06. GIẢI THÍCH CHƯƠNG HAI PHÁP – Giải thích Phẩm VI – X

VI. Giải thích Phẩm Người (Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Hai pháp – Phẩm Người)

  1. Dutiyapaṇṇāsakassa paṭhame cakkavattinā saddhiṃ gahitattā ‘‘lokānukampāyā’’ti na vuttaṃ. Ettha ca cakkavattino uppattiyā dve sampattiyo labhanti, buddhānaṃ uppattiyā tissopi.Trong bài Kinh thứ nhất của ‘Dutiya-paṇṇāsaka’, vì (điều này) đã bao gồm cả Đức Chuyển Luân Vương, nên (Đức Thế Tôn) mới không thuyết rằng: ‘Vì lòng thương xưởng thế gian’. Và trong bài Kinh này, do sự hiện khởi của Đức Chuyển Luân Vương, chúng sanh đạt được 2 sự thành tựu (là sự thành tựu ơ cõi người và sự thành tựu ở cõi Trời). Còn sự hiện khởi của chư Phật, chúng sanh đạt được cả 3 sự thành tựu (là đạt được thêm sự thành tựu Niết Bàn).
  2. Dutiye acchariyamanussāti āciṇṇamanussā[1] abbhutamanussā.
    Trong bài Kinh thứ hai, những người vi diệu: những người tích lũy/vun bồi trọn vẹn các Ba-la-mật, những người phi thường.
  3. Tatiye bahuno janassa anutappā hotīti mahājanassa anutāpakārī hoti. Tattha cakkavattino kālakiriyā ekacakkavāḷe devamanussānaṃ anutāpaṃ karoti, tathāgatassa kālakiriyā dasasu cakkavāḷasahassesu.
    Trong bài Kinh thứ ba, đưa lại thương tiếc cho đa số: Gây ra sự thương tiếc/sự đau xót cho đám đông người. Trong số hai hạng người ấy (Đức Chuyển Luân Vương và Đức Phật), sự băng hà của Đức Chuyển Luân Vương đưa lại sự tiếc thương cho chư Thiên và nhân loại trong một thế giới. Còn sự viên tịch Niết Bàn của Đức Như Lai đưa lại sự thương tiếc cho chư Thiên và nhân loại khắp mười ngàn thế giới.
  4. Catutthe thūpārahāti thūpassa yuttā anucchavikā. Cakkavattino hi cetiyaṃ paṭijaggitvā dve sampattiyo labhanti, buddhānaṃ cetiyaṃ paṭijaggitvā tissopi.
    Trong bài Kinh thứ tư, xứng đáng xây dựng bảo tháp: Bậc xứng đáng, thích hợp cho việc dựng xây bảo tháp. Bởi vì người phụng sự bảo tháp của Đức Chuyển Luân Vương sẽ đạt được 2 sự thành tựu. Còn người phụng sự bảo tháp của chư Phật lại đạt được cả 3 sự thành tựu.
  5. Pañcame buddhāti attano ānubhāvena cattāri saccāni buddhā.
    Trong bài Kinh thứ năm, sự giác ngộ: Những bậc tự mình chứng ngộ Tứ Diệu Đế (Ariya-sacca) bằng oai lực (năng lực) của chính bản thân mình (tự giác / tự mình giác ngộ).
  6. Chaṭṭhe phalantiyāti saddaṃ karontiyā. Na santasantīti na bhāyanti. Tattha khīṇāsavo attano sakkāyadiṭṭhiyā pahīnattā na bhāyati, hatthājānīyo sakkāyadiṭṭhiyā balavattāti. Sattamaṭṭhamesupi eseva nayo.
    Trong bài Kinh thứ sáu, sấm chớp: Khi bầu trời phát ra tiếng [sấm chớp]. không khiếp sợ/không kinh hãi: Không sợ hãi vì đã dứt trừ Thân kiến. Trong số đó, bậc Lậu tận không sợ hãi do trạng thái đã dứt bỏ Thân kiến của bản thân; con voi thuần chủng không sợ hãi do có Thân kiến mạnh mẽ. Luôn cả trong bài Kinh thứ bảy, và bài Kinh thứ tám cũng có phương thức tương tự.

