĩa là ngài trị vị đúng pháp. Đấng Pháp vương: Ngài đã trở thành đức vua với chính pháp ấy, tức là với mười phận sự của vị Chuyển Luân. Ngay cả vị ấy … không phải không có vua: Ngay cả vị Chuyển Luân ấy, khi không có được một vị ‘Vua’’ nào khác làm chỗ nương tựa thì cũng không thể xoay chuyển bánh xe báu. Bậc Đạo Sư bắt đầu Pháp thoại như vậy (mà) không đưa lời thuyết pháp đến đúng theo sự liên kết nên đã giữ im lặng. Tại sao? Vì ngài nghĩ rằng: Các vị Tỳ-khưu thiện xảo trong sự liên kết sẽ đứng dậy hỏi về mối liên hệ này. Bởi vì ở nơi đây có rất nhiều vị Tỳ-khưu như thế; khi đó, trong khi được hỏi bởi các vị ấy, như Lai sẽ giải thích chi tiết bài Pháp thoại. Vào lúc đó, có một vị Tỳ-khưu thiện xảo trong sự liên kết, khi hỏi Đức Thế Tôn, đã nói rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, vậy thì…”. Về phía Đức Thế Tôn, khi giải đáp cho vị Tỳ-khưu ấy, mới nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, Pháp…”.
Tattha dhammoti dasakusalakammapathadhammo. Dhammanti tameva vuttappakāraṃ dhammaṃ. Nissāyāti tadadhiṭṭhānena cetasā tameva nissayaṃ katvā. Dhammaṃ sakkarontoti yathā kato so dhammo suṭṭhu kato hoti, evametaṃ[18] karonto. Dhammaṃ garuṃ karontoti tasmiṃ gāravuppattiyā taṃ garukaronto. Dhammaṃ apacāyamānoti tasseva dhammassa añjalikaraṇādīhi nīcavuttitaṃ karonto. Dhammaddhajo dhammaketūti taṃ dhammaṃ dhajamiva purakkhatvā ketumiva[19] ukkhipitvā pavattiyā dhammaddhajo dhammaketu ca hutvāti attho. Dhammādhipateyyoti dhammādhipatibhūtāgatabhāvena dhammavaseneva ca sabbakiriyānaṃ karaṇena dhammādhipateyyo hutvā. Dhammikaṃ rakkhāvaraṇaguttiṃ saṃvidahatīti dhammo assā atthīti dhammikā, rakkhā ca āvaraṇañca gutti ca rakkhāvaraṇagutti. Tattha ‘‘paraṃ rakkhanto attānaṃ rakkhatī’’ti vacanato khantiādayo rakkhā. Vuttañhetaṃ – ‘‘kathañca, bhikkhave, paraṃ rakkhanto attānaṃ rakkhati. Khantiyā avihiṃsāya mettacittatāya anuddayāyā’’ti (saṃ. ni. 5.385). Nivāsanapārupanagehādīni āvaraṇaṃ. Corādiupaddavanivāraṇatthaṃ gopāyanā gutti. Taṃ sabbampi suṭṭhu vidahati pavatteti ṭhapetīti attho.
Ở đấy, Pháp: Pháp là thập thiện nghiệp đạo (mười đường lối tạo nghiệp thiện). (Chỉ mỗi) Pháp: Pháp có cách thức đã được giảng giải. Nương tựa vào: Làm cho chính Pháp ấy trở thành nơi nương tựa với tâm là nơi thiết lập của Pháp đó. Trong khi trọng vọng pháp: Chính pháp mà bản thân đã tôn kính ấy đã được thực hành tốt đẹp bằng cách nào, thì cũng thực hiện theo phương thức ấy. Trong khi cung kính pháp: Cung kính Pháp ấy bằng việc phát khởi sự tôn kính đối với Pháp. Trong khi nể nang pháp: Trong khi thực hiện hành vi cung kính đối với chính pháp đó bằng những hành động thích hợp như chắp tay v.v. Với pháp là ngọn cờ, với pháp là biểu hiệu: giải thích rằng— Vị có pháp là ngọn cờ bởi vì đã đặt Pháp ấy ở phía trước giống như người chiến sĩ giương cao ngọn cờ đặt ở phía trước (dẫn đường) và vị có pháp là biểu hiệu vì đã đưa Pháp ấy lên giống như ngọn cờ rồi thực hành. Với pháp là chủ đạo: Vị có pháp làm chủ đạo bởi vì là vị có bản thể pháp làm trưởng và bởi vì thực hiện mọi hành động (phận sự của đức vua) với mãnh lực của pháp ấy. Sắp xếp sự bảo vệ, sự che chở và sự trông nom đúng pháp: Pháp của sự bảo vệ hiện hữu, vì nguyên nhân ấy, sự bảo vệ đó được gọi là có pháp. Sự bảo vệ, sự che chở và sự trông nom được gọi là sự bảo vệ, sự che chở và sự trông nom. Trong số các từ ngữ ấy, các pháp như kham nhẫn v.v. được gọi là sự bảo vệ, bởi vì Chánh Văn Pāḷī trình bày rằng: “Trong khi bảo vệ người khác, cũng là bảo vệ chính mình.”[20]; Bởi vì điều này đã được nói rằng: “Và này các tỳ khưu, thế nào trong khi bảo vệ người khác, là bảo vệ cho mình? Do sự nhẫn nại, do sự không hãm hại, do sự hành trì tâm từ ái và do sự trắc ẩn.”[21]; Sự bảo vệ các vật dụng như chăn mền, nhà cửa v.v…, được gọi là sự che chở. Sự che chở nhằm ngăn ngừa các tai họa như sự tấn công của kẻ trộm v.v…, gọi là sự trông nom. Giải thích rằng— vị Chuyển Luân sắp xếp, chuyển vận, thiết lập tất cả sự bảo vệ, sự che chở, và sự trông nom ấy một cách tốt đẹp.
Idāni yattha sā saṃvidahitabbā, taṃ dassento antojanasmintiādimāha. Tatrāyaṃ saṅkhepattho – antojanasaṅkhātaṃ puttadāraṃ sīlasaṃvare patiṭṭhāpento vatthagandhamālādīni cassa dadamāno sabbopaddave cassa nivārayamāno dhammikaṃ rakkhāvaraṇaguttiṃ saṃvidahati nāma. Khattiyādīsupi eseva nayo. Ayaṃ pana viseso – abhisittakhattiyā bhadra-assājānīyādiratanasampadānenapi upagaṇhitabbā[22], anuyantā khattiyā[23] tesaṃ anurūpayānavāhanasampadānenapi paritosetabbā, balakāyo kālaṃ anatikkametvā bhattavetanasampadānenapi anuggahetabbo, brāhmaṇā annapānavatthādinā deyyadhammena, gahapatikā bhattabījanaṅgalabalibaddādisampadānena, tathā nigamavāsino negamā janapadavāsino ca jānapadā[24]. Samitapāpabāhitapāpā pana samaṇabrāhmaṇā samaṇaparikkhārasampadānena sakkātabbā, migapakkhino abhayadānena samassāsetabbā.
Bây giờ, khi thuyết về hạng người cần phải sắp xếp sự bảo vệ, sự che chở, và sự trông nom, Đức Thế Tôn mới nói rằng: “cho mọi người trong gia đình, v.v.” Đây là ý nghĩa vắn tắt trong trường hợp này – trong khi ban cho các hoàng tử và hoàng hậu là “những người trong nhà” an trú trong sự thu thúc giới, ban tặng y phục, hương thơm và tràng hoa, v.v, đồng thời ngăn ngừa tất cả mọi sự bất hạnh/tai họa đến họ; được gọi là sự bảo vệ, sự che chở, và sự trông nom đúng pháp. Luôn cả cho các Sát-đế-lỵ cũng có ý nghĩa tương tự. Nhưng có sự khác biệt như sau— vị Sát-đế-lỵ đã được tấn phong (thì) vị Chuyển Luân cũng cần phải giúp đỡ, dù là bằng việc ban tặng các loại châu báu như ngựa thuần chủng có đặc điểm tốt v.v. Các Sát-đế-lỵ chư hầu (thì) vị Chuyển Luân cần phải làm cho vui lòng, dù là bằng việc ban tặng các phương tiện đi lại tương xứng với địa vị của họ; Tập thể quân đội (thì) vị Chuyển Luân cần phải trợ giúp, dù là bằng việc ban phát lương thực, tiền lương thưởng đúng thời hạn, không để chậm trễ. Các Bà-la-môn (thì) vị Chuyển Luân cần phải trợ giúp bằng những phẩm vật cúng dường như cơm, nước và y phục v.v. Các gia chủ (thì) vị Chuyển Luân cần phải giúp đỡ bằng cách ban tặng lương thực, hạt giống, lưỡi cày và bò kéo, v.v. Những người sinh sống ở thị trấn gọi là cư dân ở thị trấn, và những người sinh sống ở nông thôn gọi là cư dân ở nông thôn, cũng tương tự (tức là nên được giúp đỡ bằng cách ban phát hạt giống, lưỡi cày và bò kéo v.v.). Các vị Sa-môn và Bà-la-môn có ác pháp đã được yên lặng, có ác pháp đã được thả trôi nên được trọng vọng bằng việc cúng dường các vật dụng thiết yếu dành cho Sa-môn và Bà-la-môn. Các loài thú và các loài chim (thì) vị Chuyển Luân cần phải làm cho bình yên bằng việc ban cho sự an toàn (không săn bắt, không giết).
