14. GIẢI THÍCH CHƯƠNG MỘT PHÁP (XXIV – Phẩm Người Tối Thắng-07)

Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương 1 pháp – Phẩm 14 

(Kệ )

 4– Phẩm Người Tối Thắng thứ tư (07)

Câu chuyện về nữ cư sĩ Sujātā

  1. Upāsikāpāḷiyā paṭhame paṭhamaṃ saraṇaṃ gacchantīnanti sabbapaṭhamaṃ saraṇesu patiṭṭhitānaṃ upāsikānaṃ, sujātā nāma, seniyadhītā aggāti dasseti. Sāpi padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulagehe nibbattā aparabhāge satthu dhammakathaṃ suṇantī satthāraṃ ekaṃ upāsikaṃ paṭhamaṃ saraṇaṃ gacchantīnaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikāraṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. Sā kappasatasahassaṃ devamanussesu saṃsaritvā amhākaṃ satthu nibbattito puretarameva uruvelāyaṃ senānigame seniyakuṭumbikassa[1] gehe nibbattitvā vayappattā ekasmiṃ nigrodhamūle patthanaṃ akāsi – ‘‘sace samajātikaṃ kulagharaṃ gantvā paṭhamagabbhe puttaṃ labhissāmi, anusaṃvaccharaṃ balikammaṃ karissāmī’’ti. Tassā sā patthanā samijjhi.
    Trong bài Kinh thứ nhất của Upāsika Pāḷi— Vị đi đến nương nhờ đầu tiên: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng: Con gái của Seniya, tên là Sujātā, là tối thắng trong số các nữ cư sĩ an trú trong sự nương nhờ đâu tiên trong số tất cả. Vào thời Đức Phật Padumuttara, nàng sanh ra trong một gia đình danh giá tại thành Haṃsavatī. Khi nghe bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến Ngài thiết lập một nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ đi đến nương nhờ đầu tiên, nên đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện đạt được vị thế đó. Sau khi luân hồi giữa cõi Trời và cõi Người suốt một trăm ngàn kiếp, nàng đã tái sanh vào gia đình gia Seniya ở ngôi làng Senāni tại Uruvela trước khi bậc Đạo Sư của chúng ta xuất hiện. Đến tuổi trưởng thành, nàng đã thực hiện lời phát nguyện ở cội cây Nigrodha rằng: “Nếu như con được gả vào gia đình danh giá đồng đẳng về sanh chủng, và anh được đứa con trai đầu lòng, con sẽ thực hiện nghi thức cúng tế hằng năm (tại nơi này). Lời phát nguyện của nàng đã được thành tựu.

Sā mahāsattassa dukkarakārikaṃ karontassa chaṭṭhe vasse paripuṇṇe visākhapuṇṇamadivase ‘‘pātova balikammaṃ karissāmī’’ti rattiyā paccūsasamayaṃ paccuṭṭhāya dhenuyo duhāpesi. Vacchakā dhenūnaṃ thanamūlaṃ na āgamaṃsu, thanamūle navabhājanamhi[2] upanītamatte attanova dhammatāya khīradhārā patiṃsu. Taṃ acchariyaṃ disvā, sujātā, sahattheneva khīraṃ gaṇhitvā navabhājane pakkhipitvā sahattheneva aggiṃ katvā pacituṃ[3] ārabhi. Tasmiṃ pāyāse paccamāne mahantamahantā bubbuḷā uṭṭhahitvā dakkhiṇāvattā hutvā sañcaranti, ekaphusitampi bahi na niggacchati. Mahābrahmā chattaṃ dhāresi, cattāro lokapālā khaggahatthā ārakkhaṃ gaṇhiṃsu, sakko alātāni samānento aggiṃ jālesi. Devatā catūsu dīpesu ojaṃ saṃharitvā tattha pakkhipiṃsu. Sujātā, ekadivaseyeva imāni acchariyāni disvā puṇṇādāsiṃ āmantesi – ‘‘amma, puṇṇe ajja amhākaṃ devatā ativiya pasannā, mayā ettakaṃ kālaṃ evarūpaṃ acchariyaṃ nāma na diṭṭhapubbaṃ, vegena gantvā devaṭṭhānaṃ paṭijaggāhī’’ti. Sā ‘‘sādhu, ayye’’ti tassā vacanaṃ sampaṭicchitvā turitaturitā rukkhamūlaṃ agamāsi.

Trong khi bậc Đại Nhân thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh) tròn đủ sáu năm vào ngày trăng tròn tháng Visākha, nàng Sujātā nghĩ rằng: ‘Ta sẽ thực hiện nghi thức cúng tế ngay từ sáng sớm,” nên đã thức dậy vào lúc trời hừng sáng của đêm rồi sai người đi vắt sữa bò. Những con bê đã không chạy đến bầu sữa của mẹ húng mà cứ đứng yên. Khi vừa đưa những chiếc bình mới lại đặt gần bầu sữa thì những dòng sữa tự động tiết ra một cách tự nhiên. Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ấy, nàng Sujāta đã tự tay hứng lấy sữa, đổ vào chiếc bình mới, tự tay nàng nhóm lửa rồi bắt đầu nấu. Khi món cơm sữa (Madhupāyāsa) đang được nấu, những bong bóng lớn nổi lên trên, xoay tròn theo chiều bên phải, và xoay đều xung quanh, ngay cả một giọt cháo cũng không văng ra bên ngoài. Đại Phạm Thiên đã cầm chiếc lọng, bốn vị Thiên vương hộ trì thế gian tay có cầm gươm bảo vệ, Thiên chủ Sakka gom củi nhóm lửa. Chư Thiên đã đem chất dinh dưỡng từ bốn châu bỏ vào nồi cơm sữa ấy. Vào chính ngày hôm ấy, khi nhìn thấy điều kỳ diệu này, nàng Sujāta đã bảo nữ hầu Puṇṇā rằng: “Này em Puṇṇā, vị Thần của chúng ta hôm nay rất đáng ngưỡng mộ. Trong suốt ngần ấy thời gian, ta chưa từng được thấy trước đây điều kỳ diệu như thế. Em hãy mau chóng đến dọn dẹp điện thờ thần linh.” –  Nữ hầu Puṇṇā đã vâng lệnh của chủ (đáp rằng): “Dạ vâng, thưa cô chủ,” rồi nhanh chóng đi đến gốc cây.

Bodhisattopi kho bhikkhācārakālaṃ āgamayamāno pātova gantvā rukkhamūle nisīdi. Rukkhamūlaṃ sodhanatthāya gatā puṇṇā āgantvā sujātāya ārocesi – ‘‘devatā rukkhamūle nisinnā’’ti. Sujātā, ‘‘sace je saccaṃ bhaṇasi, adāsiṃ karomī’’ti vatvā sabbapasādhanaṃ pasādhetvā satasahassagghanake suvaṇṇathāle pāyāsaṃ vaḍḍhetvā aparāya suvaṇṇapātiyā pidahitvā setavatthena sampaliveṭhetvā samantā gandhadāmamālādāmāni osāretvā ukkhipitvā gantvā mahāpurisaṃ disvā balavapītiṃ uppādetvā diṭṭhaṭṭhānato paṭṭhāya oṇatoṇatā gantvā sīsato thālaṃ otāretvā vivaritvā saheva pātiyā pāyāsaṃ mahāpurisassa hatthe ṭhapetvā vanditvā ‘‘yathā mayhaṃ manoratho nipphanno, evaṃ tumhākampi nipphajjatū’’ti vatvā pakkāmi. Bodhisatto nerañjarāya nadiyā tīraṃ gantvā suvaṇṇathālaṃ tīre ṭhapetvā nhatvā paccuttaritvā ekūnapaṇṇāsa piṇḍe karonto pāyāsaṃ paribhuñjitvā suvaṇṇapātiṃ nadiyā sampavāhetvā anukkamena bodhimaṇḍaṃ āruyha sabbaññutaṃ patvā sattasattāhaṃ bodhimaṇḍe atikkamitvā isipatane migadāye pavattitavaradhammacakko sujātāya puttassa yasadārakassa upanissayaṃ disvā gantvā aññatarasmiṃ rukkhamūle nisīdi.

Về phần Đức Bồ-tát, trong khi chờ đợi đến giờ đi khất thực, Ngài đã đi và đã ngồi xuống ở gốc cây ấy từ sáng sớm. Nữ hầu Puṇṇā đi đến quét dọn gốc cây, rồi trở về báo tin cho nàng Sujātā: “Thưa cô chủ, vị thần cây đang ngồi ở gốc cây!” Sujātā đã nói rằng: “Này em, nếu em nói đúng sự thật, ta sẽ giải thoát thân phận nô lệ cho em,” (nói xong) nàng trang điểm (bản thân) với các loại trang sức, múc cơm sữa để vào cái tô vàng trị giá một trăm ngàn, rồi lấy một tô vàng khác đậy lên, trùm lại bằng tấm vải trắng, treo lên đó những vòng hương thơm và những vòng bông xung quanh, đội (tô cơm sữa) lên (đầu) rồi mang đi. Khi nhìn thấy bậc Đại Nhân, (nàng) đã khởi lên niềm phỉ lạc mạnh mẽ. Nàng đã cúi mình cung kính bắt đầu từ chỗ nhìn thấy (Ngài), hạ cái tô vàng xuống từ đỉnh đầu, mở ra và đặt món cơm sữa cùng với cái tô (vàng) vào đôi tay của bậc Đại Nhân, đảnh lễ rồi nói rằng: “Giống như ước nguyện của con đã thành tựu, mong rằng (ước nguyện) của Ngài cũng hãy được thành tựu như vậy,” rồi ra về. Đức Bồ-tát, sau khi đi đến bờ sông Nerañjarā, đã đặt cái tô vàng bên bờ sông, (xuống sông) tắm rửa rồi đi lên bờ. Sau khi thọ dụng món cơm sữa được vo thành bốn mươi chín viên, Ngài đã thả cái tô vàng trôi theo dòng nước, rồi tuần tự bước lên khuôn viên của cội Bồ-đề. Sau khi chứng đắc quả vị Toàn Giác, đã trải qua bảy tuần lễ tại khuôn viên của cội Bồ-đề, vận chuyển bánh xe Pháp cao thượng ở vườn Lộc Uyển tại Isipatana. Sau khi nhìn thấy các điều kiện chứng đắc của thanh niên Yasa – con trai của nàng Sujātā, Ngài đã đi đến rồi ngồi xuống ở một gốc cây nọ.

Yasopi kulaputto rattibhāgasamanantare vivaṭaṃ itthāgāraṃ disvā sañjātasaṃvego ‘‘upaddutaṃ vata, bho, upasaṭṭhaṃ vata, bho’’ti vatvā nivesanato nikkhamitvāva bahinagare satthu santikaṃ gantvā dhammadesanaṃ sutvā tīṇi maggaphalāni paṭivijjhi. Athassa pitā padānupadikaṃ gantvā bhagavantaṃ upasaṅkamitvā yasassa pavattiṃ pucchi. Satthā yasaṃ kulaputtaṃ paṭicchādetvā dhammaṃ desesi. Desanāpariyosāne so seṭṭhigahapati sotāpattiphale patiṭṭhāsi, yaso arahattaphalaṃ pāpuṇi. Taṃ bhagavā ‘‘ehi bhikkhū’’ti āha, tāvadevassa gihiliṅgaṃ antaradhāyi, iddhimayapattacīvaradharo ahosi. Pitāpissa satthāraṃ nimantesi. Satthā yasaṃ kulaputtaṃ pacchāsamaṇaṃ katvā tassa gharaṃ gantvā katabhattakicco dhammaṃ desesi, desanāpariyosāne yasassa mātā, sujātā, purāṇadutiyikā ca sotāpattiphale patiṭṭhahiṃsu. Taṃdivasaṃ ayaṃ, sujātā, tevācikasaraṇe patiṭṭhāsi saddhiṃ suṇisāya. Ayamettha saṅkhepo , vitthārato panetaṃ vatthu khandhake (mahāva. 25-28) āgatameva. Satthā aparabhāge paṭipāṭiyā upāsikāyo ṭhānantaresu ṭhapento imaṃ upāsikaṃ paṭhamaṃ saraṇaṃ gacchantīnaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Ngay cả người con trai gia đình danh giá Yasa khi nhìn thấy đám hầu thiếp của mình đang ngủ (với thân hình không còn chỉnh tề), đã khởi lên sự chấn động rồi nói rằng: “Thật là chán nản! Thật là khổ sở!” rồi rời khỏi dinh thự, đi đến diện kiến bậc Đạo Sư ở ngoài thành. Sau khi nghe bài thuyết giảng Giáo Pháp, chàng đã thấu triệt Tam Đạo và Tam Quả. Khi ấy, cha của cậu đã lần theo dấu chân (con mình) đến gặp Đức Thế Tôn và hỏi về chuyện của Yasa. Bậc Đạo Sư, sau khi che khuất người con trai gia đình danh giá Yasa, đã thuyết giảng Giáo Pháp. Khi kết thúc bài thuyết giảng vị gia chủ Trưởng giả ấy đã an trú vào quả vị Nhập Lưu, còn Yasa đã chứng đắc quả vị A-la-hán. Đức Thế Tôn đã nói chàng rằng: “Này Tỳ-khưu, hãy đến.” Ngay tức khắc, hình tướng cư sĩ của chàng liền biến mất, và chàng đã trở thành vị Tỳ-khưu có mang bình bát và y phục được thành tựu bằng thần thông. Ngay cả cha của vị ấy cũng đã thình mời bậc Đạo Sư (đến dùng bữa tại dinh thự). Bậc Đạo Sư đã có người con trai gia đình danh giá Yasa là Sa-môn hầu cận đi theo, đi đến dinh thự của vị ấy, sau khi hoàn tất phận sự về thọ thực, đã thuyết giảng Giáo Pháp. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, người mẹ là Sujātā và người vợ cũ của Yasa đã an trú vào quả vị Nhập Lưu. Vào ngày hôm đó, nàng Sujātā này cùng với con dâu cũng đã an trú vào sự nương nhờ với ba lần đọc (tức là đi đến nương nhờ Đức Phật, Đức Pháp và Đức Tăng đủ ba lần). Đây là nội dung tóm tắt, còn phần chi tiết của câu chuyện này được đề cập trong Khandhaka (mahāva. 25-28); Về sau, bậc Đạo Sư khi thiết lập các nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng (khác nhau) theo tuần tự, Ngài đã thiết lập nữ cư sĩ này vào vị tối thắng trong số các nữ cư sĩ về đi đến nương nhờ đầu tiên.

Câu chuyện về Visākhā

  1. Dutiye dāyikānanti dānābhiratānaṃ upāsikānaṃ, visākhā migāramātā, aggāti dasseti. Sā kira padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulagehe nibbattā aparabhāge satthu dhammadesanaṃ suṇantī satthāraṃ ekaṃ upāsikaṃ dāyikānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. Sā kappasatasahassaṃ devamanussesu saṃsaritvā kassapabuddhakāle kikissa kāsirañño gehe sattannaṃ bhaginīnaṃ sabbakaniṭṭhā hutvā nibbatti.
    Trong bài Kinh thứ hai, vị bố thí: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng– Visākha mẹ của Migāra là vị tối thắng trong số các nữ cư sĩ hoan hỷ trong việc bố thí. Kể rằng, vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, nàng được sinh ra trong một gia đình danh giá tại thành Haṃsavatī. Khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến Ngài thiết lập một nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ sĩ hoan hỷ trong việc bố thí, nên đã thực hiện hành động hướng thượng rồi phát nguyện đạt được vị thế đó. Nàng đã luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người suốt một trăm ngàn kiếp, vào thời kỳ Đức Phật Kassapa, nàng được tái sanh tại Hoàng tộc của vua Kikī xứ Kāsi, là cô công chúa út trong số bảy chị em.

Tadā kira –‘‘Samaṇī samaṇaguttā ca, bhikkhunī bhikkhudāyikā;
Dhammā ceva sudhammā ca, saṅghadāsī ca sattamā’’ti.

Imā satta bhaginiyo ahesuṃ. Tā etarahi –

‘‘Khemā uppalavaṇṇā ca, paṭācārā ca gotamī;
Dhammadinnā mahāmāyā, visākhā ceva sattamī’’ti. –

Được biết lần đó— “Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.”

(Họ) đã là bảy chị em gái (trong thời thời quá khứ). Hiện tại, họ là—

“Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, thêm vào tôi, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy.”

Evaṃnāmā hutvā nibbattā. Tatrāyaṃ saṅghadāsī ekaṃ buddhantaraṃ devamanussesu saṃsaritvā imasmiṃ buddhuppāde aṅgaraṭṭhe bhaddiyanagare meṇḍakaseṭṭhiputtassa dhanañcayaseṭṭhino aggamahesiyā sumanadeviyā nāma kucchismiṃ nibbatti, visākhātissā nāmaṃ akaṃsu. Tassā sattavassikakāle dasabalo selabrāhmaṇassa ca aññesañca bodhaneyyabandhavānaṃ upanissayasampattiṃ disvā mahābhikkhusaṅghaparivāro cārikaṃ caramāno tasmiṃ raṭṭhe taṃ nagaraṃ pāpuṇi.

Họ được sanh ra và đã có tên như vậy. Trong số bảy chị em ấy, Saṅghadāsī này, sau khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người trải qua một khoảng thời gian giữa hai vị Phật, vào thời kỳ Đức Phật (Gotama) này xuất hiện, (nàng) được tái sanh trong bụng của bà Sumanadevī– người vợ cả của Trưởng giả Dhanañjaya, con trai Trưởng giả Meṇḍaka ở thành Bhaddiya trong vương quốc Aṅga. Cha mẹ đã đặt tên cho nàng là Visākhā. Khi nàng lên bảy tuổi, đấng Thập Lực nhìn thấy sự hoàn bị các điều kiện (chứng đắc) của Bà-la-môn Sela và các chúng sanh khác có khả năng giác ngộ, trong lúc du hành có đại chúng Tỳ-khưu tùy tùng đã đến thành đó (thành Bhaddiya), trong vương quốc ấy.

Tasmiñca samaye meṇḍako gahapati tasmiṃ nagare pañcannaṃ mahāpuññānaṃ jeṭṭhako hutvā seṭṭhiṭṭhānaṃ kāresi. Pañca mahāpuññā nāma meṇḍako seṭṭhi, candapadumā nāma tasseva aggamahesī, tassa ca putto dhanañcayo nāma, tassa bhariyā sumanadevī nāma, meṇḍakaseṭṭhissa dāso puṇṇo nāmāti. Na kevalañca meṇḍakaseṭṭhiyeva, bimbisāramahārājassa pana āṇāpavattiṭṭhāne pañca amitabhogā nāma ahesuṃ jotiko jaṭilo meṇḍako puṇṇo kākavaliyoti. Tesu ayaṃ meṇḍakaseṭṭhi dasabalassa attano nagaraṃ sampattabhāvaṃ sutvā puttassa dhanañcayaseṭṭhino dhītaraṃ visākhādārikaṃ pakkositvā evamāha – ‘‘amma, tuyhampi maṅgalaṃ amhākampi maṅgalaṃ, tava paricārikāhi pañcadārikāsatehi saddhiṃ pañca rathasatāni āruyha pañcahi dāsisatehi parivutā dasabalassa paccuggamanaṃ karohī’’ti. Sā pitāmahassa vacanaṃ sutvā tathā akāsi. Kāraṇākāraṇesu pana kusalattā yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikāva satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Athassā caritavasena satthā dhammaṃ desesi. Desanāpariyosāne pañcahi dārikāsatehi saddhiṃ sotāpattiphale patiṭṭhāsi. Meṇḍakaseṭṭhipi kho satthu santikaṃ gantvā satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Atha satthā tassapi caritavasena dhammaṃ desesi. So desanāpariyosāne sotāpattiphale patiṭṭhāya satthāraṃ svātanāya nimantetvā punadivase attano nivesane paṇītena khādanīyena bhojanīyena buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ parivisitvā etenupāyena aḍḍhamāsaṃ mahādānaṃ adāsi. Satthā bhaddiyanagare yathābhirantaṃ viharitvā pakkāmi.

Vào lúc bấy giờ, Trưởng giả Meṇḍaka là người đứng đầu trong số năm vị có phước báu lớn, giữ địa vị Trưởng giả. Năm vị phước báu lớn ấy là Trưởng giả Meṇḍaka, Vợ lớn của vị ấy tên là Candapadumā, con trai của vị ấy tên là Dhanañjaya, vợ của Dhanañjaya ấy tên là Sumanadevī, và người giúp việc của Trưởng giả Meṇḍaka tên là Puṇṇa. Và không chỉ riêng Trưởng giả Meṇḍaka, mà trong vương quốc của Đại vương Bimbisāra cũng có năm vị với khối tài sản không thể đếm xuể là: Jotiya, Jaṭila, Meṇḍaka, Puṇṇa và Kākavaliya. Trong số năm người đó, Trưởng giả Meṇḍaka này nghe rằng đấng Thập Lực đã đến kinh thành của mình, ông liền gọi cháu gái Visākhā là con gái Trưởng giả Dhanañjaya đến rồi nói như vầy: “Này cháu yêu, đây là điềm lành cho cả cháu và điềm lành cho cả ông. Cháu hãy bước lên năm trăm cỗ xe cùng với năm trăm bé gái tháp tùng và có năm trăm nữ tỳ tùy tùng thực hiện việc tiếp đón đấng Thập Lực.” Sau khi lắng nghe lời nói của ông nội, nàng đã làm như thế. Nhưng vì nàng là người thiện xảo về nguyên nhân và không phải nguyên nhân. Sau khi đã đi bằng cỗ xe hết khoảng đường dành cho xe, nàng đã xuống xe rồi làm người bộ hành đi đến gặp bậc Đạo Sư, đã đảnh lễ, rồi đứng một bên. Khi ấy bậc Đạo Sư đã thuyết giảng Giáo Pháp do tác động cơ tánh của nàng. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, nàng đã an trú vào quả vị Nhập Lưu cùng với năm trăm bé gái. Ngay cả Trưởng lão Meṇḍaka, sau khi đến gặp bậc Đạo Sư, đã đảnh lễ bậc Đạo Sư, rồi đứng một bên. Khi ấy, bậc Đạo Sư cũng đã thuyết giảng Giáo Pháp do tác động cơ tánh của vị ấy. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, Trưởng giả cũng đã an trú vào quả vị Nhập Lưu, rồi thỉnh mời bậc Đạo Sư vào ngày mai. Ngày hôm sau, tại dinh thự của mình, vị Trưởng giả đã dâng bữa ăn đến Hội chúng Tỳ-khưu có Đức Phật đứng đầu với các món ăn hảo loại cứng loại mềm. Bằng cách thức này, ông đã cúng dường lễ đại thí suốt nửa tháng. Khi đã ngự tại thành Bhaddiya theo như ý thích, rồi bậc Đạo Sư mới rời đi.

Ito paraṃ aññaṃ kathāmaggaṃ vissajjetvā visākhāya uppattikathāva kathetabbā. Sāvatthiyañhi kosalarājā bimbisārassa santikaṃ pesesi – ‘‘mama āṇāpavattiṭṭhāne amitabhogavindanakulaṃ nāma natthi, amhākaṃ amitabhogavindanakulaṃ pesetū’’ti. Rājā amaccehi saddhiṃ mantesi. Amaccā ‘‘mahākulaṃ pesetuṃ na sakkā, ekaṃ pana seṭṭhiputtaṃ pesessāmā’’ti meṇḍakaseṭṭhino puttaṃ dhanañcayaseṭṭhiṃ āyāciṃsu. Rājā tesaṃ vacanaṃ sutvā taṃ pesesi. Atha naṃ kosalarājā sāvatthito sattayojanamatthake sāketanagare seṭṭhiṭṭhānaṃ datvā vāsesi.

Kể từ đây, sau khi đã trả lời các đường lối giải thích khác, nên nói câu chuyện về sự xuất hiện (sanh khởi) của Visākhā. Thật vậy, tại thành Sāvatthī, Đức vua xứ Kosala đã gửi bức thứ đến Đức vua Bimbisāra (với nội dung) như sau: “Trong Vương quốc của trẫm, hiện không có gia tộc nào sở hữu của cải và tài sản vô lượng cả. (Ngược lại, trong vương quốc của Đại vương lại có những gia tộc sở hữu của cải và tài sản vô lượng), xin Đại vương hãy gửi cho trẫm một gia tộc sở hữu của cải và tài sản vô lượng.” Đức vua (Bimbisāra) đã bàn thảo với các quan đại thần. Các viên quan đại thần thưa rằng: “Chúng ta không thể nào phái cả một gia tộc lớn đi được, nhưng chúng ta có thể phái con trai của một vị Trưởng giả đi,” nên mới đến thỉnh cầu Trưởng giả Dhanañjaya (cha của nàng Visākhā), con trai Trưởng giả Meṇḍaka. Sau khi nghe lời tham vấn của các viên quan đại thần, Đức vua đã cử Trưởng giả Dhanañjaya lên đường (sang Vương quốc Kosala). Lúc bấy giờ, Đức vua xứ Kosala đã ban tước vị Trưởng giả và cho vị ấy sống ở kinh thành Sāketa cách kinh thành Sāvatthī bảy do-tuần.

Sāvatthiyañca migāraseṭṭhino putto puṇṇavaḍḍhanakumāro nāma vayappatto ahosi. Athassa pitā ‘‘putto me vayappatto, gharāvāsenassa ābandhanasamayo’’ti ñatvā ‘‘amhākaṃ samānajātike kule dārikaṃ pariyesathā’’ti kāraṇākāraṇakusale purise pesesi. Te sāvatthiyaṃ attano rucitaṃ dārikaṃ adisvā sāketaṃ agamaṃsu. Taṃdivasañca, visākhā, attano samānavayehi pañcahi kumārikāsatehi parivāritā nakkhattakīḷanatthāya ekaṃ mahāgāmaṃ agamāsi. Tepi purisā antonagare caritvā attano rucitaṃ dārikaṃ adisvā bahinagaradvāre aṭṭhaṃsu. Tasmiṃ samaye devo vassituṃ ārabhi. Atha tā visākhāya saddhiṃ nikkhantā dārikā temanabhayena vegena sālaṃ pavisiṃsu. Te purisā tāsampi antare yathārucitaṃ dārikaṃ na passiṃsu. Tāsaṃ pana sabbapacchato, visākhā, devaṃ vassantampi agaṇetvā aturitagamanena temayamānāva sālaṃ pāvisi. Te purisā taṃ disvā cintayiṃsu – ‘‘rūpavatī tāva kaññā etaparamā bhaveyya, rūpaṃ panetaṃ ekaccāya kāritapattaṃ viya hoti, kathaṃ samuṭṭhāpetvā kathentā jānissāma madhuravacanā vā no vā’’ti. Tato naṃ āhaṃsu – ‘‘ativiya pariṇatavayā itthī viya yāsi, ammā’’ti. Kiṃ disvā kathetha, tātāti? Aññā tayā saddhiṃ kīḷanakumāriyo temanabhayena vegena āgantvā sālaṃ paviṭṭhā, tvaṃ pana mahallikā viya padavāraṃ atikkamma nāgacchasi, sāṭakassa temanabhāvampi na gaṇesi. Sace taṃ hatthī vā asso vā anubandheyya, kiṃ evamevaṃ kareyyāsīti? Tātā, sāṭakā nāma na dullabhā, sulabhā mayhaṃ kule sāṭakā. Vayappattā mātugāmā pana paṇiyabhaṇḍasadisā, hatthe vā pāde vā bhagge aṅgavikalaṃ mātugāmaṃ jigucchantā niṭṭhubhitvā gacchanti, tasmā saṇikaṃ āgatāmhīti.