61. Navame kiṃpurisāti kinnarā. Mānusiṃ vācaṃ na bhāsantīti manussakathaṃ na kathenti. Dhammāsokassa kira ekaṃ kinnaraṃ ānetvā dassesuṃ. So ‘‘kathāpetha na’’nti āha. Kinnaro kathetuṃ na icchati. Eko puriso ‘‘ahametaṃ kathāpessāmī’’ti heṭṭhāpāsādaṃ otāretvā dve khāṇuke koṭṭetvā ukkhaliṃ āropesi. Sā ubhatopassehi patati. Taṃ disvā kinnaro ‘‘kiṃ aññaṃ ekaṃ khāṇukaṃ koṭṭetuṃ na vaṭṭatī’’ti ettakameva āha. Puna aparabhāge dve kinnare ānetvā dassesuṃ. Rājā ‘‘kathāpetha ne’’ti āha. Te kathetuṃ na icchiṃsu. Eko puriso ‘‘ahamete kathāpessāmī’’ti te gahetvā antarāpaṇaṃ agamāsi. Tattheko ambapakkañca macche ca addasa, eko kabiṭṭhaphalañca[2] ambilikāphalañca. Tattha purimo ‘‘mahāvisaṃ manussā khādanti, kathaṃ te kilāsino[3] na hontī’’ti āha. Itaro ‘‘kathaṃ ime etaṃ nissāya kuṭṭhino na hontī’’ti āha. Evaṃ mānusiṃ vācaṃ kathetuṃ sakkontāpi dve atthe sampassamānā na kathentīti.

Trong bài Kinh thứ chín, các loài nhân điểu: loài kim-sí-điểu. Không nói tiếng người: Không nói tiếng người. Kể rằng dân chúng đã đưa một con kim-sí-điểu đến dâng lên vua Asoka công chính. Đức vua đã nói rằng: “Các khanh hãy làm cho nó nói.” Con kim-sí-điểu ấy không muốn nói. Một người đàn ông nghĩ rằng “Ta sẽ làm cho con kim-sí-điểu này nói”, mới đưa con kim-sí-điểu xuống tầng dưới của tòa lâu đài, đóng hai cọc gỗ rồi bắc nồi cơm lên trên. Nồi cơm rơi xuống (lăn) bên này, bên kia. Sau khi nhìn thấy điều đó, kim-sí-điểu chỉ nói một lời rằng: “Đóng thêm một cái cọc nữa, chẳng phải không thích hợp sao?” Về sau, người ta lại đưa hai con kim-sí-điểu đến diện kiến. Đức vua đã nói rằng: “Các khanh hãy làm cho chúng nói.” Chúng cũng không muốn nói. Một người đàn ông nghĩ rằng: “Ta sẽ làm cho hai con kim-sí-điểu này nói”, nên mới đưa chúng ra chợ. Tại đó, một con kim-sí-điểu nhìn thấy xoài chín và cá; còn con còn lại nhìn thấy trái quách và các loại trái có vị chua. Trong số hai con kim-sí-điểu ấy, một con nói rằng: “Loài người ăn toàn đồ độc hại; làm sao mà họ không bị các bệnh ngoài da được?” Con còn lại nói rằng: “Những người này (sống) nhờ cá và các loại quả ấy, làm sao họ lại không bị phát bệnh phong hủi cho được?” Dù các kim-sí-điểu vốn không thể nói ngôn ngữ của loài người, nhưng khi nhìn thấy sức mạnh của hai điều lợi ích như đã đề cập nên mới nói vậy.

62. Dasame appaṭivānoti anukaṇṭhito apaccosakkito.
Trong bài Kinh thứ mười, không buồn chán: không chán nản, không nản chí.