Dhammeneva cakkaṃ vattetīti dasakusalakammapathadhammeneva cakkaṃ pavatteti. Taṃ hoti cakkaṃ appaṭivattiyanti taṃ tena evaṃ pavattitaṃ āṇācakkaṃ appaṭivattiyaṃ hoti. Kenacimanussabhūtenāti devatā nāma attanā icchiticchitameva karonti, tasmā tā aggaṇhitvā ‘‘manussabhūtenā’’ti vuttaṃ. Paccatthikenāti paṭiatthikena, paṭisattunāti attho. Dhammikoti cakkavattī dasakusalakammapathavasena dhammiko, tathāgato pana navalokuttaradhammavasena. Dhammarājāti navahi lokuttaradhammehi mahājanaṃ rañjetīti dhammarājā. Dhammaṃyevāti navalokuttaradhammameva nissāya tameva sakkaronto taṃ garukaronto taṃ apacāyamāno. Sovassa dhammo abbhuggataṭṭhena dhajoti dhammaddhajo. Sovassa ketūti dhammaketu. Tameva adhipatiṃ jeṭṭhakaṃ katvā viharatīti dhammādhipateyyo. Dhammikaṃ rakkhāvaraṇaguttinti lokiyalokuttaradhammadāyikarakkhañca āvaraṇañca guttiñca. Saṃvidahatīti ṭhapeti paññapeti. Evarūpanti tividhaṃ kāyaduccaritaṃ na sevitabbaṃ, sucaritaṃ sevitabbanti evaṃ sabbattha attho veditabbo. Saṃvidahitvāti ṭhapetvā kathetvā. Dhammeneva anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattetīti navalokuttaradhammeneva asadisaṃ dhammacakkaṃ pavatteti. Taṃ hoti cakkaṃ appaṭivattiyanti taṃ evaṃ pavattitaṃ dhammacakkaṃ etesu samaṇādīsu ekenapi paṭivattetuṃ paṭibāhituṃ na sakkā. Sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Vận chuyển bánh xe đúng pháp: Đức Vua Chuyển Luân vận chuyển bánh xe đúng pháp là thập thiện nghiệp đạo. Bánh xe ấy là không thể bị chuyển vận nghịch lại: Vương lệnh ấy đã được Đức Vua Chuyển Luân ấy chuyển vận như vậy, là không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi bất cứ ai. Bởi bất cứ người nào: Theo lẽ tự nhiên, chư Thiên làm điều mà bản thân mong ước (thành tựu kết quả như ý nguyện); do đó, Đức Thế Tôn mới nói rằng “Bởi bất cứ người nào” mà không gộp chung cả chư Thiên vào. Bởi đối thủ: Bởi kẻ thù/đối thủ. Giải thích rằng: là kẻ thù trực diện. Công chính/đúng Pháp: Đức Chuyển Luân Vương được gọi là ‘công chính/đúng Pháp’ do tác động của thập thiện nghiệp đạo; còn Đức Như Lai là ‘công chính/đúng Pháp’ do tác động của chín Pháp Siêu thế. Bậc Pháp Vương: Đức Như Lai được gọi là ‘bậc Pháp Vương’ bởi vì ngài làm cho đại chúng hoan hỷ bằng chín Pháp Siêu thế. Chỉ mỗi pháp: Như Lai chỉ nương tựa chín Pháp Siêu thế trong khi trọng vọng chính Pháp ấy, trong khi cung kính Pháp ấy, trong khi nể nang Pháp ấy. Pháp của Như Lai ấy được gọi là cờ chiến thắng với ý nghĩa ở trên cao; vì lý do đó, Như Lai ấy mới được gọi là ‘có Pháp là ngọn cờ’. Chính Pháp ấy của Như Lai là biểu hiệu; vì lý do đó, Như Lai được gọi là ‘có Pháp là biểu hiệu’. Như Lai được gọi là ‘có Pháp là chủ đạo’ Ngài đã làm cho chính Pháp ấy trở thành chủ đạo, trở thành trọng yếu, rồi an trú. Sự bảo vệ, sự che chở, và sự trông nom đúng Pháp: Sự bảo vệ, sự che chở, và sự trông nom cho Pháp Hiệp thế và Pháp Siêu thế. Sắp xếp: sắp đặt, quy định. Với hình thức như vậy: Cá nhân không nên phục vụ ba uế hạnh về Thân, mà nên phục vụ các thiện hạnh. Trong các từ/cụm từ cần được hiểu ý nghĩa giải thích như vậy. Sau khi sắp xếp: sau khi sắp đặt, sau khi quy định. Chuyển vận bánh xe Pháp vô thượng đúng theo pháp: Như Lai chuyển vận bánh xe Pháp không có bánh xe nào sánh bằng bằng chính chín Pháp Siêu thế ấy. Bánh xe ấy là không thể bị chuyển vận nghịch lại: Bánh xe Pháp ấy đã được Đức Như Lai ấy chuyển vận như vậy, mà bất cứ ai dù chỉ một trong số những người này có Sa-môn, v.v, là không thể bị chuyển vận nghịch lại, tức là ngăn cản được. Các từ/cụm từ còn lại ở các đoạn đều đơn giản/dễ hiểu.
2-5. Giải Thích Bài Kinh nói về Đức vua Pacetana ra lệnh cho thợ mộc làm bánh xe
15. Pañcame isipataneti buddhapaccekabuddhasaṅkhātānaṃ isīnaṃ dhammacakkappavattanatthāya ceva uposathakaraṇatthāya ca āgantvā patane, sannipātaṭṭhāneti attho. Padanetipi pāṭho, ayameva attho. Migadāyeti migānaṃ abhayatthāya dinne. Chahi māsehi chārattūnehīti so kira raññā āṇattadivaseyeva sabbūpakaraṇāni sajjetvā antevāsikehi saddhiṃ araññaṃ pavisitvā gāmadvāragāmamajjhadevakulasusānādīsu ṭhitarukkhe ceva jhāmapatitasukkharukkhe ca vivajjetvā sampannapadese ṭhite sabbadosavivajjite nābhiaranemīnaṃ anurūpe rukkhe gahetvā taṃ cakkaṃ akāsi. Tassa rukkhe vicinitvā gaṇhantassa ceva karontassa ca ettako kālo vītivatto[25]. Tena vuttaṃ – ‘‘chahi māsehi chārattūnehī’’ti. Nānākaraṇanti nānattaṃ. Nesanti na esaṃ. Atthesanti atthi esaṃ. Abhisaṅkhārassa gatīti payogassa gamanaṃ. Ciṅgulāyitvāti paribbhamitvā. Akkhāhataṃ maññeti akkhe pavesetvā ṭhapitamiva[26].
Trong bài Kinh thứ năm, tại Isipatana: Ở tại khu rừng là nơi mà các vị Đạo sĩ là Đức Phật và các vị Phật Độc Giác đến nghỉ ngơi để chuyển vận bánh xe Pháp và để tiến hành lễ Uposatha. Giải thích rằng: đó là nơi tụ hội. Bản văn là ‘Padana’ cũng có ý nghĩa này tương tự. Ở vườn Lộc Uyển/ vườn Nai: Được đức vua ban tặng nhằm mục đích đem lại sự an toàn cho các loài thú.” Sau sáu tháng trừ sáu ngày: Nghe rằng người thợ đóng xe sau khi chuẩn bị đầy đủ mọi dụng cụ, đã đi vào rừng cùng với các đệ tử chính vào ngày nhận được mệnh lệnh/thánh chỉ của Đức vua, tránh các cây mọc ở cổng làng, giữa làng, đền thờ và nghĩa địa v.v., và cây bị cháy, cây ngã đổ, và cây khô héo; chỉ chọn lấy những cây mọc ở vùng đất tốt, tuyệt đối không bị khuyết điểm, thích hợp sử dụng để làm trục, căm, đùm và vành để làm bánh xe đó. Trong khi người thợ mộc ấy tìm kiếm, lựa chọn cây, và làm bánh xe thời gian chừng ấy đã trôi qua. Vì lý do đó, Đức Thế Tôn mới mới rằng: “Sau sáu tháng trừ sáu ngày”. Sự việc khác biệt: sự sai biệt. Nesaṃ tách từ thành ‘Na esaṃ’, dịch là— Ta không nhìn thấy sự khác biệt của những bánh xe ấy. Atthesaṃ tách từ thành ‘Atthi esaṃ’, dịch là— Thưa Ðại vương, có sự sai khác giữa hai bánh xe ấy. Xoay vòng: quay tròn/xoay quanh. Đã xoay vòng: sau khi đã xoay vòng. Như mắc vào trục xe: Giống như được lồng vào/gài vào trục xe.
