01. GIẢI THÍCH CHƯƠNG HAI PHÁP – Giải thích Phẩm Hình Phạt
Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Hai pháp – Phẩm 01-04
NĂM MƯƠI BÀI KINH ĐẦU
1. Giải thích Kinh nói về ‘Tội lỗi’
Dukanipātassa paṭhame vajjānīti dosā aparādhā. Diṭṭhadhammikanti diṭṭheva dhamme imasmiṃyeva attabhāve uppannaphalaṃ. Samparāyikanti samparāye anāgate attabhāve uppannaphalaṃ. Āgucārinti pāpakāriṃ aparādhakārakaṃ. Rājāno gahetvā vividhā kammakāraṇā kārenteti coraṃ gahetvā vividhā kammakāraṇā rājapurisā karonti, rājāno pana tā kārenti nāma. Taṃ coraṃ evaṃ kammakāraṇā kāriyamānaṃ esa passati. Tena vuttaṃ – ‘‘passati coraṃ āgucāriṃ rājāno gahetvā vividhā kammakāraṇā kārente’’ti.
Bài Kinh thứ nhất trong chương thứ hai– Tội lỗi: lỗi lầm, sự sai trái. Cho kết quả trong đời này: có kết quả sanh khởi ngay trong hiện tại, tức là ngay chính trong bản thân này. Cho kết quả trong đời sau: có kết quả sanh khởi trong đời sau, tức là ở bản thân này trong ngày vị lai. Kẻ phạm tội: kẻ làm ác, tức là kẻ thực hiện điều tội lỗi. Các vị vua sau khi bắt giữ chính kẻ ấy rồi cho áp dụng các hình phạt nhiều loại: Các vị vua sau khi bắt giữ kẻ cướp phạm tội rồi áp dụng các hình phạt nhiều loại; sở dĩ gọi là ‘các vị vua’ vì chính các vị ấy là người hạ lệnh cho các quân lính thi hành những hình phạt ấy. Hạng người này nhìn thấy kẻ cướp ấy lãnh chịu hình phạt như vậy. Chính vì lý do đó, Ngài mới nói rằng: “Có người nhìn thấy các vị vua sau khi bắt giữ chính kẻ ấy rồi cho áp dụng các hình phạt nhiều loại”.
Addhadaṇḍakehīti muggarehi, pahārasādhanatthaṃ vā catuhatthadaṇḍaṃ dvedhā chetvā gahitadaṇḍakehi. Bilaṅgathālikanti kañjiyaukkhalikakammakāraṇaṃ. Taṃ karontā sīsakaṭāhaṃ uppāṭetvā tattaṃ ayoguḷaṃ saṇḍāsena gahetvā tattha pakkhipanti, tena matthaluṅgaṃ pakkuthitvā uttarati. Saṅkhamuṇḍikanti saṅkhamuṇḍakammakāraṇaṃ. Taṃ karontā uttaroṭṭha– ubhatokaṇṇa– cūḷikagalavāṭaka– paricchedena cammaṃ chinditvā sabbakese ekato gaṇṭhiṃ katvā daṇḍakena veṭhetvā uppāṭenti, saha kesehi cammaṃ uṭṭhahati. Tato sīsakaṭāhaṃ thūlasakkharāhi ghaṃsitvā dhovantā saṅkhavaṇṇaṃ karonti. Rāhumukhanti rāhumukhakammakāraṇaṃ. Taṃ karontā saṅkunā mukhaṃ vivaritvā antomukhe dīpaṃ jālenti, kaṇṇacūḷikāhi vā paṭṭhāya mukhaṃ nikhādanena khananti, lohitaṃ paggharitvā mukhaṃ pūreti.
Bằng những cây đoản côn: bằng những cây dùi cui, hoặc bằng khúc gỗ được làm từ một khúc cây dài 4 cánh tay đem chặt đôi thành 2 đoạn, rồi gắn thêm tay cầm để dùng làm hung khí. Hình phạt nhúng vào hũ giấm chua: Thực hiện hình phạt nhúng vào cái chậu giấm chua. Các vị vua trong khi thực hiện hình phạt đó, sẽ cho mở (vạt) hộp xương sọ ra, rồi dùng kìm gắp một hòn sắt nóng đỏ bỏ vào trong hộp sọ ấy. Vì lý do đó, bộ óc ở trong đầu sẽ sôi sùng sục và trào ngược ra ngoài. Hình phạt cạo đầu bôi vôi: Thực hiện hình phạt cạo đầu trắng bạch như vỏ ốc. Các vị vua trong khi thực hành hình phạt ấy, sẽ cho rạch lớp da đầu từ hai bên tóc mai kéo dài xuống tận gáy, rồi gom toàn bộ suối tóc buộc thắt lại thành một búi; kế đó dùng một thanh gỗ xỏ qua búi tóc, vặn xoắn khiến lớp da đầu tách khỏi cùng với tóc. Tiếp đó, họ dùng cát thô chà xát vào phần xương sọ, rửa sạch cho đến khi trắng bạch như vỏ ốc. Hình phạt đốt lửa ở miệng: Thực hiện hình phạt đốt lửa ở miệng. Các vị vua trong khi thực hiện hình phạt ấy, dùng một chiếc móc sắt móc chặt vào miệng để kéo banh rộng ra, rồi châm lửa đốt ngay bên trong khoang miệng ấy. Một phương pháp khác, dùng đục thép đóng từ hai bên tóc mai xuyên qua khoang miệng, khiến cho máu tuôn ra đầy miệng.
Jotimālikanti sakalasarīraṃ telapilotikāya veṭhetvā ālimpenti. Hatthapajjotikanti hatthe telapilotikāya veṭhetvā dīpaṃ viya pajjālenti. Erakavattikanti erakavattakammakāraṇaṃ. Taṃ karontā heṭṭhāgīvato paṭṭhāya cammavaṭṭe kantitvā gopphake ṭhapenti, atha naṃ yottehi bandhitvā kaḍḍhanti. So attano cammavaṭṭe akkamitvā akkamitvā patati. Cīrakavāsikanti cīrakavāsikakammakāraṇaṃ. Taṃ karontā tatheva cammavaṭṭe kantitvā kaṭiyaṃ ṭhapenti, kaṭito paṭṭhāya kantitvā gopphakesu ṭhapenti, uparimehi heṭṭhimasarīraṃ cīrakanivāsananivatthaṃ viya hoti. Eṇeyyakanti eṇeyyakakammakāraṇaṃ. Taṃ karontā ubhosu kapparesu ca ubhosu jāṇukesu ca ayavalayāni datvā ayasūlāni koṭṭenti. So catūhi ayasūlehi bhūmiyaṃ patiṭṭhahati. Atha naṃ parivāretvā aggiṃ karonti. ‘‘Eṇeyyako jotipariggaho yathā’’ti āgataṭṭhānepi idameva vuttaṃ. Taṃ kālena kālaṃ sūlāni apanetvā catūhi aṭṭhikoṭīhiyeva ṭhapenti. Evarūpā kammakāraṇā nāma natthi.
