01. GIẢI THÍCH CHƯƠNG BA PHÁP – Giải thích Phẩm Người Ngu
01 – Phẩm Người Ngu
1-1. Giải Thích Bài Kinh Sợ Hãi
1. Tikanipātassa paṭhame bhayānītiādīsu bhayanti cittutrāso. Upaddavoti anekaggatākāro. Upasaggoti upasaṭṭhākāro tattha tattha lagganākāro.
Bài Kinh thứ nhất của chương ba Pháp– Sợ hãi, v.v, sự hốt hoảng của tâm gọi là sợ hãi. Biểu hiện không chuyên nhất của tâm gọi là bất hạnh. Biểu hiện tâm bị bức hại, biểu hiện tâm bị dính mắc ở đối tượng này đối tượng nọ gọi là nguy cơ.
Tesaṃ evaṃ nānattaṃ veditabbaṃ – pabbatavisamanissitā corā janapadavāsīnaṃ pesenti – ‘‘mayaṃ asukadivase nāma tumhākaṃ gāmaṃ paharissāmā’’ti[1]. Te taṃ pavattiṃ sutakālato paṭṭhāya bhayaṃ santāsaṃ āpajjanti. Ayaṃ cittutrāso nāma. ‘‘Yathā no te[2] corā kupitā anatthampi āvaheyyu’’nti[3] hatthasāraṃ gahetvā dvipadacatuppadehi saddhiṃ araññaṃ pavisitvā tattha tattha bhūmiyaṃ nipajjanti ḍaṃsamakasādīhi khajjamānā, gumbantarāni pavisantā khāṇukaṇṭake maddanti. Tesaṃ evaṃ vicarantānaṃ vikkhittabhāvo anekaggatākāro nāma. Tato coresu yathāvutte divase anāgacchantesu ‘‘tucchakasāsanaṃ bhavissati, gāmaṃ pavisissāmā’’ti saparikkhārā gāmaṃ pavisanti. Atha tesaṃ paviṭṭhabhāvaṃ ñatvā gāmaṃ parivāretvā dvāre aggiṃ datvā manusse ghātetvā corā sabbaṃ vibhavaṃ vilumpitvā gacchanti. Tesu ghātitāvasesā aggiṃ nibbāpetvā koṭṭhakacchāyābhitticchāyādīsu tattha tattha laggitvā nisīdanti naṭṭhaṃ anusocamānā. Ayaṃ upasaṭṭhākāro lagganākāro nāma.
Nên biết sự khác biệt giữa sự sợ hãi, bất hạnh và nguy cơ ấy như sau— Bọn cướp sinh sống ở các triền núi và các nơi hẻo lánh gửi tin đến người dân sống ở vùng biên địa rằng: “Chúng tôi sẽ đến cướp bóc làng của các ngươi vào ngày hôm đó.” Kể từ lúc nghe được tin ấy, dân làng sanh tâm run rẩy, sợ hãi. Đây gọi là sự hốt hoảng của tâm. – “Bọn cướp bị chúng ta làm nổi giận, chúng có thể đem đến sự bất lợi chúng ta,” sau khi vơ lấy những thứ có giá trị, đã đi vào rừng cùng với loài hai chân và bốn chân, họ nằm xuống chỗ này chỗ kia trên mặt đất, bị các loài côn trùng và muỗi mòng chít đốt, phải lẩn tránh vào giữa các bụi cây, giậm phải gốc cây và gai nhọn. Sự lộn xộn của họ khi đang đi lang thang như vậy gọi là biểu hiện không chuyên nhất của tâm. Sau đó, khi bọn cướp không đến đúng ngày như đã nói, dân làng nghĩ rằng: “Có lẽ đó chỉ là tin tức sáo rỗng, chúng ta sẽ trở về làng,” rồi chở đồ đạc trở về làng. – Lúc đó, sau khi biết dân chúng đã đi vào làng bọn cướp bao vây nơi ấy, phóng lửa tại các cửa ngõ, giết chết nhiều người, cướp bóc hết toàn bộ tài sản rồi bỏ đi. Những người còn sống sót sau cuộc tàn sát ấy đã dập tắt lửa, rồi ngồi nép vào chỗ này chỗ nọ như bóng râm nhà kho, bóng râm bức tường, v.v, để tiếc thương những điều đã mất. Đây được gọi là biểu hiện tâm bị bức hại, biểu hiện tâm bị dính mắc trong đối tượng đó.