63. Ekādasame asantasannivāsanti asappurisānaṃ sannivāsaṃ[4]. Na vadeyyāti ovādena vā anusāsaniyā vā na vadeyya, mā vadatūti attho. Therampāhaṃ na vadeyyanti ahampi theraṃ bhikkhuṃ ovādānusāsanivasena na vadeyyaṃ. Ahitānukampīti ahitaṃ icchamāno. No hitānukampīti hitaṃ anicchamāno. Noti naṃ vadeyyanti ‘‘ahaṃ tava vacanaṃ na karissa’’nti naṃ vadeyyaṃ. Viheṭheyyanti[5] vacanassa akaraṇena viheṭheyyaṃ. Passampissa nappaṭikareyyanti passantopi jānantopi ahaṃ tassa[6] vacanaṃ na kareyyaṃ. Iminā upāyena sabbattha attho veditabbo. Sukkapakkhe pana sādhūti naṃ vadeyyanti ‘‘sādhu bhaddakaṃ sukathitaṃ tayā’’ti tassa kathaṃ abhinandanto naṃ vadeyyanti attho.
Trong bài Kinh thứ mười một, về sự cộng trú của người bất thiện: việc cộng trú của những hạng người phi chân nhân. không nên khuyên răn: Giải thích rằng– không nên khuyên răn, chớ nói bằng sự giáo huấn, bằng sự chỉ dạy. Và ta cũng không khuyên răn vị Trưởng lão: Ngay cả ta cũng không nên khuyên răn Trưởng lão bằng sự giáo huấn, bằng sự chỉ dạy. Cũng không mong muốn điều lợi ích: Mong muốn điều không lợi ích. Không phải vì hạnh phúc cho ta: Không mong muốn điều lợi ích. Ta sẽ nói với vị ấy ‘không làm’: Ta nên nói với vị ấy rằng– “Tôi sẽ không làm theo lời nói của ngài”. Có thể quấy nhiễu: Có thể bị quấy rầy/làm phiền bởi lý do từ lời nói ấy. Ngay cả khi nhận thấy cũng không làm theo lời hướng dẫn của vị ấy: Cho dù ta thấy hay biết cũng sẽ không làm theo lời nói của người ấy. Nên hiểu ý nghĩa trong tất cả các câu/cụm từ [còn lại] theo phương thức này. Về phương diện Pháp trắng, ta có thể nói với ngài rằng ‘lành thay!’: Khi ta tán dương lời nói của vị ấy, nên nói rằng: ‘Lành thay! Tốt lành! Ngài đã khéo giảng giải.”

64. Dvādasame ubhato vacīsaṃsāroti dvīsupi pakkhesu aññamaññaṃ akkosanapaccakkosanavasena saṃsaramānā vācā vacīsaṃsāro. Diṭṭhipaḷāsoti diṭṭhiṃ nissāya uppajjanako yugaggāhalakkhaṇo paḷāso diṭṭhipaḷāso nāma. Cetaso āghātoti kopo. So hi cittaṃ āghātento uppajjati. Appaccayoti atuṭṭhākāro, domanassanti attho. Anabhiraddhīti kopoyeva. So hi anabhirādhanavasena anabhiraddhīti vuccati. Ajjhattaṃ avūpasantaṃ hotīti sabbampetaṃ niyakajjhattasaṅkhāte attano citte ca saddhivihārikaantevāsikasaṅkhātāya attano parisāya ca avūpasantaṃ hoti. Tasmetanti tasmiṃ etaṃ. Sesaṃ vuttanayeneva veditabbanti.
Trong bài Kinh thứ mười hai, có lời qua lại tiếng lại: Có lời qua tiếng lại từ hai phía do tác động của việc mắng chửi và sự mắng trả lại gọi là có lời qua lại tiếng lại. Sự cạnh tranh do quan điểm[7]: Sự cạnh tranh có đặc điểm so sánh theo cặp, vốn sanh khởi do nương tựa vào mãnh lực của tà kiến (quan điểm sai lệch). Có tâm hiềm hận: sự giận dữ. Thật vậy, sự phẫn nộ ấy khởi lên khiến tâm hiềm hận sanh khởi. Sự không hài lòng: Trạng thái không hoan hỷ; giải thích rằng– ưu phiền. Sự không thỏa mãn: Chính là sự giận dữ. Thật vậy, sự giận dữ ấy được gọi là ‘sự không thỏa mãn’ do tác động không làm cho vừa lòng. Nội tâm không được vắng lặng: Toàn bộ sự việc không được an tĩnh ở bên trong nội tâm của chính mình và trong Hội chúng của mình — là các đệ tử và các học trò. Tasmetaṃ = tasmiṃ etaṃ [thời sự tranh tụng ấy]. Các từ ngữ còn lại nên được hiểu theo phương thức đã được đề cập.