Hình phạt thiêu sống: Quấn chặt toàn bộ thân thể (kẻ trộm) bằng các tấm vải cũ tẩm đẫm dầu rồi châm lửa thiêu sống. Hình phạt đốt cháy ở bàn tay: Quấn chặt cả hai bàn tay bằng các tấm vải cũ tẩm dầu rồi châm lửa khiến cho (hai bàn tay) bốc cháy giống như ngọn đuốc. Hình phạt lột da thành sợi: Thực hiện hình phạt lột da thành sợi. Trong khi thực hiện hình phạt ấy, lột da thành từng sợi từ dưới cổ kéo dài xuống tận mắt cá chân, rồi dùng dây thừng buộc tên trộm lại kéo đi. Tên trộm ấy bước đi, giẫm tới giẫm lui trên những sợi da của chính mình rồi ngã gục xuống. Hình phạt mặc y phục vỏ cây: Thực hiện hình phạt mặc y phục vỏ cây. Khi thực hiện hình phạt này, họ cũng lột da thành từng sợi tương tự như hình phạt rước, nhưng lại chia thành hai phần: phần thứ nhất từ dưới cổ xuống đến thắt lưng, phần thứ hai từ thắt lưng xuống đến mắt cá chân, các sợi da ở phần trên rũ xuống che phủ phần thân dưới như thể đang mặc y phục vỏ cây. Hình phạt hình phạt con dê núi: Thực hiện hình phạt thế đứng con dê núi. Khi thi hành cực hình đó, họ sử dụng các vòng sắt khóa chặt hai khuỷu tay và hai khớp đầu gối áp sát xuống mặt đất, lồng các cọc sắt vào rồi đóng cố định lại; kẻ trộm lúc này sẽ đứng trên mặt đất bằng bốn chiếc cọc sắt, rồi châm lửa xung quanh, “kẻ ấy giống như con dê núi bị lửa thiêu chết”. Ngay cả trong Sớ giải điều Ngài cũng đã nói về vấn đề này tương tự. Sau khi kẻ ấy tử vong, họ nhổ các cọc sắt ra, để cái xác chết đứng (như loài thú bốn chân) bằng bốn khớp xương ấy. Các hình phạt có hình thức như vậy là không có.
Baḷisamaṃsikanti ubhatomukhehi baḷisehi paharitvā cammamaṃsanhārūni uppāṭenti. Kahāpaṇikanti sakalasarīraṃ tiṇhāhi vāsīhi koṭito paṭṭhāya kahāpaṇamattaṃ, kahāpaṇamattaṃ pātentā koṭṭenti. Khārāpatacchikanti sarīraṃ tattha tattha āvudhehi paharitvā kocchehi khāraṃ ghaṃsanti, cammamaṃsanhārūni paggharitvā aṭṭhikasaṅkhalikāva tiṭṭhati. Palighaparivattikanti ekena passena nipajjāpetvā kaṇṇacchiddena ayasūlaṃ koṭṭetvā pathaviyā ekābaddhaṃ karonti. Atha naṃ pāde gahetvā āviñchanti. Palālapīṭhakanti cheko kāraṇiko chavicammaṃ acchinditvā nisadapotehi aṭṭhīni bhinditvā kesesu gahetvā ukkhipati, maṃsarāsiyeva hoti. Atha naṃ keseheva pariyonandhitvā gaṇhanti, palālavaṭṭiṃ viya katvā puna veṭhenti. Sunakhehipīti katipayāni divasāni āhāraṃ adatvā chātakasunakhehi khādāpenti. Te muhuttena aṭṭhikasaṅkhalikameva karonti. Sūle uttāsenteti sūle āropente.
Hình phạt xiên da thịt bằng lưỡi câu: sử dụng móc câu có hai ngạnh để móc chặt vào da, thịt và gân (kẻ trộm) rồi kéo giật ra. Hình phạt khoét thịt thành đồng tiền: sử dụng lưỡi dao sắc bén xẻo từng mảnh thịt trên khắp thân thể (kẻ trộm) từ vùng thắt lưng ra thành từng phần có kích thước bằng đồng tiền vàng. Hình phạt chà xát với chất kiềm: Chặt, băm chỗ này chỗ nọ trên khắp cơ thể rồi dùng nước kiềm rưới lên, chà xát bằng bàn chải khiến cho toàn bộ lớp da, thịt và gân bong tróc hết, chỉ còn lại xương. Hình phạt quay tròn ở trên thập tự giá: Bắt kẻ trộm nằm nghiêng, dùng lao sắt nhọn đâm thẳng vào lỗ tai xuyên qua (đầu) găm chặt xuống nền đất, sau đó nắm hai chân nhấc lên rồi kéo (cơ thể kẻ trộm) quay tròn xung quanh (chiếc cọc sắt). Hình phạt ngồi ở ghế rơm: Người tra khảo khéo léo sử dụng tảng đá nghiền phía trên lăn đè lên cơ thể (kẻ trộm) khiến cho xương cốt bị dập nát, nhưng không để lớp da bị rách, rồi túm lấy mái tóc nhấc (cơ thể) lên, lắc qua lắc lại khiến cho phần thịt dồn tụ lại thành một khối. Tiếp đó, họ dùng chính phần tóc ấy để quấn bao bọc, giữ chặt lấy khối thịt đó rồi đặt xuống giống như một đống rơm. Hình phạt cho những con chó gặm: Sau khi bỏ đói những con chó 2-3 ngày liền, rồi cho những con chó đang cơn cuồng đói ấy lao vào cắn xé (kẻ trộm) chỉ trong chốc lát (cơ thể kẻ trộm) chỉ còn trơ lại bộ xương. Hình phạt cho nằm ngửa trên giáo nhọn: Nhấc (kẻ trộm) đặt nằm ngửa trên ngọn giáo.