Naḷāgārāti naḷehi channapaṭicchannaagārā. Sesasambhārā panettha rukkhamayā honti. Tiṇāgārepi eseva nayo. Kūṭāgārānīti kūṭasaṅgahitāni agārāni. Ullittāvalittānīti anto ca bahi ca littāni. Nivātānīti nivāritavātappavesāni. Phusitaggaḷānīti chekehi vaḍḍhakīhi katattā piṭṭhasaṅghāṭamhi suṭṭhu phusitakavāṭāni. Pihitavātapānānīti yuttavātapānāni. Iminā padadvayena kavāṭavātapānānaṃ niccapihitataṃ akathetvā sampattiyeva kathitā. Icchiticchitakkhaṇe pana tāni pidhīyanti ca vivarīyanti ca.
Ngôi nhà bằng lau sậy: ngôi nhà được lợp mái và che chắn bằng lau sậy. Còn các bộ phận còn lại trong ngôi nhà này thì được làm từ gỗ. Ngôi nhà bằng cỏ cũng có cách thức tương tự. Ngôi nhà có nóc nhọn: ngôi nhà được gom lại thành mái nhọn. Các ngôi nhà được trát bên trong và cả bên ngoài: Ngôi nhà được trát cả bên trong lẫn bên ngoài. Ngăn chặn được gió: Gió không lùa vào được. Các ngôi nhà có chốt cửa đóng chặt: Chốt cửa được đóng chặt vào khung cửa do đã được làm bởi người thợ thiện xảo. Cửa sổ được đóng kín: đã đóng chặt cánh cửa. Với hai cụm từ này, Đức Thế Tôn không nói đến những cánh cửa chính và cửa sổ thường bị đóng kín, mà chỉ nói đến các sự thành tựu. Hơn nữa, những cánh cửa chính và cửa sổ ấy được đóng và mở mọi lúc theo ý muốn.
Bālato uppajjantīti bālameva nissāya uppajjanti. Bālo hi apaṇḍitapuriso rajjaṃ vā oparajjaṃ vā aññaṃ vā pana mahantaṃ ṭhānaṃ patthento katipaye attanā sadise vidhavaputte mahādhutte gahetvā ‘‘etha ahaṃ tumhe issare karissāmī’’ti pabbatagahanādīni nissāya antamante gāme paharanto dāmarikabhāvaṃ jānāpetvā anupubbena nigamepi janapadepi paharati. Manussā gehāni chaḍḍetvā khemaṭṭhānaṃ patthayamānā pakkamanti. Te nissāya vasantā bhikkhūpi bhikkhuniyopi attano attano vasanaṭṭhānāni pahāya pakkamanti. Gatagataṭṭhāne bhikkhāpi senāsanampi dullabhaṃ hoti. Evaṃ catunnampi parisānaṃ bhayaṃ āgatameva hoti. Pabbajjitesupi dve bālā bhikkhū aññamaññaṃ vivādaṃ paṭṭhapetvā codanaṃ ārabhanti. Iti kosambivāsikānaṃ viya mahākalaho uppajjati. Catunnaṃ parisānaṃ bhayaṃ āgatameva hotīti evaṃ yāni kānici bhayāni uppajjanti, sabbāni tāni bālato uppajjantīti yathānusandhinā desanaṃ niṭṭhapesi.