Sadosāti sagaṇḍā uṇṇatoṇataṭṭhānayuttā. Sakasāvāti pūtisārena ceva pheggunā ca yuttā. Kāyavaṅkātiādīni kāyaduccaritādīnaṃ nāmāni. Evaṃ papatitāti evaṃ guṇapatanena patitā. Evaṃ patiṭṭhitāti evaṃ guṇehi patiṭṭhitā. Tattha lokiyamahājanā papatitā nāma, sotāpannādayo patiṭṭhitā nāma. Tesupi purimā tayo kilesānaṃ samudācārakkhaṇe papatitā nāma, khīṇāsavā pana ekanteneva patiṭṭhitā nāma. Tasmāti yasmā appahīnakāyavaṅkādayo papatanti, pahīnakāyavaṅkādayo patiṭṭhahanti, tasmā. Kāyavaṅkādīnaṃ pana evaṃ pahānaṃ veditabbaṃ – pāṇātipāto adinnādānaṃ micchācāro musāvādo pisuṇāvācā micchādiṭṭhīti ime tāva cha sotāpattimaggena pahīyanti, pharusāvācā byāpādoti dve anāgāmimaggena, abhijjhā samphappalāpoti dve arahattamaggenāti.
Có chỗ hỏng: Có mắt u, là có những chỗ lồi lõm. Giác gỗ vẫn còn nhựa: Dính phải lõi cây bị hôi thối và giác gỗ. Chỗ cong của thân, v.v, là tên gọi của các uế hạnh có thân uế hạnh, v.v. Đã rơi xuống như vậy: Đã rơi xuống do sự suy giảm các đức hạnh như vậy. Đã thiết lập như vậy: Đã an trú với các đức hạnh như vậy. Trong 6 hạng người đó, đám đông người ở thế gian được gọi là đã rơi xuống, còn vị Tu-đà-hoàn, v.v, gọi là đã an trú. Ngay cả trong trường hợp của 4 bậc Thánh đó, 3 bậc Thánh nhân đầu tiên (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm) vẫn gọi là đã rơi xuống ở sát-na bộc phát của các phiền não. Còn bậc Lậu Tận gọi là đã an trú tuyệt đối. Do đó, vì những vị chưa dứt bỏ sự cong vẹo ở thân v.v, mới rơi xuống; còn các bậc Lậu Tận là những vị đã dứt bỏ sự cong vẹo ở thân v.v, mới an trú; do đó. Mặt khác, nên hiểu việc dứt bỏ sự cong vẹo ở thân v.v. như sau— Trước hết, 6 bất thiện nghiệp đạo này là sát sanh, trộm cắp, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói đâm thọc, tà kiến thì các bậc Thánh nhân (sẽ) được dứt bỏ bằng Sơ đạo/Tu-đà-hoàn Đạo. 2 điều là lời nói thô lỗ, sân độc (sẽ) được dứt bỏ bằng Tam đạo/Đạo A-na-hàm. 2 điều là tham đắm, lời nói nhảm nhí (sẽ) được dứt bỏ bằng Tứ đạo/Đạo A-la-hán.
2-6. Giải Thích Bài Kinh Không Có Lỗi Lầm
16. Chaṭṭhe apaṇṇakapaṭipadanti[27] aviraddhapaṭipadaṃ[28] ekaṃsapaṭipadaṃ niyyānikapaṭipadaṃ kāraṇapaṭipadaṃ sārapaṭipadaṃ maṇḍapaṭipadaṃ apaccanīkapaṭipadaṃ anulomapaṭipadaṃ dhammānudhammapaṭipadaṃ paṭipanno hoti, na takkaggāhena vā nayaggāhena vā. Evaṃ gahetvā paṭipanno hi bhikkhu vā bhikkhunī vā upāsako vā upāsikā vā manussadevanibbānasampattīhi hāyati parihāyati, apaṇṇakapaṭipadaṃ paṭipanno pana tāhi sampattīhi na parihāyati. Atīte kantāraddhānamaggaṃ paṭipannesu dvīsu satthavāhesu yakkhassa vacanaṃ gahetvā bālasatthavāho saddhiṃ satthena anayabyasanaṃ patto, yakkhassa vacanaṃ aggahetvā ‘‘udakadiṭṭhaṭṭhāne udakaṃ chaḍḍessāmā’’ti satthake saññāpetvā maggaṃ paṭipanno paṇḍitasatthavāho viya. Yaṃ sandhāya vuttaṃ –
‘‘Apaṇṇakaṃ ṭhānameke, dutiyaṃ āhu takkikā;
Etadaññāya medhāvī, taṃ gaṇhe yadapaṇṇaka’’nti. (jā. 1.1.1);
Trong bài Kinh thứ sáu, thực hành lối thực hành không có lỗi lầm: các bậc Thánh nhân là những vị thực hành lối thực hành không có lỗi lầm, tức là lối thực hành hoàn toàn tốt đẹp, lối thực hành đưa chúng sanh thoát khỏi các dục, lối thực hành được liên kết với với nhân, lối thực hành có cốt lõi, lối thực hành cốt yếu, lối thực hành không trái ngược, lối thực hành phù hợp, lối thực hành đúng pháp và thuận pháp — không phải nắm lấy bằng sự suy nghĩ hoặc nắm lấy bằng sự suy luận. Bởi vì, Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, nam cư sĩ hay nữ cư sĩ nào thọ trì lối thực hành như vậy (thực hành bằng sự suy nghĩ, bằng sự suy đoán), bị suy giảm, suy hoại khỏi sự thành tựu về cõi người, sự thành tựu về cõi Trời và sự thành tựu về Niết Bàn. Còn người thực hành lối thực hành không có lỗi lầm sẽ không bị suy hoại khỏi các sự thành tựu ấy. Giống như trong quá khứ, khi hai đoàn thương buôn đi qua con đường dài ở sa mạc, vị trưởng đoàn thương buôn ngu ngốc do tin lời của Dạ-xoa nên đã đưa đến sự diệt vong cùng với các thương nhân. Trái lại, vị trưởng đoàn thương buôn thông minh đã không tin vào lời nói của Dạ-xoa, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ đổ bỏ nước (cũ) ở nơi có nguồn nước (mới)”, đã ra hiệu cho các thương nhân rồi tiếp tục hành trình. Để đề cập đến điều đó, bậc Chánh đẳng Chánh giác đã nói rằng—
“Một số người đã nói về sự việc không lỗi lầm, những kẻ ngụy biện đã nói cách khác. Sau khi đã hiểu được điều này, người thông minh nên nắm lấy điều không lỗi lầm.”[29]
Yoni cassa āraddhā hotīti ettha yonīti khandhakoṭṭhāsassapi kāraṇassapi passāvamaggassapi nāmaṃ. ‘‘Catasso kho imā, sāriputta, yoniyo’’tiādīsu (ma. ni. 1.152) hi khandhakoṭṭhāso yoni nāma. ‘‘Yoni hesā bhūmija phalassa adhigamāyā’’tiādīsu (ma. ni. 3.226) kāraṇaṃ. ‘‘Na cāhaṃ brāhmaṇaṃ brūmi, yonijaṃ mattisambhava’’nti (ma. ni. 2.457; dha. pa. 396) ca ‘‘tamenaṃ kammajavātā nivattitvā[30] uddhaṃpādaṃ adhosiraṃ samparivattetvā mātu yonimukhe sampaṭipādentī’’ti ca ādīsu passāvamaggo. Idha pana kāraṇaṃ adhippetaṃ. Āraddhāti paggahitā paripuṇṇā.
Từ ‘yoni’ trong câu ‘Yoni cassa āraddhā hotī = và lý do của vị này được khởi sự’ này là tên gọi của một khối của Uẩn, căn nguyên, hoặc tử cung (của người nữ). Thât vậy, một khối của Uẩn gọi là ‘yoni’ – “Này Sāriputta, hạng sinh sản này có bốn.”[31] Căn nguyên – “Này Bhūmija, đây là căn nguyên, đưa đến việc chứng đắc quả vị.”[32] Tử cung – “Và Ta không gọi là Bà-la-môn với kẻ đã được sanh ra từ tử cung (của người mẹ)…”[33] và trong câu – “Gió sanh lên từ nghiệp này đây làm cho thai nhi có phần chân hướng lên trên, có phần đầu quay xuống dưới rồi đưa đến sát cửa mình (tử cung) của người mẹ”. Tuy nhiên, trong trường hợp này, ‘yoni’ được đề cập với nghĩa là ‘căn nguyên’. Được khởi sự: Được nâng đỡ, làm cho trọn vẹn.
