16. GIẢI THÍCH CHƯƠNG MỘT PHÁP – Phẩm XVI-XIX

Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương 1 pháp – Phẩm 15-21

Ekadhammapāḷi

 

Giải thích Ekadhammapāḷi – Phẩm thứ nhất

296. Ekadhammapāḷiyaṃ ekadhammoti ekasabhāvo. Ekantanibbidāyāti ekantena vaṭṭe nibbindanatthāya ukkaṇṭhanatthāya. Virāgāyāti vaṭṭe virajjanatthāya, rāgādīnaṃ vā kilesānaṃ virajjanāya vigamāya. Nirodhāyāti rāgādīnaṃ nirodhāya appavattikaraṇatthāya, vaṭṭasseva vā nirujjhanatthāya. Upasamāyāti kilesavūpasamanatthāya, abhiññāyāti aniccādivasena lakkhaṇattayaṃ āropetvā abhijānanatthāya. Sambodhāyāti catunnaṃ saccānaṃ bujjhanatthāya, ‘‘bodhi vuccati catūsu maggesu ñāṇa’’nti (mahāni. 191; cūḷani. khaggavisāṇasuttaniddeso 121) evaṃ vuttassa vā catumaggañāṇassa paṭivijjhanatthāya. Nibbānāyāti appaccayanibbānassa sacchikaraṇatthāya.
Ekadhammapāḷi, một Pháp: trạng thái chỉ có một. Đưa đến sự nhàm chán toàn diện: Đưa đến sự nhàm chán, sự bất mãn trong vòng luân hồi một cách toàn diện. Đưa đến sự ly tham ái: đưa đến sự dứt bỏ (tham ái) trong vòng luân hồi; hoặc đưa đến sự dứt bỏ, sự biến mất của các phiền não có luyến ái, v.v. Đưa đến sự diệt tận: đưa đến sự diệt tận luyến ái, v.v, để làm cho (phiền não) không vận hành, hoặc nhằm mục đích phá tan vòng luân hồi. Đưa đến sự an tịnh: đưa đến sự an tịnh phiền não. Đưa đến thắng trí: Nhằm mục đích biết rõ sau khi đưa vào Tam Tướng do tác động của vô thường. Đưa đến sự giác ngộ hoàn toàn: Đưa đến sự giác ngộ bốn Chân Lý, hoặc đưa đến sự thấu triệt của trí trong bốn Đạo được Đức Thế Tôn thuyết như vầy– “Trí ở bốn Đạo Ta gọi là sự giác ngộ.” (mahāni. 191; cūḷani. khaggavisāṇasuttaniddeso 121); Đưa đến Niết Bàn: Đưa đến sự chứng ngộ Niết Bàn không còn duyên.

Iti bhagavā imehi sattahi padehi buddhānussatikammaṭṭhānassa vaṇṇaṃ kathesi. Kasmā? Mahājanassa ussāhajananatthaṃ visakaṇṭakavāṇijo viya attano paṇiyassa. Visakaṇṭakavāṇijo nāma guḷavāṇijo vuccati. So kira guḷaphāṇitakhaṇḍasakkarādīni sakaṭenādāya paccantagāmaṃ gantvā ‘‘visakaṇṭakaṃ gaṇhatha, visakaṇṭakaṃ gaṇhathā’’ti ugghosesi. Taṃ sutvā gāmikā ‘‘visaṃ nāma kakkhaḷaṃ ghoraṃ. Yo naṃ khādati, so marati. Kaṇṭakampi vijjhitvā māreti, ubhopete kakkhaḷā. Ko ettha ānisaṃso’’ti gehadvārāni thakesuṃ, dārake ca palāpesuṃ. Taṃ disvā vāṇijo ‘avohārakusalā ime gāmikā, handa ne upāyena gāhāpemī’’ti ‘‘atimadhuraṃ gaṇhatha, atisāduṃ gaṇhatha, guḷaṃ phāṇitaṃ sakkaraṃ samagghaṃ labbhati, kūṭamāsakakūṭakahāpaṇādīhi vāpi labbhatī’’ti ugghosesi. Taṃ sutvā gāmikā tuṭṭhapahaṭṭhā vaggavaggā gantvā bahumpi mūlaṃ datvā aggahesuṃ.

Tại sao? Đức Thế Tôn nói lời ca ngợi ‘đề mục hành thiền tùy niệm Phật’ với bảy cụm từ này. Bởi vì, Ngài là bậc trí giả, nói lời ca ngợi nhằm mục đích khơi dậy sự nỗ lực cho đại chúng, giống như người bán thuốc độc và gai đối với hàng hóa của bản thân. Thông thường, người bán thuốc độc và gai (có độc) còn được gọi là người bán đường mật mía. Kể rằng, người lái buôn ấy chất đầy hàng hóa có đường viên, mật mía và đường phèn bằng cỗ xe bò, sau khi đã đi đến các ngôi làng ở vùng biên địa rồi rao rằng: “Hãy đến nhận lấy thuốc độc và gai! Hãy đến nhận lấy thuốc độc và gai!” Khi nghe những lời đó, dân làng nghĩ rằng: “Cái gọi là thuốc độc dạng viên có độc tính rất mạnh, người nào nhai nuốt viên thuốc độc đó, người ấy sẽ chết. Ngay cả gai (có độc) đâm vào cũng sẽ chết. Cả hai loại đó đều là những vật cứng dạng viên. Vậy ở đây, chúng có lợi ích gì?” Rồi cho đóng chặt cửa nhà và bảo lũ trẻ chạy trốn. Khi nhìn thấy sự tình như vậy, người lái buôn nghĩ rằng: “Dân làng ở đây không thông thạo về sự diễn đạt. Thôi được, ta sẽ sử dụng mẹo để khiến họ mua hàng.” Thế rồi, ông ta cất tiếng rao rằng: “Hãy đến mua món hàng rất ngon! Hãy đến mua món hàng rất tốt!” Mọi người sẽ mua được đường viên, mật mía và đường phèn có giá cả hợp lý, hoặc mọi người cũng có thể mua hàng hóa bằng những đồng Māsaka cũ hay Kahāpaṇa cũ. Dân làng đều vui mừng phấn khởi, sau khi nghe những lời đó, đã đi thành từng nhóm, rồi chi trả nhiều tiền để mua hàng hóa.

Tattha visakaṇṭakavāṇijassa ‘‘visakaṇṭakaṃ gaṇhathā’’ti ugghosanaṃ viya bhagavato buddhānussatikammaṭṭhānakathanaṃ, visakaṇṭake vaṇṇaṃ kathetvā tassa gahaṇatthāya mahājanassa ussāhakaraṇaṃ viya imehi sattahi padehi buddhānussatikammaṭṭhānassa vaṇṇabhaṇanena tassa mahājanassa ussāhakaraṇaṃ.

Ở đây, Đức Thế Tôn thuyết giảng đề mục hành thiền tùy niệm Phật giống như người lái buôn bán thuốc độc và gai rao rằng: “Hãy mua thuốc độc và gai.” Việc khơi dậy sự nỗ lực trong đề hành thiền ấy bằng việc nói lời ca ngợi (ân đức) của đề mục hành thiền tùy niệm Phật ấy với bảy cụm từ này, cũng giống như người lái buôn đã ca ngợi chất lượng ở ‘thuốc độc và gai’ để khởi dậy sự nỗ lực của đám đông người nhằm mục đích mua lấy hàng hóa ấy.

Katamo ekadhammoti kathetukamyatāpucchā. Buddhānussatīti buddhaṃ ārabbha uppannā anussati, buddhaguṇārammaṇāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. Taṃ panetaṃ buddhānussatikammaṭṭhānaṃ duvidhaṃ hoti cittasampahaṃsanatthañceva vipassanatthañca. Kathaṃ?

Thế nào là một Pháp: Là câu hỏi tự hỏi tự trả lời. Tùy niệm Phật: sự tùy niệm khởi lên bắt đầu bằng ân đức Phật, điều này được gọi là niệm có đối tượng là ân đức Phật. Hơn nữa, đề mục hành thiền tùy niệm Phật ấy có hai (lợi ích) là— lợi ích làm cho tâm được hân hoan, và lợi ích cho việc tu tập Minh sát. Tại sao?

Yadā hi asubhārammaṇesu aññataraṃ bhāventassa bhikkhuno cittuppādo upahaññati ukkaṇṭhati nirassādo hoti, vīthiṃ nappaṭipajjati, kūṭagoṇo viya ito cito ca vidhāvati.

Thật vậy, ở sát-na nào một vị Tỳ-khưu đang tu tập về các đối tượng ‘Bất Tịnh’, tâm sanh khởi bị tổn hại, bất mãn, không hoan hỷ, không đi theo lộ trình, mà chạy khắp (tán loạn) chỗ này chỗ nọ, giống như không được thuần hóa.

Tasmiṃ khaṇe esa mūlakammaṭṭhānaṃ pahāya ‘‘itipi so bhagavā’’tiādinā nayena tathāgatassa lokiyalokuttaraguṇe anussarati.

Ở sát-na đó, tâm ấy dứt bỏ đề mục hành thiền ban đầu, rồi tùy niệm về các ân đức thuộc Hiệp Thế và Siêu Thế của Đức Như Lai theo cách thức sau: “Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, v.v.”

Tassevaṃ buddhaṃ anussarantassa cittuppādo pasīdati, vinīvaraṇo hoti. So taṃ cittaṃ evaṃ dametvā puna mūlakammaṭṭhānaṃyeva manasi karoti.

Khi vị ấy tùy niệm về ân đức Phật, tâm sanh khởi trở nên trong sáng, thoát khỏi các pháp ngăn che. Sau khi đã điều phục tâm ấy như thế, vị ấy mới tác ý vào chính đề mục hành thiền ban đầu lần nữa.

Kathaṃ? Yathā nāma balavā puriso kūṭāgārakaṇṇikatthāya mahārukkhaṃ chindanto sākhāpalāsacchedanamatteneva pharasudhārāya vipannāya mahārukkhaṃ chindituṃ asakkontopi dhuranikkhepaṃ akatvāva kammārasālaṃ gantvā tikhiṇaṃ pharasuṃ kārāpetvā puna taṃ chindeyya. Evaṃsampadamidaṃ daṭṭhabbaṃ. So evaṃ buddhānussativasena cittaṃ paridametvā puna mūlakammaṭṭhānaṃ manasikaronto asubhārammaṇaṃ paṭhamajjhānaṃ nibbattetvā jhānaṅgāni sammasitvā ariyabhūmiṃ okkamati. Evaṃ tāva cittasampahaṃsanatthaṃ hoti.

Tác ý đề mục hành thiền ban đầu như thế nào? Việc tác ý lại đề mục hành thiền ban đầu giống như một người đàn ông đang chặt đốn một cây cổ thụ nhằm mục đích làm chóp nóc của ngôi nhà mái nhọn, khi lưỡi rìu bị mẻ do vừa mới chặt cành và lá, dù chưa thể đốn ngã cây cổ thụ (nhưng) người ấy cũng không từ bỏ công việc, mà đi đến lò rèn để mài (lưỡi) rìu cho sắc bén rồi (trở lại) mới có thể đốn cây cổ thụ lần nữa thế nào. Cần được hiểu phép so sánh này tương tự như vậy. Cũng thế, vị Tỳ-khưu sau khi thuần hóa toàn diện tâm do mãnh lực tùy niệm Phật như vậy rồi, lại tác ý đến đề mục thiền ban đầu, làm cho sơ thiền có bất tịnh làm đối tượng sanh khởi, sau khi suy xét kỹ lưỡng các chi thiền, (vị ấy) nhập vào địa phận của các bậc Thánh nhân. Trước tiên, đề mục hành thiền tùy niệm Phật có lợi ích trong việc làm cho tâm phấn chấn như vậy.

