03. GIẢI THÍCH CHƯƠNG HAI PHÁP – Giải thích Phẩm Người Ngu
Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Hai pháp – Phẩm 01-04
- Tatiyassa paṭhame accayaṃ accayato na passatīti ‘‘aparajjhitvā aparaddhaṃ mayā’’ti attano aparādhaṃ na passati, aparaddhaṃ mayāti vatvā daṇḍakammaṃ āharitvā na khamāpetīti attho. Accayaṃ desentassāti evaṃ vatvā daṇḍakammaṃ āharitvā khamāpentassa. Yathādhammaṃ nappaṭiggaṇhātīti ‘‘puna evaṃ na karissāmi, khamatha me’’ti vuccamāno accayaṃ imaṃ yathādhammaṃ yathāsabhāvaṃ na paṭiggaṇhāti. ‘‘Ito paṭṭhāya puna evarūpaṃ mā akāsi, khamāmi tuyha’’nti na vadati. Sukkapakkho vuttapaṭipakkhanayeneva veditabbo.
Trong bài Kinh thứ nhất của Phẩm thứ ba, không nhìn thấy lỗi lầm là lỗi lầm: Đã phạm lỗi nhưng không tự thấy lỗi của mình rằng “ta đã làm sai”; không nói rằng ‘tôi đã làm sai’ rồi đem lại hình phạt và xin sám hối. khi người khác phát lộ tội lỗi: Khi nói như vậy rồi đem hình phạt đến xin sám hối. Không chấp nhận đúng theo Pháp: Trong khi nói như vầy “tôi sẽ không làm như vậy nữa, xin ngài hãy thứ lỗi cho tôi”, nhưng cũng không chấp nhận việc sám hối này đúng theo Pháp, đúng theo bản thể thật. Không nói rằng: “Từ nay trở đi, Hiền giả đừng làm như vậy nữa, tôi tha thứ cho Hiền giả”. Pháp trắng nên được hiểu theo cách thức đối nghịch với điều đã nói trên.
- Dutiye abbhācikkhantīti abhibhavitvā ācikkhanti, abhūtena vadanti. Dosantaroti antare patitadoso. Evarūpo hi ‘‘natthi samaṇassa gotamassa uttarimanussadhammo’’tiādīni vadanto sunakkhatto viya tathāgataṃ abbhācikkhati. Saddhovā duggahitenāti yo hi ñāṇavirahitāya saddhāya atisaddho hoti muddhappasanno, sopi ‘‘buddho nāma sabbalokuttaro, sabbe tassa kesādayo bāttiṃsa koṭṭhāsā lokuttarāyevā’’tiādinā nayena duggahitaṃ gaṇhitvā tathāgataṃ abbhācikkhati. Tatiyaṃ uttānatthamevāti.
Trong bài Kinh thứ hai, xuyên tạc: nói điều vu khống, nói với điều không thật. Với nội tâm có sân hận: Có tâm sân hận ẩn chứa ở bên trong. Thật vậy, hạng người như thế này xuyên tạc Như Lai, giống như Sunakkhatta con trai tộc Licchavī đã nói rằng: “Pháp thượng nhân của Sa-môn Gotama không có.” Và người có lòng tin do hiểu sai: Hoặc là người có đức tin mạnh mẽ với đức tin thiếu vắng trí tuệ, có niềm tịnh tín yếu ớt, nên đã chấp sai lệch rồi xuyên tạc Như Lai theo hình thức sau: “Đức Phật là vượt trội tất cả thế gian, ba mươi hai thể trược có tóc, long v.v, của ngài hoàn toàn vượt ngoài thế gian.” Trong bài Kinh thứ ba, các từ đều đơn giản.
- Catutthe neyyatthaṃ suttantanti yassa attho netabbo, taṃ netabbatthaṃ suttantaṃ. Nītattho suttantoti dīpetīti kathitattho ayaṃ suttantoti vadati. Tattha ‘‘ekapuggalo, bhikkhave, dveme, bhikkhave, puggalā, tayome, bhikkhave, puggalā, cattārome, bhikkhave, puggalā’’ti evarūpo suttanto neyyattho nāma. Ettha hi kiñcāpi sammāsambuddhena ‘‘ekapuggalo, bhikkhave’’tiādi vuttaṃ, paramatthato pana puggalo nāma natthīti evamassa attho netabbova hoti. Ayaṃ pana attano bālatāya nītattho ayaṃ suttantoti dīpeti. Paramatthato hi puggale asati na tathāgato ‘‘ekapuggalo, bhikkhave’’tiādīni vadeyya. Yasmā pana tena vuttaṃ, tasmā paramatthato atthi puggaloti gaṇhanto taṃ neyyatthaṃ suttantaṃ nītattho suttantoti dīpeti. Nītatthanti aniccaṃ dukkhaṃ anattāti evaṃ kathitatthaṃ. Ettha hi aniccameva dukkhameva anattāyevāti attho. Ayaṃ pana attano bālatāya ‘‘neyyattho ayaṃ suttanto, atthamassa āharissāmī’’ti ‘‘niccaṃ nāma atthi, sukhaṃ nāma atthi, attā nāma atthī’’ti gaṇhanto nītatthaṃ suttantaṃ neyyattho suttantoti dīpeti nāma. Pañcamaṃ uttānatthamevāti.