Āsavānaṃ khayāyāti ettha āsavantīti āsavā, cakkhutopi…pe… manatopi sandanti pavattantīti vuttaṃ hoti. Dhammato yāva gotrabhu, okāsato yāva bhavaggā savantīti vā āsavā, ete dhamme etañca okāsaṃ antokaritvā pavattantīti attho. Antokaraṇattho hi ayaṃ ākāro. Cirapārivāsiyaṭṭhena madirādayo āsavā, āsavā viyātipi āsavā. Lokasmimpi hi cirapārivāsikā madirādayo āsavāti vuccanti, yadi ca cirapārivāsiyaṭṭhena āsavā, eteyeva bhavitumarahanti. Vuttañhetaṃ – ‘‘purimā, bhikkhave, koṭi na paññāyati avijjāya, ito pubbe avijjā nāhosī’’tiādi (a. ni. 10.61). Āyataṃ vā saṃsāradukkhaṃ savanti pasavantītipi āsavā. Purimāni cettha nibbacanāni yattha kilesā āsavāti āgacchanti, tattha yujjanti, pacchimaṃ kammepi. Na kevalañca kammakilesāyeva āsavā, apica kho nānappakārā upaddavāpi. Suttesu hi ‘‘nāhaṃ, cunda, diṭṭhadhammikānaṃyeva āsavānaṃ saṃvarāya dhammaṃ desemī’’ti (dī. ni. 3.182) ettha vivādamūlabhūtā kilesā āsavāti āgatā.
Sự nhằm diệt trừ các lậu hoặc: Phiền não được gọi là lậu hoặc với ý nghĩa là ‘chảy ra, tuôn ra’. Có lời giải thích rằng— chảy ra, tuôn ra ra từ mắt, …chảy ra, tuôn ra từ ý. Hoặc, gọi là lậu hoặc bởi vì chảy ra, tuôn ra từ Pháp cho đến việc chuyển tộc, từ hư không thế giới cho đến cảnh giới tột cùng của hiện hữu. Giải thích rằng: sau khi các Pháp này và hư không này đặt ở bên trong, chúng vận hành. Thực ra, ý nghĩa ‘đặt ở bên trong’ này chính là trạng thái (của lậu hoặc). Các lậu hoặc vì giống như các chất lên men như rượu ngâm, v.v… với ý nghĩa là được ngâm lâu ngày. Bởi vì cả ở thế gian, các chất được ngâm ủ lâu ngày như rượu ngâm, v.v, được gọi là lậu hoặc. Và nếu như các chất lên men như rượu ngâm, v.v, được gọi là lậu hoặc với ý nghĩa đã được ngâm ủ lâu ngày, các phiền não ấy cũng thích hợp được gọi là lậu hoặc tương tự. Bởi vì việc này đã được Đức Phật nói rằng: “Này các Tỳ khưu, khởi điểm của vô minh không hiện hữu trong thời quá khứ để có thể nói – ‘Từ đây trở về trước, vô minh không có, rồi sau nó mới có.”[34] Hoặc, phiền não gọi là lậu hoặc bởi vì chảy ra, tuôn ra khổ đau của luân hồi kéo dài. Và ở đây, các phân tích từ đầu ở nơi nào các phiền não đến với tên gọi là lậu hoặc, ở nơi đó các phiền não được thắt chặt lại với nhau. Còn phân tích từ sau chỉ cho Nghiệp. Và không chỉ riêng nghiệp phiền não là lậu hoặc, những cả sự bất hành/nguy khốn dưới nhiều hình thức cũng là lậu hoặc. Quả thật, trong các bài Kinh, các phiền não có sự cãi vã là gốc rễ đã đến với tên gọi là lậu hoặc như trong câu: “Này Cunda, không phải Ta chỉ bảo Giáo Pháp cho các ngươi nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc ngay trong đời này,”[35]
‘‘Yena devūpapatyassa, gandhabbo vā vihaṅgamo;
Yakkhattaṃ yena gaccheyyaṃ, manussattañca abbaje;
Te mayhaṃ āsavā khīṇā, viddhastā vinaḷīkatā’’ti. (a. ni. 4.36) –
Ettha tebhūmakaṃ ca kammaṃ avasesā ca akusalā dhammā. ‘‘Diṭṭhadhammikānaṃ āsavānaṃ saṃvarāya samparāyikānaṃ āsavānaṃ paṭighātāyā’’ti (pārā. 39; a. ni. 2.202-230) ettha parūpavādavippaṭisāravadhabandhādayo ceva apāyadukkhabhūtā ca nānappakārā upaddavā.
Với mãnh lực của nghiệp vận hành trong 3 cõi và các pháp bất thiện còn lại cũng gọi là lậu hoặc trong câu sau: “Với lậu hoặc chưa đoạn tận của Ta (làm nhân) dẫn đến tái sanh làm Thiên nhân. hoặc (có thể) là Càn-thát-bà, (có thể) là loài chim, và làm nhân đưa Ta đến (tái sanh) làm Dạ-xoa, hay làm người nhân loại, hay sanh vào làm loài bàng sanh. Với Ta lậu hoặc đã diệt tận, bị nhổ bổ, bị phá hủy.’[36]
Việc vu khống người khác, sự đau khổ, sự giết hại và sự kiềm hãm bằng nhiều hình thức khác nhau làm cho chúng sanh lạnh chịu khổ đau trong địa ngục gọi là lậu hoặc: “Như Lai thuyết giảng pháp vì sự phòng hộ các lậu hoặc trong thời hiện tại, và để ngăn ngừa các lậu hoặc trong thời vị lai.[37]”
Te panete āsavā yattha yathā āgatā, tattha tathā veditabbā. Ete hi vinaye tāva ‘‘diṭṭhadhammikānaṃ āsavānaṃ saṃvarāya, samparāyikānaṃ āsavānaṃ paṭighātāyā’’ti (pārā. 39; a. ni. 2.202-230) dvedhā āgatā. Saḷāyatane ‘‘tayo me, āvuso, āsavā kāmāsavo bhavāsavo avijjāsavo’’ti (saṃ. ni. 4.321) tidhā āgatā. Aññesu ca suttantesu (cūḷani. jatukaṇṇimāṇavapucchāniddeso 69; paṭi. ma. 1.107) abhidhamme (dha. sa. 1102-1106; vibha. 937) ca teyeva diṭṭhāsavena saha catudhā āgatā. Nibbedhikapariyāyena ‘‘atthi, bhikkhave, āsavā nirayagāminiyā , atthi āsavā tiracchānayonigāminiyā, atthi āsavā pettivisayagāminiyā, atthi āsavā manussalokagāminiyā, atthi āsavā devalokagāminiyā’’ti (a. ni. 6.63) pañcadhā āgatā. Kammameva cettha āsavāti vuttaṃ. Chakkanipāte ‘‘atthi, bhikkhave, āsavā saṃvarāpahātabbā’’tiādinā (a. ni. 6.58) nayena chadhā āgatā. Sabbāsavapariyāye[38] (ma. ni. 1.14 ādayo) teyeva dassanena pahātabbehi saddhiṃ sattadhā āgatā. Idha pana abhidhammanayena cattāro āsavā adhippetāti veditabbā.
Và trong bài Kinh này, các lậu hoặc này đây đã đến ở nơi nào theo cách nào (thì) ở nơi ấy nên được hiểu theo cách ấy. Trong Tạng Luật các lậu hoặc đã xuất hiện hai loại, chẳng hạn như: “Như Lai thuyết giảng pháp vì sự phòng hộ các lậu hoặc trong thời hiện tại, và để ngăn ngừa các lậu hoặc trong thời vị lai.”[39] Trong phẩm Sáu Xứ đã xuất hiện ba loại như sau: “Này hiền giả, lậu có ba loại là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.[40]” Trong những bài Kinh khác[41] và trong tạng Abhidhamma[42] chỉ có 3 lậu mà thôi, gom tà kiến lậu nữa là bốn lậu [nói theo chi pháp]. Trong Kinh Nirayagāminiyā có đến 5 lậu là: “Này các Tỳ-khưu, có các lậu hoặc đưa đến địa ngục, có các lậu hoặc đưa đến bàng sanh, có các lậu hoặc đưa đến ngạ quỷ, có các lậu hoặc đưa đến thế giới loài người, có các lậu hoặc đưa đến thế giới chư Thiên.”[43] Trong Tương Ưng, chương Sáu Pháp, lậu hoặc có 6 theo cách thức như sau: “Này các Tỳ-khưu, có lậu hoặc cần được đoạn trừ do phòng hộ v.v.”[44] Còn trong bài Kinh Tất Cả Lậu Hoặc (Sabbāsavapariyāye[45]), sáu lậu hoặc đó cùng với lậu hoặc cần được đoạn trừ do tri kiến nữa là bảy. Nhưng trong trường hợp này, nên được hiểu rằng: “Đức Thế Tôn muốn đề cập đến bốn lậu hoặc theo phương thức của Abhidhamma.”
Khayāyāti ettha pana āsavānaṃ sarasabhedopi khīṇākāropi maggaphalanibbānānipi ‘‘āsavakkhayo’’ti vuccati. ‘‘Yo āsavānaṃ khayo vayo bhedo paribhedo aniccatā antaradhāna’’nti ettha hi āsavānaṃ sarasabhedo ‘‘āsavakkhayo’’ti vutto. ‘‘Jānato ahaṃ, bhikkhave, passato āsavānaṃ khayaṃ vadāmī’’ti (ma. ni. 1.15; saṃ. ni. 2.23; itivu. 102) ettha āsavappahānaṃ āsavānaṃ accantakkhayo asamuppādo khīṇākāro natthibhāvo ‘‘āsavakkhayo’’ti vutto.