VII. Giải Thích Phẩm Lạc (Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Hai pháp – Phẩm Lạc)

65. Dutiyassa paṭhame gihisukhanti gihīnaṃ sabbakāmanipphattimūlakaṃ sukhaṃ. Pabbajitasukhanti[8] pabbajitānaṃ pabbajjāmūlakaṃ sukhaṃ.
Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm thứ hai, lạc tại gia: tất cả mọi sự an lạc của các người cư sĩ có sự thành tựu các dục làm gốc. lạc xuất gia: sự an lạc có việc xuất gia là gốc.

66. Dutiye kāmasukhanti kāme ārabbha uppajjanakasukhaṃ. Nekkhammasukhanti nekkhammaṃ vuccati pabbajjā, taṃ ārabbha uppajjanakasukhaṃ.
Trong bài Kinh thứ hai, việc say đắm về dục lạc: sự an lạc được sanh khởi do liên quan đến dục. Đối với lạc của sự xuất gia: Sự xuất gia được gọi là ‘sự xuất ly’; sự an lạc được sanh khởi do liên quan đến sự xuất ly ấy.

67. Tatiye upadhisukhanti tebhūmakasukhaṃ. Nirupadhisukhanti lokuttarasukhaṃ.
Trong bài Kinh thứ ba, lạc sanh y (lạc có bản thể của sự tái sanh): Lạc vận hành trong ba cõi. Lạc không sanh y (lạc không có bản thể của sự tái sanh): Lạc thuộc Siêu thế.

68. Catutthe sāsavasukhanti āsavānaṃ paccayabhūtaṃ vaṭṭasukhaṃ. Anāsavasukhanti tesaṃ apaccayabhūtaṃ vivaṭṭasukhaṃ.
Trong bài Kinh thứ tư, lạc có lậu hoặc: Lạc trong luân hồi có trạng thái là duyên cho các lậu hoặc. lạc không có lậu hoặc: Lạc trong Niết Bàn không có trạng thái là duyên cho các lậu hoặc ấy.

69. Pañcame sāmisanti saṃkilesaṃ vaṭṭagāmisukhaṃ. Nirāmisanti nikkilesaṃ vivaṭṭagāmisukhaṃ.
Trong bài Kinh thứ năm, (lạc) thuộc vật chất: lạc thuộc vật chất dẫn đến luân hồi, có sự ô nhiễm. (lạc) không thuộc vật chất: lạc không thuộc vật chất dẫn đến xuất luân hồi (Niết Bàn), không ô nhiễm.

70. Chaṭṭhe ariyasukhanti aputhujjanasukhaṃ. Anariyasukhanti puthujjanasukhaṃ.
Trong bài Kinh thứ sáu, lạc của bậc Thánh: Lạc của bậc Thánh nhân. Lạc của người không phải bậc Thánh: Lạc của hạng phàm nhân.