Khởi lên từ người ngu: các tai họa/chướng ngại sanh khởi đều do y cứ kẻ ngu. Thật vậy, người không phải là bậc trí, tức là kẻ ngu trong khi ước muốn ngôi vương, ngôi phó vương hoặc khao khát địa vị quyền lực lớn lao khác, đã dụ dỗ một số ít những kẻ mồ côi cha, ngu dốt như mình rồi thuyết phục rằng: “Hãy đến đây, ta sẽ làm cho các ngươi trở thành người quyền uy.” Nương nơi núi rừng, v.v, rồi xông vào cướp bóc các làng ở vùng biên địa, tàn phá xóm làng, đánh chiếm cả thị trấn và các xứ sở theo tuần tự. Dân làng vì mong tìm nơi an toàn đã bỏ lại nhà cửa rồi ra đi. Cả các vị Tỳ-khưu lẫn các vị Tỳ-khưu-ni sống nương nhờ người dân ấy cũng phải từ bỏ nơi trú ngụ của mình rồi rời đi. Thậm chí vật thực và chỗ ở cũng trở nên khan hiếm ở tại địa điểm mà các vị ấy đã đi đến. Hiểm nạn đã đến với cả bốn Hội chúng như vậy. Luôn cả trong hàng xuất gia, hai vị Tỳ-khưu ngu muội cải vã rồi bắt đầu cáo tội lẫn nhau. Cuộc gây gổ dữ dội khởi lên giống như trường hợp của các Tỳ-khưu ở xứ Kosambī. Hiểm nạn ấy cũng xảy đến cho bốn Hội chúng. Đức Thế Tôn đã kết thúc thời pháp theo đúng sự tiếp nói rằng: “Bất kỳ hiểm nạn nào khởi lên như vậy, tất cả những hiểm nạn ấy đều phát sanh từ kẻ ngu.”
1-2. Giải Thích Bài Kinh Tướng Trạng
2. Dutiye kāyadvārādipavattaṃ kammaṃ lakkhaṇaṃ sañjānanakāraṇaṃ assāti kammalakkhaṇo. Apadānasobhanī paññāti yā paññā nāma apadānena sobhati, bālā ca paṇḍitā ca attano attano cariteneva pākaṭā hontīti attho. Bālena hi gatamaggo rukkhagacchagāmanigamādīni jhāpetvā gacchantassa indaggino gatamaggo viya hoti, jhāmaṭṭhānamattameva aṅgāramasichārikāsamākulaṃ paññāyati. Paṇḍitena gatamaggo kusobbhādayo pūretvā vividhasassasampadaṃ āvahamānena catudīpikameghena gatamaggo viya hoti. Yathā tena gatamagge udakapūrāni ceva vividhasassaphalāphalāni ca tāni tāni ṭhānāni paññāyanti, evaṃ paṇḍitena gatamagge sampattiyova paññāyanti no vipattiyoti. Sesamettha uttānatthameva.
Trong bài Kinh thứ hai, hàng động vận hành ở thân môn v.v… là tướng trạng —tức là nhân (dấu hiệu) để nhận biết kẻ ngu; kẻ ấy được gọi là ‘có hành động là tướng trạng’. Trí tuệ chói sáng trong nếp sống: Trí tuệ tốt đẹp bởi tánh hạnh được gọi là trí tuệ chói sáng trong nếp sống. Giải thích rằng: Kẻ ngu và bậc trí hiện rõ qua chính nếp sống của mỗi cá nhân. Thật vậy, con đường mà kẻ ngu đã đi qua ví như con đường mà ngọn lửa từ đám cháy rừng đã đi qua rồi thiêu rụi cây cối, bụi rậm, làng mạc, thị trấn, v.v… chỉ còn sót lại nền đất dựng nhà, phủ đầy than, muội than và tro tàn xuất hiện. Ngược lại, con đường mà bậc trí đã đi qua ví như con đường mà cơn mưa từ cả bốn phương đã đi qua rồi làm đầy các ao, hồ, v.v, mang lại sự tươi tốt cho các loại lúa gạo/ngũ cốc. Ở những nơi có nguồn nước dồi dào và các loại hoa quả, lúa gạo/ngũ cốc tươi tốt được hiện rõ trên con đường mà cơn mưa ấy đã đi qua; Tương tự như vậy, trên con đường mà bậc trí đã đi qua, chỉ có sự thành tựu, không có sự thất bại. Các từ ngữ còn lại trong bài Kinh này đều đơn giản/dễ hiểu.