Và tại thành Sāvatthi, con trai Trưởng giả Migāra tên là công tử Puṇṇavaddhana đã đến tuổi trưởng thành. Khi ấy, thân phụ của cậu biết rằng: “Con trai của mình đã đến tuổi trưởng thành, đã đến lúc ràng buộc bằng đời sống gia đình,” nên đã phái nhóm người (một trăm lẻ tám vị Bà-la–môn) thiện xảo về nguyên nhân và không phải nguyên nhân, với lời căn dặn rằng: “Các ngươi hãy tìm kiếm một cô gái trong một gia tộc đồng đẳng về sanh chủng (môn đăng hộ đối) với chúng ta.” Họ không nhìn thấy cô gái nào ưng ý mình trong thành Sāvatthi, vì vậy họ đã đi đến thành Sāketa. Và vào ngày hôm đó, nàng Visākhā, được tháp tùng bởi năm trăm thiếu nữ đồng trang lứa đi đến một hồ nước lớn để tham gia lễ hội các chòm sao. Những người ấy, sau khi đi khắp nơi trong thành, cũng không nhìn thấy được cô gái nào ưng ý nên đã ra đứng đợi ở ngoài cổng thành. Vào lúc đó, trời bắt đầu đổ mưa. Khi đó, những thiếu nữ rời khỏi cùng Visākhā đã vội vã chạy vào túp lều (trú mưa) vì sợ ướt. Nhóm người ấy không thấy một cô gái nào theo như kỳ vọng trong số họ. Còn nàng Visākhā đi sau cùng tất cả, không hề bận tâm đến trời đang mưa làm bản thân bị ướt sũng bước vào túp lều với sự bước đi không vội vã. Những người ấy, sau khi nhìn thấy nàng ấy, đã nghĩ rằng: “Cô gái này có sắc đẹp vượt trội hơn những cô gái khác. Tuy nhiên, vẻ đẹp này đây là điều mà một số nữ nhân có thể trang điểm lên được, giống như người thợ làm xe trang trí cho bánh xe vậy.” Mới thảo luận với nhau rằng: ‘Chúng ta cần phải biết xem cô bé này có nói năng dịu dàng hay không?’ Sau đó, họ đã nói với nàng rằng: ‘Này cô bé, cháu giống như một người phụ nữ có độ tuổi đã trưởng thành.’” – Nàng Visākhā: Các ông đã nhìn thấy điều gì mà nói như vậy? – Họ đáp rằng: “Những thiếu nữ đồng trang lứa chơi đùa với cháu đều vội vàng chạy vào túp lều (trú mưa) vì sợ ướt. Còn cháu như một bà lão, không hề rảo bước, cũng chẳng bận tâm chuyện y phục bị ướt. Nếu chẳng may có voi hay ngựa rượt đuổi theo cháu như thế, thì cháu sẽ làm thế nào?” – Nàng Visākhā: “Thưa các ông, y phục là không khó tìm kiếm, y phục trong gia tộc của cháu là dễ dàng có được. Nhưng đối với một người thiếu nữ đã đến trưởng thành cũng giống như một món hàng để buôn bán. Khi tay hoặc chân bị gãy (trở nên què quặt), mọi người nhìn cô gái với thân hình khuyết tật sẽ ghê tởm, nhổ nước bọt rồi bỏ đi. Chính vì lẽ đó, cháu mới từ từ bước đi.”

Te cintayiṃsu – ‘‘imāya sadisā imasmiṃ jambudīpe itthī nāma natthi, yādisā rūpena, kathāyapi tādisāva. Kāraṇākāraṇaṃ ñatvā kathetī’’ti tassā upari mālāguḷaṃ khipiṃsu. Atha, visākhā, cintesi – ‘‘ahaṃ pubbe apariggahitā, idāni pana pariggahitāmhī’’ti vinītenākārena bhūmiyaṃ nisīdi. Atha naṃ tattheva sāṇiyā parikkhipiṃsu. Sā paṭicchannabhāvaṃ ñatvā dāsigaṇaparivutā gehaṃ agamāsi. Tepi migāraseṭṭhino purisā tāya saddhiṃyeva dhanañcayaseṭṭhissa santikaṃ agamaṃsu. ‘‘Kataragāmavāsino, tātā, tumhe’’ti pucchitā ‘‘sāvatthinagare migāraseṭṭhino purisamhā’’ti vatvā ‘‘mayaṃ amhākaṃ seṭṭhinā tumhākaṃ gehe vayappattā dārikā atthīti sutvā pesitā’’ti. Sādhu, tātā, tumhākaṃ seṭṭhi kiñcāpi bhogena amhehi asadiso, jātiyā pana sadiso. Sabbākārasampanno nāma dullabho gacchatha tumhe seṭṭhissa amhehi sampaṭicchitabhāvaṃ ārocethāti.

Họ nghĩ rằng— “Những thiếu nữ trong khắp cõi Jambudīpa này không ai có thể sánh bằng cô gái này, cả về vóc dáng lẫn lời ăn tiếng nói, biết rõ về nguyên nhân và không phải nguyên nhân rồi mới nói,” sau đó họ tung vòng hoa lên người nàng. Ngay lúc đó, nàng Visākhā nghĩ rằng: “Trước đây ta không bị (người khác) sở hữu, nhưng kể từ giây phút này, ta sẽ bị (người khác) sở hữu.” Nàng đã ngồi xuống đất theo biểu hiện bị họ đưa đi. Khi ấy, họ liền dùng màn che vây quanh nàng ngay tại chỗ đó. Sau khi biết mình đã được che kín, có nhóm tỳ nữ tháp tùng đã quay trở về nhà. Luôn cả người của Trưởng giả Migāra cũng cùng nhau đi đến dinh thự của Trưởng giả Dhanañjaya cùng với nàng. Khi Trưởng giả hỏi rằng: “Này các vị, các vị sinh sống ở làng nào?” Họ đáp: “Chúng tôi là người của Trưởng giả Migāra ở thành Sāvatthī.” Rồi nói tiếp: “Trưởng giả của chúng tôi nghe tin– trong gia đình ngài có cô tiểu thư đã đến tuổi trưởng thành, nên phái chúng tôi đến đây.” – Trưởng giả Dhanañjaya nói rằng: “Này các vi, tốt lắm! Trưởng giả của các vị tuy không thể sánh bằng ta về tài sản, nhưng cũng đồng đẳng về sanh chủng. Xưa nay người hội đủ mọi phẩm chất là khó tìm. Các vị hãy về thưa với Trưởng giả rằng: “Ta chấp thuận.”

Te tassa vacanaṃ sutvā sāvatthiṃ gantvā migāraseṭṭhissa tuṭṭhiṃ vaḍḍhiṃ ca pavedetvā ‘‘laddhā no sāmi sākete dhanañcayaseṭṭhissa gehe dārikā’’ti āhaṃsu. Taṃ sutvā migāraseṭṭhi ‘‘mahākulagehe kira no dārikā laddhā’’ti tuṭṭhamānaso hutvā tāvadeva dhanañcayaseṭṭhissa sāsanaṃ pahiṇi ‘‘idāneva dārikaṃ ānayissāma, kattabbakiccaṃ karontū’’ti. Sopissa paṭisāsanaṃ pesesi – ‘‘nayidaṃ amhākaṃ bhāriyaṃ, seṭṭhi pana attano kattabbakiccaṃ karotū’’ti. So kosalarañño santikaṃ gantvā ārocesi – ‘‘deva, ekā me maṅgalakiriyā atthi, dāsassa te puṇṇavaḍḍhanassa dhanañcayaseṭṭhino dhītaraṃ visākhaṃ nāma dārikaṃ ānessāmi, sāketagamanaṃ me anujānāthā’’ti. Sādhu, mahāseṭṭhi, kiṃ pana amhehipi āgantabbanti? Deva tumhādisānaṃ gamanaṃ laddhuṃ sakkāti? Rājā mahākulassa saṅgahaṃ kātukāmo ‘‘hotu seṭṭhi, āgamissāmī’’ti sampaṭicchitvā migāraseṭṭhinā saddhiṃ sāketanagaraṃ agamāsi. Dhanañcayaseṭṭhi ‘‘migāraseṭṭhi kira kosalarājānaṃ gahetvā āgato’’ti sutvā paccuggamanaṃ katvā rājānaṃ gahetvā attano nivesanaṃ agamāsi. Tāvadeva rañño ca rājabalassa ca migāraseṭṭhino ca vasanaṭṭhānaṃ ceva mālāgandhabhattādīni ca sabbāni paṭiyādesi. ‘‘Idaṃ imassa laddhuṃ vaṭṭati, idaṃ imassā’’ti sabbaṃ attanāva jānāti. Te te janā cintayiṃsu – ‘‘seṭṭhi amhākameva sakkāraṃ karotī’’ti.

Họ đã trở về thành Sāvatthī sau khi nghe lời nói của Trưởng giả Dhanañjaya, rồi báo tin mừng và sự thành công cho Trưởng giả Migāra rằng: “Thưa chủ nhân, chúng tôi đã có được tiểu thư trong gia đình của Trưởng giả Dhanañjaya ở Sāketa.” Sau khi nghe điều đó, Trưởng giả Migāra đã vô cùng vui mừng rằng: “Nghe nói, chúng ta có được đứa con gái (nàng dâu) từ một gia tộc lớn,” ngay lập tức ông đã gửi bức thứ đến Trưởng giả Dhanañjaya rằng: “Bây giờ, tôi sẽ đến để đón con dâu, hãy làm công việc cần phải làm.” Về phía Trưởng giả Dhanañjaya cùng gửi bức thứ hồi đáp đến Trưởng giả Migāra rằng— “Chuyện này không có gì khó khăn đối với chúng tôi, xin Trưởng giả hãy làm công việc cần phải làm của mình.” Vị ấy đã đến yết kiến Đức vua xứ Kosala rồi thưa rằng: “Tâu Bệ hạ, thần có một lễ cưới (cho con trai của hạ thần), hạ thần sẽ dẫn (cưới) thiếu nữ tên là Visākhā, ái nữ của Trưởng giả Dhanañjaya về cho con trai Puṇṇavaddhana là bề tôi của Ngài, cúi xin bệ hạ cho phép hạ thần được khởi hành đến thành Sāketa.” Đức vua nói rằng: “Tốt lắm! Này đại Trưởng giả, trẫm cũng nên đi cùng phải không?” – Trưởng giả: “Tâu Bệ hạ, làm sao thần có thế đi cùng với một bậc chí tôn như Ngài?” Đức vua có ước muốn trợ giúp gia tộc lớn, đã đồng ý rằng: “Thôi được rồi ông Trưởng giả, trẫm sẽ đến.” Rồi khởi giá đến thành Sāketa cùng Trưởng giả Migāra. Trưởng giả Dhanañcaya nghe tin rằng: “Nghe nói, Trưởng giả Migāra đã đưa Đức vua xứ Kosala đến,” ông đã thực hiện việc nghênh đón và đưa Đức vua đi đến dinh thự của mình. Ngay lập tức, ông truyền lệnh sắp xếp chỗ nghỉ ngơi, chuẩn bị tràng hoa và hương thơm v.v, cùng với mọi vật dụng cần thiết dâng cho Đức vua. Còn đối với binh lính của Đức vua và Trưởng giả Migāra, ông tự mình nhận biết (quán xuyến) mọi việc rằng: “Cái này thích hợp cho người này, còn cái này cho người này.” Những người ấy đều nghĩ rằng– “Trưởng giả thực hiện sự kính trọng cho riêng một mình mình vậy.”

Athekadivasaṃ rājā dhanañcayaseṭṭhissa sāsanaṃ pahiṇi ‘‘na sakkā seṭṭhinā cirakālaṃ amhākaṃ bharaṇaposanaṃ kātuṃ, dārikāya gamanakālaṃ jānātū’’ti. Sopi rañño sāsanaṃ pesesi – ‘‘idāni vassakālo āgato, na sakkā catumāsaṃ vicarituṃ, tumhākaṃ balakāyassa yaṃ yaṃ laddhuṃ vaṭṭati, sabbaṃ taṃ mama bhāro. Kevalaṃ devo mayā pesitakāle gacchatū’’ti. Tato paṭṭhāya sāketanagaraṃ niccanakkhattagāmo viya ahosi. Evaṃ tayo māsā atikkantā. Dhanañcayaseṭṭhino pana dhītāya mahālatāpasādhanaṃ na tāva niṭṭhaṃ gacchati. Athassa kammantādhiṭṭhāyakā āgantvā ārocayiṃsu – ‘‘sesaṃ asantaṃ nāma natthi, balakāyassa pana bhattapacanadārūni nappahontī’’ti. ‘‘Gacchatha, tātā, hatthisālā assasālā viyojetvā bhattaṃ pacathā’’ti. Evaṃ pacantānampi aḍḍhamāso atikkanto. Tato puna ārocayiṃsu – ‘‘dārūni sāmi nappahontī’’ti. ‘‘Tātā, imasmiṃ kāle dārūni laddhuṃ na sakkā, dussakoṭṭhāgāraṃ pana vivaritvā thūlasāṭake gahetvā vaṭṭiyo katvā telacāṭiyaṃ temetvā bhattaṃ pacathā’’ti. Iminā niyāmena pacantānaṃ cattāro māsā pūrayiṃsu.

Sau đó, vào một ngày nọ, Đức vua gửi bức thư đến Trưởng giả Dhanañjaya rằng: “Này Trưởng giả, khanh không thể duy trì sự nuôi dưỡng chúng ta mãi thế này được, trẫm mong khanh hãy xác định rõ thời gian để tiểu thư khởi hành (về nhà chồng).” Trưởng giả Dhanañjaya cũng gửi bức thư đến Đức vua rằng: “Tâu Bệ hạ, nay mùa mưa đã đến, binh lính của Ngài không thể di chuyển suốt bốn tháng mùa mưa được. Phận sự nào nên được thực hiện, tất cả phận sự đó đều là trách nhiệm của hạ thần. Xin bệ hạ hãy khởi giá vào đúng lúc hạ thần tiễn con gái đi mà thôi. Kể từ đó trở đi, thành Sāketa đã trở nên nhộn nhịp như thể xóm làng thường xuyên có lễ hội. Trải qua 3 tháng như vậy, bộ trang sức mang tên Mahālatā-pasādhana dành cho con gái Trưởng giả Visākhā vẫn chưa hoàn thành. Khi ấy, những người phụ trách hậu cận đến thưa với Trưởng giả rằng: “Thưa ông chủ, những thứ (vật dụng cần thiết) không có đối với những người đó thì không có; nhưng củi dùng để nấu ăn cho binh lính thì lại không đủ.” Trưởng giả Dhanañjaya liền ra lệnh: “Này các ngươi, hãy đi dỡ bỏ các dãy chuồng voi, chuồng ngựa, lấy gỗ đó làm củi nấu ăn.” Khi nấu nướng như vậy đã trải qua thêm nửa tháng. Khi đó, họ đến báo rằng: “Thưa ông chủ, củi không đủ ạ.” Trưởng giả: “Này các ngươi, vào mùa này chúng ta không thể tìm thêm củi khô. Các ngươi hãy mở kho vải ra, lấy những loại vải thô, bện thành sợi rồi nhúng vào các thùng dầu, sử dụng chúng để nấu thức ăn.” Với chính cách thức này, việc nấu nướng cũng tròn đủ bốn tháng mùa mưa.

Tato dhanañcayaseṭṭhi dhītuyā mahālatāpasādhanassa niṭṭhitabhāvaṃ ñatvā ‘‘sve dārikaṃ pesessāmī’’ti dhītaraṃ samīpe nisīdāpetvā ‘‘amma patikule vasantiyā nāma imañcimañca ācāraṃ sikkhituṃ vaṭṭatī’’ti ovādaṃ adāsi. Ayaṃ migāraseṭṭhi anantaragabbhe nisinno dhanañcayaseṭṭhino ovādaṃ assosi. Sopi seṭṭhi dhītaraṃ evaṃ ovadi –

Khi ấy, Trưởng giả Dhanañjaya biết rằng bộ trang sức Mahālatā-pasādhana dành cho con gái đã hoàn thành, ông liền ra lệnh: “Ngày mai ta sẽ gả con gái (về nhà chồng).” Ông gọi con gái đến ngồi bên cạnh rồi ban lời giáo huấn rằng: “Này con, phận nữ nhi khi về sống bên nhà chồng, con cần phải học tập các tánh hạnh như thế này, như thế này…” Lúc đó, Trưởng giả Migāra đang ngồi ở phòng bên cạnh cũng nghe được những lời giáo huấn của Dhanañjaya. Trưởng giả Dhanañjaya đã giáo huấn con gái mình như sau:

‘‘Amma sasurakule vasantiyā nāma antoaggi bahi na nīharitabbo, bahiaggi anto na pavesetabbo, dadantasseva dātabbaṃ, adadantassa na dātabbaṃ, dadantassapi adadantassapi dātabbaṃ, sukhaṃ nisīditabbaṃ, sukhaṃ paribhuñjitabbaṃ, sukhaṃ nipajjitabbaṃ, aggi paricaritabbo, antodevatā namassitabbā’’ti.

“Này con, là người phụ nữ sống trong gia đình chồng– (1) lửa bên trong nhà không nên mang ra ngoài, (2) lửa bên ngoài không nên mang vào trong nhà, (3) những người nào đáng cho thì chỉ nên cho đến những người đó, (4) những người nào không đáng cho thì không nên cho đến những người đó, (5) nên cho cả người đáng cho và người không đáng cho, (6) nên ngồi một cách an lạc, (7) nên thọ dụng một cách an lạc, (8) nên ngủ một cách an lạc, (9) nên chăm nom ngọn lửa, (10) nên thờ phụng chư Thiên bên trong.”

Imaṃ dasavidhaṃ ovādaṃ datvā punadivase sabbā seniyo sannipātetvā rājasenāya majjhe aṭṭha kuṭumbike pāṭibhoge gahetvā ‘‘sace me dhītu gataṭṭhāne doso uppajjati, tumhehi sodhetabbo’’ti vatvā navakoṭiagghanakena mahālatāpasādhanena dhītaraṃ pasādhetvā nhānacuṇṇamūlaṃ catupaṇṇāsasakaṭasataṃ dhanaṃ datvā dhītāya saddhiṃ nibaddhaṃ gamanacāriniyo pañcasatā dāsiyo pañca ājaññarathasatāni sabbūpakārañca sataṃ sataṃ datvā kosalarājānañca migāraseṭṭhiñca, vissajjetvā dhītu gamanavelāyaṃ vajādhiṭṭhāyake purise pakkosāpetvā, ‘‘tātā, mama dhītāya gataṭṭhāne khīrapānatthaṃ dhenūhi, yānayojanatthaṃ usabhehi ca attho hoti, tasmā mama dhītu gamanamagge vajadvāraṃ vivaritvā puthulato aṭṭha usabhāni gogaṇena pūretvā tigāvutamatthake asukā nāma kandarā atthi, aggagoyūthe taṃ ṭhānaṃ patte bherisaññāya vajadvāraṃ pidaheyyāthā’’ti.

Sau khi ban mười điều giáo huấn như thế, ngày hôm sau Trưởng giả Dhanañjaya đã triệu tập toàn bộ tướng lãnh các đơn vị, sau đó sắp xếp tám gia chủ ở giữa binh lính của Đức vua để làm người bảo hộ, rồi nói: “Nếu có điều sai trái xảy ra đối với con gái của tôi ở tại địa điểm đã đi đến, các ông cần phải làm cho sáng tỏ.” Nói xong, ông cho trang hoàng bằng bộ trang sức Mahālatā-pasādhana có giá chín koṭi, cho tài sản một trăm năm mươi bốn cổ xe bò là chi phí mua bột thơm để pha nước tắm, cho năm trăm nữ tỳ xinh đẹp thường xuyên hầu hạ con gái khi di chuyển, năm trăm cỗ xe ngựa thuần chủng và tất cả mọi lễ vật mỗi thứ một trăm, (ông) giải thích rõ ràng cho vua Pasenadi và Trưởng giả Migāra biết. Đến lúc con gái khởi hành, ông đã gọi người quản lý chuồng bò đến và căn dặn rằng: “Này các ngươi, tại địa điểm con gái ta đi đến, hãy chuẩn bị sẵn các con bò sữa để khi con gái ta muốn uống sữa, hãy chuẩn bị các con bò mộng để khi con gái ta cần lồng ách vào các cỗ xe. Vì thế, các ngươi hãy mở cửa chuồng bò dọc theo cung đường mà con gái ta đi qua, hãy chọn tám con bò mông khỏe mạnh nhất dẫn đầu đàn bò đi đến thung lũng nọ có diện tích khoảng ba gāvuta, khi đàn bò đã đến nơi đó, hãy đánh trống báo hiệu rồi mới đóng cửa chuồng.”

Te ‘‘sādhū’’ti seṭṭhissa vacanaṃ sampaṭicchitvā tathā akaṃsu. Vajadvāre vivaṭe uḷāruḷārāyeva gāviyo nikkhamiṃsu. Dvāre pidahite pana visākhāya puññabalena balavagāvo ca dammagāvo ca bahi laṅghitvā maggaṃ paṭipajjiṃsu. Atha, visākhā, sāvatthinagaradvāraṃ pattakāle cintesi – ‘‘paṭicchannayānasmiṃ nu kho nisīditvā pavisāmi, udāhu rathe ṭhatvā’’ti. Athassā etadahosi – ‘‘paṭicchannayānena me pavisantiyā mahālatāpasādhanassa viseso na paññāyissatī’’ti. Sā sakalanagarassa attānaṃ dassentī rathe ṭhatvā nagaraṃ pāvisi. Sāvatthivāsino visākhāya sampattiṃ disvā ‘‘esā kira, visākhā, nāma evarūpā, ayañca sampatti etissāva anucchavikā’’ti āhaṃsu. Iti sā mahāsampattiyā migāraseṭṭhino gehaṃ pāvisi. Āgatadivase cassā sakalanagaravāsino ‘‘amhākaṃ, dhanañcayaseṭṭhi, attano nagaraṃ sampattānaṃ mahāsakkāraṃ akāsī’’ti yathābalaṃ paṇṇākāraṃ pahiṇiṃsu. Visākhā, pahitapahitaṃ paṇṇākāraṃ tasmiṃyeva nagare aññamaññesu kulesu sabbatthakameva dāpesi. Athassā rattibhāgasamanantare ekissā ājaññavaḷavāya gabbhavuṭṭhānaṃ ahosi. Sā dāsīhi daṇḍadīpikā gāhāpetvā tattha gantvā vaḷavaṃ uṇhodakena nhāpetvā telena makkhāpetvā attano vasanaṭṭhānameva agamāsi.

Sau khi tiếp nhận lời nói của Trưởng giả (nói rằng) “Dạ vâng!” rồi làm theo như thế. Khi cửa chuồng mở, chỉ những con bò to lớn đi ra. Nhưng khi cửa đã đóng lại, những con bò đã được huấn luyện, những con bò khỏe mạnh và hung dữ vẫn nhảy rào lao ra ngoài để đi chung đường (cùng đoàn) nhờ sức mạnh phước báu của nàng Visākhā. Khi ấy, vào lúc đến cổng thành Sāvatthī, nàng Visākhā nghĩ rằng — “Ta sẽ ngồi trong cỗ xe được che kín, hay đứng trên xe đi vào kinh thành?” Khi đó, điều này đã khởi đến cho nàng— “Khi ta vào thành bằng cỗ xe được che kín thì sự đặc biệt của bộ trang sức Mahālatā-pasādhana sẽ không có ai được nhận biết.” (Vì vậy,) nàng đã đứng trên xe đi vào kinh thành để lộ diện bản thân cho dân chúng khắp cả kinh thành (nhìn thấy). Dân chúng thành Sāvatthī sau khi nhìn thấy sự thành tựu của nàng Visākhā, đã nói rằng: “Nghe nói, thiếu nữ này tên là Visākhā, và quả thực sự thành tựu có hình thức như thế này hoàn toàn xứng đáng với nàng.” Nàng đã bước vào dinh thự của Trưởng giả Migāra với sự thành tựu to lớn như thế. Cũng vào ngày nàng đến, dân chúng khắp thành phố đều gửi quà biếu tùy theo khả năng của mình, với lời nói rằng: “Trưởng giả Dhanañjaya của chúng ta đã thể hiện lòng hiếu khách hết sức trọng hậu đối với những người đến thành phố của ông.” Visākhā cho chuẩn bị các quà biếu đáp lễ đã được gửi qua lại phân phát khắp mọi gia đình với nhau trong chính thành đó. Vào giữa đêm hôm đó, có một con ngựa cái thuần chủng đến kỳ sanh nở. Nàng đã sai các nữ tỳ cầm đuốc đi đến nơi đó, bảo họ tắm nước ấm cho ngựa mẹ, dùng dầu xoa bóp cơ thể cho nó, rồi sau đó nàng mới trở về phòng của mình.

Migāraseṭṭhipi sattāhaṃ puttassa āvāhasakkāraṃ karonto dhuravihāre vasantampi tathāgataṃ amanasikatvā sattame divase sakalanivesanaṃ pūrento naggasamaṇake nisīdāpetvā ‘‘āgacchatu me dhītā, arahante vandatū’’ti visākhāya sāsanaṃ pahiṇi. Sā ‘‘arahantā’’ti vacanaṃ sutvā sotāpannā ariyasāvikā haṭṭhatuṭṭhā hutvā tesaṃ nisinnaṭṭhānaṃ gantvā te oloketvā ‘‘na evarūpā nāma arahantā honti, hirottappavivajjitānaṃ nāma santikaṃ kasmā maṃ sasuro pakkosāpetī’’ti ‘‘dhī, dhī’’ti garahitvā attano vasanaṭṭhānameva gatā. Naggasamaṇā taṃ disvā sabbe ekappahāreneva seṭṭhiṃ garahiṃsu – ‘‘kiṃ tvaṃ, gahapati, aññaṃ nālattha, samaṇassa gotamassa sāvikaṃ mahākāḷakaṇṇiṃ kasmā imaṃ gehaṃ pavesesi, vegena naṃ imasmā gehā nīharāhī’’ti. Tato seṭṭhi ‘‘na sakkā mayā imesaṃ vacanena imaṃ gehā nīharituṃ, mahākulassa dhītā aya’’nti cintetvā – ‘‘ācariyā daharā nāma jānitvā vā ajānitvā vā kareyyuṃ, tumhe tuṇhī hothā’’ti nagge uyyojetvā mahāpallaṅke nisīdāpetvā suvaṇṇakaṭacchuṃ gahetvā visākhāya parivisiyamāno suvaṇṇapātiyaṃ appodakamadhupāyāsaṃ paribhuñji.

Về phần Trưởng giả Migāra, ông tổ chức lễ cưới cho con trai trong 7 ngày đêm mà không đoái hoài đến Đức Thế Tôn, dù Ngài đang cư ngụ tại một Tịnh xá gần đó. Đến ngày thứ 7, ông mời các đạo sĩ lõa thể đến ngồi chật ních cả dinh thự, rồi sai người thông báo cho Visākhā rằng: “Con gái của ta (con dâu) hãy đến đảnh lễ các bậc A-la-hán.” Nàng Visākhā vốn là một bậc Thánh Nhập Lưu, khi nghe nói rằng “các bậc A-la-hán” thì trở nên mừng rỡ hoan hỷ, liền đi đến nơi các vị ấy đang ngồi, khi vừa nhìn thấy họ, nghĩ rằng: “Những đạo sĩ lõa thể có hình thức như thế này không phải là các bậc A-la-hán, tại sao cha cho gọi con đến gặp những người không có lòng tàm quý (không biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi) như thế này?”  ” rồi trách rằng: “Thật đáng trách, thật đáng trách” sau đó nàng trở về phòng mình. Các đạo sĩ lõa thể nhìn thấy nàng, tất cả họ đã đồng loạt quở trách Trưởng giả Migāra rằng: “Này gia chủ, ông không tìm được người phụ nữ nào khác à, vì sao ông lại rước cô gái này là nữ đệ tử của Sa-môn Gotama, là một kẻ đại vô phúc (kẻ đem lại sự bất hạnh) vào nhà? Hãy mau chóng đuổi cô ta ra khỏi nhà này!” Khi ấy, Trưởng giả Migāra nghĩ rằng: “Ta không thể đuổi cô gái này ra khỏi nhà chỉ vì lời của các đạo sĩ lõa thể này, bởi vì cô là con gái của một gia tộc lớn,” mới thưa rằng: “Bạch các thầy, những người trẻ tuổi có thể làm cả điều chúng biết và điều chúng không biết, xin các thầy hãy làm thinh (bỏ qua).” Sau khi tiễn các đạo sĩ lõa thể về, ông ngồi trên một ghế dài lớn, được nàng Visākhā cầm lấy muỗng vàng hầu trong khi thọ dụng món cơm sữa có ít nước trong một cái tô vàng.

