05. GIẢI THÍCH CHƯƠNG HAI PHÁP – Giải thích Phẩm Hội Chúng

  1. Pañcamassa paṭhame uttānāti pākaṭā appaṭicchannā. Gambhīrāti guḷhā paṭicchannā. Uddhatāti uddhaccena samannāgatā. Unnaḷāti uggatanaḷā, uṭṭhitatucchamānāti vuttaṃ hoti. Capalāti pattacīvaramaṇḍanādinā cāpallena yuttā. Mukharāti mukhakharā kharavacanā. Vikiṇṇavācāti asaṃyatavacanā divasampi niratthakavacanapalāpino. Muṭṭhassatīti vissaṭṭhasatino. Asampajānāti nippaññā. Asamāhitāti cittekaggatāmattassāpi alābhino. Pākatindriyāti pakatiyā ṭhitehi vivaṭehi arakkhitehi indriyehi samannāgatā. Sukkapakkho vuttavipallāsena veditabbo.

    Trong bài Kinh thứ nhất của Phẩm thứ năm, nông cạn: phô bày, không giấu giếm. Thâm sâu: bị che giấu, bị che kín. Phóng dật: Phối hợp với sự phóng dật. Kiêu căng: có ngã mạn được dựng lên như cây sậy, được giải thích rằng—người có sự ngã mạn rỗng tuếch, vô ích được khởi lên. Náo động: Liên quan đến náo động do có trang hoàng bình bát và y phục v.v… Khoác lác: lắm mồm, lời nói thô thiển. Có lời nói linh tinh: lời nói không phòng hộ, nói lời vô ích suốt cả ngày. Thất niệm: có niệm bị buông bỏ. Không có sự tỉnh giác: Không có tuệ. Không được định tĩnh: Không đạt được dù chỉ là trạng thái chuyên nhất của tâm. Có các giác quan buông thả: Được thành tựu bởi các quyền được thiết lập theo tự nhiên, phô bày, không hộ trì (không phòng hộ). Nhóm trắng (Pháp trắng) cần được hiểu theo ý nghĩa đối nghịch lại với những điều đã được nói.

  2. Dutiye bhaṇḍanajātāti bhaṇḍanaṃ vuccati kalahassa pubbabhāgo, taṃ tesaṃ jātanti bhaṇḍanajātā. Tathā ‘‘mayaṃ tumhe daṇḍāpessāma bandhāpessāmā’’tiādivacanappavattiyā sañjātakalahā. Ayaṃ tāva gihīsu nayo. Pabbajitā pana āpattivītikkamavācaṃ vadantā kalahajātā nāma. Vivādāpannāti viruddhavādaṃ āpannā. Mukhasattīhi vitudantāti guṇānaṃ chindanaṭṭhena dubbhāsitā vācā mukhasattiyoti vuccanti, tāhi vitudantā vijjhantā. Samaggāti ekakammaṃ ekuddeso samasikkhatāti etesaṃ karaṇena samaggatāya sahitā. Piyacakkhūhīti mettācakkhūhi.

    Trong bài Kinh thứ hai, nảy sanh sự xung đột: Khởi đầu của sự gây gỗ được gọi là ‘sự xung đột’. Sự xung đột ấy được khởi lên nơi các vị Tỳ-khưu ấy; như thế, gọi là ‘nảy sanh sự xung đột’. Mặt khác, sự gây gỗ nảy sanh do nói những lời như sau: “Chúng ta sẽ làm cho các người bị trừng phạt, chúng tôi sẽ tống giam các người”. Về phương diện hàng tại gia nên được hiểu chừng này trước. Còn về hàng xuất gia lời nói dẫn đến việc vi phạm giới luật được gọi là ‘nảy sanh sự cãi cọ’. Tiến đến sự tranh luận: Tiến đến những luận điểm mâu thuẫn lẫn nhau. Bằng các gươm giáo từ cửa miệng: lời nói đã được nói vụng về được gọi là ‘gươm giáo từ cửa miệng’ vì mang ý nghĩa cắt đứt mọi ân đức; châm chích, đâm chọc bằng những lời nói ấy. Hòa hợp: Gắn liền với sự hợp nhất bằng việc thực hiện những điều này là “có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau.” Sống nhìn nhau với cặp mắt yêu thương: Nhìn nhau với cặp mắt từ ái.