71. Sattame kāyikanti kāyaviññāṇasahajātaṃ. Cetasikanti manodvārikasukhaṃ. Taṃ lokiyalokuttaramissakaṃ kathitaṃ.
Trong bài Kinh thứ bảy, lạc thuộc thân: Lạc đồng sanh với thân thức. lạc thuộc tâm: Lạc sanh khởi ở lộ ý môn. Đức Thế Tôn thuyết đan xen giữa Hiệp thế và Siêu thế.

72. Aṭṭhame sappītikanti paṭhamadutiyajjhānasukhaṃ. Nippītikanti tatiyacatutthajjhānasukhaṃ. Tattha lokiyasappītikato lokiyanippītikaṃ, lokuttarasappītikato ca lokuttaranippītikaṃ agganti evaṃ bhummantaraṃ[9] abhinditvā aggabhāvo veditabbo.
Trong bài Kinh thứ tám, lạc có hỷ: Lạc trong Sơ thiền và Nhị thiền. lạc không có hỷ: Lạc trong Tam thiền và Tứ thiền. Trong số hai loại lạc ấy, nên hiểu tính chất thù thắng không phân chia như sau: lạc không có hỷ thuộc Thế gian thù thắng hơn lạc có hỷ thuộc thế gian; và lạc không có hỷ thuộc Siêu thế thù thắng hơn lạc có hỷ thuộc Siêu thế.

73. Navame sātasukhanti tīsu jhānesu sukhaṃ. Upekkhāsukhanti catutthajjhānasukhaṃ.
Trong bài Kinh thứ chín, lạc có hân hoan: Lạc ở cả ba tầng Thiền. Lạc có xả: Lạc trong Tứ thiền.

74. Dasame samādhisukhanti appanaṃ vā upacāraṃ vā pattasukhaṃ. Asamādhisukhanti tadubhayaṃ appattasukhaṃ.
Trong bài Kinh thứ mười, lạc có định: Lạc đạt được cận định và an chỉ định. lạc không có định: Lạc không đạt đến cả hai trạng thái đó.

75. Ekādasame sappītikārammaṇanti sappītikaṃ jhānadvayaṃ paccavekkhantassa uppannasukhaṃ. Nippītikārammaṇepi eseva nayo. Dvādasamepi imināva upāyena attho veditabbo.
Trong bài Kinh thứ mười một, sanh khởi từ thiền có hỷ làm đối tượng: lạc khởi lên cho người quán sát cả hai tầng thiền có hỷ làm đối tượng. Ngay cả trong các tầng thiền không có hỷ làm đối tượng cũng có phương thức tương tự. Trong bài Kinh thứ mười hai, cũng nên hiểu ý nghĩa theo phương thức tương tự.

77. Terasame rūpārammaṇanti rūpāvacaracatutthajjhānārammaṇaṃ, yaṃkiñci rūpaṃ ārabbha uppajjanakaṃ vā. Arūpārammaṇanti arūpāvacarajjhānārammaṇaṃ[10], yaṃkiñci arūpaṃ ārabbha uppajjanakaṃ vāti.
Trong bài Kinh thứ mười mười ba, có thiền sắc giới làm cảnh: Có Tứ thiền sắc giới làm đối tượng, hoặc liên quan đến bất kỳ đối tượng sắc nào đó sanh khởi. Có thiền Vô sắc giới làm cảnh: Có thiền Vô sắc giới làm đối tượng, hoặc liên quan đến đối tượng Vô sắc nào đó sanh khởi.

VIII. Giải Thích Phẩm Hình Tướng (Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Hai pháp – Phẩm Hình Tướng)

78-79. Tatiyassa paṭhame sanimittāti sakāraṇā. Dutiyādīsupi eseva nayo. Nidānaṃ hetu saṅkhāro paccayo rūpanti sabbānipi hi etāni kāraṇavevacanāneva.
Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm thứ ba, có hình tướng: có lý do. Luôn cả bài Kinh thứ hai, cũng có phương thức tương tự. Tất cả các từ là ‘nhân duyên, nhân, hành, duyên, và sắc’ đều là những từ đồng nghĩa của từ kāraṇa (nguyên nhân/ly do).