‘‘Sekhassa sikkhamānassa, ujumaggānusārino;
Khayasmiṃ paṭhamaṃ ñāṇaṃ, tato aññā anantarā’’ti. (itivu. 62) –
Hơn nữa, trong cụm từ này nhằm diệt trừ: Ở đây, sự diệt trừ các lậu hoặc trong một sát-na, trạng thái cạn kiệt hoàn toàn các lậu hoặc không còn dư sót, hoặc Đạo, Quả và Niết Bàn — tất cả đều được gọi là ‘sự cạn kiệt các lậu hoặc’. Thật vậy, ở đây, sự diệt trừ các lậu hoặc trong một sát-na được gọi là “sự cạn kiệt các lậu hoặc” như trong câu sau— “sự cạn kiệt, sự biến hoại, sự tan rã, tính chất vô thường, sự biến mất của các lậu hoặc”. Sự dứt trừ các lậu hoặc, sự cạn kiệt hoàn toàn các lậu hoặc, sự không sanh khởi của các lậu hoặc, trạng thái đã cạn kiệt của các lậu, sự không hiện hữu của các lậu đều được gọi là “sự cạn kiệt các lậu hoặc”, như trong câu— “Này các Tỳ-khưu, Ta nói về sự cạn kiệt các lậu hoặc (có đến) cho người biết, cho người thấy.”[46]
“Việc đoạn tận lậu hoặc của vị Thánh hữu học, vị đang học tập, đang tiến theo con đường thẳng tắp [là Thánh đáo tám chi phần] trí [chánh trí] được sanh lên trước, từ đó A-la-quả sẽ sanh khởi theo tuần tự như vậy.”[47]
Ettha maggo ‘‘āsavakkhayo’’ti vutto. ‘‘Āsavānaṃ khayā samaṇo hotī’’ti (ma. ni. 1.438) ettha phalaṃ.
‘‘Paravajjānupassissa, niccaṃ ujjhānasaññino;
Āsavā tassa vaḍḍhanti, ārā so āsavakkhayā’’ti. (dha. pa. 253) –
Ettha nibbānaṃ. Imasmiṃ pana sutte phalaṃ sandhāya ‘‘āsavānaṃ khayāyā’’ti āha, arahattaphalatthāyāti attho.
Ở đây, Đạo được gọi là “sự cạn kiệt các lậu hoặc”. Ở đây, Quả được gọi là sự cạn kiệt các lậu hoặc như trong câu— “Hạng người là Sa-môn đã diệt tận các lậu hoặc.”[48]
Niết Bàn được gọi là sự cạn kiệt các lậu hoặc trong kệ ngôn này—
“Các lậu hoặc được tăng trưởng đối với những kẻ tìm lỗi của người khác, thường xuyên có ý phê phán, kẻ ấy cách xa sự diệt trừ của các lậu hoặc.”[49]
Indriyesu guttadvāroti manacchaṭṭhesu indriyesu pihitadvāro. Bhojane mattaññūti bhojanasmiṃ pamāṇaññū, paṭiggahaṇaparibhogapaccavekkhaṇamattaṃ jānāti pajānātīti attho. Jāgariyaṃanuyuttoti rattindivaṃ cha koṭṭhāse katvā pañcasu koṭṭhāsesu jāgaraṇabhāvaṃ anuyutto, jāgaraṇeyeva yuttappayuttoti attho.
Có sự phòng vệ ở các giác quan: là vị đóng lại cánh cửa (môn) ở các quyền có ‘ý môn’ là thứ sáu. Có sự biết chừng mực ở vật thực: Biết tiết độ (biết đủ) trong việc thọ dụng vật thực. Giải thích rằng: Biết chừng mực trong việc thọ nhận, việc thọ dụng và việc quán tưởng. Đã gắn liền với sự tỉnh thức:Chia cả ngày lẫn đêm thành sáu thời, rồi gắn liền với sự tỉnh thức trong năm thời; giải thích rằng— luôn tinh tấn, nỗ lực mãnh liệt chính trong sự tỉnh thức.
Evaṃ mātikaṃ ṭhapetvā idāni tameva ṭhapitapaṭipāṭiyā[50] vibhajanto kathañca, bhikkhave, bhikkhūtiādimāha. Tattha cakkhunā rūpaṃ disvātiādīnaṃ attho visuddhimagge (visuddhi. 1.15) vitthārito, tathā paṭisaṅkhā yoniso āhāraṃ āhāreti neva davāyātiādīnaṃ (visuddhi. 1.18). Āvaraṇīyehi dhammehīti pañcahi nīvaraṇehi dhammehi. Nīvaraṇāni hi cittaṃ āvaritvā tiṭṭhanti, tasmā āvaraṇīyā dhammāti vuccanti. Sīhaseyyaṃ kappetīti sīho viya seyyaṃ kappeti. Pāde pādaṃ accādhāyāti vāmapādaṃ dakkhiṇapāde atiādhāya. Samaṃ ṭhapite hi pāde jāṇukena jāṇukaṃ gopphakena ca gopphakaṃ ghaṭīyati, tato vedanā uṭṭhahanti. Tasmā tassa dosassa parivajjanatthaṃ thokaṃ atikkamitvā esa pādaṃ ṭhapeti[51]. Tena vuttaṃ – ‘‘pāde pādaṃ accādhāyā’’ti.
Đức Thế Tôn, sau khi đã đặt ra tiêu đề như vậy, khi muốn phân tích tiêu đề ấy theo đúng thứ tự đã sắp xếp, Ngài đã nói lời bắt đầu như sau: “Và này các Tỳ-khưu, là thế nào?…”. Ở đây, sau khi nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, v.v, đã được giải thích chi tiết trong bộ Thanh Tịnh Đạo.[52] Cũng như, vị Tỳ-khưu suy xét đúng đắn rồi mới thọ dụng vật thực: “Không vì vui đùa, không vì đam mê,…”[53] Khỏi các pháp chướng ngại: Ra khỏi năm pháp che lấp (năm triền cái). Bởi vì, các pháp che lấp có tính chất ngăn che tâm trí, do đó chúng được gọi là “các pháp che lấp”. Nằm thế nằm của loài sư tử: Đã nằm xuống giống như loài sư tử (dáng nằm của con sư tử). Đặt bàn chân này lên bàn chân kia: Đặt chân trái chồng lên chân phải. Bởi vì, khi đặt hai chân bằng nhau, đầu gối sẽ va chạm vào đầu gối, mắt cá chân sẽ va chạm vào mắt cá chân, cảm giác đau đớn sẽ sanh khởi do sự va chạm đó. Do đó, để tránh tác hại ấy, vị ấy sẽ đặt hai chân xếp hơi lệch nhau một chút. Vì lý do ấy, Đức Phật mới nói rằng— “Đặt bàn chân này lên bàn chân kia”.
Sato sampajānoti satiyā ceva sampajaññena ca samannāgato. Kathaṃ panesa niddāyanto sato sampajāno nāma hotīti? Purimappavattivasena. Ayaṃ hi caṅkame caṅkamanto niddāya okkamanabhāvaṃ ñatvā pavattamānaṃ kammaṭṭhānaṃ ṭhapetvā mañce vā phalake vā nipanno niddaṃ upagantvā puna pabujjhamāno kammaṭṭhānaṃ ṭhitaṭṭhāne gaṇhantoyeva pabujjhati. Tasmā niddāyantopi sato sampajāno nāma hoti. Ayaṃ tāva mūlakammaṭṭhāne nayova. Pariggahakammaṭṭhānavasenāpi panesa sato sampajāno nāma hoti. Kathaṃ? Ayaṃ hi caṅkamanto niddāya okkamanabhāvaṃ ñatvā pāsāṇaphalake vā mañce vā dakkhiṇena passena nipajjitvā paccavekkhati – ‘‘acetano kāyo acetane mañce patiṭṭhito, acetano mañco acetanāya pathaviyā, acetanā pathavī acetane udake, acetanaṃ udakaṃ acetane vāte, acetano vāto acetane ākāse patiṭṭhito. Tattha ākāsampi ‘ahaṃ vātaṃ ukkhipitvā[54] ṭhita’nti na jānāti, vātopi ‘ahaṃ ākāse patiṭṭhito’ti na jānāti. Tathā vāto na jānāti. ‘Ahaṃ udakaṃ ukkhipitvā ṭhito’ti…pe… mañco na jānāti, ‘ahaṃ kāyaṃ ukkhipitvā ṭhito’ti, kāyo na jānāti ‘ahaṃ mañce patiṭṭhito’ti. Na hi tesaṃ aññamaññaṃ ābhogo vā samannāhāro vā manasikāro vā cetanā vā patthanā vā atthī’’ti. Tassa evaṃ paccavekkhato taṃ paccavekkhaṇacittaṃ bhavaṅge otarati. Evaṃ niddāyantopi sato sampajāno nāma hotīti.