  3. Tatiye aggavatīti uttamapuggalavatī, aggāya vā uttamāya paṭipattiyā samannāgatā. Tato viparītā anaggavatī. Bāhulikāti cīvarādibāhullāya paṭipannā. Sāsanaṃ sithilaṃ gaṇhantīti sāthalikā. Okkamane pubbaṅgamāti ettha okkamanaṃ vuccati avagamanaṭṭhena pañca nīvaraṇāni, tena pañcanīvaraṇapūraṇe pubbaṅgamāti vuttaṃ hoti. Paviveketi upadhiviveke nibbāne. Nikkhittadhurāti tividhepi viveke oropitadhurā. Na vīriyaṃ ārabhantīti duvidhampi vīriyaṃ na karonti. Appattassa pattiyāti pubbe appattassa jhānavipassanāmaggaphalavisesassa pattiatthāya. Itaraṃ padadvayaṃ tasseva vevacanaṃ. Pacchimā janatāti saddhivihārikaantevāsikajano. Diṭṭhānugatiṃ āpajjatīti ācariyupajjhāyehi kataṃ anukaronto diṭṭhassa tesaṃ ācārassa anugatiṃ āpajjati nāma. Sesaṃ vuttapaṭipakkhanayena veditabbaṃ.

    Trong bài Kinh thứ ba, có người dẫn đầu tối thắng: Có hạng người tối thượng, hoặc được thành tựu bởi lối thực hành cao cả, tối thượng. Hội chúng đối lập lại Hội chúng đó là không có người dẫn đầu tối thắng. Là người sống lợi dưỡng: Vị thực hành với lối sống lợi dưỡng trong bốn món vật dụng có y phục, v.v. Hội chúng được gọi là ‘biếng nhác’ với ý nghĩa thọ trì Giáo pháp lơi lỏng. Là người dẫn đầu về đọa lạc: Năm Pháp ngăn che được gọi là ‘đi vào’ bởi ý nghĩa ‘đi xuống’, là đề cập đến— các vị Tỳ-khưu Trưởng lão ấy hướng đến việc làm cho năm Pháp ngăn che được tròn đủ. Bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly: Viễn ly về mầm tái sanh là Niết Bàn. Bỏ rơi gánh nặng: Là người đã đặt xuống gánh nặng trong cả ba sự viễn ly. Không có ra sức tinh tấn: Không thực hiện cả hai sự tinh tấn. Nhằm đạt được pháp chưa đạt được: nhằm mục đích đạt được các pháp đặc biệt là Thiền định, Minh Sát, Đạo và Quả mà bản thân chưa từng đạt được trước đó. Cả hai câu này ‘nhằm chứng đắc pháp chưa được chứng đắc, nhằm chứng ngộ pháp chưa được chứng ngộ’ đây là từ đồng nghĩa với câu ‘nhằm đạt được pháp chưa đạt được’. Người đời sau: những vị là đệ tử (vị sống chung trú xá) và học trò (vị nương nhờ sự hướng dẫn của thầy). Thực hành xu hướng theo quan điểm đúng đắn: khi thực hành theo những điều thầy tế độ và thầy dạy học đã làm, thì được gọi là thực hành theo hạnh kiểm của các ngài ấy mà bản thân đã chứng kiến. Các từ còn lại cần được hiểu theo phương thức đối nghịch lại với những điều đã nêu.

  4. Catutthe ariyāti ariyasāvakaparisā. Anariyāti puthujjanaparisā. ‘‘Idaṃ dukkha’’nti yathābhūtaṃ nappajānantīti ṭhapetvā taṇhaṃ tebhūmakā pañcakkhandhā dukkhasaccaṃ nāma, ettakameva dukkhaṃ, ito uddhaṃ dukkhaṃ natthīti yathāsabhāvato nappajānanti. Esa nayo sabbattha. Sesapadesu pana tassa dukkhassa samuṭṭhāpikā purimataṇhā samudayo nāma, tassāyeva taṇhāya, dvinnampi vā tesaṃ saccānaṃ accantakkhayo asamuppatti dukkhanirodho nāma, aṭṭhaṅgiko ariyamaggo dukkhanirodhagāminī paṭipadā nāmāti evaṃ imasmiṃ sutte catūhi saccehi cattāro maggā ca cattāri ca phalāni kathitāni.