Yadā panesa buddhānussatiṃ anussaritvā ‘‘ko ayaṃ itipi so bhagavātiādinā nayena anussari, itthi nu kho puriso nu kho devamanussamārabrahmānaṃ aññataro nu kho’’ti pariggaṇhanto ‘‘na añño koci, satisampayuttaṃ pana cittameva anussarī’’ti disvā ‘‘taṃ kho panetaṃ cittaṃ khandhato viññāṇakkhandho hoti, tena sampayuttā vedanā vedanākkhandho, tena sampayuttā saññā saññākkhandho, sahajātā phassādayo saṅkhārakkhandhoti ime cattāro arūpakkhandhā hontī’’ti arūpañca vavatthapetvā

Hơn nữa, vào thời gian nào vị Tỳ-khưu sau khi tưởng nhớ về tùy niệm Phật, trong khi xác định rằng– “Nhớ lại theo phương thức sau: ‘Hạng người này là ai? Hạng người ấy là Đức Thế Tôn, v.v. Phải chăng vị ấy là nữ nhân hay nam nhân, là chư Thiên, loài người, Ma vương hay Phạm Thiên nào đó? Sau khi nhận thấy rằng: “Không có ai khác, mà tâm chỉ tương ưng với niệm tưởng nhớ lại được.” Và khi xác định về Vô sắc rằng: “Vô sắc uẩn có bốn loại này là tâm này đây xét về uẩn là ‘thức uẩn’, thọ tương ưng với tâm ấy là ‘thọ uẩn’, tưởng tương ưng với tâm là ‘tưởng uẩn’, pháp có xúc, v.v, đồng sanh là ‘hành uẩn’; bốn uẩn này là bốn Vô sắc uẩn (tức bốn Danh uẩn).’”

Tassa nissayaṃ pariyesanto hadayavatthuṃ disvā tassa nissayāni cattāri mahābhūtāni, tāni upādāya pavattāni sesaupādārūpāni ca pariggahetvā ‘‘sabbampetaṃ rūpaṃ rūpakkhandho’’ti vavatthapetvā ‘‘idañca rūpaṃ purimañca arūpa’’nti saṅkhepato rūpārūpaṃ, pabhedato pañcakkhandhe puna ‘‘saṅkhepato pañcapete khandhā dukkhasacca’’nti dukkhasaccaṃ vavatthapetvā ‘‘tassa pabhāvikā taṇhā samudayasaccaṃ, tassā nirodho nirodhasaccaṃ, nirodhapajānanā paṭipadā maggasacca’’nti evaṃ pubbabhāge cattāri ca saccāni vavatthapetvā paṭipāṭiyā ariyabhūmiṃ okkamati. Tadāssa imaṃ kammaṭṭhānaṃ vipassanatthaṃ nāma hoti. Ayaṃ khotiādi appanāvāro vuttanayeneva veditabbo.

Trong khi tầm cầu nơi nương tựa của Vô sắc đó đã gặp Sắc ý vật, ‘bốn sắc đại hiển’ là nơi nương tựa của sắc ý vật, các ‘sắc y sinh’ còn lại (24 sắc còn lại) vận hành do ý cứ ‘bốn sắc đại hiển’ đó. Sau khi nắm bắt, đã xác định rằng: “Tất cả các sắc này là sắc uẩn.” Vị ấy đã xác định Sắc (Sắc uẩn) và Vô sắc (Danh uẩn) theo cách tóm tắt rằng: “Đây là Sắc, còn cái trước là Vô sắc.” Hơn nữa, sau khi đã xác định là ‘Khổ đế’ trong năm uẩn được chia chẻ ra nữa rằng: “Nói gọn lại cả năm uẩn này là Khổ đế.” Ở phần trước, sau khi đã xác định bốn ‘đế’ như vầy rằng: “Tham ái là nguồn sanh khởi của ‘Khổ đế’ gọi là ‘Tập đế’”. Sự diệt tận của ‘Khổ’ ấy là ‘Diệt đế’. Lối thực hành nhận biết về sự diệt tận là Đạo đế’”. Rồi nhập vào địa phận của các bậc Thánh nhân theo tuần tự. Vào thời gian ấy, đề mục hành thiền này, tất cả gọi là lợi ích của Minh sát. Quả thật điều này, v.v, nên biết rằng giai đoạn của ‘an chỉ định’ theo phương cách đã được trình bày.

297. Dhammānussatiādīsupi eseva nayo. Ayaṃ panettha vacanattho – dhammaṃ ārabbha uppannā anussati dhammānussati, svākkhātatādidhammaguṇārammaṇāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. Saṅghaṃ ārabbha uppannā anussati saṅghānussati, suppaṭipannatādisaṅghaguṇārammaṇāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. Sīlaṃ ārabbha uppannā anussati sīlānussati, akhaṇḍatādisīlaguṇārammaṇāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. Cāgaṃ ārabbha uppannā anussati cāgānussati, muttacāgatādicāgaguṇārammaṇāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. Devatā ārabbha uppannā anussati devatānussati, devatā sakkhiṭṭhāne ṭhapetvā attano saddhādiguṇārammaṇāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. Ānāpāne ārabbha uppannā sati ānāpānassati, assāsapassāsanimittārammaṇāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. Maraṇaṃ ārabbha uppannā sati maraṇassati, jīvitindriyupacchedārammaṇāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. Kesādibhedaṃ rūpakāyaṃ gatā, kāye vā gatāti kāyagatā, kāyagatā ca sā sati cāti kāyagatāsatīti vattabbe rassaṃ akatvā kāyagatāsatīti vuttā. Kesādikāyakoṭṭhāsanimittārammaṇāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. Upasamaṃ ārabbha uppannā anussati upasamānussati, sabbadukkhūpasamārammaṇāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. Duvidho vā upasamo accantūpasamo ca khayūpasamo ca. Tattha accantūpasamo nāma nibbānaṃ, khayūpasamo nāma maggo. Evametaṃ duvidhampi upasamaṃ anussarantassa uppannā sati upasamānussatīti ayamettha attho. Iti imesu dasasu kammaṭṭhānesu ānāpānassati maraṇassati kāyagatāsatīti imāni tīṇi vipassanatthāneva honti, sesāni satta cittasampahaṃsanatthānipi hontīti.

Luôn cả ‘tùy niệm Pháp’ v.v, cũng có phương thức này. Hơn nữa, ở đây ý nghĩa của lời nói này (như sau) – sự tùy niệm được khởi lên liên quan đến Pháp gọi là ‘tùy niệm Pháp’, đây là tên gọi của niệm có ân đức Pháp về tính chất đã khéo được thuyết giảng, v.v, làm đối tượng. Sự tùy niệm được khởi lên liên quan đến Tăng gọi là ‘tùy niệm Tăng’, đây là tên gọi của niệm có ân đức Tăng về tính chất đã khéo được huấn luyện, v.v, làm đối tượng. Sự tùy niệm được khởi lên liên quan đến giới gọi là ‘tùy niệm Giới’, đây là tên gọi của niệm có đức tính của Giới về tính chất không bị đứt, v.v, làm đối tượng. Sự tùy niệm được khởi lên liên quan đến sự xả bỏ gọi là ‘tùy niệm đến (đức tính của) sự xả bỏ’, đây là tên gọi của niệm có đức tính của sự xả bỏ về tính chất buông xả, v.v. làm đối tượng. Sự tùy niệm được khởi lên liên quan đến (đức tính của) chư Thiên gọi là ‘tùy niệm đến (đức tính của) chư Thiên’, đây là tên gọi của niệm có đức tính là đức tin của bản thân, v.v, làm đối tượng, bằng việc đặt chư Thiên vào vị trí người chứng kiến. Niệm được khởi lên liên quan đến hơi thở vào – hơi thở ra gọi là ‘tùy niệm hơi thở vào – hơi thở ra’, đây là tên gọi của niệm có hơi thở vào và hơi thở ra là hiện tướng làm đối tượng. Niệm được khởi lên liên quan đến sự chết gọi là ‘tùy niệm về sự chết’, đây là tên gọi của niệm có sự cắt đứt mạng quyền làm đối tượng. Đáng lẽ phải nói rằng niệm hướng đến sắc thân được chia chẻ thành tóc, lông, v.v, hoặc đặt ở thân gọi là hướng đến thân, vừa là hướng đến thân và vừa là niệm nên được gọi là niệm đặt ở thân, nhưng không được rút gọn âm nên mới nói rằng ‘niệm đặt ở thân’. Đây là tên gọi của niệm có các phần của thân như tóc v.v, là hiện tướng làm đối tượng. Tùy niệm được khởi lên liên quan đến sự an tịnh gọi là tùy niệm về sự an tịnh, đây là tên gọi của niệm có sự an tịnh tất cả khổ làm đối tượng. Mặt khác, sự an tịnh có 2 loại là sự an tịnh tuyệt đối và sự an tịnh do cạn kiệt phiền não. Trong hai sự an tịnh ấy, Niết Bàn được là sự an tịnh tuyệt đối; Đạo là sự an tịnh do sự cạn kiệt phiền não. Ý nghĩa trong trường hợp này là: niệm được khởi lên nơi người tưởng nhớ đến sự an tịnh cả hai điều này như vậy được gọi là niệm về sự an tịnh. Trong mười đề mục hành thiền này, ba đề mục hành thiền này là (1) tùy niệm hơi thở vào – hơi thở ra, (2) tùy niệm về sự chết, (3) tùy niệm về sự chết là lợi ích cho Minh sát; bảy đề mục hành thiền còn lại là lợi ích làm cho tâm được phấn chấn, và là lợi ích cho Minh sát, là như thế.

Giải thích Phẩm thứ nhất được kết thúc

Giải thích Phẩm thứ hai

298. Dutiye micchādiṭṭhīti dvāsaṭṭhividhāyapi micchādiṭṭhiyā etaṃ adhivacanaṃ. Micchādiṭṭhikassāti tāya diṭṭhiyā samannāgatassa.

Trong phẩm thứ hai, tà kiến: đây là tên gọi của sáu mươi hai loại tà kiến. Đối với kẻ có tà kiến: Đối với kẻ có đầy đủ bởi tà kiến.

299. Sammādiṭṭhīti pañcavidhāyapi sammādiṭṭhiyā etaṃ adhivacanaṃ. Sammādiṭṭhikassāti tāya diṭṭhiyā samannāgatassa.

Chánh kiến: Đây là tên gọi của năm loại chánh kiến. Đối với hạng người có chánh kiến: Đối với hạng người có đầy đủ bởi chánh kiến.

302. Ayoniso manasikāroti anupāyamanasikāro.

Không tác ý đúng đường lối: tác ý không đúng phương pháp.

303. Yonisomanasikāroti upāyamanasikāro. Tattha ayoniso manasikaroto pubbe anuppannā micchādiṭṭhi uppajjati, uppannā pana yāva niyāmokkamanā pavaḍḍhati. Niyāme okkante vaḍḍhitā nāma hoti. Yoniso manasikaroto pubbe anuppannā sammādiṭṭhi uppajjati, uppannā pana yāva arahattamaggā pavaḍḍhati. Arahattaphale patte vaḍḍhitā nāma hoti.

Tác ý đúng đường lối: tác ý đúng phương pháp. Ở đây, trong khi tác ý không đúng đường lối, tà kiến chưa từng sanh khởi sẽ sanh khởi; còn tà kiến đã sanh khởi sẽ tăng trưởng cho đến khi rơi vào tà kiến cố định. Khi rơi vào cố định thì tà kiến gọi là đã tăng trưởng. Ngược lại, trong khi tác ý đúng đường lối, chánh kiến chưa từng sanh khởi sẽ sanh khởi. Còn chánh kiến đã sanh khởi sẽ tăng trưởng cho đến khi bước vào Thánh đạo A-la-hán. Khi đã đạt đến quả vị A-la-hán, chánh kiến được gọi là đã tăng trưởng.

