15. GIẢI THÍCH CHƯƠNG MỘT PHÁP – Phẩm 15-21 – Phẩm Không Hợp Lý
Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương 1 pháp – Phẩm 15-21
1. Giải thích Phẩm thứ nhất
268. Aṭṭhānapāḷiyā aṭṭhānanti hetupaṭikkhepo. Anavakāsoti paccayapaṭikkhepo. Ubhayenāpi kāraṇameva paṭikkhipati. Kāraṇañhi tadāyattavuttitāya attano phalassa ṭhānanti ca avakāsoti ca vuccati. Yanti yena kāraṇena. Diṭṭhisampannoti maggadiṭṭhiyā sampanno sotāpanno ariyasāvako. Tassa hi diṭṭhisampanno itipi, dassanasampanno itipi, āgato imaṃ saddhammaṃ itipi, passati imaṃ saddhammaṃ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato itipi, sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotasamāpanno itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṃ āhacca tiṭṭhati itipiti bahūni nāmāni honti. Kañci saṅkhāranti catubhūmakesu saṅkhatasaṅkhāresu kañci ekaṃ saṅkhārampi. Niccato upagaccheyyāti niccoti gaṇheyya. Netaṃ ṭhānaṃ vijjatīti etaṃ kāraṇaṃ natthi na upalabbhati. Yaṃ puthujjanoti yena kāraṇena puthujjano. Ṭhānametaṃ vijjatīti etaṃ kāraṇaṃ atthi. Sassatadiṭṭhiyā hi so tebhūmakesu saṅkhatasaṅkhāresu kañci saṅkhāraṃ niccato gaṇheyyāti attho. Catutthabhūmakasaṅkhārā pana tejussadattā divasaṃsantatto ayoguḷo viya makkhikānaṃ, diṭṭhiyā vā aññesaṃ vā akusalānaṃ ārammaṇaṃ na honti. Iminā nayena kañci saṅkhāraṃ sukhatotiādīsupi attho veditabbo.
Chánh văn không hợp lý— Không hợp lý: sự phủ định nhân. Không có cơ sở: sự phủ định duyên. Đức Thế Tôn chỉ phủ định nhân, thậm chí (bác bỏ) cả hai. Quả thật, nhân được gọi là ‘ṭhāna’ và là ‘avakāso’ là nơi thiết lập quả của chính nó do có sự vận hành liên quan với quả ấy. Yaṃ: do nhân nào? Vị thành tựu kiến: Vị Thánh đệ tử, là vị Nhập Lưu, vị thành tựu bởi ‘Kiến Đạo’. Thật vậy, đối với vị Nhập Lưu có nhiều tên gọi chẳng hạn như: là vị thành tựu kiến, là vị thành tựu nhận thức, là vị đã đạt đến Chánh Pháp này, là vị thấy Chánh Pháp này, là vị thành tựu về Trí của bậc Hữu Học, là vị thành tựu về Minh của bậc Hữu Học, là vị thành tựu về trí của bậc Hữu Học, là vị đạt đến dòng chảy Giáo Pháp, là vị có tuệ thấu suốt cao thượng, hoặc là vị đứng gần cánh cửa Bất Tử (Niết Bàn). Bất kỳ hành nào: Dù chỉ một hành nào đó ở các hành tạo tác trong bốn cõi. Có thể đi đến gần (tính chất) là thường: Có thể nắm lấy là thường còn. Sự kiện này không xảy ra: Nguyên nhân này là không có, là không được tìm thấy. Hạng phàm nhân nào: là phàm nhân do nguyên nhân nào? Sự kiện này có xảy ra: Nguyên nhân này có tồn tại. Có nghĩa là– Bởi vì, hạng phàm phù ấy có thể nắm lấy ở các hành tạo tác trong ba cõi, một hành nào đó là thường còn bởi ‘Thường Kiến’. Hơn nữa, các hành vận hành trong bốn cõi không là đối tượng của kiến (diṭṭhi) hoặc của pháp bất thiện nào khác giống như cục sắt bị nung nóng trọn ngày không phải là đối tượng của bọn ruồi nhặng v.v, do có sức nóng mạnh. Bất kỳ hành nào là lạc, v.v, cũng nên biết ý nghĩa theo phương thức này.
269. Sukhato upagaccheyyāti ‘‘ekantasukhī attā hoti ārogo parammaraṇā’’ti (dī. ni. 1.76, 79; ma. ni. 3.21, 22) evaṃ attadiṭṭhivasena sukhato gāhaṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. Diṭṭhivippayuttacittena pana ariyasāvako pariḷāhādhibhūto pariḷāhavūpasamatthaṃ mattahatthiparittāsito viya cokkhabrāhmaṇo gūthaṃ kañci saṅkhāraṃ sukhato
Có thể đi đến gần (tính chất) là lạc: Điều này được nói có liên quan đến sự bám víu có tính chất là lạc do tác động của ngã kiến như vầy rằng: “Bản ngã là có thuần lạc, không thay đổi, (có tưởng) sau khi chết.” (dī. ni. 1.76, 79; ma. ni. 3.21, 22); Ngoài ra, vị Thánh đệ tử đã bị sự nóng đốt chi phối, rồi đi đến gần (bám víu) một số hành nào đó có tính chất là lạc để làm dịu sự nóng đốt với tâm bất tương ưng tà kiến, giống như Bà-la-môn Cokkha hoảng sợ trước con voi đang trong kỳ động dục (đã) nắm chặt đống phân.
270. Attavāre kasiṇādipaṇṇattisaṅgahatthaṃ ‘‘saṅkhāra’’nti avatvā kañci dhammanti vuttaṃ. Idhāpi ariyasāvakassa catubhūmakavasena paricchedo veditabbo, puthujjanassa tebhūmakavasena. Sabbavāresu vā ariyasāvakassāpi tebhūmakavaseneva paricchedo vaṭṭati. Yaṃ yaṃ hi puthujjano gaṇhāti, tato tato ariyasāvako gāhaṃ viniveṭheti. Puthujjano hi yaṃ yaṃ niccaṃ sukhaṃ attāti gaṇhāti, taṃ taṃ ariyasāvako aniccaṃ dukkhaṃ anattāti gaṇhanto taṃ gāhaṃ viniveṭheti. Iti imasmiṃ suttattaye puthujjanattaggāhaviniveṭhanaṃ nāma kathitaṃ.
Trong phần ‘tự ngã’, đức Thế Tôn không nói ‘các Hành’ mà nói rằng ‘bất cứ Pháp nào’ là để tổng hợp các pháp chế định như các biến xứ kasiṇa, v.v. Ở đây cũng vậy, nên biết sự xác định đối với vị Thánh đệ tử do tác động các hành vận hành trong bốn cõi, đối với phàm phu do tác động các hành vận hành trong ba cõi. Còn điều khác nữa, trong tất cả các phần việc xác định (phạm vi) đối với các vị Thánh đệ tử do tác động các hành vận hành trong ba cõi cũng hợp lý. Thật vậy, phàm phu nắm giữ Pháp nào, vị Thánh đệ tử tháo gỡ sự nắm giữ từ các Pháp đó. Đúng vậy, phàm phu nắm giữ các Hành nào (cho rằng) là thường, lạc, ngã; (thì) bậc Thánh đệ tử khi nắm giữ các Hành đó (cho rằng) là vô thường, khổ, vô ngã, rồi (vị ấy) tháo gỡ sự nắm giữ ấy. Ở phương thức trong bài Kinh này (câu 152, 154, 155), đức Thế Tôn nói đến việc phân tích sự nắm giữ của phàm phu.
Mātarantiādīsu janikāva mātā, janakova pitā, manussabhūtova khīṇāsavo arahāti adhippeto. Kiṃ pana ariyasāvako aññaṃ jīvitā voropeyyāti? Etampi aṭṭhānaṃ. Sacepi bhavantaragataṃ ariyasāvakaṃ attano ariyasāvakabhāvaṃ ajānantampi koci evaṃ vadeyya ‘‘imaṃ kunthakipillikaṃ jīvitā voropetvā sakalacakkavāḷagabbhe cakkavattirajjaṃ paṭipajjāhī’’ti, neva so taṃ jīvitā voropeyya. Athāpi naṃ evaṃ vadeyyuṃ ‘‘sace imaṃ na ghātessasi, sīsaṃ te chindissāmā’’ti. Sīsamevassa chindeyyuṃ, na ca so taṃ ghāteyya. Puthujjanabhāvassa pana mahāsāvajjabhāvadassanatthaṃ ariyasāvakassa ca balavadīpanatthametaṃ vuttaṃ. Ayañhettha adhippāyo – sāvajjo puthujjanabhāvo, yatra hi nāma puthujjano mātughātādīnipi ānantariyāni karissati. Mahābalo ca ariyasāvako, yo etāni kammāni na karotīti.
Đoạt mạng sống của mẹ, v.v., Ngài có ý đề cập đến– người nữ cho sự sanh ra gọi là mẹ, người đàn ông cho sự sanh ra gọi là cha, và bậc Lậu tận có bản thể nhân loại là bậc A-la-hán. Vậy bậc Thánh đệ tử có thể tước đoạt mạng sống của người khác hay không? Điều này là không hợp lý. Bởi vì, ngay cả một bậc Thánh đệ tử đã đi sang kiếp sống khác, (và) không nhận biết bản thân là bậc Thánh, nếu có ai đó nói như vầy: “Ngươi hãy giết đàn kiến, mối này đi; rồi đảm nhận vai trò Chuyển Luân Vương cai trị phạm vi bên trong của toàn bộ thế giới”, vị ấy cũng không bao giờ giết chết đàn kiến, mối ấy. Thậm chí khi ấy, mọi người có thể nói như vầy: “Nếu ngươi không giết đàn kiến, mối này; chúng tôi sẽ chặt đầu của ngươi,” họ có thể chặt đầu của vị ấy, nhưng vị ấy cũng không bao giờ sát hại đàn kiến, mối ấy. Hơn nữa, điều này được nói nhằm chỉ rõ sự tai hại to lớn của bản thể phàm phu, đồng thời để làm sáng tỏ sức mạnh của bậc Thánh đệ tử. Thật vậy, ở đây điều này có lời giải thích rằng— “Bản thể phàm phu là có lỗi lầm, bởi vì ở chỗ gọi là phàm phu sẽ tạo ra các nghiệp vô gián như giết mẹ, v.v,. Trái lại, bậc Thánh đệ tử có sức mạnh lớn lao, ở chỗ vị ấy không làm những nghiệp ấy.
274. Paduṭṭhacittoti vadhakacittena paduṭṭhacitto. Lohitaṃ uppādeyyāti jīvamānakasarīre khuddakamakkhikāya pivanamattampi lohitaṃ uppādeyya.
Tâm địa ác độc: tâm địa ác độc bởi vị có tâm giết hại. Có thể làm đổ máu: Có thể làm đổ máu – dù chỉ là một lượng rất ít cho một con ruồi nhỏ hút – ở trên thân của Đức Như Lai khi Ngài còn tại thế.
275. Saṅghaṃ bhindeyyāti samānasaṃvāsakaṃ samānasīmāya ṭhitaṃ pañcahi kāraṇehi saṅghaṃ bhindeyya. Vuttampi cetaṃ ‘‘pañcahupāli , ākārehi saṅgho bhijjati – kammena, uddesena, voharanto, anussāvanena, salākaggāhenā’’ti (pari. 458).