Trong bài Kinh thứ tư, bài Kinh nên được hướng dẫn: Ý nghĩa của bài Kinh nào nên được hướng dẫn (giảng giải thêm), thì bài Kinh đó được gọi là có ý nghĩa nên được hướng dẫn. Làm sáng tỏ…bài kinh có ý nghĩa đã được hướng dẫn: Khi nói rằng– “Bài Kinh này có ý nghĩa đã được nói rõ”. Ở đấy, bài Kinh có hình thức như vầy: “Này các Tỳ-khưu, có một hạng người; này các Tỳ-khưu có hai hạng người; này các Tỳ-khưu, có ba hạng người; này các Tỳ-khưu, có bốn hạng người…” như thế thì được gọi là có ý nghĩa nên được hướng dẫn. Thật vậy, ở đây dẫu đấng Chánh đẳng Chánh giác nói rằng– “Này các Tỳ-khưu, có một hạng người…” như vậy đi chăng nữa, khi xét về mặt Chân đế [ý nghĩa tuyệt đối], thì “con người” là không tồn tại, ý nghĩa nên được hướng dẫn cho vị ấy theo đúng bản chất như thế. Thế nhưng, người ngu muội lại nói rằng– Bài kinh này có ý nghĩa đã được hướng dẫn. Bởi vì, khi con người không tồn tại về mặt Chân đế [ý nghĩa tuyệt đối], Như Lai đã không thể nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, có một hạng người…” như vậy. Nhưng vì Ngài đã nói như vậy; cho nên, chứng tỏ rằng con người có tồn tại về mặt Chân đế, như vậy gọi là làm sáng tỏ bài Kinh có ý nghĩa nên được hướng dẫn thành bài Kinh có ý nghĩa đã được hướng dẫn. Có ý nghĩa đã được hướng dẫn: có ý nghĩa được nói rõ như vầy– vô thường, khổ não, và vô ngã. Trong trường hợp này, ý nghĩa đã vô cùng rõ ràng: Các Pháp là vô thường, khổ não và vô ngã. Thế nhưng, người ngu muội lại nghĩ rằng: “Vẫn còn bài kinh có ý nghĩa nên được hướng dẫn, ta sẽ đưa ý nghĩa của bài kinh đó ra”, rồi cho rằng: “Thường hằng là tồn tại, an lạc là tồn tại, ngã là tồn tại”, như vậy gọi là làm sáng tỏ bài Kinh có ý nghĩa đã được hướng dẫn thành bài Kinh có ý nghĩa nên được hướng dẫn. Bài Kinh thứ năm từ ngữ thảy đều có ý nghĩa đơn giản.
- Chaṭṭhe paṭicchannakammantassāti pāpakammassa. Pāpaṃ hi paṭicchādetvā karonti. No cepi paṭicchādetvā karonti, pāpakammaṃ paṭicchannamevāti vuccati. Nirayoti sahokāsakā khandhā. Tiracchānayoniyaṃ khandhāva labbhanti. Sattamaṭṭhamāni uttānatthāneva.
Trong bài Kinh thứ sáu, với người có hành động che đậy: với hành động ác độc. Bởi vì, những người làm ác với biểu hiện che giấu; tuy nhiên, nếu làm với biểu hiện không giấu giếm, thì chính hành động ác độc ấy cũng được gọi là “có hành động đã bị che đậy”. Địa ngục: Các uẩn cùng với trú xứ, và cả các uẩn trong thai bào của loài thú. Trong bài Kinh thứ bảy và bài Kinh thứ tám, (ý nghĩa) thảy đều đơn giản.
- Navame paṭiggāhāti paṭiggāhakā, dussīlaṃ puggalaṃ dve ṭhānāni paṭiggaṇhantīti attho.
Trong bài Kinh thứ chín, nơi chốn chấp nhận: trú xứ chấp nhận. Có nghĩa là– hai nơi chốn chấp nhận hạng người ác giới.