304. Micchādiṭṭhiyā, bhikkhave, samannāgatā sattāti ettha ekaccā micchādiṭṭhi saggāvaraṇā ceva hoti maggāvaraṇā ca, ekaccā maggāvaraṇāva, na saggāvaraṇā, ekaccā neva saggāvaraṇā na maggāvaraṇā. Tattha ahetukadiṭṭhi, akiriyadiṭṭhi, natthikadiṭṭhīti ayaṃ tividhā saggāvaraṇā ceva hoti maggāvaraṇā ca. Dasavatthukā antaggāhikā micchādiṭṭhi maggāvaraṇāva hoti na saggāvaraṇā. Vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi neva saggāvaraṇā na maggāvaraṇā. Idaṃ pana vidhānaṃ paṭikkhipitvā imasmiṃ sutte ‘‘micchādiṭṭhiyā, bhikkhave, samannāgatā’’ti vacanato antamaso vīsativatthukaṃ sakkāyadiṭṭhiṃ upādāya diṭṭhi nāma saggaṃ upanetuṃ samatthā nāma natthi, ekantaṃ nirayasmiṃyeva nimujjāpetīti vuttaṃ. Yathā hi muggamāsappamāṇāpi pāsāṇasakkharā udake pakkhittā uppilavamānā nāma natthi, ekantaṃ heṭṭhāva pavisati, evamevaṃ antamaso sakkāyadiṭṭhipi saggaṃ upanetuṃ samatthā nāma natthi, ekantaṃ apāyesuyeva nimujjāpetīti.

Các chúng sanh có đầy đủ tà kiến, này các Tỳ-khưu: Ở đây, một số tà kiến cản trở cõi Trời và cản trở Thánh đạo. Một số (tà kiến) chỉ cản trở Đạo, không cản trở cõi Trời. Một số (tà kiến) không cản trở cõi Trời, cũng không cản trở Đạo. Ơ đây, vô nhân kiến, vô hành kiến, vô hữu kiến; cả ba loại tà kiến này đều cản trở cõi Trời và cản trở Đạo. Tà kiến hữu biên kiến có 10 nền tảng cản trở Đạo, nhưng cản trở cõi Trời. Thân kiến có 20 nền tảng không cản trở cõi Trời, không cản trở Đạo. Nhưng sau khi bác bỏ cách trình bày này, dựa vào lời dạy trong bài Kinh rằng: “Này các Tỳ-khưu, chúng sanh có đầy đủ tà kiến,” mới nói rằng– Thông thường, ngay cả tà kiến liên quan đến thân kiến có 20 đối tượng là không thể dẫn đến cõi Trời; chắc chắn chỉ làm cho (chúng sanh) chìm vào địa ngục. Cũng giống như một hòn đá dù chỉ nhỏ bằng hạt đậu xanh hay đậu nành được người ta ném xuống nước thì không thể nổi lên trên, mà chắc chắn nó sẽ chìm xuống dưới. Cũng vậy, ngay cả Thân kiến cũng gọi là không có khả năng đưa đến cõi Trời, mà chắc chắn chỉ làm cho chúng sanh chìm vào các khổ cảnh mà thôi.”

Sammādiṭṭhiyā samannāgatāti ettha kammassakatasammādiṭṭhi, jhānasammādiṭṭhi, vipassanāsammādiṭṭhi, maggasammādiṭṭhi, phalasammādiṭṭhīti pañcavidhā sammādiṭṭhi. Tattha kammassakatasammādiṭṭhi sampattibhavaṃ ākaḍḍhati, jhānasammādiṭṭhi rūpārūpabhave paṭisandhiṃ deti, maggasammādiṭṭhi vaṭṭaṃ viddhaṃseti, phalasammādiṭṭhi bhavaṃ paṭibāhati. Vipassanāsammādiṭṭhi kiṃ karotīti? Sāpi paṭisandhiṃ nākaḍḍhati. Tipiṭakacūḷābhayatthero panāha ‘‘sace vipassanāsammādiṭṭhi bhāvitā diṭṭheva dhamme arahattaṃ pāpetuṃ sakkoti, iccetaṃ kusalaṃ. Sace na sakkoti, satta bhave deti, āvuso’’ti. Evamayaṃ lokiyalokuttarā sammādiṭṭhi kathitā. Imasmiṃ panatthe lokikā bhavanipphādikāva veditabbā.

Hạng người có đầy đủ chánh kiến: Ở đây, có năm loại chánh kiến là chánh kiến về nghiệp của mình đã tạo, chánh kiến về thiền định, chánh kiến về Minh sát, chánh kiến về Đạo, chánh kiến về Quả. Trong năm loại chánh kiến ấy, chánh kiến về nghiệp của mình kéo đến thế giới có sự thuận lợi. Chánh kiến về thiền định ban sự tái sanh ở cõi Sắc và Vô sắc. Chánh kiến về Đạo phá tan vòng luân hồi. Chánh kiến về Quả tránh khỏi các hữu. Chánh kiến về Minh sát làm gì? Chánh kiến về Minh sát không kéo đến sự tái sinh. Tuy nhiên, Trưởng lão Tipiṭaka Cūḷābhaya nói rằng: “Này các hiền giả, nếu chánh kiến về Minh sát được tu tập, có thể chứng đắc quả vị A-la-hán ngay trong hiện tại, thì việc đó là tốt đẹp; nếu không thể, thì vẫn cho sự tái sanh trong vòng bảy kiếp nữa (ám chỉ quả vị Dự lưu).” Ngài giảng về chánh kiến thuộc Hiệp thế và Siêu thế như vậy. Hơn nữa, trong ý nghĩa như đã đề cập này, nên biết rằng: Chánh tri kiến thuộc Hiệp thế – chỉ cho sự thành tựu ở các hữu.

306. Yañceva kāyakammaṃ yathādiṭṭhi samattaṃ samādinnanti ettha yathādiṭṭhīti yā yā diṭṭhi, tassā tassā anurūpaṃ. Samattanti paripuṇṇaṃ. Samādinnanti gahitaṃ. Tadetaṃ yathādiṭṭhiyaṃ ṭhitakāyakammaṃ, diṭṭhisahajātaṃ kāyakammaṃ, diṭṭhānulomikaṃ kāyakammanti tividhaṃ hoti. Tattha ‘‘pāṇaṃ hanato adinnaṃ ādiyato micchācāraṃ carato natthi tatonidānaṃ pāpaṃ, natthi pāpassa āgamo’’ti yaṃ evaṃladdhikassa sato pāṇātipāta-adinnādāna-micchācārasaṅkhātaṃ kāyakammaṃ, idaṃ yathādiṭṭhiyaṃ ṭhitakāyakammaṃ nāma. ‘‘Pāṇaṃ hanato adinnaṃ ādiyato micchācāraṃ carato natthi tatonidānaṃ pāpaṃ, natthi pāpassa āgamo’’ti imāya pana laddhiyā iminā dassanena sahajātaṃ kāyakammaṃ diṭṭhisahajātaṃ kāyakammaṃ nāma. Tadeva pana samattaṃ samādinnaṃ gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ diṭṭhānulomikaṃ kāyakammaṃ nāma. Vacīkammādīsupi eseva nayo. Yathā panettha ‘‘pāṇaṃ hanato adinnaṃ ādiyato micchācāraṃ carato natthi tatonidānaṃ pāpa’’nti yojanā katā, evaṃ vacīkammamanokammesu ‘‘musā bhaṇato, pisuṇaṃ kathentassa, pharusaṃ kathentassa, samphaṃ palapantassa, abhijjhāluno, byāpannacittassa, micchādiṭṭhikassa ca sato natthi tatonidānaṃ pāpa’’nti yojanā kātabbā.

Thân nghiệp nào thọ trì toàn diện bởi tà kiến như thế ấy: Ở đây, bởi kiến như thế: tà kiến nào, phù hợp với tà kiến ấy. Toàn diện: tròn đủ. Bị tác động: được thọ lãnh. Thân nghiệp ấy có ba là thân nghiệp được thiết lập theo tà kiến, thân nghiệp đồng sanh với tà kiến, thân nghiệp thuận theo tà kiến. Trong số ba thân nghiệp ấy, thân nghiệp được xem là sát sanh– trộm cắp và tà hạnh của hạng người có học thuyết như vầy “Khi một người sát hại sinh mạng, người lấy vật không được cho, tà hạnh trong các dục sai trái, thì cũng không có tội ác do điều ấy, không có việc tạo ra tội ác”. Đây gọi là thân nghiệp được thiết lập theo tà kiến. Thân nghiệp đồng sanh với sự thấy này của học thuyết này rằng: “Khi một người sát hại sinh mạng, người lấy vật không được cho, tà hạnh trong các dục sai trái, thì cũng không có tội ác do điều ấy, không có việc tạo ra tội ác.” Ngoài ra, chính thân nghiệp ấy, được một người thọ trì, được nắm lấy, được bám víu toàn diện gọi là thân nghiệp thuận theo tà kiến. Luôn cả khẩu nghiệp cũng có phương thực tương tự. Hơn nữa, ở khẩu nghiệp này nên kết hợp ý nghĩa rằng: ““Khi một người sát hại sinh mạng, người lấy vật không được cho, tà hạnh trong các dục sai trái, thì cũng không có tội ác do điều ấy,” thế nào. Ở khẩu nghiệp và ý nghiệp cũng tương tự như thế ấy, nên kết hợp ý nghĩa rằng: “Người nói lời dối trá, nói lời đâm thọc, nói lời thô lỗ, nói lời nhảm nhí, khi người có tham đắm, có tâm thù oán, và có tà kiến thì cũng không có tội ác do điều ấy.”

Yā ca cetanātiādīsu diṭṭhisahajātāva cetanā cetanā nāma, diṭṭhisahajātāva patthanā patthanā nāma, cetanāpatthanānaṃ vasena cittaṭṭhapanā paṇidhi nāma, tehi pana cetanādīhi sampayuttā phassādayo saṅkhārā nāma. Diṭṭhi hissa, bhikkhave, pāpikāti yasmā tassa puggalassa diṭṭhi pāpikā lāmikā. Nikkhittanti ropitaṃ. Upādiyatīti gaṇhāti. Kaṭukattāyāti idaṃ purimasseva vevacanaṃ.

‘‘Vaṇṇagandharasūpeto, amboyaṃ ahuvā pure;
Tameva pūjaṃ labhamāno, kenambo kaṭukapphalo.

‘‘Pucimandaparivāro, ambo te dadhivāhana;
Mūlaṃ mūlena saṃsaṭṭhaṃ, sākhā sākhā nisevare;
Asātasannivāsena, tenambo kaṭukapphalo’’ti. (jā. 1.2.71-72) –

Āgataṭṭhāne viya hi idhāpi kaṭukanti tittakaṃ veditabbaṃ. Asātattāyāti amadhurattāya.

Ý định nào, v.v, sự cố ý đồng sanh với tà kiến gọi là ý định. Ước muốn đồng sanh với kiến gọi là ước muốn. Nguyện vọng đồng sanh với kiến gọi là nguyện vọng. Việc sắp đặt tâm do tác động của sự cố ý và sự ước muốn gọi là nguyện vọng. Còn Pháp có xúc, v.v, tương ưng với sự cố ý, v.v, ấy gọi là ‘các hành’. Này các Tỳ-khưu, bởi vì kiến của người này là ác: Bởi vì kiến của hạng người ấy là ác, là thấp hèn. Được đặt xuống: được gieo xuống. Đã được tiếp thâu: đã được giữ lấy. Tính chất cay/tính chất đắng: đây là từ đồng nghĩa với từ thứ nhất.

Trong trường hợp này, ‘tính chất đắng’ cũng nên được biết là tính chất cay tương tự như trong nguồn trích dẫn rằng—

“Cây xoài này trước đây đã có được sắc, hương, và vị. Trong khi đạt được chính sự chăm sóc ấy, vì điều gì khiến cây xoài có trái đắng?”

“Tâu Dadhivāhana, cây xoài của bệ hạ bị bao trùm bởi giống cây pucimanda, rễ bị xen lẫn với rễ, cành với cành đan vào nhau. Do việc cư ngụ chung với kẻ xấu, vì điều ấy khiến cây xoài có trái đắng.”

Không hài lòng: Do không có vị dịu ngọt.

Imasmi pana bījūpamasutte ‘‘diṭṭhīti niyatamicchādiṭṭhi gahitā’’ti porāṇakattherā āhaṃsu. Taṃ pana paṭikkhipitvā ‘‘sabbānipi dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni gahitānī’’ti vuttaṃ. Anantarasutte ‘‘pāṇātipātā viramantassa, adinnādānā viramantassa, micchācārā viramantassa natthi tatonidānaṃ puñña’’ntiādinā nayena yathādiṭṭhiyaṃ ṭhitakāyakammādīni yojetvā veditabbāni. Idha pana sammādiṭṭhisahajātā cittaṭṭhapanāva patthanāti veditabbā. Sammādiṭṭhi panettha lokiyalokuttarā kathitā. Sesaṃ sabbattha uttānatthamevāti.

