04. GIẢI THÍCH CHƯƠNG HAI PHÁP – Giải thích Phẩm Tâm Tương Đương
Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Hai pháp – Phẩm 01-04
- Catutthassa paṭhame asappurisabhūmīti asappurisānaṃ patiṭṭhānaṭṭhānaṃ. Sappurisabhūmiyampi eseva nayo. Akataññūti kataṃ na jānāti. Akatavedīti kataṃ pākaṭaṃ katvā na jānāti. Upaññātanti vaṇṇitaṃ thomitaṃ pasatthaṃ. Yadidanti yā ayaṃ. Akataññutā akataveditāti parena katassa upakārassa ajānanañceva pākaṭaṃ katvā ajānanañca. Kevalāti sakalā. Sukkapakkhepi vuttanayeneva attho veditabbo.
Trong bài Kinh thứ nhất của Phẩm thứ tư, địa vị kẻ phi chân nhân[1]: vị trí thiết lập của kẻ phi chân nhân. Ngay cả đối với địa vị bậc chân nhân cũng áp dụng phương thức này. Là người không biết ơn: không biết về điều mà người khác đã làm cho mình. Là người không nhớ ơn: không biết về điều mà người khác đã làm cho mình bằng cách làm cho hiển lộ [không đền đáp lại công ơn]. Khích lệ: Được khen ngợi, được tán dương, được ca ngợi. Yadidaṃ: yā ayaṃ [đây là]. Đặc tánh kẻ không biết ơn và đặc tánh kẻ không nhớ ân: Không biết đến sự giúp đỡ mà người khác đã làm cho mình, và không biết đến sự giúp đỡ mà người khác đã làm cho mình bằng cách làm cho hiển lộ [không đền đáp lại công ơn]. Hoàn toàn: Toàn bộ. Luôn cả đối với các Pháp thuộc Pháp trắng, nên biết ý nghĩa theo phương thức đã được trình bày.
- Dutiye mātu ca pitu cāti janakamātu ca janakapitu ca. Ekena, bhikkhave, aṃsena mātaraṃ parihareyyāti ekasmiṃ aṃsakūṭe ṭhapetvā mātaraṃ paṭijaggeyya. Ekena aṃsena pitaraṃ parihareyyāti ekasmiṃ aṃsakūṭe ṭhapetvā pitaraṃ paṭijaggeyya. Vassasatāyuko vassasatajīvīti vassasatāyukakāle jāto sakalaṃ vassasataṃ jīvanto. Idaṃ vuttaṃ hoti – sace putto nāma ‘‘mātāpitūnaṃ paṭikarissāmī’’ti uṭṭhāya samuṭṭhāya dakkhiṇe aṃsakūṭe mātaraṃ, vāme pitaraṃ ṭhapetvā vassasatāyuko sakalampi vassasataṃ jīvamāno parihareyya. So ca nesaṃ ucchādanaparimaddananhāpanasambāhanenāti so ca putto nesaṃ mātāpitūnaṃ aṃsakūṭesu ṭhitānaṃyeva duggandhapaṭivinodanatthaṃ sugandhakaraṇena ucchādanena, parissamavinodanatthaṃ hatthaparimaddanena, sītuṇhakāle ca uṇhodakasītodakanhāpanena, hatthapādādīnaṃ ākaḍḍhanaparikaḍḍhanasaṅkhātena sambāhanena upaṭṭhānaṃ kareyya. Te ca tatthevāti te ca mātāpitaro tattheva tassa aṃsakūṭesu nisinnāva muttakarīsaṃ cajeyyuṃ. Na tveva, bhikkhaveti, bhikkhave, evampi natveva mātāpitūnaṃ kataṃ vā hoti paṭikataṃ vā.
Trong bài Kinh thứ hai, mẹ và cha: Người mẹ sinh thành dưỡng dục, và người cha sinh thành dưỡng dục. Một bên vai cõng mẹ, này các Tỳ-khưu: Người con có thể phụng dưỡng mẹ bằng cách cõng (gánh) ở một bên vai. Một bên vai cõng cha: Người con có thể phụng dưỡng cha bằng cách cõng (gánh) ở một bên vai. Tuổi thọ đến một trăm năm, có mạng sống đến một trăm năm: Sanh ra vào thời kỳ loài người có tuổi thọ đến một trăm năm, có thọ mạng trọn vẹn một trăm năm. Điều này đã được nói rằng— nếu như người con nghĩ rằng: “Ta sẽ báo đáp công ơn của cha mẹ”, rồi đứng dậy, nỗ lực gánh vác, đặt mẹ ngồi một bên vai phải, đặt cha ngồi một bên vai trái, có tuổi thọ một trăm năm phụng dưỡng trọn vẹn khi sống đến một trăm năm. Dẫu cho người con … cả hai vị ấy (cha và mẹ) với việc đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy: Chính người con ấy phải tận tụy phụng dưỡng cha mẹ đang ngồi trên bả vai của mình bằng việc thoa sức hương liệu để cơ thể thơm tho nhằm khử mùi cơ thể, bằng việc xoa bóp tay chân để giải tỏa mệt nhọc, tắm nước ấm vào mùa lạnh, tắm nước mát vào mùa nóng, và với việc nắn bóp các khớp tay chân, v.v. Chính đôi vai của vị ấy: Và cả hai cha và mẹ, ngồi đại tiện và tiểu tiện ngay tại nơi ấy, tức là chính trên đôi vai của người con ấy. Việc làm như vậy, này các Tỳ-khưu, cũng chưa gọi là…: Này các Tỳ-khưu, dẫu cho có sự phụng dưỡng đến mức độ như vậy đi chăng nữa, thì cũng không thể xem là người con ấy đã đền ơn hay đáp ơn đối với cha mẹ được.
Issarādhipacce rajjeti cakkavattirajjaṃ sandhāyevamāha. Āpādakāti vaḍḍhakā anupālakā. Puttā hi mātāpitūhi vaḍḍhitā ceva anupālitā ca. Posakāti hatthapāde vaḍḍhetvā hadayalohitaṃ pāyetvā posakā. Puttā hi mātāpitūhi puṭṭhā bhatā annapānādīhi paṭijaggitā. Imassa lokassa dassetāroti sace hi mātāpitaro jātadivaseyeva puttaṃ pāde gahetvā araññe vā nadiyaṃ vā papāte vā khipeyyuṃ, imasmiṃ loke iṭṭhāniṭṭhārammaṇaṃ na passeyya. Evaṃ akatvā āpāditattā positattā esa imasmiṃ loke iṭṭhāniṭṭhārammaṇaṃ mātāpitaro nissāya passatīti tyāssa imassa lokassa dassetāro nāma honti. Samādapetīti gaṇhāpeti. Imasmiṃ sutte saddhāsīlacāgapaññā lokiyalokuttaramissakā kathitā. Dhammasenāpatisāriputtattherasadisova bhikkhu tesu patiṭṭhāpeti nāmāti veditabbo.
Vào quốc độ với tối thượng uy lực: Đức Thế Tôn nói đề cập đến bản thể đức Chuyển Luân Vương. Chăm sóc: là người nuôi dưỡng, là người chăm sóc. Bởi vì đối với con cái, chính cha mẹ là người đã nuôi dưỡng và chăm sóc. Nuôi nấng: là người nuôi nấng, làm cho tay chân phát triển, và cho uống dòng máu từ tâm can (sữa mẹ). Bởi vì cha mẹ dưỡng nuôi con cái một cách chu đáo, nâng niu trìu mến bằng thức ăn, thức uống, v.v. Giới thiệu chúng vào đời này: Nếu vào ngày đứa con vừa lọt lòng, cha mẹ lại nắm lấy chân đứa trẻ mà quăng vào rừng sâu hay vực thẳm, thì đứa con ấy không nhìn thấy cảnh ưa thích và không được ưa thích ở thế gian này. Nhưng do cha mẹ không hành xử như thế, ngược lại còn nuôi nấng, chăm sóc, nên đứa con mới có thể thấy được cảnh ưa thích và không được ưa thích ở thế gian này do nương vào cha mẹ. Do đó, cha mẹ được gọi là người giới thiệu đời này cho con cái. Khuyến khích: làm cho tin tưởng. Trong bài Kinh này, Đức Thế Tôn nói về đức tin, giới, sự xả ly, và tuệ có sự kết hợp giữa Hiệp thế và Siêu thế. Một vị Tỳ-khưu như Tướng quân Chánh pháp Trưởng lão Sāriputta nên được hiểu rằng là người đã làm cho cha mẹ được an trú vững chãi trong các ân đức pháp ấy.
- Tatiye tenupasaṅkamīti so hi brāhmaṇo ‘‘samaṇo kira gotamo kathitaṃ vissajjeti, pucchāyassa virajjhanaṃ nāma natthi. Ahamassa virajjhanapañhaṃ abhisaṅkharissāmī’’ti paṇītabhojanaṃ bhuñjitvā gabbhadvāraṃ pidahitvā nisinno cintetuṃ ārabhi. Athassa etadahosi – ‘‘imasmiṃ ṭhāne uccāsaddamahāsaddo vattati, cittaṃ na ekaggaṃ hoti, bhūmigharaṃ kāressāmī’’ti bhūmigharaṃ kāretvā tattha pavisitvā – ‘‘evaṃ puṭṭho evaṃ kathessati, evaṃ puṭṭho evaṃ kathessatī’’ti ekaṃ gaṇhitvā ekaṃ vissajjento sakaladivasaṃ kiñci passituṃ nāsakkhi. Tassa imināva nīhārena cattāro māsā vītivattā. So catunnaṃ māsānaṃ accayena ubhatokoṭikaṃ pañhaṃ nāma addasa. Evaṃ kirassa ahosi – ‘‘ahaṃ samaṇaṃ gotamaṃ upasaṅkamitvā ‘kiṃvādī bhava’nti pucchissāmi.
Trong bài Kinh thứ ba, đã đi đến: Bà-la-môn ấy nghĩ rằng– “Nghe nói Sa-môn Gotama trả lời câu hỏi mà của người khác, và ngài không nhàm chán trước các câu hỏi. Ta sẽ biên soạn một câu hỏi có ẩn ý (dễ gây nhầm lẫn) cho Sa-môn Gotama ấy.” Thế rồi, sau khi thọ dụng những vật thực thượng vị đa đóng chặt cửa phòng, rồi ngồi xuống bắt đầu suy ngẫm (để biên soạn câu hỏi). Khi ấy, Bà-la-môn đã khởi ý điều này– “Ở nơi đây có tiếng động lớn, có âm thanh ồn ào, khiến tâm trí không có sự chăm chú. Ta sẽ cho xây dựng một mật thất (căn phòng bên trong lòng đất).” Sau khi mật thất ấy được hoàn thành, vị ấy đã đi vào trong đó rồi nghĩ rằng– “Nếu ta bị hỏi như thế này, ta sẽ trả lời như thế kia.” Vị ấy đặt một câu hỏi, để giải đáp một câu hỏi, nhưng suốt cả ngày không thể thấy được bất kỳ câu trả lời nào. Vị ấy suy tư theo phương thức này suốt bốn tháng. Bốn tháng vừa trôi qua, vị ấy mới gặp được câu hỏi hai nút thắt (câu hỏi lưỡng nan). Kể rằng, vị Bà-la-môn ấy đã khởi lên suy nghĩ như vầy rằng– “Sau khi đi đến gặp Sa-môn Gotama,’ ta sẽ hỏi rằng: “Thưa ngài Gotama, ngài có học thuyết như thế nào?’”
Sace ‘kiriyavādimhī’ti vakkhati, ‘sabbākusalānaṃ nāma tumhe kiriyaṃ vadethā’ti naṃ niggaṇhissāmi. Sace ‘akiriyavādimhī’ti vakkhati, ‘kusaladhammānaṃ nāma tumhe akiriyaṃ vadethā’ti naṃ niggaṇhissāmi. Idañhi ubhatokoṭikaṃ pañhaṃ puṭṭho neva uggilituṃ sakkhissati na niggilituṃ. Evaṃ mama jayo bhavissati, samaṇassa gotamassa parājayo’’ti uṭṭhāya apphoṭetvā bhūmigharā nikkhamma ‘‘evarūpaṃ pañhaṃ pucchantena na ekakena gantuṃ vaṭṭatī’’ti nagare ghosanaṃ kāretvā sakalanāgarehi parivuto yena bhagavā tenupasaṅkami. Kiṃvādīti kiṃladdhiko. Kimakkhāyīti kiṃ nāma sāvakānaṃ paṭipadaṃ akkhāyīti pucchi. Athassa bhagavā catūhi māsehi pañhaṃ abhisaṅkharitvā ‘‘diṭṭho me samaṇassa gotamassa parājayapañho’’ti mānaṃ paggayha āgatabhāvaṃ ñatvā ekapadeneva taṃ pañhaṃ bhindanto kiriyavādī cāhaṃ, brāhmaṇātiādimāha. Atha brāhmaṇo attano mānaṃ apanetvā bhagavantaṃ āyācanto yathākathaṃ panātiādimāha. Sesamettha uttānatthamevāti.
Nếu Sa-môn Gotama nói rằng: “Ta chủ trương học thuyết về hành động, ‘ta sẽ chế ngự Sa-môn Gotama rằng: ‘Như vậy ngài dạy người khác thực hành tất cả mọi bất thiện.” Nếu Sa-môn Gotama đáp rằng: Ta chủ trương học thuyết về không hành động, ta sẽ chế ngự Sa-môn Gotama rằng: “Như vậy ngài dạy người khác thực hành mọi Pháp thiện.’” Khi Sa-môn Gotama bị hỏi câu hỏi hai nút thắt này, ngài sẽ không thể nuốt trôi mà cũng không thể ói ra được (tiến thoái lưỡng nan). Như vậy ta sẽ chiến thắng, còn Sa-môn Gotama sẽ chiến bại.’” Vị ấy liền đứng dậy, vỗ tay (vui mừng), bước ra khỏi mật thất, nghĩ rằng: “Người hỏi câu hỏi này không nên đi một mình.” Nên mới cho loan tin khắp thành, được tháp tùng bởi toàn thể dân chúng, cùng đi đến gặp Đức Thế Tôn. Có học thuyết như thế nào? Có học thuyết gì? Nói đến điều gì? Bà-la-môn hỏi rằng– Ngài giảng dạy đường lối thực hành cho các đệ tử như thế nào? Khi ấy, Đức Thế Tôn biết rằng: Bà-la-môn biên soạn câu hỏi suốt bốn tháng, đến đây với tâm ngã mạn rằng: “Ta đã tìm thấy câu hỏi khiến cho Sa-môn Gotama chiến bại rồi.” Khi phá tan câu hỏi ấy chỉ bằng một lời duy nhất, nên đã nói rằng: “Này Bà-la-môn, Ta thuyết về hành động và thuyết về không hành động.” Ngay lúc đó, Bà-la-môn đã nhổ bật được tâm ngã mạn của mình, trong khi thỉnh cầu Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Như thế nào?” Những từ còn lại trong đoạn này đều đơn giản.
- Catutthe dakkhiṇeyyāti dakkhiṇā vuccati dānaṃ, tassa paṭiggahaṇayuttā kati puggalāti pucchati. Sekhoti iminā satta sekkhe dasseti. Ettha ca sīlavantaputhujjanopi sotāpanneneva saṅgahito. Āhuneyyā yajamānānaṃ hontīti dānaṃ dadantānaṃ āhunassa arahā dānapaṭiggāhakā nāma hontīti attho. Khettanti vatthu patiṭṭhā, puññassa viruhanaṭṭhānanti attho.