Na paresaṃ pābhataṃ vilumpanto caratīti paresaṃ santakaṃ bhaṇḍaṃ parammukhaṃ ābhataṃ antamaso antaravīthiyaṃ patitaṃ sahassabhaṇḍikampi disvā ‘‘iminā jīvissāmī’’ti vilumpanto na vicarati, ko iminā atthoti piṭṭhipādena vā pavaṭṭetvā gacchati.
Không đi cưỡng đoạt tài sản của những người khác: Khi nhìn thấy tài sản của người khác ở ngay trước mắt, thậm chí là thứ có giá trị đến hàng ngàn đồng tiền nằm rơi trên đường, vị ấy cũng không đi tranh đoạt với ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ duy trì mạng sống bằng thứ này’, hoặc nghĩ rằng: ‘Lợi ích lợi gì với thứ này?’ Thay vào đó, vị ấy dùng mu bàn chân gạt vật ấy qua một bên rồi bước đi.
Pāpakoti lāmako. Dukkhoti aniṭṭho. Kiñca tanti kiṃ nāma taṃ kāraṇaṃ bhaveyya. Yāhanti yena ahaṃ. Kāyaduccaritanti pāṇātipātādi tividhaṃ akusalaṃ kāyakammaṃ. Kāyasucaritanti tassa paṭipakkhabhūtaṃ tividhaṃ kusalakammaṃ. Vacīduccaritanti musāvādādi catubbidhaṃ akusalaṃ vacīkammaṃ. Vacīsucaritanti tassa paṭipakkhabhūtaṃ catubbidhaṃ kusalakammaṃ. Manoduccaritanti abhijjhādi tividhaṃ akusalakammaṃ. Manosucaritanti tassa paṭipakkhabhūtaṃ tividhaṃ kusalakammaṃ. Suddhaṃ attānaṃ pariharatīti ettha duvidhā suddhi – pariyāyato ca nippariyāyato ca. Saraṇagamanena hi pariyāyena suddhaṃ attānaṃ pariharati nāma. Tathā pañcahi sīlehi, dasahi sīlehi – catupārisuddhisīlena, paṭhamajjhānena…pe… nevasaññānāsaññāyatanena, sotāpattimaggena, sotāpattiphalena…pe… arahattamaggena pariyāyena suddhaṃ attānaṃ pariharati nāma. Arahattaphale patiṭṭhito pana khīṇāsavo chinnamūlake pañcakkhandhe nhāpentopi khādāpentopi bhuñjāpentopi nisīdāpentopi nipajjāpentopi nippariyāyeneva suddhaṃ nimmalaṃ attānaṃ pariharati paṭijaggatīti veditabbo.
Là kết quả xấu ác: thấp thỏi. Là khổ: Không đáng ước muốn. Một số uế hạnh nào đó: làm sao có thể có chuyện như vậy được? Yāhaṃ tách từ thành ‘yena ahaṃ’. Uế hạnh về thân: Ba loại thân nghiệp bất thiện có việc sát hại sinh mạng, v.v. Thiện hạnh về thân: ba loại thiện nghiệp có tính chất đối nghịch đối với uế hạnh về thân ấy. Uế hạnh về khẩu: Bốn loại khẩu nghiệp bất thiện có sự nói dối, v.v. Thiện hạnh về thân: Bốn lại thiện nghiệp có tính chất đối nghịch với ác hạnh về khẩu. Uế hạnh về ý: Ba bát thiện nghiệp có tham đắm, v.v. Thiện hạnh về ý: Ba thiện nghiệp có tính chất đối nghịch với uế hạnh về ý. Gìn giữ bản thân trong sạch: Ở đây, có hai sự trong sạch là— sự thanh tịnh gián tiếp và sự thanh tịnh trực tiếp. Thật vậy, hạng người gọi là gìn giữ bản thân trong sạch gián tiếp bằng việc đi đến nương nhờ. Cũng vậy, hạng người gọi là gìn giữ bản thân trong sạch gián tiếp bằng việc thọ trì năm giới, mười giới – bằng tứ thanh tịnh giới, bằng Sơ thiền … bằng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, bằng Nhập Lưu Đạo, Nhập Lưu Quả … bằng A-la-hán Đạo. Còn hạng người đã an trú trong A-la-hán Quả, là bậc Lậu Tận (tức là vị có các lậu hoặc đã được cạn kiệt), vẫn duy trì 5 uẩn vốn có gốc rễ đã bị chặt đứt cho được tắm rửa, cho được thọ dụng, cho được ngồi, hoặc cho được nằm v.v, nên biết rằng: gìn giữ, nâng đỡ bản thân trong sạch, không còn vết nhơ một cách hoàn toàn trực tiếp.
Tasmāti yasmā imāni dve vajjāneva, no na vajjāni, tasmā. Vajjabhīrunoti vajjabhīrukā. Vajjabhayadassāvinoti vajjāni bhayato dassanasīlā. Etaṃ pāṭikaṅkhanti etaṃ icchitabbaṃ, etaṃ avassaṃbhāvīti attho. Yanti nipātamattaṃ, kāraṇavacanaṃ vā yena kāraṇena parimuccissati sabbavajjehi. Kena pana kāraṇena parimuccissatīti? Catutthamaggena ceva catutthaphalena ca. Maggena hi parimuccati nāma, phalaṃ patto parimutto nāma hotīti. Kiṃ pana khīṇāsavassa akusalaṃ na vipaccatīti? Vipaccati, taṃ pana khīṇāsavabhāvato pubbe kataṃ. Tañca kho imasmiṃyeva attabhāve, samparāye panassa kammaphalaṃ nāma natthīti. Paṭhamaṃ.