Có niệm, có sự tỉnh giác: Được thành tựu bởi niệm và sự tỉnh giác. Trong khi đang ngủ (vị Tỳ-khưu ấy) gọi là có niệm và có sự tỉnh giác là thế nào? – Có được do khả năng vận hành của đề mục tham thiền (nghiệp xứ) ban đầu. Bởi vì vị Tỳ-khưu này, khi đang đi kinh hành ở đường đi kinh hành, nhận biết được bản thân rơi vào trạng thái buồn ngủ, liền tạm dừng đề mục tham thiền mà mình đang thực hành, rồi nằm xuống giường hoặc trên tấm ván và ngủ đi. Sau khi tỉnh dậy, vị ấy tiếp tục nắm lấy đề mục tham thiền ngay tại địa điểm đã tạm dừng trước đó. Vì lý do ấy, dù vị ấy đang ngủ cũng vẫn gọi là ‘có niệm và sự tỉnh giác’. Đây chính là phương pháp ở căn bản nghiệp xứ gốc trước. Còn vị Tỳ-khưu này còn được gọi là có niệm và sự tỉnh giác do mãnh lực của đề mục tham thiền được xác định. Vị ấy gọi là có niệm và sự tỉnh giác là thế nào? Bởi vì, trong khi đang đi kinh hành vì này biết rõ bản thân đã rơi vào trạng thái buồn ngủ, liền nằm nghiêng bên phải trên một tảng đá hoặc trên giường, rồi suy xét rằng— “Thân này không có tâm thức đang nằm trên chiếc giường không có tâm thức. Chiếc giường không có tâm thức lại đặt trên mặt đất không có tâm thức. Mặt đất không có tâm thức lại nằm trên mặt nước không có tâm thức. Nước không có tâm thức lại nằm trên gió không có tâm thức. Gió không có tâm thức lại nằm trên hư không không có tâm thức. Trong số những thứ ấy, hư không cũng không biết rằng ‘ta đang ôm gió’. Gió cũng không biết rằng ‘ta đang thổi trong hư không’. Cũng vậy, gió không biết rằng ‘ta đang nâng đỡ nước’, …như trên… Chiếc giường cũng không biết rằng ‘ta đang nâng đỡ thân thể’. Thân thể cũng không biết rằng ‘ta đang ở trên giường’. Thật vậy, những thứ ấy vốn không tư tưởng đến nhau, không quan tâm đến nhau, không chú ý đến nhau, không có ý định hay ước muốn đối với nhau.” Do đó, trong khi vị Tỳ-khi ấy quán xét lại như vậy, tâm quán xét lại ấy sẽ nhập vào hữu phần/hộ kiếp. Ngay cả khi vị ấy đang ngủ như thế, vẫn được gọi là có niệm, có sự tỉnh giác.
Uṭṭhānasaññaṃ manasikaritvāti ‘‘ettakaṃ ṭhānaṃ gate cande vā tārakāya vā uṭṭhahissāmī’’ti uṭṭhānakālaparicchedikaṃ saññaṃ manasikaritvā, citte ṭhapetvāti attho. Evaṃ karitvā sayito hi yathāparicchinneyeva kāle uṭṭhahati.
Sau khi đã chú tâm đến ý tưởng về việc thức dậy: Sau khi đã chú tâm đến ý tưởng xác định thời gian về việc thức dậy rằng: “Khi mặt trăng hoặc các vì sao di chuyển đến vị trí này, ta sẽ thức dậy.” Giải thích rằng, đã thiết lập ý tưởng ở trong tâm. Bởi vì, khi thực hành như vậy rồi nằm ngủ (vị ấy) sẽ thức dậy đúng vào thời gian đã được ấn định.
2-7. Giải Thích Bài Kinh Đưa Đến Hại Mình
17. Sattame attabyābādhāyāti attadukkhāya. Parabyābādhāyāti paradukkhāya. Kāyasucaritantiādīni pubbabhāge dasakusalakammapathavasena āgatāni, upari pana yāva arahattā avāritāneva.
Trong bài Kinh thứ bảy, đưa đến hại mình: để làm khổ mình. đưa đến hại người: nhằm làm khổ người. Thiện hạnh về thân, v.v, được đề cập ở phần đầu do tác động của thập thiện nghiệp đạo/mười đường lối tạo nghiệp thiện. Tuy nhiên, ở tầng cao hơn cho đến quả vị A-la-hán, Ngài cũng không ngăn cấm.
2-8. Giải Thích Bài Kinh Thế Giới Chư Thiên
18. Aṭṭhame aṭṭīyeyyāthāti aṭṭā pīḷitā bhaveyyātha. Harāyeyyāthāti lajjeyyātha. Jiguccheyyāthāti gūthe viya tasmiṃ vacane sañjātajigucchā bhaveyyātha. Iti kirāti ettha itīti padasandhibyañjanasiliṭṭhatā, kirāti anussavatthe nipāto. Dibbena kira āyunā aṭṭīyathāti evamassa sambandho veditabbo. Pageva kho panāti paṭhamataraṃyeva.
Trong bài Kinh thứ tám, phiền muộn: Các vị có thể là người bị sự ngán ngẩm và bức bách. Hổ thẹn: nên xấu hổ/ngượng ngùng. Chán ghét: Nên sanh tâm ghê tởm trong lời nói đó, giống như sự ghê tởm đối với phân vậy. Ở đây, từ ‘Iti’ trong câu ‘Iti kira’ nên hiểu đó là sự mỹ lệ, chải chuốt của văn tự bởi sự liên kết các từ. Từ ‘kira’ là phân từ, được dùng với ý nghĩa được truyền tụng qua nhiều người/qua nhiều đời. Từ ‘kira’ ấy nên được biết việc liên kết ý nghĩa như vầy rằng: “Nghe nói các ngươi có thể bị phiền muộn bởi thọ mạng ở Thiên giới. Còn nói gì nữa: đồng nghĩa với ‘paṭhamatara’.
2-9. Giải Thích Bài Kinh Người Buôn Bán thứ nhất
19. Navame pāpaṇikoti āpaṇiko, āpaṇaṃ ugghāṭetvā bhaṇḍavikkāyakassa[55] vāṇijassetaṃ adhivacanaṃ. Abhabboti abhājanabhūto[56]. Nasakkaccaṃ kammantaṃ adhiṭṭhātīti yathā adhiṭṭhitaṃ suadhiṭṭhitaṃ hoti, evaṃ sayaṃ attapaccakkhaṃ karonto nādhiṭṭhāti. Tattha paccūsakāle padasaddena uṭṭhāya dīpaṃ jāletvā bhaṇḍaṃ pasāretvā anisīdanto pubbaṇhasamayaṃ na sakkaccaṃ kammantaṃ adhiṭṭhāti nāma.
Trong bài Kinh thứ chín, người buôn bán: Người buôn bán trong chợ, người buôn bán đó là tên gọi của người buôn bán mở gian hàng bán đồ. Không thể: Là người không đủ khả năng/là người không thích hợp. Không chú tâm sắp xếp công việc chu đáo: Công việc quyết định làm như thế nào là khéo quyết định, trong khi làm không quyết định đã được chính bản thân xem xét bằng cách ấy. Ở đấy, vào sáng sớm tinh mơ, người buôn bán đã thức dậy do tiếng bước chân, sau khi thắp đèn nhưng đã không ngồi sắp xếp hàng hóa, gọi là không chú tâm sắp xếp công việc chu đáo vào buổi sáng.
Ayaṃ hi yaṃ corā rattiṃ bhaṇḍaṃ haritvā ‘‘idaṃ amhākaṃ hatthato vissajjessāmā’’ti āpaṇaṃ gantvā appena agghena denti, yampi bahuverino manussā rattiṃ nagare vasitvā pātova āpaṇaṃ gantvā bhaṇḍaṃ gaṇhanti, yaṃ vā pana janapadaṃ gantukāmā manussā pātova āpaṇaṃ gantvā bhaṇḍaṃ kiṇanti, tappaccayassa lābhassa assāmiko hoti. Aññesaṃ bhojanavelāya pana bhuñjituṃ āgantvā pātova bhaṇḍaṃ paṭisāmetvā gharaṃ gantvā bhuñjitvā niddāyitvā sāyaṃ puna āpaṇaṃ āgacchanto majjhanhikasamayaṃ na sakkaccaṃ kammantaṃ adhiṭṭhāti nāma. So hi yaṃ corā pātova vissajjetuṃ na sampāpuṇiṃsu, divākāle pana paresaṃ asañcārakkhaṇe āpaṇaṃ gantvā appagghena denti, yañca bhojanavelāya puññavanto issarā ‘‘āpaṇato idañcidañca laddhuṃ vaṭṭatī’’ti pahiṇitvā āharāpenti, tappaccayassa lābhassa assāmiko hoti.