1-3. Giải Thích Bài Kinh Sự Suy Nghĩ
3. Tatiye bālalakkhaṇānīti ‘‘bālo aya’’nti etehi lakkhīyati ñāyatīti bālalakkhaṇāni. Tānevassa sañjānanakāraṇānīti bālanimittāni. Bālāpadānānīti bālassa apadānāni[4]. Duccintitacintīti cintayanto abhijjhābyāpādamicchādassanavasena duccintitameva cinteti. Dubbhāsitabhāsīti bhāsamānopi musāvādādibhedaṃ dubbhāsitameva bhāsati. Dukkaṭakammakārīti karontopi pāṇātipātādivasena dukkaṭakammameva karoti. Paṇḍitalakkhaṇānītiādi vuttānusāreneva veditabbaṃ. Sucintitacintītiādīni cettha manosucaritādīnaṃ vasena yojetabbāni.
Trong bài Kinh thứ ba, tướng trạng của người ngu: tướng trạng/đặc điểm của kẻ ngu bởi vì là dấu hiệu cho mọi người xác định, nhận biết được rằng: “người này là kẻ ngu”. Chính những đặc tính ấy là nhân (dấu hiệu) để nhận biết kẻ ngu ấy, do nhân ấy mới gọi là hiện tướng của kẻ ngu. Dấu ấn của kẻ ngu: Hành vi của kẻ ngu. Kẻ ngu chỉ thích nghĩ ý nghĩ xấu xa: Kẻ ngu trong khi suy nghĩ thì chỉ thích nghĩ ý nghĩ xấu xa do tác động của tham đắm, sân độc và tà kiến. Kẻ ngu chỉ thích nói lời nói xấu xa: Luôn cả trong khi nói cũng chỉ nói những lời xấu xa được chia thành lời nói dối, v.v. Kẻ ngu chỉ thích làm hành động xấu xa: Ngay cả khi hành động cũng chỉ hành động xấu xa do tác động của việc sát sinh, v.v. Tướng trạng của người trí: Cần được hiểu thuận theo phương thức đã nói. Người trí nghĩ ý nghĩ tốt lành, v.v, trong bài kinh này cần được liên kết theo tác động của các thiện hành có ý thiện hành, v.v.
1-4. Giải Thích Bài Kinh Tội Lỗi
4. Catutthe accayaṃ accayato na passatīti attano aparādhaṃ aparādhato na passati. Accayato disvā yathādhammaṃ nappaṭikarotīti ‘‘aparaddhaṃ mayā’’ti ñatvāpi yo dhammo, taṃ na karoti, daṇḍakammaṃ āharitvā accayaṃ na deseti nakkhamāpeti. Accayaṃ desentassa yathādhammaṃ nappaṭiggaṇhātīti parassa ‘‘viraddhaṃ mayā’’ti ñatvā daṇḍakammaṃ āharitvā khamāpentassa nakkhamati. Sukkapakkho vuttapaṭipakkhato veditabbo.
Trong bài Kinh thứ tư, không nhìn thấy được tội lỗi là tội lỗi: Kẻ ngu không thấy tội lỗi của bản thân là tội lỗi. Sau khi thấy được tội lỗi là tội lỗi và không sửa đổi đúng theo Pháp: Kẻ ngu cho dù đã biết rõ rằng “ta đã có sự sai lầm”, cũng không thực hành theo đúng Pháp (tức là) tiếp nhận hình phạt rồi cũng không trình báo tội lỗi (sám hối), (tức là) không xin lỗi người khác. Trong khi nhìn thấy lỗi lầm không chấp nhận đúng theo Pháp: Khi người khác biết rằng: “Tôi đã lầm lỗi”, rồi đem hình phạt đến sám hối/xin lỗi, kẻ ngu vẫn không chịu tha lỗi. Pháp trắng: Cần được hiểu theo ý nghĩa trái nghịch lại với điều đã nói.