- Dasame atthavaseti kāraṇāni. Araññavanapatthānīti araññāni ca vanapatthāni ca. Tattha kiñcāpi abhidhamme nippariyāyena ‘‘nikkhamitvā bahi indakhīlā, sabbametaṃ arañña’’nti (vibha. 529) vuttaṃ, tathāpi yaṃ taṃ ‘‘pañcadhanusatikaṃ pacchima’’nti (pārā. 654) āraññakaṅganipphādakaṃ senāsanaṃ vuttaṃ, tadeva adhippetanti veditabbaṃ. Vanapatthanti gāmantaṃ atikkamitvā manussānaṃ anupacāraṭṭhānaṃ, yattha na kasīyati na vapīyati. Pantānīti pariyantāni atidūrāni, diṭṭhadhammasukhavihāranti lokiyalokuttaraṃ phāsuvihāraṃ. Pacchimañca janataṃ anukampamānoti pacchime mama sāvake anukampanto.
Trong bài Kinh thứ mười, điều lợi ích: bao gồm các lý do. Ở các khu rừng và các nơi heo hút: các khu rừng và chỗ heo hút. Ở đấy, trong Abhidhamma, được ngài nói rằng: “Sau khi đi ra khỏi bên ngoài cọc ranh, toàn bộ khoảng (đất) ấy là khu rừng.”[1] Mặc dầu là vậy, đối với chỗ trú ngụ đưa đến thành tựu pháp của vị ngụ ở rừng được ngài nói rằng: “cách (căn nhà) cuối cùng khoảng cách 500 cây cung,”[2] nên biết rằng ngài muốn ám chỉ đến chính chỗ đó. Các nơi heo hút: khu rừng vượt ngoài ranh giới làng mạc, không phải là nơi sinh sống của con người, cũng không phải là nơi cày cấy gieo trồng. Đồng trống: nơi hẻo lánh, vô cùng xa xôi. Các sự an trú lạc ngay ở bản thể này: Các sự an trú lục thuộc Hiệp thế và Siêu thế. Và có lòng thương tưởng đến những chúng sanh về sau: Có lòng thương tưởng đối với hàng đề tử hậu sinh của ta.
- Ekādasame vijjābhāgiyāti vijjākoṭṭhāsikā. Samathoti cittekaggatā. Vipassanāti saṅkhārapariggāhakañāṇaṃ. Kamatthamanubhotīti katamaṃ atthaṃ ārādheti sampādeti paripūreti. Cittaṃ bhāvīyatīti maggacittaṃ bhāvīyati brūhīyati vaḍḍhīyati. Yo rāgo, so pahīyatīti yo rajjanakavasena rāgo, so pahīyati. Rāgo hi maggacittassa paccanīko, maggacittaṃ rāgassa ca. Rāgakkhaṇe maggacittaṃ natthi, maggacittakkhaṇe rāgo natthi. Yadā pana rāgo uppajjati, tadā maggacittassa uppattiṃ nivāreti, padaṃ pacchindati. Yadā pana maggacittaṃ uppajjati, tadā rāgaṃ samūlakaṃ ubbaṭṭetvā samugghātentameva uppajjati. Tena vuttaṃ – ‘‘rāgo pahīyatī’’ti.
Trong bài Kinh mười một, dự phần vào Minh: thuộc về phần Minh. Chỉ tịnh: trạng thái chuyên nhất của tâm. Minh sát: Trí tuệ xác định các hành [làm đối tượng]. Đạt được lợi ích gì? Cho thành tựu lợi ích gì? tức là hoàn thành, làm cho tròn đủ. Tâm được làm cho phát triển: Tâm đạo (tâm tương ưng với đạo) được làm cho phát triển, được làm cho mở rộng, được làm cho tăng trưởng. Cái nào là luyến ái, cái ấy được dứt bỏ: Cái nào là luyến ái do tác động sự nhơ nhuốc [phiền não], cái đó được dứt bỏ. Bởi vì luyến ái là kẻ thù nghịch của tâm đạo, và tâm đạo cũng là kẻ thù nghịch của luyến ái. Trong sát-na có luyến ái thì không có tâm đạo; trong sát-na có tâm đạo thì không có luyến ái. Hơn nữa, khi nào luyến ái sanh khởi, khi ấy nó sẽ ngăn chặn sự sanh khởi của tâm đạo, tức là cắt đứt lộ trình. Mặc khác, khi nào tâm đạo sanh khởi, khi ấy tâm đạo sẽ diệt tận gốc rễ luyến ái. Chính vì lý do ấy, Đức Thế Tôn mới nói rằng: ‘Luyến ái được dứt trừ.”