Do đó: Bởi vì hai điều này hoàn toàn là tội lỗi; không phải không tội lỗi, cho nên… Người ghê sợ tội lỗi: Là người ghê sợ tội lỗi. Người nhìn thấy ghê sợ tội lỗi: Thường nhìn thấy các tội lỗi là sự sợ hãi. Điều này là được chờ đợi: Điều này là được mong mỏi, giải thích rằng– điều này chắc chắn xảy ra. Yaṃ: chỉ là một phân từ, hơn nữa từ ‘yaṃ’ là sở dụng cách (cách thứ ba), do nguyên nhân nào (người ấy) sẽ được giải thoát khỏi tất cả tội lỗi. Vậy (người ấy) sẽ được giải thoát khỏi (các tội lỗi) bởi nguyên nhân gì? (Người ấy sẽ được giải thoát khỏi) bởi Tứ Đạo và Tứ Quả. Thật vậy, gọi là được giải thoát khỏi bởi Đạo, khi đã chứng đắc Quả gọi là được hoàn toàn giải thoát. Vậy bất thiện không trổ quả đối với bậc Lậu Tận chăng? Vẫn trổ quả. Tuy nhiên, bất thiện ấy vốn đã được tạo tác từ khi vị ấy chưa trở thành bậc Lậu Tận. Và chúng cho quả ngay trong kiếp sống hiện tại này mà thôi; còn ở kiếp sống vị lai thì kết quả của nghiệp không có đối với vị ấy (bậc Lậu Tận). Bài Kinh thứ nhất – được kết thúc.
2. Giải thích Kinh nói về ‘Sự tinh cần’
Dutiye padhānānīti vīriyāni. Vīriyañhi padahitabbato padhānabhāvakaraṇato vā padhānanti vuccati. Durabhisambhavānīti dussahāni duppūriyāni, dukkarānīti attho. Agāraṃ ajjhāvasatanti agāre vasantānaṃ. Cīvara– piṇḍapāta– senāsana– gilānapaccayabhesajjaparikkhārānuppadānatthaṃ padhānanti etesaṃ cīvarādīnaṃ catunnaṃ paccayānaṃ anuppadānatthāya padhānaṃ nāma durabhisambhavanti dasseti. Caturatanikampi hi pilotikaṃ, pasatataṇḍulamattaṃ vā bhattaṃ, caturatanikaṃ vā paṇṇasālaṃ, telasappinavanītādīsu vā appamattakampi bhesajjaṃ paresaṃ dethāti vattumpi nīharitvā dātumpi dukkaraṃ ubhatobyūḷhasaṅgāmappavesanasadisaṃ. Tenāha bhagavā –
Trong bài Kinh thứ hai, sự nỗ lực: sự tinh tấn. Thật vậy, sự tinh tấn được gọi là ‘sự nỗ lực’ là bởi vì đáng được thiết lập, hoặc bởi vì thực hiện sự nỗ lực. Khó đạt được: khó chịu đựng, khó được làm đầy, giải thích rằng– khó thực hiện. Đối với người sống tại gia: Sống tại gia. Sự nỗ lực … nhằm mục đích bố thí y phục, đồ ăn khất thực, chỗ nằm ngồi, và vật dụng là thuốc men chữa bệnh: Ngài cho thấy rằng sự nỗ lực nhằm mục đích bố thí bốn món vật dụng có y phục, v.v, này là khó thực hiện. Thật vậy, thậm chí một ai đó nói rằng: “Xin chư vị hãy cho mảnh vải chỉ vỏn vẹn 4 ratana[1], hoặc phần vật thực độ chừng một nắm gạo trong lòng bàn tay, hoặc một gian nhà lá rộng khoảng 4 ratana, hoặc chút ít thuốc men như bơ lỏng, bơ đặc… hoặc việc lấy ra cho được gọi là khó thực hiện, giống như đội quân ở hai phía tiến vào chiến trận. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Dānañca yuddhañca samānamāhu,
Appāpi santā bahuke jinanti;
Appampi ce saddahāno dadāti,
Teneva so hoti sukhī paratthā’’ti. (jā. 1.8.72; saṃ. ni. 1.33);
“Sự bố thí và chiến đấu là tương tự nhau,
dầu là ít người cũng thắng được nhiều người;
nếu người bố thí dầu ít ỏi, nhưng có niềm tin,
chính vì điều ấy, người ấy có sự an lạc về sau này.” (jā. 1.8.72; saṃ. ni. 1.33);
Agārasmā anagāriyaṃ pabbajitānanti gehato nikkhamitvā agārassa gharāvāsassa hitāvahehi kasigorakkhādīhi virahitaṃ anagāriyaṃ pabbajjaṃ upagatānaṃ. Sabbūpadhipaṭinissaggatthāya padhānanti sabbesaṃ khandhūpadhikilesūpadhiabhisaṅkhārūpadhisaṅkhātānaṃ upadhīnaṃ paṭinissaggasaṅkhātassa nibbānassa atthāya vipassanāya ceva maggena ca sahajātavīriyaṃ. Tasmāti yasmā imāni dve padhānāni durabhisambhavāni, tasmā. Dutiyaṃ.
Của các người xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: Rời nhà xuất gia, sống không nhà; từ bỏ các nghề canh nông (trồng trọt), chăn nuôi gia súc, v.v, vốn mang lại lợi ích cho gia đình, tức là (mang lại lợi ích) cho đời sống của người cư sĩ tại gia. Sự nỗ lực …. nhằm mục đích từ bỏ đối với tất cả các mầm tái sanh: Tinh tấn đồng sanh với Minh sát và Đạo vì mục đích Niết Bàn; được xem là sự từ bỏ các mầm tái sanh– mầm tái sanh là uẩn, mầm tái sanh là phiền não, mầm tái sanh là sự tạo tác. Do đó/vì thế: Bởi vì cả hai sự nỗ lực (sự tinh tấn) này là trạng thái khó thực hiện, cho nên… Giải thích bài Kinh thứ hai (được kết thúc).
3. Giải thích Kinh nói về ‘Pháp làm cho nóng đốt’
Tatiye tapanīyāti idha ceva samparāye ca tapantīti tapanīyā. Tappatīti cittasantāpena tappati anusocati kāyaduccaritaṃ katvā nandayakkho viya nandamāṇavo viya nandagoghātako viya devadatto viya dvebhātikā viya ca. Te kira gāvaṃ vadhitvā maṃsaṃ dve koṭṭhāse akaṃsu. Tato kaniṭṭho jeṭṭhakaṃ āha – ‘‘mayhaṃ dārakā bahū, imāni me antāni dehī’’ti. Atha naṃ so ‘‘sabbaṃ maṃsaṃ dvedhā vibhattaṃ, puna kiṃ maggasī’’ti paharitvā jīvitakkhayaṃ pāpesi. Nivattitvā ca naṃ olokento mataṃ disvā ‘‘bhāriyaṃ me kammaṃ kata’’nti cittaṃ uppādesi. Athassa balavasoko uppajji. So ṭhitaṭṭhānepi nisinnaṭṭhānepi tadeva kammaṃ āvajjeti, cittassādaṃ na labhati. Asitapītakhāyitasāyitampissa sarīre ojaṃ na pharati, aṭṭhicammamattameva ahosi. Atha naṃ eko thero disvā – ‘‘upāsaka, tvaṃ pahūtaannapāno, aṭṭhicammamattameva te avasiṭṭhaṃ, atthi nu kho te kiñci tapanīyakamma’’nti? So ‘‘āma, bhante’’ti sabbaṃ ārocesi. Atha naṃ thero ‘‘bhāriyaṃ te upāsaka kammaṃ kataṃ, anaparādhaṭṭhāne aparaddha’’nti āha. So teneva kammena kālaṃ katvā niraye nibbatto. Vacīduccaritena suppabuddhasakkakokālikaciñcamāṇavikādayo viya tappati. Sesamettha catutthe ca uttānatthameva. Tatiyaṃ.