Có thể chia rẽ Tăng Chúng: Có thể chia rẽ Tăng Chúng đồng cộng trú, đứng chung ranh giới với năm lý do. Điều này đã được nói đến như sau: “Này Upāli, Tăng Chúng bị chia rẽ với năm biểu hiện: do hành sự, do sự đọc tụng (giới bổn), trong khi phát biểu, do lời tuyên bố, do cách phân phát thẻ biểu quyết.” (Pari. 458).
Tattha kammenāti apalokanādīsu catūsu kammesu aññatarena kammena. Uddesenāti pañcasu pātimokkhuddesesu aññatarena uddesena. Voharantoti kathayanto, tāhi tāhi uppattīhi adhammaṃ dhammotiādīni aṭṭhārasa bhedakaravatthūni dīpento. Anussāvanenāti ‘‘nanu tumhe jānātha mayhaṃ uccākulā pabbajitabhāvaṃ bahussutabhāvañca, mādiso nāma uddhammaṃ ubbinayaṃ satthu sāsanaṃ gāheyyāti cittampi uppādetuṃ na tumhākaṃ yuttaṃ, kiṃ mayhaṃ avīci nīluppalavanaṃ viya sītalā, kiṃ ahaṃ apāyato na bhāyāmī’’tiādinā nayena kaṇṇamūle vacībhedaṃ katvā anussāvanena. Salākaggāhenāti evaṃ anussāvetvā tesaṃ cittaṃ upatthambhetvā anivattidhamme katvā ‘‘gaṇhatha imaṃ salāka’’nti salākaggāhena.
Ở đây– Do hành sự: Do một hành sự nào đó trong số bốn hành sự chẳng hạn như hành sự với lời công bố, v.v. Do việc tụng đọc: Do việc tụng đọc nào đó trong số năm cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi phát biểu: Trong khi nói, giải thích bằng mười tám sự việc gây ra chia rẽ, chẳng hạn như tuyên bố điều Phi pháp là Chánh pháp, v.v., bởi nguyên nhân sanh khởi của vấn đề này vấn đề nọ. Do lời tuyên bố: Thực hiện phát ngôn bằng lời tuyên bố ở sát bên tai theo cách thức sau: “Này quý vị, chẳng lẽ quý vị không biết sao? Tôi xuất gia từ gia tộc thượng lưu, và là bậc đa văn. Các ông không nên khởi tâm nghĩ rằng: Một người như tôi có thể nắm giữ lời dạy không đúng Pháp, không đúng Luật của bậc Đạo Sư ư? Chẳng lẻ địa ngục A-tỳ đối với tôi lại mát mẻ như một khu rừng sen xanh sao? Chẳng lẽ tôi lại không sợ hãi các cõi khổ hay sao?” Do cách phân phát thẻ biểu quyết: Do cách phân phát thẻ biểu quyết, sau khi tuyên bố như vậy đã khiến cho tâm của các vị Tỳ-khưu ấy được kiên cố và đã làm cho họ có Pháp không có sự thoái lui, (rồi nói rằng): “Quý vị hãy nhận lấy thẻ này.”
Ettha ca kammeva uddeso vā pamāṇaṃ, vohārānussāvanasalākaggāhā pana pubbabhāgā. Aṭṭhārasavatthudīpanavasena hi voharantena tattha rucijananatthaṃ anussāvetvā salākāya gahitāyapi abhinnova hoti saṅgho.
Và trong số năm biểu hiện ấy, chỉ có hành sự hoặc việc tụng đọc (giới bổn) mới là yếu tố quyết định; còn lời phát biểu, lời tuyên bố, và việc phân phát thẻ biểu quyết chỉ là những giai đoạn chuẩn bị. Thật vậy, Tăng Chúng gọi là vẫn chưa bị chia rẽ với việc phát biểu để làm sáng tỏ mười tám sự việc (gây ra chia rẽ), tuyên bố nhằm mục đích tạo sự ưa thích ở vấn đề này, cả việc giữ lấy lá phiếu.
Yadā pana evaṃ cattāro vā atirekā vā salākaṃ gahetvā āveṇikaṃ kammaṃ vā uddesaṃ vā karonti, tadā saṅgho bhinno nāma hoti. Evaṃ diṭṭhisampanno puggalo saṅghaṃ bhindeyyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Ettāvatā mātughātādīni pañca ānantariyakammāni dassitāni honti, yāni puthujjano karoti, na ariyasāvako. Tesaṃ āvibhāvatthaṃ –
‘‘Kammato dvārato ceva, kappaṭṭhitiyato tathā;
Pākasādhāraṇādīhi, viññātabbo vinicchayo’’.
Nhưng khi nào có bốn vị Tỳ-khưu hoặc nhiều hơn, sau khi đã nhận thẻ, thực hiện hành sự riêng hoặc việc tụng đọc riêng; khi đó, Tăng Chúng được gọi là đã bị chia rẽ. Một người thành tựu kiến mà lại có thể gây chia rẽ Tăng Chúng, sự kiện này không thể có được!” Với chừng ấy lời, năm nghiệp vô gián như giết mẹ, v.v., là có xảy ra; hạng phàm phu thực hiện nghiệp nào (trong năm nghiệp vô gián), còn bậc Thánh đệ tử thì không. Để làm sáng tỏ năm nghiệp vô gián ấy—
Sự phân định cần phải được hiểu rõ:
Theo phương diện hành sự,
Theo phương diện Môn [thân, khẩu, ý],
Do việc tồn tại suốt một kiếp,
Và theo các khía cạnh như quả báo chung, v.v.
Tattha kammato tāva – ettha hi manussabhūtasseva manussabhūtaṃ mātaraṃ vā pitaraṃ vā api parivattaliṅgaṃ jīvitā voropentassa kammaṃ ānantariyaṃ hoti, tassa vipākaṃ paṭibāhissāmīti vvmahācetiyappamāṇehipi kañcanathūpehi pūretvāpi sakalacakkavāḷaṃ pūretvā nisinnassa bhikkhusaṅghassa mahādānaṃ datvāpi buddhassa bhagavato saṅghāṭikaṇṇaṃ amuñcanto vicaritvāpi kāyassa bhedā nirayameva upapajjati. Yo pana sayaṃ manusso tiracchānabhūtaṃ mātaraṃ vā pitaraṃ vā, sayaṃ vā tiracchānabhūto manussabhūtaṃ, tiracchānabhūtoyeva vā tiracchānabhūtaṃ jīvitā voropeti, tassa kammaṃ ānantariyaṃ na hoti, bhāriyaṃ pana hoti, ānantariyaṃ āhacceva tiṭṭhati. Manussajātikānaṃva pana vasena ayaṃ pañho kathito.
Trong số các nguyên nhân ấy, trước hết, theo phương diện hành sự– Ở đây, chỉ ở bản thể loài người, khi tước đoạt mạng sống của mẹ hoặc cha cũng là bản thể loài người– dẫu cho người đó đã thay đổi giới tính (parivattaliṅgaṃ) – thì hành sự (nghiệp) đó trở thành nghiệp vô gián. Người đã tạo nghiệp nghĩ rằng: “Ta sẽ ngăn chặn quả báo của nghiệp ấy” rồi cho xây dựng các bảo tháp bằng vàng có kích thước bằng ngôi Đại bảo điện lắp đầy toàn bộ thế giới; cúng dường lễ đại thí đến Tăng Chúng ngồi chật ních toàn bộ thế giới; Hoặc thậm chí theo không rời chéo y Tăng-già-lê của Đức Thế Tôn, vào lúc tan rã thân xác (chết đi) người ấy chắc chắn tái sinh vào địa ngục. Còn người nào bản thân là loài người mà tước đoạt mạng sống của mẹ hoặc cha là loài bàng sanh; hoặc bản thân là loài bàn sanh mà tước đoạt mạng sống của mẹ hoặc cha là người; hoặc cả hai đều là loài bàng sanh mà tước đoạt mạng sống của nhau, thì nghiệp của người đó không phải là nghiệp Vô gián. Tuy nhiên, nó vẫn là một trọng nghiệp, có sức nặng chỉ đứng ngay sau nghiệp vô gián. Vấn đề này được trình bày dựa trên trường hợp của những chúng sanh thuộc loài người.
Tattha eḷakacatukkaṃ, saṅgāmacatukkaṃ, coracatukkañca kathetabbaṃ. Eḷakaṃ māressāmīti abhisandhināpi hi eḷakaṭṭhāne ṭhitaṃ manusso manussabhūtaṃ mātaraṃ vā pitaraṃ vā mārento ānantariyaṃ phusati. Eḷakābhisandhinā mātāpitiabhisandhinā vā eḷakaṃ mārento ānantariyaṃ na phusati, mātāpitiabhisandhinā mātāpitaro mārento phusateva. Esa nayo itarasmimpi catukkadvaye. Yathā ca mātāpitūsu, evaṃ arahantepi etāni catukkāni veditabbāni . Manussaarahantameva ca māretvā ānantariyaṃ phusati, na yakkhabhūtaṃ. Kammaṃ pana bhāriyaṃ, ānantariyasadisameva. Manussaarahantassa ca puthujjanakāleyeva satthappahāre vā vise vā dinnepi yadi so arahattaṃ patvā teneva marati, arahantaghātako hotiyeva. Yaṃ pana puthujjanakāle dinnaṃ dānaṃ arahattaṃ patvā paribhuñjati, puthujjanasseva taṃ dinnaṃ hoti. Sesaariyapuggale mārentassa ānantariyaṃ natthi, kammaṃ pana bhāriyaṃ, ānantariyasadisameva.
Trong vấn đề này, cần phải bàn đến ‘nhóm bốn về con dê’, ‘nhóm bốn về chiến trận’, và ‘nhóm bốn về tên trộm’. [Ví dụ nhóm bốn về con dê]: Một người giết mẹ hoặc cha của mình (vốn là người) đang đứng ở vị trí của một con dê, ngay cả khi với ý định là ‘ta sẽ giết con dê’, thì vẫn phạm phải nghiệp vô gián. Ngược lại, nếu người đó giết một con dê, dù với ý định giết dê hay nhầm tưởng đó là cha mẹ mình, thì không phạm nghiệp vô gián. Còn khi giết cha mẹ với đúng ý định là giết cha mẹ, thì chắc chắn phạm tội. Cách phân tích tương tự cũng được áp dụng cho hai nhóm bốn còn lại [về chiến trận và tên trộm]. Và nên biết rằng, những nhóm bốn này cũng được áp dụng tương tự đối với trường hợp sát hại một vị A-la-hán. Chỉ khi giết một vị A-la-hán là người mới phạm nghiệp vô gián, chứ không phải [A-la-hán] thuộc loài Dạ-xoa. Tuy nhiên, nghiệp đó vẫn là một trọng nghiệp (bhāriyaṃ), có sức nặng tương đương nghiệp vô gián. Đối với một vị A-la-hán là người, ngay cả khi người khác ra tay sát hại (bằng vũ khí hoặc thuốc độc) vào lúc vị ấy vẫn còn là phàm phu, nhưng nếu sau đó vị ấy chứng quả A-la-hán rồi mới chết vì vết thương đó, thì hành động ấy vẫn cấu thành tội giết A-la-hán. Ngược lại, vật thí mà một người cúng dường khi vị ấy còn là phàm phu, dù sau đó vị ấy chứng quả A-la-hán rồi mới thọ dụng, thì phước báu vẫn chỉ được tính là cúng dường cho một phàm phu. Việc sát hại các bậc Thánh khác [như Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm] không phải là nghiệp vô gián. Tuy nhiên, đó vẫn là một trọng nghiệp, có sức nặng tương đương nghiệp vô gián.