Trong bài Kinh thứ tư, xứng đáng cúng dường: Vật thí được gọi là vật cúng dường. Trưởng giả Anāthapiṇḍika hỏi rằng: Những hạng người nào xứng đáng thọ nhận lễ vật cúng dường? Bậc Hữu học: Đức Thế Tôn chỉ rõ bảy bậc Thánh Hữu học này. Và ở đây, ngài gộp chung cả hạng Phàm nhân có giới với chính vị Nhập Lưu. Là người đáng được cúng dường của người lễ bái: Là người xứng đáng thọ nhận lễ vật được mang đến cúng dường, tức là vị thọ nhận vật thí. Phước điền: là khoảng đất, là nơi thiết lập. Giải thích rằng– Là nơi làm cho tăng trưởng phước báu. - Pañcame pubbārāmeti sāvatthito puratthimadisābhāge ārāme. Migāramātupāsādeti visākhāya upāsikāya pāsāde. Sā hi migāraseṭṭhinā mātuṭṭhāne ṭhapitattāpi, sabbajeṭṭhakassa puttassa ayyakaseṭṭhinova samānanāmakattāpi migāramātāti vuccati. Tāya kārito sahassagabbho pāsādo migāramātupāsādo nāma. Thero tasmiṃ viharati. Tatra kho āyasmā sāriputtoti tasmiṃ pāsāde viharanto dhammasenāpatisāriputtatthero.
Trong bài Kinh thứ năm, tại Đông Viên: Tại ngôi tự viện nằm ở phía Đông của kinh thành Sāvatthi. Migāramātupāsāde: tòa lâu đài của cận sự nữ tên là Visākhā. Thật vậy, nữ cư sĩ Visākhā ấy được gọi là Migāramātā (Mẹ của Migāra) bởi vì trưởng giả Migāra (cha chồng của bà) đã đặt bà vào vị trí của người mẹ; đồng thời cũng vì bà có cùng phương danh với vị trưởng giả là ông nội (Trưởng giả Visākha), vốn là con trai trưởng. Tòa lâu đài được bà Visākhā kiến tạo có một ngàn căn phòng, được gọi là tòa lâu đài Migāramātu. Trưởng lão an trú ở tại đó. Tại đấy, Trưởng lão Sàriputta: Tướng quân Chánh pháp Trưởng lão Sàriputta trong khi an trú ở tòa lâu đài đó.
Bhikkhū āmantesīti kasmiṃ kāle āmantesi? Kānici hi suttāni purebhatte bhāsitāni atthi, kānici pacchābhatte, kānici purimayāme, kānici majjhimayāme, kānici pacchimayāme. Idaṃ pana samacittapaṭipadāsuttaṃ pacchābhatte bhāsitaṃ. Tasmā sāyanhasamaye āmantesi. Na kevalaṃ cetaṃ thereneva bhāsitaṃ, tathāgatenāpi bhāsitaṃ. Kattha nisīditvāti? Visākhāya ratanapāsāde nisīditvā. Tathāgato hi paṭhamabodhiyaṃ vīsati vassāni anibaddhavāso hutvā yattha yattha phāsukaṃ hoti, tattha tattheva gantvā vasi.
Trưởng lão đã gọi các vị Tỳ-khưu! Trưởng lão đã gọi (các vị Tỳ-khưu) vào thời gian nào? Bởi lẽ, một số bài Kinh nói rằng sự việc diễn ra trước bữa ăn, một số sau bữa ăn, một số vào canh đầu, một số vào canh giữa, và một số vào canh cuối. Hơn nữa, bài Kinh Paṭipadā thuộc phẩm Samacitta này được nói sau bữa ăn. Do đó, Trưởng lão đã gọi các Tỳ-khưu vào buổi chiều tối. Và bài Kinh này không chỉ riêng vị Trưởng lão tuyên thuyết, mà ngay cả Đức Như Lai cũng tuyên thuyết. Ngài đã ngồi ở đâu? Ngài đã ngồi ở tại tòa lâu đài bằng ngọc của bà Visākhā. Thật vậy, trong suốt 20 mùa an cư vào thời kỳ đầu sau khi giác ngộ, Đức Như Lai không trú ngụ cố định (mà) ở nơi nào có sự thuận lợi, thì ngài đến an trú ở tại nơi đó.
Paṭhamaṃ antovassañhi isipatane dhammacakkaṃ pavattetvā aṭṭhārasa mahābrahmakoṭiyo amatapānaṃ pāyetvā bārāṇasiṃ upanissāya isipatane vasi. Dutiyaṃ antovassaṃ rājagahaṃ upanissāya veḷuvane, tatiyacatutthānipi tattheva, pañcamaṃ antovassaṃ vesāliṃ upanissāya mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ, chaṭṭhaṃ antovassaṃ makulapabbate, sattamaṃ tāvatiṃsabhavane, aṭṭhamaṃ bhagge susumāragiraṃ nissāya bhesakaḷāvane, navamaṃ kosambiyaṃ, dasamaṃ pālileyyake vanasaṇḍe, ekādasamaṃ nālāyaṃ brāhmaṇagāme, dvādasamaṃ verañjāyaṃ, terasamaṃ cāliyapabbate, cuddasamaṃ jetavane, pañcadasamaṃ kapilavatthusmiṃ, soḷasamaṃ āḷavakaṃ dametvā caturāsītipāṇasahassāni amatapānaṃ pāyetvā āḷaviyaṃ, sattarasamaṃ rājagaheyeva, aṭṭhārasamaṃ cāliyapabbateyeva, tathā ekūnavīsatimaṃ, vīsatimaṃ pana antovassaṃ rājagahaṃyeva upanissāya vasi. Evaṃ vīsati vassāni anibaddhavāso hutvā yattha yattha phāsukaṃ hoti, tattha tattheva vasi.
Mùa an cư thứ nhất, ngài đã vận chuyển bánh xe Pháp tại rừng Isipatana, giúp cho 18 koṭi Đại Phạm thiên được uống nước Bất tử; ngài sống gần thành Bārāṇasī tại rừng Isipatana. Mùa an cư thứ hai, ngài sống gần kinh thành Rājagaha tại Tịnh xá Veḷuvana. Mùa an cư thứ ba và thứ tư, ngài cũng an trú tại nơi ấy (Tịnh xá Veḷuvana). Mùa an cư thứ năm, ngài sống gần kinh thành Vesālī tại Kūṭāgārasālā (Trùng Các Giảng Đường) trong khu rừng Mahāvana. Mùa an cư thứ sáu, ngài an trú tại ngọn núi Makula. Mùa an cư thứ bảy, ngài an trú tại cung trời Tāvatiṃsa, ngồi trên phiến đá Paṇḍukambala. Mùa an cư thứ tám, ngài sống gần thành Suṃsumāragira thuộc xứ Bhagga tại rừng Bhesakaḷāvana. Mùa an cư thứ chín, ngài sống tại kinh thành Kosambī. Mùa an cư thứ mười, ngài ở tại khu rừng rậm Pālileyyaka. Mùa an cư thứ mười một, ngài ở tại ngôi làng Bà-la-môn Nālaka. Mùa an cư thứ mười hai, ngài ở tại Verañjā. Mùa an cư thứ mười ba, Ngài ở tại ngọn núi Cāliya. Mùa an cư thứ mười bốn, ngài ở tại Tịnh xá Jetavana. Mùa an cư thứ mười lăm, ngài ở tại kinh thành Kapilavatthu. Mùa an cư thứ mười sáu: Ngài tế độ dạ-xoa Āḷavaka, giúp cho 84.000 chúng sanh được uống nước Bất tử, và an trú tại thành Āḷavī. Mùa hạ thứ mười bảy, ngài lại an trú tại kinh thành Rājagaha. Mùa hạ thứ mười tám, ngài lại an trú tại ngọn núi Cāliya. Mùa hạ thứ mười chín, ngài cũng an trú ở tại ngọn núi Cāliya. Mùa hạ thứ hai mươi, ngài nương nhờ và sống ở tại kinh thành Rājagaha. Như vậy, trong 20 mùa an cư đầu tiên, Đức Như Lai không hề an trú cố định; (mà) ở nơi nào có sự thuận lợi, thì ngài đến an trú ở tại nơi đó.
Tato paṭṭhāya pana dve senāsanāni dhuvaparibhogāni akāsi. Katarāni dve? Jetavanañca pubbārāmañca. Kasmā? Dvinnaṃ kulānaṃ guṇamahantatāya. Anāthapiṇḍikassa hi visākhāya ca guṇaṃ sandhāya guṇaṃ paṭicca satthā tāni senāsanāni dhuvaparibhogena paribhuñji. Utuvassaṃ cārikaṃ caritvāpi hi antovasse dvīsuyeva senāsanesu vasati. Evaṃ vasanto pana jetavane rattiṃ vasitvā punadivase bhikkhusaṅghaparivuto dakkhiṇadvārena sāvatthiṃ piṇḍāya pavisitvā pācīnadvārena nikkhamitvā pubbārāme divāvihāraṃ karoti. Pubbārāme rattiṃ vasitvā punadivase pācīnadvārena sāvatthiṃ piṇḍāya pavisitvā dakkhiṇadvārena nikkhamitvā jetavane divāvihāraṃ karoti. Tasmiṃ pana divase sammāsambuddho jetavaneyeva vasi. Yattha katthaci vasantassa cassa pañcavidhakiccaṃ avijahitameva hoti. Taṃ heṭṭhā vitthāritameva. Tesu kiccesu pacchimayāmakiccakāle bhagavā lokaṃ olokento sāvatthivāsīnañca samantā ca sāvatthiyā gāvutaaḍḍhayojanayojanaparame ṭhāne aparimāṇānaṃ sattānaṃ abhisamayabhāvaṃ addasa.
Kể từ đó trở đi, hai trú xứ thường xuyên sử dụng. Vậy hai nơi ấy là những nơi nào? Đó là Tịnh xá Jetavana, và Đông Viên Tự. Vì sao? Bởi vì hai gia tộc có nhiều ân đức. Bậc Đạo Sư thường xuyên sử dụng hai trú xứ ấy bởi vì y cứ vào ân đức, mà ở đây đề cập đến ân đức của Trưởng giả Anāthapiṇḍika và nữ cư sĩ Visākhā. Dẫu cho có du hành vào mùa mưa, khi nhập hạ cũng chỉ an trú ở hai trú xứ đó. Trong khi an trú như vậy, ban đêm ngài trú tại Jetavana; sáng ngày hôm sau, được tháp tùng bởi Hội chúng Tỳ-khưu, ngài đi vào thành Sāvatthi để khất thực thông qua cửa thành phía Nam, rồi bước ra bằng cửa thành phía Đông để trở về nghỉ ngơi ban ngày tại Đông Viên Tự. Ban đêm ngài trú tại Đông Viên Tự; vào sáng ngày hôm sau Ngài đi vào kinh thành Sāvatthi khất thực qua cửa thành phía Đông, rồi bước ra bằng cửa thành phía Nam để trở về nghỉ ngơi ban ngày ở tại Jetavana. Vào ngày hôm ấy, đấng Chánh đẳng Chánh giác an trú ở tại Jetavana. Đức Phật khi an trú ở bất cứ nơi nào, ngài cũng không từ bỏ năm Phật sự. Năm Phật sự ấy đã được giảng giải tường tận ở phần trước. Trong số các Phật sự ấy, thời gian thực hiện phận sự vào canh cuối, Đức Thế Tôn trong khi quan sát thế gian, ngài đã thấy rằng: “Dân chúng thành Sāvatthi cùng vô lượng chúng sanh xung quanh kinh thành Sāvatthi trong phạm vi một gāvuta và nửa do-tuần sẽ đạt được sự lãnh hội.”
Tato ‘‘kasmiṃ nu kho kāle abhisamayo bhavissatī’’ti olokento ‘‘sāyanhasamaye’’ti disvā ‘‘mayi nu kho kathente abhisamayo bhavissati, sāvake kathente bhavissatī’’ti ‘‘sāriputtatthere kathente bhavissatī’’ti addasa. Tato ‘‘kattha nisīditvā kathente bhavissatī’’ti olokento ‘‘visākhāya ratanapāsāde nisīditvā’’ti disvā ‘‘buddhānaṃ nāma tayo sāvakasannipātā honti, aggasāvakānaṃ eko. Tesu ajja dhammasenāpatisāriputtattherassa sāvakasannipāto bhavissatī’’ti addasa. Disvā pātova sarīrapaṭijagganaṃ katvā nivatthanivāsano sugatacīvaraṃ pārupitvā selamayapattaṃ ādāya bhikkhusaṅghaparivuto dakkhiṇadvārena nagaraṃ pavisitvā piṇḍāya caranto bhikkhusaṅghassa sulabhapiṇḍapātaṃ katvā vātappahatā viya nāvā paṭinivattitvā dakkhiṇadvārena nikkhamitvā bahidvāre aṭṭhāsi. Tato asīti mahāsāvakā bhikkhuniparisā upāsakaparisā upāsikāparisāti catasso parisā satthāraṃ parivārayiṃsu.
Kế đó, trong khi quán xét: “Vào thời điểm nào sẽ có sự lãnh hội?” – Ngài thấy rằng: “Vào buổi chiều tối.” – (Ngài quán xét tiếp) “Khi ta tuyên thuyết sẽ có sự lãnh hội, hay là khi vị Thánh đệ tử tuyên thuyết sẽ có sự lãnh hội?” – Thấy rằng: “Khi Trưởng lão Sāriputta thuyết giảng sẽ có sự lãnh hội.” Sau đó, trong khi quán xét: “Ngồi ở đâu sẽ có sự lãnh hội?” – Thấy rằng: “Ngồi ở tại tòa lâu đài bằng ngọc của nữ cư sĩ Visākhā.” – “Thông thường các vị Phật thường có ba cuộc tụ hội các đệ tử; còn (hai) vị Thinh văn hàng đầu thì có một cuộc tụ hội. Trong các cuộc tụ hội ấy, hôm nay sẽ có cuộc hội họp các đệ tử của vị Tướng quân Chánh pháp Trưởng lão Sāriputta.” Khi biết rằng: Ngay từ sáng sớm đã hoàn tất phận sự đối với cơ thể, quấn nội y, mặc y vài trái của Đức Thiện Thệ, cầm bình bát làm bằng đá, được tháp tùng bởi Hội chúng Tỳ-khưu, rồi đi vào thành qua cửa phía Nam. Trong khi đi khất thực ngài đã khiến cho Hội chúng Tỳ-khưu dễ dàng nhận lãnh được vật thực, sau khi rời khỏi qua cửa thành phía Nam giống như cánh buồm gặp gió, rồi đứng ở bên ngoài cửa thành. Sau đó, tám mươi vị Đại Thinh văn, Hội chúng Tỳ-khưu-ni, Hội chúng cận sự nam, Hội chúng cận sự nữ — hợp thành bốn Hội chúng (Tứ chúng) đều tháp tùng bậc Đạo Sư.
Satthā sāriputtattheraṃ āmantesi – ‘‘sāriputta, tayā pubbārāmaṃ gantuṃ vaṭṭati, tava ca parisaṃ gahetvā gacchāhī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante’’ti thero attano parivārehi pañcahi bhikkhusatehi parivuto pubbārāmaṃ agamāsi. Eteneva niyāmena asīti mahāsāvake pubbārāmameva pesetvā sayaṃ ekena ānandatthereneva saddhiṃ jetavanaṃ agamāsi. Ānandattheropi vihāre satthu vattaṃ katvā vanditvā ‘‘pubbārāmaṃ gacchāmi, bhante’’ti āha. Evaṃ karohi ānandāti. Satthāraṃ vanditvā tattheva agamāsi. Satthā ekakova jetavane ohīno.