Trong bài Kinh thứ ba, làm cho nóng đốt: làm cho nóng đốt bởi các chúng sanh bị nóng bứt ở đời này và đời sau. Bị nóng đốt: Kể ấy đã tạo các uế hạnh về thân phải bị thiêu đốt, than phiền bởi sự bực bội ở tâm giống như Dạ-xoa Nanda, thanh niên Nanda, gã đồ tể Nanda, Devadatta và giống như câu chuyện về hai anh em. Kể rằng, hai anh em nhà nọ sau khi giết một con bò đã chia phần thịt thành hai phần. Kế đó, người em trai mới nói với người anh rằng: “Thưa anh, nhà em đông con nhỏ, xin anh nhường phần lòng bò này cho em?” Người anh đáp rằng: “Tất cả phần thịt chúng ta đã chia thành hai phần, chú còn muốn yêu cầu gì nữa?’ Dứt lời, gã ra tay đánh chết người em của mình. Tuy nhiên, khi nhìn lại thấy em trai đã tắt thở, gã mới khởi tâm nghĩ rằng: “Ta đã gây nên ác nghiệp nặng nề!” Gã vô cùng buồn rầu. Kể từ đó, dù đứng hay ngồi, gã chỉ nghĩ về ác nghiệp ấy, không có được sự an lạc của tâm. Thậm chí, mọi dưỡng chất mà gã ăn, uống, nhai và nếm đều không thể hấp thụ (để nuôi dưỡng) cơ thể. Thân xác gã chỉ còn trơ da bọc xương. Khi ấy, một vị Trưởng lão nhìn thấy gã mới hỏi rằng: “Này nam cư sĩ, ông cũng có thức ăn và thức uống dồi dào, nhưng cớ sao cơ thể chỉ da bọc xương như thế kia? Phải chăng ông có một ác nghiệp nào đó làm cho bị nóng đốt?” Gã thừa nhận rằng: “Bạch Ngài, đúng vậy”, rồi thuật lại toàn bộ sự việc. Trưởng lão nói với gã rằng: “Này nam cư sĩ, ông đã tạo nghiệp quá nặng nề, ông đã phạm sai lầm ở đối tượng không đáng để phạm phải.” (Không lâu sau đó,) gã đã mệnh chung và đọa vào địa ngục do chính ác nghiệp ấy. Người bị nóng đốt do uế hạnh về khẩu như vua Suppabuddha dòng Sākya, Tỳ-kheo Kokālika, và nàng Cīñcā Māṇavikā, v.v. Các từ còn lại trong bài Kinh này và bài Kinh thứ tư đều có ý nghĩa đơn giản. Giải thích bài Kinh thứ ba (được kết thúc).
4-5. Giải thích Kinh nói về ‘Pháp làm nhân để biết trí Toàn Giác’
Pañcame dvinnāhanti dvinnaṃ ahaṃ. Upaññāsinti upagantvā guṇaṃ aññāsiṃ, jāniṃ paṭivijjhinti attho. Idāni te dhamme dassento yā ca asantuṭṭhitātiādimāha. Imañhi dhammadvayaṃ nissāya satthā sabbaññutaṃ patto, tasmā tassānubhāvaṃ dassento evamāha. Tattha asantuṭṭhitā kusalesu dhammesūti iminā imaṃ dīpeti – ‘‘ahaṃ jhānamattakena vā obhāsanimittamattakena vā asantuṭṭho hutvā arahattamaggameva uppādesiṃ. Yāva so na uppajji, na tāvāhaṃ santuṭṭho ahosiṃ. Padhānasmiṃ ca anukkaṇṭhito hutvā anosakkanāya ṭhatvāyeva padhānakiriyaṃ akāsi’’nti imamatthaṃ dassento yā ca appaṭivānitātiādimāha. Tattha appaṭivānitāti appaṭikkamanā anosakkanā. Appaṭivānī sudāhaṃ, bhikkhave, padahāmīti ettha sudanti nipātamattaṃ. Ahaṃ, bhikkhave, anosakkanāyaṃ ṭhito bodhisattakāle sabbaññutaṃ patthento padhānamakāsinti ayamettha attho.
Trong bài Kinh thứ năm, dvinnāhaṃ – Ta … hai Pháp: tách từ thành dvinnaṃ ahaṃ. Thấu hiểu: Sau khi đến gần đã biết rõ về ân đức, giải thích rằng– đã nhận biết, đã thấu triệt. Giờ đây, khi thuyết giảng các Pháp ấy, đã nói rằng: “Sự không biết đủ, v.v.” Bởi vì bậc Đạo Sư y cứ vào hai Pháp này đã đạt đến trí Toàn Giác; do đó, khi thuyết về uy lực của hai Pháp ấy mới nói như vậy. Ở đấy, không biết đủ về các thiện pháp: giải thích ý nghĩa như sau – “Ta không biết đủ với các Pháp chỉ là Thiền, hoặc với các Pháp chỉ là hiện tướng của ánh sáng; mà còn làm cho A-la-hán Đạo được sanh khởi. Khi nào A-la-hán Đạo chưa sanh khởi, khi ấy Ta đã không hài lòng. Đồng thời, Ta đã không bất mãn trong việc nỗ lực, đã an trú vững chãi không thối chuyển, đã thực hành sự nỗ lực. Khi trình bày ý nghĩa như đã đề cập, mới nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, Ta không thối thất về việc ra sức, v.v.” Trong câu đó, không thối thất: sự nỗ lực không lùi bước, sự không thối chuyển. Ở đây, từ ‘sudaṃ’ trong câu ‘Appaṭivānī sudāhaṃ, bhikkhave, padahāmi’ chỉ là một phân từ. Ở đây điều này là ý nghĩa– “Này các Tỳ-khưu, Ta vững trú trong sự không thối chuyển, có ý nguyện trở thành bậc Toàn Giác đã thực hành sự nỗ lực khi vẫn còn là Bồ Tát.”