Hơn nữa, trong kinh Bījūpama này, các bậc Trưởng lão thời xưa đã nói rằng: “Tà kiến cố định được Ngài nắm lấy với từ ‘kiến’”. Tuy nhiên, quan điểm đó Ngài đã bác bỏ rồi nói rằng: “Bao hàm tất cả 62 loại tà kiến.” Trong các bài Kinh tiếp theo, nên kết hợp ý nghĩa để hiểu rằng– thân nghiệp, v.v, được thiết lập bởi tà kiến như thế ấy theo cách thứ sau: “Khi một người tránh xa sự sát sinh, tránh xa việc lấy vật không được cho, tránh xa việc tà hạnh trong các dục, thì phước báu phát sinh từ sự tiết chế đó không phải thì cũng không có phước báu do điều ấy, v.v.” Hơn nữa, ở đây nên biết chỉ có sự thiết lập tâm đồng sanh với chánh kiến mới được gọi là ‘sự ước muốn’. Hơn nữa, trong trường hợp này, Ngài nói đến chánh kiến thuộc Hiệp thế và Siêu thế. Tất cả những từ ở đoạn còn lại đều đơn giản.

Giải thích Phẩm thứ hai – được kết thúc

Giải thích Phẩm thứ ba

308. Tatiyassa paṭhame micchādiṭṭhikoti ayāthāvadiṭṭhiko. Viparītadassanoti tāyeva micchādiṭṭhiyā viparītadassano. Saddhammā vuṭṭhāpetvāti dasakusalakammapathadhammato vuṭṭhāpetvā. Asaddhammepatiṭṭhāpetīti dasaakusalakammapathasaṅkhāte asaddhamme patiṭṭhāpeti. Ekapuggaloti cettha chahi satthārehi saddhiṃ devadatto ca aññe ca evarūpā veditabbā.

Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm thứ ba, người có tà kiến: hạng người không thấy theo sự thật. Người có sự thấy bị sai lệch: Là người có sự thấy bị sai lệch bởi chính tà kiến đó. Xa lìa Diệu Pháp: Khiến cho (chúng sanh) lìa xa Chánh Pháp là mười đường lối tạo nghiệp thiện (Thập thiện nghiệp đạo). An trú trong Phi Diệu Pháp: Khiến cho (chúng sanh) thiết lập trong Phi Diệu Pháp được xem là mười đường lối tạo nghiệp bất thiện (Thập bất thiện nghiệp đạo). Một người: Và trong ngữ cảnh này, nên biết rằng– là Devadatta cùng với nhóm Lục sư và những người khác có hình thức như vậy.

309. Dutiye sammādiṭṭhikoti yāthāvadiṭṭhiko. Aviparītadassanoti tāyeva sammādiṭṭhiyā aviparītadassano. Asaddhammāti dasaakusalakammapathato. Saddhammeti dasakusalakammapathasaṅkhāte saddhamme. Ekapuggaloti cettha anuppanne buddhe cakkavattī rājā sabbaññubodhisattoti evamādayo labbhanti, uppanne buddhe buddho ceva buddhasāvakā ca.

Trong bài Kinh thứ hai, người có chánh kiến: Là người thấy theo sự thật. Người có sự thấy không bị sai lệch: Là người có sự thấy không bị sai lệch bởi chính chánh kiến đó. Phi Diệu Pháp: Từ mười đường lối tạo nghiệp bất thiện. Diệu Pháp: Diệu pháp được xem là mười đường lối tạo nghiệp thiện. Và ở đây, một người: Khi Đức Phật chưa hiện khởi thì sẽ có được hạng người như vầy là Đức Chuyển Luân Vương hoặc Bồ-tát Toàn Giác; và khi Đức Phật đã hiện khởi thì hạng người ấy là Đức Phật và các vị đệ tử của đức Phật.

310. Tatiye micchādiṭṭhiparamānīti micchādiṭṭhi paramā etesanti micchādiṭṭhiparamāni. Pañca hi ānantariyakammāni mahāsāvajjāni nāma, tehipi micchādiṭṭhiyeva mahāsāvajjatarāti adhippāyo. Kasmā? Tesañhi paricchedo atthi. Cattāri hi ānantariyakammāni niraye nibbattāpentīti vuttāni. Saṅghabhedakammampi niraye kappaṭṭhitikameva hoti. Evametesaṃ paricchedo atthi, koṭi paññāyati. Niyatamicchādiṭṭhiyā pana paricchedo natthi. Sā hi vaṭṭassa mūlaṃ, tāya samannāgatassa bhavato vuṭṭhānaṃ natthi. Ye tassa sotabbaṃ maññanti, tepi vippaṭipādeti. Tāya ca samannāgatassa neva saggo atthi na maggo. Kappavināse mahājane brahmaloke nibbattepi niyatamicchādiṭṭhiko tattha anibbattitvā piṭṭhicakkavāḷe nibbattati. Kiṃ pana piṭṭhicakkavāḷaṃ na jhāyatīti? Jhāyati, tasmiṃ jhāyamānepi esa ākāse ekasmiṃ okāse paccatiyevāti vadanti.

Trong bài Kinh thứ ba, tà kiến là vượt trội hẳn: Tà kiến là vượt trội hẳn các tội lỗi đó; vì thế, các tội lỗi đó gọi là ‘có tà kiến là vượt trội hẳn’. Giải thích rằng– Năm nghiệp vô gián được gọi là nghiệp có tội lỗi nghiêm trọng, chỉ có tà kiến được gọi là có tội lỗi nghiêm trọng hơn cả năm nghiệp vô gián ấy. Tại sao? Bởi vì năm nghiệp vô gián đó có giới hạn. Thật vậy, Ngài nói rằng bốn nghiệp vô gián (giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, làm chảy máu thân Phật) cho tái sanh vào địa ngục. Kể cả nghiệp chia rẽ Hội chúng Tỳ-khưu cũng là nghiệp được thiết lập trong địa ngục chỉ một kiếp mà thôi. Như vậy, các nghiệp vô gián ấy đều có giới hạn, (và) điểm kết thúc rõ ràng. Ngược lại, tà kiến cố định thì không có giới hạn. Bởi vì, tà kiến cố định ấy là gốc rễ của luân hồi, đối với người có tà kiến cố định đó thì không có sự thoát ra khỏi các hữu. Những người nào nghĩ lời nói của kẻ có tà kiến cố định là điều nên nghe, những người ấy cũng hành động sai trái. Mặc khác, kẻ có tà kiến cố định không có cõi Trời (và) cũng không có Đạo. Vào kiếp hoại, cho dù đại chúng được sanh lên cõi Phạm Thiên, tuy nhiên người có tà kiến cố định thì không được sanh vào đó mà sanh vào phần phía sau thế giới. Vậy phía sau thế giới đó, ngọn lửa không thiêu cháy đến hay sao? Có thiêu cháy. Một số vị thầy nói rằng: Ngay khi phía sau thế giới đang bị lửa thiêu rụi, thì kẻ có tà kiến cố định này cũng bị thiêu đốt ở một khoảng không nào đó trong chính hư không ấy.

311. Catutthe makkhalīti ‘‘mā khalī’’ti vacanaṃ upādāya evaṃladdhanāmo titthakaro. Nadīmukheti dvinnaṃ nadīnaṃ samāgataṭṭhāne. Desanāmattamevetaṃ, dvinnaṃ kandarānaṃ, dvinnaṃ udakānaṃ, samuddassa ca, loṇiyā ca, samuddassa ca nadiyā cāti etesampi yassa kassaci samāgataṭṭhānaṃ, aññampi tathārūpaṃ udakaṃ. Khipanti kuminaṃ. Uḍḍeyyāti oḍḍeyya.

Trong bài Kinh thứ tư, Makkhali: là vị giáo chủ có được tên gọi như vậy bởi vì có liên quan đến lời nói rằng: “Mā khali” (Đừng trượt ngã nhé!). Tại cửa sông: tại nơi hội tụ giữa hai dòng sông. Từ này chỉ được nêu ra nhằm mục đích thuyết giảng, các dòng nước khác cũng tương tự như vậy, là nơi hội tụ của bất kỳ dòng sông nào; trong số các dòng nước ấy gồm có hai dòng suối, hai dòng chảy, biển nước ngọt, biển nước mặn và các nhánh sông đổ ra đại dương. Cái lợp bẫy cá: đặt bẫy cá. Đặt (mồi bẫy): đặt.

Manussā hi naḷehi vā ucchūhi vā veḷūhi vā palāsantisalākāya vā ekaṃ dve tayo vā kumbhe gaṇhanappamāṇakuminaṃ katvā mukhavaṭṭiyā yottena bandhitvā nadīmukhaṃ netvā dvīsu passesu khāṇuke koṭṭetvā yottehi tattha bandhanti, taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. Tasmiñhi paviṭṭhassa khuddakassa macchassāpi mokkho natthi. Anayāyāti avaḍḍhiyā. Byāsanāyāti vināsāya. Makkhali moghapurisoti ayaṃ makkhali gosālo tucchapuriso. Manussakhippaṃ maññe loke uppannoti mahājanassa saggamokkhagamanamagge tattha gamananivāraṇatthaṃ manussakuminaṃ viya loke uppanno.

Giải thích rằng: Người ta lấy cây lau sậy, cây mía, cây tre hoặc các loại dây leo bám trên cát đem đan thành những cái lợp có kích thước bằng cái nồi, là loại đơn, loại đôi hoặc loại ba, (họ) gắn ‘ngạnh’ (cửa một chiều) ở miệng lợp bằng mây, sau đó đem đặt bẫy bằng cách nhấn chìm miệng lợp xuống nước, cắm cọc giữ chặt ở cả hai bên rồi buộc chặt cái lợp bằng dây mây cùng với cái cọc đó. Điều này đề cập đến hành động đó. Thật vậy, khi những con cá nhỏ đã chui vào trong cái lợp đó thì không thể thoát ra ngoài được nữa. Đưa đến sự bất hạnh: Đưa đến sự không phát triển. Đưa đến sự tổn hại: Đưa đến sự tiêu diệt. Kể rồ dại Makkhali: Kẻ trống rỗng này là Makkhalī Gosāla. Xuất hiện ở thế gian như thể là cái lợp bẫy loài người: xuất hiện ở thế gian giống cái lợp bẫy con người, nhằm ngăn cản đám đông người đi trên con đường ấy — tức là con đường đi đến cõi Trời và đi đến sự giải thoát (Niết Bàn).

312. Pañcamādīsu durakkhāte, bhikkhave, dhammavinayeti durakkhātadhammavinayo nāma bāhirakasāsanaṃ. Tattha hi satthāpi asabbaññū hoti, dhammopi durakkhāto, gaṇopi duppaṭipanno. Yo ca samādapetīti yo ācariyapuggalo samādapeti. Yañca samādapetīti yaṃ antevāsikaṃ samādapeti. Yo ca samādapito tathattāya paṭipajjatīti yo antevāsiko ācariyena samādapito tassa vacanaṃ karonto tathābhāvāya paṭipajjati. Bahuṃ apuññaṃ pasavantīti samādapako hi pāṇātipātādīsu jaṅghasataṃ samādapento tesaṃ sabbesampi akusalena samakameva akusalaṃ pāpuṇāti. Tenāha – ‘‘sabbe te bahuṃ apuññaṃ pasavantī’’ti.

Trong bài Kinh thứ năm, v.v, Này các Tỳ-khưu, khi Pháp và Luật được thuyết vụng về: Lời dạy của các giáo chủ bên ngoài Phật Giáo gọi là ‘Pháp và Luật được thuyết vụng về’. Bởi vì trong lời dạy ấy, ngay cả người giảng dạy cũng không phải là bậc Toàn tri; Pháp cũng là Pháp được thuyết giảng vụng về; và cả tập thể cũng là những người thực hành lệch lạc. Và vị nào xúi giục: người thầy nào xúi giục. Xúi giục người nào: xúi giục học trò người nào. Và người được xúi giục thực hành theo như thế ấy: Người học trò nào được xúi giục bởi vị thầy, trong khi thực hành theo lời của người thầy đó, thì được gọi là ‘thực hành đưa đến bản thể như thế ấy’. Tạo ra nhiều điều vô phước: Giải thích rằng: người xúi giục khi xúi giục một trăm người giết hại sinh mạng, v.v, thì (chính người xúi giục đó) sẽ nhận lấy điều bất thiện bằng với toàn bộ các điều bất thiện của tất cả người bị xúi giục ấy. Vì thế, Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Tất cả các vị ấy tạo ra nhiều điều vô phước.”