    Trong bài Kinh thứ tư, bậc Thánh: Hội chúng đệ tử bậc Thánh. Không phải bậc Thánh: Hội chúng Phàm nhân. Không nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Ðây là Khổ’: Không nhận biết đúng theo thực thể rằng: “Ngoại trừ tham ái thì năm uẩn vận hành trong ba cõi được gọi là ‘Khổ đế’, Khổ chỉ có bấy nhiêu, ngoài điều này thì không có Khổ nào khác.’” Các từ còn lại cũng áp dụng cách thức này. Hơn nữa, các từ còn lại được giải thích rằng— Tham ái trước đó làm cho Khổ ấy thiết lập gọi là ‘Tập’, chính tham ái ấy là ‘nguồn gốc của Khổ/Tập đế’. Sự cạn kiệt hoàn toàn, tức là sự không còn sanh khởi lên nữa của chính tham ái ấy, hoặc của cả hai ‘Đế/sự thật’ ấy (Khổ đế và Tập đế), được gọi là ‘Diệt đế/Sự diệt trừ Khổ’. Thánh Đạo có tám chi phần được gọi là ‘sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ’. Như vậy, trong bài Kinh này, Đức Thế Tôn thuyết về bốn Đạo và bốn Quả với bốn Đế.

  5. Pañcame parisākasaṭoti[1] kasaṭaparisā kacavaraparisā palāpaparisāti[2]. Parisāmaṇḍoti pasannaparisā sāraparisāti attho. Chandāgatiṃ gacchantīti chandena agatiṃ gacchanti, akattabbaṃ karontīti attho. Sesapadesupi eseva nayo. Imāni pana cattāri agatigamanāni bhaṇḍabhājanīye ca vinicchayaṭṭhāne ca labbhanti. Tattha bhaṇḍabhājanīye tāva attano bhārabhūtānaṃ bhikkhūnaṃ amanāpe bhaṇḍake patte taṃ parivattetvā manāpaṃ dento chandāgatiṃ gacchati nāma. Attano pana abhārabhūtānaṃ manāpe bhaṇḍake patte taṃ parivattetvā amanāpaṃ dento dosāgatiṃ gacchati nāma. Bhaṇḍakabhājanīyavatthuñca ṭhitikañca[3] ajānanto mohāgatiṃgacchati nāma. Mukharānaṃ vā rājādinissitānaṃ vā ‘‘ime me amanāpe bhaṇḍake dinne anatthampi kareyyu’’nti bhayena parivattetvā manāpaṃ dento bhayāgatiṃ gacchati nāma. Yo pana evaṃ na gacchati, sabbesaṃ tulābhūto pamāṇabhūto majjhatto hutvā yaṃ yassa pāpuṇāti, taññeva tassa deti, ayaṃ catubbidhampi agatigamanaṃ[4] na gacchati nāma. Vinicchayaṭṭhāne pana attano bhārabhūtassa garukāpattiṃ lahukāpattīti katvā kathento chandāgatiṃ gacchati nāma. Itarassa lahukāpattiṃ garukāpattīti katvā kathento dosāgatiṃ gacchati nāma. Āpattivuṭṭhānaṃ pana samuccayakkhandhakañca[5] ajānanto mohāgatiṃ gacchati nāma. Mukharassa vā rājapūjitassa vā ‘‘ayaṃ me garukaṃ katvā āpattiṃ kathentassa anatthampi kareyyā’’ti garukameva lahukāti katvā kathento bhayāgatiṃ gacchati nāma. Yo pana sabbesaṃ yathābhūtameva katheti, ayaṃ catubbidhampi agatigamanaṃ na gacchati nāma.