Idāni yathā tena taṃ padhānaṃ kataṃ, taṃ dassento kāmaṃ taco cātiādimāha. Tattha pattabbanti iminā pattabbaṃ guṇajātaṃ dasseti. Purisathāmenātiādinā purisassa ñāṇathāmo ñāṇavīriyaṃ ñāṇaparakkamo ca kathito. Saṇṭhānanti ṭhapanā appavattanā osakkanā, paṭippassaddhīti attho. Ettāvatā tena caturaṅgasamannāgataṃ vīriyādhiṭṭhānaṃ nāma kathitaṃ. Ettha hi kāmaṃ taco cāti ekaṃ aṅgaṃ, nhāru cāti ekaṃ, aṭṭhi cāti ekaṃ, maṃsalohitanti ekaṃ, imāni cattāri aṅgāni. Purisathāmenātiādīni adhimattavīriyādhivacanāni. Iti purimehi catūhi aṅgehi samannāgatena hutvā evaṃ adhiṭṭhitaṃ vīriyaṃ caturaṅgasamannāgataṃ vīriyādhiṭṭhānaṃ nāmāti veditabbaṃ. Ettāvatā tena bodhipallaṅke attano āgamanīyapaṭipadā kathitā.
Bây giờ, Đức Thế Tôn đã thực hành sự nỗ lực ấy như thế nào, khi thuyết về điều đó, Ngài mới nói rằng: “Dù cho chỉ còn da, v.v.” Trong số các từ ngữ ấy, cần phải đạt được này Ngài cho thấy tập hợp các ân đức cần phải đạt được. Với sức mạnh của người nam, v.v, Ngài nói về sức mạnh làm khởi sanh trí, sự tinh tấn làm khởi sanh trí, và sự nỗ lực làm khởi sanh trí của người nam. Dừng: nghỉ ngơi, sự không vận hành, sự thối chuyển, giải thích rằng ‘sự tịch tịnh’. Chỉ với chừng ấy lời, xem như Đức Thế Tôn đã nói về sự xác định tinh tấn được hội đủ với bốn yếu tố. Bởi vì, ở đây, ‘dù cho chỉ còn da, v.v.’ là một yếu tố. Và gân là một yếu tố. Và xương là một yếu tố. Máu và thịt (có khô cạn) là một yếu tố, bốn yếu tố này (là sự xác định tinh tấn). Với sức mạnh của người nam, v.v, (bốn yếu tố này) là tên gọi của sự tinh tấn vượt bực. Sự tinh tấn được hội đủ với bốn yếu tố trước như thế đã được xác định như vậy, nên biết rằng: “Gọi là sự xác định tinh tấn được hội đủ với bốn yếu tố.’ Chỉ với chừng ấy lời, Đức Thế Tôn đã toàn diện hiển thị đường lối thực hành đưa đến sự chứng đạt của Ngài ở ngay tại Bảo tọa Bồ-đề.
Idāni tāya paṭipadāya paṭiladdhaguṇaṃ kathetuṃ tassa mayhaṃ, bhikkhavetiādimāha. Tattha appamādādhigatāti satiavippavāsasaṅkhātena appamādena adhigatā, na suttappamattena laddhā. Sambodhīti catumaggañāṇañceva sabbaññutaññāṇañca. Na hi sakkā etaṃ suttappamattena adhigantunti. Tenāha – ‘‘appamādādhigatā sambodhī’’ti. Anuttaro yogakkhemoti na kevalaṃ bodhiyeva, arahattaphalanibbānasaṅkhāto anuttaro yogakkhemopi appamādādhigatova.
Bây giờ, để thuyết về ân đức mà Ngài đã đạt được bằng đường lối thực hành ấy, Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Này các tỳ khưu, trong khi Ta đây, v.v.” Ở đấy, đã chứng đắc nhờ sự không xao lãng: đã chứng đắc nhờ sự không xao lãng được xem là trạng thái không rời bỏ niệm, không phải đạt được nhờ sự xao lãng như người nằm ngủ. Sự giác ngộ: Trí về Tứ Đạo và trí Toàn tri. Bởi vì kẻ xao lãng như người nằm ngủ không thể chứng đạt được Trí về Tứ Đạo và trí Toàn tri ấy. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Sự giác ngộ … đã chứng đắc nhờ sự không xao lãng”. Pháp vô thượng an toàn đối với các trói buộc: Không chỉ riêng sự giác ngộ mà còn là Pháp vô thượng an toàn đối với các trói buộc được xem là A-la-hán Quả, Niết Bàn, Ta cũng đã chứng đắc nhờ sự không xao lãng.
Idāni attanā paṭiladdhaguṇesu bhikkhusaṅghaṃ samādapento tumhe cepi bhikkhavetiādimāha. Tattha yassatthāyāti yassa atthāya, yaṃ upasampajja viharitukāmā hutvāti attho. Tadanuttaranti taṃ anuttaraṃ. Brahmacariyapariyosānanti maggabrahmacariyassa pariyosānabhūtaṃ ariyaphalaṃ. Abhiññā sacchikatvāti abhiññāya uttamapaññāya paccakkhaṃ katvā. Upasampajja viharissathāti paṭilabhitvā pāpuṇitvā viharissatha. Tasmāti yasmā appaṭivānapadhānaṃ nāmetaṃ bahūpakāraṃ uttamatthasādhakaṃ, tasmā. Pañcamaṃ.
Bây giờ, trong lúc khuyến khích Hội chúng Tỳ-khưu hành trì trong các ân đức mà Ngài đã đạt được, nên mới nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, nếu như các ngươi, v.v.” Ở đấy, vì mục đích nào: Vì mục đích của cứu cánh Phạm hạnh nào. Giải thích rằng: Là vị có ý muốn để an trú và đạt đến cứu cánh Phạm hạnh nào đó. Tadanuttaraṃ – tối thượng ấy: Tối thượng ấy. Cứu cánh Phạm hạnh: Thánh Quả là mục đích cuối cùng của con đường Phạm hạnh. Với thắng trí … chứng ngộ: đã làm sáng tỏ bằng thắng trí, là bằng trí tuệ tối thượng. Sẽ đạt đến và an trú: đã chứng đắc, đã thành tựu rồi sẽ an trú. Do đó/Vì vậy: Bởi vì, thông thường sự nỗ lực không thối chuyển này có nhiều sự trợ giúp đưa đến sự thành tựu lợi ích tối thượng, cho nên… Giải thích bài Kinh thứ năm (được kết thúc).