1-5. Giải Thích Bài Kinh Không Khéo Léo
5. Pañcame ayoniso pañhaṃ kattā hotīti ‘‘kati nu kho, udāyi, anussatiṭṭhānānī’’ti vutte ‘‘pubbenivāso anussatiṭṭhānaṃ bhavissatī’’ti cintetvā lāḷudāyitthero viya anupāyacintāya apañhameva pañhanti kattā hoti. Ayoniso pañhaṃ vissajjetā hotīti evaṃ cintitaṃ pana pañhaṃ vissajjentopi ‘‘idha, bhante, bhikkhu anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati. Seyyathidaṃ, ekampi jāti’’ntiādinā nayena soyeva thero viya ayoniso vissajjetā hoti, apañhameva pañhanti katheti. Parimaṇḍalehi padabyañjanehīti ettha padameva atthassa byañjanato padabyañjanaṃ. Taṃ akkharapāripūriṃ katvā dasavidhaṃ byañjanabuddhiṃ aparihāpetvā vuttaṃ parimaṇḍalaṃ nāma hoti, evarūpehi padabyañjanehīti attho. Siliṭṭhehīti padasiliṭṭhatāya siliṭṭhehi. Upagatehīti atthañca kāraṇañca upagatehi. Nābbhanumoditāti evaṃ yoniso sabbaṃ kāraṇasampannaṃ katvāpi vissajjitaṃ parassa pañhaṃ nābhinumodati nābhinandati sāriputtattherassa pañhaṃ lāḷudāyitthero viya. Yathāha –
Trong bài Kinh thứ năm, đặt vấn đề không khéo léo/không đúng đường lối: kẻ ngu giải quyết vấn đề vốn không phải là vấn đề thành vấn đề do suy nghĩ không đúng đường lối; giống như, trong khi được hỏi: “Này Udāyi, có bao nhiêu đối tượng để tùy niệm?’ Trưởng lão Lāḷudāyi đã nghĩ rằng: ‘Các uẩn từng y cứ vào đời sống trước sẽ là đối tượng để tùy niệm’; Trả lời vấn đề không khéo léo: Hơn nữa, kẻ ngu trong khi trả lời vấn đề được suy nghĩ như vậy cũng trả lời một cách không khéo léo, tức là nói vấn đề vốn không phải là vấn đề là vấn đề; giống như chính vị Trưởng lão ấy (giải quyết vấn đề không khéo léo) theo phương thức sau— ‘Ở đây, bạch ngài, vị Tỳ-khưu nhớ đến các đời sống quá khứ. Tức là, một đời, v.v.” Với các câu và các chữ hòa hợp: Ở đây, chính câu từ gọi là các câu và các chữ vì làm cho ý nghĩa hiển lộ. Các câu và các chữ ấy đã làm cho các mẫu tự được đầy đủ, không làm mất ý nghĩa của mười loại văn cú được gọi là hòa hợp, giải thích rằng— ‘bằng các câu và các chữ có hình thức như vậy.’ Trơn tru chải chuốt: Trơn tru chải chuốt vì có các từ ngữ trơn tru chải chuốt. Hình thành: Đạt đến kết quả và nguyên nhân. Không hài lòng/hoan hỷ: kẻ ngu không hoan hỷ, không vui mừng trước câu hỏi/vấn đề của người khác được trả lời một cách khéo léo như vậy— tức là lời giải đáp đã được thực hiện trọn vẹn đầy đủ về mọi phương diện; giống như Trưởng lão Lāḷudāyi đã không hoan hỷ câu hỏi/vấn đề của Trưởng lão Sāriputta. Giống như Đức Thế Tôn đã nói —
‘‘Aṭṭhānaṃ kho etaṃ, āvuso sāriputta, anavakāso, yaṃ so atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṃ[5] devānaṃ sahabyataṃ aññataraṃ manomayaṃ kāyaṃ upapanno saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi, natthetaṃ ṭhāna’’nti (a. ni. 5.166).