Vipassanā, bhikkhave, bhāvitāti vipassanāñāṇaṃ brūhitaṃ vaḍḍhitaṃ. Paññā bhāvīyatīti maggapaññā bhāvīyati brūhīyati vaḍḍhīyati. Yā avijjā, sā pahīyatīti aṭṭhasu ṭhānesu vaṭṭamūlikā mahāavijjā pahīyati. Avijjā hi maggapaññāya paccanīkā, maggapaññā avijjāya. Avijjākkhaṇe maggapaññā natthi , maggapaññākkhaṇe avijjā natthi. Yadā pana avijjā uppajjati, tadā maggapaññāya uppattiṃ nivāreti, padaṃ pacchindati. Yadā maggapaññā uppajjati, tadā avijjaṃ samūlikaṃ ubbaṭṭetvā samugghātayamānāva uppajjati. Tena vuttaṃ – ‘‘avijjā pahīyatī’’ti. Iti maggacittaṃ maggapaññāti dvepi sahajātadhammāva kathitā.
Này các Tỳ-khưu, Minh sát được làm cho phát triển: Trí về Minh sát được làm cho mở rộng, được làm cho tăng trưởng. Cái nào là vô minh, cái đó được dứt trừ: Dứt trừ vô minh to lớn vốn là gốc rễ của luân hồi ở tám trường hợp. Bởi vì, vô minh là kẻ thù nghịch của đạo tuệ, và đạo tuệ cũng là kẻ thù nghịch của vô minh. Trong sát-na có vô minh thì không có đạo tuệ; trong sát-na có đạo tuệ thì không có vô minh. Hơn nữa, khi nào vô minh sanh khởi, khi ấy nó sẽ ngăn chặn sự sanh khởi của đạo tuệ, tức là cắt đứt lộ trình. Khi nào đạo tuệ sinh khởi, khi ấy đạo tuệ sẽ diệt tận gốc rễ của vô minh. Chính vì lý do ấy, Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Vô minh được dứt trừ.” Cả hai pháp đồng sanh là tâm đạo và đạo tuệ, Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy.
Rāgupakkiliṭṭhaṃ vā, bhikkhave, cittaṃ na vimuccatīti rāgena upakkiliṭṭhattā maggacittaṃ na vimuccatīti dasseti. Avijjupakkiliṭṭhā vā paññā na bhāvīyatīti avijjāya upakkiliṭṭhattā maggapaññā na bhāvīyatīti dasseti. Iti kho, bhikkhaveti evaṃ kho, bhikkhave. Rāgavirāgā cetovimuttīti rāgassa khayavirāgena cetovimutti nāma hoti. Phalasamādhissetaṃ nāmaṃ. Avijjāvirāgā paññāvimuttīti avijjāya khayavirāgena paññāvimutti nāma hoti. Imasmiṃ sutte nānākkhaṇikā samādhivipassanā kathitāti.
Này các Tỳ-khưu, tâm bị uế nhiễm do luyến ái thì không được giải thoát[3]: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng tâm đạo không giải thoát vì tâm bị uế nhiễm do luyến ái. Hay tuệ bị uế nhiễm bởi vô minh thì không được phát triển[4]: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng đạo tuệ không được phát triển, vì tâm bị uế nhiễm do vô minh. Iti kho, bhikkhave: này các Tỳ-khưu, do vậy… Do xa lìa luyến ái mới có sự giải thoát của tâm[5]: Thông thường, sự giải thoát của tâm là hiện hữu do sự xa lìa, sự cạn kiệt của các ái. Đây là tên gọi của quả định (quả tương ưng với định). Do sự xa lìa vô minh mới có sự giải thoát của tuệ[6]: Sự giải thoát của tuệ là hiện hữu do sự xa lìa, sự cạn kiệt của vô minh. Trong bài Kinh này, Đức Thế Tôn đã thuyết về Chỉ tịnh và Minh sát diễn tiến trong các sát-na khác nhau như vậy.
Giải thích Phẩm Người Ngu, thứ ba – được kết thúc.
[1] vibha. 529
[2] pārā. 654
[3] Bị tham làm uế nhiễm, này các Tỷ-kheo, tâm không thể giải thoát. (HT TMC)
[4] Hay bị vô minh làm uế nhiễm, tuệ không được tu tập. (HT TMC)
[5] do ly tham, là tâm giải thoát. (HT TMC)
[6] Do đoạn vô minh, là tuệ giải thoát. (HT TMC)