6. Giải thích Kinh nói về Sự ràng buộc
Chaṭṭhe saṃyojaniyesu dhammesūti dasannaṃ saṃyojanānaṃ paccayabhūtesu tebhūmakadhammesu. Assādānupassitāti assādato passitā passanabhāvoti attho. Nibbidānupassitāti nibbidāvasena ukkaṇṭhanavasena passanabhāvo. Jātiyāti khandhanibbattito. Jarāyāti khandhaparipākato. Maraṇenāti khandhabhedato. Sokehīti antonijjhāyanalakkhaṇehi sokehi. Paridevehīti tannissitalālappitalakkhaṇehi paridevehi. Dukkhehīti kāyapaṭipīḷanadukkhehi. Domanassehīti manovighātadomanassehi. Upāyāsehīti adhimattāyāsalakkhaṇaupāyāsehi. Dukkhasmāti sakalavaṭṭadukkhato. Pajahatīti maggena pajahati. Pahāyāti ettha pana phalakkhaṇo kathito. Imasmiṃ sutte vaṭṭavivaṭṭaṃ kathitaṃ. Chaṭṭhaṃ.
Trong bài Kinh thứ sáu, các pháp làm duyên cho sự ràng buộc (kiết sử): các pháp vận hành trong ba cõi làm duyên của mười sự ràng buộc (mười kiết sử). Việc nhìn thấy … sự thỏa mãn: Nghĩa là– sự thấy là trạng thái thấy có tính chất thỏa thích đáng hài lòng. Việc nhìn thấy … với tính chất nhàm chán: Sự thấy do tác động của sự nhàm chán, tức là do tác dộng của sự không thỏa mãn (đối với các sự ràng buộc). Khỏi sự sanh ra: Khỏi sự sanh khởi của (năm) uẩn. Khỏi sự già: Khỏi sự lão hóa/chín muồi của (năm) uẩn. Khỏi sự chết: Khỏi sự tan rã của (năm) uẩn. Khỏi các sầu muộn: Khỏi sự sầu muộn có trạng thái thiêu đốt ở bên trong. Khỏi các bi thảm: Khỏi sự bi thảm có trạng thái than khóc y cứ vào sự bi thảm ấy. Khỏi các khổ não: Khỏi sự đau đớn áp bức thân thể. Khỏi các ưu phiền: khỏi các phiền muộn gây khó chịu tâm thức.Khỏi các não nùng: khỏi các nỗi khổ cực có trạng thái sầu muộn/u uất tột độ. Hoàn toàn thoát khỏi khổ đau: Hoàn toàn khỏi khổ đau trong toàn bộ vòng luân hồi. Dứt bỏ: Dứt bỏ bởi Thánh Đạo. Đã dứt bỏ: Hơn nữa, ở đây Đức Thế Tôn nói ở sát-na của Thánh Quả. Trong bài Kinh này, Ngài nói cả luân hồi và xuất luân hồi. Giải thích bài Kinh thứ sáu (được kết thúc).
7. Giải thích Kinh nói về Pháp Đen
Sattame kaṇhāti na kāḷavaṇṇatāya kaṇhā, kaṇhatāya pana upanentīti nipphattikāḷatāya kaṇhā. Sarasenāpi vā sabbākusaladhammā kaṇhā eva. Na hi tesaṃ uppattiyā cittaṃ pabhassaraṃ hoti. Ahirikanti ahirikabhāvo. Anottappanti anottāpibhāvo. Sattamaṃ.
Trong bài Kinh thứ bảy, Pháp đen: Không phải đen do có màu đen, mà vì chúng dẫn đến bản chất ‘Pháp đen’; là ‘Pháp đen’ do kết quả được thành tựu. Hoặc là, khi nói về phận sự của chính mình thì tất cả các Pháp bất thiện đều là ‘Pháp đen’, bởi vì khi các pháp bất thiện ấy khởi lên, thì tâm trở nên không chói sáng (không thanh tịnh). Vô tàm: trạng thái không hổ thẹn (tội lỗi). Vô úy: trạng thái không ghê sợ (tội lỗi). Giải thích bài Kinh thứ bảy (được kết thúc).
8. Giải thích bài Kinh nói về Pháp Trắng
Aṭṭhame sukkāti na vaṇṇasukkatāya sukkā, sukkatāya pana upanentīti nipphattisukkatāya sukkā. Sarasenāpi vā sabbakusaladhammā sukkā eva. Tesaṃ hi uppattiyā cittaṃ pabhassaraṃ hoti. Hirī ca ottappañcāti ettha pāpato jigucchanalakkhaṇā hirī, bhāyanalakkhaṇaṃ ottappaṃ. Yaṃ panettha vitthārato vattabbaṃ siyā, taṃ visuddhimagge vuttameva. Aṭṭhamaṃ.
Trong bài Kinh thứ tám, Pháp trắng: Không phải trắng do có màu trắng, mà vì chúng dẫn đến bản chất ‘Pháp trắng’; là ‘Pháp trắng’ do kết quả được thành tựu. Hoặc là, khi nói về phận sự của chính mình thì tất cả các Pháp thiện đều là ‘Pháp trắng’, bởi vì khi các Pháp thiện ấy khởi lên thì tâm trở nên chói sáng (thanh tịnh). Tàm và úy: Tàm có trạng thái hổ thẹn tội lỗi, úy có trạng thái ghê sợ tội lỗi. Hơn nữa, ở đây những lời cần được diễn giải chi tiết đều đã được nói trong bộ Thanh Tịnh Đạo. Giải thích bài Kinh thứ tám (được kết thúc).