    Trong bài Kinh thứ năm, Hội chúng cặn bã: Hội chúng cặn bã, hội chúng rác rưởi. Giải thích rằng: Hội chúng không có lợi ích. Hội chúng tinh ba: Hội chúng thanh tịnh. Giải thích rằng: Hội chúng có lợi ích. Vị đi đến sự thiên vị vì mong muốn: Đi đến sự thiên vị vì mong muốn. Giải thích rằng: Làm những điều không nên làm. Cả những từ còn lại cũng có phương thức này. Hơn nữa, bốn việc đi đến sự thiên vị này thường tìm thấy trong hai trường hợp: (1) trong việc phân chia vật dụng (tài vật) và trong trường hợp xét xử. Trong hai trường hợp ấy, sẽ nói về việc phân chia vật dụng trước– (vị nào) khi nhận được đồ vật không đáng ưa thích của các vị Tỳ-khưu thuộc trách nhiệm (chăm sóc) của bản thân, sau khi trao đổi đồ vật đó rồi cho đồ vật đáng ưa thích, thì gọi là vị đi đến sự thiên vị vì mong muốn. Tuy nhiên, khi nhận được vật đáng ưa thích của các vị Tỳ-khưu thuộc trách nhiệm của bản thân, sau khi trao đổi đồ vật đó rồi cho đồ vật không đáng ưa thích, thì gọi là vị đi đến sự thiên vị vì sân hận. Khi không biết đồ vật nào là vật cần phải phân chia và các quy tắc được gọi là vị đi đến sự trái vì si mê. Trao đổi những đồ vật ưa thích cho những kẻ lắm mồm (độc mồm) hoặc dựa vào vương quyền v.v…, vì sợ rằng: “Nếu ta trao đồ vật không vừa ý, những kẻ này có thể gây ra điều bất lợi cho ta,” đây gọi là vị đi đến sự thiên vị vì sợ hãi. Thế nhưng, người nào không đi đến (sự thiên vị) như vậy, là cán cân công lý của tất cả mọi người, đặt mình (vào vị trí) trung lập, có sự hài lòng; vật nào đến tay người nào thì vật đó được trao cho chính người ấy — người này được gọi là không đi đến với cả bốn việc đi đến sự thiên vị. Còn ở pháp đình nên được hiểu như sau— Trong khi tuyên bố về sự phạm tội nặng của vị Tỳ-khưu thuộc trách nhiệm của bản thân lại nhận diện là sự phạm tội nhẹ được gọi là vị đi đến sự thiên vị vì mong muốn. Trong khi tuyên bố tội nhẹ của vị Tỳ-khưu khác định rõ là tội nặng được gọi là vị đi đến sự thiên vị vì sân hận. Ngoài ra, không biết việc thoát khỏi tội và tích lũy tội được gọi là vị đi đến sự thiên vị vì si mê. Trong khi tuyên bố về tội nặng thực sự của vị Tỳ-khưu lắm mồm và tội nhẹ hoặc vị Tỳ-khưu được các vương gia lễ bái lại nhận diện là sự phạm tội nhẹ vì sợ hãi rằng: “Khi ta tuyên bố sự phạm tội– chỉ rõ là sự phạm tội nặng, vị Tỳ-khưu này có thể gây ra điều bất lợi cho ta,” đây gọi là vị đi đến sự thiên vị vì sợ hãi. Còn vị nào nói đúng theo sự thật (về sự phạm tội nặng-nhẹ) của tất cả— vị ấy được gọi là không đi đến với cả bốn việc đi đến sự thiên vị.

  6. Chaṭṭhe okkācitavinītāti dubbinītā. No paṭipucchāvinītāti na pucchitvā[6] vinītā. Gambhīrāti pāḷivasena gambhīrā sallasuttasadisā[7]. Gambhīratthāti atthivasena gambhīrā mahāvedallasuttasadisā. Lokuttarāti lokuttara-atthadīpakā. Suññatāpaṭisaṃyuttāti sattasuññaṃ dhammamattameva[8] pakāsakā asaṅkhatasaṃyuttasadisā[9]. Na aññā cittaṃ upaṭṭhapentīti vijānanatthāya cittaṃ na upaṭṭhapenti, niddāyanti vā aññavihitā vā honti. Uggahetabbaṃ pariyāpuṇitabbaṃnti uggahetabbe ca pariyāpuṇitabbe ca. Kavitāti[10] kavīhi katā. Itaraṃ tasseva vevacanaṃ. Cittakkharāti vicitraakkharā. Itaraṃ tasseva vevacanaṃ. Bāhirakāti sāsanato bahibhūtā. Sāvakabhāsitāti tesaṃ tesaṃ sāvakehi bhāsitā. Sussūsantīti akkharacittatāya ceva sarasampattiyā[11] ca attamanā hutvā suṇanti. Na ceva aññamaññaṃ paṭipucchantīti aññamaññaṃ atthaṃ vā anusandhiṃ vā pubbāparaṃ vā na pucchanti. Na ca paṭivicarantīti pucchanatthāya cārikaṃ na vicaranti. Idaṃ kathanti idaṃ byañjanaṃ kathaṃ ropetabbaṃ kinti ropetabbaṃ? Imassa ko atthoti imassa bhāsitassa ko attho, kā anusandhi, kiṃ pubbāparaṃ? Avivaṭanti paṭicchannaṃ. Na vivarantīti na ugghāṭenti. Anuttānīkatanti apākaṭaṃ kataṃ. Na uttāniṃ karontīti pākaṭaṃ na karonti. Kaṅkhāṭhāniyesūti kaṅkhāya kāraṇabhūtesu. Sukkapakkho vuttavipallāsena veditabbo.