“Thưa Hiền giả Sāriputta, việc này là không hợp lý, là không có cơ sở rằng: “Vị Tỳ-khưu chắc chắn vượt khỏi trạng thái làm bạn với chư Thiên, vị có đoàn thực làm các món ăn, đã đạt đến một trong các tập thể chư thiên được tạo thành bởi ý, có thể nhập vào (và) có thể xuất ra khỏi diệt thọ tưởng”; sự kiện này không xảy ra.”[6]
Yoniso pañhaṃ kattātiādīsu ānandatthero viya yonisova pañhaṃ cintetvā yoniso vissajjitā hoti. Thero hi ‘‘kati nu kho, ānanda, anussatiṭṭhānānī’’ti pucchito ‘‘ayaṃ pañho bhavissatī’’ti yoniso cintetvā yoniso vissajjento āha – ‘‘idha, bhante, bhikkhu vivicceva kāmehi…pe… catutthajjhānaṃ upasampajja viharati. Idaṃ, bhante, anussatiṭṭhānaṃ evaṃbhāvitaṃ evaṃbahulīkataṃ diṭṭhadhammasukhavihārāya saṃvattatī’’ti. Abbhanumoditā hotīti tathāgato viya yoniso abbhanumoditā hoti. Tathāgato hi ānandattherena pañhe vissajjite ‘‘sādhu sādhu, ānanda, tena hi tvaṃ, ānanda, imampi chaṭṭhaṃ anussatiṭṭhānaṃ dhārehi. Idhānanda, bhikkhu satova abhikkamati satova paṭikkamatī’’tiādimāha. Chaṭṭhādīni uttānatthāneva.
Đặt vấn đề khéo léo/đúng đường lối: Bậc trí sau khi suy nghĩ câu hỏi một cách khéo léo rồi trả lời câu hỏi ấy một cách khéo léo, giống như trường hợp của Trưởng lão Ānanda. Thật vậy, Trưởng lão khi bị bậc Đạo Sư hỏi rằng: “Này Ānanda, có bao nhiêu đối tượng của sự tùy niệm?” Vị ấy đã suy nghĩ khéo léo rằng: “Đây sẽ là vấn đề.” Khi trả lời một cách khéo léo mới nói rằng: “Ở đây, bạch ngài, vị Tỳ-khưu đã tách ly khỏi các dục …như trên… đã chứng đạt và trú thiền thứ tư. Ở đây, bạch ngài, đối tượng của sự tùy niệm này được tu tập như vậy, được thực hành thường xuyên như vậy, đưa đến các sự an trú lạc ngay ở bản thể này.” Hài lòng/hoan hỷ: Bậc trí hoan hỷ một cách khéo léo giống như Đức Như Lai. Thật vậy, Như Lai khi Trưởng lão Ānanda giải đáp vấn đề, ngài đã nói rằng: “Lành thay, lành thay, này Ānanda! Nếu vậy, này Ānanda, con hãy ghi nhớ đối tượng của sự tùy niệm thứ sáu này. Ở đây, này Ānanda, vị Tỳ-khưu có niệm đi tới, có niệm đi lui,…” Bài Kinh thứ sáu, v.v, (6-7-8) đều có ý nghĩa đơn giản/dễ hiểu.
1-9. Giải Thích Bài Kinh Trừ Tiệt
9. Navame sukkapakkho pubbabhāge dasahipi kusalakammapathehi paricchinno, upari yāva arahattamaggā labbhati. Bahuñca puññaṃ pasavatīti ettha lokiyalokuttaramissakapuññaṃ kathitaṃ.