Tasmiṃ samaye eko piṇḍacāriko thero piṇḍāya caranto seṭṭhissa gharadvāraṃ pāpuṇi. Visākhā, taṃ disvā ‘‘sasurassa ācikkhituṃ na yutta’’nti yathā so theraṃ passati, evaṃ apagantvā aṭṭhāsi. So pana bālo theraṃ disvāpi apassanto viya hutvā adhomukho pāyāsameva bhuñjati. Visākhā, ‘‘theraṃ disvāpi me sasuro saññaṃ na karotī’’ti ñatvā theraṃ upasaṅkamitvā ‘‘aticchatha, bhante, mayhaṃ sasuro purāṇaṃ khādatī’’ti āha. So nigaṇṭhehi tāva kathitakāle adhivāsesi, ‘‘purāṇaṃ khādatī’’ti vuttakkhaṇeyeva pana hatthaṃ apanetvā ‘‘imaṃ pāyāsaṃ ito haratha, etañca imasmā gehā nīharatha. Ayañhi maṃ evarūpe maṅgalagehe asucikhādakaṃ nāma karotī’’ti āha. Tasmiṃ kho pana nivesane sabbepi dāsakammakarā visākhāya santakāva, ko naṃ hatthe vā pāde vā gaṇhissati, mukhena kathetuṃ samatthopi nāma natthi. Tato, visākhā, sasurassa kathaṃ sutvā āha – ‘‘tāta, na ettakena vacanena mayaṃ nikkhamāma, nāhaṃ tumhehi udakatitthato kumbhadāsikā viya ānītā. Dharamānakamātāpitūnaṃ dhītaro nāma na ettakeneva nikkhamanti, eteneva me kāraṇena pitā idhāgamanadivase aṭṭha kuṭumbike pakkosāpetvā ‘sace me dhītaraṃ upādāya doso uppajjati, sodheyyāthā’ti vatvā tesaṃ hatthe ṭhapesi. Te pakkosāpetvā mayhaṃ dosādosaṃ sodhāpethā’’ti.

Vào lúc bấy giờ, một vị Trưởng lão thọ trì hạnh khất thực trong khi đi khất thực đến trước cửa nhà của vị Trưởng giả. Nàng Visākhā, nhìn thấy Trưởng lão, nghĩ rằng: “Không thích hợp nói cho cha chồng biết,” và cả Trưởng giả cũng nhìn thấy vị Trưởng lão ấy chưa rời đi, vẫn đang đứng như thế. Nhưng (vì) Trưởng giả ấy là kẻ ngu muội, dù thấy Trưởng lão nhưng ông ta vờ như không thấy, cứ cúi đầu thọ dụng món cháo sữa. Nàng Visākhā, sau khi biết được rằng: “Cha chồng của ta dù đã thấy Trưởng lão nhưng vẫn làm ngơ,” nàng bèn đến gần Trưởng lão và nói rằng: “Bạch Ngài, Ngài hãy đi đi, cha chồng của con hiện đang ăn đồ cũ.” Trưởng giả ấy trước đó đã khoan thứ khi bị quở trách bởi các đạo sĩ lõa thể, nhưng ngay khoảnh khắc nàng Visākhā nói mình rằng “ăn đồ cũ”, ông liền buông tay và ra lệnh rằng: “Các ngươi hãy đem tô cơm sữa này đổ đi, và hãy đuổi người phụ nữ này ra khỏi ngôi nhà này! Bởi vì cô ấy khiến cho ta bị mang tiếng là kẻ ăn đồ không sạch sẽ trong một ngôi nhà cát tường có hình thức như thế.” Thế nhưng, trong dinh thự đó, tất cả gia nhân, nô tỳ và người làm, v.v, đều là thuộc quyền sở hữu của nàng Visākhā, không có bất cứ ai dám nắm lấy tay hoặc chân nàng, thậm chí cũng không có ai dám hé môi nói một lời nào cả. Khi ấy, sau khi nghe lời của cha chồng, nàng Visākhā đã thưa rằng— “Thưa cha, chúng con sẽ không rời khỏi chỉ vì lời nói này. Con cũng không phải bị cha mang về từ bến nước giống như những nữ tỳ đội nước. Thông thường, thân phận nữ nhi có cha mẹ còn tại thế không rời khỏi chỉ vì lý do này. Hơn nữa, vào ngày con đến đây, cha của con đã mời tám vị gia chủ đến và căn dặn rằng: “Nếu có điều sai trái xảy ra đối với con gái của tôi, các ông cần phải làm cho sáng tỏ,” rồi giao con vào tay của các vị ấy. Vì vậy, xin cha hãy mời họ đến đây để xét xử xem đó là điều sai trái hay không phải điều sai trái của con.’”

Tato seṭṭhi ‘‘kalyāṇaṃ esā kathetī’’ti aṭṭha kuṭumbike pakkosāpetvā ‘‘ayaṃ dārikā sattame divase aparipuṇṇeyeva maṅgalagehe nisinnaṃ maṃ ‘asucikhādako’ti vadatī’’ti āha. Evaṃ kira, ammāti? ‘‘Tātā, mayhaṃ sasuro asuciṃ khāditukāmo bhavissati, ahaṃ pana evaṃ katvā na kathemi. Ekasmiṃ pana piṇḍapātikatthere gharadvāre ṭhite ayaṃ appodakamadhupāyāsaṃ bhuñjanto na taṃ manasi karoti, ahaṃ iminā kāraṇena ‘aticchatha, bhante, mayhaṃ sasuro imasmiṃ attabhāve puññaṃ na karoti, purāṇapuññaṃ khādatī’ti ettakaṃ kathayinti āha. Ayya, idha doso natthi, amhākaṃ dhītā kāraṇaṃ katheti, tvaṃ kasmā kujjhasīti? Ayyā, esa tāva doso mā hotu, ayaṃ pana dārikā āgatadivaseyeva mama putte saññaṃ akatvā attano icchitaṭṭhānaṃ agamāsīti. Evaṃ kira, ammāti? Tātā, nāhaṃ icchitaṭṭhānaṃ gacchāmi, imasmiṃ pana gehe ājānīyavaḷavāya vijātāya saññampi akatvā nisīdanaṃ nāma ayuttanti daṇḍadīpikā gāhāpetvā dāsīhi parivutā tattha gantvā vaḷavāya vijātaparihāraṃ kārāpesinti. Ayya, amhākaṃ dhītā tava gehe dāsīhipi akattabbakammaṃ akāsi, tvaṃ ettha kiṃ dosaṃ passasīti?

Khi ấy, Trưởng giả (Migāra) nghĩ rằng: “Cô gái này nói năng khéo léo,” nên ông đã mời tám vị gia chủ đến, rồi nói rằng: “Vào ngày thứ bảy, cô gái này gọi ta– người ngồi trong ngôi nhà cát tường là ‘kẻ ăn đồ ăn không sạch sẽ’”. – Trưởng giả nói như vậy có đúng không, tiểu thư? – Nàng Visākhā đáp rằng: “Thưa các thúc, cha chồng của con chắc là tự mình có ý muốn ăn đồ không sạch sẽ, nhưng con không nói làm như vậy. (Chuyện là như vầy) khi một vị Trưởng lão đi khất thực đứng trước cổng nhà, người cha này đang thọ dụng món cơm sữa có ít nước không hề quan tâm đến vị ấy. Vì lý do này, con chỉ đơn thuần nói rằng: “Bạch Ngài, Ngài hãy đi đi, cha chồng của con không tạo thêm phước trong kiếp này mà đang ăn phước báu cũ (ăn đồ cũ) thôi.”– (Các vị gia chủ): “Tiểu thư không hề có lỗi lầm trong việc này. Tiểu thư của chúng tôi nói có căn cứ, cớ sao ông lại nổi giận?” – Trưởng giả Migāra lại nói: “Này các vị, điều lỗi lầm đó không có thì thôi kệ đi. Nhưng cô gái này ngày ngày đầu mới đến đã không hề quan tâm đến con trai của tôi, mà đã tự ý đi đến nơi mình mong muốn (vào ban đêm). – (Các vị gia chủ): Trưởng giả nói như vậy có đúng không, tiểu thư? – Nàng đáp: “Thưa các thúc, con không đi đến nơi mình mong muốn. Nhưng ở ngôi nhà này, có một con ngựa cái thuần chủng đến kỳ sanh nở, con nghĩ rằng: ‘Nếu con ngồi im lặng không làm gì hết ngay cả sự quan tâm chăm sóc thì thật không thích hợp,. Vì vậy, con mới cho các nữ tỳ cầm đuốc đi theo đến nơi đó, rồi chăm sóc con ngựa cái vừa mới sanh con.’” – (Các vị gia chủ): “Thưa Trưởng giả, tiểu thư của chúng tôi đã làm cả những việc mà ngay cả những nữ tỳ cũng không cần phải làm trong nhà của ông, trong trường hợp này ông nhìn thầy điều lỗi lầm gì?”

Ayyā, esa tāva guṇo hotu, imissā pana pitā idhāgamanadivase ovādaṃ dento ‘‘antoaggi bahi na nīharitabbo’’ti āha, kiṃ pana sakkā amhehi ubhato paṭivissakagehānaṃ aggiṃ adatvā vasitunti? Evaṃ kira, ammāti? Tātā, na mayhaṃ pitā etaṃ aggiṃ upādāya kathesi, yā pana antonivesane sassuādīnaṃ rahassakathā uppajjati, sā dāsidāsānaṃ na kathetabbā. Evarūpā hi kathā vaḍḍhamānā kalahāya saṃvattati, idaṃ sandhāya mayhaṃ pitā kathesi, tātāti.

Trưởng giả Migāra nói rằng: “Này các vị, chuyện đó là đức tính tốt thì thôi kệ (bỏ qua) đi. Thế nhưng, cha của cô ta trong khi ban lời giáo huấn trong ngày đi đến đây đã dặn rằng: “Lửa trong nhà không được mang ra ngoài,” chẳng lẽ chúng ta sống mà không cho lửa đến nhà hàng xóm ở hai bên được sao? – Tám vị gia chủ: Trưởng giả nói như vậy có đúng không, tiểu thư? – “Thưa các thúc, cha của con không nói ám chỉ đến ngọn lửa ấy (tức ngọn lửa vật lý) đâu ạ. Bất kỳ chuyện bí mật nào của những người phụ nữ như chuyện của mẹ chồng chẳng hạn xảy ra ở trong nhà, thì chuyện bí mật đó không nên đem kể cho các gia nhân hay nữ tỳ. Bởi vì, những chuyện có hình thức như thế khi bị phát tán ra ngoài chỉ đưa đến sự cãi vã. Chính vì lẽ đó, cha con muốn đề cập đến vấn đề này nên mới nói như vậy, thưa các thúc.”

Ayyā, etaṃ tāva evaṃ hotu, imissā pitā ‘‘bāhirato aggi na anto pavesetabbo’’ti āha, kiṃ sakkā amhehi antoaggimhi nibbute bāhirato aggiṃ anāharitunti ? Evaṃ kira, ammāti? Tātā, mayhaṃ pitā etaṃ aggiṃ sandhāya na kathesi, yaṃ pana dosaṃ dāsakammakārehi kathitaṃ hoti, taṃ antomānusakānaṃ na kathetabbaṃ…pe….

Trưởng giả Migāra nói rằng: “Này các vị, chuyện đó là như vậy thì cứ thôi kệ đi. Thế nhưng, cha của cô gái này còn nói rằng: “Lửa bên ngoài không nên mang vào trong nhà,” chẳng lẽ khi ngọn lửa trong nhà bị tắt đi, chúng ta không được mang ngọn lửa bên ngoài vào hay sao? – Tám vị gia chủ: Trưởng giả nói như vậy có đúng không, tiểu thư? – “Thưa các thúc, cha của con không nói ám chỉ đến ngọn lửa ấy đâu ạ. Tuy nhiên, bất kỳ điều lỗi lầm nào mà các tôi tớ và các người làm công nói với nhau; điều lỗi lầm đó không nên đem những lời nói đó kể lại cho những người thân trong nhà (như cha mẹ chồng hay chồng) nghe, v.v.

Yampi tena ‘‘ye dadanti, tesaṃyeva dātabba’’nti vuttaṃ, taṃ ‘‘yācitakaṃ upakaraṇaṃ gahetvā ye paṭidadanti, tesaṃyeva dātabba’’nti sandhāya vuttaṃ.

Còn những lời nào được nói bởi cha của con rằng “những người nào đáng cho, chỉ nên cho đến những người đó;” những lời đó người nói ám chỉ đến “những người nào trả lại sau khi mượn các vật dụng; chỉ nên cho đến những người ấy.”

‘‘Ye na dadantī’’ti idampi yācitakaṃ upakaraṇaṃ gahetvā ye na paṭidadanti, tesaṃ na dātabbanti sandhāya vuttaṃ.

“Người không đáng cho,” điều này người nói ám chỉ rằng “những người nào không trả lại sau khi mượn vật dụng; không nên cho đến những người đó.”

‘‘Dadantassapi adadantassapi dātabba’’nti, idaṃ pana duggatesu ñātimittesu sampattesu paṭidātuṃ sakkontu vā mā vā, dātumeva vaṭṭatīti sandhāya vuttaṃ.

“Nên cho đến những người đáng cho và cả những người không đáng cho,” còn điều này người nói ám chỉ đến “khi các quyến thuộc, thân hữu lâm vào cảnh khốn khó, bất kể họ có khả năng trả lại hay không có khả năng để trả lại, chúng ta cũng nên cho (nếu có khả năng).”

‘‘Sukhaṃ nisīditabba’’nti idampi sassusasure disvā uṭṭhātabbaṭṭhāne nisīdituṃ na vaṭṭatīti sandhāya vuttaṃ.

“Nên ngồi một cách an lạc,” điều này người nói ám chỉ rằng “khi con nhìn thấy cha mẹ chồng, không nên ngồi yên một chỗ mà phải đứng dậy.

‘‘Sukhaṃ bhuñjitabba’’nti idaṃ pana sassusasurasāmikehi puretaraṃ abhuñjitvā te parivisitvā sabbehi laddhāladdhaṃ ñatvā pacchā sayaṃ bhuñjituṃ vaṭṭatīti sandhāya vuttaṃ.

“Nên thọ dụng một cách an lạc,” còn điều này người nói ám chỉ rằng “không nên thọ dụng trước cha mẹ chồng và chồng, cần phải phục vụ chu đáo bữa ăn cho họ (trước), biết rõ mọi người đã được phần hay chưa được phần, rồi sau đó bản thân mới thọ dụng.

‘‘Sukhaṃ nipajjitabba’’nti idampi sassusasurasāmikehi puretarameva sayanaṃ āruyha na nipajjitabbaṃ, tesaṃ kattabbayuttakaṃ vattapaṭivattaṃ katvā pacchā sayaṃ nipajjituṃ yuttanti idaṃ sandhāya vuttaṃ.

“Nên nằm ngủ một cách an lạc,” còn điều này người nói ám chỉ rằng “không nên đi ngủ trước cha mẹ chồng và chồng, phải làm phận sự và công việc cần làm đến những người ấy, rồi sau đó bản thân mới nên đi ngủ.

‘‘Aggi paricaritabbo’’ti idaṃ pana sassumpi sasurampi sāmikampi aggikkhandhaṃ viya uragarājānaṃ viya ca katvā passituṃ vaṭṭatīti idaṃ sandhāya vuttanti.

“Nên chăm nom ngọn lửa,” còn điều này người nói ám chỉ rằng: “Nên thấy cha mẹ chồng và chồng giống như ‘khối lửa’ hay giống như con rắn chúa.

Ete tāva ettakā guṇā hontu, imissā pana pitā antodevatā namassāpeti, imassa ko atthoti? Evaṃ kira, ammāti? Āma, tātā, etampi hi me pitarā idaṃ sandhāya vuttaṃ – ‘‘āveṇikagharāvāsaṃ vasanakālato paṭṭhāya attano gharadvāraṃ sampattapabbajitaṃ disvā yaṃ ghare khādanīyaṃ bhojanīyaṃ atthi, tato pabbajitānaṃ datvāva khādituṃ vaṭṭatī’’ti. Atha naṃ te āhaṃsu – ‘‘tuyhaṃ pana mahāseṭṭhi pabbajite disvā adānameva ruccati maññeti. So aññaṃ paṭivacanaṃ apassanto adhomukho nisīdi’’.

Trưởng giả Migāra nói rằng: Những điều này chỉ là những đức tính tốt thì thôi kệ đi. Nhưng cha của cô gái này còn dặn rằng: ‘hãy cung kính các vị thần bên trong,’ có ích lợi gì của lời giáo huấn này chứ? – Trưởng giả nói như vậy có đúng không, tiểu thư? – “Thưa các thúc, đúng ạ, cha của con nói lời này muốn ám chỉ rằng: Kể từ thời điểm ta sống đời tại gia theo truyền thống, khi nhìn thấy các bậc xuất gia đến trước cửa nhà mình, ta nên cúng dường các món ăn loại cứng loại mềm đến các vị ấy trước, rồi bản thân mới nên thọ dụng.” – Lúc bấy giờ, tám vị gia chủ mới hỏi Trưởng giả Migāra rằng: “Này ông Đại trưởng giả, chẳng lẽ khi ông nhìn thấy các bậc xuất gia, ông lại ưa thích nghĩ rằng (tất cả) đều không nên cho hay sao?” Vị Trưởng giả trong khi không thấy lời giải đáp, nên đã ngồi im, cúi gằm mặt xuống.”

Atha naṃ kuṭumbikā ‘‘kiṃ seṭṭhi aññopi amhākaṃ dhītu doso atthī’’ti pucchiṃsu. Natthi , ayyāti. Kasmā pana naṃ niddosaṃ akāraṇā gehato nīharāpesīti? Tasmiṃ khaṇe, visākhā, āha – ‘‘paṭhamaṃ tāva mayhaṃ mama sasurassa vacanena gamanaṃ na yuttaṃ, mayhaṃ pana āgamanadivase mama dosādosaṃ sodhanatthāya mama pitā tumhākaṃ hatthe ṭhapetvā adāsi, idāni mayhaṃ gantuṃ sukha’’nti dāsidāse ‘‘yānādīni sajjāni karothā’’ti āṇāpesi. Atha naṃ seṭṭhi te kuṭumbike gahetvā, ‘‘amma, mayā ajānitvā kathitaṃ, khamāhi mayha’’nti āha. ‘‘Tātā, tumhākaṃ khamitabbaṃ tāva khamāmi, ahaṃ pana buddhasāsane aveccappasannassa kulassa dhītā, na mayaṃ vinā bhikkhusaṅghena vattāma. Sace mama ruciyā bhikkhusaṅghaṃ paṭijaggituṃ labhāmi, vasissāmī’’ti. ‘‘Amma, tvaṃ yathāruciyā tava samaṇe paṭijaggāhī’’ti.

Khi ấy, các vị gia chủ (tám vị bảo hộ) mới hỏi Trưởng giả Migāra: “Thưa Trưởng giả, tiểu thư của chúng tôi còn có điều lỗi lầm nào khác nữa không?” – Thưa các vị, không có. – Họ lại hỏi: “Vậy tại sao ông lại đuổi cô con gái vô tội ra khỏi nhà mà không hề có lý do gì cả?” Vào giây phút ấy, nàng Visākhā nói rằng– “Thưa các thúc, trước đây thật không thích hợp để con rời khỏi theo lời của chồng. Nhưng kể từ ngày con đến, cha của con đã giao con vào tay của các thúc nhằm mục đích xét xử điều lỗi lầm và không lỗi lầm của con, giờ đây con có thể đi một cách thuận tiện rồi.” rồi nàng bảo các gia nhân và nữ tỳ “chuẩn bị cỗ xe, v.v.” Khi đó, Trưởng giả đã đưa các gia chủ ấy đi, rồi nói với nàng rằng: “Này con, vì cha không biết nên đã lỡ lời, hãy bỏ qua cho cha.” – Nàng Visākhā đáp rằng: “Thưa các thúc, con có thể tha thứ cho các vị (những điều) cần được tha thứ trước. Tuy nhiên, con vốn là ái nữ của vị Trưởng giả có niềm tịnh tín không lay động trong Phật giáo. Con không thể hành sự thiếu Hội chúng Tỳ-khưu. Nếu con được phục vụ Hội chúng Tỳ-khưu theo như ý thích của con, con sẽ sống.” – Trưởng giả Migāra nói rằng: “Này con, con hãy phục vụ tất cả các Sa-môn của con theo như ý thích.”

Tato, visākhā, dasabalaṃ nimantāpetvā punadivase nivesanaṃ pūrentī buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ nisīdāpesi. Naggaparisāpi satthu migāraseṭṭhino gehaṃ gatabhāvaṃ sutvā tattha gantvā gehaṃ parivāretvā nisīdiṃsu. Visākhā, dakkhiṇodakaṃ datvā ‘‘sabbo sakkāro paṭiyādito, sasuro me āgantvā dasabalaṃ parivisatū’’ti sāsanaṃ pesesi. So nigaṇṭhānaṃ vacanaṃ sutvā ‘‘mama dhītā sammāsambuddhaṃ parivisatū’’ti āha. Visākhā, nānaggarasehi dasabalaṃ parivisitvā niṭṭhite bhattakicce puna sāsanaṃ pahiṇi – ‘‘sasuro me āgantvā dasabalassa dhammakathaṃ suṇātū’’ti. Atha naṃ ‘‘idāni agamanaṃ nāma ativiya akāraṇa’’nti dhammakathaṃ sotukamyatāya gacchantaṃ naggasamaṇā āhaṃsu – ‘‘samaṇassa gotamassa dhammaṃ suṇanto bahisāṇiyaṃ nisīditvā suṇāhī’’ti. Puretarameva ca gantvā sāṇiyā parikkhipiṃsu. Migāraseṭṭhi gantvā bahisāṇiyaṃ nisīdi. Tathāgato ‘‘tvaṃ bahisāṇiyaṃ vā nisīda, parakuṭṭe vā parasele vā paracakkavāḷe vā nisīda. Ahaṃ buddho nāma sakkomi taṃ mama saddaṃ sāvetu’’nti suvaṇṇavaṇṇaphalaṃ ambarukkhaṃ khandhe gahetvā cālento viya dhammakathaṃ kathesi, desanāpariyosāne seṭṭhi sotāpattiphale patiṭṭhāya sāṇiṃ ukkhipitvā satthu pāde pañcapatiṭṭhitena vanditvā satthu santikeyeva ca ‘‘tvaṃ, amma, ajja ādiṃ katvā mama mātā’’ti visākhaṃ attano mātuṭṭhāne ṭhapesi. Tato paṭṭhāya, visākhā migāramātā, nāma jātā.

Khi ấy, nàng Visākhā sau khi thỉnh mời đấng Thập Lực, ngày hôm sau đã thỉnh mời Hội chúng Tỳ-khưu có Đức Phật đứng đầu ngồi đầy cả dinh thự. Các đạo sĩ lõa thể nghe tin đấng Thập Lực đã đến nhà của Trưởng giả Migāra nên cũng kéo đến đó, rồi ngồi bao quanh bên ngoài ngôi nhà ấy. Nàng Visākhā, sau khi dâng nước cúng dường, đã báo tin cho cha chồng rằng: “Tất cả mọi lễ vật đã được chuẩn bị, xin cha chồng của con hãy đến phục vụ đấng Thập Lực.” Trưởng giả Migāra ấy, nghe lời nói của các đạo sĩ lõa thể, đã nói rằng: “Mong con dâu của ta hãy phục vụ đấng Chánh đẳng Chánh giác.” Sau khi nàng Visākhā phục vụ đấng Thập Lực với các món ăn thượng vị khác nhau, khi hoàn tất phận sự về thọ thực, nàng đã báo tin cho cha chồng thêm lần nữa rằng: “Xin cha chồng của con hãy đến lắng nghe bài giảng Pháp của đấng Thập Lực.” Khi ấy, Trưởng giả Migāra cũng đi vì mong muốn lắng nghe bài giảng Pháp, với suy nghĩ rằng: “Bây giờ, việc không đi là rất không thích hợp,” các đạo sĩ lõa thể cũng nói rằng: “Khi ông lắng nghe Giáo Pháp của Sa-môn Gotama thì hãy ngồi lắng nghe ở bên ngoài bức màn.” Thế là họ đã đi trước che bức màn ở xung quanh, còn Trưởng giả Migāra sau khi đi đến, đã ngồi ở bên ngoài bức màn. Đấng Thập Lực suy tư rằng: “Dù ông có ngồi ngoài bức màn, hay ngoài bức tường, hay ngoài vách đá, thậm chí ngoài vũ trụ này. Ta là một vị Phật có khả năng khiến ông nghe rõ tiếng nói của Ta,” nên mới thuyết bài giảng Pháp, như thể nắm lấy thân cây xoài rung lắc khiến cho quả xoài có màu vàng óng rơi rụng xuống vậy. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, Trưởng giả đã an trú vào quả vị Nhập Lưu, ông lập tức vén lên bức màn, đến đảnh lễ với năm phần thân thể chạm xuống đất ở hai bàn chân của bậc Đạo Sư. Và ngay trong sự hiện diện của bậc Đạo Sư, ông đã thiết lập nàng Visākhā vào vị thế mẹ của mình, và nói rằng: “Này con dâu, kể từ nay trở đi, con hãy là mẹ của ta.” Kể từ hôm đó, nàng Visākhā được biết đến với tên gọi Migāramātā–Mẹ của Migāra.

Sā ekadivasaṃ nakkhattasamaye vattante ‘‘antonagare guṇo natthī’’ti dāsīhi parivutā satthu dhammakathaṃ sotuṃ gacchantī ‘‘buddhānaṃ santikaṃ uddhatavesena gantuṃ ayutta’’nti mahālatāpasādhanaṃ omuñcitvā dāsiyā hatthe datvā satthāraṃ upasaṅkamitvā abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, satthā dhammakathaṃ kathesi. Sā dhammadesanāpariyosāne dasabalaṃ vanditvā nagarābhimukhā pāyāsi. Sāpi dāsī attanā gahitapasādhanassa ṭhapitaṭṭhānaṃ asallakkhetvā gacchantī pasādhanatthāya paṭinivatti. Atha naṃ, visākhā, ‘‘kahaṃ pana te taṃ ṭhapita’’nti paṭipucchi. Gandhakuṭipariveṇe, ayyeti. Hotu je gantvā āhara, gandhakuṭipariveṇe ṭhapitakālato paṭṭhāya āharāpanaṃ nāma amhākaṃ ayuttaṃ. Tasmā taṃ vissajjetvā daṇḍakammaṃ karissāma. Tattha pana ṭhapite ayyānaṃ palibodho hotīti.

Một ngày nọ, vào lúc lễ hội đang diễn ra trong kinh thành, nàng Visākhā nghĩ rằng: “Không có ích lợi gì trong kinh thành,” nên nàng được tháp tùng bởi các nữ tỳ đi đến lắng nghe bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư, (nghĩ rằng) “Đi đến diện kiến Đức Thế Tôn với dáng vẻ phô trương thật không thích hợp,” nên đã cởi bỏ bộ trang sức Mahālatā-pasādhana ra, rồi trao vào tay của một nữ tỳ; sau đó đã đi đến gặp bậc Đạo Sư, đảnh lễ rồi đứng một bên. Bậc Đạo Sư đã thuyết giảng Giáo Pháp. Khi chấm dứt bài giảng Pháp, nàng đã đảnh lễ đấng Thập Lực rồi đi hướng về kinh thành. Tuy nhiên, người nữ tỳ kia không kịp xác định được vị trí đã đặt bộ trang sức mà bản thân đã nhận lấy, nên mới quay trở lại để tìm bộ trang sức. Lúc đó, nàng Visākhā hỏi người nữ tỳ ấy rằng: “Con đã đặt bộ trang sức ở đâu?” – Người nữ tỳ đáp: “Thưa bà, con đã đặt nó ở khu vực gần Hương Thất ạ.” – Thôi được rồi, con hãy đi lấy về đi. – Kể từ thời điểm con đặt món trang sức ở khu vực Hương Thất, thì việc cho mang về là không còn phù hợp đối với ta nữa. Vì thế, ta sẽ xã bỏ bộ trang sức đó rồi thực hiện sự chuộc lỗi. Nhưng khi bộ trang sức ấy vẫn còn đặt ở đó, sẽ trở thành vật chướng ngại cho các ngài Đại đức.