    Trong bài Kinh thứ sáu, hội chúng được huấn luyện trong gian khó: Khó huấn luyện (cứng đầu/ngang bướng). Không được chất vấn và không nhận được huấn luyện[12]: Sau khi đã chất vấn cũng không được hướng dẫn. Thâm sâu: thâm sau về phương diện Chánh văn Pāḷi chẳng hạn như bài Kinh Salla (Cūḷavedalla/Tiểu Kinh Phương Quảng). Có ý nghĩa thâm sâu: thâm sau về mặt ý nghĩa chẳng hạn như bài Kinh Mahāvedalla (Đại Kinh Phương Quảng). Vượt ngoài thế gian: Giải thích ý nghĩa vượt ngoài thế gian. Liên hệ đến không tánh: Chỉ tuyên thuyết về bảy pháp không tánh mà thôi chẳng hạn như ‘Tương ưng Vô vi’. Họ không an trú tâm để hiểu biết chúng: không an trú tâm nhằm mục đích để hiểu biết, tức là (họ) ngủ, hoặc hướng tâm đến đối tượng khác. Cần phải học tập, cần phải ghi nhớ: Các Pháp cần được học tập và cần được ghi nhớ. Được sáng tác bởi các thi sĩ: Được sáng tác bởi các thi sĩ. Các từ ‘kāveyya’ còn lại đều đồng nghĩa với từ ‘kavitā’. Có các nguyên âm hoa mỹ: có các nguyên âm hoa mỹ (trau chuốt). ‘Cittabyañjanā/có các phụ âm hoa mỹ’ cũng chính là từ đồng nghĩa với ‘cittakkharā/có các nguyên âm hoa mỹ’. Các kinh thuộc ngoại giáo: Các bài Kinh nằm ngoài Giáo pháp của Đức Phật. Được giảng bởi các đệ tử ngoại giáo: Được các đệ tử của các giáo chủ ngoại đạo ấy tuyên thuyết. Chú tâm lắng nghe: Có tâm hoan hỷ họ đã khéo lắng nghe vì có các nguyên âm hoa mỹ và hoàn hảo bởi câu cú. Họ không hỏi đi hỏi lại cùng nhau: không hỏi nhau về ý nghĩa, sự liên kết, hoặc hỏi nhau về phần đầu phần cuối (của bài giảng). Và không thảo luận với nhau: không đi đây đó để hỏi han. Phật ngôn này (có ý nghĩa) như thế nào? Phụ âm/văn tự này nên được hiểu như thế nào? tức là nên được hiểu biết ra sao? Ý nghĩa của Phật ngôn này (có ý nghĩa) như thế nào? Lời nói này có ý nghĩa như thế nào? Có sự liên kết ra sao? Có phần đầu và phần cuối thế nào? Pháp vẫn chưa được mở rộng: Còn đang bị che giấu. Chưa được phơi bày: Chưa được mở ra (tiết lộ/bộc lộ). Điều vẫn chưa được làm cho dễ dàng/đơn giản: Điều đã làm không rành rẽ. Không được làm cho dễ dàng: Không được làm cho rành rẽ. Các điểm nghi vấn: Các nguyên nhân của sự nghi ngờ. Nhóm trắng (Pháp trắng) cần được hiểu theo ý nghĩa đối nghịch lại với những điều đã được nói.

  7. Sattame āmisagarūti catupaccayagarukā lokuttaradhammaṃ lāmakato gahetvā ṭhitaparisā. Saddhammagarūti nava lokuttaradhamme garuke katvā cattāro paccaye lāmakato[13] gahetvā ṭhitaparisā. Ubhatobhāgavimuttoti dvīhi bhāgehi vimutto. Paññāvimuttoti paññāya vimutto sukkhavipassakakhīṇāsavo. Kāyasakkhīti kāyena jhānaphassaṃ phusitvā pacchā nirodhaṃ nibbānaṃ sacchikatvā ṭhito. Diṭṭhippattoti[14] diṭṭhantaṃ patto. Ime dvepi chasu ṭhānesu labbhanti. Saddhāvimuttoti saddahanto vimutto. Ayampi chasu ṭhānesu labbhati. Dhammaṃ anussaratīti dhammānusārī. Saddhaṃ anussaratīti saddhānusārī. Ime dvepi paṭhamamaggasamaṅgino. Kalyāṇadhammoti sundaradhammo. Dussīlo pāpadhammoti nissīlo lāmakadhammo. Imaṃ kasmā gaṇhanti? Sabbesu hi ekasadisesu jātesu sīlavantesu balavagāravaṃ[15] na hoti, ekaccesu pana dussīlesu sati sīlavantānaṃ upari balavagāravaṃ hotīti maññantā gaṇhanti. Te tena lābhaṃ labhantīti te bhikkhū ekaccānaṃ vaṇṇaṃ ekaccānaṃ avaṇṇaṃ[16] kathetvā cattāro paccaye labhanti. Gathitāti taṇhāya ganthitā. Mucchitāti taṇhāvaseneva mucchitā. Ajjhopannāti ajjhosāya gilitvā pariniṭṭhapetvā ṭhitā. Anādīnavadassāvinoti apaccavekkhitaparibhoge ādīnavaṃ apassantā. Anissaraṇapaññāti catūsu paccayesu chandarāgaapakaḍḍhanāya nissaraṇapaññāya virahitā idamatthaṃ etanti ajānantā. Paribhuñjantīti sacchandarāgā hutvā paribhuñjanti.