Lohituppāde tathāgatassa abhejjakāyatāya parūpakkamena cammacchedaṃ katvā lohitapaggharaṇaṃ nāma natthi, sarīrassa pana antoyeva ekasmiṃ ṭhāne lohitaṃ samosarati. Devadattena paviddhasilato bhijjitvā gatā sakalikāpi tathāgatassa pādantaṃ pahari, pharasunā pahaṭo viya pādo antolohitoyeva ahosi. Tathā karontassa ānantariyaṃ hoti. Jīvako pana tathāgatassa ruciyā satthakena cammaṃ chinditvā tamhā ṭhānā duṭṭhalohitaṃ nīharitvā phāsukamakāsi. Tathā karontassa puññakammameva hoti.
Đối với tội làm chảy máu thân Phật, do thân thể của Như Lai là bất khả xâm phạm, nên không thể có chuyện một người dùng tác động từ bên ngoài làm rách da và khiến máu chảy ra. Thay vào đó, máu chỉ tụ lại tại một điểm ở bên trong thân thể. Ngay cả mảnh đá vỡ ra từ tảng đá do Devadatta lăn xuống cũng chỉ làm tổn thương mu bàn chân của Như Lai; bàn chân của Ngài chỉ bị bầm máu ở bên trong, giống như bị rìu sắc đánh phải. Hành động như vậy của Devadatta đã cấu thành nghiệp vô gián. Ngược lại, khi y sĩ Jīvaka, với sự đồng ý của Như Lai, dùng dao phẫu thuật rạch da để lấy máu độc ra, làm cho Ngài được an ổn, thì hành động đó chỉ là việc làm phước thiện.
Atha ye parinibbute tathāgate cetiyaṃ bhindanti, bodhiṃ chindanti, dhātumhi upakkamanti, tesaṃ kiṃ hotīti? Bhāriyaṃ kammaṃ hoti, ānantariyasadisaṃ. Sadhātukaṃ pana thūpaṃ vā paṭimaṃ vā bādhayamānaṃ bodhisākhaṃ chindituṃ vaṭṭati. Sacepi tattha nilīnā sakuṇā cetiye vaccaṃ pātenti, chindituṃ vaṭṭatiyeva. Paribhogacetiyato hi sarīracetiyaṃ mahantataraṃ. Cetiyavatthuṃ bhinditvā gacchantaṃ bodhimūlampi chinditvā harituṃ vaṭṭati. Yā pana bodhisākhā bodhigharaṃ bādhati, taṃ geharakkhaṇatthaṃ chindituṃ na labhati. Bodhiatthañhi gehaṃ, na gehatthāya bodhi. Āsanagharepi eseva nayo. Yasmiṃ pana āsanaghare dhātu nihitā hoti, tassa rakkhaṇatthāya bodhisākhaṃ chindituṃ vaṭṭati. Bodhijagganatthaṃ ojāharaṇasākhaṃ vā pūtisākhaṃ vā chindituṃ vaṭṭatiyeva, sarīrapaṭijaggane viya puññampi hoti.
Hỏi– Vậy, đối với những người phá hủy bảo tháp, chặt cây Bồ-đề, hoặc xâm hại Xá-lợi sau khi Như Lai đã nhập Niết-bàn, họ sẽ phạm nghiệp gì? Đáp – Đó là một trọng nghiệp, có sức nặng tương đương nghiệp Vô gián. Tuy nhiên, có những quy định cụ thể: Được phép cắt tỉa một nhánh cây Bồ-đề nếu nó đang gây hại cho một bảo tháp chứa Xá-lợi (sadhātukaṃ thūpaṃ) hoặc một pho tượng Phật. Cũng được phép chặt [nhánh cây] nếu chim chóc đậu trên đó và phóng uế xuống bảo tháp. Lý do là vì Bảo tháp Xá-lợi thì quan trọng hơn Bảo tháp vật dụng (paribhogacetiya, bao gồm cả cây Bồ-đề). Được phép cắt bỏ cả rễ cây Bồ-đề nếu nó mọc lan ra và làm nứt vỡ nền móng của bảo tháp. Ngược lại, có những điều không được phép: Nếu một nhánh cây Bồ-đề làm hư hại ngôi nhà Bồ-đề, thì không được phép cắt nhánh cây đó để bảo vệ ngôi nhà. Lý do là: ngôi nhà được xây dựng vì cây Bồ-đề, chứ cây Bồ-đề không tồn tại vì ngôi nhà. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho nhà thờ phụng bảo tọa. Tuy nhiên, có một ngoại lệ: Nếu bên trong ngôi nhà thờ phụng bảo tọa đó có tôn trí Xá-lợi, thì được phép cắt nhánh cây Bồ-đề để bảo vệ ngôi nhà ấy (vì lúc này là bảo vệ Xá-lợi). Để chăm sóc cây Bồ-đề, được phép cắt tỉa những nhánh hút nhựa hoặc những chỗ bị mục nát. Hành động này còn sinh ra phước báu, tương tự như việc chăm sóc kim thân của Đức Thế Tôn khi Ngài còn tại thế.
Saṅghabhedepi sīmaṭṭhakasaṅghe asannipatite visuṃ parisaṃ gahetvā katavohārānussāvanasalākaggāhassa kammaṃ vā karontassa uddesaṃ vā uddisantassa bhedo ca hoti ānantariyakammañca. Samaggasaññāya pana vaṭṭatīti saññāya vā karontassa bhedova hoti, na ānantariyakammaṃ. Tathā navato ūnaparisāya. Sabbantimena paricchedena navannaṃ janānaṃ yo saṅghaṃ bhindati, tassa ānantariyakammaṃ hoti. Tassa anuvattakānaṃ adhammavādīnaṃ mahāsāvajjakammaṃ, dhammavādino pana anavajjā. Tattha navannameva saṅghabhede idaṃ suttaṃ – ‘‘ekato, upāli, cattāro honti, ekato cattāro, navamo anussāveti, salākaṃ gāheti ‘ayaṃ dhammo ayaṃ vinayo idaṃ satthu sāsanaṃ, imaṃ gaṇhatha, imaṃ rocethā’ti. Evaṃ kho, upāli, saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo ca. Navannaṃ vā , upāli, atirekanavannaṃ vā saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo cā’’ti (cūḷava. 351). Etesu ca pana pañcasu saṅghabhedo vacīkammaṃ, sesāni kāyakammānīti evaṃ kammato viññātabbo vinicchayo.
Khi Tăng chúng trong cùng một giới trường chưa hội họp, một người [chủ mưu] tập hợp một nhóm riêng (visuṃ parisaṃ), sau khi thực hiện các hành vi phát biểu, tuyên bố và phát thẻ biểu quyết, tiến hành một hành sự riêng hoặc một buổi tụng đọc [Giới bổn] riêng, thì khi ấy, cả sự chia rẽ và nghiệp vô gián (ānantariyakamma) đều được thành lập.
Tuy nhiên, có các trường hợp ngoại lệ:
– Nếu một người thực hiện [hành sự riêng] bởi lầm tưởng rằng Tăng Chúng vẫn hòa hợp (samaggasaññāya), thì hành động đó chỉ cấu thành sự chia rẽ, chứ không phải nghiệp vô gián.
– Tương tự, nếu [hành động ly khai] được thực hiện với một nhóm có ít hơn chín vị, thì đó cũng chỉ là sự chia rẽ, không phải nghiệp vô gián.
Theo định nghĩa tối thiểu, chỉ người chủ mưu chia rẽ một Tăng Chúng có từ chín vị trở lên mới phạm vào nghiệp vô gián, những vị nói sai Pháp (adhammavādī) thì phạm vào trọng tội (mahāsāvajjakammaṃ), còn những vị nói đúng Pháp (dhammavādino) thì vô tội. Trong việc chia rẽ Hội chúng cả 9 vị ấy thì bài Kinh này là chứng cứ – “Này Upāli, một bên có bốn vị, một bên có bốn vị, và người thứ chín là người xúi giục và phát thẻ, tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy điều này, hãy tán thành điều này.’ Này Upāli, như vậy là có sự rạn nứt trong Tăng Chúng (saṅgharāji) và có cả sự chia rẽ Tăng Chúng (saṅghabhedo). Này Upāli, sự rạn nứt và sự chia rẽ Tăng Chúng xảy ra với một nhóm có chín vị hoặc hơn chín vị.” (Cūḷavagga, 351). Hơn nữa trong số 5 vô gián nghiệp ấy thì chia rẽ tăng chúng là khẩu nghiệp, còn lại là thân nghiệp. Việc phân tích theo phương diện hành sự (kammato) nên được hiểu như vậy.
Dvāratoti sabbāneva cetāni kāyadvāratopi vacīdvāratopi samuṭṭhahanti. Purimāni panettha cattāri āṇattikavijjāmayappayogavasena vacīdvārato samuṭṭhahitvāpi kāyadvārameva pūrenti, saṅghabhedo hatthamuddhāya bhedaṃ karontassa kāyadvārato samuṭṭhahitvāpi vacīdvārameva pūretīti evamettha dvāratopi viññātabbo vinicchayo.
Xét về phương diện Môn (dvāra): Tất cả những nghiệp này đều có nguồn sanh tội từ thân môn và cả khẩu môn.
- Hơn nữa, ở đây bốn nghiệp đầu (giết cha, mẹ, A-la-hán, làm Phật chảy máu): Các nghiệp này có nguồn sanh tội từ khẩu môn bằng việc ra lệnh cho người khác giết, hoặc dùng thần chú để sát hại, cũng làm cho thân môn được đầy đủ.
- Chia rẽ Tăng Chúng dù có nguồn sanh tội từ thân môn trong khi thực hiện việc chia rẽ bằng việc giơ tay (biểu quyết), cũng làm cho ý môn được đầy đủ.
Ở đây, việc phân tích theo phương diện “môn” nên được hiểu như vậy.
Kappaṭṭhitiyatoti saṅghabhedoyeva cettha kappaṭṭhitiyo. Saṇṭhahante hi kappe vā kappavemajjhe vā saṅghabhedaṃ katvā kappavināseyeva muccati. Sacepi hi ‘sve kappo vinassissatī’’ti ajja saṅghabhedaṃ karoti, sveva muccati, ekadivasameva niraye paccati. Evaṃ karaṇaṃ pana natthi. Sesāni cattāri kammāni ānantariyāneva honti, na kappaṭṭhitiyānīti evamettha kappaṭṭhitiyatopi viññātabbo vinicchayo.
Xét về phương diện nghiệp tồn tại suốt kiếp: Trong năm nghiệp này, chỉ có tội chia rẽ Tăng Chúng là có quả báo kéo dài suốt một kiếp. Thật vậy, một người gây chia rẽ Tăng Chúng vào lúc kiếp đang an trụ hoặc giữa kiếp, thì sẽ chỉ thoát khỏi [cảnh khổ ở địa ngục A-tỳ] vào đúng lúc kiếp đó hoại diệt.
- Thậm chí, nếu một người gây chia rẽ Tăng Chúng vào hôm nay, với suy nghĩ rằng ‘ngày mai kiếp sẽ hoại diệt’, thì người ấy cũng sẽ được giải thoát vào ngày mai. Người đó phải chịu khổ trong địa ngục chi trong một ngày.