Punadivase satthā bhikkhusaṅghaparivāro visākhāya nivesanadvāraṃ sampāpuṇi. Nivesane ca nibaddhapaññattāni āsanāni. Visākhā, satthu pattaṃ gaṇhitvā satthāraṃ gehaṃ pavesetvā paññattāsanesuyeva nisīdāpetvā katabhattakicce satthari taṃ pasādhanaṃ āharitvā satthu pādamūle nikkhipitvā ‘‘idaṃ, bhante, tumhākaṃ dammī’’ti āha. Satthā ‘‘alaṅkāro nāma pabbajitānaṃ na vaṭṭatī’’ti paṭikkhipi. Jānāmi, bhante, ahaṃ pana imaṃ agghāpetvā dhanaṃ gahetvā tumhākaṃ vasanagandhakuṭiṃ kāressāmīti. Tadā satthā adhivāsesi. Sāpi taṃ agghāpetvā navakoṭidhanaṃ gahetvā gabbhasahassapaṭimaṇḍite pubbārāmavihāre tathāgatassa vasanagandhakuṭiṃ kāresi. Visākhāya pana nivesanaṃ pubbaṇhasamaye kāsāvapajjotaṃ isivātapaṭivātameva[4] hoti anāthapiṇḍikassa gehaṃ viya. Tassāpi gehe sabbabhattāni paṭiyattāneva ahesuṃ. Sā pubbaṇhasamaye bhikkhusaṅghassa āmisasaṅgahaṃ katvā pacchābhatte bhesajjāni ceva aṭṭhavidhapānāni ca gaṇhāpetvā vihāraṃ gantvā bhikkhusaṅghassa datvā pacchā satthu dhammadesanaṃ sutvā āgacchati. Satthā aparabhāge upāsikāyo paṭipāṭiyā ṭhānantaresu ṭhapento visākhaṃ migāramātaraṃ dāyikānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Ngày hôm sau, bậc Đạo Sư có Hội chúng Tỳ-khưu tháp tùng đi đến trước cửa dinh thự của nàng Visākhā. Và trong dinh thự, các chỗ ngồi luôn được sắp đặt sẵn. Nàng Visākhā, sau khi nhận lấy bình bát của bậc Đạo Sư, đã thỉnh bậc Đạo Sư vào nhà và mời Ngài ngồi trên chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn. Sau khi hoàn tất phận sự về thọ thực, nàng đã đem bộ trang sức ấy đến đặt ở chân của bậc Đạo Sư rồi thưa rằng: “Bạch Ngài, con xin cúng dường bộ trang sức này đến Ngài.” Bậc Đạo Sư đã từ chối và nói rằng: “Này Visākhā, đồ trang sức là không phù hợp đối với các bậc xuất gia.” – Bạch Ngài, con biết ạ. Hơn nữa, con sẽ cho định giá bộ trang sức này rồi lấy kinh phí đến xây dựng Hương Thất làm chỗ trú ngụ dâng đến Ngài. Khi ấy, bậc Đạo Sư đã nhận lời. Nàng Visākhā sau đó cho người định giá bộ trang sức ấy đã thu về chín koṭi (đồng tiền vàng) đến xây dựng Hương Thất làm chỗ trú ngụ dâng đến Đức Như Lai bên trong ngôi đại Tịnh xá Pubbarama (Đông Phương Tự), được trang hoàng với một ngàn căn phòng. Ngoài ra, dinh thự của nàng Visākhā vào mỗi buổi sáng đều rực rỡ màu y ca-sa với sự di chuyển ngược xuôi của các vị ẩn sĩ giống như nhà của Trưởng giả Anāthapiṇḍika. Ngay cả trong dinh thự của nàng Visākhā ấy cũng chuẩn bị sẵn các vật thí cùng với đầy đủ mọi thứ (khác). Nàng Visākhā ấy, vào lúc sáng sớm, đã thực hiện chăm lo vật thực đến Hội chúng Tỳ-khưu; sau bữa ăn, nàng lại bảo người hầu mang theo các loại dược phẩm và tám loại thức uống đến Tịnh xá cúng dường đến các Hội chúng Tỳ-khưu, sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư rồi trở về. Về sau, bậc Đạo Sư khi thiết lập các nữ cư sĩ vào các vị thế khác nhau theo thứ tự, đã thiết lập Visākhā Migāramātā vào vị thế tối thắng trong các nữ cư sĩ hoan hỷ trong việc bố thí.

Câu chuyện về nữ cư sĩ Khujjuttarā và Sāmāvatī

260-261. Tatiyacatutthesu bahussutānaṃ yadidaṃ, khujjuttarā, mettāvihārīnaṃ yadidaṃ, sāmāvatīti bahussutānaṃ upāsikānaṃ khujjuttarā, mettāvihārīnaṃ sāmāvatī aggāti dasseti.

260-261. Trong bài Kinh thứ ba và thứ tư, Khujjuttarā là bậc tối thắng trong số các nữ cư sĩ đa văn (nghe nhiều), Sāmavatī là bậc tối thắng trong số các nữ cư sĩ an trú tâm từ: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng— Khujjuttarā là bậc tối thắng trong số các nữ cư sĩ đa văn, Sāmavatī là bậc tối thắng trong số các nữ cư sĩ an trú tâm từ.

Tā kira dvepi padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulagehe paṭisandhiṃ gaṇhitvā aparabhāge ‘‘satthu dhammakathaṃ sossāmā’’ti vihāraṃ agamaṃsu. Tattha, khujjuttarā, satthāraṃ ekaṃ upāsikaṃ bahussutānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. Sāmāvatīpi ekaṃ upāsikaṃ mettāvihārīnaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. Tāsaṃ dvinnampi yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devaloke nibbattitvā devamanussesu saṃsarantīnaṃyeva kappasatasahassaṃ atikkantaṃ.

Kể rằng, cả hai nàng vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, đều được sanh ra trong một gia đình danh giá tại thành Haṃsavatī. Về sau, cả hai nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ lắng nghe bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư,” nên đã đi đến Tịnh xá. Ở tại đó,

– Nàng Khujjuttara, khi chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ đa văn (nghe nhiều), nàng đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện vào vị thế đó.

– Còn nàng Sāmāvatī, khi chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ an trú tâm từ, nàng cũng đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện vào vị thế đó tương tự.

Cả hai vị ấy, sau khi tạo các việc thiện cho đến hết cuộc đời, đã tái sanh vào thế giới chư Thiên, chỉ luân hồi giữa cõi Trời và và cõi Người trải qua một trăm ngàn kiếp.

Atha amhākaṃ satthu nibbattito puretarameva allakapparaṭṭhe ahivātakarogo nāma udapādi. Ekekasmiṃ gehe ekappahāreneva dasapi vīsampi tiṃsampi janā[5] maranti, tiroraṭṭhaṃ gatā pana jīvitaṃ labhanti. Taṃ[6] ñatvā eko puriso attano puttadāraṃ ādāya ‘‘aññaṃ raṭṭhaṃ gamissāmī’’ti tato nikkhami. Athassa ghare gahitapātheyyaṃ antarāmagge kantāre anuttiṇṇeyeva[7] parikkhayaṃ agamāsi. Tesaṃ sarīrabalaṃ parihāyi, sakiṃ mātā puttaṃ ukkhipati, sakiṃ pitā. Athassa pitā cintesi – ‘‘amhākaṃ sarīrabalaṃ parihīnaṃ, puttaṃ ukkhipitvā gacchantā kantāraṃ nittharituṃ na sakkhissāmā’’ti. So tassa mātaraṃ ajānāpetvāva udakakiccena ohīno viya puttaṃ magge nisīdāpetvā ekakova maggaṃ paṭipajji. ‘‘Athassa bhariyā āgamanaṃ olokayamānā ṭhitā hatthe puttaṃ adisvā viravamānā gantvā kahaṃ me sāmi putto’’ti āha. Ko te puttena attho? Jīvamānā puttaṃ labhissāmāti. Sā ‘‘atisāhasiko vatāyaṃ puriso’’ti vatvā ‘‘gaccha tvaṃ, nāhaṃ tādisena saddhiṃ gamissāmī’’ti āha. So ‘‘anupadhāretvā me bhadde kataṃ, khametaṃ mayha’’nti vatvā puttaṃ ādāyāgato[8].

Khi ấy, trước khi bậc Đạo Sư của chúng ta giáng sinh, một trận bệnh dịch hạch (ahivātaka) đã bùng phát ở vương quốc Allakappa. Trong mỗi căn nhà, có khi mười người, hai mươi người, thậm chí ba mươi người đã đồng loạt bỏ mạng. Còn những người đã rời khỏi vương quốc mới giữ được mạng sống. Biết được việc đó, một người đàn ông nọ đã đưa vợ con của mình rời khỏi nơi ấy với ý định rằng: “Ta sẽ đi sang vương quốc khác.” Lúc đó, lương thực đi đường được mang theo từ nhà của người ấy chưa kịp vượt qua khu rừng vắng trên đường đi đã cạn sạch. Thể lực của họ cũng dần suy kiệt. Người mẹ bế con một chút, rồi người cha bế con một chút. Lúc bấy giờ, người cha của đứa con ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: “Thể lực của chúng ta cũng đã cạn kiệt, nếu cứ cõng con đi tiếp chúng ta sẽ không thể vượt qua khu rừng vắng này.” Người đàn ông ấy đã không cho mẹ đứa bé ấy biết, cho đứa trẻ ngồi lại bên đường, giả vờ như bị rớt lại phía sau để đi tìm nước rồi đã đi một mình. Khi ấy, người vợ đứng trông ngóng về phía lối đi đến nhưng đã không thấy con trên tay chồng, bà khóc lóc nói rằng: ‘Con của tôi đâu rồi hả ông?’” Ông ta nói rằng: “Bà cần con để làm gì? Chỉ cần còn sống thì chúng ta sẽ tự có con.” – Bà vợ nói rằng: “Người đàn ông này thật nhẫn tâm!” rồi bà nói tiếp: “Ông cứ đi đi, tôi sẽ không đi với ông nữa.” – Người chồng đã nói: “Này bà, tôi không suy xét kỹ đã hành động, xin bà hãy tha thứ lỗi lầm đó cho tôi,” rồi quay lại đưa đứa trẻ cùng đi.

Te taṃ kantāraṃ samatikkamitvā sāyaṃ ekaṃ gopālakakulaṃ sampāpuṇiṃsu. Taṃ divasañca gopālakakulavāsino nirudakapāyāsaṃ paciṃsu. Te te disvā ‘‘ime ativiya chātakā’’ti pāyāsassa mahābhājanaṃ pūretvā uḷuṅkapūraṃ sappiṃ āsiñcitvā adaṃsu. Tesu taṃ pāyāsaṃ bhuñjantesu sā itthī pamāṇeneva bhuñji, puriso pana pamāṇātikkantaṃ bhuñjitvā jīrāpetuṃ asakkonto rattibhāgasamanantare kālamakāsi. So kālaṃ karonto tesu sālayabhāvena gopālakānaṃ gehe sunakhiyā kucchismiṃ paṭisandhiṃ gaṇhi. Sunakhī nacirasseva vijātā. Gopālako taṃ kukkuraṃ sassirikaṃ disvā piṇḍena palobhetvā attani uppannasinehaṃ gahetvā saddhimeva carati.

Sau khi vượt qua khỏi khu rừng vắng, họ đã đến được một gia đình người chăn bò vào buổi chiều. Vào ngày hôm đó, những người sinh sống trong gia đình người chăn bò đang nấu món cơm sữa không có nước. Nhìn thấy những người ấy, họ nghĩ rằng: “Những người này chắc chắn đang rất đói,” liền múc món cơm sữa đổ đầy vào một cái bát lớn, rưới đầy một vá bơ lỏng rồi đem cho họ. Trong khi những người ấy ăn món cơm sữa đó, người vợ chỉ ăn một lượng vừa đủ; còn người chồng đã ăn quá độ, nên không thể tiêu hóa nổi (thức ăn), và đã qua đời vào lúc sau nửa đêm. Vị ấy, trong lúc mệnh chung do vẫn còn có sự quyến luyến đối với những người ấy (vợ con), nên đã đầu thai vào bụng một con chó cái trong nhà của những người chăn bò. Chẳng bao lâu sau, con chó cái cũng đẻ con. Người chăn bò thấy chú chó con đó đáng yêu đã chăm sóc nó bằng vắt cơm, mới dắt theo chú chó đã nảy sinh lòng yêu mến đối với mình đi chung.”

Athekadivasaṃ eko paccekabuddho bhikkhācāravelāya gopālakassa gharadvāraṃ sampatto. Sopi taṃ disvā bhikkhaṃ datvā attānaṃ nissāya vasanatthāya paṭiññaṃ gaṇhi. Paccekabuddho gopālakakulassa avidūre ṭhāne ekasmiṃ vanasaṇḍe vāsaṃ upagato. Gopālako tassa santikaṃ gacchanto taṃ kukkuraṃ gahetvāva gacchati, antarāmagge ca vāḷamigaṭṭhāne vāḷamigānaṃ palāyanatthaṃ rukkhe vā pāsāṇe vā pahāraṃ deti, sopi kukkuro tassa karaṇavidhānaṃ vavatthapeti. Athekadivasaṃ so gopālako paccekabuddhassa santike nisīditvā, ‘‘bhante, amhākaṃ sabbakālaṃ āgamanaṃ nāma na hoti. Ayaṃ pana kukkuro cheko, imassa āgatasaññāya amhākaṃ gehadvāraṃ āgaccheyyāthā’’ti āha. So ekadivasaṃ ‘‘paccekabuddhaṃ gaṇhitvā ehī’’ti kukkuraṃ pesesi. Kukkuro tassa vacanaṃ sutvā bhikkhācāravelāya gantvā paccekabuddhassa pādamūle urena nipajji. Paccekabuddho ‘‘ayaṃ mama santikaṃ āgato’’ti ñatvā pattacīvaraṃ ādāya maggaṃ paṭipajji. So tassa vīmaṃsanatthāya ukkamitvā aññaṃ maggaṃ gaṇhi, kukkuro purato ṭhatvā gopālakamaggaṃ paṭipannakāle apasakki. Yasmiṃ ca yasmiṃ ca ṭhāne vāḷamigānaṃ palāyanatthaṃ gopālako rukkhaṃ vā pāsāṇaṃ vā pahari, taṃ taṃ ṭhānaṃ patvā kukkuro mahāviravaṃ viravi. Tassa saddena vāḷamigā palāyanti. Paccekabuddhopi bhattakiccavelāya mahantaṃ siniddhapiṇḍaṃ tassa deti. Sopi piṇḍalābhena paccekabuddhe uttaritaraṃ sinehaṃ karoti.

Sau đó vào một ngày nọ, một vị Phật Độc Giác đã đến trước cửa nhà của người chăn bò vào lúc đi khất thực. Người chăn bò nhìn thấy vị Độc Giác Phật đã dâng cúng vật thực và đã nhận được lời hứa từ vị Phật Độc Giác sẽ cư ngụ nương vào mình. Vị Phật Độc Giác đã đi vào cư ngụ tại một khu rừng rậm không xa nơi ở của người chăn bò. Người chăn bò mỗi khi đi đến gặp của vị Phật Độc Giác, anh đều dắt chú chó đi cùng. Và dọc đường anh ta đập vào cây cối hoặc tảng đá để xua đuổi các loài thú dữ ở nơi sinh sống của các loài thú dữ ấy, luôn cả chú chó cũng xác định cách thức thực hiện của người chăn bò ấy. Khi ấy, vào một ngày nọ, người chăn bò ngồi trong sự hiện diện của vị Phật Độc Giác đã nói rằng: “Bạch Ngài, con không thể đến đây mọi lúc. Nhưng chú chó này rất thông minh, bằng dấu hiệu việc đi đến của chú chó này, mà Ngài có thể đi đến trước cửa nhà của con.” Một hôm, người chăn bò đã sai con chó đi với lời nói rằng: “Con hãy đi đưa vị Phật Độc Giác đến đây.” Chú chó, sau khi nghe lời của người chăn bò, đã đi đến đó đúng vào giờ khất thực rồi nằm rạp áp ngực sát xuống ở đôi chân của Đức Phật Độc Giác. Đức Phật Độc Giác biết rằng: “Chú chó đã đến trú xứ này của Ta,” liền mang y bát lên đường. Nhưng vì Ngài muốn thử con chó, mới rẽ sang một con đường khác. Chú chó liền chạy lên đứng chặn phía trước, rồi dồn Ngài đi đúng con đường hướng về nhà của người chăn bò. Và ở những nơi nào, người chăn bò đập vào cây cối hay tảng đá xua đuổi các loài thú dữ; ở những nơi đó, chú chó đã chạy đến sủa tiếng sủa thật to. Với tiếng sủa của chú chó ấy, các loài thú dữ đều bỏ đi. Về phần vị Phật Độc Giác, khi hoàn tất phận sự về thọ thực đã cho vắt cơm nguội thật to đến nó. Chú chó ấy càng thêm quý mến Đức Phật Độc Giác bởi mong muốn được vắt cơm.

Gopālako temāsaṃ vutthassa paccekabuddhassa ticīvarappahonakaṃ sāṭakaṃ datvā, ‘‘bhante, sace vo ruccati, idheva vasatha. No ce ruccati, yathāsukhaṃ gacchathā’’ti āha. Paccekabuddho gamanākāraṃ dasseti. So gopālako paccekabuddhaṃ anugantvā nivattati. Kukkuro paccekabuddhassa aññattha gamanabhāvaṃ ñatvā atisinehena uppannabalavasoko hadayaphālanaṃ patvā kālaṃ katvā tāvatiṃsapure nibbatti. Athassa paccekabuddhena saddhiṃ gamanakāle uccāsaddaṃ katvā vāḷamigānaṃ palāpitabhāvena devatāhi saddhiṃ kathentassa saddo sakaladevapuraṃ chādetvā aṭṭhāsi. So teneva nāmadheyyaṃ labhitvā ghosakadevaputto nāma jāto. Athassa tasmiṃ sampattiṃ anubhavantassa manussapathe kosambinagare udeno nāma rājā rajjaṃ paṭipajji. Tassa vatthu majjhimapaṇṇāsake bodhirājakumārasuttavaṇṇanāyaṃ (ma. ni. aṭṭha. 2.324 ādayo) vuttanayeneva veditabbaṃ.

Người chăn bò đã dâng tấm vải đủ cho việc may Tam y đến vị Phật Độc Giác trải qua ba tháng (an cư mùa mưa) rồi nói rằng: “Bạch Ngài, nếu Ngài ưa thích, hãy cư ngụ lại nơi này. Còn nếu Ngài không vừa ý, hãy ra đi một cách thoải mái.” Đức Phật Độc Giác biểu lộ ý định ra đi. Người chăn bò đã đi theo tiễn bước Đức Phật Độc Giác rồi mới trở về. Chú chó biết rằng Đức Độc Giác Phật đi nơi khác, bởi lòng kính yêu vô hạn nó đã khởi lên nỗi đau buồn tột độ, đến mức vỡ tim mà, (sau khi chết ) được tái sanh vào cung trời Đao Lợi. Khi đó, do trong lúc đi cùng với Đức Phật Độc Giác, chú chó đã sủa tiếng sủa lớn khiến các loài thú dữ bỏ chạy. Vì thế mà giọng nói của vị Thiên tử ấy khi trò chuyện với các vị Thiên đều lấn át hoàn toàn tiếng của chư Thiên khác. Chính vì lý do đó, vị ấy được gọi là ‘Thiên tử Ghosaka’. Trong khi Thiên tử Ghosaka đang thọ hưởng sự thành tựu ở cung trời Đao Lợi; Đức vua tên là Udena trị vì vương quốc tại kinh thành Kosambi ở cõi nhân loại. Câu chuyện về Đức vua Udena có thể được tìm hiểu theo cách thức đã được đề cập trong Chú giải Kinh Vương Tử Bodhi. (ma. ni. aṭṭha. 2.324 ādayo)

Tasmiṃ pana rajjaṃ kārayamāne ghosakadevaputto cavitvā kosambiyaṃ ekissā rūpūpajīviniyā kucchimhi paṭisandhiṃ gaṇhi. Sā dasamāsaccayena vijāyitvā puttabhāvaṃ ñatvā saṅkārakūṭe chaḍḍāpesi. Tasmiṃ khaṇe kosambiseṭṭhino kammantiko pātova seṭṭhigharaṃ gacchanto ‘‘kiṃ nu kho imaṃ kākehi samparikiṇṇa’’nti gantvā dārakaṃ disvā ‘‘mahāpuññavā esa dārako bhavissatī’’ti ekassa purisassa hatthe gehaṃ pesetvā seṭṭhigharaṃ agamāsi. Seṭṭhipi rājūpaṭṭhānavelāya rājakulaṃ gacchanto antarāmagge purohitaṃ disvā ‘‘ajja kiṃ nakkhatta’’nti pucchi. So tattheva ṭhito gaṇetvā ‘‘asukaṃ nāma nakkhattaṃ, ajja iminā nakkhattena jātadārako imasmiṃ nagare seṭṭhiṭṭhānaṃ labhissatī’’ti āha. So tassa kathaṃ sutvā vegena gharaṃ pesesi – ‘‘imassa purohitassa dve kathā nāma natthi, gharaṇī ca me garugabbhā, jānātha tāva naṃ vijātā vā no vā’’ti. Te gantvā jānitvā, ‘‘ayya, na tāva vijātā’’ti āhaṃsu. Tena hi gacchatha, imasmiṃ nagare ajja jātadārakaṃ pariyesathāti. Te pariyesantā tassa seṭṭhino kammantikassa gehe taṃ dārakaṃ disvā seṭṭhino ārocayiṃsu. Tena hi gacchatha bhaṇe, taṃ kammantikaṃ pakkosathāti. Te taṃ pakkosiṃsu. Atha naṃ seṭṭhi ‘‘gehe kira te dārako atthī’’ti pucchi. ‘‘Āma, ayyā’’ti. ‘‘Taṃ dārakaṃ amhākaṃ dehī’’ti. ‘‘Na demi, ayyā’’ti. ‘‘Handa sahassaṃ gaṇhitvā dehī’’ti. So ‘‘ayaṃ jīveyya vā mareyya vā, dujjānamida’’nti sahassaṃ gaṇhitvā adāsi.

Trong thời gian Đức vua Udena đang trị vì; Thiên tử Ghosaka, sau khi mệnh chung, đã tái sanh vào bào thai của một kỹ nữ (người phụ nữ dựa vào nhan sắc để nuôi mạng) tại Kosambi. Trải qua 10 tháng, sau khi sanh ra đứa bé, biết là đứa bé trai,  nàng liền đem vứt bỏ ở đống rác. Vào thời khắc ấy, người làm công của trưởng giả xứ Kosambi đang trên đường đến nhà Trưởng giả từ sáng sớm. Anh ta tò mò rằng: “Vật gì bị bầy quạ bu quanh vậy?” Anh ta đã đi đến và nhìn thấy một đứa bé trai, nghĩ rằng “Đứa bé này sẽ có phước báu to lớn,” nên mới giao đứa bé cho một người đàn ông mang về nhà (mình), rồi tiếp tục đến nhà Trưởng giả. Về phần Trưởng giả trong lúc đi vào Hoàng cung phục vụ Đức vua, trên đường đi bắt gặp vị quan tế tự, liền hỏi rằng: “Hôm nay là vì sao gì?” Vị ấy đứng ngay tại chỗ đó tính toán một lúc rồi đáp: “Vì sao tên đó, vào ngày hôm nay đứa bé nào được sanh ra thuộc vì sao này, sau này sẽ đạt được địa vị triệu phú trong kinh thành này.” Trưởng giả, sau khi lắng nghe lời nói của vị quan tế tự, đã vội vã sai người về nhà, với lời dặn rằng: “Vị quan tế tự này không bao nói hai lời. Phu nhân của ta đang mang thai (đã đến kỳ sinh nở). Các ngươi hãy đi xem phu nhân đã sanh hay chưa.” Họ đi kiểm tra, rồi thưa rằng: “Thưa ông, phu nhân vẫn chưa sanh.” – Vị Trưởng giả liền ra lệnh rằng: “Nếu vậy, các ngươi hãy đi tìm đứa bé nào được sanh ra vào ngày hôm nay ở trong thành này. Bọn họ trong khi tìm kiếm đã phát hiện ra đứa bé trai đang ở trong nhà của người làm công cho Trưởng giả, liền về bẩm báo lại với Trưởng giả. – (Trưởng giả) nếu vậy, các người hãy gọi người làm công ấy đến. Họ liền đi gọi anh ta tới. Khi ấy, vị Trưởng giả đã hỏi anh ta: “Nghe nói, có một đứa bé trong nhà ngươi?” – Anh ta thưa: “Thưa ông chủ, đúng ạ.” – Vị trưởng giả bảo: “Ngươi hãy giao đứa bé đó cho ta.” Anh ta đáp: “Không được, thưa ông chủ.” Vị trưởng giả lại nói: “Ngươi hãy nhận lấy một ngàn đồng tiền này rồi giao nó cho ta.” – Người làm công nghĩ rằng: “Đứa bé này tương lai sống hay chết cũng khó mà biết trước được,” nên đã nhận lấy một ngàn đồng tiền rồi giao đứa bé cho vị trưởng giả.

Tato seṭṭhi cintesi – ‘‘sace me bhariyā dhītaraṃ vijāyissati, imameva puttaṃ karissāmi. Sace puttaṃ vijāyissati, māressāmī’’ti. Cintetvā gehe posesi. Athassa bhariyā katipāhaccayena puttaṃ vijāyi. Tato seṭṭhi ‘‘evaṃ taṃ gāvo madditvā māressantī’’ti cintetvā ‘‘imaṃ dārakaṃ vajadvāre nipajjāpethā’’ti āha. Taṃ tattha nipajjāpesuṃ. Atha naṃ yūthapati usabho paṭhamaṃ nikkhamanto disvā ‘‘evaṃ taṃ aññe na maddissantī’’ti catunnaṃ pādānaṃ antare katvā aṭṭhāsi. Atha naṃ gopālakā disvā ‘‘mahāpuñño esa dārako bhavissati, yassa tiracchānagatāpi guṇaṃ jānanti, paṭijaggissāma na’’nti attano gehaṃ nayiṃsu.

Khi đó, Trưởng giả nghĩ rằng: “Nếu vợ ta sanh con gái, ta sẽ nhận đứa bé này làm con trai. Còn nếu sanh con trai, ta sẽ giết đứa bé này.” Sau khi suy tính, ông đã nuôi dưỡng (đứa bé) trong nhà. Khi ấy, trải qua khoảng hai, ba ngày thì vợ của vị Trưởng giả cũng đã hạ sinh một cậu con trai. Lúc này, Trưởng giả mới suy nghĩ rằng: “Như vậy, ta sẽ cho đàn bò giẫm chết đứa bé ấy,” ông ta liền ra lệnh: “Các ngươi hãy đặt đứa bé này nằm xuống ở cửa chuồng bò.” Bọn họ đã đặt đứa bé nằm xuống ở đó. Khi ấy, con bò mộng đầu đàn bước ra trước tiên, nhìn thấy đứa trẻ, nó đã đứng dạng cả bốn chân ra với ý nghĩ rằng: “Như vậy, các con bò khác sẽ không giẫm đạp lên đứa bé ấy.” Đúng lúc đó, người chăn bò nhìn thấy đứa bé, nghĩ rằng: “Đứa bé này chắc hẳn là người đại phước, ngay cả loài bàn sanh còn biết đến đức hạnh (của nó), ta sẽ nuôi nấng đứa bé này,” rồi đưa về nhà mình.

Sopi seṭṭhi tassa matabhāvaṃ anuvijjanto ‘‘gopālakehi nīto’’ti sutvā puna sahassaṃ datvā āṇāpetvā āmakasusāne chaḍḍāpesi. Tasmiṃ ca kāle seṭṭhissa ghare ajapālako susānaṃ nissāya ajikā cāreti. Athekā dhenu ajikā dārakassa puññena maggā okkamma gantvā dārakassa khīraṃ datvā gatā. Tato nivattamānāpi tatheva gantvā khīramadāsi. Ajapālako cintesi – ‘‘ayaṃ ajikā pātopi imasmā ṭhānā okkamitvā gatā, kiṃ nu kho eta’’nti gantvā olokento taṃ dārakaṃ disvā ‘‘mahāpuñño esa dārako, tiracchānagatāpissa guṇaṃ jānanti, paṭijaggissāmi na’’nti gahetvā gehaṃ gato.

Về phần Trưởng giả, khi biết đứa bé ấy vẫn chưa chết và nghe rằng: “Đứa bé đã được đưa đi bởi người chăn bò,” ông ta đã cho một ngàn đồng tiền rồi sai người đem vứt bỏ ở bãi tha ma. Vào lúc bấy giờ, một người chăn dê trong nhà Trưởng giả đưa đàn dê đi ăn gần bãi tha ma, do nhờ phước báu của đứa trẻ (mà) một con dê cái đã rời khỏi đường đi ghé vào cho đứa bé bú sữa rồi mới đi tiếp; (con dê cái) khi trở về từ nơi đó, cũng ghé vào ngay tại chỗ ấy để cho đứa bé bú sữa. Người chăn dê nghĩ rằng– “Con dê  cái này ghé vào chỗ này từ sáng sớm, chuyện này vì lý do gì?” Nên bước tới kiểm tra, thì phát hiện ra đứa trẻ ấy, (nghĩ rằng): “Đứa bé này chắc hẳn là người đại phước, ngay cả loài bàn sanh còn biết đến đức hạnh (của nó), ta sẽ nuôi nấng đứa bé này,” rồi đưa về nhà mình.