313. Svākkhāteti suṭṭhu akkhāte sudesite. Evarūpe hi dhammavinaye satthā ca sabbaññū hoti, dhammo ca svākkhāto, gaṇo ca suppaṭipanno. Sabbe te bahuṃ puññaṃ pasavantīti samādapako hi bhikkhū piṇḍāya paviṭṭhe disvā yāgubhattādīni samādapento sabbesampi dāyakānaṃ kusalena samakaṃ kusalaṃ pāpuṇāti. Tena vuttaṃ – ‘‘bahuṃ puññaṃ pasavantī’’ti.

Khéo được thuyết giảng: (Trong Pháp và Luật) khéo được nói, khéo được chỉ bảo. Bởi vì, trong Pháp và Luật có hình thức như vậy bậc Đạo Sư là vị Toàn tri, Giáo Pháp đã khéo được tuyên thuyết, Hội Chúng đã thực hành tốt đẹp. Tất cả các người ấy tạo ra nhiều phước thiện: Giải thích rằng– Một người động viên khi thấy các vị Tỳ-khưu đi vào (làng) khất thực, đã động viên những người khác dâng cúng cháo, và vật thực, v.v, thì (người động viên đó) sẽ nhận được phước báu bằng với toàn bộ phước báu của tất cả những người bố thí. Vì thế, Ngài mới nói rằng: “Tất cả những người ấy tạo ra nhiều phước thiện.”

314. Dāyakena mattā jānitabbāti dāyakapuggalena pamāṇaṃ jānitabbaṃ, pamāṇena dātabbaṃ, pūretvā atirekaṃ na dātabbaṃ. Na dātabbanti hi avatvā pamāṇavasena thokaṃ dātabbanti vuttaṃ. Kasmā? Pūretvā atireke dinnepi hi atirekā manussasampatti vā dibbasampatti vā nibbānasampatti vā natthi. No paṭiggāhakenāti paṭiggāhakassa pana mattaṃ jānitvā paṭiggahaṇakiccaṃ nāma natthi. Kasmā? Tassa hi mattaṃ ñatvā pūretabbā mattapaṭiggahaṇamūlikā appicchapaṭipadā nāma natthi. Yattakaṃ pana labhati, tattakaṃ gahetabbaṃ. Atirekaggahaṇamūlaṃ hissa puttadārabharaṇaṃ bhavissati.

Người cho nên biết chừng mực: Người cho nên biết chừng mực, nên cho với lượng vừa đủ, khi đã cho đầy đủ thì không nên cho dư thừa. Tuy nhiên, không nói rằng ‘không nên cho’, mà nói rằng ‘nên cho từng chút với một lượng vừa đủ’. Tại sao? Bởi vì khi đã cho đầy đủ, dù có cho dư thừa thì sự thành tựu ở cõi Người, sự thành tựu ở cõi Trời, hay sự thành tựu Niết Bàn thì (sự thành tựu) vượt trội hơn là không có. Chớ không phải cho người nhận: Ngoài ra, đối với người thọ nhận thì phận sự trong việc thọ nhận sau khi biết được chừng mực là không có. Vì sao? Bởi vì, lối thực hành về sự thiểu dục có gốc rễ trong việc thọ nhận có chừng mực nên làm đầy đủ sau khi biết chừng mực là không có đối với người ấy. Tuy nhiên, (người thọ nhận) có được chừng nào thì nên nhận lấy chừng ấy. Bởi vì, cội nguồn trong việc thọ nhận dư thừa đối với người thọ nhận đó sẽ là việc thọ nhận để chăm sóc vợ và con.

Paṭiggāhakena mattā jānitabbāti paṭiggāhakapuggalena pamāṇaṃ jānitabbaṃ. Kathaṃ? Tena hi dāyakassa vaso veditabbo, deyyadhammassa vaso veditabbo, attano thāmo veditabbo. Yadi hi deyyadhammo bahu hoti, dāyako appaṃ dātukāmo, dāyakassa vasena appaṃ gaṇhitabbaṃ. Deyyadhammo appo, dāyako bahuṃ dātukāmo, deyyadhammassa vasena appaṃ gaṇhitabbaṃ. Deyyadhammopi bahu, dāyakopi bahuṃ dātukāmo, attano thāmaṃ ñatvā pamāṇeneva gaṇhitabbaṃ. Evaṃ mattaṃ ñatvā paṭiggaṇhanto hi appicchapaṭipadaṃ pūreti. Anuppannassa lābho uppajjati, uppanno lābho thāvarova hoti. Appasannā pasīdanti, pasannāpi bhiyyo pasādamāpajjanti, mahājanassa cakkhubhūto hoti, sāsanaṃ ciraṭṭhitikaṃ karoti.

Người thọ nhận nên biết chừng mực: Người thọ nhận nên biết chừng mực. Nên biết như thế nào? Là khi thọ nhận, cần phải biết rõ năng lực của người cho, cần phải biết rõ định lượng của vật thí, và cẩn phải biết rõ năng lực của bản thân.

  • Nếu như vật thí có nhiều, nhưng người cho có ý muốn cho ít thì nên nhận ít theo khả năng của người cho.
  • Nếu vật thí có ít, nhưng người cho có ý muốn cho nhiều, thì nên nhận ít theo định lượng của vật thí.
  • Nếu vật thí có nhiều và người cho có ý muốn cho nhiều, thì người thọ nhận nên biết rõ khả năng của bản thân rồi thọ nhận lượng vừa đủ.

Sau khi biết chừng mực như vậy rồi thọ nhận, (người ấy) sẽ làm viên mãn lối thực hành của sự thiểu dục. Lợi lộc chưa từng phát sanh được phát sanh, và lợi lộc đã phát sanh được duy trì bền vững. Những người chưa có đức tin an trú vào đức tin, người đã có đức tin thì đức tin tăng thêm nữa. Trở thành đối tượng được quan tâm của đại chúng, làm cho Giáo Pháp được tồn tại lâu dài.

Tatrimāni vatthūni – rohaṇajanapade kira kuṭimbiyavihāre eko daharo dubbhikkhasamaye tasmiṃ gāme ekassa kammakārassa[1] gehe bhuñjanatthāya kaṭacchubhattaṃ gahetvā gamanatthāya ca kaṭacchubhattameva labhati. So ekadivasaṃ tasmiṃ gehe ekaṃ āgantukaṃ disvā ekameva kaṭacchubhattaṃ gaṇhi. Athassa ‘‘kena kāraṇenā’’ti vutte tamatthaṃ vatvā so kulaputto pasīditvā ‘‘amhākaṃ kulūpakabhadanto evarūpo nāmā’’ti rājadvāre mittāmaccānaṃ kathesi. Te sabbepi tassa appicchaguṇe pasannā ekadivaseneva saṭṭhi dhurabhattāni ṭhapesuṃ. Evaṃ[2] appiccho anuppannalābhaṃ uppādeti.

Ở đây, có câu chuyện này làm ví dụ— Kể rằng, ở xứ sở Rohaṇa, có một vị Tỳ-khưu trẻ trú tại Tịnh xá Kuṭimbiya. Vào thời điểm khan hiếm vật thực, Ngài chỉ thọ nhận một muỗng cơm (vật thực) để thọ dụng tại nhà của một người lao động, sau đó chỉ nhận muỗng cơm (vật thực) để mang đi. Vào một ngày nọ, vị ấy nhìn thấy một vị Tỳ-khưu vãng lai cũng có mặt trong ngôi nhà đó, nên chỉ nhận lấy một muỗng cơm (vật thực). Sau đó, khi được hỏi rằng: “Vì lý do gì?” Đã nói về sự việc đó, thiện nam tử ấy đã rất tịnh tín nơi Ngài, nên đã nói với bạn bè và các quan lại tại cổng Hoàng cung rằng: “Ngài đại đức thường tới lui với gia đình của tôi là vị có hình thức như thế (vị thiểu dục).” Họ cũng đã tịnh tín với đức hạnh là sự thiểu dục muốn của Ngài, và đã thiết lập sáu mươi phần vật thực đều đặn mỗi ngày. Vị thiểu dục như vậy làm phát sanh lợi lộc chưa được phát sanh.

Saddhātissamahārājāpi cūḷupaṭṭhākaṃ[3] tissāmaccaṃ vīmaṃsitvā tena ekaṃ tittiraṃ pacāpetvā āharāpesi. Atha paribhogasamaye ‘‘aggaṃ datvā paribhuñjissāmī’’ti aṭṭhakasālapariveṇe[4] mahātherassa bhaṇḍaggāhasāmaṇerassa tittiramaṃsaṃ dento tasmiṃ thokaṃyeva paṭiggaṇhante tassa appicchaguṇe pasīditvā ‘‘pasannosmi, tāta, aṭṭha te dhurabhattāni demī’’ti āha. Mahārāja, upajjhāyassa demīti. Aparānipi aṭṭha demīti. Tāni amhākaṃ ācariyassa demīti. Aparānipi aṭṭha dammīti. Tāni samānupajjhāyānaṃ dammīti. Aparānipi aṭṭha dammīti. Tāni bhikkhusaṅghassa dammīti. Aparānipi aṭṭha dammīti. Sāmaṇero adhivāsesi. Evamassa uppanno lābho thāvaro hoti.

Ngay cả Đại Vương Saddhātissa cũng đã sai viên quan Tissa, vị cận thần thân tín đi điều tra (về đức hạnh của các bậc xuất gia), và truyền cho vị ấy nướng một con chim đa đa mang đến. Khi ấy, vào lúc thọ dụng (đức vua nghĩ rằng): “Trẫm sẽ thọ dụng sau khi ban cho phần ngon nhất,” rồi đã ban phần thịt chim đa đa đến vị Sa-di đang cầm vật dụng của vị Đại Trưởng lão tại khuôn viên Aṭṭhakasāla. Khi chỉ nhận lấy một phần rất nhỏ, nhà vua đã tịnh tín với đức hạnh là sự thiểu dục của vị ấy nên mới nói rằng: “Này con, trẫm rất ngưỡng mộ, trẫm xin dâng tấm phần vật thực thường kỳ cho con.” – Tâu Đại vương, phần vật thực thường kỳ ấy, tôi xin dâng đến vị thầy tế độ.

Vậy trẫm sẽ ban tám phần khác.
Tôi xin dâng đến vị thầy dạy học của tôi.

Trẫm sẽ ban tám phần khác nữa.
Tôi sẽ dâng tám phần ấy cho vị ngang hàng với thầy tế độ.

Trẫm sẽ ban thêm tám phần khác.
Tôi sẽ dâng đến tám phần ấy đến Hội chúng Tỳ-khưu.

Trẫm sẽ ban thêm tám phần khác nữa.
Vị Sa-di mới chấp nhận.

Như vậy, lợi lộc đã phát sanh cho vị ấy được duy trì bền vững.

Appasannā pasīdantīti etthapi – dīghabrāhmaṇo kira brāhmaṇe bhojento pañca pañca bhattasarakāni datvā santappetuṃ nāsakkhi. Athekadivasaṃ ‘‘samaṇā kira nāma appicchā’’ti kathaṃ sutvā vīmaṃsanatthāya bhattaṃ gāhāpetvā bhikkhusaṅghassa bhattakiccakaraṇavelāya vihāraṃ gantvā tiṃsamatte bhikkhū bhojanasālāyaṃ bhuñjante disvā ekaṃ bhattasarakaṃ gahetvā saṅghattherassa santikaṃ agamāsi. Thero aṅguliṃ cāletvā thokameva aggahesi. Eteneva niyāmena ekaṃ bhattasarakaṃ sabbesaṃ sampāpuṇi. Tato brāhmaṇo ‘‘saccoyeva etesaṃ samaṇānaṃ guṇo’’ti appicchatāya pasanno sahassaṃ vissajjetvā tasmiṃyeva vihāre cetiyaṃ kāresi. Evaṃ appasannā pasīdanti.