Bậc Đạo Sư đã bảo Trưởng lão Sāriputta rằng– “Này Sāriputta, ngươi nên đi đến Đông Viên Tự, hãy đưa Hội chúng của ngươi đi.” Trưởng lão đã đồng ý rằng: “Bạch ngài, lành thay!” Được vây quanh bởi Hội chúng Tỳ-khưu của mình khoảng 500 vị đi đến Đông Viên Tự. Bậc Đạo Sư cũng phái tám mươi vị Đại Thinh văn đi đến Đông Viên Tự y theo phương thức ấy, còn chính ngài trở về Jetavana cùng với một mình Trưởng lão Ānanda. Dẫu vậy, sau khi Trưởng lão Ānanda thực hiện các phận sự đối với bậc Đạo Sư, đã đảnh lễ rồi bạch rằng: “Bạch ngài, con (xin phép) đi đến Đông Viên Tự.” – Đức Thế Tôn nói rằng: “Này Ānanda, con hãy đi.” – Trưởng lão Ānanda sau khi đảnh lễ bậc Đạo Sư đã đi đến nơi đó. Ở tại Jetavana chỉ còn lại một mình bậc Đạo Sư.
Taṃ divasañhi catasso parisā therasseva dhammakathaṃ sotukāmā ahesuṃ. Kosalamahārājāpi balakāyena parivuto pubbārāmameva gato. Tathā pañcasataupāsakaparivāro anāthapiṇḍiko. Visākhā pana mahāupāsikā dvīhi jaṅghasahassehi parivuto agamāsi. Sattapaṇṇāsāya kulasatasahassānaṃ vasanaṭṭhāne sāvatthinagare gehapālakadārake ṭhapetvā sesajano gandhacuṇṇamālādīni gahetvā pubbārāmameva agamāsi. Catūsu dvāragāmesu gāvutaaḍḍhayojanayojanaparamaṭṭhāne sabbeyeva manussā gandhacuṇṇamālādihatthā pubbārāmameva agamaṃsu. Sakalavihāro missakapupphehi abhikiṇṇo viya ahosi.
Cũng vào ngày hôm ấy, bốn Hội chúng thảy đều mong muốn lắng nghe bài giảng Pháp của Trưởng lão. Kể cả Đại vương Pasenadi nước Kosala cũng được vây quanh bởi đội quân binh đi đến Đông Viên Tự. Trưởng giả Anāthapiṇḍika có 500 cận sự nam tháp tùng cũng đã đi đến đó. Về phía đại tín nữ Visākhā được tháp tùng bởi 2.000 nữ nhân đã đi đến đó. Tại thành Sāvatthi— là nơi cư ngụ của 5.700.000 gia tộc — toàn thể dân chúng ngoại trừ những đứa trẻ trông nhà, thảy đều mang theo bột thơm, và tràng hoa, v.v… đều đi đến về Đông Viên Tự. Và mọi tầng lớp dân chúng trong phạm vi một gāvuta, nửa do-tuần và một do-tuần, trong các thôn làng quanh bốn cửa thành cũng đã mang theo bột thơm, và tràng hoa, v.v.. đi đến Đông Viên Tự. Toàn bộ khu vực tự viện đã trở nên như thể được rải lên bởi các loại hoa khác nhau.
Dhammasenāpatisāriputtattheropi kho vihāraṃ gantvā vihārapariveṇe aṅgaṇaṭṭhāne aṭṭhāsi. Bhikkhū therassa āsanaṃ paññāpayiṃsu. Thero tattha nisīditvā upaṭṭhākattherena vatte kate bhikkhusaṅghassa ovādaṃ katvā gandhakuṭiṃ pavisitvā samāpattiṃ appetvā nisīdi. So paricchinnakālavasena samāpattito vuṭṭhāya aciravatiṃ gantvā rajojallaṃ pavāhetvā paṭippassaddhadaratho otiṇṇatittheneva uttaritvā nivatthanivāsano saṅghāṭiṃ pārupitvā aṭṭhāsi. Bhikkhusaṅghopi sammukhasammukhaṭṭhānena otaritvā sarīre rajojallaṃ pavāhetvā paccuttaritvā theraṃ parivārayiṃsu. Antovihārepi therassa dhammāsanaṃ paññāpayiṃsu. Catassopi parisā attano attano okāsaṃ ñatvā maggaṃ ṭhapetvā nisīdiṃsu. Sāriputtattheropi pañcabhikkhusataparivāro dhammasabhaṃ āgantvā sīhamatthakappatiṭṭhite samussitasetacchatte ratanapallaṅke cittabījaniṃ gahetvā puratthābhimukho nisīdi. Nisīditvā parisaṃ oloketvā – ‘‘mahatī vatāyaṃ parisā, imissā na appamattikā parittakadhammadesanā anucchavikā, kataradhammadesanā nu kho anucchavikā bhavissatī’’ti tīṇi piṭakāni āvajjamāno imaṃ saṃyojanapariyāya dhammadesanaṃ addasa.
Ngay cả vị Tướng quân Chánh pháp Trưởng lão Sāriputta — cũng đã đi đến tự viện, đứng ở tại một bãi đất trống trong khuôn viên tự viện ấy. Các vị Tỳ-khưu sửa soạn tọa cụ dâng lên Trưởng lão. Vị Trưởng lão ngồi trên pháp tòa ấy, sau khi vị Tỳ-khưu thị giả hoàn tất phận sự, ngài ban lời giáo giới đến Hội chúng Tỳ-khưu, rồi đi vào Hương phòng, ngồi xuống thể nhập thiền diệt. Đến thời khắc đã định, sau khi xuất khỏi sự thể nhập thiền diệt, ngài đã đi đến dòng sông Aciravatī để tắm rửa sạch bụi bặm (mồ hôi), xua tan sự mệt nhọc, rồi bước lên khỏi mặt nước tại bến mà mình đã xuống, quấn nội y, mặc y vai trái và khoác lên y hai lớp. Ngay cả Hội chúng Tỳ-khưu cũng xuống tắm rửa sạch bụi bặm (mồ hôi) rồi trở lên bờ vây quanh Trưởng lão. Bên trong tự viện cũng đã được soạn sẵn pháp tòa dành cho Trưởng lão. Bốn Hội chúng tự biết vị trí (chỗ ngồi) của bản thân nên đã ngồi xuống và chừa lại một lối đi. Trưởng lão Sāriputta được vây quanh bởi các vị Tỳ-khưu khoảng 500 vị tiến vào tại phòng hội về Giáo Pháp, ngồi hướng mặt về phương Đông, (tay) cầm chiếc quạt tuyệt đẹp, ngồi trên chiếc ngai bằng ngọc quý ở bên dưới cây lọng trắng được đặt trên bệ hình đầu sư tử. Khi đã ngồi và quan sát Hội chúng, nghĩ rằng– “Hội chúng này thật to lớn, việc thuyết giảng Giáo pháp nhỏ nhặt, không tương xứng, không phù hợp đối với Hội chúng này. Ta nên thuyết giảng Giáo pháp nào sẽ phù hợp đây?” Khi suy xét đến Tam Tạng, ngài nhận thấy bài giảng về các sự ràng buộc (Kiết sử) này.
Evaṃ desanaṃ sallakkhetvā taṃ desetukāmo bhikkhū āmantesi āvuso, bhikkhaveti. Āvusoti hi avatvā, bhikkhaveti vacanaṃ buddhālāpo nāma hoti, ayaṃ panāyasmā ‘‘dasabalena samānaṃ ālapanaṃ na karissāmī’’ti satthu gāravavasena sāvakālāpaṃ karonto, ‘‘āvuso bhikkhave’’ti āha. Etadavocāti etaṃ ‘‘ajjhattasaṃyojanañca, āvuso, puggalaṃ desessāmi bahiddhāsaṃyojanañcā’’ti dhammadesanāpadaṃ avoca.
Khi xem xét bài giảng Pháp như vậy, có ý muốn thuyết giảng bài Pháp ấy, nên mới gọi các vị Tỳ-khưu rằng: “Này chư Hiền Tỳ-khưu!” Quả thật, không nói “Āvuso” mà nói “Bhikkhave”, bởi vì đó là cách xưng hô của chư Phật. Hơn nữa, Trưởng lão Sāriputta này nghĩ rằng: “Ta sẽ không xưng hô giống như đấng Thập Lực,” khi xưng hô với các vị Thinh văn mới nói rằng: “Này chư Hiền Tỳ-khưu!” với sự cung kính ở bậc Đạo Sư. Đã nói điều này: Tướng quân Chánh pháp đã nói điều này “Này chư Hiền, ta sẽ thuyết giảng về hạng người có các sự ràng buộc ở nội phần (nội kiết sử) và hạng người có sự ràng buộc ở ngoại phần (ngoại kiết sử).”
Tasmiṃ pana ratanapāsāde adhivattho eko sotāpanno devaputto atthi, so buddhehi vā sāvakehi vā desanāya āraddhamattāyayeva jānāti – ‘‘ayaṃ desanā uttānikā bhavissati, ayaṃ gambhīrā. Ayaṃ jhānanissitā bhavissati, ayaṃ vipassanānissitā. Ayaṃ magganissitā ayaṃ phalanissitā, ayaṃ nibbānanissitā’’ti. So tasmimpi divase therena desanāya āraddhamattāya evaṃ aññāsi – ‘‘yena nīhārena mayhaṃ ayyena dhammasenāpatinā sāriputtattherena desanā āraddhā, ayaṃ desanā vipassanāgāḷhā bhavissati, chahi mukhehi vipassanaṃ kathessati. Desanāpariyosāne koṭisatasahassadevatā arahattaṃ pāpuṇissanti, sotāpannādīnaṃ pana devamanussānaṃ paricchedo na bhavissati. Desanāya anucchavikaṃ katvā mayhaṃ ayyassa sādhukāraṃ dassāmī’’ti devānubhāvena mahantaṃ saddaṃ katvā – ‘‘sādhu sādhu ayyā’’ti āha.
Hơn nữa, tòa lâu đài bằng ngọc đó có vị Thiên Tử là một vị Nhập Lưu an trú. Ngay khi Đức Thế Tôn hoặc các vị Thinh văn mới chỉ bắt đầu pháp thoại, vị Thiên Tử ấy biết rằng: “Pháp thoại này sẽ là nông cạn, Pháp thoại này sẽ là thâm sâu, Pháp thoại này sẽ dựa vào Thiền định, Pháp thoại này sẽ dựa vào Minh sát, Pháp thoại này sẽ dựa vào Đạo, Pháp thoại này sẽ dựa vào Quả, Pháp thoại này sẽ dựa vào Niết Bàn.” Cũng vậy vào ngày hôm ấy, khi vị Trưởng lão chỉ vừa bắt đầu Pháp thoại ấy thì vị Thiên Tử ấy đã biết như vầy— “Tướng quân Chánh pháp Trưởng lão Sāriputta là ngài đại đức của ta bắt đầu Pháp thoại bằng bất kỳ phương thức nào đi chăng nữa, Pháp thoại này sẽ gắn chặt vào Minh sát. Vị Trưởng lão sẽ hiển thị Minh sát tuệ thông qua sáu cửa ngõ. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, một ngàn koṭi Thiên nhân sẽ đạt được phẩm vị A-la-hán, còn các vị Thiên nhân và nhân loại là vị Nhập Lưu, v.v, thì không thể xác định. Ta sẽ ban lời tán thán đối với ngài đại đức của chúng ta sao cho thích đáng với bài Pháp thoại,” nên đã thốt lên lời tán thán to lớn do thần lực của chư Thiên rằng: “Lành thay! Lành thay! Thưa ngài đại đức!”
Devarājena sādhukāre dinne parivārakapāsādasahasse adhivatthā devatā sabbāva sādhukāraṃ adaṃsu. Tāsaṃ sādhukārasaddena sabbā pubbārāme vasanadevatā, tāsaṃ saddena gāvutamatte devatā, tato aḍḍhayojane yojaneti etenupāyena ekacakkavāḷe, dvīsu cakkavāḷesu, tīsu cakkavāḷesūti dasasahassacakkavāḷesu devatā sādhukāramadaṃsu. Tāsaṃ sādhukārasaddena pathaviṭṭhakanāgā ca ākāsaṭṭhakadevatā ca. Tato abbhavalāhakā, uṇhavalāhakā, sītavalāhakā, vassavalāhakā, cātumahārājikā cattāro mahārājāno, tāvatiṃsā devatā, sakko devarājā, yāmā devatā, suyāmo devarājā, tusitā devatā, santusito devarājā, nimmānaratī devatā, sunimmito devarājā, vasavattī devatā, vasavattī devarājā, brahmapārisajjā, brahmapurohitā, mahābrahmāno, parittābhā, appamāṇābhā, ābhassarā, parittasubhā, appamāṇasubhā, subhakiṇhā, vehapphalā, avihā, atappā, sudassā, sudassī, akaniṭṭhā devatāti asaññe ca arūpāvacarasatte ca ṭhapetvā sotāyatanapavattiṭṭhāne sabbā devatā sādhukāramadaṃsu.
Khi vị Thiên vương ban lời tán thán, tất cả các vị Thiên nhân ngự ở một ngàn tòa lâu đài là tùy tùng đã ban lời tán thán. Với lời tán thán của các vị Thiên nhân ấy, các vị Thiên nhân ngự tại Đông Viên Tự cũng đã ban lời tán thán. Với lời tán thán của các vị Thiên nhân tại Đông Viên Tự, các vị Thiên nhân trong phạm vi một gāvuta cũng đã ban lời tán thán. Tiếp đó, bằng phương thức ấy các vị Thiên nhân trong phạm vi nửa do-tuần, trong phạm vi một do-tuần, các vị Thiên nhân ngự trong phạm vi một thế giới, hai thế giới, ba thế giới… cho đến toàn thể các vị Thiên nhân trong mười ngàn thế giới thảy đều ban lời tán thán. Kế đến, với lời tán thán của các vị Thiên nhân ấy, loài Nāga trú ngụ dưới lòng đất và các vị Thiên nhân trú ngự trên hư không cũng đã ban lời tán thán. Tiếp đó, chư Thiên thuộc loại mây sấm, chư Thiên thuộc loại mây nóng, chư Thiên thuộc loại mây lạnh, chư Thiên thuộc loại mây mưa; Tứ Đại Thiên Vương ngụ ở cõi trời Tứ Đại Thiên Vương; chư thiên cõi trời Đao Lợi; Chúa Trời Sakka, cung với chư Thiên cõi Dạ Ma; Thiên Vương Suyāma, cùng với chư Thiên cõi trời Đâu Suất; Thiên Vương Santusita, cùng với chư Thiên cõi trời Hóa Lạc; Thiên Vương Sunimmita, cùng chư Thiên cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Chư Thiên cõi Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm Thiên; cõi Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên; cõi Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên; cõi Quảng Quả Thiên; cho đến các cõi Tịnh Cư Thiên là Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Hiện Thiên, Thiện Kiến Thiên, và Sắc Cứu Cánh Thiên; ngoại trừ chúng sinh cõi Vô Tưởng và bốn cõi Vô Sắc, thì tất cả toàn bộ chư Thiên và Phạm Thiên ở nơi vừa đủ có thể nghe được âm thanh thảy đều ban lời tán thán.