Punadivase seṭṭhi ‘‘mato nu kho dārako, na mato’’ti olokāpento ajapālakena gahitabhāvaṃ ñatvā sahassaṃ datvā āṇāpetvā ‘‘sve imaṃ nagaraṃ eko satthavāhaputto pavisissati, imaṃ dārakaṃ netvā cakkamagge ṭhapetha, evaṃ taṃ sakaṭacakkaṃ chindantaṃ gamissatī’’ti āha. Taṃ tattha nikkhittaṃ satthavāhaputtassa purimasakaṭe goṇā disvā cattāro pāde thambhe viya otāretvā aṭṭhaṃsu. Satthavāho ‘‘kiṃ nu kho eta’’nti tesaṃ ṭhitakāraṇaṃ olokento dārakaṃ disvā ‘‘mahāpuñño dārako, patijaggituṃ vaṭṭatī’’ti gaṇhitvā agamāsi.

Vào ngày hôm đó, Trưởng giả đã cho người dò xét: “Đứa bé đã chết hay chưa chết.” Sau khi biết rằng: “Đứa bé ấy đã được đưa đi bởi người chăn dê,” đã cho một ngàn rồi ra lệnh rằng: “Ngày mai, con trai người hướng dẫn đoàn xe sẽ tiến vào thành này. Các ngươi hãy đem đứa trẻ này đặt ở vết bánh xe, như thế bánh xe ấy sẽ cắt đứt nó.” Những con bò ở các cỗ xe dẫn đầu của con trai người hướng dẫn đoàn xe khi nhìn thấy đứa trẻ bị đặt ở đó, chúng liền đứng lại, dạng cả bốn chân ra giống như cột trụ. người hướng dẫn đoàn xe lấy làm lạ: “Chuyện này vì lý do gì?” Trong khi xem xét lý do đứng lại của đàn bò, đã thấy đứa bé, hiểu ngay rằng: “Đứa trẻ này là người có đại phước, ta nên nuôi dưỡng,” mới đưa đi theo.

Seṭṭhipi tassa cakkapathe matabhāvaṃ vā amatabhāvaṃ vā olokāpento satthavāhena gahitabhāvaṃ ñatvā tassapi sahassaṃ datvā āṇāpetvā nagarato avidūre ṭhāne papāte pātāpesi. So tattha papatanto naḷakārānaṃ kammakaraṇaṭṭhāne ekasālāya[9] patito. Sā tassa puññānubhāvena satavihatakappāsapicusamphassasadisā ahosi. Atha naṃ naḷakārajeṭṭhako ‘‘puññavā esa dārako, paṭijaggituṃ vaṭṭatī’’ti gaṇhitvā gehaṃ gato. Seṭṭhi dārakassa papātato patitaṭṭhāne matabhāvaṃ vā amatabhāvaṃ vā pariyesāpento naḷakārajeṭṭhakena gahitabhāvaṃ ñatvā tassapi sahassaṃ datvā āṇāpesi.

Về phần vị Trưởng giả, ông ta lại sai người đi dò xét xem đứa bé đã chết hay vẫn chưa chết ở dưới bánh xe bò. Biết rằng vị người hướng dẫn đoàn xe đã đưa đi, ông ta lại đưa một ngàn cho vị ấy, rồi sai người đem vứt đứa bé xuống vực thẳm không xa kinh thành. Khi rơi xuống đó, đứa bé đã rơi vào xưởng đan lát nơi làm việc của những người thợ đan lát. Xưởng đan lát ấy đã trở thành như thể xúc chạm với một trăm lớp bông vải do nhờ năng lực phước báu của đứa bé ấy. Khi ấy, người đứng đầu nhóm thợ đan hiểu rằng: “Đứa trẻ này có phước, xứng đáng để nuôi dưỡng,” mới đưa đứa bé về nhà. Vị Trưởng giả lại cho người tìm kiếm ở dưới vực thẳm xem đứa trẻ đã chết hay vẫn chưa chết. Biết rằng người đứng đầu nhóm thợ đan đưa đi, ông đã sai người cho một ngàn đến người đứng đầu ấy.

Aparabhāge seṭṭhissa sakaputtopi sopi ubho vayappattā ahesuṃ. Seṭṭhi puna ghosakadārakassa[10] māraṇupāyaṃ cintento attano kumbhakārassa gehaṃ gantvā ‘‘ambho mayhaṃ gehe evarūpo eko avajātadārako atthi, taṃ dārakaṃ yaṃkiñci katvā māretuṃ vaṭṭati rahassenā’’ti āha[11]. So ubhopi kaṇṇe pidahitvā ‘‘evarūpaṃ nāma bhāriyaṃ kathaṃ kathetuṃ na vaṭṭatī’’ti āha. Tato seṭṭhi ‘‘ayaṃ mudhā na karissatī’’ti cintetvā – ‘‘handa, bho, sahassaṃ gaṇhitvā etaṃ kammaṃ nipphādehī’’ti āha. Lañjaṃ nāma abhinnaṃ bhindati, tasmā so sahassaṃ labhitvā sampaṭicchitvā ‘‘ahaṃ, ayya, asukadivase nāma āvāpaṃ ālimpessāmi, tadā taṃ dārakaṃ asukavelāya nāma pesehī’’ti āha. Seṭṭhipi kho tassa vacanaṃ sampaṭicchitvā tato paṭṭhāya divase gaṇento kumbhakārena vuttadivasassa sampattabhāvaṃ ñatvā ghosakakumāraṃ pakkosāpetvā ‘‘amhākaṃ, tāta, asukadivase nāma bahūhi bhājanehi attho, tvaṃ amhākaṃ kumbhakārassa santikaṃ gantvā ‘pitarā kira me tumhākaṃ ekaṃ kathitaṃ atthi, taṃ ajja nipphādehī’ti vadehī’’ti āha. So ‘‘sādhū’’ti tassa vacanaṃ sampaṭicchitvā nikkhami.

Về sau, cả cậu con trai ruột của Trưởng giả và đứa trẻ ấy, cả hai đã đến tuổi trưởng thành. Vị Trưởng giả cứ mãi trầm ngâm suy tính mưu kế để giết cậu bé Ghosaka, nên đã đi đến nhà người thợ gốm của mình, rồi nói rằng: “Này ông bạn, ở trong nhà của tôi có một đứa trẻ sanh ra từ tầng lớp thấp hèn với hình thức như vậy, nên làm bằng mọi giá để giết đứa trẻ đó một cách bí mật.” Người thợ gốm nghe vậy đã bịt cả hai tai lại, nói rằng: “Không nên thốt ra những lời lẽ nặng nề có hình thức như thế.” Khi ấy, Trưởng giả nghĩ rằng: “Gã thợ gốm này sẽ không làm.” Mới nói rằng: “Thôi được rồi, ông bạn, hãy nhận lấy một ngàn này rồi làm công việc này cho hoàn tất.” (Quả thật vậy), tiền hối lộ được xem là có thể phá vỡ điều không thể phá vỡ. Chính vì lý do đó, người thợ gốm sau khi nhận một ngàn đã đồng ý rồi nói rằng: “Thưa ông chủ, con sẽ nhóm lửa lò nung gốm vào ngày hôm đó, ông chủ hãy sai thằng bé đó đến vào đúng ngày hôm đó, vào đúng giờ đó.” Vị Trưởng giả đã chấp nhận lời của người thợ gốm ấy rồi đếm từng ngày kể từ ngày hôm ấy. Biết rằng ngày hẹn với người thợ gốm đã đến, ông liền cho gọi cậu Ghosaka đến rồi bảo: “Này con trai, cha đang cần rất nhiều đồ dùng bằng gốm. Vào ngày ấy, con hãy đi tìm người thợ gốm và nói rằng: ‘Nghe nói, có một việc mà cha tôi đã nói với bác, hôm nay xin bác hãy làm việc đó cho hoàn tất.’” Thanh niên Ghosaka, sau khi tiếp nhận lời nói của Trưởng giá ấy, (nói rằng) “Dạ vâng!” rồi ra đi.

Atha naṃ antarāmagge seṭṭhissa sakaputto guḷakīḷaṃ kīḷanto disvā vegena gantvā ‘‘ahaṃ bhātika dārakehi saddhiṃ kīḷanto ettakaṃ nāma jito, taṃ me paṭijinitvā dehī’’ti āha. So ‘‘mayhaṃ idāni okāso natthi, pitā maṃ accāyikakammena kumbhakārassa santikaṃ pahiṇī’’ti āha. Itaro ‘‘ahaṃ bhātika tattha gamissāmi, tvaṃ imehi saddhiṃ kīḷitvā mayhaṃ lakkhaṃ paccāharitvā dehī’’ti āha. ‘‘Tena hi gacchā’’ti attano kathitasāsanaṃ tassa kathetvā dārakehi saddhiṃ kīḷi. Sopi kumāro kumbhakārassa santikaṃ gantvā taṃ sāsanaṃ ārocesi. So ‘‘sādhu, tāta, nipphādessāmī’’ti taṃ kumāraṃ gabbhaṃ pavesetvā[12] tikhiṇāya vāsiyā khaṇḍākhaṇḍikaṃ chinditvā cāṭiyaṃ pakkhipitvā cāṭimukhaṃ pidahitvā bhājanantare ṭhapetvā āvāpaṃ ālimpesi. Ghosakakumāro bahū jinitvā kaniṭṭhassa āgamanaṃ olokento nisīdi. So taṃ cirāyamānaṃ ñatvā ‘‘kiṃ nu kho cirāyatī’’ti kumbhakāragehasabhāgaṃ gantvā katthaci adisvā ‘‘gehaṃ gato bhavissatī’’ti nivattitvā gehaṃ agamāsi.

Lúc bấy giờ, trên đường đi, con trai ruột của vị trưởng giả đang chơi trò cục đá tròn (một trò chơi dân gian) nhìn thấy Ghosaka mới vội vã chạy lại nói rằng: “Anh ơi, em đang chơi với đám trẻ mà bị chúng chiến thắng chừng này. Anh hãy thắng lại chúng giúp em với.” – Ghosaka đáp: “Bây giờ, thời gian của anh không có, cha bảo anh đi tìm người thợ gốm vì có việc khẩn cấp.” – Con trai ruột của Trưởng giả lại nói: “Anh ơi, em sẽ đi thay cho. Anh cứ ở đây chơi với đám trẻ này và đem lại may mắn cho em nhé.” – Ghosaka nói: “Nếu vậy, em hãy đi đi.” Rồi cậu nói lại lời nhắn mà cha đã dặn mình cho người em trai ấy, sau đó ở lại chơi với đám trẻ. Còn đứa em trai thì đi đến gặp người thợ gốm rồi truyền lại lời nhắn đó. Người thợ gốm nói: “Được rồi con trai, ta sẽ hoàn thành việc ấy,” sau đó mời cậu vào trong phòng, dùng con dao sắc bén chặt xác nó ra thành từng mảnh nhỏ, cho vào một cái hũ to rồi đậy nắp lại, đặt giữa những món đồ gốm khác rồi nhóm lửa lò nung. Thanh niên Ghosaka, sau khi chơi thắng được rất nhiều, đã ngồi trông ngóng sự trở lại của em trai. Khi biết rằng người em đi quá lâu, nghĩ rằng: “Lý do gì em mình lại chậm trễ vậy?” Nên đã đi đến một phần của ngôi nhà người thợ gốm nhưng tìm chỗ này chỗ nọ cũng không thấy, nghĩ rằng: “Chắc em mình đã trở về nhà rồi,” cậu mới trở về nhà.

Seṭṭhi naṃ dūratova āgacchantaṃ disvā ‘‘kiṃ nu kho kāraṇaṃ bhavissati, mayā esa māraṇatthāya kumbhakārassa santikaṃ pahito, so dāni puna idhevāgacchatī’’ti āgacchantaṃyeva naṃ ‘‘kiṃ, tāta, kumbhakārassa santikaṃ na gatosī’’ti āha. ‘‘Āma, tāta, na gatomhī’’ti. ‘‘Kasmā, tātā’’ti? So attano nivattakāraṇañca kaniṭṭhabhātikassa tattha gatakāraṇañca ārocesi. Seṭṭhi tassa vacanassa sutakālato paṭṭhāya mahāpathaviyā ajjhotthaṭo viya hutvā ‘‘kiṃ nāmetaṃ tvaṃ vadasī’’ti vipphandacitto[13] vegena kumbhakārassa santikaṃ gantvā aññesaṃ santike akathanīyabhāvena ‘‘pekkha, bho, pekkha, bho’’ti āha. ‘‘Kiṃ pekkhāpesi tvaṃ’’? Niṭṭhitaṃ etaṃ kammanti. So tatova nivattitvā gehaṃ agamāsi. Tato paṭṭhāya cassa cetasikarogo uppajji.

Trưởng giả nhìn thấy Ghosaka từ đằng xa đang đi tới thì rất ngạc nhiên: “Sẽ có nguyên nhân gì đây? Ta sai nó đến nhà của người thợ gốm để giết nó. Vậy mà giờ này, nó còn đến đây nữa?” Ngay khi cậu đến, ông ta hỏi rằng: “Này con, con không đi đến gặp người thợ gốm hay sao?” Ghosaka đáp: “Dạ vâng! con không có đi.” – Trưởng giả: “Tại sao vậy con?” – Cậu mới thuật lại lý do mình quay lại và lý do em trai đã đi đến đó. – Trưởng giả, kể từ giây phút nghe những lời nói của cậu giống như bị quả địa cầu to lớn sụp đổ đè lên, tâm trí quay cuồng, (thốt lên) rằng: “Con nói cái gì cơ?” rồi tức tốc chạy ngay đến nhà của người thợ gốm, nói những lời không nên nói trong sự hiện diện của những người xung quanh: “Nhìn kìa, ông bạn! Nhìn kìa, ông bạn!”. Người thợ gốm nói rằng: “Ông bảo tôi xem cái gì nữa? Việc đó đã hoàn thành rồi.” Trương giả, từ nơi ấy, sau khi rời khởi, đã trở về nhà. Kể từ đó trở đi, căn bệnh về tâm trí đã bộc phát nơi vị Trưởng giả ấy.

So tasmiṃ kāle tena saddhiṃ abhuñjitvā (āsaṃ bhinditvā)[14] ‘‘yena kenaci upāyena mama puttassa sattuno antarameva passituṃ vaṭṭatī’’ti ekaṃ paṇṇaṃ likhitvā ghosakakumāraṃ pakkositvā ‘‘tvaṃ imaṃ paṇṇaṃ ādāya asukagāme nāma amhākaṃ kammantiko atthi, tassa santikaṃ gantvā imaṃ paṇṇaṃ datvā ‘imasmiṃ kira paṇṇe sāsanaṃ sīghaṃ karohī’ti vada. Antarāmagge amhākaṃ sahāyako gāmakaseṭṭhi nāma eko seṭṭhi atthi, tassa gharaṃ gantvā bhattaṃ bhuñjitvā gaccheyyāsī’’ti ca mukhasāsanaṃ adāsi. So seṭṭhiṃ vanditvā paṇṇaṃ gahetvā nikkhanto antarāmagge gāmakaseṭṭhissa vasanaṭṭhānaṃ gantvā tassa gehaṃ pucchitvā taṃ bahidvārakoṭṭhake nisīditvā massuparikammaṃ karontaṃ vanditvā aṭṭhāsi. ‘‘Kuto āgacchasi, tātā’’ti ca vutte ‘‘kosambiseṭṭhino puttomhi, tātā’’ti āha. So ‘‘amhākaṃ sahāyaseṭṭhino putto’’ti haṭṭhatuṭṭho ahosi.

Vào lúc bấy giờ, ông ta đã không ăn uống gì bởi căn bệnh ấy, vẫn luôn nung nấu ý định: “Phải chứng kiến sự diệt vong của kẻ thù của con trai ta bằng một mưu kế nào đó,” ông liền viết một bức thư, rồi gọi thanh niên Ghosaka đến và đích thân căn dặn rằng: “Con hãy cầm bức thư này đến gặp người quản lý của cha ở ngôi làng có tên như thế, Hãy nói rằng: “Nghe nói, ông hãy nhanh chóng thực hiện công việc trong bức thư này. Trên đường đi, có một vị Trưởng giả tên là Trưởng giả Gāmaka là bạn thân của cha, con nên đi đến nhà của vị ấy, thọ dụng vật thực rồi con mới đi tiếp,” sau đó đã trao bức thư cho cậu. Thanh niên Ghosaka ấy, sau khi cúi chào Trưởng giả, đã cầm bức thư đi. Trên đường đi, sau khi đi đến địa điểm cư ngụ của Trưởng giả Gāmaka, đã hỏi (đường vào) nhà của Trưởng giả ấy, rồi đứng cúi chào vị Trưởng giả ấy khi ông đang ngồi ở bên ngoài cánh cổng cho thợ tỉa râu. Khi được hỏi rằng: “Này con, con đến từ đâu vậy?” Chàng đáp: “Thưa ông, con là con trai Trưởng giả thành Kosambi.” Trưởng giả Gāmaka trở nên mừng rỡ hoan hỷ (nói rằng): “Hóa ra là con trai Trưởng giả bạn thân của ta.”

Tasmiṃ ca khaṇe tassa seṭṭhino dhītāya ekā dāsī seṭṭhidhītu pupphāni āharituṃ gacchati. Atha naṃ seṭṭhi āha – ‘‘tvaṃ, amma, etaṃ kammaṃ ṭhapetvā ghosakakumārassa pāde dhovitvā sayanaṃ attharitvā dehī’’ti. Sā tathā katvā āpaṇaṃ gantvā seṭṭhidhītu pupphāni āhari. Seṭṭhidhītā taṃ disvā ‘‘tvaṃ ajja ciraṃ bahi papañcesī’’ti tassā kujjhitvā ‘‘kiṃ te ettakaṃ kālaṃ ettha kata’’nti āha. ‘‘Mā kathesi, ayye, mayā evarūpo nadiṭṭhapubbo, tuyhaṃ kira pitu sahāyakaseṭṭhino putto eko, na sakkā tassa rūpasampattiṃ kathetuṃ.  Seṭṭhi maṃ pupphānaṃ atthāya gacchantiṃ ‘tassa kumārassa pāde dhovitvā sayanaṃ attharitvā dehī’ti āha, tenāhaṃ bahi ciraṃ papañcesi’’nti. Sāpi kho seṭṭhidhītā tassa kumārassa catutthe attabhāve gharasāminī ahosi, tasmā tassā vacanassa sutakālato paṭṭhāya neva attano ṭhitabhāvaṃ, na nisinnabhāvaṃ aññāsi. Sā tameva dāsiṃ gahetvā tassa nipannaṭṭhānaṃ gantvā taṃ niddāyamānaṃ oloketvā dussante paṇṇaṃ disvā ‘‘kiṃ nu kho etaṃ paṇṇa’’nti kumāraṃ anuṭṭhāpetvāva paṇṇaṃ gahetvā vācetvā ‘‘ayaṃ attano maraṇapaṇṇaṃ sayameva gahetvā āgacchatī’’ti taṃ paṇṇaṃ phāletvā tasmiṃ appabuddheyeva ‘‘mayā tava santikaṃ putto pesito, sahāyakassa me gāmakaseṭṭhissa vayappattā dārikā atthi, tvaṃ sīghaṃ amhākaṃ āṇāpavattiṭṭhāne uppādaṃ dhanaṃ gaṇhitvā sabbasatena mama puttassa gāmakaseṭṭhino dhītaraṃ gahetvā maṅgalaṃ karohi. Maṅgale ca niṭṭhite ‘iminā me vidhānena kata’nti mayhaṃ sāsanaṃ pesehi. Ahaṃ tava idha kattabbaṃ jānissāmī’’ti paṇṇaṃ likhitvā tameva lañchanaṃ datvā paṭhamaṃ baddhaniyāmeneva dussante bandhi.

Và đúng vào lúc ấy, một người nữ tỳ của con gái vị Trưởng giả đang đi mang hoa về cho cô chủ. Khi ấy, Trưởng giả đã bảo người nữ tỳ ấy rằng: “Tạm gác việc đó lại, hãy đi rửa chân cho cậu Ghosaka và sắp xếp chỗ nghỉ ngơi cho cậu ấy.” Người nữ tỳ ấy đã làm theo lời dặn rồi đi ra chợ (mua hoa) mang về cho con gái nhà trưởng giả. Con gái vị Trưởng giả khi nhìn thấy người nữ tỳ đã quở mắng rằng: “Hôm nay em đã làm chậm trễ, ở bên ngoài khá lâu.” Cô vừa giận vừa hỏi: “Em đã làm gì ở đó suốt ngần ấy thời gian?” Người nữ tỳ đáp: “Thưa cô chủ, xin cô đừng mắng. Em chưa từng thấy chàng thanh niên nào có tướng mạo khôi ngô như thế. Nghe nói, cậu ấy là con trai một của vị Trưởng giả, là bạn thân của cha cô. Em không thể tả hết tướng mạo hoàn hảo của cậu ấy. Trong lúc con đang đi mang hoa về, ông chủ đã sai em phải rửa chân và sửa soạn chỗ nghỉ ngơi cho cậu ấy. Vì thế, em đã chậm trễ, ở bên ngoài khá lâu.’” Tiểu thư, con gái vị Trưởng giả đã từng là vợ của chàng trai ấy trong kiếp sống thứ tư. Vì thế, kể từ giây phút được nghe lời kể của người nữ tỳ, nàng không còn nhận thức được là bản thân đang đứng, và cũng không nhận thức được là bản thân đang ngồi nữa. Nàng đã dẫn chính người nữ tỳ ấy đến chỗ Ghosaka đang nằm nghỉ, ngắm nhìn chàng đang ngủ, nhìn thấy bức thư ở vạt áo của chàng, tò mò rằng: “Bức thư này (viết) gì?” Nàng đã không đánh thức chàng dậy mà lấy bức thư ra đọc, biết rằng: “Chàng trai này đã tự mình mang theo bức thư ra lệnh giết chính mình,” nàng liền xé nát bức thư đó. Trong lúc chàng trai ấy vẫn chưa thức giấc, nàng đã viết một bức thư khác như sau: “Ta sai con trai ta đến chỗ của ông. Trưởng giả Gāmaka là bạn thân của ta có một cô con gái đã đến tuổi trưởng thành. Ông hãy mau chóng gom góp tài sản được phát sanh trong địa phận cai quản của ta, hỏi cưới con gái Trưởng giả Gāmaka và tổ chức lễ cưới cho con trai ta với tất cả các lễ vật mỗi thứ một trăm. Và sau khi lễ cưới hoàn tất, ông hãy gửi thư thông báo cho ta biết rằng: ‘Tôi đã tổ chức lễ cưới bằng hình thức này. Ở đây, ta sẽ tự biết được việc cần phải làm đối với ông.’” Rồi đóng dấu lên bức thư ấy và buộc lại vào vạt áo của chàng như cũ.

Sopi kho kumāro taṃdivasaṃ tattha vasitvā punadivase seṭṭhiṃ āpucchitvā kammantikassa gāmaṃ gantvā paṇṇaṃ adāsi. Kammantiko paṇṇaṃ vācetvā gāmike sannipātetvā ‘‘tumheva maṃ na gaṇetha, mama sāmī attano jeṭṭhaputtassa sabbasatena dārikaṃ ānetuṃ mayhaṃ santikaṃ pesesi, vegena imasmiṃ ṭhāne uppādaṃ sampiṇḍethā’’ti sabbaṃ maṅgalasakkāraṃ sajjetvā gāmakaseṭṭhissa sāsanaṃ pesetvā sampaṭicchāpetvā sabbasatena maṅgalakiriyaṃ niṭṭhāpetvā kosambiseṭṭhissa paṇṇaṃ pahiṇi ‘‘mayā tumhehi pahitapaṇṇe sāsanaṃ sutvā idañcidañca kata’’nti.

Chàng trai trẻ ấy đã nghỉ lại nhà Trưởng giả Gāmaka một ngày; đến sáng hôm sau, sau khi từ biệt Trưởng giả đã lên đường đến ngôi làng của người quản lý rồi trao bức thư ấy cho (người ấy). Sau khi đọc bức thư, người quản lý đã cho tập hợp dân làng lại rồi nói rằng: “Thưa tất cả dân làng, chớ có bận tâm đến tôi! Chủ nhân của chúng ta đã gửi tin báo rằng: ‘Hãy hỏi cưới tiểu thư (con gái Trưởng giả Gāmaka) cho con trai trưởng của ông ấy, với tất cả các lễ vật mỗi thứ một trăm.’ Quý vị hãy mau chóng thu gom tài sản được phát sanh ở nơi đây đến, rồi chuẩn bị đầy đủ các lễ vật cho lễ thành hôn,’” cho người chuyển một bức thư đến trưởng giả Gāmaka, sau khi (Trưởng giả) đồng ý hãy thực hiện hôn sự cho hoàn tất với tất cả các lễ vật mỗi thứ một trăm, rồi cho người gửi một bức thư đến Trưởng giả thành Kosambi rằng: “Tôi đã nhận được tin trong thư mà ông gửi đến và cũng đã làm (hoàn tất) việc này và việc này.”

Seṭṭhi taṃ sāsanaṃ sutvā aggidaḍḍho viya ‘‘idāni naṭṭhomhī’’ti cintanavasena lohitapakkhandikarogaṃ patvā ‘‘yena kenaci taṃ upāyena pakkositvā[15] mama santakassa assāmikaṃ karissāmī’’ti ‘‘maṅgalassa niṭṭhitakālato paṭṭhāya kasmā mayhaṃ putto bahi hoti, sīghaṃ āgacchatū’’ti sāsanaṃ pesesi. Sāsanaṃ sutvā kumāre gantuṃ āraddhe[16] seṭṭhidhītā cintesi – ‘‘ayaṃ bālo maṃ nissāya imaṃ sampattiṃ alatthanti na jānāti, yaṃkiñci katvā imassa gamanapaṭibāhanupāyo kātuṃ vaṭṭatī’’ti. Tato naṃ āha – ‘‘kumāra, mā ativegena gacchāhi, kulagāmaṃ gacchantena nāma attano parivacchaṃ katvā gantuṃ vaṭṭatī’’ti.

Sau khi nhận được bức thư ấy, Trưởng giả như bị thiêu đốt trong đống lửa, đã mắc phải căn bệnh kiết lỵ (đại tiện ra máu) do mãnh lực của sự trầm tư rằng: “Giờ đây, ta đã mất hết rồi!” Mới nghĩ rằng: “Ta sẽ cho người gọi Ghosaka với một mưu kế nào đó, rồi làm cho nó không được thừa kế tài sản của mình.” Rồi cho người gửi thư đi rằng: “Kể từ sau khi hôn lễ hoàn tất, tại sao con trai ta lại cứ ở bên ngoài mãi thế? Hãy mau chóng quay về đi.” Khi nhận được thư báo, chàng trai trẻ bắt đầu khởi hành, nhưng con gái Trưởng giả nghĩ rằng: “Người chồng này của ta thật ngu xuẩn, chàng đâu biết rằng sự thành tựu này do ta mới có được. Ta cần phải làm một điều gì đó, rồi dùng mưu kế để ngăn cản việc đi của chàng.” Khi đó, nàng đã nói với chồng rằng: “Chàng ơi, chàng đừng quá vội vàng. Thông thường người đi (xa) cần phải thực hiện sự chuẩn bị cho bản thân rồi mới nên khởi hành.”

Kosambakaseṭṭhipi tassa cirāyanabhāvaṃ ñatvā puna sāsanaṃ pahiṇi ‘‘kasmā me putto cirāyati, ahaṃ lohitapakkhandikarogaṃ patto, jīvantameva maṃ āgantvā daṭṭhuṃ vaṭṭatī’’ti. Tasmiṃ kāle seṭṭhidhītā tassa ārocesi – ‘‘na eso tava pitā, tvaṃ pana ‘pitā’ti saññaṃ karosi. Esa tava māraṇatthāya kammantikassa paṇṇaṃ pahiṇi, ahaṃ taṃ paṇṇaṃ apanetvā aññaṃ sāsanaṃ likhitvā tava etaṃ sampattiṃ uppādayiṃ. Esa taṃ ‘aputtaṃ karissāmī’ti pakkosati, etassa kālakiriyaṃ āgamehī’’ti. Athassa dharamānakasseva kālakatabhāvaṃ sutvā[17] kosambinagaraṃ agamāsi. Seṭṭhidhītāpi tassa bahiyeva[18] saññaṃ adāsi ‘‘tvaṃ pavisanto sakalagehe tava ārakkhaṃ ṭhapentova pavisāhī’’ti. Sayampi seṭṭhiputtena saddhimeva pavisitvā ubho hatthe ukkhipitvā rodantī viya hutvā andhakāraṭṭhāne nipannakassa seṭṭhissa santikaṃ gantvā sīseneva hadayaṃ pahari. So dubbalatāya teneva pahārena kālamakāsi.