Tuy nhiên, một trường hợp [hy hữu] như vậy không bao giờ xảy ra. Bốn nghiệp còn lại chỉ là nghiệp vô gián, chứ không phải là nghiệp tồn tại suốt kiếp (kappaṭṭhitiya). Ở đây, nên được hiểu việc phân tích ‘nghiệp tồn tại suốt kiếp’ như vậy.
Pākatoti yena ca pañcapetāni kammāni katāni honti, tassa saṅghabhedoyeva paṭisandhivasena vipaccati, sesāni ‘‘ahosikammaṃ nāhosi kammavipāko’’ti evamādīsu saṅkhaṃ gacchanti. Saṅghabhedābhāve lohituppādo, tadabhāve arahantaghāto, tadabhāve sace pitā sīlavā hoti, mātā dussīlā, no vā tathā sīlavatī, pitughāto paṭisandhivasena vipaccati. Sace mātā sīlavatī, mātughāto. Dvīsupi sīlena vā dussīlena vā samānesu mātughātova paṭisandhivasena vipaccati. Mātā hi dukkarakārinī bahūpakārā ca puttānanti. Evamettha pākatopi viññātabbo vinicchayo.
Xét về phương diện thứ tự trổ quả: Hạng người nào phạm cả năm nghiệp vô gián này, thì chỉ có nghiệp chia rẽ Tăng Chúng trổ quả cho hạng người ấy do mãnh lực sự tái sanh. Các nghiệp còn lại được xem là (nghiệp) được bắt đầu như vầy: “Có nghiệp (quá khứ) không có kết quả của nghiệp (quá khứ).” Khi tội chia rẽ Tăng Chúng không có, (thì) tội làm chảy máu thân Phật sẽ trổ quả. Khi tội làm chảy máu thân Phật, (thì) tội giết A-la-hán sẽ trổ quả. Khi tội giết A-ra-hán không có, và nếu người cha có giới hạnh và người mẹ có giới tồi hoặc không có như người cha ấy, (thì) tội giết cha sẽ trổ quả do mãnh lực sự tái sanh. (Ngược lại,) nếu người mẹ có giới hạnh, (thì) tội giết mẹ sẽ trổ quả. Nếu cả cha và mẹ có giới hạnh ngang bằng nhau, hoặc có giới tồi, (thì) tội giết mẹ sẽ trổ quả do mãnh lực sự tái sinh. Bởi vì, người mẹ là người đã làm những điều khó làm (dukkarakārinī) và là người có nhiều sự giúp đỡ đối với con cái. Ở đây, nên biết việc phân tích theo phương diện thứ tự trổ quả như vậy.
Sādhāraṇādīhīti purimāni cattāri sabbesampi gahaṭṭhapabbajitānaṃ sādhāraṇāni. Saṅghabhedo pana ‘‘na kho, upāli bhikkhunī, saṅghaṃ bhindati, na sikkhamānā, na sāmaṇero, na sāmaṇerī , na upāsako, na upāsikā saṅghaṃ bhindati. Bhikkhu kho, upāli, pakatatto samānasaṃvāsako samānasīmāyaṃ ṭhito saṅghaṃ bhindatī’’ti (cūḷava. 351) vacanato vuttappakārassa bhikkhunova hoti, na aññassa, tasmā asādhāraṇo. Ādisaddena sabbepete dukkhavedanāya sahagatā dosamohasampayuttā cāti evamettha sādhāraṇādīhipi viññātabbo vinicchayo.
Xét về theo các khía cạnh như quả báo chung (tính phổ biến): Bốn nghiệp đầu tiên (giết cha, mẹ, A-la-hán, làm Phật chảy máu) là nghiệp phổ biến (sādhāraṇa), tức là chung cho tất cả mọi người, từ tại gia đến xuất gia. Hơn nữa, tội chia rẽ Tăng Chúng chỉ riêng cho Tỳ-khưu theo cách thức đã được nói, chớ không xảy ra đối với những người khác, theo lời nói rằng:
“Này Upālī, Tỳ-khưu-ni không chia rẽ hội chúng, cô ni tập sự không chia rẽ hội chúng, Sa-di không chia rẽ hội chúng, Sa-di ni không chia rẽ hội chúng, nam cư sĩ không chia rẽ hội chúng, nữ cư sĩ không chia rẽ hội chúng. Này Upāli, vị Tỳ-khưu-ni bình thường là vị có sự đồng cộng trú, đứng chung ranh giới có thể chia rẽ Hội Chúng.” (cūḷava. 351).
Do đó, tội chia rẽ Tăng Chúng là nghiệp không phổ biến (asādhāraṇa). Với từ ‘vân vân,’ tất cả những người ấy là người câu hành với thọ khổ, đồng thời tương ưng với sân và tương ưng với si. Ở đây, nên biết việc phân tích theo tính phổ biến như vậy.
- Aññaṃsatthāranti ‘‘ayaṃ me satthā satthu kiccaṃ kātuṃ asamattho’’ti bhavantarepi aññaṃ titthakaraṃ ‘ayaṃ me satthā’’ti evaṃ gaṇheyya, netaṃ ṭhānaṃ vijjatīti attho.
Bậc Đạo Sư khác: Một người suy nghĩ rằng: “Bậc Đạo Sư của tôi đây không thể làm tròn phận sự của bậc Đạo Sư” có thể chấp nhận một giáo chủ khác như vầy rằng: ‘Vị này là Đạo sư của chúng ta.’” Có nghĩa là— Sự kiện này không xảy ra. - Ekissā lokadhātuyāti dasasahassilokadhātuyā. Tīṇi hi khettāni jātikhettaṃ, āṇākhettaṃ visayakhettanti. Tattha jātikhettaṃ nāma dasasahassī lokadhātu. Sā hi tathāgatassa mātukucchismiṃ okkamanakāle nikkhamanakāle sambodhikāle dhammacakkappavattane āyusaṅkhāravossajjane parinibbāne ca kampati. Koṭisatasahassacakkavāḷaṃ pana āṇākhettaṃ nāma. Āṭānāṭiyaparittamoraparittadhajaggaparittaratanaparittādīnañhi ettha āṇā pavattati. Visayakhettassa pana parimāṇaṃ natthi. Buddhānañhi ‘‘yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ ñeyyaṃ, yāvatakaṃ ñeyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, ñāṇapariyantikaṃ ñeyyaṃ, ñeyyapariyantikaṃ ñāṇa’’nti (mahāni. 69; cūḷani. mogharājamāṇavapucchāniddeso 85; paṭi. ma. 3.5) vacanato avisayo nāma natthi.
Ở một thế giới: Trong mười ngàn thế giới. Thật vậy, có ba loại lãnh vực (khetta): Lãnh vực Sanh thành (jātikhetta), Lãnh vực Uy quyền (āṇākhetta), và Lãnh vực Trí tuệ (visayakhetta). Trong ba lãnh vực ấy— Mười ngàn thế giới gọi là lãnh vực Sanh thành. Thật vậy, mười ngàn thế giới ấy rung chuyển vào lúc Đức Như Lai nhập vào mẫu thai, vào lúc thực hiện cuộc ra đi (xuất gia), vào lúc Ngài đạt đến quả vị Toàn Giác, trong lúc chuyển vận bánh xe Pháp, khi Ngài buông bỏ thọ hành, và khi Ngài nhập viên tịch Niết-bàn. Hơn nữa, một trăm ngàn koṭi thế giới (cakkavāḷa) gọi là lãnh vực Uy quyền. Bởi vì, Uy lực của các bài kinh hộ trì như Āṭānāṭiya Paritta, Mora Paritta (Kinh Chim Công), Dhajagga Paritta (Kinh Ngọn Cờ), Ratana Paritta (Kinh Châu Báu)… lan tỏa khắp một trăm ngàn koṭi thế giới ấy. Ngoài ra, lãnh vực Trí tuệ: là không thể ước lượng. Thật vậy, không có gì nằm ngoài phạm vi đối tượng của (trí tuệ) chư Phật, như đã được nói trong kinh văn: “Trí là chừng nào thì điều có thể biết là chừng ấy; Điều có thể biết là chừng nào thì trí là chừng ấy. Điều có thể biết có trí là giới hạn, trí có điều có thể biết là giới hạn,” (mahāni. 69; cūḷani. mogharājamāṇavapucchāniddeso 85; paṭi. ma. 3.5).
Imesu pana tīsu khettesu ṭhapetvā imaṃ cakkavāḷaṃ aññasmiṃ cakkavāḷe buddhā uppajjantīti suttaṃ natthi, na uppajjantīti pana atthi. Tīṇi hi piṭakāni – vinayapiṭakaṃ, suttantapiṭakaṃ, abhidhammapiṭakaṃ. Tisso saṅgītiyo – mahākassapattherassa saṅgīti, yasattherassa saṅgīti, moggaliputtattherassa saṅgīti. Imā tisso saṅgītiyo āruḷhe tepiṭake buddhavacane imaṃ cakkavāḷaṃ muñcitvā aññattha buddhā uppajjantīti suttaṃ natthi, na uppajjantīti pana atthi.
Hơn nữa, trong số ba lãnh vực này, không có một bài kinh nào nói rằng: “Chư Phật hiện khởi ở một thế giới khác ngoài thế giới này. Nhưng có kinh văn khẳng định rằng: ‘Các Ngài không hiện khởi ở thế giới khác.’” Thật vậy, trong Tam Tạng—Tạng Luật, Tạng Kinh, và Tạng Abhidhamma. Có ba kỳ kiết tập— Kỳ kiết tập của Trưởng lão Mahākassapa, kỳ kiết tập của Trưởng lão Yasa, và kỳ kiết tập của Trưởng lão Moggaliputtatissa. Trong Phật ngôn là Tam Tạng được đưa vào cả ba kỳ kiết tập cũng không hề có một bài kinh nào nói rằng: “Vượt ngoài thế giới này, thì chư Phật hiện khởi ở một thế giới khác.” Nhưng có kinh văn khẳng định rằng: “Các Ngài không hiện khởi ở thế giới khác.”
Apubbaṃ acarimanti apure apacchā, ekato na uppajjanti. Pure vā pacchā vā uppajjantīti vuttaṃ hoti. Tattha bodhipallaṅke ‘‘bodhiṃ appatvā na uṭṭhahissāmī’’ti nisinnakālato paṭṭhāya yāva mātukucchismiṃ paṭisandhiggahaṇaṃ, tāva pubbeti na veditabbaṃ. Bodhisattassa hi paṭisandhikkhaṇe dasasahassacakkavāḷakampaneneva khettapariggaho kato, etthantare aññassa buddhassa uppatti nivāritāva hoti. Parinibbānato paṭṭhāya yāva sāsapamattāpi dhātu tiṭṭhati, tāva pacchāti na veditabbaṃ. Dhātūsu hi ṭhitāsu buddhā ṭhitāva honti. Tasmā etthantare aññassa buddhassa uppatti nivāritāva hoti. Dhātuparinibbāne pana jāte aññassa buddhassa uppatti na nivāritā.