9. Giải thích Kinh nói về Hành Vi
Navame lokaṃ pālentīti lokaṃ sandhārenti ṭhapenti rakkhanti. Nayidha paññāyetha mātāti imasmiṃ loke janikā mātā ‘‘ayaṃ me mātā’’ti garucittīkāravasena na paññāyetha. Sesapadesupi eseva nayo. Sambhedanti saṅkaraṃ mariyādabhedaṃ vā. Yathā ajeḷakātiādīsu ete hi sattā ‘‘ayaṃ me mātā’’ti vā ‘‘mātucchā’’ti vā garucittīkāravasena na jānanti. Yaṃ vatthuṃ nissāya uppannā, tattheva vippaṭipajjanti. Tasmā upamaṃ āharanto ‘‘yathā ajeḷakā’’tiādimāha. Navamaṃ.
Trong bài kinh thứ chín, hộ trì thế gian: Nâng đỡ thế gian là kiến lập, bảo vệ. Ở đây không được nhận biết là ‘Mẹ’: Người mẹ sinh thành ở đời này không được nhận biết do tác động sự cung kính và sự tôn trọng rằng: ‘Đây là mẹ của tôi.’ Cả những từ còn lại (như dì, mợ, vợ của thầy, vợ của các bậc đáng kính…), cũng có phương thức tương tự. Hỗn độn: Sự trộn lộn hoặc sự mất đi lằn ranh (luân thường đạo lý). Như là dê và cừu, v.v, bởi vì các chúng sanh ấy không nhận thức được do tác động sự cung kính và sự tôn trọng rằng: ‘Đây là mẹ của tôi,’ hoặc ‘chị của mẹ.’ Chúng đã sanh ra do nương vào đối tượng nào, chúng sẽ hành xử sai quấy ở ngay chính đối tượng đó. Vì thế, Đức Thế Tôn khi so sánh mới nói rằng: “Như là dê và cừu, v.v.” Giải thích bài Kinh thứ chín (được kết thúc).
10. Giải thích Kinh nói về việc vào mùa mưa (Nhập hạ)
Dasamaṃ aṭṭhuppattiyaṃ vuttaṃ. Kataraaṭṭhuppattiyaṃ? Manussānaṃ ujjhāyane. Bhagavatā hi paṭhamabodhiyaṃ vīsati vassāni vassūpanāyikā appaññattā ahosi. Bhikkhū anibaddhavāsā vassepi utuvassepi yathāsukhaṃ vicariṃsu. Te disvā manussā ‘‘kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā hemantampi gimhampi vassampi cārikaṃ carissanti haritāni tiṇāni sammaddantā ekindriyaṃ jīvaṃ viheṭhentā bahū khuddake pāṇe saṅghātaṃ āpādentā. Ime hi nāma aññatitthiyā durakkhātadhammā vassāvāsaṃ allīyissanti saṃkasāyissanti, ime nāma sakuṇā rukkhaggesu kulāvakāni katvā vassāvāsaṃ allīyissanti saṃkasāyissantī’’tiādīni vatvā ujjhāyiṃsu. Tamatthaṃ bhikkhū bhagavato ārocesuṃ. Bhagavā taṃ aṭṭhuppattiṃ katvā imaṃ suttaṃ desento paṭhamaṃ tāva ‘‘anujānāmi, bhikkhave, vassaṃ upagantu’’nti (mahāva. 184) ettakamevāha. Atha bhikkhūnaṃ ‘‘kadā nu kho vassaṃ upagantabba’’nti uppannaṃ vitakkaṃ sutvā ‘‘anujānāmi, bhikkhave, vassāne vassaṃ upagantu’’nti āha. Atha kho bhikkhūnaṃ etadahosi – ‘‘kati nu kho vassūpanāyikā’’ti. Bhagavato etamatthaṃ ārocesuṃ. Taṃ sutvā sakalampi idaṃ suttaṃ desento dvemā, bhikkhavetiādimāha. Tattha vassūpanāyikāti vassūpagamanāni. Purimikāti aparajjugatāya āsāḷhiyā upagantabbā purimakattikapuṇṇamipariyosānā paṭhamā temāsī. Pacchimikāti māsagatāya āsāḷhiyā upagantabbā pacchimakattikapariyosānā pacchimā temāsīti. Dasamaṃ.
Trong bài Kinh thứ mười, (bậc sáng trí) nên biết lý giải như sau– do có duyên sự khởi phát (mà) Đức Thế Tôn mới thuyết giảng bài Kinh này. Vậy điều gì là duyên sự khởi phát? Chính sự phàn nàn của dân chúng là duyên sự khởi phát. Thật vậy, 20 hạ-lạp vào giai đoạn đầu giác ngộ Đức Thế Tôn vẫn chưa quy định ngày vào mùa (an cư) mưa (Nhập hạ). Do đó, các vị Tỳ-khưu khi ấy chưa có sự ràng buộc nào về chuyện an cư, các vị ấy lại đi du hành một cách thoải mái trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa. Dân chúng nhìn thấy thế đã phàn nàn, nói rằng: “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi. Ngay cả các ngoại đạo này có giáo lý được thuyết tồi tệ vẫn bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa. Ngay cả những con chim này sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa.” Các vị Tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã lấy sự việc ấy làm duyên để thuyết giảng bài Kinh này. Trước tiên, Ngài chỉ nói có bấy nhiêu rằng: “Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vào mùa an cư mưa.” (mahāva. 184); Sau khi nghe các Tỳ-khưu đã khởi lên suy tầm rằng: “Khi nào thì nên vào mùa (an cư) mưa?” (Đức Thế Tôn) mới nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vào mùa an cư trong mùa mưa. Sau đó, các Tỳ-khưu đã khởi ý điều này: “Có bao nhiêu thời điểm vào mùa an cư?” Các vị đã trình bày sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn biết được điều đó, khi thuyết giảng toàn bộ bài Kinh này mới nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, đây là hai thời điểm vào mùa an cư, v.v.” Trong số các từ ngữ ấy, mùa an cư mưa: vào mùa an cư mưa. Thời điểm trước (tiền an cư): Khi đến ngày kế của (ngày trăng tròn) tháng Āsāḷha, nên vào mùa an cư ba tháng đầu có ngày trăng tròn tháng Kattikā trước là kết thúc. Thời điểm sau (hậu an cư) khi (ngày trăng tròn) tháng Āsāḷha đã trôi qua một tháng nên vào mùa an cư ba tháng sau có ngày trăng tròn thắng Kattikā sau là kết thúc.[2] Giải thích bài Kinh thứ mười (được kết thúc).
[1] 1 ratana = 3 mét
[2] Tính theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thời điểm trước (tiền an cư) là ngày 16 tháng 6, còn thời điểm sau hậu an cư là ngày 16 tháng 7.