Tato khīṇāsavamahābrahmāno – ‘‘mahā vatāyaṃ sādhukārasaddo, pathavitalato paṭṭhāya yāva akaniṭṭhalokaṃ āgato, kimatthaṃ nu kho eso’’ti āvajjento ‘‘dhammasenāpatisāriputtatthero pubbārāme visākhāya ratanapāsāde nisīditvā saṃyojanapariyāyadhammadesanamārabhi, amhehipi tattha kāyasakkhīhi bhavituṃ vaṭṭatī’’ti cintetvā tattha agamaṃsu. Pubbārāmo devatāhi paripuṇṇo, samantā pubbārāmassa gāvutaṃ aḍḍhayojanaṃ, yojananti sakalacakkavāḷaṃ heṭṭhā pathavitalena tiriyaṃ cakkavāḷapariyantena paricchinnaṃ dasahi cakkavāḷasahassehi sannipatitāhi devatāhi nirantaramahosi, āragganitudanamatte ṭhāne uparimakoṭiyā saṭṭhi devatā sukhumattabhāve māpetvā aṭṭhaṃsu.
Kế tiếp, các vị Đại Phạm Thiên là bậc lậu tận quán sát rằng: “Lời tán thán này thật thật to lớn! Âm thanh vang dội từ bề mặt quả địa cầu đến tận cõi trời Sắc Cứu Cánh. Vậy chuyện này như thế nào?” Nghĩ rằng: “Tướng quân Chánh pháp Trưởng lão Sāriputta ngồi ở tòa lâu đài bằng ngọc của bà Visākhā tại Đông Viên Tự, bắt đầu bài giảng Pháp về các sự ràng buộc (Kiết sử), cả chúng ta nên trở thành bậc Thân chứng dự phần tại nơi ấy,” các vị đã đi đến nơi ấy. Khi ấy, ở Đông Viên Tự tràn ngập các vị Thiên nhân, xung quanh Đông Viên Tự trong phạm vi một gāvuta, nửa do-tuần, một do-tuần, rồi lan rộng ra khắp thế giới, theo bên dưới bề mặt quả địa cầu cho đến ranh giới tận cùng của thế giới, thảy đều chật kín bởi các vị Thiên nhân từ mười ngàn thế giới tụ hội lại. Sáu mươi koṭi Thiên nhân ở bên trên đã đứng hóa hiện thân xác vô cùng vi tế trong một khoảng không gian chỉ bằng đầu mũi kim nhọn.
Athāyasmā sāriputto ‘‘mahantaṃ vatidaṃ halāhalaṃ, kiṃ nu kho eta’’nti āvajjento dasasahassacakkavāḷe ṭhitānaṃ devatānaṃ ekacakkavāḷe sannipatitabhāvaṃ addasa. Atha yasmā buddhānaṃ adhiṭṭhānakiccaṃ natthi, parisaparimāṇeneva passanti ceva saddañca sāventi. Sāvakānaṃ pana adhiṭṭhānaṃ vaṭṭati. Tasmā thero samāpattiṃ samāpajjitvā samāpattito vuṭṭhāya mahaggatacittena adhiṭṭhāsi – ‘‘cakkavāḷapariyantā parisā sabbāpi maṃ passatu, dhammañca me desentassa saddaṃ suṇātū’’ti. Adhiṭṭhitakālato paṭṭhāya dakkhiṇajāṇupasse ca cakkavāḷamukhavaṭṭiyañca nisīditvā ‘‘dhammasenāpatisāriputtatthero nāma kīdiso dīgho rasso sāmo odāto’’ti vattabbakāraṇaṃ nāhosi, sabbesampi sabbadisāsu nisinnānaṃ abhimukheyeva paññāyittha, nabhamajjhe ṭhitacando viya ahosi. Dhammaṃ desentassāpissa dakkhiṇajāṇupasse ca cakkavāḷamukhavaṭṭiyañca nisinnā sabbe ekakaṃseneva saddaṃ suṇiṃsu.
Khi ấy, Trưởng lão Sāriputta quán sát rằng: “Sự náo động này thật to lớn! Đây là chuyện gì vậy?” Ngài đã nhìn thấy các vị Thiên nhân ngự ở mười ngàn thế giới đến tụ hội trong cùng một thế giới. Khi ấy, vì các Đức Phật không có sự cần thiết phải phát nguyện, (mà các ngài) cho thấy và cho lắng nghe âm thanh vừa đủ với Hội chúng. Tuy nhiên, đối với hàng Thinh văn cần phải phát nguyện. Do đó, Trưởng lão đã thể nhập Thiền diệt, sau khi xuất khỏi Thiền diệt, đã phát nguyện bằng Tâm Đáo-đại rằng: “Mong toàn thể Hội chúng cho đến tận rìa thế giới hãy thấy ta, và khi ta thuyết giảng Pháp, tất cả đều được lắng nghe.” Kể từ thời khắc Trưởng lão phát nguyện, người ngồi bên gối phải của Trưởng lão hay chỗ giáp ranh thế giới, đều không có lý do cần phải nói rằng– “Tướng quân Chánh pháp Trưởng lão Sāriputta cao hay thấp, ngăm đen hay trắng trẻo như thế nào?” Trưởng lão đã hiện rõ ngay trước mặt của toàn thể Hội chúng đang ngồi ở mọi phương hướng, tựa như vầng trăng trôi lơ lửng giữa hư không. Ngay cả khi Trưởng lão đang thuyết Pháp, tất cả chư Thiên và nhân loại đang ngồi bên gối phải Trưởng lão hay chỗ giáp ranh thế giới, thảy đều nghe được âm thanh cùng lúc.
Evaṃ adhiṭṭhahitvā thero ajjhattasaṃyojanañca, āvusoti imaṃ dhammadesanaṃ ārabhi. Tattha ajjhattanti kāmabhavo. Bahiddhāti rūpārūpabhavo. Kiñcāpi hi sattā kāmabhave appaṃ kālaṃ vasanti kappassa catutthameva koṭṭhāsaṃ, itaresu tīsu koṭṭhāsesu kāmabhavo suñño hoti tuccho, rūpabhave bahuṃ kālaṃ vasanti, tathāpi tesaṃ yasmā kāmabhave cutipaṭisandhiyo bahukā honti, appakā rūpārūpabhavesu. Yattha ca cutipaṭisandhiyo bahukā, tattha ālayopi patthanāpi abhilāsopi bahu hoti. Yattha appā, tattha appo. Tasmā kāmabhavo ajjhattaṃ nāma jātaṃ, rūpārūpabhavā bahiddhā nāma. Iti ajjhattasaṅkhāte kāmabhave chandarāgo ajjhattasaṃyojanaṃ nāma, bahiddhāsaṅkhātesu rūpārūpabhavesu chandarāgo bahiddhāsaṃyojanaṃ nāma. Orambhāgiyāni vā pañca saṃyojanāni ajjhattasaṃyojanaṃ nāma, uddhambhāgiyāni pañca bahiddhāsaṃyojanaṃ nāma. Tatrāyaṃ vacanattho – oraṃ vuccati kāmadhātu, tattha upapattinipphādanato taṃ oraṃ bhajantīti orambhāgiyāni. Uddhaṃ vuccati rūpārūpadhātu, tattha upapattinipphādanato taṃ uddhaṃ bhajantīti uddhambhāgiyāni.
Sau khi phát nguyện, Trưởng lão mới bắt đầu bài thuyết Pháp này rằng: “Này chư Hiền tôi sẽ thuyết giảng về hạng người có sự ràng buộc ở nội phần (nội kiết sử).” Ở đấy, nội phần: Dục giới. Ngoại phần: Cõi Sắc và Vô sắc. Thực vậy, mặc dù chúng sanh cư ngụ ở cõi Dục thời gian ngắn, chỉ bằng một phần tư của kiếp; ba phần thời gian còn lại ở cõi Dục là rỗng không; cư ngụ ở cõi Sắc thời gian dài, mặc dầu vậy, bởi vì chúng sanh ấy có sự tử và sự tái tục ở cõi Dục là nhiều, còn ở cõi Sắc và cõi Vô sắc là ít. Và cõi nào có sự tử và sự tái tục nhiều, cõi ấy có sự quyến luyến, sự ước mong và sự mong muốn là nhiều; cõi nào ít … cõi ấy có ít. Do đó, cõi Dục được gọi là ‘nội phần’, còn cõi Sắc và cõi Vô sắc được gọi là ‘ngoại phần’. Mong muốn và luyến ái ở cõi Dục được xem là nội phần — đó gọi là sự ràng buộc ở nội phần. Mong muốn và luyến ái ở cõi Sắc và cõi Vô sắc được xem là ngoại phần — đó gọi là sự ràng buộc ở ngoại phần. Hoặc năm sự ràng buộc thuộc hạ phần[2] gọi là sự ràng buộc ở nội phần. Năm sự ràng buộc thuộc thượng phần[3] gọi là sự ràng buộc ở ngoại phần. Ở đấy, đây là ý nghĩa của lời nói như sau— Dục giới được gọi là ‘hạ phần’, chúng sanh cộng sự với các pháp thấp kém đó do đưa đến sự thành tựu tái sanh ở cõi ấy; do đó mới gọi là thuộc hạ phần. Cõi Sắc và Vô sắc được gọi là ‘thượng phần’, chúng sinh cộng sự với những pháp hướng thượng ấy do đưa đến sự thành tựu tái sanh ở cõi ấy; do đó mới gọi là thuộc thượng phần.
Evaṃ vuttappabhedena ajjhattasaṃyojanena saṃyutto puggalo ajjhattasaṃyojano, bahiddhāsaṃyojanena saṃyutto puggalo bahiddhāsaṃyojano. Ubhayampi cetaṃ na lokiyassa vaṭṭanissitamahājanassa nāmaṃ. Yesaṃ pana bhavo dvedhā paricchinno, tesaṃ sotāpannasakadāgāmianāgāmīnaṃ ariyasāvakānaṃ etaṃ nāmaṃ. Yathā hi mahāaraññe khadiravanasālavanādīni thambho tulāsaṅghāṭoti nāmaṃ na labhanti, khadiravanaṃ sālavananti nāmameva labhanti. Yadā pana tato rukkhā tiṇhāya kuṭhāriyā chinditvā thambhādisaṇṭhānena tacchitā honti, tadā thambho tulāsaṅghāṭoti nāmaṃ labhanti. Evamevaṃ aparicchinnabhavo bahalakileso puthujjano etaṃ nāmaṃ na labhati, bhavaṃ paricchinditvā kilese tanuke katvā ṭhitā sotāpannādayova labhanti.
Như vậy, hạng người phối hợp với sự ràng buộc ở nội phần theo cách đã nói được gọi là người có sự ràng buộc ở nội phần, hạng người phối hợp với sự ràng buộc ở ngoại phần được gọi là người có sự ràng buộc ở ngoại phần. Và cả hai sự ràng buộc này không phải là tên gọi của thế gian đối với đám đông người vẫn còn nương tựa vào vòng luân hồi. Trái lại, hai sự ràng buộc này là tên gọi của các bậc Thánh Thinh văn thuộc quả vị Nhập Lưu, Nhất Lai và Bất Lai được phân thành hai nhóm. Ví như cánh rừng cây keo và rừng cây sa-la, v.v, không được gọi là ‘cột trụ, xà ngang, hay kèo’, mà chỉ được gọi là rừng cây keo hay rừng sa-la. Nhưng khi nào người thợ sử dụng chiếc rìu sắc bén đốn hạ những thân cây từ cánh rừng đó, rồi đẽo gọt tạo thành những cột trụ, v.v. Khi đó, chúng mới được gọi là cột trụ, xà ngang, hay kèo. Tương tự y như thế, hạng phàm phu có phiền não dày đặc chưa cắt đứt các Hữu, thì đây vẫn chưa đạt được danh xưng ấy. Chỉ có vị Nhập Lưu, v.v, sau khi cắt đứt các Hữu đã làm các phiền não suy giảm, và an trú (trong quả vị đó), mới đạt được danh xưng ấy.
Imassa ca panatthassa vibhāvanatthaṃ idaṃ vacchakasālopamaṃ veditabbaṃ. Vacchakasālaṃ hi katvā anto khāṇuke koṭṭetvā vacchake yottehi bandhitvā tesu upanibandhanti, yottesu appahontesu kaṇṇesupi gahetvā tattha vacchake pavesenti, antosālāya okāse appahonte bahi khāṇuke koṭṭetvāpi evameva karonti. Tattha koci antobaddho vacchako bahinipanno hoti, koci bahibaddho antonipanno, koci antobaddho antova nipanno, koci bahibaddho bahiyeva nipanno. Koci antopi abaddhova carati, bahipi abaddhova. Tattha antobaddhassa bahinipannassa bandhanaṃ dīghaṃ hoti. So hi uṇhādipīḷito nikkhamitvā bahi vacchakānaṃ abbhantare nipajjati. Bahibaddhe antonipannepi eseva nayo. Yo pana antobaddho antonipanno, tassa bandhanaṃ rassaṃ hoti. Bahibaddhe bahinipannepi eseva nayo. Ubhopi hi te divasampi khāṇukaṃ anuparigantvā tattheva sayanti. Yo pana anto abaddho tattheva vacchakānaṃ antare vicarati. Ayaṃ sīlavā vacchako kaṇṇe gahetvā vacchakānaṃ antare vissaṭṭho divasampi aññattha agantvā tattheva carati. Bahi abaddhe tattheva vicarantepi eseva nayo.
Vả lại, để làm sáng tỏ ý nghĩa này, nên biết so sánh ‘chiếc chuồng bê’. Câu chuyện như sau: Dân làng làm một chiếc chuồng bê, họ đã đóng nhiều chiếc cọc ở bên trong chuồng, rồi dùng dây thừng buộc các con bê con vào những chiếc cọc ấy. Khi dây thừng không còn đủ, họ nắm lấy hai tai của những con bê dẫn vào chuồng, khi ở bên trong những chiếc cọc không còn đủ chỗ trống, họ lại đóng thêm nhiều chiếc cọc ở phía ngoài chuồng, rồi cũng tiến hành y như thế. Tại cái chuồng ấy, một số con bê được buộc ở bên trong nhưng thân lại nằm ở bên ngoài; một số con được buộc ở bên ngoài nhưng nằm ở bên trong; một số con được buộc ở bên trong và nằm bên trong; một số con được buộc ở bên ngoài và cũng nằm ở bên ngoài. Có một số con không bị buộc dây ở bên trong thì tự do đi lại (ở bên trong); và một số con không bị buộc dây ở bên ngoài và tự do đi lại (ở bên ngoài). Trong số các con bê ấy, các con bê được buộc ở bên trong nhưng lại nằm ở bên ngoài do sợi dây buộc dài. Bởi vì các con bê ấy bị sự nóng bức, v.v, hành hạ, nên mới đi ra ngoài nằm chung với các con bê ở bên ngoài. Đối với con bê được buộc ở bên ngoài nhưng lại vào nằm ở bên trong cũng có phương thức tương tự. Trái lại, những con bê nào được buộc ở bên trong và nằm ở bên trong là do sợi dây buộc ngắn. Cả những con bê được buộc ở bên ngoài và nằm ngủ ở bên ngoài thì cũng có phương thức tương tự. Cả hai nhóm những con bê ấy, đi vòng quanh ở chính chiếc cọc trong chuồng ấy suốt cả ngày. Tuy nhiên, con bê nào không bị buộc dây ở bên trong (chuồng) thì đi lại giữa đàn bê con ngay trong chiếc chuồng ấy. Những con bê nằm đây bị nắm lấy tai thả vào đàn bê thì không thể đi chỗ khác, mà chỉ quanh quẩn ở tại chỗ ấy. Những con bê không bị buộc dây ở bên ngoài, hay những con bê quanh quẩn trong chính chuồng ấy đều có phương thức tương tự.