    Trong bài Kinh thứ bảy, xem trọng tài vật: Hội chúng coi trọng bốn món vật dụng, là Hội chúng đã an trú sau khi nắm giữ Pháp Siêu thế (với tính chất) là Pháp thấp kém. Xem trọng Diệu pháp: Hội chúng đã an trú sau khi đặt chín Pháp Siêu thế (với tính chất) là Pháp tôn kính, và nắm giữ bốn món vật dụng là vật thấp kém. Bậc giải thoát cả hai phần: Là bậc giải thoát cả hai phần. Tuệ giải thoát: Là vị giải thoát bằng tuệ, là bậc Lậu Tận thuần quán (bậc thánh chứng ngộ khô khan). Là bậc có thân chứng: Sau khi đã xúc chạm với sự xúc chạm của Thiền bằng Danh thân, sau đó tác chứng sự tịch diệt Niết Bàn, rồi an trú. Là đạt được do kiến[17]: Là bậc đạt đến tận cùng của sự thấy. Cả hai hạng người này đều đạt được 6 vị trí. Là được giải thoát do đức tin: Trong khi có đức tin, (vị ấy) giải thoát. Luôn cả hạng người này cũng đạt được 6 vị trí. Vị tùy Pháp hành: do nhớ lại các Pháp. Vị tùy tín hành: do nhớ lại đức tin. Cả hai hạng người này đều là vị hội đủ bởi Sơ Đạo. Có thiện pháp: Là vị có Pháp tốt đẹp. Kẻ có giới tồi, có ác pháp: Là kẻ ác giới, có Pháp thấp kém. Vì sao lại đề cập đến điều này? Vì họ nghĩ rằng: Khi tất cả mọi người đều có giới đồng đẳng như nhau, thì sự tôn kính mạnh mẽ đối với những vị có giới sẽ không có; nhưng khi có một số những kẻ phá giới thì sự tôn kính mạnh mẽ có vượt trội hơn đối với vị có giới, vì thế mới đề cập đến điều ấy. Họ đạt được các lợi lộc nhờ lý do đó: Các vị Tỳ-khưu ấy đã nói việc tán thán một số vị này và khiển trách một số vị kia mà đạt được bốn món vật dụng. Bị buộc trói: bị trói buộc do tham ái. Bị mê mẩn: bị mê mẩn do chính tác động của tham ái. Bị lôi cuốn vào: Là người bị tham ái chôn vùi/tràn ngập, nuốt chửng hoàn toàn rồi an trú. Không thấy các sự nguy hại: Không nhìn thấy các sự nguy hại trong việc thọ dụng các vật dụng mà không quán tưởng. Không biết rõ lối thoát ra: Vắng mặt trí tuệ dẫn đến sự thoát ra khỏi do bị ước muốn và luyến ái đưa ra khỏi trong bốn món vật dụng là không biết rằng: “Điều này có, điều này là lợi ích.” Thụ hưởng: Là vị có mong muốn và luyến ái thọ hưởng.

Sukkapakkhe ubhatobhāgavimuttotiādīsu ayaṃ sattannampi ariyapuggalānaṃ saṅkhepapakāsanā – eko bhikkhu paññādhurena abhiniviṭṭho aṭṭha samāpattiyo nibbattetvā sotāpattimaggaṃ pāpuṇāti. So tasmiṃ khaṇe dhammānusārī nāma hoti, sotāpattiphalādīsu chasu ṭhānesu kāyasakkhi nāma, arahattaphalakkhaṇe ubhatobhāgavimutto nāma. Samāpattīhi vikkhambhanavimuttiyā maggena samucchedavimuttiyāti dvikkhattuṃ vā dvīhi vā bhāgehi vimuttoti attho. Aparo paññādhurena abhiniviṭṭho samāpattiyo nibbattetuṃ asakkonto sukkhavipassakova hutvā sotāpattimaggaṃ pāpuṇāti. So tasmiṃ khaṇe dhammānusārī nāma hoti, sotāpattiphalādīsu chasu ṭhānesu diṭṭhippatto nāma, arahattaphalakkhaṇe paññāvimutto nāma. Aparo saddhādhurena abhiniviṭṭho aṭṭha samāpattiyo nibbattetvā sotāpattimaggaṃ pāpuṇāti. So tasmiṃ khaṇe saddhānusārī nāma hoti, sotāpattiphalādīsu chasu ṭhānesu kāyasakkhi nāma, arahattaphalakkhaṇe ubhatobhāgavimutto nāma. Aparo saddhādhurena abhiniviṭṭho samāpattiyo nibbattetuṃ asakkonto sukkhavipassakova hutvā sotāpattimaggaṃ pāpuṇāti. So tasmiṃ khaṇe saddhānusārī nāma hoti, sotāpattiphalādīsu chasu ṭhānesu saddhāvimutto nāma, arahattaphalakkhaṇe paññāvimutto nāma.