Những người chưa có đức tin (sẽ) an trú vào đức tin, cũng có ví dụ như sau— Kể rằng. Bà-la-môn Dīgha đã thỉnh mời các vị Bà-la-môn khác đến dùng bữa, dầu đã dâng cúng mỗi lần tới 5 bát thức ăn đầy cho mỗi vị, nhưng vẫn không thể làm họ cảm thấy thỏa mãn. Sau đó vào một ngày nọ, sau khi nghe nói rằng: “Nghe nói các Sa-môn là người thiểu dục.” Để kiểm nghiệm điều này, ông đã cho người mang thức ăn đến Tịnh xá vào lúc Hội chúng đang thực hiện phận sự thọ thực, nhìn thấy khoảng 30 vị Tỳ-khưu đang thọ thực ở nhà ăn, ông bèn bưng một bát thức ăn tiến đến gần vị Trưởng lão. Vị Trưởng lão sử dụng ngón tay lấy ra một chút ít thức ăn. Chính theo cách thức như thế, chỉ với một bát thức ăn mà được chia phần đến tất cả các vị Tỳ-khưu. Khi ấy, vị Bà-la-môn tịnh tín trọng sự thiểu dục ấy rằng: “Nghe nói, các vị Sa-môn này có đầy đủ mọi đức hạnh,” nên đã xuất ra tài sản một ngàn xây dựng Bảo điện trong chính ngôi Tịnh xá ấy. Người chưa có đức tin (sẽ) an trú vào đức tin như vậy.

Pasannābhiyyo pasīdantīti ettha vatthunā kiccaṃ natthi. Pasannānañhi appicchaṃ disvā pasādo bhiyyo vaḍḍhatiyeva.

Người đã có đức tin thì đức tín càng tăng thêm nữa: Sự việc liên quan đến câu chuyện là không có. Thật vậy, do nhìn thấy sự thiểu dục, đức tin được tăng trưởng thêm cho những người đã có đức tin.

Majjhantikatissattherasadise pana appicche disvā mahājano appiccho bhavituṃ maññatīti appiccho mahājanassa cakkhubhūto nāma hoti.

Hơn nữa, đại chúng khi nhìn thấy những bậc tri túc điển hình như Trưởng lão Majjhantika Tissa, v.v, họ nghĩ rằng sẽ trở thành vị thiểu dục. Chính vì lý do ấy, vị thiểu dục được gọi là ‘đối tượng được quan tâm của đại chúng’.

‘‘Appicchatā, bhikkhave, saddhammassa ṭhitiyā asammosāya anantaradhānāya saṃvattatī’’ti (a. ni. 1.116-129) vacanato pana appiccho sāsanaṃ ciraṭṭhitikaṃ karoti nāma.

Ngoài ra, vị thiểu dục gọi là làm cho Giáo Pháp được tồn tại lâu dài theo lời nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, sự thiểu dục đưa đến sự an trú, đưa đến sự không hỗn loạn, đưa đến sự không biến mất của Diệu Pháp.” (a. ni. 1.116-129).

No dāyakenāti svākkhāte dhammavinaye pana dāyakassa pamāṇaṃ ñatvā dātabbakiccaṃ nāma natthi. Yattako deyyadhammo atthi, tattakaṃ avattharitvā dātuṃ vaṭṭati. Avattharitvā dinnakāraṇā hi esa manussasampattiṃ, dibbasampattiṃ, nibbānasampattiñca avattharitvā uttaruttari paṇītapaṇītameva labhati.

Không phải do người cho: Hơn nữa, trong Pháp và Luật khéo được thuyết giảng,  phận sự cần phải biết chừng mực rồi mới cho đối với người cho là không có. Vật thí có chừng nào, (thì) nên cho không vượt quá chừng ấy. Người cho sẽ đạt được (sự thành tựu) càng lúc càng cao hơn, càng lúc càng thù thắng hơn không hơn sự thành tựu cõi Người, sự thành tựu cõi Trời và sự thành tựu Niết Bàn bởi lý do cho quá chừng mực.

316. Yo āraddhavīriyo, so dukkhaṃ viharatīti pañcātapatappanamaruppapātapatanādiccānuparivattana-ukkuṭikappadhānādīni anuyuñjanto diṭṭhe ceva dhamme dukkhaṃ viharat, tasseva bāhirasamaye samādinnassa tapacaraṇassa vipākena niraye uppajjitvā samparāyepi dukkhaṃ viharati.

Người nào có sự ra sức tinh cần, vị ấy sống đau khổ: người thường xuyên thực hành các pháp tu ép xác như: sự tự hành xác với ‘năm loại sức nóng’, việc thực hành nỗ lực bằng cách vùi mình trong hố cát, lăn lộn qua lại dưới ánh nắng mặt trời (nằm giữa trời nắng gắt), hay do sự nỗ lực trong việc ngồi chồm hổm, v.v, (hạng người như thế) sống đau khổ ngay trong kiếp sống hiện tại. Khi chính người đó thọ trì theo học thuyết bên ngoài Giáo Pháp, do kết quả của việc thực hành khổ hạnh đó, người ấy sẽ bị tái sanh vào địa ngục, đây gọi là sống đau khổ ngay trong kiếp sống vị lai.”

317. Yo kusīto, so dukkhaṃ viharatīti ayampi diṭṭhe dhamme ceva samparāye ca dukkhaṃ viharati. Kathaṃ? Yassa hi pabbajitakālato paṭṭhāya yoniso manasikāro natthi, buddhavacanaṃ na uggaṇhāti, ācariyupajjhāyavattaṃ na karoti, cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇavattaṃ na karoti. Janassa pana saddhādeyyaṃ apaccavekkhitaparibhogena paribhuñjitvā divasaṃ seyyasukhaṃ passasukhaṃ anuyuñjitvā pabuddhakāle tayo vitakke vitakketi. So katipāheneva bhikkhubhāvā cavati? Evaṃ diṭṭhadhamme ca dukkhaṃ viharati. Pabbajitvā pana samaṇadhammassa sammā akatattā ca –

‘‘Kuso yathā duggahito, hatthamevānukantati;
Sāmaññaṃ dupparāmaṭṭhaṃ, nirayāyupakaḍḍhatī’’ti. (dha. pa. 311) –

Apāyasmiṃyeva paṭisandhiṃ gaṇhati. Evaṃ samparāyepi dukkhaṃ viharati.

Người nào sống lười biếng, người ấy sống khổ sở: Ngay cả hạng người này cũng sống khổ sở ở kiếp sống hiện tại và ở kiếp sống vị lai. Sống khổ sở như thế nào? Hạng người nào, kể từ khi xuất gia mà không tác ý đúng đường lối, không học tập Phật ngôn, không thực hành các bổn phận đối với thầy tế độ và phận sự đối với thầy dạy học, cũng không thực hiện các công việc quét dọn khu vực Bảo điện và khu vực cây Bồ-đề. Thọ dụng vật thực tín thí của đại chúng với việc thọ dụng không quán xét lại; thường xuyên gắn liền với sự khoái lạc về sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khi thức dậy thì suy tầm với ba sự suy tầm (suy tầm về dục, suy tầm về thù oán, suy nghĩ về hãm hại); thì hạng người ấy sẽ đánh mất bản thể Tỳ-khưu chỉ trong vài ngày. Như vậy là sống khổ sở ngay trong hiện tại. Hơn nữa, sau khi xuất gia đã không thực hành Sa-môn Pháp một cách đúng đắn—

“Giống như cọng cỏ kusa được nắm vụng về cắt đứt bàn tay (cầm nó). Cũng vậy, đời Sa-môn được duy trì cẩu thả kéo lôi (kẻ ấy) vào địa ngục.” (dha. pa. 311) –

Người ấy chắc chắn tái sanh vào đọa xứ. Như vậy là sống khổ sở ngay trong kiếp sống vị lai.”

Yokusīto, so sukhaṃ viharatīti kālena kālaṃ vuttappakāre tapacaraṇe kiñci kiñci tapacaraṇaṃ katvā kālena kālaṃ odātavatthavasano mālāgandhavilepanadharo madhurabhojanaṃ bhuñjanto mudukāsu seyyāsu sayanto diṭṭhe dhamme ceva sukhaṃ viharati samparāye ca. So hi tassa tapacaraṇassa gāḷhaṃ aggahitattā nātibahuṃ niraye dukkhaṃ anubhavati. Tasmā samparāye sukhaṃ viharati nāma.

Người nào sống biếng nhác, người ấy sống an lạc: Một người hành trì bất kỳ khổ hạnh nào, trong việc hành trì khổ hạnh theo phương thức đã trình bày hợp thời, trong khi mặc y phục trắng sạch, cài hoa, thoa vật thơm, thọ dụng vật thực ngon và ngủ trên chỗ nằm mềm mại hợp thời; người đó sống an lạc trong kiếp sống hiện tại và ở kiếp sống vị lai. Và vì trạng thái không nắm giữ vào việc hành trì khổ hạnh, nên sẽ không phải lãnh chịu khổ đau trong địa ngục quá nhiều. Chính vì lý do đó, mới gọi là sống an lạc ở kiếp sống vị lai.

319. Yo āraddhavīriyo, so sukhaṃ viharatīti āraddhavīriyo hi pabbajitakālato paṭṭhāya vattesu paripūrakārī hoti, buddhavacanaṃ uggaṇhāti, yoniso manasikāre kammaṃ karoti. Athassa vattapūraṇañceva uggahitabuddhavacanañca samaṇadhammakiriyañca āvajjentassa cittaṃ pasīdati. Evaṃ diṭṭheva dhamme sukhaṃ viharati. Diṭṭhadhamme pana arahattaṃ pāpuṇituṃ asakkonto nibbattabhave khippābhiñño hotīti samparāyepi sukhaṃ viharati nāma.

Người nào có sự ra sức tinh tấn, người ấy sống an lạc: Thật vậy, vị Tỳ-khưu có sự ra sức tinh tấn, kể từ khi xuất gia thực hành đầy đủ các bổn phận, học tập Phật ngôn, thực hiện các hành sự trong sự tác ý đúng đường lối. Trong khi người đó hồi tưởng lại việc làm tròn các bổn phận, việc học tập Phật ngôn và việc thực hành Sa-môn Pháp, tâm trở nên được tịnh tín. Như vậy là sống an lạc ngay trong hiện tại. Tuy nhiên, khi không thể đạt đến quả vị A-la-hán trong hiện tại, thì vị ấy sẽ trở thành người có sự giác ngộ nhanh chóng tại mỗi nơi được sanh ra. Chính vì lý do đó, mới gọi là sống an lạc ngay cả ở đời sống vị lai.

Seyyathāpi, bhikkhave, appamattakopi gūtho duggandho hotīti idaṃ suttaṃ aṭṭhuppattiyaṃ vuttaṃ. Kataraaṭṭhuppattiyanti? Navakanipāte (a. ni. 9.12) sattuppādasutta aṭṭhuppattiyaṃ. Tathāgato hi taṃ atthaṃ kathento – ‘‘nava puggalā nirayato muttā, tiracchānayonito muttā, pettivisayato muttā’’ti kathesi. Athassa etadahosi – ‘‘sace kho pana me puttā imaṃ dhammadesanaṃ sutvā khīṇanirayamhā khīṇatiracchānayonikā khīṇapettivisayā khīṇāpāyaduggativinipātāti maññamānā uparimaggaphalatthāya vāyamituṃ na maññeyyuṃ, tesaṃ saṃvegaṃ janessāmī’’ti saṃvegajananatthaṃ ‘‘seyyathāpi, bhikkhave’’ti imaṃ suttamārabhi. Tattha appamattakoti thokamattako parittappamāṇo, antamaso kusaggenapi gahetvā upasiṅghiyamāno duggandhova hoti. Appamattakampi bhavaṃ na vaṇṇemīti appamattakampi kālaṃ bhave paṭisandhiṃ na vaṇṇayāmi. Idānissa upamaṃ dassento āha – antamaso accharāsaṅghātamattampīti. Sabbantimena paricchedena dve aṅguliyo ekato katvā paharaṇamattampi kālanti vuttaṃ hoti. Sesaṃ sabbattha uttānatthamevāti.