Đồng thời (không trước không sau): (hai vị Phật) không xuất hiện đồng thời, không trước không sau. Điều này đã được nói rằng: không xuất hiện trước hoặc sau. Ở đó, kể từ lúc Bồ-tát ngồi ở bảo tọa Bồ-đề với lời đại nguyện: “Không đạt đến sự giác ngộ ta sẽ không đứng dậy,” cho đến khi nào (Bồ-tát) chấp nhận sự tiếp nối (tái sanh) trong bụng, cho đến khi ấy không nên được hiểu là ‘thời gian trước’. Thật vậy, vào lúc tục sanh của Bồ-tát việc xác lập phạm vi đã được thực hiện chỉ với việc mười ngàn thế giới rúng động, và trong khoảng thời gian này là ngăn chặn việc xuất hiện của vị Phật khác. Kể từ khi vô dư Niết Bàn, cho đến khi nào Xá-lợi chỉ bằng hạt cả còn tồn tại, cho đến khi ấy không nên được hiểu là ‘thời gian sau’. Bởi vì, khi các Xá-lợi còn tồn tại, thì chư Phật gọi là vẫn còn hiện hữu. Do đó, trong khoảng thời gian này, sự xuất hiện của vị Phật khác bị ngăn chặn. Nhưng khi Xá-lợi-hoàn-toàn-biến-mất thì sự xuất hiện của một vị Phật khác mới không còn bị ngăn chặn nữa.
Kasmā pana apubbaṃ acarimaṃ na uppajjantīti? Anacchariyattā. Buddhā hi acchariyamanussā. Yathāha – ‘‘ekapuggalo, bhikkhave, loke uppajjamāno uppajjati acchariyamanusso. Katamo ekapuggalo? Tathāgato arahaṃ sammāsambuddho’’ti (a. ni. 1.172). Yadi ca dve vā cattāro vā aṭṭha vā soḷasa vā ekato uppajjeyyuṃ, anacchariyā bhaveyyuṃ. Ekasmiñhi vihāre dvinnaṃ cetiyānampi lābhasakkāro uḷārā na honti, bhikkhūpi bahutāya anacchariyā jātā, evaṃ buddhāpi bhaveyyuṃ. Tasmā na uppajjanti.
Vậy tại sao (chư Phật) không sanh lên (đồng thời) không trước không sau? Bởi vì điều đó không còn kỳ diệu. Bởi chư Phật là những bậc phi thường. Như Ngài đã nói rằng– “Một người, này các Tỳ khưu, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người phi thường. Một người ấy là ai? Chính là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.” (a. ni. 1.171-174); Và nếu như chư Phật có thể sanh lên cùng lúc – hai vị, bốn vị, tám vị, mười sáu vị, thì (điều đó) sẽ trở thành (nhân vật) không còn phi thường nữa. Thật vậy, ngay cả hai ngôi Bảo điện trong cùng một tự viện, lợi lộc và sự cung kính là không cao quý, và các vị Tỳ-khưu cũng không phi thường bởi có rất nhiều, ngay cả chư Phật cũng trở thành như vậy. Chính vì lý do đó, (chư Phật) không sanh lên (đồng thời).
Desanāya ca visesābhāvato. Yañhi satipaṭṭhānādikaṃ dhammaṃ eko deseti, aññena uppajjitvāpi sova dhammo desetabbo siyā. Tato anacchariyo siyā. Ekasmiṃ pana dhammaṃ desente desanāpi acchariyāva hoti.
Ngoài ra, (chư Phật không xuất hiện đồng thời) vì sự thuyết giảng không có khác biệt. Thật vậy, một vị Phật thuyết pháp nào được phân chia theo thể loại có sự thiết lập niệm v.v, thì ngay khi một vị Phật khác xuất hiện chính chính pháp ấy cũng có thể thuyết giảng tương tự. Vì thế, điều đó không còn là phi thường. Nhưng chỉ khi có một vị thuyết pháp thì chính pháp thoại (ấy) cũng trở nên phi thường.
Vivādabhāvato ca. Bahūsu ca buddhesu uppannesu bahūnaṃ ācariyānaṃ antevāsikā viya ‘‘amhākaṃ buddho pāsādiko, amhākaṃ buddho madhurassaro lābhī puññavā’’ti vivadeyyuṃ, tasmāpi evaṃ na uppajjanti.
Bên cạnh đó, (chư Phật không xuất hiện đồng thời) để tránh sự tranh luận. Thật vậy, khi nhiều vị Phật sanh lên đồng thời thì các Tỳ-khưu có thể tranh luận với nhau rằng: “Đức Phật của chúng ta thật đáng tịnh tín, đức Phật của chúng ta có giọng nói ngọt ngào, có lợi đắc, và có nhiều phước báu!” (Điều này) cũng giống như các học trò của nhiều vị thầy. Vì lý do ấy (chư Phật) không sanh lên đồng thời.
Apicetaṃ kāraṇaṃ milindaraññā puṭṭhena nāgasenattherena vitthāritameva. Vuttañhi tattha (mi. pa. 5.1.1) –
Cho nên, khi đại đức Nāgasena bị đức vua Milinda hỏi, Ngài đã giải thích cặn kẽ về vấn đề này. Bởi vì việc ấy đã được đề cập (mi. pa. 5.1.1) —
‘‘Bhante, nāgasena, bhāsitampi hetaṃ bhagavatā – ‘aṭṭhānametaṃ, bhikkhave, anavakāso, yaṃ ekissā lokadhātuyā dve arahanto sammāsambuddhā apubbaṃ acarimaṃ uppajjeyyuṃ , netaṃ ṭhānaṃ vijjatī’ti. Desentā ca, bhante nāgasena, sabbepi tathāgatā sattatiṃsa bodhipakkhiyadhamme desenti, kathayamānā ca cattāri ariyasaccāni kathenti, sikkhāpentā ca tīsu sikkhāsu sikkhāpenti, anusāsamānā ca appamādapaṭipattiyaṃ anusāsanti. Yadi, bhante nāgasena, sabbesampi tathāgatānaṃ eko uddeso ekā kathā ekā sikkhā ekā anusiṭṭhi, kena kāraṇena dve tathāgatā ekakkhaṇe na uppajjanti. Ekenapi tāva buddhuppādena ayaṃ loko obhāsajāto, yadi dutiyopi buddho bhaveyya, dvinnaṃ pabhāya ayaṃ loko bhiyyosomattāya obhāsajāto bhaveyya. Ovadamānā ca dve tathāgatā sukhaṃ ovadeyyuṃ, anusāsamānā ca sukhaṃ anusāseyyuṃ. Tattha me kāraṇaṃ desehi, yathāhaṃ nissaṃsayo bhaveyyanti’’.
Đức vua Milinda hỏi: “Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, điều này là không hợp lý và không có cơ sở, là việc hai bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác có thể sanh lên không trước không sau trong cùng một thế giới, sự kiện này không xảy ra’ Thưa ngài Nāgasena, trong khi thuyết giảng tất cả các đức Như Lai đều thuyết giảng ba mươi bảy Pháp trợ phần giác ngộ, trong khi giảng giải đều giảng giải bốn Chân Lý cao thượng, trong khi huấn luyện đều huấn luyện về ba sự học tập, trong khi chỉ dạy đều chỉ dạy sự thực hành về không xao lãng. Thưa ngài Nāgasena, nếu tất cả các đức Như Lai đều có sự thuyết giảng thống nhất, sự giảng giải thống nhất, sự huấn luyện thống nhất, sự chỉ dạy thống nhất, vì lý do gì hai đức Như Lai không sanh lên trong cùng một thời điểm? Bởi vì với việc sanh lên của vị Phật dù chỉ một vị thế gian này được phát sáng, nếu có thêm vị Phật thứ nhì, với hai luồng ánh sáng thế gian này có thể được phát sáng nhiều hơn thế nữa. Và hai đức Như Lai, trong khi giáo giới có thể giáo giới một cách thoải mái, trong khi chỉ dạy, có thể chỉ dạy một cách thoải mái. Về việc này, xin đại đức hãy nói cho trẫm lý do, để trẫm có thể dứt khỏi sự nghi ngờ.”
‘‘Ayaṃ, mahārāja, dasasahassī lokadhātu ekabuddhadhāraṇī, ekasseva tathāgatassa guṇaṃ dhāreti. Yadi dutiyo buddho uppajjeyya, nāyaṃ dasasahassī lokadhātu dhāreyya, caleyya kampeyya nameyya onameyya vinameyya vikireyya vidhameyya viddhaṃseyya, na ṭhānamupagaccheyya.
Đại đức Nāgasena đáp – “Tâu đại vương, mười ngàn thế giới này, có sự nâng đỡ chỉ một vị Phật, nâng đỡ đức hạnh của chỉ một đức Như Lai. Nếu vị Phật thứ nhì sanh lên, mười ngàn thế giới này không thể nâng đỡ, có thể lay động, rúng động, nghiêng qua, hạ thấp xuống, uốn cong, phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, đưa đến không thể trú vững được.
‘‘Yathā, mahārāja, nāvā ekapurisasandhāraṇī bhaveyya. Ekasmiṃ purise abhirūḷhe sā nāvā samupādikā bhaveyya. Atha dutiyo puriso āgaccheyya tādiso āyunā vaṇṇena vayena pamāṇena kisathūlena sabbaṅgapaccaṅgena, so taṃ nāvaṃ abhiruheyya. Api nu sā, mahārāja, nāvā dvinnampi dhāreyyāti? Na hi, bhante, caleyya kampeyya nameyya onameyya vinameyya vikireyya vidhameyya viddhaṃseyya, na ṭhānamupagaccheyya, osīdeyya udaketi. Evameva kho, mahārāja, ayaṃ dasasahassī lokadhātu ekabuddhadhāraṇī, ekasseva tathāgatassa guṇaṃ dhāreti, yadi dutiyo buddho uppajjeyya, nāyaṃ dasasahassī lokadhātu dhāreyya, caleyya…pe… na ṭhānamupagaccheyya.
Tâu đại vương, giống như chiếc thuyền là có sự nâng đỡ một người, khi có một người bước lên thì có thể đạt được sự yên ổn. Khi người thứ hai đi đến có cùng tuổi tác, vóc dáng, thọ mạng, kích thước, ốm mập, toàn bộ tứ chi lớn nhỏ tương đương người kia, rồi người ấy có thể bước lên chiếc thuyền ấy. Tâu đại vương, phải chăng chiếc thuyền ấy cũng có thể nâng đỡ cả hai người?” – “Thưa ngài, không đúng. Nó có thể lay động, rúng động, nghiêng qua, hạ thấp xuống, uốn cong, phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, tiến đến việc bị hoại diệt, có thể chìm xuống nước.” – “Tâu đại vương, tương tự y như thế mười ngàn thế giới này, có sự nâng đỡ chỉ một vị Phật, nâng đỡ đức hạnh của chỉ một đức Như Lai. Nếu vị Phật thứ hai sanh lên, mười ngàn thế giới này không thể nâng đỡ, có thể lay động, rúng động, nghiêng qua, tiêu hoại…nt…, đưa đến không thể trú vững được.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, puriso yāvadatthaṃ bhojanaṃ bhuñjeyya chādentaṃ yāva kaṇṭhamabhipūrayitvā. So dhāto pīṇito paripuṇṇo nirantaro tandikato anonamitadaṇḍajāto punadeva tattakaṃ bhojanaṃ bhuñjeyya. Api nu kho so, mahārāja, puriso sukhito bhaveyyāti? Na hi, bhante, sakiṃbhuttova mareyyāti. Evameva kho, mahārāja, ayaṃ dasasahassī lokadhātu ekabuddhadhāraṇī…pe… na ṭhānamupagaccheyyāti.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam ăn thức ăn theo như ý thích. Người ấy, sau khi chứa đầy món ăn được ưa thích đến tận cổ họng, được thỏa mãn, căng phồng, đầy ứ, không còn chỗ chứa, bị làm mệt, tựa như cây gậy cứng đờ, rồi lại ăn thức ăn chừng ấy thêm lần nữa. Tâu đại vương, phải chăng người nam ấy có thể có được thoải mái?” “Thưa ngài, không thể được. Đã được ăn một lần thôi cũng có thể chết.” – “Tâu đại vương, tương tự y như thế mười ngàn thế giới này, có sự nâng đỡ chỉ một vị Phật, …nt…, đưa đến không thể trú vững được.”