Hạng giải thoát cả hai phần, v.v, trong phần Pháp trắng, bảy bậc Thánh nhân này có sự giải thích tóm lược như sau— Một vị Tỳ-khưu chấp chặt vào phận sự của trí tuệ đã làm sanh khởi 8 Thiền chứng, chứng đắc Sơ Đạo (Sotāpattimagga/Đạo Nhập Lưu): vị ấy được gọi là bậc tùy Pháp hành ở tại sát-na ấy; được gọi là bậc Thân chứng trong 6 vị trí bắt đầu từ Sơ Quả (Sotāpattiphala/Quả Nhập Lưu), v.v.; [và] được gọi là vị được giải thoát cả hai phần ở tại sát-na chứng đạt A-la-hán Quả. Giải thích rằng— (1) Vị ấy được giải thoát hai lần, hoặc giải thoát cả hai phần: là sự giải thoát do chế ngự bằng các Thiền chứng, và sự giải thoát do đoạn trừ bằng (Thánh) Đạo. (2) Một vị Tỳ-khưu khác cũng chấp chặt vào phận sự của trí tuệ, nhưng không thể làm sanh khởi các Thiền chứng, chỉ là bậc Thuần quán (bậc thánh chứng ngộ khô khan) đạt đến Sơ Đạo: vị ấy được gọi là bậc tùy Pháp hành ở tại sát-na ấy; được gọi là bậc đạt được do kiến ở 6 vị trí bắt đầu từ Sơ Quả, v.v, (và) được gọi là bậc tuệ giải thoát ở tại sát-na chứng đạt A-la-hán Quả. (3) Một vị Tỳ-khưu khác cũng chấp chặt vào phận sự của đức tin, đã làm sanh khởi tám Thiền chứng, đạt đến Sơ Đạo; vị ấy được gọi là bậc tùy Tín hành ở tại sát-na ấy; được gọi là bậc có Thân chứng ở 6 vị trí bắt đầu từ Sơ Quả, v.v, (và) được gọi là vị được giải thoát cả hai phần ở tại sát-na chứng đạt A-la-hán Quả. (4) Một vị Tỳ-kheo khác cũng chấp chặt vào phận sự của đức tin, nhưng đã không làm sanh khởi các Thiền chứng, chỉ là bậc thuần quán (bậc thánh chứng ngộ khô khan), đạt đến Sơ Đạo, vị ấy được gọi là bậc tùy Tín hành ở tại sát-na ấy; được gọi là bậc tín giải thoát ở 6 vị trí bắt đầu từ Sơ Quả, v.v, (và) được gọi là bậc tuệ giải thoát ở tại sát-na chứng đạt A-la-hán Quả.

  1. Aṭṭhame visamāti sapakkhalanaṭṭhena[18] visamā. Samāti nipakkhalanaṭṭhena[19] samā. Adhammakammānīti uddhammāni kammāni. Avinayakammānīti ubbinayāni kammāni.

    Trong bài Kinh thứ tám, không ngăn nắp/không gọn gàng[20]: không ngăn nắp với ý nghĩa có sự lầm lỗi. ngăn nắp/gọn gàng: ngăn nắp với ý nghĩa không có sự lầm lỗi. Nghiệp phi Pháp: Hành động không đúng Pháp. Nghiệp phi Luật: Hành động không đúng Luật.

  2. Navame adhammikāti niddhammā[21]. Dhammikāti dhammayuttā.

    Trong bài Kinh thứ chín, Không đúng Pháp: Xa rời Chánh pháp. Đúng Pháp: Gắn liền với Chánh pháp.