Bài Kinh này có lời bắt đầu như sau: ‘Này các Tỳ-khưu, cũng như phân bò dầu chỉ chút ít cũng có mùi thối,’ (Đức Thế Tôn) nói về duyên sự khởi lên của câu chuyện. Duyên sự khởi lên câu chuyện đó như thế nào? – Duyên sự khởi lên từ bài kinh Sattuppāda Sutta trong chương Chín Pháp. Thật vậy, Đức Như Lai trong khi thuyết về vấn đề đó Ngài đã thuyết rằng: “Có chín hạng người đã thoát khỏi địa ngục, thoát khỏi thai bào của loài bàng sanh, thoát khỏi thân phận loài ngạ quỷ, v.v.” Khi ấy, điều này đã khởi lên nơi Đức Như Lai rằng— “Nếu như các con của Ta sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp này rồi lầm tưởng rằng: ‘Chúng ta đã cạn kiệt về địa ngục, đã cạn kiệt về loài thú, đã cạn kiệt thân phận ngạ quỷ, đã cạn kiệt về đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt; cũng không nên lầm tưởng đến sự nỗ lực nhằm đạt được các Đạo Quả cao hơn nữa, ta sẽ khiến sự chấn động khởi lên nơi các con của Ta.’” Sau đó, Ngài đã bắt đầu bài Kinh này như sau: “Ví như, này các Tỳ-khưu, v.v,” nhằm mục đích làm khởi lên sự chấn động. Ở đây, dầu chỉ chút ít: dầu chỉ có một chút ít, dầu chỉ có một lượng rất nhỏ. Lượng phân ấy dầu chỉ một chút ít dính ở đầu cọng cỏ kusa rồi ngửi thì mùi (thối) vẫn thối như thường. Không ca ngợi về sự hiện hữu dầu chỉ chút ít: Ta không ca ngợi sự tiếp nối ở các Hữu dù chỉ trong khoảng thời gian ít ỏi. Bây giờ, trong khi thuyết giảng sự so sánh về khoảng thời gian đó, Ngài đã nói rằng: “Thậm chí chỉ là thời gian của một khảy móng tay”. Trong cụm từ này, Ngài giải thích rằng: Dù chỉ là khoảng thời gian lấy hai ngón tay chạm vào rồi búng tách chúng ra, là sự xác định tối thiểu thấp nhất. Từ còn lại ở các đoạn đều đơn giản.

Giải thích Phẩm thứ ba – được kết thúc

Giải thích Phẩm thứ tư

322. Catutthavaggassa paṭhame jambudīpeti jambuyā paññāto pākaṭo dīpoti jambudīpo. Imassa kira dīpassa saññāṇabhūtā[5] yojanasatubbedhā paṇṇāsayojanasākhā pañcadasayojanāvaṭṭakkhandhā himavantapabbate jātā kappaṭṭhāyinī mahājambū nāma atthi, tāya ayaṃ dīpo jambudīpoti vuccati. Yathā ca imasmiṃ dīpe jamburukkho kappaṭṭhāyī, tathā aparagoyāne kadambarukkho, uttarakurūsu kapparukkho, pubbavidehe sirīsarukkho, asurānaṃ cittapāṭalirukkho, supaṇṇānaṃ simbalirukkho, devānaṃ pāricchattakoti imepi kappaṭṭhāyinova.

‘‘Pāṭalī simbalī jambū, devānaṃ pāricchattako;
Kadambo kapparukkho ca, sirīso[6] bhavati sattamo’’ti.

Trong bài Kinh thứ nhất của Phẩm thứ tư, trong cõi Jambudīpa: gọi là Jambudīpa do là châu lục được biết đến, được biết tiếng, nổi bật bởi cây Jambū. Nghe nói châu lục này có cây Jambū to lớn, sừng sững cao đến 100 do-tuần, các cành dài 50 do-tuần, thân cây có chu vi 15 do-tuần, mọc ở vùng núi Himavanta và tồn tại suốt kiếp. Châu này được gọi là Jambudīpa vì có cây đại thụ Jambu đó. Và cây đại thụ Jambū tồn tại suốt một kiếp ở châu lục này như thế nào; tương tự như thế, cả những cây này là cây Kadamba[7] ở Tây Ngưu Hóa Châu (Aparagoyāna), cây Kappa ở Bắc Câu Lưu Châu (Uttarakuru), cây Sirīsa[8] ở Đông Thắng Thần Châu (Pubbavideha), cây Cittapāṭalī của loài A-tu-la, cây Simbalī của loài Supaṇṇā, cây Pāricchatta của chư Thiên (ở Cung Trời Đao Lợi) cũng tồn tại suốt một kiếp.

Cây Pāṭalī, cây Simbalī, cây Jambū và cây Pāricchatta của chư Thiên;
Cây Kadamba, cây Kappa và cây Sirīsa là đủ 7 loại cây.

Ārāmarāmaṇeyyakanti pupphārāmaphalārāmānaṃ rāmaṇeyyakaṃ veḷuvana-jīvakambavana-jetavanapubbārāmasadisaṃ. Taṃ imasmiṃ jambudīpe appamattakaṃ parittakaṃ, na bahukanti attho. Sesapadesupi eseva nayo. Ettha vanarāmaṇeyyakanti nāgavanasālavanacampakavanādisadisaṃ vaṅkapabbatahimavantapabbatapadesādīsu araññavanaṃ veditabbaṃ. Bhūmirāmaṇeyyakanti jetavanavihāramagadhakkhettādisadisaṃ samaṃ bhūmiṭṭhānaṃ. Pokkharaṇirāmaṇeyyakanti jetavanapokkharaṇi– gaggarāpokkharaṇisadisānaṃ vaṭṭa– caturassa– dīgha– vaṅkādisaṇṭhānānaṃ pokkharaṇīnaṃ sannivesanaṭṭhānaṃ. Ukkūlavikūlanti ukkūlañca vikūlañca. Tattha ukkūlaṃ unnataṭṭhānaṃ, vikūlaṃ ninnaṭṭhānaṃ. Nadīvidugganti nadīnaṃ bhinnaṭṭhānaṃ taṃ duggamattā nadīvidugganti vuccati. Khāṇukaṇṭakaṭṭhānanti tatthajātakānañceva āhariyamānānañca khāṇukaṇṭakādīnaṃ patiṭṭhānaṭṭhānaṃ. Pabbatavisamanti girivisamaṃ. Ye odakāti ye ca udake jāyanti, teyeva bahutarā. Ito kira suvaṇṇabhūmi sattamattāni yojanasatāni hoti, ekena vātena gacchantī nāvā sattahi ahorattehi gacchati. Athekasmiṃ samaye evaṃ gacchantī nāvā sattāhampi nandiyāvaṭṭamacchapiṭṭheneva gatā. Evaṃ odakānaṃ sattānaṃ bahubhāvo veditabbo.

Khu vườn đáng yêu: Trong số vườn hoa và vườn cây ăn trái đáng yêu chẳng hạn như Tịnh xá Veḷuvana, vườn xoài của Jīvaka, Tịnh xá Jetavana và khu vườn Pubbārāma. Khu vườn đáng yêu ấy trong cõi Jambudīpa này có ít, nhỏ nhoi, giải thích rằng: không có nhiều. Những từ còn lại cũng có cách thức này tương tự. Khu rừng đáng yêu: Trong bài Kinh này, nên biết rằng các khu rừng rậm, là những khu rừng hoang vu ở các vùng như núi Vavaṅka, núi Himavanta, v.v, cũng tương tự như khu rừng Nāgavana, rừng cây Sāla và rừng cây Campaka, v.v. Vùng đất đáng yêu: là những vùng đất bằng phẳng chẳng hạn như khuôn viên Tịnh xá Jetavana và những cánh đồng ở xứ Magadha. Hồ nước đáng yêu: gồm những địa điểm có hồ nước có hình dạng tròn, vuông, dài, hay uốn cong, v.v, chẳng hạn như hồ nước của Thái tử Jeta và hồ nước của các vị Vương tử dòng Malla. Các chỗ đất cao đất thấp: nơi gò cao và chỗ trũng thấp. Ở đây, chỗ đất cao gọi là ukkūla, chỗ đất trũng gọi là vikūla. Các con sông khó lội qua: Chỗ bị chia cắt của các con sông, vì tính chất khó đi qua nên được gọi là ‘các con sông khó lội qua’. Các khu vực rậm rạp những gậy gộc, gai góc: nơi đầy rẫy các gốc cây và gai góc xuất hiện tại những tại đó và nơi mà những người khác mang đến vứt bỏ. Các núi non lởm chởm: những vùng đồi núi không bằng phẳng (hiểm trở, gồ ghề). Được sanh ra ở trong nước: và loài nào được sanh ra trong nước, thì chính loài ấy là nhiều hơn. Được biết rằng, từ đây đi khoảng 700 do-tuần, có một vùng đất tên là Suvaṇṇabhūmi. Thuyền buồm chỉ xuôi theo một chiều gió sẽ đến nơi đó trong thời gian 7 ngày 7 đêm. Khi ấy, vào một thuở nọ, một chiếc thuyền đã đi như thế, hành trình chỉ mất đúng 7 ngày do đã đi theo sau loài cá Nandiyāvaṭṭa. Nên biết rằng các chúng sanh trong nước (các loài thủy tộc) có nhiều như vậy.

Apica thalaṭṭhānassa parittabhāvena udakassa ca bahubhāvenāpi ayamattho veditabbo. Yathā hi mahātaḷāke ekova uppalagaccho assa, tassa cattāri ca paṇṇāni, majjhe ca ekaṃ uppalamakulaṃ assa. Evamevaṃ cattāri paṇṇāni viya cattāro dīpā, majjhe uppalamakulaṃ viya sinerupabbato, sesaṃ udakaṃ viya udakaparikkhitto okāso. Tassa mahantabhāvo iddhimantānaṃ pākaṭo hoti. Tesañhi ākāsena gacchantānaṃ cattāro mahādīpā cattāri paṇṇāni viya upaṭṭhahanti, sinerupabbato majjhe uppalamakulaṃ viya, sesaṃ udakaṃ viya udakaparikkhitto okāso. Evaṃ mahante udake jātattā odakāva bahutarā veditabbā.

Mặt khác, bởi vì diện tích đất liền thì ít và do nước lại có rất nhiều. Nên hiểu ý nghĩa của vấn đề này như sau: Ví như trong một cái đầm lớn, có một khóm sen chỉ có đúng 4 lá, và ở chính giữa khóm sen ấy có một bông hoa sen còn đang chúm chím nụ; cũng tương tự như vậy, bốn châu giống như 4 chiếc lá sen, còn núi Sineru giống như nụ hoa sen ở chính giữa. Khoảng trống được bao quanh bởi nước cũng giống như phần nước còn lại trong đầm. Tính chất rộng lớn của nước ấy được biết đến đối với vị có thần thông. Bởi vì khi bậc có thần thông đi trên hư không, cả bốn châu được hiện lộ như 4 chiếc lá sen, và núi Sineru hiện ra như nụ hoa sen ở giữa. Như vậy, nên biết rằng chỉ các loài sống dưới nước là nhiều hơn do chúng sanh được sanh ra trong nước có nhiều.

323. Dutiyādīsu aññatra manussehīti idha cattāro apāyā aññatra manussehīti adhippetā.

Trong bài Kinh thứ hai, ngoài loài Người: Trong trường hợp này, Ngài muốn đề cập đến bốn khổ cảnh ngoại trừ loài Người.