Thật vậy, (1) những món đồ mà bọn trộm cướp được vào ban đêm, rồi vội vàng mang đến chợ với suy nghĩ: “Chúng ta sẽ bán món đồ này khỏi tay của chúng ta” nên đã bán với giá rẻ; (2) những món đồ mà nhiều người là đối thủ cạnh tranh tranh nhau mua bán vào ban đêm ở trong thành, ngay từ sáng sớm đã đi vào chợ để mua; (3) những món đồ mà những người có ý định đi đến vùng quê sẽ vội vã đi đến chợ từ sáng sớm để mua. Người ấy không phải là chủ sở hữu của những hàng hóa do (3) duyên ấy. Vào lúc người khác nghỉ ngơi ăn uống, anh ta cũng trở về ăn uống, tức là cất giữ hàng hóa từ sáng sớm rồi trở về nhà, sau khi ăn xong đã nằm ngủ, đến chiều mới trở lại gian hàng ở chợ lần nữa; như vậy gọi là không chú tâm sắp xếp công việc chu đáo vào buổi trưa. Bởi vì, (1) những món đồ mà bọn trộm không kịp đem bán vào sáng sớm, nhưng thời gian ban ngày vào lúc những người khác chưa qua lại (đông đúc), bọn trộm đã đi đến chợ rồi bán lại với giá rẻ; (2) những món đồ mà người quyền quý có phước báu được đem lại vào giờ ăn với lời dặn rằng: “Thích hợp có được thứ này và thứ này từ chợ.” Người ấy không phải là chủ sở hữu của những hàng hóa do (2) duyên ấy.
Yāva yāmabherinikkhamanā[57] pana antoāpaṇe dīpaṃ jālāpetvā anisīdanto sāyanhasamayaṃ na sakkaccaṃ kammantaṃ adhiṭṭhāti nāma. So hi yaṃ corā pātopi divāpi vissajjetuṃ na sampāpuṇiṃsu, sāyaṃ pana āpaṇaṃ gantvā appagghena denti, tappaccayassa lābhassa assāmiko hoti.
Còn vào buổi chiều, cho đến thời gian người ta đánh trống báo canh, anh ta lại không thắp đèn ngồi bên trong gian hàng ở chợ; như vậy gọi là không chú tâm sắp xếp công việc chu đáo vào buổi chiều. Bởi vì, những món đồ mà bọn trộm cướp được nhưng không kịp bán vào buổi sáng và buổi trưa, mà đã trở lại gian hàng ở chợ vào buổi chiều rồi bán lại với giá rẻ. Người ấy không phải là chủ sở hữu của những hàng hóa do duyên ấy.
Na sakkaccaṃ samādhinimittaṃ adhiṭṭhātīti sakkaccakiriyāya samādhiṃ na samāpajjati. Ettha ca pātova cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇesu vattaṃ katvā senāsanaṃ pavisitvā yāva bhikkhācāravelā, tāva samāpattiṃ appetvā anisīdanto pubbaṇhasamayaṃ na sakkaccaṃ samādhinimittaṃ adhiṭṭhāti nāma. Pacchābhattaṃ pana piṇḍapātapaṭikkanto rattiṭṭhānadivāṭṭhānaṃ pavisitvā yāva sāyanhasamayā samāpattiṃ appetvā anisīdanto majjhanhikasamayaṃ na sakkaccaṃ samādhinimittaṃ adhiṭṭhāti nāma. Sāyaṃ pana cetiyaṃ vanditvā therūpaṭṭhānaṃ katvā senāsanaṃ pavisitvā paṭhamayāmaṃ samāpattiṃ samāpajjitvā anisīdanto sāyanhasamayaṃ na sakkaccaṃ samādhinimittaṃ adhiṭṭhāti nāma. Sukkapakkho vuttapaṭipakkhanayeneva veditabbo. Apicettha ‘‘samāpattiṃ appetvā’’ti vuttaṭṭhāne samāpattiyā asati vipassanāpi vaṭṭati, samādhinimittanti ca samādhiārammaṇampi vaṭṭatiyeva. Vuttampi cetaṃ – ‘‘samādhipi samādhinimittaṃ, samādhārammaṇampi[58] samādhinimitta’’nti.
Không có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng: Vị Tỳ-khưu không nhập định bằng trạng thái thực hành không nghiêm trang. Và ở đây, vào buổi sáng, sau khi làm các phận sự ở khu vực Bảo điện và ở khu vực cây Bồ-đề, vị Tỳ-khưu đã đi vào trú xứ chừng nào (đến) thời gian đi khất thực, chừng ấy (vị ấy) không ngồi nhập định; như vậy gọi là không có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng vào buổi sáng. Còn sau bữa ăn, trong khi trở về sau khi khất thực, rồi đi vào nơi nghỉ đêm và nơi nghỉ ngày nhưng lại không ngồi nhập định cho đến chiều tối; như vậy gọi là không có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng vào buổi trưa. Ngoài ra, vào buổi chiều, sau khi đảnh lễ Bảo tháp (vị ấy) đã làm các phận sự phụng sự Trưởng lão, rồi đi vào chỗ trú ngụ nhưng lại không ngồi nhập định trong suốt canh đầu; như vậy gọi là không có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng vào buổi chiều. Còn phần trắng (Pháp trắng), nên được hiểu theo phương thức đối nghịch với những điều đã nói. Hơn nữa, ở đây, ở chỗ ngài nói là “nhập định”, khi không có định thì Minh sát cũng phù hợp; và ở chỗ được ngài nói là “định tướng”, thì ngay cả đối tượng của định cũng đều phù hợp. Và điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói rằng— “Ngay cả định cũng gọi là định tướng, ngay cả đối tượng của định cũng gọi là định tướng.”
2-10. Giải Thích Bài Kinh Người Buôn Bán thứ hai
20. Dasame cakkhumāti paññācakkhunā cakkhumā hoti. Vidhuroti visiṭṭhadhuro uttamadhuro ñāṇasampayuttena vīriyena samannāgato. Nissayasampannoti avassayasampanno patiṭṭhānasampanno. Paṇiyanti vikkāyikabhaṇḍaṃ. Ettakaṃ mūlaṃ bhavissati ettako udayoti tasmiṃ ‘‘evaṃ kītaṃ evaṃ vikkāyamāna’’nti[59] vuttapaṇiye yena kayena taṃ kītaṃ, taṃ kayasaṅkhātaṃ[60] mūlaṃ ettakaṃ bhavissati. Yo ca tasmiṃ vikkayamāne vikkayo, tasmiṃ vikkaye ettako udayo bhavissati, ettikā vaḍḍhīti attho.
Trong bài Kinh thứ mười, có mắt: Người buôn bán có Tuệ nhãn. Có phận sự tốt đẹp: Là người có nhiệm vụ quan trọng, là có nhiệm vụ cao nhất; cụ thể là được thành tựu với sự tinh tấn tương ưng trí. Đầy đủ pháp nương nhờ: Thành tựu sự nâng đỡ, tức là thành tựu nơi trú ngụ. Hàng hóa: Hàng hóa để buôn bán. Sẽ có tiền vốn (tiền đầu tư) khoảng chừng này, có tiền lãi chừng này: Hàng hóa được mua về, bằng cách thức mua bán được Đức Thế Tôn nói như sau: “Mua như thế này, bán như thế này”, hàng hóa đó được tính là vốn, tức là số lượng mua vào bằng chừng này; khi bán số hàng hóa ấy đi, trong việc buôn bán hàng hóa sẽ có lợi nhuận bằng chừng này, tức là gia tăng thêm bằng chừng này.
Kusalo hoti paṇiyaṃ ketuñca vikketuñcāti sulabhaṭṭhānaṃ gantvā kiṇanto dullabhaṭṭhānaṃ gantvā vikkiṇanto ca ettha kusalo nāma hoti, dasaguṇampi vīsatiguṇampi lābhaṃ labhati.
Người thương gia khéo léo mua và bán các thương phẩm: Người thương nhân khôn ngoan đi mua hàng hóa ở nơi hàng hóa dễ tìm, rồi đem bán ở nơi hàng hóa khó tìm, người ấy được gọi là người khéo léo trong trường hợp này.” Người ấy đạt được lợi nhuận lên đến 10 lần, thậm chí đến 20 lần.
Aḍḍhāti issarā bahunā nikkhittadhanena samannāgatā. Mahaddhanāti vaḷañjanakavasena mahaddhanā. Mahābhogāti upabhogaparibhogabhaṇḍena mahābhogā. Paṭibaloti kāyabalena ceva ñāṇabalena ca samannāgatattā samattho. Amhākañca kālena kālaṃ anuppadātunti amhākañca gahitadhanamūlikaṃ vaḍḍhiṃ[61] kālena kālaṃ anuppadātuṃ. Nipatantīti[62] nimantenti. Nipātentītipi pāṭho, ayameva attho.
Giàu có: Người quyền quý, người thành tựu với tài sản đã được tích lũy nhiều. Có tài sản lớn: Người có nhiều tài sản về phương diện các vật dụng sử dụng. Có nhiều của cải: Người có nhiều của cải với các vật dụng để hưởng dùng và sử dụng. Có thể: Được gọi là người có khả năng vì trạng thái thành tựu bởi thân lực (sức mạnh của thân) và trí lực (sức mạnh của trí). Có đủ sức cấp dưỡng vợ con, và thường trả tiền lời cho chúng ta đúng thời gian quy định: Nhằm tăng thêm tiền lãi phát sanh từ số vốn đã vay mượn của chúng ta theo đúng thời gian quy định. Thỉnh mời: mời mọc. Chánh văn Pāḷī cũng có ghi chép là ‘nipātenti’ cũng có, và từ này cũng có ý nghĩa tương tự.