Trong bài Kinh thứ chín, phần pháp trắng ở giai đoạn ban đầu được xác định bởi thập thiện nghiệp đạo, còn ở giai đoạn cao thì đạt được cho đến A-la-hán Đạo. Và tạo nên nhiều phước báu: Ở đây, Đức Thế Tôn nói đến phước báu được xen lẫn giữa Hiệp thế và Siêu thế.
1-10. Giải Thích Bài Kinh Cấu Uế
10. Dasame dussīlabhāvo dussīlyaṃ, dussīlyameva malaṃ dussīlyamalaṃ. Kenaṭṭhena malanti? Anudahanaṭṭhena duggandhaṭṭhena kiliṭṭhakaraṇaṭṭhena ca. Tañhi nirayādīsu apāyesu anudahatīti anudahanaṭṭhenapi malaṃ. Tena samannāgato puggalo mātāpitūnampi santike bhikkhusaṅghassāpi antare bodhicetiyaṭṭhānesupi jigucchanīyo hoti, sabbadisāsu cassa ‘‘evarūpaṃ kira tena pāpakammaṃ kata’’nti avaṇṇagandho vāyatīti duggandhaṭṭhenapi malaṃ. Tena ca samannāgato puggalo gatagataṭṭhāne upatāpañceva labhati, kāyakammādīni cassa asucīni honti apabhassarānīti[7] kiliṭṭhakaraṇaṭṭhenapi malaṃ. Apica taṃ devamanussasampattiyo ceva nibbānasampattiñca milāpetīti milāpanaṭṭhenapi malanti veditabbaṃ. Issāmalaclesupi eseva nayo.
Trong bài Kinh thứ mười, bản thể của hạng người có giới tồi gọi là ác giới. Chính sự ác giới đó là bụi bặm nên mới gọi là ‘bụi bặm của ác giới’. Bụi bặm với ý nghĩa gì? – với ý nghĩa thiêu đốt, với ý nghĩa có mùi hôi thối, và với ý nghĩa làm cho lấm lem. Giải thích rằng— Bụi bặm ấy thiêu đốt chúng sanh trong các khổ cảnh như địa ngục v.v… Vì lý do đó, mới được gọi là bụi bặm với ý nghĩa thiêu đốt. Người bị lấm lem bụi bặm ấy trở thành kẻ đáng ghê tởm ngay cả trong sự hiện diện của cha mẹ, cả trong nội bộ chư Tăng, cũng như ở khu vực cây Bồ-đề và ở khu vực ngôi Bảo điện, mùi hôi thối phát ra từ sự xấu xa của kẻ ấy lan tỏa khắp mọi phương hướng rằng: “Nghe nói, kẻ ấy đã làm ác nghiệp có hình thức như thế!” Chính vì lý do ấy, mới được gọi là bụi bặm với ý nghĩa có mùi hôi thối. Và người bị lấm lem bụi bặm ấy sẽ chịu sự phiền muộn/bực mình ở tại địa điểm đã đi đến, và thân nghiệp v.v… của kẻ ấy cũng không sạch sẽ, không thanh tịnh. Chính vì lý do ấy mới gọi là bụi bặm với ý nghĩa làm cho lấm lem. Ngoài ra, bụi bặm ấy còn làm cho sự thành tựu ở cõi Trời, sự thành tựu ở cõi người và sự thành tựu Niết Bàn bị khô héo. Do đó, nên biết rằng bụi bặm với ý nghĩa làm cho khô héo. Ngay cả bụi bặm ấy là sự ghen tị và bụi bặm là sự bỏn xẻn cũng có phương thức này tương tự.
Phẩm Người Ngu thứ nhất – được kết thúc.
[1] Vilumpissāmāti (Syā, Ka)
[2] Yathā te (Sī), kathaṃ no (Syā)
[3] Kareyyunti (Syā, Ka)
[4] Bālassa caritāpadānānīti bālāpadānāni (Sī) Ma-ṭṭha 4. 149 piṭṭhepi passitabbaṃ.
[5] Kabaḷiṃkārabhakkhānaṃ (Sī)
[6] a. ni. 5.166
[7] Aparāyanānīti (Ka)