84. Sattame savedanāti paccayabhūtāya sampayuttavedanāya satiyeva uppajjanti, nāsatīti attho. Aṭṭhamanavamesupi eseva nayo.
Trong bài Kinh thứ bảy, có thọ: khi có chính tương tưng thọ làm duyên thì các pháp là xấu ác mới sanh khởi, khi không có sẽ không khởi. Luôn cả trong bài Kinh thứ tám và bài Kinh thứ chín cũng có phương thức tương tự.

87. Dasame saṅkhatārammaṇāti paccayanibbattaṃ saṅkhatadhammaṃ ārammaṇaṃ katvāva uppajjanti. No asaṅkhatārammaṇāti asaṅkhataṃ pana nibbānaṃ ārabbha na uppajjanti. Na hontīti maggakkhaṇe na honti nāma, phale patte nāhesunti. Evametesu[11] dasasupi ṭhānesu yāva arahattā desanā desitāti.
Trong bài Kinh thứ mười, có Pháp hành là đối tượng: Các pháp ác bất thiện sanh khởi vì làm cho các Pháp hành sanh khởi bởi duyên trở thành đối tượng. Không có Pháp hành làm đối tượng, không sanh khởi: Tuy nhiên, các Pháp ác bất thiện không sanh khởi vì liên quan đến Niết Bàn—là Pháp vô vi. Không có mặt: Ở sát-na của (Thánh) Đạo, các Pháp ác bất thiện là không tồn tại, khi đạt được (Thánh) Quả cũng gọi là không tồn tại. Cả mười bài kinh này, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng Giáo pháp tuần tự cho đến bản thể A-la-hán như vậy.

VIX. Giải Thích Phẩm Pháp (Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Hai pháp – Phẩm Pháp)

88. Catutthassa paṭhame cetovimuttīti phalasamādhi. Paññāvimuttīti phalapaññā.
Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm thứ tư, sự giải thoát của tâm[12]: Định tương ưng với Quả. Sự giải thoát của tuệ[13]: Tuệ tương ưng với Quả.

89. Dutiye paggāhoti vīriyaṃ. Avikkhepoti cittekaggatā.
Trong bài Kinh thứ hai, sự nỗ lực: sự tinh tấn. Sự không tản mạn: Trạng thái chuyên nhất của tâm.

90. Tatiye nāmanti cattāro arūpakkhandhā. Rūpanti rūpakkhandho. Iti imasmiṃ sutte dhammakoṭṭhāsaparicchedañāṇaṃ nāma kathitaṃ.
Trong bài Kinh thứ ba, Danh: cả bốn Vô sắc uẩn. Sắc: Sắc uẩn. Trong bài Kinh này, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng về trí phân định các phần của Pháp.

91. Catutthe vijjāti phalañāṇaṃ. Vimuttīti taṃsampayuttā[14] sesadhammā.
Trong bài Kinh thứ tư, Minh: Trí về Quả. Giải thoát: Các Pháp còn lại tương ưng với trí về quả ấy.

92. Pañcame bhavadiṭṭhīti sassatadiṭṭhi. Vibhavadiṭṭhīti ucchedadiṭṭhi. Chaṭṭhasattamāni uttānatthāneva.
Trong bài Kinh thứ năm, Hữu kiến: thường kiến. Phi hữu kiến: Đoạn kiến. Trong bài Kinh thứ sáu và bài Kinh thứ bảy đều có ý nghĩa đơn giản.

95. Aṭṭhame dovacassatāti dubbacabhāvo. Pāpamittatāti pāpamittasevanabhāvo. Navamaṃ vuttavipariyāyena veditabbaṃ.
Trong bài Kinh thứ tám, sự khó dạy: Tính chất khó dạy bảo. Có bạn ác: việc thân cận/kết giao với bạn ác. Trong bài Kinh thứ chín nên được hiểu theo phương thức trái ngược với những điều đã được đề cập.