Kusalānaṃ dhammānaṃ upasampadāyāti kusaladhammānaṃ sampādanatthāya paṭilābhatthāya. Thāmavāti ñāṇathāmena samannāgato. Daḷhaparakkamoti thirena ñāṇaparakkamena samannāgato. Anikkhittadhuroti ‘‘aggamaggaṃ apāpuṇitvā imaṃ vīriyadhuraṃ na ṭhapessāmī’’ti evaṃ aṭṭhapitadhuro.
Làm cho sanh khởi các pháp thiện: Đưa đến sự thành tựu trọn vẹn, tức là để đạt được các Thiện pháp. Có sự kiên quyết: Thành tựu bởi trí lực. Có sự nỗ lực vững chãi: Thành tựu sự nỗ lực, vững chắc với trí. Không có từ bỏ gánh nặng: Đã không đặt xuống gánh nặng như vầy (trách nhiệm/nhiệm vụ) rằng: “Khi còn chưa đạt được đạo lộ tối thắng, ta sẽ không đặt xuống trách nhiệm (gánh nặng) là sự tinh tấn này”.
Bahussutāti ekanikāyādivasena bahu buddhavacanaṃ sutaṃ etesanti bahussutā. Āgatāgamāti eko nikāyo eko āgamo nāma, dve nikāyā dve āgamā nāma, pañca nikāyā pañca āgamā nāma, etesu āgamesu yesaṃ ekopi āgamo āgato paguṇo pavattito[63], te āgatāgamā nāma. Dhammadharāti suttantapiṭakadharā. Vinayadharāti vinayapiṭakadharā. Mātikādharāti dvemātikādharā. Paripucchatīti atthānatthaṃ kāraṇākāraṇaṃ pucchati. Paripañhatīti ‘‘imaṃ nāma pucchissāmī’’ti aññāti tuleti pariggaṇhāti. Sesamettha uttānatthameva.
Người nghe nhiều: Được gọi là vị nghe nhiều/đa văn bởi vì có Phật ngôn được nghe nhiều bởi có khả năng ghi nhớ một bộ Nikāya hoặc hai bộ Nikāya, v.v. Bậc thông suốt Kinh điển: Một bộ Nikāya gọi là Āgama, hai bộ Nikāya gọi là hai Āgama, năm bộ Nikāya gọi là năm Āgama. Trong số năm Āgama này, người nào có được/đạt được dù chỉ một Āgama tức là có sự hiểu biết rành rẽ, có được sự tôn kính (dù chỉ một Āgama), những người ấy đều được gọi là bậc thông suốt Kinh điển. Rành rẽ về Pháp[64]: Vị có sự ghi nhớ Tạng Kinh. Rành rẽ về Luật[65]: Vị có sự ghi nhớ Tạng Luật. Rành rẽ về các tiêu đề[66]: Vị có sự ghi nhớ cả hai tiêu đề (tức giới bổn Patimokkha của Tỳ-khưu và Tỳ-khưu-ni). Vấn hỏi: Hỏi han đến điều có lợi ích và điều không có lợi ích, về điều có lý do và điều không có lý do. Chất vấn: Biết, thẩm tra, nắm vững rằng “Ta sẽ hỏi về Pháp và Luật này”. Ý nghĩa còn lại trong bài Kinh đều đơn giản/dễ hiểu.
Imasmiṃ pana sutte paṭhamaṃ paññā āgatā, pacchā vīriyañca kalyāṇamittasevanā ca. Tattha paṭhamaṃ arahattaṃ patvā pacchā vīriyaṃ katvā kalyāṇamittā sevitabbāti na evaṃ attho daṭṭhabbo, desanāya nāma heṭṭhimena vā paricchedo hoti uparimena vā dvīhipi vā koṭīhi. Idha pana uparimena paricchedo veditabbo. Tasmā kathentena paṭhamaṃ kalyāṇamittaupanissayaṃ dassetvā majjhe vīriyaṃ dassetvā pacchā arahattaṃ kathetabbanti.
Hơn nữa, trong bài Kinh này, Tuệ đã đến trước, còn sự tinh tấn và việc thân cận bậc thiện hữu đến sau. Ở đó, không nên hiểu ý nghĩa như vầy: “Chứng đắc quả vị A-la-hán trước, mới thực hành sự tinh tấn và nên thân cận bậc thiện hữu sau.” Theo lẽ thường, việc thuyết giảng Giáo Pháp có sự giới hạn ở hạ phần (sơ cấp), ở thượng phần (cao cấp), hoặc cả hai giới hạn. Nhưng trong bài Kinh này, nên hiểu biết rằng chỉ có sự giới hạn ở thượng phần (cao cấp). Do đó, khi trình bày về nơi nương nhờ và bậc thiện hữu trước, thì mới trình bày về sự tinh tấn ở giữa, và sau cùng mới trình bày về quả vị A-la-hán.
Phẩm Người Đóng Xe – được kết thúc
[1] Vaḷañjamusāvādo (Sī)
[2] Sārāṇīyāni hontīti (Sī)
[3] Apammussanakāni (Sī, Syā)
[4] Sati (Ka)
[5] Na pammussati (Sī)
[6] āsaṃsamāno (Syā), āsisamāno (Ka)
[7] lakuṇṭako (Sī)
[8] Ekacchikāṇo vā ubhayacchikāṇo (Sī)
[9] Jātatāya (Sī, Syā)
[10] Jeṭṭho sopi (Sī)
[11] macalappatto (sī. pī.)
[12] Abhiseke (Syā), abhisekena (Ka)
[13] Mantayante disvā (Ka)
[14] Sañjātarāgādīhi (Syā, Ka)
[15] ( ) natthi Sī-Syā-potthakesu
[16] Cattāri saṅgahavatthūni: dānaṃ, peyyavajjaṃ, atthacariyaṃ, samānattatā. Bốn việc làm thu phục (Tứ Nhiếp Pháp): việc bố thí, lời nói đáng yêu, hành vi có lợi ích, việc bình đẳng.
[17] Dhammiko: đúng pháp (HT TMC)
[18] Evameva (Syā, Ka)
[19] Kuntamiva (Sī, Syā)
[20] (saṃ. ni. 5.385)
[21] (saṃ. ni. 5.385)
[22] Uggaṇhitabbā (Ka)
[23] Anuyuttakhattiyā (Sī)
[24] Nigamavāsino janapadavāsino (Ka)
[25] Ettakā kālā vītivattā (Syā)
[26] Ṭhapitamiva maññāmi (Ka)
[27] Apaṇṇakaṃ paṭipadanti (Sī)
[28] Aviraddha paṭipadaṃ (Sī, Syā, Ka)
[29] jā. 1.1.1
[30] Nibbattitvā (Sī)
[31] (ma. ni. 1.152)
[32] (ma. ni. 3.226)
[33] (ma. ni. 2.457; dha. pa. 396)
[34] (a. ni. 10.61)
[35] (dī. ni. 3.182)
[36] (a. ni. 4.36)
[37] (pārā. 39; a. ni. 2.202-230)
[38] Ābhidhammikanayena (Sī)
[39] (pārā. 39; a. ni. 2.202-230)
[40] (saṃ. ni. 4.321)
[41] (cūḷani. jatukaṇṇimāṇavapucchāniddeso 69; paṭi. ma. 1.107)
[42] (dha. sa. 1102-1106; vibha. 937)
[43] (a. ni. 6.63)
[44] (a. ni. 6.58)
[45] (ma. ni. 1.14 ādayo)
[46] (ma. ni. 1.15; saṃ. ni. 2.23; itivu. 102)
[47] (itivu. 62)
[48] (ma. ni. 1.438)
[49] (dha. pa. 253)
[50] Ṭhapitamātikaṃ paṭipāṭiyā (Sī)
[51] ṭhapesi (Ka)
[52] (visuddhi. 1.15)
[53] (visuddhi. 1.18)
[54] Uccalitvā (Sī)
[55] Vikkāyakassa (Ka)
[56] Abhabbajanabhūto (Syā)
[57] Yāva sāmino nikkhamanā (Ka)
[58] Samādhārammaṇopi dhammo (Ka)
[59] Vuttaṃ pāpaṇiyena kayena taṃ taṃ kītasaṅkhātaṃ (Ka)
[60] Vuttaṃ pāpaṇiyena kayena taṃ taṃ kītasaṅkhātaṃ (Ka)
[61] Vaḍḍhetvā (Ka)
[62] Nivattantītipi (Sī), nipadantītipi (Syā)
[63] Pavattati (Sī)
[64] Dhammadharā: Trì Pháp (HT TMC)
[65] Vinayadharā: Trì Luật (HT TMC)
[66] Mātikādharā: Trì Toát yếu (HT TMC)