Tattha vacchakasālā viya tayo bhavā veditabbā. Vacchakasālāyaṃ khāṇukā viya avijjākhāṇuko. Vacchakabandhanayottaṃ viya dasa saṃyojanāni. Vacchakā viya tīsu bhavesu nibbattasattā. Antobaddho bahisayitavacchako viya rūpārūpabhavesu sotāpannasakadāgāmino. Te hi kiñcāpi tattheva vasanti, saṃyojanaṃ pana tesaṃ kāmāvacarūpanibaddhameva. Kenaṭṭhena? Appahīnaṭṭhena. Rūpārūpabhavesu puthujjanopi eteheva saṅgahito. Sopi hi kiñcāpi tattha vasati, saṃyojanaṃ panassa kāmāvacarūpanibaddhameva. Bahibaddho antosayitavacchako viya kāmāvacare anāgāmī. So hi kiñcāpi kāmāvacare vasati, saṃyojanaṃ panassa rūpārūpabhavūpanibaddhameva. Antobaddho antonipanno viya kāmāvacare sotāpannasakadāgāmino. Te hi sayampi kāmāvacare vasanti, saṃyojanampi tesaṃ kāmāvacarūpanibaddhameva. Bahibaddho bahinipanno viya rūpārūpabhavesu anāgāmī. So hi sayampi tattha vasati, saṃyojanampissa rūpārūpabhavūpanibaddhameva. Antoabaddho antovicaraṇavacchako viya kāmāvacare khīṇāsavo. Bahiabaddho bahivicaraṇavacchako viya rūpārūpabhave khīṇāsavo. Saṃyojanesu pana sakkāyadiṭṭhi vicikicchā sīlabbataparāmāsoti imāni tīṇi gacchantaṃ nivārenti, gataṃ paṭiānenti. Kāmacchando byāpādoti imāni pana dve saṃyojanāni samāpattiyā vā avikkhambhetvā maggena vā asamucchinditvā rūpārūpabhave nibbattituṃ na sakkoti.
Trong dụ ngôn ấy, nên được hiểu rằng: Tam giới giống như chiếc chuồng bê. Vô minh giống như chiếc cọc đóng trong chuồng bê. Mười sự ràng buộc giống như sợi dây thừng buộc các con bê vào chiếc cọc. Chúng sanh được sanh ra trong Tam giới giống như những con bê. Các vị Nhập Lưu và Nhất Lai ở cõi Sắc và cõi Vô Sắc giống như những con bê được buộc ở bên trong nhưng lại nằm ở bên ngoài. Thật vậy, dẫu các vị ấy đang ngự ở tại nơi đó, nhưng các sự ràng buộc của các vị ấy vẫn trói buộc ở Dục giới. Với ý nghĩa gì? – Bởi vì các vị ấy vẫn chưa được dứt bỏ (các sự ràng buộc). Ngay cả hạng phàm phu ở cõi Sắc và Vô sắc cũng được tổng hợp vào nhóm Dục giới ấy. Thật vậy, dẫu hạng phàm phu đang cư ngụ ở đó (cõi Sắc và Vô sắc), nhưng các sự ràng buộc của các vị ấy vẫn trói buộc ở Dục giới. Vị Bất Lai ở cõi Dục giống như con bê được buộc ở bên ngoài nhưng lại nằm ở bên trong. Thật vậy, mặc dù vị ấy đang cư ngụ ở cõi Dục giới, nhưng các sự ràng buộc của các vị ấy vẫn còn trói buộc ở cõi Sắc và Vô sắc. Vị Nhập Lưu và vị Bất Lai ở cõi Dục giống như con bê được buộc ở bên trong và nằm ở bên trong. Bởi vì, bản thân các vị ấy đang cư ngụ trong Dục giới, và các sự ràng buộc của các vị ấy vẫn còn trói buộc ở Dục giới. Vị Bất Lai ở cõi Sắc và Vô sắc giống như con bê được buộc ở bên ngoài và nằm ở bên ngoài. Bởi vì, bản thân vị ấy vừa cư ngụ ở cõi Sắc và Vô sắc, vừa bị các sự ràng buộc của vị ấy trói buộc ở cõi Sắc và Vô sắc ấy. Bậc Lậu Tận ở cõi Dục giới giống như con bê không bị buộc ở bên trong, (tự do) đi lại ở bên trong. Bậc Lậu Tận ở cõi Sắc và Vô sắc giống như con bê không bị buộc ở bên ngoài, (tự do) đi lại ở bên ngoài. Trong số các sự ràng buộc ấy, ba sự ràng buộc này là sự nhận thức sai trái về thân (thân kiến), hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự (giới cấm thủ)— không thể ngăn cản người đang đi, người đã đi cũng không thể quay trở lại. Tuy nhiên, hai sự ràng buộc này là sự mong muốn về dục và oán hận mà một người không chế ngự bằng thiền định hoặc không nhổ tận gốc bằng Thánh Đạo thì không thể tái sanh vào cõi Sắc và Vô sắc.
Katamo cāvusoti idaṃ thero yathā nāma puriso dve ratanapeḷā passe ṭhapetvā sampattaparisāya dve hatthe pūretvā sattavidhaṃ ratanaṃ bhājetvā dadeyya, evaṃ paṭhamaṃ ratanapeḷaṃ datvā dutiyampi tatheva dadeyya. Evamevaṃ ‘‘ajjhattasaṃyojanañca, āvuso, puggalaṃ desessāmi bahiddhāsaṃyojanañcā’’ti imāni dve padāni mātikāvasena ṭhapetvā idāni aṭṭhavidhāya parisāya bhājetvā dassetuṃ vitthārakathaṃ ārabhi.
Ví như một người đàn ông đặt hai túi châu báu bên cạnh rồi chia bảy loại châu báu cho hội chúng đến gặp đầy cả hai tay của mỗi người, sau khi đã cho túi châu báu thứ nhất như vậy, luôn cả túi thứ hai ông ấy cũng cho như thế; Trưởng lão Sāriputta cũng tương tự y như vậy, ngài đã đặt hai câu này làm đầu đề trước: “Này các Hiền giả, tôi sẽ thuyết về người có các sự ràng buộc ở nội phần và người có sự ràng buộc ở ngoại phần.” Giờ đây, để phân tách thuyết giảng cho tám Hội chúng mới bắt đầu bài giảng chi tiết này: “Và này các Hiền giả! Thế nào là người có các sự ràng buộc nội phần?”
Tattha idhāti imasmiṃ sāsane. Sīlavāhotīti catupārisuddhisīlehi sīlasampanno hoti. Iti thero ettāvatā ca kira catupārisuddhisīlaṃ uddisitvā ‘‘pātimokkhasaṃvarasaṃvuto’’ti iminā tattha jeṭṭhakasīlaṃ vitthāretvā dassesīti dīpavihāravāsī summatthero āha. Antevāsiko panassa tipiṭakacūḷanāgatthero āha – ‘‘ubhayatthāpi pātimokkhasaṃvarova vutto. Pātimokkhasaṃvaroyeva hi sīlaṃ, itarāni pana tīṇi sīlanti vuttaṭṭhānaṃ nāma atthī’’ti ananujānanto uttari āha – indriyasaṃvaro nāma chadvārarakkhāmattakameva, ājīvapārisuddhi dhammena samena paccayuppattimattakaṃ, paccayasannissitaṃ paṭiladdhapaccaye ‘‘idamattha’’nti paccavekkhitvā paribhuñjanamattakaṃ, nippariyāyena pana pātimokkhasaṃvarova sīlaṃ. Yassa so bhinno, ayaṃ chinnasīso viya puriso hatthapāde sesāni rakkhissatīti na vattabbo. Yassa pana so arogo, ayaṃ acchinnasīso viya puriso jīvitaṃ sesāni puna pākatikāni katvā rakkhituṃ sakkoti. Tasmā sīlavāti iminā pātimokkhasaṃvaraṃ uddisitvā taṃ vitthārento ‘‘pātimokkhasaṃvarasaṃvuto’’tiādimāhāti.
Trong số các từ ngữ ấy, ‘idha’ trong Giáo Pháp này. Là vị có giới: Là vị được thành tựu giới bởi bốn thanh tịnh giới. Trưởng lão Summa an trú tại Dīpavihāra đã nói rằng: Nghe nói Trưởng lão chỉ ra bốn thanh tịnh giới bằng chừng ấy lời, rồi thuyết giảng chi tiết về giới trọng yếu trong Pāḷī ấy bằng câu này: “thu thúc với sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha.” Ngoài ra, Trưởng lão Cūḷanāga, bậc thông suốt Tam Tạng và là vị học trò của Trưởng lão Summa lại nói rằng: “Trưởng lão Sāriputta nói đến sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha bằng cả hai câu; bởi vì, chính sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha là giới, còn 3 phần còn lại chỉ ở vị trí được gọi là ‘giới’ mà thôi. Khi không đồng thuận (với quan điểm trước), ngài còn nhấn mạnh rằng: “Chỉ sự hộ trì sáu môn gọi là sự thu thúc các quyền; chỉ riêng việc làm cho các vật dụng phát sinh hợp lý, đúng pháp gọi là sự nuôi mạng thanh tịnh; chỉ việc quán chiếu các vật dụng đã nhận được rằng “vật thực này có lợi ích” rồi mới thọ dụng gọi là quán tưởng tứ vật dụng; nhưng chỉ có sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha mới chính là ‘giới’ trực tiếp. Vị Tỳ-khưu có sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha bị bể vỡ, không nên nói rằng: sẽ gìn giữ các điều học còn lại; điều này ví như một người đã bị đứt đầu thì không nên nói rằng: sẽ gìn giữ tay chân. Ngược lại, vị Tỳ-khưu có sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha không bị lấm nhơ, có thể gìn giữ gìn các điều học còn lại làm cho nguyên vẹn; điều này giống như người chưa bị đứt đầu thì vẫn gìn giữ được mạng sống. Do đó, Trưởng lão Sāriputta chỉ ra “sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha,” với cụm từ ‘là người có giới’ này, rồi khi giải thích chi tiết về điều đó ngài mới nói rằng: “Thu thúc với sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha.”
Tattha pātimokkhasaṃvarasaṃvutoti pātimokkhasaṃvarena samannāgato. Ācāragocarasampannoti ācārena ca gocarena ca sampanno. Aṇumattesūti appamattakesu. Vajjesūti akusaladhammesu. Bhayadassāvīti bhayadassī. Samādāyāti sammā ādiyitvā. Sikkhati sikkhāpadesūti taṃ taṃ sikkhāpadaṃ samādiyitvā sikkhati. Apica samādāya sikkhati sikkhāpadesūti yaṃkiñci sikkhāpadesu sikkhākoṭṭhāsesu sikkhitabbaṃ kāyikaṃ vā vācasikaṃ vā, taṃ sabbaṃ sammā ādāya sikkhati. Ayamettha saṅkhepo, vitthārato pana sabbānetāni pātimokkhasaṃvarādīni padāni visuddhimagge (visuddhi. 1.14 ādayo) vuttāni, catupārisuddhisīlañca sabbākārena vibhajitvā dassitaṃ. Aññataraṃ devanikāyanti chasu kāmāvacaradevaghaṭāsu aññataraṃ devaghaṭaṃ. Āgāmī hotīti heṭṭhā āgāmī hoti. Āgantā itthattanti itthattaṃ mānusakapañcakkhandhabhāvameva āgantā hoti. Tatrūpapattiko vā uparūpapattiko vā na hoti, puna heṭṭhāgāmīyeva hotīti dasseti. Iminā aṅgena sukkhavipassakassa dhātukammaṭṭhānikabhikkhuno heṭṭhimaṃ maggadvayañceva phaladvayañca kathitaṃ.
Ở đấy, thu thúc với sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha: Vị thành tựu với sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha. Thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ: Thành tựu về hành kiểm và hành xứ. Nhỏ nhặt: chừng chút ít. Các tội lỗi: Ở các Pháp bất thiện. Thấy sự sợ hãi: Thấy sự sợ hãi. Thọ trì: Chân chánh thọ trì. Thực hành trong các điều học: Thọ trì và học tập trong các điều học ấy. Mặt khác, thọ trì và thực hành trong các điều học: Trong tất cả các điều học, tức là trong số các phần của các điều học, bất kỳ điều học nào liên quan đến thân hoặc liên quan đến khẩu cần phải học tập, chân chánh thọ trì và học tập toàn bộ các điều học ấy. Ở đây điều này là phần tóm tắt. Hơn nữa, các từ ngữ có sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, v.v… tất cả điều này đã được giải thích trong bộ Thanh Tịnh Đạo, và Bốn thanh tịnh giới cũng đã được Trưởng lão Sāriputta phân tích thuyết giảng với mọi biểu hiện. Một tập thế chư Thiên nào đó: Một tập thể chư Thiên nào đó trong số sáu cõi trời Dục giới. Là người lại trở lại: Là người còn trở lại tái sanh ở cõi thấp. Đi đến trạng thái này: Là vị đi đến bản thể này, tức là bản thể năm uẩn của loài người. Vị Trưởng lão chỉ rõ rằng— là người không tái sanh ở cõi đó hoặc tái sanh ở cõi cao hơn, mà là vị đi đến tái sinh ở cõi thấp nữa [Dục giới]. Với yếu tố này, ngài đề cập đến hai Đạo thấp và hai Quả thấp [là quả vị Nhập Lưu và Nhất Lai] của vị Tỳ-khưu tu tập đề mục tham thiền về Tứ đại, là bậc Thuần quán.
Aññataraṃ santaṃ cetovimuttinti aṭṭhasu samāpattīsu aññataraṃ catutthajjhānasamāpattiṃ. Sā hi paccanīkakilesānaṃ santattā santā, teheva ca kilesehi cetaso vimuttattā cetovimuttīti vuccati. Aññataraṃ devanikāyanti pañcasu suddhāvāsadevanikāyesu aññataraṃ. Anāgantā itthattanti puna imaṃ pañcakkhandhabhāvaṃ anāgantā, heṭṭhūpapattiko na hoti, uparūpapattiko vā hoti tattheva vā parinibbāyīti dasseti. Iminā aṅgena samādhikammikassa bhikkhuno tayo maggā tīṇi ca phalāni kathitāni.
Một sự an tịnh, sự giải thoát của tâm nào đó: Sự chứng đạt tứ thiền nào đó trong số tám tầng thiền. Sự chứng đạt tứ thiền ấy gọi là sự an tịnh vì các phiền não đối nghịch đã được vắng lặng, và được gọi là ‘sự giải thoát của tâm’ bởi vì tâm đã giải thoát khỏi chính phiền não ấy. Một tập thế chư Thiên nào đó: Một tập thể chư Thiên nào đó trong số năm cõi Tịnh Cư Thiên. Không còn trở lại trạng thái này nữa: Không đi đến bản thể năm uẩn này nữa. Trưởng lão chỉ rõ rằng— là người không còn tái sanh ở cõi thấp, mà chỉ tái sanh ở cõi cao hơn hoặc viên tịch Niết Bàn ở tại cảnh giới đó. Với yếu tố này, ngài nói đến ba Đạo và ba Quả của vị Tỳ-khưu thực hành đề mục thiền định.