Majjhimesu janapadesūti ‘‘puratthimāya disāya gajaṅgalaṃ nāma nigamo, tassa parena mahāsālā, tato parā paccantimā janapadā, orato majjhe. Puratthimadakkhiṇāya disāya sallavatī nāma nadī, tato parā paccantimā janapadā, orato majjhe. Dakkhiṇāya disāya setakaṇṇikaṃ nāma nigamo, tato parā paccantimā janapadā, orato majjhe. Pacchimāya disāya thūṇaṃ nāma brāhmaṇagāmo, tato parā paccantimā janapadā, orato majjhe. Uttarāya disāya usīraddhajo nāma pabbato, tato parā paccantimā janapadā, orato majjhe’’ti (mahāva. 259) evaṃ paricchinne janapadeti attho. Ayañhi janapado mudiṅgasaṇṭhāno ujukena katthaci asītiyojano hoti, katthaci yojanasatiko, katthaci dviyojanasatiko, majjhena pana tiyojanasatiko, pariyantaparikkhepena navamattayojanasatiko hoti. Ettake ṭhāne buddhapaccekabuddhā mahāsāvakā buddhupaṭṭhākā buddhasāvakā buddhamātā buddhapitā cakkavattī rājāti ime sattā nibbattanti. Apica upādāyupādāyāpi majjhimapadeso labbhati. Sakalopi hi jambudīpo majjhimapadeso nāma, sesadīpā paccantimā janapadā. Tambapaṇṇidīpe anurādhapuraṃ majjhimapadeso nāma, seso paccantoti evaṃ nayo veditabbo.

Ở các xứ sở trung tâm: “Ở hướng Đông có thị trấn tên là Gajaṅgala, xa hơn chỗ đó là Mahāsālā, từ đó trở đi là các xứ thuộc vùng biên địa, từ đó trở lại là thuộc trung tâm. Ở hướng Đông Nam có con sông tên là Sallavatī, từ đó trở đi là các xứ thuộc vùng biên địa, từ đó trở lại trong là thuộc trung tâm. Ở hướng Nam, có thị trấn tên là Setakaṇṇika, từ đó trở đi là các xứ thuộc vùng biên địa, từ đó trở lại là thuộc trung tâm. Ở hướng Tây, có làng Bà-la-môn tên là Thūna, từ đó trở đi là các xứ thuộc vùng biên địa, từ đó trở lại là thuộc trung tâm. Ở hướng Bắc, có ngọn núi tên là Usīraddhaja, từ đó trở đi là các xứ thuộc vùng biên địa, từ đó trở lại là thuộc trung tâm.” (mahāva. 259); ở các xứ sở được Ngài xác định ranh giới như vậy. Xứ sở này có hình dáng giống như cái trống (đo chiều ngang) trực tiếp một số có nơi rộng 80 do-tuần, một số nơi 100 do-tuần, một số nơi 200 do-tuần. Riêng ở phần chính giữa là 300 do-tuần; chu vi xung quanh khoảng 900 do-tuần. Những chúng sanh này là Đức Phật Toàn Giác, Đức Phật Độc Giác, các bậc Đại Thinh văn, các vị Thị giả của Đức Phật, các bậc Thinh Văn đệ tử, mẹ của Đức Phật, cha của Đức Phật và Đức Chuyển Luân Vương; tất cả đều chỉ giáng sanh trong phạm vi này mà thôi. Mặt khác, xứ sở trung tâm cũng có thể được xác định theo cách so sánh đối chiếu. Nên được biết theo cách thức như vầy rằng: Toàn bộ Jambudīpa được gọi là xứ sở trung tâm, còn các châu còn lại là xứ sở thuộc vùng biên địa. Thành phố Anuradhapura trên hòn đảo Tambapaṇṇi được gọi là xứ sở trung tâm, còn những khu vực còn lại là xứ sở thuộc vùng biên địa.

324. Paññavanto ajaḷā aneḷamūgāti ettha kammassakatapaññā, jhānapaññā vipassanāpaññā, maggapaññā, phalapaññāti etāhi samannāgatā paññavanto nāma, amūḷhā ajaḷā nāma. Yesaṃ eḷā mukhato na galati, te aneḷamūgā nāma, aneḷamukhā niddosamukhāti attho. Paṭibalāti samatthā, kāyabalena ceva ñāṇabalena ca samannāgatā. Atthamaññātunti atthānatthaṃ kāraṇākāraṇaṃ jānituṃ. Duppaññāti appaññā nippaññā. Jaḷāti mandā momūhā.

Có trí tuệ, không ngu xuẩn, không câm, không điếc: Ở đây, người hội đủ với những điều này là tuệ về nghiệp của mình đã tạo, tuệ về Minh sát, tuệ về Đạo, tuệ về Quả gọi là vị có tuệ. Người không mê muội gọi là không ngu xuẩn. Nước bọt của những người nào không chảy ra từ miệng, những người ấy gọi là người không có nước bọt chảy ra; giải thích rằng miệng không có nước bọt, miệng không có lỗi lầm. Có khả năng: Người có khả năng, tức là người có đầy đủ cả thân lực (sức mạnh về thể chất) và trí lực (năng lực của trí tuệ). Biết rõ ý nghĩa: Để biết rõ điều lợi ích và không phải điều lợi ích, nhân và không phải nhân. Tuệ tồi: người không có tuệ, không không ngoan. Ngu xuẩn: người ngu đần, người ngu si.

325. Ariyena paññācakkhunāti sahavipassanena maggena. Avijjāgatāti avijjandhakārena samannāgatā.

Đôi mắt trí tuệ của bậc Thánh: Cùng với Minh sát và Đạo. Bị chìm đắm trong vô minh: bị bao phủ bởi bóng tối vô minh.

326. Ye labhanti tathāgataṃ dassanāyāti ye tathāgatassa guṇe jānitvā tathāgataṃ cakkhuviññāṇena passituṃ labhanti.

Được nhìn thấy Như Lai: Chúng sanh nào biết được ân đức của Như Lai sẽ được chiêm bái Như Lai bằng Nhãn Thức.

327. Tathāgatappaveditanti tathāgatena paveditaṃ pakāsetvā kathitaṃ. Savanāyāti sotaviññāṇena sotuṃ.

Do Như Lai thuyết giảng: (Điều) đã được tuyên thuyết bởi Đức Như Lai, tức là sau khi làm sáng tỏ thì đã được thuyết giảng. Được nghe: Để lắng nghe bằng nhĩ thức.

Dhārentīti na pammussanti.

Thọ trì: Không lãng quên Pháp và Luật ấy.

Dhātānaṃ dhammānaṃ atthaṃ upaparikkhantīti paguṇāya pāḷiyā atthānatthaṃ upaparikkhanti.

Không quán sát ý nghĩa các Pháp chúng học thuộc lòng: Suy xét ý nghĩa và không phải ý nghĩa của Chánh Tạng một cách rành rẽ.

330. Atthamaññāya dhammamaññāyāti aṭṭhakathañca pāḷiñca jānitvā. Dhammānudhammaṃ paṭipajjantīti anulomapaṭipadaṃ pūrenti.

Sau khi hiểu thông ý nghĩa, sau khi hiểu thông Giáo Pháp: Sau khi biết rõ Chú Giải và Chánh Tạng. Thực hành đúng Pháp và thuận Pháp: Thực hành sự thực hành đúng đắn.

331. Saṃvejanīyesu ṭhānesūti saṃvegajanakesu kāraṇesu. Saṃvijjantīti saṃvegaṃ āpajjanti.

Ở những trường hợp có thể gây chấn động: Ở những lý do có thể gây chấn động. Chấn động: Đưa đến sự chấn động.

332. Yoniso padahantīti upāyena padhānavīriyaṃ karonti.

Thực hiện sự nỗ lực đúng đường lối: thực hiện sự nỗ lực và sự tinh tấn đúng phương thức.

333. Vavassaggārammaṇanti vavassaggo vuccati nibbānaṃ, taṃ ārammaṇaṃ karitvāti attho. Labhanti samādhinti maggasamādhiñca phalasamādhiñca pāpuṇanti.

Niết Bàn trở thành đối tượng: Niết Bàn được gọi là buông bỏ các Hành, giải thích rằng lấy sự buông bỏ ấy làm đối tượng. Đạt được định: Sự định tâm của Thánh Đạo và sự định tâm của Thánh Quả.

334. Annaggarasaggānanti uttamannānañca uttamarasānañca. Uñchena kapālābhatena yāpentīti uñchācārena vanamūlaphalāphalena vā kapālena ābhatabhattena vā yāpenti. Ettha ca yo kassacideva khādanīyassa bhojanīyassa atthāya citte uppanne taṃkhaṇaṃyeva na taṃ labhati, ayaṃ annaggarasaggānaṃ na lābhī nāma. Yassapi taṃkhaṇaṃyeva labhitvā olokentassa vaṇṇagandharasā amanāpā honti, ayampi annaggarasaggānaṃ na lābhī nāma. Yassa pana vaṇṇagandharasā paṭilabhanti, manāpā honti, ayaṃ annaggarasaggānaṃ lābhī nāma. So uttamakoṭiyā cakkavattī rājā, heṭṭhimakoṭiyā dhammāsoko veditabbo. Saṅkhepato hi yassa bhattassa ekapāti satasahassaṃ agghati, idaṃ annaggarasaggaṃ nāma. Yaṃ pana bhikkhusaṅghaṃ piṇḍāya carantaṃ disvā manussā uttamapaṇītaṃ bhattaṃ denti, idaṃ kiṃ nāmāti? Idaṃ uñchena kapālābhatena yāpente upādāya annaggarasaggaṃ nāma vuccatīti.

Được đồ ăn tối thắng, được vị ăn tối thắng: Đồ ăn thượng hạng và những hương vị tuyệt hảo. Duy trì mạng sống bằng thực phẩm mà bản thân mang đến bằng bát đất thông qua việc lượm nhặt: nuôi sống thân mạng bằng các loại rễ cây, hoa quả lớn nhỏ trong rừng, hoặc thức ăn mà bản thân mang đến bằng bát đất thông qua việc lượm nhặt. Về vấn đề này, hạng người nào khi tâm khởi lên mong muốn các món ăn loại cứng và loại mềm nào đó mà không được món đó ngay lập tức, thì hạng người này được gọi là không có được thức ăn thượng hạng và hương vị tuyệt hảo. Ngay cả khi hạng người nào có được ngay lập tức, nhưng khi nhìn vào màu sắc, mùi thơm và hương vị không làm vừa ý, thì hạng người này cũng gọi là không có được thức ăn thượng hạng và hương vị tuyệt hảo. Còn hạng người nào có được thức ăn có màu sắc, mùi thơm và hương vị vừa ý, thì hạng người này gọi là đã có được thức ăn thượng hạng và hương vị tuyệt hảo. Hạng người ấy nên biết hình mẫu tối cao như Đức Chuyển Luân Vương, hình mẫu thấp hơn là Đại đế Asoka. Nói một cách vắn tắt: Một khay thức ăn có giá trị một trăm ngàn, đây được gọi là thức ăn thượng hạng và hương vị tuyệt hảo. Hơn nữa, việc mọi người nhìn thấy Hội chúng Tỳ-khưu đi khất thực rồi dâng cúng những thực phẩm ngon nhất, hảo hạng gọi là gì? – Đây cũng được gọi là thức ăn thượng hạng và hương vị tuyệt hảo, nếu đem so sánh với những người phải duy trì mạng sống bằng thực phẩm mà bản thân mang đến bằng bát đất thông qua việc lượm nhặt.

Attharasassātiādīsu attharaso nāma cattāri sāmaññaphalāni, dhammaraso nāma cattāro maggā, vimuttiraso nāma amatanibbānaṃ. Sesaṃ sabbattha uttānatthamevāti.

Cốt lõi của mục đích, v.v, bốn quả vị của Sa-môn gọi là cốt lõi của mục đích. Bốn Đạo là cốt lõi của Pháp, Bất tử Niết Bàn là cốt lõi của giải thoát. Các từ còn lại ở các đoạn còn lại đơn giản.

Giải thích nhóm thứ tư – được kết thúc

Jambudīpapeyyālo – được kết thúc

[1] Lambakaṇṇakassa (Sī), lambakaṇṇassa (Syā)

[2] Evaṃ dhammova (Syā), evaṃ dhammo ca (Ka)

[3] Cuḷha-upaṭṭhākaṃ (Sī)

[4] Kanthakasālapariveṇe (Sī)

[5] Paññāṇabhūtā (Sī)

[6] Sirīsena (Syā, Ka)

[7] Kadamba: cây hoa gáo (theo tiếng Thái)

[8] Sirīsa: cây keo, cây xiêm gai (Từ điển HT Bửu Chơn)