97. Dasame dhātukusalatāti aṭṭhārasa dhātuyo dhātūti jānanaṃ. Manasikārakusalatāti tāsaṃyeva dhātūnaṃ aniccādivasena lakkhaṇattayaṃ āropetvā jānanaṃ.
Trong bài Kinh thứ mười, thiện xảo về giới: Biết về mười tám giới gọi là dhātu (bản chất/giới). Thiện xảo về tác ý: Biết về các giới ấy, đã đặt chúng vào hai trạng thái có trạng thái vô thường, v.v.

98. Ekādasame āpattikusalatāti pañcannañca sattannañca āpattikkhandhānaṃ jānanaṃ. Āpattivuṭṭhānakusalatāti desanāya vā kammavācāya vā āpattīhi vuṭṭhānajānananti.
Trong bài Kinh thứ mười một, thiện xảo về tội: Biết về năm nhóm tội và bảy nhóm tội. Thiện xảo về việc thoát ra khỏi tội: Nhận biết quá trình xuất khỏi các tội với việc thuyết giảng tội, (và) với việc tuyên ngôn hành sự.

X. Giải Thích Phẩm Kẻ Ngu (Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Hai pháp – Phẩm Kẻ Ngu)

99. Pañcamassa paṭhame anāgataṃ bhāraṃ vahatīti ‘‘sammajjanī padīpo ca, udakaṃ āsanena ca, chandapārisuddhiutukkhānaṃ, bhikkhugaṇanā ca ovādo, pātimokkhaṃ therabhāroti vuccatī’’ti imaṃ dasavidhaṃ therabhāraṃ navako hutvā therena anajjhiṭṭho karonto anāgataṃ bhāraṃ vahati nāma. Āgataṃ bhāraṃ na vahatīti thero samāno tameva dasavidhaṃ bhāraṃ attanā vā akaronto paraṃ vā asamādapento āgataṃ bhāraṃ na vahati nāma. Dutiyasuttepi imināva nayena attho veditabbo.
Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm thứ năm, vị hành xử trách nhiệm không được yêu cầu[15]: Vị Tỳ-khưu là vị tân Tỳ-khưu, vị Trưởng lão không được thỉnh mời cũng thực hiện mười phận sự, trong phần Chánh văn này rằng: “(1) Việc quét tước, (2) thắp sáng đèn, (3) nước (uống nước rửa), (4) chỗ ngồi, (5) việc bày tỏ sự tùy thuận và (6) đem đến sự trong sạch, (7) việc tính mùa tiết, (8) việc đếm số tỳ khưu ni (hiện diện), (9) việc thỉnh cầu sự giáo giới, và (10) đọc tụng giới bổn Pātimokkha, các việc này gọi là trách nhiệm của vị Trưởng lão.” Những việc ấy được gọi là vị hành xử trách nhiệm không được yêu cầu. Vị không hành xử trách nhiệm được yêu cầu[16]: Dù là một vị Trưởng lão, nhưng không tự mình thực hiện mười phận sự ấy, cũng không khuyến khích/động viên người khác, (vị ấy) được gọi là không hành xử trách nhiệm được yêu cầu. Cả trong bài Kinh thứ hai cũng nên được hiểu theo phương thức này.

101. Tatiye akappiye kappiyasaññīti akappiye sīhamaṃsādimhi ‘‘kappiyaṃ ida’’nti evaṃsaññī. Kappiye akappiyasaññīti kumbhīlamaṃsabiḷāramaṃsādimhi kappiye ‘‘akappiyaṃ ida’’nti evaṃsaññī. Catutthaṃ vuttanayeneva veditabbaṃ.
Trong bài Kinh thứ ba, hạng người lầm tưởng là được phép đối với việc không được phép[17]: Người có sự lầm tưởng đối với việc không được phép chẳng hạn như việc thọ dụng thịt sư tử, v.v, như vầy– “Điều này là được phép”. Hạng người lầm tưởng là không được phép đối với việc được phép[18]: Người có sự lầm tưởng đối với việc được phép chẳng hạn như thịt cá sấu và thịt mèo như vầy rằng: “Điều này là không được phép”. Cả trong bài Kinh thứ tư cũng nên được hiểu theo phương thức đã được trình bày.