Kāmānaṃyeva nibbidāyāti duvidhānampi kāmānaṃ nibbindanatthāya ukkaṇṭhanatthāya. Virāgāyāti virajjanatthāya. Nirodhāyāti appavattikaraṇatthāya. Paṭipanno hotīti paṭipattiṃ paṭipanno hoti. Ettāvatā sotāpannassa ca sakadāgāmino ca pañcakāmaguṇikarāgakkhayatthāya anāgāmimaggavipassanā kathitā hoti. Bhavānaṃyevāti tiṇṇaṃ bhavānaṃ. Iminā anāgāmino bhavarāgakkhayatthāya arahattamaggavipassanā kathitā hoti. Taṇhākkhayāya paṭipanno hotīti imināpi sotāpannasakadāgāmīnaṃyeva pañcakāmaguṇikataṇhākkhayakaraṇatthaṃ anāgāmimaggavipassanā kathitā. So lobhakkhayāyāti imināpi anāgāmino bhavalobhakkhayatthāya arahattamaggavipassanāva kathitā. Aññataraṃ devanikāyanti suddhāvāsesveva aññataraṃ devanikāyaṃ. Anāgantā itthattanti imaṃ khandhapañcakabhāvaṃ anāgantā, heṭṭhūpapattiko na hoti, uparūpapattiko vā hoti, tattheva vā parinibbāyati.
Đưa đến sự nhàm chán…các dục: nhằm mục đích nhàm chán, tức là nhàm chán cả hai loại dục (các vật dục và các ô nhiễm dục). Đưa đến việc xa lìa luyến ái: Đưa đến sự xa lìa/sự dứt bỏ luyến ái. Đưa đến sự diệt tận: Để làm cho không còn khả năng vận hành. Là vị thực hành: là vị thực hành đường lối thực hành. Chỉ với chừng ấy lời, Trưởng lão đã nói đến Minh sát dẫn đến Đạo Bất Lai để diệt trừ sự luyến ái có liên quan đến năm loại dục (Dục ái) của vị Nhập Lưu và vị Nhất Lai. Các Hữu: Ba Hữu (ba cõi). Với cụm từ này, Trưởng lão nói đến Minh sát dẫn đến Đạo A-la-hán để diệt trừ sự luyến ái vào Hữu (Hữu ái) của vị Bất Lai. Là vị thực hành để diệt trừ tham ái: Luôn cả điều này Trưởng lão cũng nói đến Minh sát dẫn đến Đạo Bất Lai để diệt trừ tham ái có liên quan đến năm loại dục (Dục ái) của vị Nhập Lưu và vị Nhất Lai. Vị ấy thực hành để diệt trừ tham: Luôn cả điều này Trưởng lão cũng nói đến Minh sát dẫn đến Đạo A-la-hán để diệt trừ tham vào Hữu (Hữu ái) của vị Bất Lai. Một tập thế chư Thiên nào đó: Một tập thể chư Thiên nào đó trong số các cõi Tịnh Cư Thiên. Không còn trở lại trạng thái này nữa: Không đi đến bản thể năm uẩn này, là người không tái sanh ở cõi thấp, mà chỉ tái sanh ở cõi cao hơn hoặc viên tịch Niết Bàn ở tại cảnh giới đó.
Iti paṭhamena aṅgena sukkhavipassakassa dhātukammaṭṭhānikabhikkhuno heṭṭhimāni dve maggaphalāni kathitāni, dutiyena samādhikammikassa tīṇi maggaphalāni, ‘‘so kāmāna’’nti iminā sotāpannasakadāgāmīnaṃ pañcakāmaguṇikarāgakkhayāya upari anāgāmimaggavipassanā, ‘‘so bhavānaṃyevā’’ti iminā anāgāmissa upari arahattamaggavipassanā, ‘‘so taṇhākkhayāyā’’ti iminā sotāpannasakadāgāmīnaṃ pañcakāmaguṇikataṇhākkhayāya upari anāgāmimaggavipassanā, ‘‘so lobhakkhayāyā’’ti iminā anāgāmino bhavalobhakkhayāya upari arahattamaggavipassanā kathitāti evaṃ chahi mukhehi vipassanaṃ kathetvā desanaṃ yathānusandhiṃ pāpesi. Desanāpariyosāne koṭisatasahassadevatā arahattaṃ pāpuṇiṃsu, sotāpannādīnaṃ paricchedova nāhosi. Yathā ca imasmiṃ samāgame, evaṃ mahāsamayasutte maṅgalasutte ca cūḷarāhulovādasutte ca koṭisatasahassadevatā arahattaṃ pāpuṇiṃsu, sotāpannādīnaṃ devamanussānaṃ paricchedo nāhosi.
Như vậy, Trưởng lão nói đến hai (Thánh) Đạo và hai (Thánh) Quả thấp của vị Tỳ-khưu thực hành đề mục tham thiền về Tứ đại, là bậc Thuần quán với yếu tố thứ nhất; nói đến ba Đạo và ba Quả của vị Tỳ-khưu thực hành đề mục Thiền định với yếu tố thứ hai; “Tỳ-khưu ấy…các dục” – Lời này Trưởng lão nói đến Minh sát dẫn đến Bất Lai Đạo cao để diệt trừ luyến ái liên quan đến năm loại dục của vị Nhập lưu và vị Nhất Lai; “Tỳ-khưu ấy…các Hữu” – Lời này Trưởng lão nói đến Minh sát dẫn đến A-la-hán Đạo cao của vị Bất Lai; “Tỳ-khưu ấy…để diệt trừ tham ái” – Lời này Trưởng lão nói đến Minh sát dẫn đến Bất Lai Đạo cao để diệt trừ tham ái liên quan đến năm loại dục của vị Nhập Lưu và vị Nhất Lai. “Tỳ-khưu ấy…để diệt trừ tham” – Lời này Trưởng lão nói đến Minh sát dẫn đến A-la-hán Đạo cao để diệt trừ tham vào Hữu của vị Bất Lai. Trưởng lão thuyết về Minh sát thông qua sáu cửa ngõ (sáu chủ đề) như vậy, mới ban thời pháp diễn tiến tuần tự theo sự liên kết. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, một trăm ngàn koṭi chư Thiên đã đạt đến phẩm vị A-la-hán, (chư Thiên và nhân loại) là vị Nhập Lưu thì không đếm xuể. Trong bài Kinh Đại Hội (Mahāsamaya Sutta), Kinh Hạnh Phúc (Maṅgala Sutta), hay Tiểu Kinh Giáo Giới Rāhula (Cūḷarāhulovāda Sutta), một trăm ngàn koṭi chư Thiên cũng đã đạt đến phẩm vị A-la-hán tương tự như ở cuộc hội ngộ này; chư Thiên và nhân loại là vị Nhập Lưu, v.v, thì không đếm xuể.
Samacittā devatāti cittassa sukhumabhāvasamatāya samacittā. Sabbāpi hi tā attano attabhāve sukhume cittasarikkhake katvā māpesuṃ. Tena samacittā nāma jātā. Aparenapi kāraṇena samacittā – ‘‘therena samāpatti tāva kathitā, samāpattithāmo pana na kathito. Mayaṃ dasabalaṃ pakkositvā samāpattiyā thāmaṃ kathāpessāmā’’ti sabbāpi ekacittā ahesuntipi samacittā. Aparampi kāraṇaṃ – ‘‘therena ekena pariyāyena samāpattipi samāpattithāmopi kathito, ko nu kho imaṃ samāgamaṃ sampatto, ko na sampatto’’ti olokayamānā tathāgatassa asampattabhāvaṃ disvā ‘‘mayaṃ tathāgataṃ pakkositvā parisaṃ paripuṇṇaṃ karissāmā’’ti sabbāpi ekacittā ahesuntipi samacittā. Aparampi kāraṇaṃ – anāgate kocideva bhikkhu vā bhikkhunī vā devo vā manusso vā ‘‘ayaṃ desanā sāvakabhāsitā’’ti agāravaṃ kareyya, sammāsambuddhaṃ pakkositvā imaṃ desanaṃ sabbaññubhāsitaṃ karissāma. Evaṃ anāgate garubhāvanīyā bhavissatīti sabbāva ekacittā ahesuntipi samacittā. Aparampi kāraṇaṃ – sabbāpi hi tā ekasamāpattilābhiniyo vā ahesuṃ ekārammaṇalābhiniyo vāti evampi samacittā.
Chư Thiên…có tâm tương đương[4]: các vị Thiên nhân có tâm tương đương bởi vì trạng thái vi tế đồng đẳng của tâm thức. Thật vậy, tất cả các vị Thiên nhân ấy hóa hiện thân xác của mình trở nên vi tế phù hợp với tâm; Vì nguyên nhân ấy, mới gọi là có tâm tương đương. Có tâm tương đương với các nguyên nhân khác cũng có — “Trưởng lão thuyết về các Thiền chứng trước, nhưng không nói về sức mạnh của các Thiền chứng ấy. Tất cả các vị Thiên nhân đã có suy nghĩ như vầy rằng: “Chúng ta hãy thỉnh cầu đấng Thập Lực thuyết về sức mạnh của các Thiền chứng.”” Vì lý do ấy nên được gọi là ‘có tâm tương đương’. Còn có thêm nguyên nhân khác — “Trưởng lão thuyết về Thiền chứng và sức mạnh của các Thiền chứng theo một phương diện. các vị Thiên nhân quán sát rằng: “Ai đến cuộc hội ngộ này đây và ai không đến;” – Họ nhận ra rằng: “Đức Như Lai không đến, thảy đều có chung ý nghĩ như vầy: ‘Chúng ta sẽ cung thỉnh Đức Như Lai ngự đến để làm cho cuộc hội ngộ được viên mãn.’ Chính nguyên nhân này mới được gọi là ‘có tâm tương đương’. Còn có thêm nguyên nhân khác — Tất cả các vị Thiên nhân đều có chung ý nghĩ rằng: “Trong tương lai, bất cứ ai dầu là Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, chư Thiên, hay nhân loại nào chăng nữa, sẽ không tôn kính bởi nghĩ rằng “Pháp thoại này là được giảng bởi các vị Thinh Văn” (chứ không phải là được giảng bởi đức Phật). Chúng ta sẽ cung thỉnh đấng Chánh đẳng Chánh giác đến để làm cho Pháp thoại này trở thành lời dạy được giảng bởi bậc Toàn Giác. Như vậy, bài pháp này sẽ đáng được tôn kính ở vị lai. Cũng chính nguyên nhân này mới được gọi là ‘có tâm tương đương’. Còn có thêm nguyên nhân khác — Tất cả các vị Thiên nhân ấy, đều đạt được chung một trạng thái thiền định hoặc đạt được chung một đối tượng. Cũng chính nguyên nhân này mới được gọi là ‘có tâm tương đương’.
Haṭṭhāti tuṭṭhapahaṭṭhā āmoditā pamoditā. Sādhūti āyācanatthe nipāto. Anukampaṃ upādāyāti na therassa anukampaṃ kāruññaṃ anuddayaṃ paṭicca, na ca imasmiṃ ṭhāne therassa anukampitabbakiccaṃ atthi.
Vui thích: hớn hở, vui mừng, vui thích, thỏa thích. Tốt lành thay: là phân từ dùng với ý nghĩa lời thỉnh cầu. Vì lòng thương tưởng: do vì lòng thương tưởng, long bi mẫn đối với vị Trưởng lão. Tuy nhiên, thật sự trong trường hợp này, không có bổn phận thương tưởng đối với Trưởng lão.
Yasmiṃ hi divase thero sūkarakhataleṇadvāre bhāgineyyassa dīghanakhaparibbājakassa vedanākammaṭṭhāne (ma. ni. 2.206) kathiyamāne tālavaṇṭaṃ gahetvā satthāraṃ bījamāno ṭhito parassa vaḍḍhitabhojanaṃ bhuñjitvā khudaṃ vinodento viya parassa sajjitapasādhanaṃ sīse paṭimuñcanto viya ca sāvakapāramiñāṇassa nippadesato matthakaṃ patto, tasmiṃyeva divase bhagavatā anukampito nāma. Avasesānaṃ pana taṃ ṭhānaṃ sampattānaṃ devamanussānaṃ anukampaṃ upādāya gacchatu bhagavāti bhagavantaṃ yāciṃsu.
Bởi vì, vào ngày bậc Đạo Sư thuyết về Thọ quán niệm xứ đến du sĩ Dīghanakha — là cháu của Trưởng lão — tại cửa hang động Sūkarakhata (hang Heo Rừng), lúc bấy giờ Trưởng lão đang đứng cầm chiếc quạt lá thốt nốt hầu quạt cho bậc Đạo Sư, ngài đã đắc thành tựu trí toàn hảo của bậc Thinh Văn mà không cần phải giải thích; giống như một người thọ dụng vật thực vốn được chuẩn bị cho người khác để xua đi cơn đói, và giống như một người lấy món đồ trang sức được sửa soạn cho người khác đội lên đỉnh đầu. Chính vào ngày hôm ấy, gọi là đã được Đức Thế Tôn thương tưởng. Do đó, các vị Thiên nhân mới thỉnh cầu Đức Thế Tôn rằng: “Xin Đức Thế Tôn hãy vì lòng thương tưởng đến đến tập thể chư Thiên và nhân loại còn lại đang quy tụ tại nơi ấy.”
Balavā purisoti dubbalo hi khippaṃ samiñjanapasāraṇaṃ kātuṃ na sakkoti, balavāva sakkoti. Tenetaṃ vuttaṃ. Sammukhe pāturahosīti sammukhaṭṭhāne puratoyeva pākaṭo ahosi. Bhagavā etadavocāti etaṃ ‘‘idha sāriputtā’’tiādinā nayena attano āgamanakāraṇaṃ avoca. Evaṃ kirassa ahosi – ‘‘sace koci bālo akataññū bhikkhu vā bhikkhunī vā upāsako vā upāsikā vā evaṃ cinteyya – ‘sāriputtatthero mahantaṃ parisaṃ alattha, sammāsambuddho ettakaṃ adhivāsetuṃ asakkonto usūyāya parisaṃ uṭṭhāpetuṃ āgato’ti. So imaṃ mayi manopadosaṃ katvā apāye nibbatteyyā’’ti. Athattano āgamanakāraṇaṃ kathento etaṃ ‘‘idha sāriputtā’’tiādivacanaṃ avoca.
Người lực sĩ: Người yếu đuối không thể co cánh tay vào hay duỗi cánh tay ra nhanh chóng, chỉ có người lực sĩ mới có năng lực. Vì lẽ đó, ngài mới nói điều này. Xuất hiện trước mặt: Đã xuất hiện ngay trước mặt, là đối diện trực tiếp tại một nơi. Đức Thế Tôn đã nói: Đức Thế Tôn đã nói điều này, là lý do được ngài đến theo phương thức sau: “Ở đây, này Sāriputta…” Nghe nói rằng Đức Thế Tôn đã khởi lên ý nghĩ như vầy— “Nếu có một ai là kẻ ngu muội, là kẻ vô ơn dầu là Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, Cận sự nam, hay Cận sự nữ — có thể suy nghĩ như vầy rằng— “Trưởng lão Sāriputta đã nhiếp phục được Hội chúng thật to lớn, đấng Chánh đẳng Chánh giác không thể khoan thứ việc như vậy nên mới đến để thiết lập Hội chúng bởi sự ghen tị rằng: ‘Người ấy khởi lên sự sai trái ở tâm đối với ta, như thế có thế tái sanh vào địa ngục.’” Trong khi nói về nguyên nhân đi đến thì Đức Thế Tôn đã thuyết Phật ngôn rằng: “Ở đây, này Sāriputta…”
Evaṃ attano āgamanakāraṇaṃ kathetvā idāni samāpattiyā thāmaṃ kathetuṃ tā kho pana, sāriputta, devatā dasapi hutvātiādimāha. Tattha yasavasena vā atthaṃ āharituṃ vaṭṭati samāpattivasena vā. Yasavasena tāva mahesakkhā devatā dasa dasa ekaṭṭhāne aṭṭhaṃsu, tāhi appesakkhatarā vīsati vīsati ekaṭṭhāne aṭṭhaṃsu, tāhi appesakkhatarā…pe… saṭṭhi saṭṭhi ekaṭṭhāne aṭṭhaṃsu. Samāpattivasena pana yāhi paṇītā samāpatti bhāvitā, tā saṭṭhi saṭṭhi ekaṭṭhāne aṭṭhaṃsu. Yāhi tato hīnatarā, tā paññāsa paññāsa…pe… yāhi tato hīnatarā samāpatti bhāvitā…pe… tā dasa dasa ekaṭṭhāne aṭṭhaṃsu. Yāhi vā hīnā bhāvitā, tā dasa dasa ekaṭṭhāne aṭṭhaṃsu. Yāhi tato paṇītatarā bhāvitā, tā vīsati vīsati. Yāhi tato paṇītatarā…pe… tā saṭṭhi saṭṭhi ekaṭṭhāne aṭṭhaṃsu.