‘‘Kiṃ nu kho, bhante nāgasena, atidhammabhārena pathavi calatīti? Idha, mahārāja, dve sakaṭā ratanaparipūritā bhaveyyuṃ yāva mukhasamā. Ekasmā sakaṭato ratanaṃ gahetvā ekasmiṃ sakaṭe ākireyyuṃ, api nu taṃ, mahārāja, sakaṭaṃ dvinnampi sakaṭānaṃ ratanaṃ dhāreyyāti? Na hi, bhante, nābhipi tassa phaleyya, arāpi tassa bhijjeyyuṃ, nemīpi tassa opateyyuṃ, akkhopi tassa bhijjeyyāti. Kiṃ nu kho, mahārāja, atiratanabhārena sakaṭaṃ bhijjatīti ? Āma, bhanteti. Evameva kho, mahārāja, atidhammabhārena pathavī calatīti.
Thưa ngài Nāgasena, phải chăng với gánh nặng Giáo Pháp quá tải quả đất lay động? Tâu đại vương, ở đây hai chiếc xe hàng có thể được chứa đầy châu báu đến ngang miệng, sau khi lấy châu báu từ một chiếc xe hàng rồi đổ vào chiếc xe hàng kia. Tâu đại vương, phải chăng chiếc xe kéo ấy có thể chứa đựng châu báu của hai chiếc xe kéo? – Thưa ngài, không thể được. Thậm chí ở trục bánh xe của nó có thể nứt, ngay cả các cây căm của nó cũng có thể bị gãy, kể cả vành bánh xe của nó cũng có thể sụm xuống, trục xe của nó có thể bị gãy. – Tâu đại vương, phải chăng chiếc xe hàng bị gãy đổ với gánh nặng châu báu quá tải? – Thưa ngài, đúng vậy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế quả đất lay động với gánh nặng Giáo Pháp quá tải.
‘‘Api ca, mahārāja, imaṃ kāraṇaṃ buddhabalaparidīpanāya osāritaṃ. Aññampi tattha abhirūpaṃ kāraṇaṃ suṇohi, yena kāraṇena dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe na uppajjanti. Yadi, mahārāja, dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe uppajjeyyuṃ, parisāya vivādo uppajjeyya, ‘tumhākaṃ buddho, amhākaṃ buddho’ti ubhatopakkhajātā bhaveyyuṃ. Yathā, mahārāja, dvinnaṃ balavāmaccānaṃ parisāya vivādo uppajjati, ‘tumhākaṃ amacco amhākaṃ amacco’ti ubhatopakkhajātā honti. Evameva kho, mahārāja, yadi dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe uppajjeyyuṃ, parisāya vivādo uppajjeyya, ‘tumhākaṃ buddho, amhākaṃ buddho’ti ubhatopakkhajātā bhaveyyuṃ. Idaṃ paṭhamaṃ kāraṇaṃ suṇohi, yena kāraṇena dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe na uppajjanti.
Tâu đại vương, hơn nữa lý do này được đưa ra để làm rõ năng lực của vị Phật. Xin đại vương hãy lắng nghe lý do xác đáng khác nữa cho trường hợp ấy, mà vì lý do ấy hai vị Chánh đẳng Chánh giác không thể sanh lên trong cùng một thời điểm: Tâu đại vương, nếu hai vị Chánh đẳng Chánh giác sanh lên trong cùng một thời điểm, sự tranh cãi giữa hội chúng của hai vị ấy có thể sanh khởi: ‘Phật của các vị, Phật của chúng tôi,’ rồi có thể bị sanh ra hai nhóm. Tâu đại vương, giống như sự tranh cãi giữa hội chúng của hai vị quan đại thần có quyền lực có thể sanh khởi: ‘Quan đại thần của các vị, quan đại thần của chúng tôi,’ rồi bị sanh ra hai nhóm. Tâu đại vương, tương tự y như thế nếu hai vị Chánh đẳng Chánh giác sanh lên trong cùng một thời điểm, sự tranh cãi giữa hội chúng của hai vị ấy có thể sanh khởi: ‘Phật của các vị, Phật của chúng tôi,’ rồi có thể bị sanh ra hai nhóm. Tâu đại vương, đây còn là một lý do, mà vì lý do ấy hai vị Chánh đẳng Chánh giác không thể sanh lên trong cùng một thời điểm.
‘‘Aparampi, mahārāja, uttariṃ kāraṇaṃ suṇohi, yena kāraṇena dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe na uppajjanti. Yadi, mahārāja, dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe uppajjeyyuṃ, aggo buddhoti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā bhaveyya. Jeṭṭho buddhoti…pe… seṭṭho buddhoti. Visiṭṭho buddhoti, uttamo buddhoti, pavaro buddhoti, asamo buddhoti, asamasamo buddhoti, appaṭisamo buddhoti, appaṭibhāgo buddhoti, appaṭipuggalo buddhoti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā bhaveyya. Imampi kho tvaṃ, mahārāja, kāraṇaṃ atthato sampaṭiccha, yena kāraṇena dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe na uppajjanti.
Tâu đại vương, xin đại vương hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa, mà vì lý do ấy hai vị Chánh đẳng Chánh giác không sanh lên trong cùng một thời điểm. Tâu đại vương, nếu hai vị Chánh đẳng Chánh giác có thể sanh lên trong cùng một thời điểm, thì lời nói rằng: ‘Đức Phật là cao cả’ có thể là sai trái, thì lời nói rằng: ‘Đức Phật là lớn nhất’ có thể là sai trái, thì lời nói rằng: ‘Đức Phật là hạng nhất’ có thể là sai trái, thì lời nói rằng: Đức Phật là nổi bật, đức Phật là tối thượng, đức Phật là cao quý, đức Phật là không người sánh bằng, đức Phật là không kẻ tương đương, đức Phật là không người đối xứng, đức Phật là không kẻ so sánh, đức Phật là không người đối thủ, (điều đó) có thể là sai trái. Tâu đại vương, xin đại vương hãy chấp nhận theo chính lý do này, bởi ý nghĩa đây cũng là lý do mà hai vị Chánh đẳng Chánh giác không thể sanh lên trong cùng một thời điểm.
‘‘Apica, mahārāja, buddhānaṃ bhagavantānaṃ sabhāvapakatikā esā, yaṃ ekoyeva buddho loke uppajjati. Kasmā? Kāraṇamahantattā sabbaññubuddhaguṇānaṃ. Aññampi, mahārāja, yaṃ mahantaṃ hoti, taṃ ekaṃyeva hoti. Pathavī, mahārāja, mahantī, sā ekāyeva. Sāgaro mahanto, so ekoyeva. Sineru girirāja mahanto, so ekoyeva. Ākāso mahanto, so ekoyeva . Sakko mahanto, so ekoyeva. Brahmā mahanto, so ekoyeva. Tathāgato arahaṃ sammāsambuddho mahanto, so ekoyeva. Yattha te uppajjanti, tattha aññesaṃ okāso na hoti. Tasmā tathāgato arahaṃ sammāsambuddho ekoyeva loke uppajjatīti. Sukathito, bhante nāgasena, pañho opammehi kāraṇehī’’ti.
Tâu đại vương, thêm nữa tính chất tự nhiên về bản thể của chư Phật Thế Tôn là chỉ một vị Phật sanh lên ở thế gian. Bởi vì lý do gì? Bởi vì tính chất vĩ đại về các đức hạnh của đức Phật Toàn Tri. Tâu đại vương, vật khác cũng là vĩ đại ở thế gian, vật ấy là chỉ có một. Tâu đại vương, quả đất là vĩ đại (bởi) nó chỉ có một. Biển cả là vĩ đại (bởi) nó chỉ có một. Núi Chúa Sineru là vĩ đại (bởi) nó chỉ có một. Không gian là vĩ đại (bởi) nó chỉ có một. Vua trời Sakka là vĩ đại (bởi) vị ấy chỉ có một. Ma Vương là vĩ đại (bởi) vị ấy chỉ có một. Đại Phạm Thiên là vĩ đại (bởi) vị ấy chỉ có một ở thế gian. Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác là vĩ đại, bởi ngài chỉ có một mà thôi. Nơi nào những vị ấy sanh lên, thì những người khác không còn cơ hội (sanh ra) ở nơi đó. Vì thế, Tâu đại vương, Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác ở thế gian chỉ có một vị.” “Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã được ngài khéo được giảng giải bằng các lý lẽ (được mang lại), với ví dụ so sánh.
Ekissālokadhātuyāti ekasmiṃ cakkavāḷe. Heṭṭhā imināva padena dasa cakkavāḷasahassāni gahitāni, tānipi ekacakkavāḷeneva paricchindituṃ vaṭṭanti. Buddhā hi uppajjamānā imasmiṃyeva cakkavāḷe uppajjanti, uppajjanaṭṭhāne pana vārite ito aññesu cakkavāḷesu na uppajjantīti vāritameva hoti.
Trong một thế giới: Trong cùng một thế giới. Ở đoạn trước, mặc dù cụm từ này dùng để chỉ mười ngàn thế giới. Ngay cả mười ngàn thế giới ấy, cũng nên được xác định ranh giới chỉ trong một thế giới. Bởi vì, chư Phật trong khi xuất hiện chỉ xuất hiện trong chính thế giới này. Mặt khác, khi địa điểm xuất hiện đã bị ngăn chặn, thì (chư Phật) mới không xuất hiện ở thế giới khác ngoài thế giới này. Vì lý do đó, (địa điểm xuất hiện khác) hoàn toàn bị ngăn chặn (tức là không thể xuất hiện ở nơi khác).
Giải thích Phẩm thứ nhất – được kết thúc
2. Giải thích Phẩm thứ hai
Apubbaṃacarimanti ettha cakkaratanapātubhāvato pubbe pubbaṃ, tasseva antaradhānato pacchā carimaṃ. Tattha dvidhā cakkaratanassa antaradhānaṃ hoti cakkavattino kālakiriyāya vā pabbajjāya vā. Antaradhāyamānañca pana taṃ kālakiriyato vā pabbajjato vā sattame divase antaradhāyati, tato paraṃ cakkavattino pātubhāvo avārito.
Không trước không sau: Ở đây, trong thời quá khứ kể từ khi bánh xe báu xuất hiện gọi là ‘trước’; thời gian sau khi chính ‘bánh xe báu’ ấy biến mất gọi là ‘sau’. Ở đó, sự biến mất của ‘bánh xe báu’ ấy có hai trường hợp: Là vị Chuyển Luân Vương băng hà, hoặc do Ngài xuất gia. Và hơn nữa, sự biến mất ấy sẽ biến mất vào ngày thứ bảy từ việc băng hà hoặc việc xuất gia. Kể từ sau thời điểm đó, sự xuất hiện của một vị Chuyển Luân Vương khác sẽ không còn bị ngăn trở.