Về phía Trưởng giả thành Kosambi, biết rằng sự chậm trễ của con trai, nên ông ta đã gửi thêm một bức thư nữa: “Tại sao con trai của ta lại chậm trễ như vậy? Ta đang mắc phải căn bệnh kiết lỵ, con nên về gặp ta trong lúc ta vẫn còn sống.” Vào lúc bấy giờ, con gái Trưởng giả mới nói với chồng rằng— “Trưởng giả đó không phải là cha ruột của anh đâu, vậy mà chàng vẫn mãi lầm tưởng là ‘cha’ của mình.’” Trưởng giả ấy đã gửi thư cho người quản lý để ra lệnh giết chàng, chính thiếp đã tráo đổi bức thư đó rồi viết lại một bức thư khác, để mang lại sự thành tựu này cho chàng. Nay ông ta gọi chàng về là ‘có ý định sẽ tước quyền kế thừa của chàng.’ Chàng hãy đợi đến khi Trưởng giả ấy qua đời đã.’” Khi ấy, thanh niên Ghosaka đã không trở về khi Trưởng giả ấy còn sống, chỉ khi nghe được sự việc sắp lâm chung (của Trưởng giả) thì chàng mới trở về thành Kosambi. Con gái Trưởng giả cũng đã ra dấu hiệu bên ngoài cho chồng rằng: “Chàng khi bước vào nhà, hãy bố trí người canh phòng cẩn mật ở khắp nơi trong nhà của chàng rồi mới bước vào.” Bản thân nàng cùng đi với con trai Trưởng giả (thanh niên Ghosaka), nàng giơ hai tay lên như thể đang khóc lóc đi đến gần bên cạnh Trưởng giả đang nằm ở nơi khá tối, rồi lấy đầu mình va chạm thẳng vào tim của ông ta. Trưởng giả ấy, do đã kiệt sức nên cũng đã mệnh chung với chính cú va chạm ấy.

Kumāropi pitu sarīrakiccaṃ katvā ‘‘tumhe mahāseṭṭhissa maṃ sakaputtoti vadathā’’ti pādamūlikānaṃ lañjaṃ adāsi. Tato sattame divase rājā ‘‘seṭṭhiṭṭhānārahaṃ ekaṃ laddhuṃ vaṭṭatī’’ti ‘‘seṭṭhissa saputtakaniputtakabhāvaṃ jānāthā’’ti pesesi. Seṭṭhipādamūlikā rañño seṭṭhissa saputtabhāvaṃ[19] kathayiṃsu. Rājā ‘‘sādhū’’ti sampaṭicchitvā tassa seṭṭhiṭṭhānaṃ adāsi. So ghosakaseṭṭhi nāma jāto. Atha naṃ bhariyā āha – ‘‘ayyaputta, tvampi avajāto, ahampi duggatakule nibbattā. Pubbe katakusalavasena pana evarūpaṃ sampattiṃ alabhimha, adhunāpi kusalaṃ karissāmā’’ti. So ‘‘sādhu bhadde’’ti sampaṭicchitvā devasikaṃ sahassaṃ vissajjetvā dānaṃ paṭṭhapesi.

Chàng trai Ghosaka, sau khi tiến hành việc mai táng thi thể của cha, đã mua chuộc những người hầu cận, rồi nói rằng: “Các người hãy nói rằng ta là con trai ruột của đại Trưởng giả.” Từ đó, bảy ngày sau, Đức vua nghi rằng: “Cần phải có một người xứng đáng cho vị trí Trưởng giả,” nên đã phái người đi: “Các khanh hãy nhận biết rằng vị Trưởng giả ấy có con trai hay không có con trai.” – Những người hầu cận của Trưởng giả đều tâu với Đức vua rằng ‘Trưởng giả có một người con trai.’ Đức vua đã chấp thuận, (nói rằng) ‘Lành thay!” rồi đã ban tước vị Trưởng vị đến chàng. Kể từ đó, chàng được gọi là Trưởng giả Ghosaka. Khi ấy, người vợ mới nói với chồng rằng: “Này phu quân, chàng vốn được sanh ra trong gia đình thấp kém, thiếp cũng được sanh ra từ gia dình nghèo khó. Chúng ta có được sự thành tựu như thế này chính nhờ vào mãnh lực của việc thiện mà chúng ta đã tạo từ từ các kiếp sống quá khứ. Vậy thì giờ đây, chúng ta cũng sẽ tiếp tục làm việc thiện.” Người chồng đã đồng ý, (đáp rằng) “Thật tốt lành thay! Hiền thê.” và đã xuất ra một ngàn mỗi ngày cung cấp vật thí.

Tasmiṃ samaye tāsaṃ dvinnaṃ janānaṃ khujjuttarā devalokato cavitvā ghosakaseṭṭhissa gehe dhātiyā kucchismiṃ paṭisandhiṃ gaṇhi. Sā jātakāle khujjā ahosīti khujjuttarātevassā nāmaṃ akaṃsu. Sāmāvatīpi devalokato cavitvā bhaddavatiyaraṭṭhe bhaddiyanagare bhaddavatiyaseṭṭhissa gehe paṭisandhiṃ gaṇhi, sāmātissā nāmaṃ akaṃsu. Aparabhāge tasmiṃ nagare chātakabhayaṃ uppajji, manussā chātakabhayabhītā yena vā tena vā gacchanti. Tadā ayaṃ bhaddavatiyaseṭṭhi bhariyāya saddhiṃ mantesi – ‘‘bhadde imasmiṃ chātakabhayassa anto na paññāyati, kosambinagare amhākaṃ sahāyakassa ghosakaseṭṭhissa santikaṃ gacchāma, na so amhe disvā pamajjissatī’’ti. Tassa kira so seṭṭhi adiṭṭhasahāyako ahosi, tasmā evamāha. So sesajanaṃ nivattāpetvā bhariyañca dhītarañca gaṇhitvā kosambinagarassa maggaṃ paṭipajji. Te tayopi antarāmagge mahādukkhaṃ anubhavantā anupubbena kosambiṃ patvā ekāya sālāya nivāsaṃ akaṃsu.

Vào lúc bấy giờ, trong số hai người phụ nữ ấy, nàng Khujjuttara sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên đã tái sanh vào bào thai của người vú nuôi trong nhà của Trưởng giả Ghosaka. Khi sinh ra, nàng đã có thân bị gù, (do đó) mọi người đã đặt tên cho nàng là Khujjuttara. Về phần nàng Sāmāvatī, sau khi mệnh chung từ từ thế giới chư Thiên đã tái sanh vào nhà của Trưởng giả Bhaddavatiya ở kinh thành Bhaddavatiya, cha mẹ đã đặt tên cho nàng là Sāmā. Về sau, kinh thành đó đã xảy ra nỗi kinh hãi là nạn đói kém, mọi người kinh hãi và hoảng sợ nạn đói kém nên mới tản mác khắp nơi. Khi ấy, Trưởng giả Bhaddavatiya này thảo luận với vợ rằng– “Này hiền thê, nỗi kinh hãi là nạn đói kém vẫn chưa xuất hiện bên trong, chúng ta sẽ đi tìm Trưởng giả Ghosaka, là bạn thân của ta ở kinh thành Kosambi, người bạn ấy khi gặp ta sẽ không quên.” Được biết Trưởng giả ấy là người bạn thân nhưng chưa từng gặp mặt Trưởng giả Ghosaka ấy, vì thế đã nói như vậy. Trưởng giả Bhaddavatiya ấy cho những người còn lại quay về, rồi dắt vợ và con gái lên đường đến thành Kosambi. Cả ba người, sau khi phải chịu đựng nỗi khổ cực lớn lao suốt trên đường đi, theo tuần tự cũng đã đến được thành Kosambi và đã nghỉ chân tại một túp lều.

Ghosakaseṭṭhipi kho attano gharadvāre kapaṇaddhikavanibbakayācakānaṃ mahādānaṃ dāpesi. Athāyaṃ bhaddavatiyaseṭṭhi cintesi – ‘‘na sakkā amhehi imināva kapaṇavesena sahāyakassa attānaṃ dassetuṃ, sarīre pākatike jāte sunivatthā supārutā seṭṭhiṃ passissāmā’’ti. Te ubhopi dhītaraṃ ghosakaseṭṭhissa dānaggaṃ pahiṇiṃsu. Sā attano bhattaṃ āharaṇatthāya bhājanaṃ gahetvā dānaggaṃ gantvā ekasmiṃ okāse lajjamānarūpā aṭṭhāsi. Taṃ disvā dānakammiko cintesi – ‘‘sesajanā sammukhasammukhaṭṭhāne kevaṭṭā macchavilope viya mahāsaddaṃ katvā gaṇhitvā gacchanti, ayaṃ pana dārikā kuladhītā bhavissati, upadhisampadāpissā atthī’’ti.

Khi ấy, Trưởng giả Ghosaka đang thực hiện lễ đại thí cho người cơ cực, kẻ lang thang, người lỡ đường, và kẻ hành khất tại cửa nhà mình. Lúc đó, Trưởng giả Bhaddavatiya này nghĩ rằng: “Chúng ta không thể xuất hiện trước người bạn thân trong bộ dạng nghèo này được, khi sức khỏe trở lại bình thường, áo quần chỉnh tề, rồi sẽ đi gặp vị ấy.” Thế là, cả hai vợ chồng đã sai con gái đến phước xá của Trưởng giả Ghosaka để mang thức ăn về cho mình. Nàng thiếu nữ mang bát đến phước xá rồi đứng khép nép e thẹn ở một khoảng trống. Người ban phát vật thí nhìn thấy nàng đã nghĩ rằng: “Những người khác gây ra tiếng ồn ầm ĩ như người đánh cá tranh giành cá ở chỗ tụ tập mặt đối mặt, lấy rồi đi ngay. Còn cô bé này chắc hẳn là con nhà danh giá, bởi ‘sự thành tựu về bản thể của sự tái sanh’[20] của nàng hiện hữu.’”

Tato naṃ āha – ‘‘tvaṃ, amma, kasmā sesajano viya gaṇhitvā na gacchasī’’ti? Tāta, evarūpaṃ sambādhaṭṭhānaṃ kinti katvā pavisāmīti. Amma, kati pana janā tumheti? Tayo janā, tātāti. So tayo bhattapiṇḍe adāsi. Sā taṃ bhattaṃ mātāpitūnaṃ adāsi, pitā dīgharattaṃ chātakattā atirekaṃ bhuñjitvā kālamakāsi. Sā punadivase gantvā dveyeva bhattapiṇḍe gaṇhi. Taṃdivasaṃ seṭṭhibhariyā bhattena ca kilantatāya seṭṭhino ca maraṇasokena rattibhāgasamanantare kālamakāsi. Sā punadivase seṭṭhidhītā ekameva bhattapiṇḍaṃ gaṇhi. Dānakammiko tassā kiriyaṃ upadhāretvā, ‘‘amma, tayā paṭhamadivase tayo piṇḍā gahitā, punadivase dve, ajja ekameva gaṇhasi. Kiṃ nu kho kāraṇa’’nti pucchi. Sā taṃ kāraṇaṃ kathesi. Kataragāmavāsino pana, amma, tumheti. Sā tampi kāraṇaṃ nippadesato kathesi. ‘‘Amma, evaṃ sante tvaṃ amhākaṃ seṭṭhidhītā nāma ahosi, mayhañca aññā dārikā natthi, tvaṃ ito paṭṭhāya mama dhītā, ammā’’ti taṃ dhītaraṃ katvā gaṇhi.

Khi dó, ông ta mới hỏi nàng rằng– “Này cháu, vì sao cháu không vào nhận phần như những người khác?” – Nàng đáp: “Thưa bác, làm sao cháu có thể chen lấn giữa đám đông như thế này chứ ạ?” – “Này cháu, nhà cháu có bao nhiêu người?” – Thưa bác, nhà cháu có 3 người. Ông ta đã cho ba phần cơm. – Nàng mang cơm về cho cha mẹ. Người cha do ăn quá nhiều vì bị đói nhiều ngày nên đã qua đời. Vào ngày hôm sau, nàng đi nhận cơm nhưng chỉ lấy 2 phần. Cũng trong ngày hôm đó, vợ của Trưởng giả cũng đã qua đời vào lúc nửa đêm vì khó khăn do vật thực và do đau buồn trước cái chết của Trưởng giả (chồng). Vào ngày hôm sau, con gái Trưởng giả chỉ nhận duy nhất một phần cơm. Người ban phát vật thí quan sát cử chỉ của nàng, mới hỏi rằng: “Này cháu, ngày đầu cháu nhận 3 phần, ngày hôm sau nhận 2 phần, còn hôm nay chỉ nhận có 1 phần thôi. Đã xảy ra nguyên nhân gì vậy?” Nàng đã kể lại sự việc đó. – Này cháu, gia đình cháu cư ngụ ở làng nào? – Nàng liền kể lại đầu đuôi câu chuyện. – “Này cháu, nếu sự việc xảy ra như vậy, thì cháu là con gái của vị Trưởng giả bạn của chủ ta rồi. Ta chẳng có một cô con gái nào cả, vậy từ nay cháu hãy làm con gái của ta nhé.” Rồi ông nhận nàng làm con gái nuôi.

Sā uṭṭhāya samuṭṭhāya dānagge mahāsaddaṃ sutvā ‘‘kasmā ayaṃ, tāta, uccāsaddamahāsaddo’’ti āha. Amma, mahājanassa antare nāma appasaddaṃ kātuṃ na sakkāti. Ahamettha upāyaṃ jānāmi, tātāti. Kiṃ kātuṃ vaṭṭati, ammāti? Samantā vatiṃ katvā dve dvārāni yojetvā anto bhājanāni ṭhapāpetvā ekena dvārena pavisitvā bhattaṃ gaṇhitvā ekena dvārena nikkhamanaṃ karotha, tātāti. Sādhu, ammāti punadivasato paṭṭhāya tathā kāresi. Tato paṭṭhāya dānaggaṃ padumassaraṃ viya sannisinnasaddaṃ ahosi.

Nghe thấy tiếng ồn ầm ĩ ở phước xá, nàng hỏi cha nuôi: “Thưa cha, tại sao ở đây lại có tiếng ồn ầm ĩ như vậy ạ?” Ông đáp: “Này con, giữa đám đông người như thế này thì không thể có ít tiếng động được.” Nàng thưa: “Thưa cha, con biết kế sách để giải quyết việc này.” Ông hỏi: “Cần phải làm thế nào hả con?” Nàng bảo: “Thưa cha, hãy làm hàng rào xung quanh, bố trí hai cánh cổng, cho đặt bát đĩa ở bên trong, cho mọi người đi vào ở cánh cổng này sau khi nhận thức ăn thì đi ra bằng cánh cổng kia.” Ông nói rằng: “Tốt lắm con gái!”, rồi từ ngày hôm sau đã cho thực hiện như vậy. Kể từ ngày hôm sau, phước xá trở nên yên tĩnh tựa như hồ sen.

Tato ghosakaseṭṭhi pubbe dānaggasmiṃ uccāsaddamahāsaddaṃ sutvā tadā taṃ asuṇanto dānakammikaṃ pakkosāpetvā pucchi – ‘‘tvaṃ ajja dānaṃ na dāpesī’’ti. Dinnaṃ, ayyāti. Atha kasmā pubbe viya dānagge saddo na suyyatīti? Āma, ayya, ekā me dhītā atthi, ahaṃ tāya kathitaupāye ṭhatvā dānaggaṃ nissaddamakāsinti. Tava dhītā nāma natthi, kuto te dhītā laddhāti? So vañcetuṃ asakkuṇeyyabhāvena seṭṭhissa sabbaṃ dhītu āgamanavidhānaṃ kathesi. Kasmā pana bho tvaṃ evarūpaṃ bhāriyaṃ kammamakāsi? Tvaṃ ettakaṃ addhānaṃ mama dhītaraṃ attano santike vasamānaṃ nārocesi, vegena taṃ amhākaṃ gehaṃ āṇāpehīti. So tassa vacanaṃ sutvā akāmako āṇāpesi. Tato paṭṭhāya seṭṭhi taṃ dhītuṭṭhāne ṭhapetvā ‘‘dhītu sakkāraṃ karomī’’ti attano samānajātikehi kulehi dhītu samānavayāni pañca kumārikasatāni tassā parivāramakāsi.

Khi đó, Trưởng giả Ghosaka, trước đây thường nghe âm thanh ầm ĩ, âm thanh ồn ào từ phía phước xá. Nhưng lần này, khi không còn nghe tiếng ồn đó nữa, đã cho gọi người phân phát vật thí đến và hỏi: “Hôm nay ngươi đã cho người phân phát vật thí chưa?” – “Thưa ông, đã phân phát rồi.” – “Nếu vậy, vì sao lại không nghe thấy tiếng ồn ở phước xá như trước nữa?” – “Sự tình thế này, thưa ông chủ. Tôi có một cô con gái, tôi đã làm theo kế sách mà con bé đã nói, nên mới làm cho phước xa trở nên không có tiếng ồn.” – “Ngươi không có con gái? Ngươi được đứa con gái ở đâu vậy? – Người ban phát vật thí đã kể lại toàn bộ câu chuyện mà con gái đến cho vị trưởng giả nghe bởi  (người ấy) không thể dối trá được. – “Này ông bạn , tại sao ngươi tạo nghiệp nặng nề kiểu như vậy? Ngươi không nói chuyện cháu gái cư ngụ trong trú xứ của ta suốt thời gian dài như vậy. Ngươi hãy mau chóng đưa con bé đến nhà ta ngay.” Người phân phát vật thí ấy, nghe lời nói của Trưởng giả liền đưa nàng đến, dù trong lòng không hề muốn. Kể từ đó trở đi, Trưởng giả đã đặt nàng vào vị trí con gái ruột, nghĩ rằng: “Sẽ làm lễ nhận con gái,” nên mới sắp xếp năm trăm thiếu nữ cùng độ tuổi từ các gia đình danh giá, có cùng sanh chủng với mình để làm tùy tùng của nàng.

Athekadivasaṃ udeno rājā nagare anusañcaranto taṃ sāmāvatiṃ tāhi kumārīhi parivāritaṃ kīḷamānaṃ disvā ‘‘kassāyaṃ dārikā’’ti pucchitvā ‘‘ghosakaseṭṭhissa dhītā’’ti sutvā sassāmikaassāmikabhāvaṃ pucchi. Tato assāmikabhāve kathite ‘‘gacchatha seṭṭhino kathetha ‘tumhākaṃ dhītaraṃ rājā icchatī’’’ti. Taṃ sutvā seṭṭhi ‘‘amhākaṃ aññā dārikā natthi, ekadhītikaṃ sapattivāse dātuṃ na sakkomā’’ti. Rājā taṃ kathaṃ sutvā seṭṭhiṃ ca seṭṭhibhariyañca bahi katvā sakalagehaṃ lañchāpesi. Sāmāvatī bahi kīḷitvā āgacchantī mātāpitaro bahi nisinnake disvā ‘‘ammatātā, kasmā idha nisinnatthā’’ti? Te taṃ kāraṇaṃ kathayiṃsu. Ammatātā, kasmā tumhe imaṃ paṭivacanaṃ na jānātha ‘‘mama dhītā sapattivāse vasantī ekikā vasituṃ na sakkhissati, sacassā parivārā pañcasatā kumāriyo vasāpetha, evaṃ vasissatī’’ti. Idāni evaṃ kathāpetha, tātāti. ‘‘Sādhu, amma, mayaṃ tava cittaṃ na jānimhā’’ti vatvā te tathā kathayiṃsu. Rājā uttaritaraṃ pasīditvā ‘‘sahassampi hotu, sabbā ānethā’’ti āha. Atha naṃ bhaddakena nakkhattamuhuttakena pañcamātugāmasataparivāraṃ rājagehaṃ nayiṃsu. Rājā tā pañcasatāpi tassāyeva parivāraṃ katvā abhisekaṃ katvā visuṃ ekasmiṃ pāsāde vasāpesi.

Sau đó vào một ngày nọ, khi đi thị sát trong thành Đức vua Udena nhìn thấy nàng Sāmāvati có các tỳ nữ ấy vây quanh, mới hỏi rằng: “Cô gái này là con cái nhà ai?” Khi nghe tâu rằng: “Đó là con gái Trưởng giả Ghosaka,” Đức vua lại hỏi: “Nàng vẫn chưa có chồng sao?” Khi biết rằng: “Nàng vẫn chưa có chồng,” Đức vua đã ra lệnh: “Các khanh hãy đi báo cho Trưởng giả biết rằng: “Trẫm muốn con gái của ông ta.” Sau khi nghe điều đó, Trưởng giả liền đáp: “Ta không có đứa con gái nào khác, ta không thể để cô con gái duy nhất của mình đi lấy chồng được.” Đức vua nghe được lời nói đó bèn nổi giận ra lệnh đuổi vợ chồng Trưởng giả ra khỏi nhà, đồng thời sai đóng cửa và niêm phong toàn bộ dinh thự. Nàng Sāmāvatī đi dạo chơi bên ngoài về, thấy cha mẹ đang ngồi ở bên ngoài mới hỏi rằng: “Cha ơi! Mẹ ơi! Vì sao hai người lại ngồi ở đây?” Họ liền kể lại sự tình. Nàng mới bảo: “Cha ơi! Mẹ ơi! chớ trả lời với Đức vua như vậy.” Bây giờ, cha hãy tâu (với Đức vua) như vầy: “Con gái thần không thể ở một mình với chồng được. Nếu Bệ hạ cho năm trăm thiếu nữ tùy tùng của nàng ở cùng, như vậy nàng sẽ ở.’” – “Tốt lắm, con gái, cha không biết được tâm ý của con đâu,” Trưởng giả và vợ đã tâu như thế. Đức vua nghe xong lại càng thêm sủng ái, nói rằng: “Dẫu có là một ngàn người đi chăng nữa cũng được, hãy đưa tất cả vào đây.” Sau đó, vợ chồng Trưởng giả đã đưa con gái cùng với năm trăm thiếu nữ tùy tùng tiến cung vào ngày lễ cát tường. Đức vua đã cho năm thiếu nữ kia làm tùy tùng của nàng, rồi đã tiến hành lễ tấn phong và ban cho nàng ở tại một tòa cung điện riêng.

Tena ca samayena kosambiyaṃ ghosakaseṭṭhi kukkuṭaseṭṭhi pavārikaseṭṭhīti tayo janā aññamaññaṃ sahāyakā honti. Te tayopi janā pañcasate tāpase paṭijagganti. Tāpasāpi cattāro māse tesaṃ santike vasitvā aṭṭha māse himavante vasanti. Athekadivasaṃ te tāpasā himavantato āgacchantā mahākantāre tasitā kilantā ekaṃ mahantaṃ vaṭarukkhaṃ patvā tattha adhivatthāya devatāya santikā saṅgahaṃ paccāsīsantā nisīdiṃsu. Devatā sabbālaṅkāravibhūsitaṃ hatthaṃ pasāretvā tesaṃ pānīyapānakādīni datvā kilamathaṃ paṭivinodesi. Te devatāya ānubhāvena vimhitā pucchiṃsu – ‘‘kiṃ nu kho devate kammaṃ katvā tayā ayaṃ sampatti laddhā’’ti? Devatā āha – loke buddho nāma bhagavā uppanno, so etarahi sāvatthiyaṃ viharati. Anāthapiṇḍiko gahapati taṃ upaṭṭhāti. So uposathadivasesu attano bhatakānaṃ pakatibhattavetanameva datvā uposathaṃ kārāpesi. Athāhaṃ ekadivasaṃ majjhanhike pātarāsatthāya āgato kañci bhatakaṃ kammaṃ karontaṃ adisvā ‘‘ajja manussā kasmā kammaṃ na karontī’’ti pucchiṃ. Tassa me etamatthaṃ ārocesuṃ. Athāhaṃ etadavocaṃ – ‘‘idāni upaḍḍhadivaso gato, sakkā nu kho upaḍḍhauposathaṃ kātu’’nti. Tato seṭṭhissa paṭivedetvā ‘‘sakkā kātu’’nti āha[21]. Svāhaṃ upaḍḍhadivasaṃ uposathaṃ samādiyitvā tadaheva kālaṃ katvā imaṃ sampattiṃ paṭilabhinti.

Lúc bấy giờ, ở thành Kosambi có 3 vị Trưởng giả là: Trưởng giả Ghosaka, Trưởng giả Kukkuṭa và Trưởng giả Pavārika, là những người bạn thân thiết với nhau. Cả ba vị Trưởng giả cùng nhau hộ độ năm trăm vị đạo sĩ. Các vị đạo sĩ này cư trú ở trú xứ ở của ba vị Trưởng giả ấy bốn tháng, và cư trú ở núi Hy-mã-lạp tám tháng. Sau đó vào một ngày nọ, các đạo sĩ ấy đến từ núi Hy-mã-lạp, bị đói khát và bị mệt nhọc ở bãi sa mạc rộng lớn, đã cùng nhau đi đến tại một cây đa lớn, hy vọng nhận được sự giúp đỡ từ các vị Thiên nhân ngự tại đó, rồi ngồi xuống. Vị Thiên nhân, sau khi đưa cánh tay được trang hoàng bằng các đồ trang sức, đã dâng các thức uống thích hợp cho việc uống đến các vị đạo sĩ, giúp họ xua đi nỗi mệt nhọc. Các vị ấy ngạc nhiên bởi oai lực của vị Thiên ấy, mới hỏi rằng: “Thưa Thiên nhân, ngài đã tạo thiện nghiệp gì mới đạt được sự thành tựu này?” – Vị Thiên nói rằng: Đức Thế Tôn hồng danh là ‘Phật’ đã hiện khởi ở thế gian. Hiện nay, Ngài đang ngự tại thành Savatthi, có vị gia chủ tên là Anāthapiṇḍika đang phục vụ cho Ngài. Vào ngày Uposatha, Trưởng giả Anāthapiṇḍika thường ban phát vật thực hằng ngày cho những người làm công của mình rồi cho họ thực hiện bát quan trai giới. Khi ấy, vào buổi trưa một ngày nọ, ta đến tìm bữa ăn sáng thì không thấy một người làm công nào làm việc cả, nên đã hỏi rằng: “Vì sao ngày hôm nay mọi người không làm việc?” Khi đó, họ mới kể lại sự việc ấy cho ta. Lúc đó, ta mới nói rằng: “Bây giờ đã trôi qua nửa ngày rồi, ta có thể thực hiện bát quan trai giới trong nửa ngày còn lại được không?” Khi đó, mọi người đi thông báo lại việc này với Trưởng giả, Trưởng giả nói rằng: “Thực hiện nửa ngày cũng được.” Nghe lời đó, ta đã (phát nguyện) thọ trì bát quan trai giới nửa ngày, và ta đã mệnh chung vào ngay ngày hôm đó, rồi đã đạt được sự thành tựu này.

Atha te tāpasā ‘‘buddho kira uppanno’’ti sañjātapītipāmojjā tato sāvatthiṃ gantukāmā hutvāpi ‘‘bahūpakārā no upaṭṭhākaseṭṭhino, tesampi imamatthaṃ ārocessāmā’’ti kosambiṃ gantvā seṭṭhīhi katasakkārabahumānā ‘‘tadaheva mayaṃ gacchāmā’’ti āhaṃsu. ‘‘Kiṃ, bhante, turitattha, nanu tumhe pubbe cattāro pañca māse vasitvā gacchathā’’ti vuttā taṃ pavattiṃ ārocesuṃ. ‘‘Tena hi, bhante, saheva gacchāmā’’ti ca vutte – ‘‘gacchāma mayaṃ, tumhe saṇikaṃ āgacchathā’’ti sāvatthiṃ gantvā bhagavato santike pabbajitvā arahattaṃ pāpuṇiṃsu.

Lúc đó, các đạo sĩ đã sanh khởi phỉ lạc và hân hoan rằng: “Được biết đức Phật đã xuất hiện.” Mặc dù, mong muốn đi từ nơi đó đến thành Sāvatthī, nghĩ rằng: “Các vị Trưởng giả phục vụ chúng ta có nhiều sự hỗ trợ, chúng ta sẽ nói về sự việc này đến các vị ấy,” mới cùng nhau đi đến thành Kosambi. Trong khi nhiều sự cung kính đã được thực hiện bởi các trưởng giả (các vị) đã nói rằng: “Chúng tôi sẽ đi vào ngày hôm nay.” – Các Trưởng giả đã nói rằng: “Sao các Ngài vội quá vậy? Trước đây, các Ngài cư ngụ đến bốn-năm tháng mới đi cơ mà” (Các vị đạo sĩ) đã nói về sự việc đó. Và khi ấy các trưởng giả đã nói (rằng) “Bạch các ngài, nếu như thế, chúng tôi sẽ đi cùng.” – (Các vị đạo sĩ) nói (rằng): “Chúng tôi sẽ đi trước, các vị hãy theo sau” rồi đi đến thành Sāvatthī, sau khi xuất gia trong sự chứng minh của Đức Thế Tôn (các vị ấy) đã chứng đắc phẩm vị A-la-hán.