Sau khi thuyết về nguyên do Ngài ngự đến như vậy, bây giờ để thuyết về sức mạnh của các Thiền chứng đã nói rằng: “Này Sāriputta, các vị Thiên nhân ấy tuy con số đến 10, v.v,” Trong đoạn Chánh văn Pāḷi ấy, nên dẫn giải ý nghĩa theo phương diện danh vọng, và về phương diện các Thiền chứng. Trước tiên sẽ nói về phương diện danh vọng, các vị Thiên nhân có uy lực lớn được đứng ở một chỗ mỗi nhóm 10 vị; các vị Thiên nhân có quyền uy ít hơn thì được đứng ở một chỗ mỗi nhóm 20 vị; các vị Thiên nhân có quyền uy ít hơn nữa … thì được đứng ở một chỗ mỗi nhóm 60 vị. Còn về phương diện Thiền chứng, nên được hiểu như sau: Những vị nào đã được tu tập Thiền chứng vi tế, thì những vị ấy được đứng ở một chỗ mỗi nhóm 60 vị. Những vị nào đã được tu tập Thiền chứng thấp hơn, thì những vị ấy được đứng ở một chỗ mỗi nhóm 50 vị … Những vị nào đã được tu tập Thiền chứng thấp hơn nữa … những vị ấy đã đứng ở một chỗ mỗi nhóm 10 vị. Hơn nữa, những vị nào đã được tu tập Thiền chứng thấp, những vị ấy được đứng ở một chỗ mỗi nhóm 10 vị. Những vị nào đã được tu tập Thiền chứng vi tế hơn, những vị ấy được đứng ở một nơi mỗi nhóm 20 vị. Những vị nào đã được tu tập Thiền chứng vi tế hơn nữa … những vị ấy được đứng ở một nơi mỗi nhóm 60 vị.
Āraggakoṭinitudanamatteti āraggakoṭiyā patanamatte okāse. Naca aññamaññaṃ byābādhentīti evaṃ sambādhe ṭhāne tiṭṭhantiyopi aññamaññaṃ na byābādhenti na ghaṭṭenti, asampīḷā asambādhāva ahesuṃ. ‘‘Tava hattho maṃ bādhati, tava pādo maṃ bādhati, tvaṃ maṃ maddantī ṭhitā’’ti vattabbakāraṇaṃ nāhosi. Tattha nūnāti tasmiṃ bhave nūna. Tathācittaṃ bhāvitanti tenākārena cittaṃ bhāvitaṃ. Yena tā devatāti yena tathābhāvitena cittena tā devatā dasapi hutvā…pe… tiṭṭhanti, na ca aññamaññaṃ byābādhentīti. Idheva khoti sāsane vā manussaloke vā bhummaṃ, imasmiṃyeva sāsane imasmiṃyeva manussaloketi attho. Tāsañhi devatānaṃ imasmiṃyeva manussaloke imasmiṃyeva ca sāsane taṃ cittaṃ bhāvitaṃ, yena tā sante rūpabhave nibbattā, tato ca pana āgantvā evaṃ sukhume attabhāve māpetvā ṭhitā. Tattha kiñcāpi kassapadasabalassa sāsane tīṇi maggaphalāni nibbattetvā brahmaloke nibbattadevatāpi atthi, sabbabuddhānaṃ pana ekāva anusāsanī ekaṃ sāsananti katvā ‘‘idheva kho, sāriputtā’’ti aññabuddhānaṃ sāsanampi imameva sāsanaṃ karonto āha. Ettāvatā tathāgatena samāpattiyā thāmo kathito.
Chỉ trong khoảng trống vừa đủ đầu một cây kim đâm vào: Trong khoảng trống vừa đủ để đầu một cây kim chạm xuống được. Nhưng không chen lấn lẫn nhau: Dẫu cho đứng trong một không gian chật hẹp như vậy, nhưng họ cũng không chen lấn, không va chạm, không đè nén, cũng không xô đẩy nhau; Không có lý do để phải nói rằng: “Tay ngài gây trở ngại tôi, chân ngài gây trở ngại tôi, hay ngài đang đứng giẫm lên tôi”. Chính tại đây: Chắc chắn là ở cảnh giới ấy. Tâm … như thế, tâm … là đã được tu tập: Tâm đã được tu tập bởi biểu hiện ấy. Nhờ như vậy các vị Thiên nhân ấy: Nhờ như vậy Tâm đã được các vị Thiên nhân tu tập với biểu hiện ấy, mà dẫu với số lượng 10 vị [cho đến 60 vị] …vẫn đứng được … và không có chen lấn/xô đẩy lẫn nhau. Chính trong Pháp Luật này: Trong Giáo pháp hoặc trong thế gian đều là ‘vị trí cách’, có nghĩa là— chính ngay trong Giáo pháp này, chính ngay trong thế gian này. Thật vậy, tâm của các vị Thiên nhân ấy đã được tu tập ngay ở thế gian này và ngay trong Giáo pháp này, nhờ vậy các vị ấy được tái sanh ở cõi Sắc. Hơn nữa, sau khi đến từ cõi Sắc các vị Thiên nhân ấy đã hóa hiện sắc thân vi tế rồi đứng vững (ở tại đó) như vậy. Trong số các vị Thiên nhân ấy, sau khi làm sanh khởi ba Đạo và ba Quả vào thời kỳ Giáo pháp của đấng Thập Lực Kassapa các vị Thiên nhân ấy đã hóa sanh vào thế giới Phạm Thiên; tuy nhiên, Đức Thế Tôn đã làm cho kim ngôn các vị Chánh đẳng Chánh giác trở nên có cùng một sự liên kết và cùng một hệ thống Giáo lý, trong khi thực hiện Giáo lý của các Đức Phật khác cũng chính là Giáo lý này, nên đã nói rằng: “Này Sāriputta, chính ngay trong Pháp và Luật này…”. Chỉ với bấy nhiêu lời Đức Như Lai đã thuyết về sức mạnh của Thiền chứng.
Idāni sāriputtattheraṃ ārabbha tantivasena anusāsaniṃ kathento tasmātiha, sāriputtāti āha. Tattha tasmāti yasmā tā devatā idheva santaṃ samāpattiṃ nibbattetvā sante bhave nibbattā, tasmā. Santindriyāti pañcannaṃ indriyānaṃ santatāya nibbutatāya paṇītatāya santindriyā. Santamānasāti mānasassa santatāya nibbutatāya paṇītatāya santamānasā. Santaṃyeva upahāraṃ upaharissāmāti kāyacittūpahāraṃ santaṃ nibbutaṃ paṇītaṃyeva upaharissāma. Sabrahmacārīsūti samānaṃ ekuddesatādiṃ brahmaṃ carantesu sahadhammikesu. Evañhi vo, sāriputta, sikkhitabbanti iminā ettakena vārena bhagavā desanaṃ sabbaññubhāsitaṃ akāsi. Anassunti naṭṭhā vinaṭṭhā. Ye imaṃ dhammapariyāyaṃ nāssosunti ye attano pāpikaṃ tucchaṃ niratthakaṃ diṭṭhiṃ nissāya imaṃ evarūpaṃ dhammadesanaṃ sotuṃ na labhiṃsūti yathānusandhinā desanaṃ niṭṭhāpesi.
Giờ đây, trong khi thuyết đến sự liên kết theo trình tự đề cập đến Trưởng lão Sāriputta, Đức Thế Tôn đã nói rằng: “Vì thế, ở đây, này Sāriputta…” Ở đấy, vì thế: Bởi vì các vị Thiên nhân ấy đã làm sanh khởi các Thiền chứng ngay trong cảnh giới này, vì thế mới được tái sanh vào cảnh giới ấy. Là người có các căn an tịnh: người có các căn an tịnh, bởi trạng thái an tịnh, bởi trạng thái mát mẻ, và bởi trạng thái vi tế của cả năm căn. Là người có tâm ý an tịnh: người có tâm ý an tịnh bởi trạng thái an tịnh, bởi trạng thái an tịnh, bởi trạng thái mát mẻ, và bởi trạng thái vi tế của tâm ý. Chúng ta chỉ sẽ đem tặng cho … an tịnh: Chúng ta chỉ sẽ đem thân và tâm được an tịnh, mát mẻ và vi tế vào (cuộc hội ngộ). Cho các vị đồng Phạm hạnh: đối với các vị đồng Phạm hạnh, là những vị thực hành Giáo pháp cao thượng đồng đẳng với nhau, là vị đồng nhất một thuyết giới, v.v… Bằng lời Phật ngôn rằng: “Này Sāriputta, các ngươi nên học tập đúng như vậy,” Đức Thế Tôn đã làm cho Pháp thoại này trở thành lời nói của bậc Toàn Tri chỉ với chừng ấy. Đã mất cơ hội: Mất mát, đã hết cơ hội. (Các du sĩ ngoại đạo nào) không được nghe pháp môn này, họ sẽ bị thiệt hại: Những hạng xuất gia nào theo học thuyết khác, nương theo quan điểm của bản thân là xấu xa, rỗng không và không có lợi ích, không được lắng nghe bài thuyết Pháp có hình thức như thế. Đức Thế Tôn đã kết thúc thời Pháp theo sự liên kết như thế.
- 38. Chaṭṭhe varaṇāyaṃ viharatīti varaṇā nāma ekaṃ nagaraṃ, taṃ upanissāya viharati. Kāmarāgābhinivesavinibandha paligedhapariyuṭṭhānajjhosānahetūti kāmarāgābhinivesahetu, kāmarāgavinibandhahetu, kāmarāgapaligedhahetu, kāmarāgapariyuṭṭhānahetu, kāmarāgaajjhosānahetūti attho. Idaṃ vuttaṃ hoti – yvāyaṃ pañca kāmaguṇe nissāya uppajjati kāmarāgo, tassābhinivesādihetu. Kāmarāgena abhiniviṭṭhattā vinibaddhattā tasmiṃyeva ca kāmarāge mahāpaṅke viya paligedhattā anupaviṭṭhattā teneva ca kāmarāgena pariyuṭṭhitattā gahitattā kāmarāgeneva ca ajjhositattā gilitvā pariniṭṭhapetvā gahitattāti. Diṭṭhirāgādipadesupi eseva nayo. Diṭṭhirāgoti panettha dvāsaṭṭhi diṭṭhiyo nissāya uppajjanakarāgo veditabbo. Puratthimesu janapadesūti therassa vasanaṭṭhānato sāvatthijanapado puratthimadisābhāge hoti, thero ca nisīdantopi tatomukhova nisinno, tasmā evamāha. Udānaṃ udānesīti udāhāraṃ udāhari. Yathā hi yaṃ telaṃ mānaṃ gahetuṃ na sakkoti, vissanditvā gacchati, taṃ avasesakoti vuccati. Yañca jalaṃ taḷākaṃ gahetuṃ na sakkoti, ajjhottharitvā gacchati , taṃ oghoti vuccati, evamevaṃ yaṃ pītivacanaṃ hadayaṃ gahetuṃ na sakkoti, adhikaṃ hutvā anto asaṇṭhahitvā bahi nikkhamati, taṃ udānanti vuccati, evarūpaṃ pītimayavacanaṃ nicchāresīti attho.
- Trong bài Kinh thứ sáu, ở tại Varaṇā: Thành phố có tên Varaṇā, ngài Mahā Kaccāna sống nương tựa ở đó. Do nhân cố chấp, bị chấp chặt, bị trói buộc, bị xâm chiếm, bị bám chặt bởi các dục ái: Có nghĩa là— do sự cố chấp dục ái là nhân, do sự trói buộc vào dục ái là nhân (do rơi vào mãnh lực của dục ái là nhân), do có sự dính mắc ham thích trong dục ái là nhân, do bị dục ái xâm chiếm là nhân, và do sự bám chặt vào dục ái là nhân. Điều này được giải thích như sau — Chính cái này, dục ái được sanh khởi do nương vào năm loại dục, do nhân cố chấp, v.v… của dục ái ấy; Là do bị tham ái chấp chặt, do rơi vào mãnh lực dục ái, là do tham đắm trong chính dục ái ấy giống như một đầm lầy lớn; do thâm nhập dục ái, do bị chính dục ái ấy xâm chiếm; là do bị dục ái nắm lấy, là do bị chính tham dục ấy bám chặt (chế ngự)— do bị dục ái nuốt chửng, chiếm đoạt hoàn toàn rồi nắm giữ. Luôn cả trong từ ngữ ‘Kiến ái’ v.v, cũng áp dụng chính cách thức này. Kiến ái: Hơn nữa, điều này nên được biết rằng luyến ái sanh khởi do nương vào 62 loại tà kiến. Ở vùng đất phía Ðông: Từ nơi Trưởng lão ngự về phương Đông là xứ Sāvatthī. Trưởng lão khi ngồi thường hướng mặt về phương ấy, cho nên ngài mới nói như vậy. Thốt ra những lời cảm hứng: thốt ra những lời cảm hứng. Giống như dầu nào không thể chứa trong dụng cụ đo lường, dẫn đến bị tràn ra ngoài, dầu đó được gọi đó là ‘phần tràn ra’; Và nước nào không thể chứa trong hồ, dẫn đến bị tràn ra ngoài, nước đó đươc gọi đó là ‘nước lũ’. Tương tự y như vậy, lời nói phát xuất từ hỷ lạc không thể giữ lại nơi tâm (không thể kìm nén bên trong), đã trào dâng ra ngoài, những lời ấy được gọi là ‘lời cảm hứng’. Giải thích rằng: Bà-la-môn Ārāmadaṇḍa đã thốt ra lời nói được phát xuất từ hỷ lạc như thế.
- Sattame gundāvaneti evaṃ nāmake vane. Upasaṅkamīti ‘‘mahākaccānatthero kira nāma attano pitumattampi ayyakamattampi disvā neva abhivādeti na paccuṭṭheti na āsanena nimantetī’’ti sutvā ‘‘na sakkā ettakena niṭṭhaṃ gantuṃ, upasaṅkamitvā naṃ pariggaṇhissāmī’’ti bhuttapātarāso yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami. Jiṇṇeti jarājiṇṇe. Vuddheti vayovuddhe. Mahallaketi jātimahallake. Addhagateti dīghakāladdhānaṃ atikkante. Vayoanuppatteti pacchimavayaṃ anuppatte. Tayidaṃ, bho kaccāna, tathevāti, bho kaccāna, yaṃ taṃ amhehi kevalaṃ sutameva, taṃ iminā diṭṭhena sameti. Tasmā taṃ tatheva, na aññathā. Na hi bhavaṃ kaccāno brāhmaṇeti idaṃ attānaṃ sandhāya vadati. Ayaṃ kirassa adhippāyo – amhe evaṃ mahallake disvā bhoto kaccānassa abhivādanamattampi paccuṭṭhānamattampi āsanena nimantanamattampi natthīti. Na sampannamevāti na yuttameva na anucchavikameva.