Kasmā pana ekacakkavāḷe dve cakkavattino na uppajjantīti? Vivādupacchedato, acchariyabhāvato, cakkaratanassa mahānubhāvato ca. Dvīsu hi uppajjantesu ‘‘amhākaṃ rājā mahanto, amhākaṃ rājā mahanto’’ti vivādo uppajjeyya, ‘‘ekasmiṃ dīpe cakkavattī, ekasmiṃ dīpe cakkavattī’’ti ca anacchariyo bhaveyya. Yo cāyaṃ cakkaratanassa dvisahassadīpaparivāresu catūsu mahādīpesu issariyānuppadānasamattho mahānubhāvo, sopi parihāyetha. Iti vivādupacchedato acchariyabhāvato cakkaratanassa mahānubhāvato ca na ekacakkavāḷe dve uppajjanti.
Vậy tại sao hai vị Chuyển Luân Vương không xuất hiện trong cùng một thế giới? – (1) vì cắt đứt sự tranh luận, (2) vì không phi thường, và (3) vì bánh xe báu có uy lực to lớn. Thật vậy, cả hai vị Chuyển Luân xuất hiện –
- Sự tranh luận có thể khởi lên rằng: “Đức Vua của chúng tôi mới là vĩ đại! Đức Vua của chúng tôi mới là vĩ đại!”
- Có thể trở thành không phi thường bởi lầm tưởng rằng: “Vị Chuyển Luân Vương ở trong một châu lục, vị Chuyển Luân Vương ở trong một châu lục.”
- Và hơn nữa, vị nào có uy lực to lớn của bánh xe báu—có khả năng trao quyền thống trị trong bốn châu lục lớn cùng hai ngàn châu lục nhỏ bao quanh— thì vị ấy sẽ bị suy giảm.
Vì vậy, hai vị Chuyển Luân Vương không xuất hiện trong cùng một thế giới vì cắt đứt sự tranh luận, vì không phi thường, và vì bánh xe báu có uy lực to lớn là như vậy.
- Yaṃ itthī arahaṃ assa sammāsambuddhoti ettha tiṭṭhatu tāva sabbaññuguṇe nibbattetvā lokanittharaṇasamattho buddhabhāvo, paṇidhānamattampi itthiyā na sampajjati.
‘‘Manussattaṃ liṅgasampatti, hetu satthāradassanaṃ;
Pabbajjā guṇasampatti, adhikāro ca chandatā;
Aṭṭha dhammasamodhānā, abhinīhāro samijjhatī’’ti. (bu. vaṃ. 2.59) –
- Người nữ có thể trở thành bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác: Trước hết, hãy gác lại bản thể của vị Phật, vị có khả năng dẫn dắt chúng sinh trong thế gian (ra khỏi vòng luân hồi) sau khi làm sanh khởi các ân đức là tuệ giác Toàn Tri. Chỉ riêng việc thiết lập điều ước nguyện thôi cũng đã không thành tựu đối với người nữ.
“Sự phát nguyện được thành tựu nhờ vào sự tổng hợp của tám pháp: (1) Bản thân là loài người, (2) thành tựu nam căn, (3) có chủng tử, (4) nhìn thấy bậc Đạo Sư, (5) là vị xuất gia, (6) hội đủ đức hạnh (như thiền định, thắng trí), (7) có hành động hướng thượng, (8) lòng ước muốn.” (bu. vaṃ. 2.59)
Imāni hi paṇidhānasampattikāraṇāni. Iti paṇidhānampi sampādetuṃ asamatthāya itthiyā kuto buddhabhāvoti. ‘‘Aṭṭhānametaṃ, bhikkhave, anavakāso, yaṃ itthī arahaṃ assa sammāsambuddho’’ti vuttaṃ. Sabbākāraparipūrova puññussayo sabbākāraparipūrameva attabhāvaṃ nibbattetīti purisova arahaṃ hoti sammāsambuddho, na itthī.
Tám pháp đã trình bày làm điệu kiện (nhân tố) đưa đến sự thành tựu điều phát nguyện. Người nữ không thể thành tựu ngay cả điều phát nguyện, vậy thì bản thể đức Phật đến từ đâu? Vì lý do ấy, Đức Thế Tôn mới thuyết rằng: “Này các Tỳ-khưu, việc người nữ trở thành bậc A-ra-hán, Chánh đẳng Chánh giác là không hợp lý và không có cơ sở.” Chỉ có việc tích lũy phước báu trọn vẹn với tất cả mọi biểu hiện khiến cho tự ngã được thành tựu bằng tất cả mọi biểu hiện ấy sanh khởi. Vì lý do đó, chỉ có nam nhân là bậc A-ra-hán, bậc Chánh đẳng Chánh giác.
- Rājā assa cakkavattītiādīsupi yasmā itthiyā kosohitavatthaguyhatādīnaṃ abhāvena lakkhaṇāni na paripūranti, itthiratanābhāvena sattaratanasamaṅgitā na sampajjati, sabbamanussehi ca adhiko attabhāvo na hoti. Tasmā ‘‘aṭṭhānametaṃ, bhikkhave, anavakāso yaṃ itthī rājā assa cakkavattī’’ti vuttaṃ.
Có thể thành vị Chuyển Luân Vương: bởi tất cả tướng của người nữ không tròn đủ, do không có ‘vật được bao bọc lại bằng lớp màng và được che giấu sau lớp vải’[1] v.v, Hơn nữa, sự thành tựu bởi ‘bảy báu’ không hội đủ vì không có ‘nữ nhân báu’. Cả thân tướng của họ cũng không được xem là vượt trội hơn tất cả loài người. Vì thế Đức Thế Tôn mới nói rằng: “Việc người nữ trở thành vị Chuyển luân vương là không hợp lý và không có cơ sở.” - Yasmā ca sakkattādīni tīṇi ṭhānāni uttamāni, itthiliṅgañca hīnaṃ, tasmā cassā sakkattādīnipi paṭisiddhāni.
Và bởi ba trường hợp– là Thiên chủ Sakka, v.v, địa vị tối thượng, còn tướng trạng người nữ là thấp kém. Do đó, địa vị Thiên chủ Sakka v.v. không thành tựu cho người nữ ấy.
Nanu ca yathā itthiliṅgaṃ, evaṃ purisaliṅgampi brahmaloke natthi. Tasmā ‘‘yaṃ puriso brahmattaṃ kāreyya, ṭhānametaṃ vijjatī’’tipi na vattabbaṃ siyāti. No na vattabbaṃ. Kasmā? Idha purisassa tattha nibbattanato. Brahmattanti hi mahābrahmattaṃ adhippetaṃ.
[Vấn]: Há chẳng phải rằng cũng như tướng trạng người nữ, cũng vậy cả tướng trạng người nam cũng không có ở cõi Phạm Thiên hay sao? Do đó, không nên nói rằng “Việc một nam nhân trở thành Phạm thiên, sự kiện này được biết đến?” [Đáp]: Không phải, không nên nói như vậy. Tại sao? Bởi vì một nam nhân từ cõi người này có thể tái sanh vào cõi Phạm Thiên ấy. Thật vậy, “bản thể Phạm thiên” được đề cập là bản thể Đại Phạm thiên.
Itthī ca idha jhānaṃ bhāvetvā kālaṃ katvā brahmapārisajjānaṃ sahabyataṃ upapajjati, na mahābrahmānaṃ. Puriso pana tattha nuppajjatīti na vattabbo. Samānepi cettha ubhayaliṅgābhāve purisasaṇṭhānāva brahmāno, na itthisaṇṭhānā. Tasmā suvuttamevetaṃ.
Và người nữ đã thực hành thiền định ở đời này, sau khi mệnh chung được sanh lên làm bạn với các vị Phạm Chúng Thiên, không trở thành vị Đại Phạm Thiên. Tuy nhiên, không nên nói rằng một nam nhân không được sanh lên cõi Đại Phạm thiên. Và trong cõi Phạm Thiên ấy, mặc dù cả hai giới tính không có, nhưng các vị Phạm Thiên vẫn có hình tướng như các nam nhân, chứ không phải hình tướng như người nữ. Vì vậy, điều này là điều đã được (Đức Thế Tôn) thuyết giảng một cách tốt đẹp.
- Kāyaduccaritassātiādīsu yathā nimbabījakosātakibījādīni madhuraṃ phalaṃ na nibbattenti, asātaṃ amadhurameva nibbattenti, evaṃ kāyaduccaritādīni madhuraṃ vipākaṃ na nibbattenti, amadhurameva nibbattenti. Yathā ca ucchubījasālibījādīni madhuraṃ sādurasameva phalaṃ nibbattenti, na asātaṃ kaṭukaṃ. Evaṃ kāyasucaritādīni madhurameva vipākaṃ nibbattenti, na amadhuraṃ. Vuttampi cetaṃ –
‘‘Yādisaṃ vapate bījaṃ, tādisaṃ harate phalaṃ;
Kalyāṇakārī kalyāṇaṃ, pāpakārī ca pāpaka’’nti. (saṃ. ni. 1.256);
Tasmā ‘‘aṭṭhānametaṃ, bhikkhave, anavakāso, yaṃ kāyaduccaritassā’’tiādi vuttaṃ.
- Thân ác hành v.v, giống như hạt giống cây nimba hoặc hạt giống cây kosātakī không thể sản sinh ra được quả có vị ngọt, chỉ sản sinh ra được quả có vị không ngọt, không đáng ưa thích. Tương tự y như thế, thân ác hạnh không tạo ra kết quả ngọt, chỉ cho kết quả không ngọt ngào. Và giống như giống mía và giống gạo sāli v.v. đều cho sản sinh ra kết quả (cây mía và lúa gạo) có vị ngọt, thơm ngon; không tạo ra kết quả không vừa ý, cay đắng. Tượng tự như thế đó, thân thiện hành cũng tạo ra kết quả ngọt ngào, không tạo ra kết quả không ngọt ngào. Và điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến —
“Gieo hạt giống như thế nào thì mang lại kết quả như thế ấy.
Người làm lành thấy điều lành, và người làm ác thấy điều ác.” (saṃ. ni. 1.256).
Vì thế mới nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, việc hạng người thành tựu với thân ác hành sau khi thân hoại chung được sanh vào thiên giới là không hợp lý và không có cơ sở.”