Tepi seṭṭhino pacchā pañcasatapañcasatasakaṭaparivārā sāvatthiṃ gantvā jetavanato avidūre ṭhāne khandhāvāraṃ bandhitvā satthu santikaṃ gantvā pañcapatiṭṭhitena vanditvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Satthā tesaṃ cariyāvasena dhammaṃ desesi. Desanāpariyosāne tayopi sotāpattiphale patiṭṭhāya svātanāya nimantetvā punadivase buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa mahādānaṃ datvā teneva niyāmena ajjatanāya svātanāyāti nimantetvā addhamāsaṃ khandhāvārabhattaṃ nāma datvā satthāraṃ attano nagaraṃ āgamanatthāya yāciṃsu. Satthā ‘‘suññāgāre tathāgatā abhiramantī’’ti[22] kathesi. Te ‘‘aññātaṃ, bhante’’ti vatvā ‘‘tumhe amhehi pahitasāsanena āgaccheyyāthā’’ti vatvā satthāraṃ vanditvā tikkhattuṃ padakkhiṇaṃ katvā attano nagarameva āgantvā tayopi janā sake sake uyyāne vihāre kārāpesuṃ. Ghosakaseṭṭhinā kārito ghositārāmo nāma jāto, kukkuṭaseṭṭhinā kārito kukkuṭārāmo nāma jāto, pāvārikaseṭṭhinā kāritaṃ pāvārikambavanaṃ nāma jātaṃ. Te vihāre kārāpetvā satthu dūtaṃ pahiṇiṃsu – ‘‘satthā amhākaṃ saṅgahaṃ kātuṃ imaṃ nagaraṃ āgacchatū’’ti. Satthā ‘‘kosambiṃ gamissāmī’’ti mahābhikkhusaṅghaparivāro cārikaṃ nikkhamanto antarāmagge māgaṇḍiyabrāhmaṇassa arahattūpanissayaṃ disvā gamanaṃ vicchinditvā kururaṭṭhe kammāsadammaṃ nāma nigamaṃ agamāsi.

Còn các vị Trưởng giả có năm trăm cỗ xe tháp tùng đi đến thành Sāvatthi, đã dựng trại ở nơi không xa Tịnh xá Jetavana, sau khi vào yết kiến bậc Đạo Sư, đã đảnh lễ với năm phần thân thể chạm xuống đất, rồi ngồi xuống một bên. Bậc Đạo Sư thuyết giảng Giáo Pháp tùy theo căn tánh của họ. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, cả ba vị Trưởng giả đều an trú vào Nhập Lưu Quả, và đã thỉnh mời về việc thọ thực vào ngày mai. Sáng hôm sau, họ đã thực hiện lễ đại thí đến Hội chúng Tỳ-khưu có Đức Phật đứng đầu. Theo chính cách thức ấy, họ đã thỉnh mời Ngài thọ thực vào những ngày kế tiếp, rồi dâng cúng bữa ăn của người cấm trại trong suốt nửa tháng và đã thỉnh cầu bậc Đạo Sư về việc đi đến kinh thành của mình. Bậc Đạo Sư nói rằng: “Các đấng Như Lai thường rất hoan hỷ ở ngôi nhà trống vắng.” Các vị Trưởng giả đã nói rằng: “Bạch Ngài, chúng con đã hiểu rồi.” Rồi nói tiếp rằng: “Xin Ngài hãy đến theo thông báo mà chúng con gửi tới.” Sau đó, họ đảnh lễ bậc Đạo Sư, hướng vai phải nhiễu quanh ba vòng rồi trở về kinh thành của mình. Cả ba vị đều đã cho xây dựng ngôi Tịnh xá trong khu hoa viên của mỗi cá nhân. Tịnh xá được xây dựng bởi Trưởng giả Ghosaka tên là Ghositarama, Tịnh xá được xây dựng bởi Trưởng giả Kukkuṭa tên là Kukkuṭārāma, và Tịnh xá được xây dựng bởi Trưởng giả Pāvārika tên là Pāvārikambavana. Các vị ấy sau khi hoàn tất việc xây dựng Tịnh xá, đã phái sứ giả đến thưa với bậc Đạo Sư: “Xin bậc Đạo Sư hãy đến kinh thành này để giúp đỡ cho chúng con.” Bậc Đạo Sư: “Ta sẽ đi đến thành Kosambi” có đại chúng Tỳ-khưu tháp tùng, trong khi rời khỏi du hành, trên đường đi đã nhìn thấy sự có đủ điều kiện đạt đến bản thể A-la-hán của vị Bà-la-môn Māgaṇḍiya, nên mới tạm hoãn việc đi đến Kosambi mà chuyển hướng ngự đến một thị trấn tên là Kammāsadhamma thuộc xứ Kuru.

Tasmiṃ samaye māgaṇḍiyo sabbarattiṃ bahigāme aggiṃ juhitvā pātova antogāmaṃ pavisati. Satthāpi punadivase antogāmaṃ piṇḍāya pavisanto paṭipathe māgaṇḍiyabrāhmaṇassa attānaṃ dassesi. So dasabalaṃ disvā cintesi – ‘‘ahaṃ ettakaṃ kālaṃ mama dhītu rūpasampattiyā sadisaṃ dārakaṃ pariyesanto carāmi, rūpasampattiyā ca satipi evarūpaṃ gahitapabbajjameva patthesiṃ. Ayaṃ kho pana pabbajito abhirūpo dassanīyo mama dhītuyeva anucchaviko’’ti vegena gehaṃ agamāsi. Tassa kira brāhmaṇassa pubbe eko pabbajitavaṃso atthi, tenassa pabbajitameva disvā cittaṃ namati. So brāhmaṇiṃ āmantesi – ‘‘bhadde mayā ()[23] evarūpo pabbajito nāma nadiṭṭhapubbo suvaṇṇavaṇṇo brahmavaṇṇo mama dhītuyeva anucchaviko, sīghaṃ me dhītaraṃ alaṅkarohī’’ti. Brāhmaṇiyā dhītaraṃ alaṅkarontiyāva satthā attano ṭhitaṭṭhāne padacetiyāni dassetvā antonagaraṃ pāvisi.

Vào lúc bấy giờ, Bà-la-môn Māgaṇḍiya đang cúng tế lửa ở ngoài làng suốt đêm; sáng sớm, mới bước vào trong làng. Cũng vào buổi sáng hôm đó, bậc Đạo Sư đi vào làng để khất thực ở phía bên kia đường đã hiển lộ thân tướng cho Bà-la-môn Māgaṇḍiya (nhìn thấy). Sau khi nhìn thấy đấng Thập Lực, vị ấy đã nghĩ rằng– “Trong suốt khoảng thời gian chừng ấy ta đi khắp nơi tìm một chàng trai xứng tầm với sự toàn hảo về dung sắc của con gái ta; và khi có sự toàn hảo về dung sắc, ta cũng ước nguyện sự xuất gia mà người này đang thọ trì tương tự y như thế. Tuy nhiên, vị xuất gia này có vóc dáng đẹp, đáng nhìn, rất phù hợp với con gái của ta, ” rồi vội vã chạy về nhà. Được biết vị Bà-la-môn ấy trước kia thuộc một dòng dõi xuất gia; chính vì vậy, chỉ vừa mới nhìn thấy vị xuất gia, tâm của vị ấy liền hướng về. Bà-la-môn bàn bạc với nữ Bà-la-môn (vợ) rằng: “Này bà, tôi mong muốn việc xuất gia như vầy. Tôi chưa từng nhìn thấy vị xuất gia nào có hình thức như thế này, có màu da như vàng, có hình tướng như Phạm Thiên, thật xứng đôi với con gái chúng ta, hãy mau mau trang điểm cho con gái của bà đi.” Trong lúc nữ Bà-la-môn đang trang điểm cho con gái, bậc Đạo Sư đã phô bày bảo tháp là dấu chân ở tại mỗi nơi mà vị ấy đã gặp Ngài, rồi Ngài bước vào trong nội thành.

Atha brāhmaṇo brāhmaṇiyā saddhiṃ dhītaraṃ gahetvā taṃ ṭhānaṃ āgacchanto antogāmaṃ paviṭṭhakāle āgatattā ito cito ca olokento dasabalaṃ adisvā brāhmaṇiṃ paribhāsati – ‘‘tava kāraṇaṃ bhaddakaṃ nāma natthi, tayi papañcaṃ karontiyāva so pabbajito nikkhamitvā gato’’ti.

Lúc ấy, vị Bà-la-môn đã dẫn theo con gái cùng nữ Bà-la-môn đến nơi đó, vì họ đến vào lúc bậc Đạo Sư đã đi vào trong làng, nhìn chỗ này chỗ nọ không nhìn thấy bậc Đạo Sư, liền trách mắng nữ Bà-la-môn rằng: “Lý do tốt đẹp của bà là không có. Vì bà làm việc quá chậm chạp nên vị xuất gia ấy đã đi mất rồi.”

Brāhmaṇa, gato tāva hotu, kataradisābhāgena gatoti? Iminā disābhāgenāti satthu gataṭṭhānaṃ olokentova padacetiyāni disvā ‘‘bhadde imāni tassa purisassa padāni, ito gato bhavissatī’’ti āha.

– (Nữ Bà-la-môn) nói rằng: “Này ông Bà-la-môn, thôi kệ đi vị ấy đã đi rồi, vậy vị ấy đã đi hướng nào?” Bà-la-môn Māgaṇḍiya nghĩ rằng: “Vị ấy có lẽ đi hướng này,” mới quan sát địa điểm đã đi qua của bậc Đạo Sư, sau khi nhìn thấy bảo tháp là dấu chân (của bậc Đạo Sư) đã nói rằng: “Này bà, đây chính là dấu chân của người đó. Chắc chắn là vị ấy đã đi hướng này.”

Atha, brāhmaṇī, satthu padacetiyaṃ disvā cintesi – ‘‘bālo vatāyaṃ brāhmaṇo attano ganthamattassāpi atthaṃ na jānātī’’ti tena saddhiṃ parihāsaṃ karontī āha – ‘‘yāva bālo cāsi, brāhmaṇa, evarūpassa nāma purisassa dhītaraṃ dassāmīti vadasi. Rāgena hi rattassa dosena duṭṭhassa mohena mūḷhassa purisassa padaṃ nāma evarūpaṃ na hoti. Loke pana vivaṭacchadassa sabbaññubuddhassa etaṃ padaṃ’’ passa, brāhmaṇa –

‘‘Rattassa hi ukkuṭikaṃ padaṃ bhave, duṭṭhassa hoti avakaḍḍhitaṃ padaṃ;
          Mūḷhassa hoti sahasānupīḷitaṃ, Vivaṭacchadassa idamīdisaṃ pada’’nti.

– Khi ấy, nữ Bà-la-môn, nhìn thấy bảo tháp là dấu chân của bậc Đạo Sư, nghĩ rằng: “Lão Bà-la-môn này quả thật khờ khạo, không hiểu nổi ý nghĩa ngay cả trong kinh điển của chính mình,” vì vậy đã chế giễu, nói với Bà-la-môn ấy rằng: “Này ông Bà-la-môn, ông ngốc đến mức này cơ à, vậy mà còn dám nói ‘tôi sẽ đem con gái gả cho người đàn ông có hình thức như này.’ Bởi vì, dấu chân của người bị nhuộm bởi luyến ái, bị bực bội bởi sân hận, bị lầm lạc bởi si mê (sẽ) không có hình thức như thế. Này ông Bà-la-môn, hãy nhìn đi: “Đây là dấu chân của bậc Chánh đẳng Chánh giác, vị đã vén mở tấm màn che ở thế gian.’”

“Thật vậy, dấu chân của kẻ bị luyến ái chi phối sẽ khuyết ở giữa (chỉ hiện rõ phần mũi và gót). Dấu chân của kẻ bị sân hận chi phối sẽ dồn lực vào mũi chân. Dấu chân của kẻ bị si mê chi phối sẽ dồn lực vào gót chân. Đây là dấu chân của người đã vén mở tấm màn che (phiền não).”[24]

So brāhmaṇiyā ettakaṃ kathentiyāpi asutvā ‘‘tvaṃ nāma caṇḍā mukharā’’ti āha. Tesaṃ dvinnampi aññamaññaṃ vivādaṃ karontānaṃyeva satthā piṇḍāya caritvā saddhiṃ bhikkhusaṅghena katabhattakicco brāhmaṇassa dassanūpacāreneva nikkhami. Brāhmaṇo satthāraṃ dūratova āgacchantaṃ disvā brāhmaṇiṃ apasādetvā ‘‘ayaṃ so puriso’’ti haṭṭhapahaṭṭho dasabalassa purato ṭhatvā ‘‘bho pabbajita, ahaṃ pātova paṭṭhāya taṃ pariyesanto carāmi, imasmiṃ jambudīpe mama dhītāya samānarūpā itthī nāma natthi, purisopi tayā saddhiṃ samānarūpo nāma natthi, mama dhītaraṃ tuyhaṃ posanatthāya dammi, gaṇhāhi na’’nti āha. Atha naṃ satthā ‘‘ahaṃ, brāhmaṇa, kāmaggavāsiniyo uttamarūpadharā nānāvaṇṇaṃ kathaṃ kathentiyo mama palobhanatthameva āgantvā santike ṭhitā devadhītāpi na icchiṃ, kimaṅgaṃ pana imaṃ gaṇhissāmī’’ti vatvā imaṃ gāthamāha –

‘‘Disvāna taṇhaṃ aratiṃ ragañca,
Nāhosi chando api methunasmiṃ;
Kiṃmevidaṃ muttakarīsapuṇṇaṃ,
Pādāpi naṃ samphusituṃ na icche’’ti. (su. ni. 841);

Nữ Bà-la-môn chỉ nói chừng ấy, Bà-la-môn ấy đã không nghe theo (mà) còn nói rằng: “Loại đàn bà độc mồm độc miệng.” Trong lúc hai vợ chồng đang cãi vả, bậc Đạo Sư đã đi khất thực cùng với Hội chúng Tỳ-khưu, sau khi hoàn tất phận sự về thọ thực rồi mới rời khỏi, đến gần lối đi mà vị Bà-la-môn có thể nhìn thấy được. Sau khi nhìn thấy bậc Đạo Sư đi đến từ đằng xa, Bà-la-môn đã khiển trách nữ Bà-la-môn rồi nói rằng: “Người này, chính là người đàn ông ấy!” Ông hoan hỷ, hân hoan. Sau khi đứng trước mặt của đấng Thập Lực đã nói rằng: “Thưa ngài, bậc xuất gia, tôi đi tìm ngài từ sáng sớm. Khắp cõi Jambudīpa này, không có nữ nhân nào xinh đẹp bằng với con gái của tôi, và cũng chẳng có người đàn ông nào khôi ngô bằng ngài. Tôi cho con gái mình (cho ngài) để ngài được chăm sóc, xin ngài hãy nhận lấy.” Lúc ấy, bậc Đạo Sư mới nói với Bà-la-môn ấy rằng: “Này ông Bà-la-môn, ngay cả những Thiên nữ ngự ở cung trời Dục giới, có nhan sắc tuyệt mỹ, có màu da rạng rỡ, đến đứng trước mặt Ta nói những lời đường mật để cám dỗ, ta còn không mong muốn. Huống hồ là con gái ông, lẽ nào Ta lại nhận.” Rồi đã nói lên kệ ngôn này—

Sau khi nhìn thấy tham ái, bất mãn, và luyến ái,
ngay cả sự mong muốn về việc đôi lứa đã không có.
Vật được chứa đầy nước tiểu và phân này là cái gì đây?
Ta không muốn chạm đến nó dầu là bàn chân. (su. ni. 841);

Māgaṇḍiyā cintesi – ‘‘anatthikena nāma ‘ala’nti vattumeva vaṭṭati. Ayaṃ pana mama sarīraṃ muttakarīsapuṇṇaṃ nāma katvā ‘pādāpi naṃ samphusituṃ na icche’ti avoca, ekaṃ issariyaṭṭhānaṃ labhantī antaramevassa passissāmī’’ti āghātaṃ bandhi. Satthā taṃ amanasikatvā cariyavasena brāhmaṇassa dhammadesanaṃ ārabhi. Desanāpariyosāne ubhopi jāyampatikā anāgāmiphale patiṭṭhāya ‘‘idāni amhākaṃ gharāvāsena attho natthī’’ti dhītaraṃ māgaṇḍiyaṃ cūḷapitaraṃ sampaṭicchāpetvā ubhopi pabbajitvā arahattaṃ pāpuṇiṃsu. Atha rājā udeno cūḷamāgaṇḍiyena saddhiṃ vohāraṃ katvā māgaṇḍiyadārikaṃ rājānubhāvena gehaṃ ānetvā abhisekaṃ katvā tassā pañcamātugāmasataparivārāya vasanaṭṭhānaṃ visuṃ pāsādaṃ adāsi.

Con gái Bà-la-môn Māgaṇḍiya nghĩ rằng– “Thông thường, người không muốn (nhận lời) chỉ cần nói ‘thôi được rồi’ chừng ấy là đủ. Nhưng vị xuất gia này lại khiến cơ thể ta trở nên đầy rẫy với phân và nước tiểu, rồi còn nói rằng: ‘Ngay cả bàn chân cũng không muốn chạm vào.’ Ta, khi đạt được một địa vị quyền uy nào đó, sẽ nhìn xem kết cục của vị ấy.’” Rồi đã buộc  oan  trái (với bậc Đạo Sư). Bậc Đạo Sư đã không bận tâm đến nàng, Ngài bắt đầu thuyết giảng Giáo Pháp cho (hai vợ chồng) Bà-la-môn tùy theo căn tánh của họ. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, cả hai đều đã an trú vào Bất Lai Quả, rồi nghĩ rằng: “Giờ đây, ta không còn nhu cầu sống đời sống tại gia nữa,” mới gửi gắm cho người chú là Bà-la-môn Māgaṇḍiya chăm sóc con gái, sau khi đã khiến (người chú) chấp thuận thì cả hai đã xuất gia rồi đã chứng đắc quả vị A-la-hán. Khi ấy, Đức vua Udena đã nói (thỏa thuận) với người chú Māgaṇḍiya, rồi đưa nàng Māgaṇḍiya về Hoàng cung bằng vương quyền, sau đó tiến hành lễ tấn phong và ban cho nàng một cung điện riêng biệt để nàng cùng với năm trăm cung nữ tùy tùng cư ngụ.

Satthāpi kho anupubbena cārikaṃ caramāno kosambinagaraṃ sampāpuṇi. Seṭṭhino satthu āgamanaṃ sutvā paccuggamanaṃ katvā pañcapatiṭṭhitena vanditvā ekamantaṃ nisinnā bhagavantaṃ etadavocuṃ – ‘‘ime, bhante, tayo vihārā tumhe uddissa katā, paṭiggaṇhatha, bhante, vihāre cātuddisassa saṅghassa saṅgahatthāyā’’ti. Paṭiggahesi bhagavā vihāre. Tepi seṭṭhino satthāraṃ svātanāya nimantetvā abhivādetvā gharaṃ agamaṃsu.

Về phía bậc Đạo Sư, trong khi tuần tự du hành đã đến được thành Kosambi. Các vị Trưởng giả biết rằng ‘bậc Đạo Sư đã đến’, sau khi đi ra tiếp đón, đã đảnh lễ với năm phần thân thể chạm xuống đất rồi ngồi xuống một bên. Họ đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, ba ngôi Tịnh xá này đã được chúng con xây dựng dành riêng cho Ngài. Bạch Ngài, xin Ngài hãy thọ nhận các Tịnh xá ấy để hỗ trợ Hội chúng bốn phương.” Đức Thế Tôn đã thọ nhận (ba) ngôi Tịnh xá (với thái độ im lặng). Cả ba vị Trưởng giả cũng đã thỉnh mời bậc Đạo Sư thọ trai vào ngày mai, đảnh lễ, rồi trở về tư gia.

Māgaṇḍiyāpi kho satthu āgatabhāvaṃ sutvā chinnabhinnake dhutte pakkosāpetvā tesaṃ lañjaṃ datvā ‘‘tumhe samaṇaṃ gotamaṃ iminā iminā ca niyāmena akkosathā’’ti vatvā uyyojesi. Te satthu antogāmaṃ pavisanavelāya saparivāraṃ satthāraṃ nānāvidhehi akkosehi akkosiṃsu. Āyasmā ānando satthāraṃ āha – ‘‘bhante, evarūpe akkosanaṭṭhāne na vasissāma, aññaṃ nagaraṃ gacchāmā’’ti. Satthā, ‘‘ānanda, tathāgatā nāma aṭṭhahi lokadhammehi na kampanti, ayampi saddo sattāhaṃ nātikkamissati, akkosakānaṃyeva upari patissati, tvaṃ mā vitakkayitthā’’ti. Tepi tayo nagaraseṭṭhino mahāsakkārena bhagavantaṃ pavesetvā mahādānaṃ adaṃsu. Tesaṃ aparāparaṃ dānaṃ dadantānaṃyeva māso atikkami, atha nesaṃ etadahosi – ‘‘buddhā nāma sabbalokaṃ anukampamānā uppajjanti, aññesampi okāsaṃ dassāmā’’ti. Tato te kosambinagaravāsinopi janassa okāsaṃ akaṃsu. Tato paṭṭhāya nāgarāpi vīthisabhāgena gaṇasabhāgena mahādānaṃ denti.

Về phần Vương hậu Magandiya, sau khi nghe được việc đi đến của bậc Đạo Sư, nàng đã cho gọi bọn lưu manh đến, rồi cho tiền thù lao đến chúng và nói rằng: “Các ngươi hãy phỉ báng Sa-môn Gotama theo hình thức như thế này và như thế này,” rồi phái chúng đi. Bọn chúng đã buông lời phỉ báng bậc Đạo Sư cùng với đoàn tùy tùng bằng nhiều lời nhục mạ khác nhau vào lúc Ngài bước vào trong làng. Đại đức Ānanda đã nói với bậc Đạo Sư: “Bạch Ngài, chúng ta sẽ không ở lại nơi bị sự phỉ báng như thế này nữa, chúng ta sẽ đi đến thành phố khác.” – Bậc Đạo Sư, “Này Ānanda, lẽ thường các Đức Như Lai không lay chuyển bởi tám ngọn gió thế gian. Những tiếng (phỉ báng) này dẫu có tiếp diễn thì cũng không quá bảy ngày, rồi một hình phạt nào đó sẽ giáng xuống lên chính những kẻ buông lời phỉ báng ấy. Ngươi chớ nghĩ ngợi.” Về phần ba vị Trưởng giả của cả ba kinh thành ấy đã thỉnh mời Đức Thế Tôn đến bằng sự tôn vinh trọng thể rồi cúng dường lễ đại thí. Các vị Trưởng giả ấy đang dâng cúng vật thí liên tục như vậy, cũng đã trải qua một tháng. Khi ấy, điều này đã khởi lên nơi họ: “Lẽ thường, chư Phật hiện khởi (ở thế gian) vì lòng thương tưởng đến tất cả chúng sanh. Chúng ta sẽ ban cơ hội (cúng dường) này cho những người khác nữa.” Khi đó, Trưởng giả thành Kosambi đã ban cơ hội cho dân chúng. Kể từ đó trở đi, dân chúng trong kinh thành mới thực hiện lễ đại thí bằng cách sắp xếp nhóm người sống chung một khu phố, nhóm người sống chung một tập thể.

Athekadivasaṃ satthā bhikkhusaṅghaparivuto mālākārakajeṭṭhakassa gehe nisīdi. Tasmiṃ khaṇe sāmāvatiyā upaṭṭhāyikā khujjuttarā aṭṭha kahāpaṇe ādāya mālatthāya taṃ gehaṃ agamāsi. Mālākārajeṭṭhako taṃ disvā, ‘‘amma uttare, ajja tuyhaṃ pupphāni dātuṃ khaṇo natthi, ahaṃ buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ parivisāmi. Tvampi parivesanāya sahāyikā hohi, evaṃ ito paresaṃ veyyāvaccakaraṇato muccissatī’’ti āha. Tato khujjuttarā attanā laddhaṃ bhojanaṃ bhuñjitvā buddhānaṃ bhattagge veyyāvaccaṃ akāsi. Sā satthārā upanisinnakathāvasena kathitaṃ dhammaṃ sabbameva uggaṇhi. Anumodanaṃ pana sutvā sotāpattiphale patiṭṭhāsi.

Sau đó vào một ngày nọ, bậc Đạo Sư có Hội chúng Tỳ-khưu tháp tùng, ngồi ở nhà của trưởng nhóm thợ làm vòng hoa. Vào thời khắc ấy, nàng Khujjuttarā, tỳ nữ của Vương hậu Sāmāvatī, mang 8 đồng tiền đến nhà đó để mua hoa. Nhìn thấy nàng, Trưởng nhóm thợ làm vòng hoa đã nói rằng: “Này nàng Uttara, hôm nay tôi không có thời gian làm hoa cho cô đâu, tôi sẽ phụng sự (bữa ăn) đến Hội chúng Tỳ-khưu có Đức Phật đứng đầu. Cả nàng cũng hãy là bạn đồng hành trong việc phụng sự này đi. Nhờ như vậy, từ nay về sau, nàng sẽ thoát khỏi việc phải hầu hạ những người khác.” Khi ấy, nàng Khujjuttarā sau khi thọ dụng phần thức ăn mà bản thân đã nhận được, rồi thực hiện sự phục vụ trong nhà ăn để (cúng dường) chư Phật. Nàng đã học tập toàn bộ bài giảng Pháp được bậc Đạo Sư thuyết giảng do tác động lời thuyết giảng dành cho người ngồi gần. Hơn nữa, sau khi nghe sự tùy hỷ (phước báu), nàng đã an trú vào Nhập Lưu Quả.

Sā aññesu divasesu cattārova kahāpaṇe datvā pupphāni gahetvā gacchati, tasmiṃ pana divase diṭṭhasaccabhāvena parasantake cittaṃ anuppādetvā sabbeva aṭṭha kahāpaṇe datvā pacchiṃ pūretvā pupphāni ādāya sāmāvatiyā santikaṃ agamāsi. Atha naṃ sā pucchi – ‘‘amma uttare, tvaṃ aññesu divasesu na bahūni pupphāni āharasi, ajja pana bahukāni, kiṃ no rājā uttaritaraṃ pasanno’’ti? Sā musāvāde abhabbatāya atīte attanā kataṃ aniguhitvā sabbaṃ kathesi. ‘‘Atha kasmā ajja bahūni pupphāni āharasī’’ti vuttā ca evamāha – ‘‘ahaṃ ajja dasabalassa dhammaṃ sutvā amataṃ sacchākāsiṃ, tasmā tumhe na vañcemī’’ti. Taṃ sutvā, ‘‘amma uttare, tayā laddhaṃ amatadhammaṃ amhākampi dehī’’ti sabbāva hatthaṃ pasārayiṃsu. Ayye, evaṃ dātuṃ na sakkā, ahaṃ pana satthārā kathitaniyāmena tumhākaṃ dhammaṃ desessāmi, tumhe attano hetumhi sati taṃ dhammaṃ labhissathāti. Tena hi, amma uttare, kathehīti. ‘‘Evaṃ kathetuṃ na sakkā, mayhaṃ uccaṃ āsanaṃ paññāpetvā tumhe nīcāsanesu nisīdathā’’ti āha. Tā pañcasatāpi itthiyo khujjuttarāya uccāsanaṃ datvā sayaṃ nīcāsanāni gahetvā nisīdiṃsu. Khujjuttarāpi sekkhapaṭisambhidāsu ṭhatvā tāsaṃ dhammaṃ desesi. Desanāpariyosāne sāmāvatiṃ jeṭṭhikaṃ katvā sabbāva sotāpattiphale patiṭṭhahiṃsu. Tato paṭṭhāya khujjuttaraṃ veyyāvaccakaraṇato apanetvā ‘‘tvaṃ satthu dhammakathaṃ sutvā āharitvā amhe sāvehī’’ti āhaṃsu. Khujjuttarāpi tato paṭṭhāya tathā akāsi.