103. Pañcame anāpattiyā āpattisaññīti āpucchitvā bhaṇḍakaṃ dhovantassa, pattaṃ pacantassa, kese chindantassa, gāmaṃ pavisantassātiādīsu anāpatti, tattha ‘‘āpatti aya’’nti evaṃsaññī. Āpattiyā anāpattisaññīti tesaññeva vatthūnaṃ anāpucchākaraṇe āpatti, tattha ‘‘anāpattī’’ti evaṃsaññī. Chaṭṭhepi vuttanayeneva attho veditabbo. Sattamādīni uttānatthāneva.
Trong bài Kinh thứ năm, hạng người lầm tưởng là phạm tội trong việc không phạm tội: Những việc không phải là tội, v.v, – “Vị Tỳ-khưu dọn dẹp đồ đạc, hơ lửa bình bát, cạo tóc, đi vào làng có thông báo, v.v.” Người có sự lầm tưởng về những việc đó: “Điều này là tội.” Hạng nhận biết là không phạm tội trong việc không phạm tội: [Vị Tỳ-khưu] là người có sự lầm tưởng trong các thứ tội do thực hiện không có sự thông báo đối với chính các sự việc ấy như vầy rằng: “Đây không phải là tội.” Trong bài Kinh thứ sáu, nên hiểu ý nghĩa theo phương thức đã được trình bày. Trong bài Kinh thứ bảy, (các từ ngữ) đều có ý nghĩa đơn giản.

109. Ekādasame āsavāti kilesā. Na kukkuccāyitabbanti saṅghabhogassa apaṭṭhapanaṃ avicāraṇaṃ na kukkuccāyitabbaṃ nāma, taṃ kukkuccāyati. Kukkuccāyitabbanti tasseva paṭṭhapanaṃ vicāraṇaṃ, taṃ na kukkuccāyati. Dvādasamādīni heṭṭhā vuttanayeneva veditabbānīti.
Trong bài Kinh thứ mười một, các lậu hoặc: các phiền não. Hạng người hối hận về việc không đáng hối hận: sự không ước muốn, không suy xét đối với phần thuộc về Tăng chúng được gọi là việc không đáng hối hận. Hạng người không hối hận về việc đáng hối hận: Sự ước muốn, sự suy xét trong chính điều đó, điều đó gọi không hối hận về việc đáng hối hận. Trong bài Kinh thứ mười hai, nên biết ý nghĩa theo phương thức đã được nói trước đó.

Giải Thích Phẩm Ngu – được kết thúc

Năm mươi bài Kinh thứ hai– được kết thúc

[1] Na āciṇṇamanussā (Syā), āciṇṇamanussā (?)

[2] kabiṭṭhaphalañca (Syā)

[3] Setakilāsino (Sī)

[4] asantasaṃ sannivāsanti asappurisānaṃ sannivāsaṃ (Sī)

[5] Viheseyyanti (Sī, Syā)

[6] Tava (Sī)

[7] có những quan điểm ngoan cố (HT TMC)

[8] Pabbajitāsukhanti (Sī, Syā)

[9] bhūmantaraṃ (I)

[10] arūpajjhānārammaṇaṃ (Sī)

[11] Evaṃ imesu (Sī)

[12] Tâm giải thoát

[13] Tuệ giải thoát

[14] sampayuttā (Ka)

[15] người mang gánh nặng chưa đến (HT TMC)

[16] Người không mang gánh nặng đã đến (HT TMC)

[17] Người tưởng là hợp pháp đối với việc không hợp pháp (HT TMC)

[18] Người tưởng là không hợp pháp đối với việc hợp pháp (HT TMC)