Trong bài Kinh thứ bảy, tại rừng Gundhā: Tại khu rừng có tên như vậy. Đã đi đến: Bà-la-môn Kaṇḍarāyana sau khi nhìn thấy– “Trưởng lão Mahākaccāna khi thấy những người ở độ tuổi đáng cha, ông, hay cố của mình thì không đảnh lễ, không đứng dậy nghênh đón, cũng không mời ngồi; nghĩ rằng: “Chẳng có ai có thể giải quyết dứt điểm chuyện chỉ bấy nhiêu này, sau khi đi đến ta sẽ ngăn giữ Ngài.” Sau khi thọ dụng vật thực, vị ấy đã đi đến gặp của Trưởng lão Mahākaccāna. Già cả: Người già nua do sự già. Trưởng lão: người phát triển theo lớn tuổi. Bậc trưởng thượng: Người lớn tuổi về mặt tái sanh (được sanh ra trước). Sống thọ: Người đã trải qua chặng đường dài của thời gian. Đã đạt đến giai đoạn cuối của cuộc đời: Đã đạt đến giai đoạn cuối của cuộc đời. Thưa Tôn giả Kaccāna, có phải sự tình là như vậy không? Thưa Tôn giả Kaccāna, điều mà chúng tôi được nghe tường tận, điều đó là phù hợp với sự việc mà tôi được nhìn thấy; Tại sao lại là như thế, mà không thể khác đi? Nếu Tôn giả Kaccāna không kính lễ,…Bà-la-môn: Ở đây, Bà-la-môn Kaṇḍarāyana nói đếm bản thân. Nghe nói Bà-la-môn ấy có ý định như sau— “Tôn giả Kaccāna, bậc trưởng thượng nhìn thấy những người già cả như chúng tôi, cũng chẳng có dù chỉ một sự đảnh lễ, dù chỉ một sự đứng dậy chào đón, hay chỉ một lời mời an tọa. Là không được tốt đẹp: Không thích hợp, hoàn toàn không phù hợp.
Thero brāhmaṇassa vacanaṃ sutvā ‘‘ayaṃ brāhmaṇo neva vuddhe jānāti na dahare, ācikkhissāmissa vuddhe ca dahare cā’’ti desanaṃ vaḍḍhento atthi brāhmaṇātiādimāha.
Trưởng lão sau khi nghe lời nói của Bà-la-môn, liền nghĩ rằng: “Bà-la-môn này không biết về bậc trưởng lão, không biết về trẻ con. Vậy thì ta sẽ nói cho ông ấy biết về bậc trưởng lão và trẻ con.” Khi triển khai thời Pháp, Ngài mới nói rằng: “Này Bà-la-môn, có… v.v.”
Tattha jānatāti sabbaṃ neyyaṃ jānantena. Passatāti tadeva hatthe ṭhapitaṃ āmalakaṃ viya passantena. Vuddhabhūmīti yena kāraṇena vuddho nāma hoti, taṃ kāraṇaṃ. Daharabhūmīti yena kāraṇena daharo nāma hoti, taṃ kāraṇaṃ. Āsītikoti asītivassavayo. Nāvutikoti navutivassavayo. Kāme paribhuñjatīti vatthukāme kilesakāmeti duvidhepi kāme kamanavasena paribhuñjati. Kāmamajjhāvasatīti duvidhepi kāme ghare gharassāmiko viya vasati adhivasati. Kāmapariyesanāya ussukoti duvidhānampi kāmānaṃ pariyesanatthaṃ ussukkamāpanno. Bālo na therotveva saṅkhyaṃ gacchatīti so na thero bālo mandotveva gaṇanaṃ gacchati. Vuttaṃ hetaṃ –
Trong số các từ ngữ ấy, vị biết: người biết mọi phương diện. vị thấy: người thấy rõ chính phương diện ấy, giống như nhìn thấy quả Āmalaka được đặt vào lòng bàn tay. Địa vị bậc trưởng lão: Vì lý do gì một người được gọi là bậc trưởng lão? Lý do đó. Địa vị trẻ con: Vì lý do gì một người được gọi là trẻ con? Lý do đó. 80 tuổi: người ở độ tuổi 80. 90 tuổi: người ở độ tuổi 90. Vị ấy thọ hưởng các dục vọng: Thọ dụng cả hai loại dục là các vật dục và các ô nhiễm dục. Sống giữa các dục vọng: Sinh sống, trú ngụ trong cả hai Dục ví như người chủ gia đình quản lý tư gia. Là người nhiệt huyết để tầm cầu dục vọng[5]: vẫn còn nhiệt huyết để tầm cầu cả hai loại dục. Được gọi là kẻ ngu, không phải là bậc trưởng lão: Hạng người ấy không được xem là trưởng lão, mà được xem là kẻ ngu (trẻ con) chính là người ám độn. Bởi vì điều này đã được đức Thế Tôn nói đến—
‘‘Na tena thero so hoti, yenassa palitaṃ siro;
Paripakko vayo tassa, moghajiṇṇoti vuccatī’’ti. (dha. pa. 260);
Mặc dầu đầu của vị ấy bạc tóc, không vì thế trở thành trưởng lão.
Vị có tuổi thọ đã được chín muồi ấy được gọi là ‘già vô vị.’[6]
Daharoti taruṇo. Yuvāti yobbanena samannāgato. Susukāḷakesoti suṭṭhu kāḷakeso. Bhadrena yobbanena samannāgatoti yena yobbanena samannāgato yuvā, taṃ yobbanaṃ bhadraṃ laddhakanti dasseti. Paṭhamena vayasāti paṭhamavayo nāma tettiṃsa vassāni, tena samannāgatoti attho. Paṇḍito therotveva saṅkhyaṃ gacchatīti so evarūpo puggalo paṇḍitoti ca theroti ca gaṇanaṃ gacchati. Vuttampi cetaṃ –
Thanh niên: vị trẻ tuổi (thiếu niên). Trẻ tuổi: Được thành tựu tuổi thanh xuân. Có tóc đen nhánh: Có mái tóc đen nhánh. Được thành tựu tuổi thanh xuân tốt lành: Một người được gọi là trẻ tuổi bởi vì được thành tựu tuổi thanh xuân nào; Ngài chỉ rõ sự trẻ trung ấy là ‘tốt lành’. Vào giai đoạn đầu của tuổi thọ: Độ tuổi cho đến 33 tuổi được gọi là giai đoạn đầu của tuổi thọ; được thành tựu vào giai đoạn đó. Được gọi là bậc có trí, bậc trưởng lão: hạng người ấy có hình thức như vậy, vừa được gọi là bậc trí, vừa là vị trưởng lão. Và điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến—
‘‘Yamhi saccañca dhammo ca, ahiṃsā saṃyamo damo;
Sa ve vantamalo dhīro, thero iti pavuccatī’’ti. (dha. pa. 261);
“Sự chân thật, sự đúng đắn, việc không hãm hại, việc chế ngự, việc rèn luyện có ở vị nào, vị ấy quả thật là bậc sáng trí, có ô nhiễm đã được tẩy trừ, được gọi là ‘trưởng lão.’” (dha. pa. 261);
- Aṭṭhame corā balavanto hontīti pakkhasampannā, parivārasampannā, dhanasampannā, nivāsaṭṭhānasampannā, vāhanasampannā ca honti. Rājāno tasmiṃ samaye dubbalā hontīti tasmiṃ samaye rājāno tāsaṃ sampattīnaṃ abhāvena dubbalā honti. Atiyātunti bahiddhā janapadacārikaṃ caritvā icchiticchitakkhaṇe antonagaraṃ pavisituṃ. Niyyātunti ‘‘corā janapadaṃ vilumpanti maddanti, te nisedhessāmā’’ti paṭhamayāme vā majjhimayāme vā pacchimayāme vā nikkhamituṃ phāsukaṃ na hoti. Tato uṭṭhāya corā manusse pothetvā acchinditvā gacchanti. Paccantime vā janapade anusaññātunti gāmaṃ vāsakaraṇatthāya setuṃ attharaṇatthāya pokkharaṇiṃ khaṇāpanatthāya sālādīnaṃ karaṇatthāya paccantime janapade anusaññātumpi na sukhaṃ hoti. Brāhmaṇagahapatikānanti antonagaravāsīnaṃ brāhmaṇagahapatikānaṃ. Bāhirāni vā kammantānīti bahigāme ārāme khettakammantāni. Pāpabhikkhū balavanto hontīti pakkhuttarā yasuttarā puññavanto bahukehi upaṭṭhākehi ca upaṭṭhākīhi ca samannāgatā rājarājamahāmattasannissitā. Pesalā bhikkhū tasmiṃ samaye dubbalā hontīti tasmiṃ samaye piyasīlā bhikkhū tāsaṃ sampattīnaṃ abhāvena dubbalā honti. Tuṇhībhūtā tuṇhībhūtāva saṅghamajjhe saṅkasāyantīti nissaddā hutvā saṅghamajjhe nisinnā kiñci ekavacanampi mukhaṃ ukkhipitvā kathetuṃ asakkontā pajjhāyantā viya nisīdanti. Tayidanti tadetaṃ kāraṇaṃ. Sukkapakkho vuttavipallāsena veditabbo.
Trong bài Kinh thứ tám, các người ăn trộm có thế lực: Bọn trộm cướp có đầy đủ phe nhóm, đầy đủ tùy tùng, đầy đủ chỗ ẩn nấp và đầy đủ phương tiện. Các vua chúa yếu đuối: Vào lúc bấy giờ, các vua chúa thuộc phe yếu đuối, do không có quyền sở hữu ấy. Đi vào/trở về: Sau khi đi du hành ở các xứ sở bên ngoài thành (vị ấy) đi vào nội thành bất cứ lúc nào mong muốn. Đi ra/rời khỏi: Do khởi lên ý nghĩ rằng: “Bọn trộm cướp đang cướp bóc, giẫm đạp ở các xứ sở, chúng ta sẽ ngăn ngừa bọn chúng,” mới không có sự an ổn để ra ngoài vào canh đầu, vào canh giữa hoặc vào canh cuối. Kể từ đó trở đi, bọn trộm cướp đã đi khắp nơi để cướp bóc dân làng. Hoặc đi đến các xứ sở ở vùng biên địa: Ngay cả việc đi quản lý vùng biên thùy để xây dựng nhà cửa, xây cầu, đào hồ nước, và xây dựng chỗ dừng chân, v.v. cũng không được thuận tiện. Các Bà-la-môn và các gia chủ: Các vị Bà-la-môn và các gia chủ sinh sống ở nội thành. Đi giám sát các công việc làm ở ngoài: Các công việc canh nông, ruộng vườn ở ngoại thành. Khi các vị Tỳ-khưu xấu ác có thế lực: Các vị Tỳ-khưu thuộc nhóm xấu ác có thế lực, được thành tựu đông đảo bởi các nữ thí chủ, nam thí chủ, và nương tựa vào các vị vua và các quan đại thần của vua. Vào lúc ấy, các vị Tỳ-khưu hiền thiện yếu đuối: Vào lúc ấy, nhóm các vị Tỳ-khưu có giới hạnh đáng kính (nghiêm trì giới luật) trở nên yếu đuối, vì không có quyền sở hữu ấy. Giữ thái độ im lặng, hoặc ẩn mình giữa chúng Tỳ-khưu: Các vị giữ thái độ im lặng, ngồi giữa Hội chúng Tỳ-khưu, không thể ngẩng đầu hay mở miệng nói điều gì, dù chỉ một lời; ngồi như người ủ rũ, buồn rẩu. Điều này đây: Lý do này đây. Pháp thuộc nhóm trắng (Bạch Pháp) cũng cần được hiểu theo ý nghĩa đối nghịch với những điều đã nói.
- Navame micchāpaṭipattādhikaraṇahetūti micchāpaṭipattiyā kāraṇahetu paṭipajjanahetūti attho. Ñāyaṃ dhammaṃ kusalanti sahavipassanakaṃ maggaṃ. Evarūpo hi sahavipassanakaṃ maggaṃ ārādhetuṃ sampādetuṃ pūretuṃ na sakkoti. Sukkapakkho vuttavipallāsena veditabbo. Imasmiṃ sutte saha vipassanāya maggo kathito.
Trong bài Kinh thứ chín, lối thực hành sai trái là nhân duyên: do thực hiện là thực hành lối thực hành sai trái là nhân duyên. Người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo[7]: Đạo cùng với Minh sát. Bởi vì một người có hình thức như thế thì không thể làm cho Thánh đạo cùng với Minh sát được thành tựu, tức là đạt đến sự viên mãn. Pháp thuộc nhóm trắng (Bạch Pháp) cũng cần được hiểu theo ý nghĩa đối nghịch với những điều đã nói. Trong bài kinh này, [Đức Thế Tôn] thuyết về Thánh đạo cùng với Minh Sát.
- Dasame duggahitehīti uppaṭipāṭiyā gahitehi. Byañjanappatirūpakehīti byañjanaso patirūpakehi akkharacitratāya laddhakehi. Atthañca dhammañca paṭibāhantīti suggahitasuttantānaṃ atthañca pāḷiñca paṭibāhanti, attano duggahitasuttantānaṃyeva atthañca pāḷiñca uttaritaraṃ katvā dassenti. Sukkapakkho vuttavipallāsena veditabbo. Imasmiṃ sutte sāsanassa vuddhi ca parihāni ca kathitāti.
Trong bài Kinh thứ mười, nắm giữ sai lạc: Được nắm giữ sai nguyên tắc. Những văn tự thích ứng: Có văn tự hoa mỹ, thu nhận được bởi có sự trau chuốt về mẫu tự. Bác bỏ ý nghĩa và kinh điển: [Họ] bác bỏ cả ý nghĩa [Chú giải] và cả Chánh văn Pāḷi của các bài Kinh vốn được gìn giữ đúng đắn. Các vị Tỳ-khưu ấy chỉ rõ cả ý nghĩa và cả Chánh văn Pāḷi của Kinh tạng mà bản thân nắm giữ sai lạc hơn thế hẳn. Pháp thuộc nhóm trắng (Bạch Pháp), cũng cần được hiểu theo ý nghĩa đối nghịch với những điều đã nói. Trong bài Kinh này, [Đức Thế Tôn] đã thuyết cả sự phát triển và sự suy giảm của Giáo pháp.
Giải thích Phẩm Tâm Tương Đương – được kết thúc
[1] địa vị bậc không phải Chân nhân (HT TMC)
[2] năm sự ràng buộc thuộc hạ phần (hạ phần kiết sử) là sự nhận thức sai trái về thân (thân kiến), sự bám víu vào giới và phận sự (giới cấm thủ), hoài nghi, sự mong muốn về dục, và oán hận.
[3] Năm sự ràng buộc thuộc thượng phần (thượng phần kiết sử) là ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, và vô minh.
[4] chư Thiên với tâm thăng bằng (HT TMC)
[5] Kāmapariyesanāya ussuko: bị đốt cháy bởi lửa nhiệt não của dục vọng (HT TMC)
[6] (dha. pa. 260);
[7] Ñāyaṃ dhammaṃ kusalaṃ: có thể đem lại chánh lý, thiện pháp. (HT TMC)