290-295. Kāyaduccaritasamaṅgītiādīsu samaṅgīti pañcavidhā samaṅgitā – āyūhanasamaṅgitā, cetanāsamaṅgitā, kammasamaṅgitā, vipākasamaṅgitā, upaṭṭhānasamaṅgitāti. Tattha kusalākusalakammāyūhanakkhaṇe āyūhanasamaṅgitāti vuccati. Tathā cetanāsamaṅgitā. Yāva pana sattā arahattaṃ na pāpuṇanti, tāva sabbepi sattā pubbe upacitacetanāya samaṅgitāya cetanāsamaṅginoti vuccanti. Esā cetanāsamaṅgitā. Yāva arahattaṃ na pāpuṇanti, tāva sabbepi sattā pubbe upacitaṃ vipākārahaṃ kammaṃ sandhāya ‘‘kammasamaṅgino’’ti vuccanti. Esā kammasamaṅgitā. Vipākasamaṅgitā vipākakkhaṇeyeva veditabbā. Yāva pana sattā arahattaṃ na pāpuṇanti, tāva tesaṃ tato tato cavitvā niraye uppajjamānānaṃ aggijālālohakumbhiādīhi upaṭṭhānākārehi nirayo, gabbhaseyyakattaṃ āpajjamānānaṃ mātukucchi, devesu uppajjamānānaṃ kapparukkhavimānādīhi upaṭṭhānākārehi devalokoti evaṃ upapattinimittaṃ upaṭṭhāti. Iti nesaṃ iminā upapattinimittaupaṭṭhānena aparimuttatā upaṭṭhānasamaṅgitā nāma. Sā calati, sesā niccalā. Niraye hi upaṭṭhitepi devaloko upaṭṭhāti, devaloke upaṭṭhitepi nirayo upaṭṭhāti, manussaloke upaṭṭhitepi tiracchānayoni upaṭṭhāti, tiracchānayoniyā ca upaṭṭhitāyapi manussaloko upaṭṭhātiyeva.
290-295. ‘Người hội đủ thân ác hạnh’ v.v, – Sự hội đủ: bản thể người hội đủ có năm là (1) bản thể người hội đủ với sự tích trữ nghiệp, (2) bản thể người hội đủ với sự cố ý, (3) bản thể người hội đủ bởi nghiệp, (4) bản thể người hội đủ bởi quả dị thục và (5) bản thể người hội đủ với sự hiện khởi (hiện tướng). Ở đấy, trong lúc tích lũy thiện nghiệp và ác nghiệp được gọi là bản thể người hội đủ với sự tích trữ. Bản thể người hội đủ với sự cố ý cũng như thế. Chừng nào chưa chứng đắc quả vị A-ra-hán, chừng ấy tất cả chúng sanh được gọi là ‘bản thể người hội đủ với sự cố ý’ bởi là người hội đủ với sự cố ý đã được tích lũy ở quá khứ. Đây gọi là ‘bản thể người hội đủ với sự cố ý’. Chừng nào chưa chứng đắc quả vị A-ra-hán, chừng ấy tất cả chúng sanh được gọi là “bản thể người hội đủ với nghiệp” do đề cập đến nghiệp tương thích với quả đã được tích lũy ở quá khứ. Đây gọi là ‘bản thể người hội đủ với nghiệp’. Bản thể người hội đủ với quả dị thục nên được hiểu ngay chính sát-na của dị thục quả. Hơn nữa, chừng nào chúng sanh chưa chứng đắc quả vị A-ra-hán, chừng ấy đối với những chúng sanh ấy, khi mệnh chung từ cảnh giới này cảnh giới nọ — đi tái sanh vào địa ngục, thì địa ngục sẽ hiện khởi với các biểu hiện (hiện tướng) như ngọn lửa và nồi đồng sôi, v.v, (Đối với những chúng sanh) đi đến bản thể người nằm ở bào thai, (thì) bào thai của người mẹ sẽ hiện khởi. (Đối với những chúng sanh) được sanh ra ở Thiên giới, thì cõi Trời sẽ hiện khởi với các biểu hiện như cây Kappa và Thiên cũng, v.v. Hiện tướng sanh khởi sẽ hiện khởi như vậy. Như thế, bản thể các chúng sanh không vượt ra khỏi hiện tướng sanh khởi của sự hiện khởi này gọi là ‘bản thể người hội đủ với sự hiện khởi’. Bản thể người hội đủ với sự hiện khởi ấy có thể thay đổi, còn các bản thể người hội đủ với các sự còn lại thì không thể thay đổi. Bởi vì, khi địa ngục hiện khởi thì thế giới Chư thiên cũng hiện khởi; khi thế giới Chư thiên hiện khởi thì địa ngục cũng hiện khởi; khi thế giới loài người hiện khởi thì thai bào của loài thú cũng hiện khởi được, và tương tự khi thai bào của loài thú xuất hiện thì thế giới loài người cũng hiện khởi.
Tatridaṃ vatthu – soṇagiripāde kira acelavihāre soṇatthero nāma eko dhammakathiko. Tassa pitā sunakhavājiko nāma ahosi, thero taṃ paṭibāhantopi saṃvare ṭhapetuṃ asakkonto ‘‘mā nassi varāko’’ti mahallakakāle akāmakaṃ naṃ pabbājesi. Tassa gilānaseyyāya nipannassa nirayo upaṭṭhāsi. Soṇagiripādato mahantā sunakhā āgantvā khāditukāmā viya samparivāresuṃ. So mahābhayabhīto ‘‘vārehi, tāta soṇa, vārehi, tāta soṇā’’ti āha. Kiṃ mahātherāti? Na passasi, tātāti taṃ pavattiṃ ācikkhi. Soṇatthero ‘‘kathañhi nāma mādisassa pitā niraye nibbattissati, patiṭṭhāssa bhavissāmī’’ti sāmaṇerehi nānāpupphāni āharāpetvā cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇesu talasantharaṇapūjaṃ āsanapūjañca kāretvā pitaraṃ mañcakena cetiyaṅgaṇaṃ haritvā mañce nisīdāpetvā ‘‘ayaṃ, mahāthera, pūjā tumhākaṃ atthāya katā, ‘ayaṃ me bhagavā duggatapaṇṇākāro’ti vatvā bhagavantaṃ vanditvā cittaṃ pasādehī’’ti āha. Sā mahāthero pūjaṃ disvā tathā karonto cittaṃ pasādesi. Tāvadevassa devaloko upaṭṭhāsi. Nandanavana-cittalatāvana-missakavana-phārusakavana-vimānāni ceva devanāṭakāni ca parivāretvā ṭhitāni viya ahesuṃ. So ‘‘apetha, soṇa, apetha, soṇā’’ti theraṃ āha. Kimidaṃ, mahātherāti? Etā te mātaro āgacchantīti. Thero ‘‘saggo upaṭṭhito mahātherassā’’ti cintesi. Evaṃ upaṭṭhānasamaṅgitā calatīti veditabbā. Etāsu samaṅgitāsu idha āyūhanacetanākamma-samaṅgitāvasena ‘‘kāyaduccaritasamaṅgī’’tiādi vuttaṃ.
Đây là câu chuyện minh họa cho điều đó: Kể rằng, ở trong Tịnh xá Acela được xây dựng ở gần chân núi Soṇa có một vị Pháp sư chuyên giảng giải Pháp tên là Trưởng lão Soṇa, cha của Ngài tên là Sunakhavājika (người làm nghề săn bắt bằng chó). Mặc dù Trưởng lão có ngăn cản người làm điều đó, (tuy nhiên) vì không thể khiến người an trú vào sự thu thúc giới mới nghĩ rằng “người đáng thương, đừng gặp bất hạnh”, mới cho cha xuất gia mặc dù người không muốn xuất gia vào lúc tuổi già. Khi người cha nằm trên giường bệnh thì địa ngục hiện khởi trước mặt ông ấy, (là) những con chó thân hình to lớn đi đến từ chân núi Soṇa vây quanh ông như muốn cắn xé. Kinh sợ trước hiểm họa to lớn, ông la lớn: “Này con thương Soṇa, hãy ngăn chúng lại! Này con thương Soṇa, hãy ngăn chúng lại!” (Trưởng lão Soṇa) – “Có chuyện gì vậy, thưa cha[2]?” – Con không thấy sao? Rồi thuật lại câu chuyện đó. Trưởng lão Soṇa nghĩ rằng: “Làm sao cha của một người như ta có thể tái sanh vào địa ngục?” Ta sẽ là chỗ nương tựa cho ông.” Sau đó đã bảo các Sa-di mang lại nhiều bông hoa khác nhau, rồi làm các vật cúng dường đặt trên mặt đất và các vật cúng dường đặt trên bệ ở khu vực Bảo điện và ở khu vực cây Bồ-đề, sau khi cho cha ngồi trên chiếc giường, đã đưa đến khu vực Bảo điện bằng chiếc giường ấy rồi nói rằng – “Thưa cha, lễ vật cúng dường này đã làm nhằm đem lại lợi ích cho cha,” xin cha hãy nói rằng: ‘Kính bạch Đức Thế Tôn, các vật biếu tặng của người khốn cùng này là của con’ rồi đảnh lễ đức Thế Tôn, làm cho tâm trở nên tịnh tín’”. Cha của Ngài nhìn thấy lễ vật trong khi thực hiện như thế đã làm cho tâm trở nên tịnh tín. Ngay trong khoảnh khắc ấy thế giới Chư thiên đã hiện ra, vườn Nandaka, vườn Cittalatā, vườn Missaka và vườn Phārusaka cùng với các Thiên cung, và các Thiên nữ nhảy múa xuất hiện như thể đang vây quanh ông. – Người cha nói rằng: “Hãy nhường đường, này Soṇa! Hãy nhường đường, này Soṇa!” – Có chuyện gì vậy, thưa cha? – Những người này là mẹ của con đang đến.” – Trưởng lão nghĩ rằng: “Cõi trời đã hiển lộ cho cha ta rồi”. Nên biết rằng: bản thể người hội đủ với sự hiện khởi có thể thay đổi là như vậy. Trong sự thành tựu này ở đây ngài nói lời bắt đầu như sau “sự thành tựu của thân ác hạnh” do tác động của sự thành tựu do tích lũy, sự thành tựu của Tư-cetanā, và sự thành tựu của nghiệp. Trong số đó, ‘sự hội đủ’ v.v, ‘bản thể người hội đủ với thân ác hạnh, v.v,’ được Đức Thế Tôn nói trong trường hợp này “do mãnh lực bản thể người hội đủ với sự tích trữ nghiệp, sự cố ý và nghiệp, đồng thời do mãnh lực bản thể người hội đủ với thân ác hạnh.”
Tattha eke ācariyā ‘‘yasmiṃ khaṇe kammaṃ āyūhati, tasmiṃyeva khaṇe tassa saggo vārito’’ti vadanti. Apare pana ‘‘āyūhitakammaṃ nāma vipākavāraṃ labhantampi atthi alabhantampi. Tattha yadā kammaṃ vipākavāraṃ labhati, tasmiṃyeva kāle tassa saggo vārito’’ti vadanti. Sesaṃ sabbattha uttānatthamevāti.
Ở đây, bản thể người hội đủ với thân ác hành, v.v, một số vị thầy nói rằng: “Ở khoảnh khắc nào tích trữ nghiệp, thì cõi Trời của người đó bị ngăn cản ngay chính khoảnh khắc đó.” Còn một nhóm khác lại nói rằng: “Thông thường, nghiệp đã được tích trữ, có khi có cơ hội trổ quả, và cũng có khi không. Nghiệp đã được tích trữ ấy, nghiệp có được cơ hội trổ quả vào thời gian nào, thì cõi trời của người đó bị ngăn cản vào chính thời gian đó.” Tất cả những từ còn lại ở các đoạn đều có ý nghĩa đơn giản.
Giải thích Chánh Văn về Phẩm Không Hợp Lý – được kết thúc
[1] Tướng mã âm tàng một trong ba mươi hai tướng của bậc Đại Nhân
[2] Mahāthera: nghĩa là vị Đại Trưởng lão, nhưng trong trường hợp này xin phép dịch là ‘cha’ để phù hợp với ngữ cảnh giữa Trưởng lão Soṇa và người cha đang nói chuyện.