  3. Dasame adhikaraṇanti vivādādhikaraṇādicatubbidhaṃ adhikaraṇaṃ. Ādiyantīti gaṇhanti. Saññāpentīti jānāpenti. Na ca saññattiṃ upagacchantīti saññāpanatthaṃ na sannipatanti. Na ca nijjhāpentīti na pekkhāpenti. Na ca nijjhattiṃ upagacchantīti aññamaññaṃ nijjhāpanatthāya na sannipatanti. Asaññattibalāti asaññattiyeva balaṃ etesanti asaññattibalā. Appaṭinissaggamantinoti yesaṃ hi evaṃ hoti – ‘‘sace amhehi gahitaṃ adhikaraṇaṃ dhammikaṃ bhavissati, gaṇhissāma. Sace adhammikaṃ, vissajjessāmā’’ti, te paṭinissaggamantino nāma honti. Ime pana na tathā mantentīti appaṭinissaggamantino. Thāmasā parāmāsā abhinivissāti diṭṭhithāmena ca diṭṭhiparāmāsena ca abhinivisitvā. Idameva saccanti idaṃ amhākaṃ vacanameva saccaṃ. Moghamaññanti avasesānaṃ vacanaṃ moghaṃ tucchaṃ. Sukkapakkho uttānatthoyevāti.

    Trong bài Kinh thứ mười, sự tranh tụng: Bốn sự tranh tụng có sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, v.v. Nắm lấy: chọn lấy. Làm cho (người khác) nhận biết/làm cho (người khác) tin: Làm cho (người khác) biết. Và không đi đến làm cho nhau nhận biết: Họ không hội họp lại để tuyên bố cho nhau biết. Không đồng ý cho xét xử các sự tranh sự. Không chấp nhận nhìn vào lỗi lầm. Và không tham gia vào việc xét xử các sự tranh tụng: Không tham gia hội họp với mục đích chăm chăm tìm lỗi lẫn nhau. Có sự không đồng thuận là động lực: Động lực là sự bất đồng ý kiến của các vị Tỳ-khưu ấy, chính vì lý do đó các vị ấy được gọi là ‘có sự không đồng thuận là động lực’. Ngoan cố không có ý định buông bỏ: Những vị Tỳ-khưu nào có suy nghĩ như vầy— “Nếu sự tranh chấp mà chúng ta chọn lấy sẽ là đúng Pháp, chúng ta sẽ chọn lấy; nếu không đúng Pháp, chúng ta sẽ buông tay” — những vị ấy được gọi là người có ý định buông bỏ. Nhưng các Tỳ-khưu này lại không nghĩ như thế, do đó mới gọi là ‘người không ý định buông bỏ’. Sau khi bám víu một cách mạnh mẽ và chấp chặt vào chính điều ấy…phát biểu: Sau khi chấp chặt bởi sức mạnh của tà kiến và bởi sự bám víu vào tà kiến. Chỉ điều này là chân lý: Chỉ có lời nói của chúng tôi là sự thật. Điều khác là rồ dại: Lời nói của các phe nhóm còn lại đều là rỗng tuếch, vô ích (không thật). Phần Pháp trắng, tất cả đều có ý nghĩa đơn giản.


[1] Parisakasaṭoti (Sī, Syā)

[2] Palāsaparisāti (Ka)

[3] Bhaṇḍabhājaniyaṃ vattañca vihitañca (Ka)

[4] Agatiṃ (Sī)

[5] Āpattikkhandhakañca (Syā, Ka)

[6] Pucchitvā pucchitvā (Sī)

[7] Cūḷavedallasuttasadisā (Syā, Ka)

[8] sattasuññatadhammamattameva (Syā, Saṃ-ṭṭha 2.211 piṭṭhe ca)

[9] Saññāsaṅkhatasaṃyuttasadisā (Sī), saṅkhatasaṃyuttasadisā (Ka), saṃkhatasaṃyuttasadisā (Saṃ-ṭṭha 2.211 piṭṭhe ca)

[10] Kavikatāti (sabbattha) ṭīkā oloketabbā

[11] Padasampattiyā (Ka)

[12] không được huấn luyện trong chất vấn. (HT TMC)

[13] Omakato (Sī)

[14] Diṭṭhappattoti (Ka)

[15] balavabhāvaṃ (Ka)

[16] ekaccānaṃ vaṇṇaṃ (Ka)

[17] là bậc Kiến chí (HT TMC)

[18] Pakkhalanaṭṭhena (Syā)

[19] Vinipakkhalanaṭṭhena (Sī)

[20] không đồng đẳng (HT TMC)

[21] Adhammayuttā (Ka)