Vào những ngày khác, nàng chỉ đưa 4 đồng tiền để lấy hoa mang về (tự giữ lại 4 đồng cho mình); nhưng vào ngày hôm đó, nàng không khởi tâm tham muốn tài sản của người khác nữa vì là bậc đã nhìn thấy chân lý, nên đã đưa hết 8 đồng tiền, rồi chất hoa đầy ắp trong giỏ mang hoa về cung cho Vương hậu Sāmāvatī. Khi ấy, Vương hậu đã hỏi nàng rằng: “Này Uttara, vào những ngày trước ngươi mang hoa về không có nhiều, nhưng hôm nay hoa lại nhiều vậy? Phải chăng Đức vua của chúng ta đã được tịnh tín hơn?” Bởi vì là người không có khả năng nói dối, nên nàng đã không giấu giếm những việc làm mà bản thân đã thực hiện trước đây, mà kể lại toàn bộ sự việc. Khi bị hỏi rằng: “Vì sao hôm nay lại mang về nhiều hoa như vậy,” nàng liền thưa rằng: “Hôm nay con đã được lắng nghe Giáo Pháp của đấng Thập Lực và đã chứng ngộ Pháp Bất Tử. Vì thế, con không thể nói lời dối trá các người được ạ.” Sau khi nghe những lời ấy, Vương hậu đã nói rằng: “Này Uttara, con hãy cho chúng tôi Pháp Bất Tử mà con đã đạt được với,” rồi tất cả đồng loạt duỗi cánh tay ra xin. Nàng mới nói rằng: “Thưa Vương hậu, con không thể cho như vậy, nhưng con sẽ thuyết giảng Giáo Pháp cho các vị theo đúng cách mà bậc Đạo Sư đã thuyết. Khi hội đủ nhân duyên của bản thân, các tất cả cũng sẽ đạt được Pháp đó.” – Nếu như vậy, hãy nói đi, này Uttara. – “Con cũng không thể nói như thế được. Xin hãy sắp xếp một chỗ ngồi cao cho con, còn các vị hãy ngồi ở chỗ thấp.” Cả năm trăm cung nữ ấy đã thu xếp một chỗ ngồi cao cho nàng Khujjuttarā, còn bản thân họ thì ngồi ở chỗ ngồi thấp. Còn nàng Khujjuttarā, sau khi vững trú ở tuệ phân tích của bậc Hữu học, đã thuyết giảng Giáo Pháp cho các cung nữ ấy. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, tất cả các cung nữ, có Vương hậu Sāmāvati đứng đầu, đều được an trú trong quả vị Nhập Lưu. Kể từ đó trở đi, họ đã miễn cho nàng Khujjuttara khỏi mọi công việc hầu hạ (phục dịch) rồi nói rằng: “Sau khi lắng nghe bài thuyết giảng Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, rồi mang về thuyết lại cho chúng tôi nghe.” Và kể từ ngày ấy, nàng Khujjuttarā đã làm như thế.

Kasmā panesā dāsī hutvā nibbattāti? Sā kira kassapadasabalassa sāsane ekāya sāmaṇeriyā attano veyyāvaccaṃ kāresi. Tena kammena pañca jātisatāni paresaṃ dāsīyeva hutvā nibbatti. Kasmā pana khujjā ahosīti? Anuppanne kira buddhe ayaṃ bārāṇasirañño gehe vasantī ekaṃ rājakulūpakaṃ paccekabuddhaṃ khujjadhātukaṃ disvā attanā sahavāsīnaṃ mātugāmānaṃ purato parihāsaṃ karontī khujjākārena vicari. Tasmā khujjā hutvā nibbatti. Kiṃ pana katvā sā paññavantī jātāti? Anuppanne buddhe ayaṃ bārāṇasirañño gehe vasantī aṭṭha paccekabuddhe rājagehato uṇhapāyāsassa pūrite patte gahetvā gacchante disvā ‘‘ettha ṭhapetvā gacchatha, bhante’’ti aṭṭha suvaṇṇakaṭake omuñcitvā adāsi. Tassa kammassa nissandena paññavantī hutvā nibbatti.

– Vậy tại sao nàng Khujjuttarā này lại sanh ra làm một tỳ nữ? Kể rằng, vào thời kỳ đấng Thâp Lực Kassapa, nàng đã bắt một vị Sa-di ni làm việc phục dịch bản thân. Do nghiệp ấy, nàng đã tái sanh làm tỳ nữ của người khác suốt năm trăm kiếp.

– Vậy tại sao nàng bị gù lưng? Kể rằng, khi Đức Phật vẫn còn chưa xuất hiện (ở thế gian), nàng sống trong cung điện của Đức vua xứ Bārāṇasī. Nhìn thấy một vị Phật Độc Giác thường trú tại Hoàng cung là người gù lưng mới làm hành động chế giễu (Ngài) trước mặt các cung nữ ở chung với mình, đi tới đi lui với dấu hiệu là người gù. Do đó, nàng mới sanh ra đã là người gù lưng.

– Vậy nàng đã tạo việc phước gì mà được sanh ra là người có tuệ? Kể rằng, khi Đức Phật vẫn còn chưa xuất hiện (ở thế gian), khi đang sống trong cung điện của Đức vua xứ Bārāṇasī, nhìn thấy tám vị Phật Độc Giác đang ôm bát đựng đầy cơm sữa nóng hổi rời khỏi Hoàng cung, đã thưa rằng: “Bạch các Ngài, hãy dừng chân tại đây, rồi từ từ đi tiếp.” Sau đó, nàng đã tháo 8 chiếc vòng vàng đeo trên cổ tay cúng dường (làm vật lót bát để các ngài khỏi nóng tay). Do kết quả của hành động đó, nàng được sanh ra đã là người có tuệ.

Atha kho tā sāmāvatiyā parivārā pañcasatā itthiyo paṭividdhasaccāpi samānā rañño assaddhabhāvena kālena kālaṃ satthu santikaṃ gantvā buddhadassanaṃ na labhanti. Tasmā dasabale antaravīthiṃ paṭipanne vātapānesu nappahontesu attano attano gabbhesu chiddaṃ katvā tehi olokenti. Athekadivasaṃ māgaṇḍiyā attano pāsādatalato nikkhamitvā caṅkamamānā tāsaṃ vasanaṭṭhānaṃ gantvā gabbhacchiddaṃ disvā ‘‘kimida’’nti pucchi.

Khi ấy, năm trăm cung nữ tùy tùng của Vương hậu Sāmāvatī tuy đã thấu triệt chân lý, nhưng không thể đến trú xứ của bậc Đạo Sư để yết kiến Đức Phật hợp thời, bởi vì Đức vua vốn không có đức tin. Chính vì lý do đó, mỗi khi đấng Thập Lực bộ hành đi dọc theo giữa con đường, khi các ô cửa sổ có không đủ (số lượng), các cung nữ này đã khoét những lỗ trống ở (vách) phòng của mình để chiêm bái (bậc Đạo Sư). Sau đó vào một ngày nọ, Vương hậu Māgaṇḍiya đi đến chỗ ở của các cung nữ ấy, nhìn thấy các lỗ trống ở (vách) phòng mới hỏi rằng “đây là gì vậy?”

Tāhi tassā satthari baddhāghātataṃ ajānantīhi – ‘‘satthā imaṃ nagaraṃ āgato, mayaṃ ettha ṭhatvā satthāraṃ passāma ceva pūjema cā’’ti vutte ‘‘idānissa kattabbaṃ jānissāmi, imāpi tassa upaṭṭhāyikā, imāsampi kattabbaṃ jānissāmī’’ti cintetvā gantvā raññā saddhiṃ rahogatakāle, ‘‘mahārāja, sāmāvatimissakānaṃ bahiddhā patthanā atthi, katipāheneva te jīvitaṃ māressanti, sāmāvatī, saparivārā tumhesu sinehaṃ vā pemaṃ vā na karoti, samaṇaṃ pana gotamaṃ antaravīthiyā gacchantaṃ disvā vātapānesu appahontesu tāni khaṇḍitvāpi okāsaṃ katvā olokentī’’ti āha. Rājā ‘‘na tā evarūpaṃ karissantī’’ti na saddahati. Puna vuttepi na saddahatiyeva. Atha naṃ tikkhattuṃ vuttepi assaddahantaṃ ‘‘sace me vacanaṃ na saddahasi, tāsaṃ vasanaṭṭhānaṃ gantvā upadhārehi, mahārājā’’ti āha. Rājā gantvā gabbhesu chiddaṃ disvā ‘‘idaṃ ki’’nti pucchitvā tasmiṃ atthe ārocite tāsaṃ akkujjhitvā kiñci avatvā chiddāni pidahāpesi. Rājā tato paṭṭhāya tāsaṃ pāsāde uddhacchiddakajālavātapānāni kāresi.

Khi các cung nữ ấy không hay biết đến việc kết oan  trái với bậc Đạo Sư của Vương hậu Māgaṇḍiya mới nói rằng– “Bậc Đạo Sư đã đến kinh thành này, chúng con đã đứng ở chỗ này để có thể chiêm bái và đảnh lễ bậc Đạo Sư, thưa nương nương.” Vương hậu Magandiya nghĩ rằng: “Ta sẽ biết phận sự cần được thực hiện đối với các ả này, các ả tỳ nữ này là các nữ hầu cận của Sa-môn Gotama ấy. Ta sẽ biết phận sự cần được thực hiện đối với các ả này,” rồi đi đến tâu với Đức vua: “Tâu Đại vương, đám cung nữ này cùng với Vương hậu Sāmāvatī mong muốn ra ngoài. Bọn chúng sẽ tước đoạt mạng sống của Ngài chỉ trong ít ngày tới. Vương hậu Sāmāvatī cùng với đám tỳ nữ không thể hiện tình yêu thương và lòng yêu kính Ngài. Hơn nữa, khi các ô cửa sổ không đủ (các ả) đã khoét các lỗ trống ấy, sau đó tạo ra khoảng trống để chiêm bái Sa-môn Gotama đi dọc theo giữa con đường.” Đức vua đã không tin: “Các cung nữ ấy sẽ không làm như thế.” Dầu cho (Vương hậu Māgaṇḍiya) tâu thêm lần nữa, Đức vua cũng không tin. Thậm chí khi Vương hậu tâu đến lần thứ ba, Đức vua vẫn không tin, Māgaṇḍiya đã nói rằng: “Tâu Đại vương, nếu Ngài không tin lời nói của thần thiếp, xin Ngài hãy đi đến chỗ ở của đám cung nữ ấy rồi hãy kết luận.” Đức vua, sau khi đến đã nhìn thấy các lỗ trống ở các căn phòng, rồi hỏi rằng: “Cái này là gì đây?” Khi các cung nữ nói rõ ý nghĩa, (Đức vua) đã không nổi giận với họ và cũng chẳng nói lời nào mà chỉ hạ lệnh bịt kín những lỗ hổng đó lại. Kể từ đó trở đi, Đức vua đã cho làm ô cửa sổ gắn lưới tại cung điện của các cung nữ ấy.

Sā tena kāraṇena rājānaṃ kopetuṃ asakkontī, ‘‘deva, etāsaṃ tumhesu pemaṃ atthi vā natthi vāti jānissāma, aṭṭha kukkuṭe pesetvā tumhākaṃ atthāya pacāpethā’’ti āha. Rājā tassā vacanaṃ sutvā ‘‘ime pacitvā pesetū’’ti sāmāvatiyā aṭṭha kukkuṭe pahiṇi. Sotāpannā ariyasāvikā jīvamāne kukkuṭe kiṃ pacissati, alanti vatvā pana hatthenapi phusituṃ na icchi. Māgaṇḍiyā ‘‘hotu, mahārāja, eteyeva ca kukkuṭe samaṇassa gotamassa pacanatthāya pesehī’’ti. Rājā tathā akāsi. Māgaṇḍiyā antarāmaggeyeva kukkuṭe mārāpetvā ‘‘ime kukkuṭe pacāpetvā samaṇassa gotamassa detū’’ti pahiṇi. Sā tesaṃ matabhāvena dasabalañca uddissa pahitabhāvena pacitvā dasabalassa pesesi. Māgaṇḍiyā ‘‘passa, mahārājā’’ti vatvā ettakenapi rājānaṃ kopetuṃ nāsakkhi.

Vương hậu Māgaṇḍiya không thể khiến cho Đức vua nổi giận với lý do đó, mới nói rằng: “Tâu bệ hạ, những nữ nhân đó có lòng yêu kính hay không có đối với Ngài, chúng ta sẽ biết ngay; Bệ hạ hãy sai người mang 8 con gà đến cho bọn họ nấu (nướng) dâng lên bệ hạ.” Đức vua, sau khi nghe lời của nàng, đã hạ lệnh rằng: “Hãy đem nấu (nướng) những con gà này,” rồi sai người mang 8 con gà (còn sống) đến giao cho Vương hậu Sāmāvatī. Các nữ Thánh đệ tử là những vị Nhập Lưu trong khi biết được rằng: “Các con gà vẫn còn sống, làm sao có thể nấu (nướng) được?” Vì vậy đã từ chối: “Thôi đi,” (chúng tôi) không muốn thậm chí dùng tay chạm vào. Vương hậu Magandiya– “Tâu Đại vương, (chuyện đó) hãy bỏ qua một bên, xin Ngài hãy sai người mang chính những con gà này cho họ nấu (nướng) cúng dường Sa-môn Gotama.” Nhà vua đã làm như thế. Vương hậu Māgaṇḍiya đã cho người giết những con gà ấy ở dọc đường rồi mới mang đi, kèm theo chỉ dụ rằng: “Vương hậu Sāmāvatī hãy nấu món gà này để dâng cúng Sa-môn Gotama.” Vương hậu Sāmāvatī ấy, do nghĩ như vậy (thịt đã làm sẵn) và vì có tâm trí hướng về đấng Thập Lực, nên đã nấu món gà rồi gửi cúng đường đến đấng Thập Lự. Vương hậu Māgaṇḍiya liền nói rằng: “Tâu Đại vương, hãy nhìn kìa!” Dẫu vậy, chỉ với chừng ấy, nàng vẫn không thể khiến Đức vua nổi giận.

Ayaṃ pana udeno tāsu ekekissā vasanaṭṭhāne satta satta divasāni vasi. Athāyaṃ māgaṇḍiyā ekaṃ kaṇhasappapotakaṃ veḷupabbe pakkhipāpetvā attano vasanaṭṭhāne ṭhapesi. Rañño ca yattha katthaci gacchantassa hatthikantavīṇaṃ ādāyayeva gamanaṃ āciṇṇaṃ, māgaṇḍiyā rañño attano santikaṃ āgamanakāle taṃ sappapotakaṃ antovīṇāya pakkhipitvā chiddaṃ pidahāpesi. Atha naṃ sāmāvatiyā santikaṃ gamanakāle, ‘‘mahārāja, sāmāvatī nāma samaṇassa gotamassa pakkhā, tumhe na gaṇeti. Yaṃ kiñci katvā tumhākaṃ dosameva cinteti, appamattā hothā’’ti āha. Rājā sāmāvatiyā vasanaṭṭhāne sattāhaṃ vītināmetvā puna sattāhe māgaṇḍiyāya nivesanaṃ agamāsi. Sā tasmiṃ āgacchanteyeva ‘‘kacci te, mahārāja, sāmāvatī otāraṃ na gavesatī’’ti kathentī viya rañño hatthato vīṇaṃ gahetvā cāletvā ‘‘kiṃ nu kho, mahārāja, ettha abbhantare vicaratī’’ti vatvā sappassa nikkhamanokāsaṃ katvā ‘‘abbhumme anto sappo’’ti vīṇaṃ chaḍḍetvā palāyi. Tasmiṃ kāle rājā padittaṃ veṇuvanaṃ viya pakkhittaloṇaṃ uddhanaṃ viya ca dosena taṭataṭāyanto ‘‘vegena saparivāraṃ sāmāvatiṃ pakkosathā’’ti āha. Rājapurisā gantvā pakkosiṃsu.

Hơn nữa, Đức vua Udena ngự ở cung của các Vương hậu mỗi vị bảy ngày. Khi ấy, Vương hậu Māgaṇḍiya, nàng đã sai người đem một con rắn hổ con nhốt vào trong một ống tre, rồi cất giấu trong cung điện của mình. Đức vua khi đi bất cứ nơi đâu, ngài đều mang theo cây đàn luýt Hatthikanta. Mỗi khi Đức vua ngự đến cung của mình, Vương hậu Māgaṇḍiya liền bỏ con rắn ấy đó vào bên trong bầu đàn, rồi bịt kín lỗ trống lại. Khi ấy, vào lúc (Đức vua) đi đến gặp nàng Sāmāvatī, Vương hậu Māgaṇḍiya cũng tâu rằng: “Tâu Đại vương, thông thường Vương hậu Sāmāvatī luôn đứng về phía của Sa-môn Gotama, không đoái hoài đến Ngài đâu. Làm bất kể chuyện gì, cũng chỉ nghĩ làm hại Ngài mà thôi.” Đức vua đã trải qua bảy ngày ở cung của Vương hậu Sāmāvatī, sau đó Ngài lại đi đến cung của Vương hậu Māgaṇḍiya thêm bảy ngày nữa. Khi Đức vua đang đến, Māgaṇḍiya giả vờ hỏi rằng: “Tâu Đại vương, Sāmāvatī không tìm kiếm cơ hội (hãm hại) Ngài sao?” Rồi cầm lấy cây đàn từ tay Đức vua, lúc lắc, và nói rằng: “Tâu Đại vương, phải chăng có cái gì ở bên trong cây đàn này?” Rồi tạo cơ hội cho con rắn trườn ra, thét lên: “Trời ơi! Có con rắn ở bên trong!” liền vứt cây đàn xuống đất và đã bỏ chạy. Vào lúc đó, Đức vua quát lớn bởi sự giận dữ giống như ngọn lửa thiêu rụi rừng tre và giống như bỏ những hạt muối vào lò lửa, liền ra lệnh: “Hãy truyền Vương hậu Sāmāvatī cùng với đám tùy tùng đến đây!” Các thị vệ đã đi gọi họ.

Sā rañño kuddhabhāvaṃ ñatvā sesamātugāmānaṃ saññamadāsi. ‘‘Rājā tumhe ghātetukāmo pakkosati, ajja divasaṃ odissakena mettāpharaṇena rājānaṃ pharathā’’ti āha. Rājā tā itthiyo pakkosāpetvā sabbāva paṭipāṭiyā ṭhapetvā mahādhanuṃ ādāya visapītakaṇḍaṃ sannayhitvā dhanuṃ pūretvā aṭṭhāsi. Tasmiṃ khaṇe sabbāva tā sāmāvatippamukhā itthiyo odhiso mettaṃ phariṃsu. Rājā kaṇḍaṃ neva khipituṃ na apanetuṃ sakkoti, gattehi sedā muccanti, sarīraṃ vedhati, mukhato kheḷo patati, gahetabbagahaṇaṃ na passati. Atha naṃ sāmāvatī ‘‘kiṃ, mahārāja, kilamasī’’ti āha. Āma, devi, kilamāmi, avassayo me hohīti. Sādhu, mahārāja, kaṇḍaṃ mahāpathavimukhaṃ karohīti. Rājā tathā akāsi. Sā ‘‘rañño hatthato kaṇḍaṃ muccatū’’ti adhiṭṭhāsi. Tasmiṃ khaṇe kaṇḍaṃ mucci. Rājā taṃkhaṇaṃyeva udake nimujjitvā āgamma allakeso allavattho sāmāvatiyā pādesu patitvā ‘‘khama, devi, mayhaṃ, bhedakānaṃ me vacanena anupadhāretvā etaṃ kata’’nti āha. Khamāmi, devāti. ‘‘Sādhu, devi, evaṃ tayā mayhaṃ khamitaṃ nāma hoti. Ito paṭṭhāya tumhākaṃ yathāruciyā dasabalassa dānaṃ detha, pacchābhattaṃ vihāraṃ gantvā dhammakathaṃ suṇātha, ajja vo paṭṭhāya parihāraṃ dammīti. Tena hi, deva, ajja paṭṭhāya ekaṃ bhikkhuṃ yācitvā ānetha, yo no dhammaṃ vācessatīti. Rājā satthu santikaṃ gantvā yācanto ānandattheraṃ labhi. Tato paṭṭhāya tā pañcasatā itthiyo theraṃ pakkosāpetvā sakkārasammānaṃ katvā katabhattakiccassa therassa santike dhammaṃ pariyāpuṇanti.

Vương hậu Sāmāvatī biết rõ Đức vua đang trong cơn thịnh nộ nên đã ra hiệu cho các cung nữ ấy. (Vương hậu Sāmāvatī) nói rằng: “Đức vua đang muốn giết chúng ta nên mới gọi đến đây. Hôm nay, chúng ta hãy rải tâm từ chỉ rõ đến Đức vua trọn ngày nhé.” Đức vua, sau khi truyền các nữ nhân ấy đến, đã cho mọi người đứng theo thứ tự, rồi Ngài cầm lấy cây cung lớn, lắp mũi tên đã tẩm thuốc độc, sau đó đứng giương cung hết mức. Vào thời khắc ấy, tất cả cung nữ ấy có Vương hậu Sāmāvatī đứng đầu đều rải tâm từ chỉ rõ đến Đức vua. Đức vua không thể bắn mũi tên ra, mà cũng không thể hạ cung xuống. Mồ hôi chảy ra từ long thể, toàn thân run rẩy, nước bọt chảy rỉ ra từ miệng, không nhìn thấy điểm tựa nào có thể nương tựa được. Lúc bấy giờ, Vương hậu Sāmāvatī nói rằng: “Tâu Đại vương, Ngài đang rất mệt mỏi phải không ?” Đúng rồi, ái khanh, trẫm rất mệt mỏi, nàng hãy làm nơi nương tựa cho trẫm. – Dạ được, tâu Đại vương, xin Ngài hãy chĩa mũi tên xuống đất. – Đức vua đã làm như thế. Vương hậu liền phát nguyện rằng: “Cầu mong mũi tên sẽ tuột khỏi từ bàn tay của Đức vua.” Vào thời khắc ấy, mũi tên đã rơi xuống. Ngay trong khoảnh khắc ấy, Đức vua đã nhảy xuống nước tấm rồi trở lại với mái tóc ướt và y phục ướt, ngài phủ phục dưới chân Vương hậu Sāmāvatī, nói rằng: “Này ái khanh, hãy tha thứ cho trẫm. Trẫm không suy xét thấu đáo đã làm ra hành động thế này theo lời của những kẻ (muốn) chia rẽ (chúng ta).” Thưa Bệ hạ, thần thiếp tha thứ cho Bệ hạ. – “Tốt lắm, ái khanh, như vậy chuyện này nàng đã tha thứ cho trẫm.” – Rồi Ngài lại nói rằng: “Kể từ nay trở đi, các nàng hãy dâng cúng vật thực đến đấng Thập Lực tùy theo ý thích. Sau thời thọ thực, hãy đi đến Tịnh xá để lắng nghe bài giảng Pháp. Kể từ ngày hôm nay, Trẫm sẽ đích thân ban sự bảo vệ cho các nàng.” – Vương hậu: “Tâu Đại vương, nếu được như vậy, kể từ hôm nay, xin Ngài hãy thỉnh mời một vị Tỳ-khưu đến để giảng dạy Giáo Pháp cho chúng thần thiếp.” Đức vua, sau khi đi đến gặp bậc Đạo Sư, trong khi thỉnh cầu, đã thỉnh cầu Trưởng lão Ānanda. Kể từ hôm đó, các cung nữ đã (thường xuyên) thỉnh mời Trưởng lão đến, rồi thực hiện sự tôn vinh vô cùng trọng thể, học tập Giáo Pháp trong sự hiện diện của Trưởng lão khi phận sự về thọ thực hoàn tất.

Tā ekadivasaṃ therassa anumodanāya pasannā therassa pañca uttarāsaṅgasatāni adaṃsu. Thero kira pubbe tunnavāyakāle ekassa paccekabuddhassa ekāya sūciyā saddhiṃ hatthatalamattaṃ coḷakhaṇḍaṃ adāsi. So sūciyā phalena imasmiṃ attabhāve mahāpañño ahosi, coḷakhaṇḍassa phalena imināva niyāmena pañcasatakkhattuṃ dussāni paṭilabhi.

Một ngày nọ, các cung nữ tịnh tín với sự tùy hỷ của Trưởng giả đã dâng cúng năm trăm thượng y. Được biết, vào thời quá khứ, Trưởng lão (Ānanda) đã dâng cúng một miếng vải mềm đặt trên lòng bàn tay cùng với một cây kim cho vị Phật Độc Giác trong lúc ngài đang may y. Nhờ kết quả (của việc cúng dường) cây kim, Trưởng lão đã trở thành bậc Đại Tuệ trong kiếp sống hiện tại; đồng thời, cũng nhận được năm trăm tấm y theo chính cách thức ấy nhờ kết quả (của việc cúng dường) miếng vải mềm.

Tato māgaṇḍiyā aññaṃ kātabbaṃ apassantī ‘‘uyyānaṃ gacchāma, mahārājā’’ti āha. Sādhu, devīti. Sā rañño sampaṭicchitabhāvaṃ ñatvā cūḷapitaraṃ pakkosāpetvā āha – ‘‘amhākaṃ uyyānaṃ gatakāle sāmāvatiyā vasanaṭṭhānaṃ gantvā sāmāvatiṃ saparivāraṃ antokaritvā ‘rañño āṇā’ti vatvā dvāraṃ pidahitvā palālena paliveṭhetvā gehe aggiṃ dethā’’ti. Māgaṇḍiyo tassā vacanaṃ sutvā tathā akāsi. Tasmiṃ divase sabbāpi tā itthiyo pubbe katassa upapīḷakakammassānubhāvena samāpattiṃ appetuṃ nāsakkhiṃsu, ekappahāreneva bhusamuṭṭhi viya jhāyiṃsu. Tāsaṃ ārakkhapurisā rañño santikaṃ gantvā, ‘‘deva, idaṃ nāma kariṃsū’’ti ācikkhiṃsu.

Khi ấy, Vương hậu Māgaṇḍiya không nhìn thấy việc nào khác nên thực hiện, mới nói rằng: “Chúng ta hãy đi đến vườn ngự uyển, thưa Đại vương.” Này ái khanh, Tốt lắm!” –  Sau khi biết được Đức vua đã chấp thuận, nàng liền cho mời người chú của mình đến rồi dặn rằng: “Trong khi chúng tôi đi dạo ở vườn thượng uyển, chú hãy đến cung điện của Sāmāvatī, nhốt Sāmāvatī cùng với đám tùy tùng ở bên trong, nói rằng ‘là ý chỉ của Đức vua’ rồi khóa chặt cửa lại, hãy lấy rơm bao quanh rồi châm lửa thiêu rụi cung điện đó.” Sau khi nghe lời dặn dò của Vương hậu ấy, người chú Māgaṇḍiya đã làm như thế. Vào ngày hôm ấy, tất cả các cung nữ không thể thể nhập (thiền định) do năng lực của chướng nghiệp đã tạo trong kiếp quá khứ, tất cả đồng loạt bị thiêu rụi hoàn toàn như là đống tro tàn. Những binh lính bảo vệ các cung nữ ấy đã đến yết kiến Đức vua, tâu rằng: “Tâu Bệ hạ, mọi người đã làm ra chuyện này!”

Rājā ‘‘kena kata’’nti pariyesanto māgaṇḍiyāya kāritabhāvaṃ ñatvā taṃ pakkosāpetvā ‘‘bhadde, bhaddakaṃ tayā kammaṃ kataṃ mayā kātabbaṃ karontiyā, ‘‘uṭṭhāya samuṭṭhāya mayhaṃ vadhāya parisakkamānā ghātitā, pasannosmi, tuyhaṃ sampattiṃ dassāmīti tava ñātake pakkosāpehī’’ti āha. Sā rañño kathaṃ sutvā aññātakepi ñātake katvā pakkosāpesi. Rājā sabbesaṃ sannipatitabhāvaṃ ñatvā rājaṅgaṇe galappamāṇesu āvāṭesu nikhanitvā upari ṭhitāni sīsāni bhindāpento mahantehi ayanaṅgalehi kasāpesi. Māgaṇḍiyampi khaṇḍākhaṇḍikaṃ chindāpetvā pūvapacanakaṭāhe pacāpesi.

Đức vua trong khi điều tra xem: “Ai đã làm?” Biết rằng Vương hậu Māgaṇḍiya sai người làm, nên đã mời nàng đến rồi nói rằng: “Này ái khanh, nàng đã làm việc này tốt lắm, nàng đã làm việc trẫm đang định làm; (nói rằng) này ái khanh, (Vương hậu Sāmāvatī) đứng ngồi không yên ra sức nỗ lực nhằm hãm hại trẫm đã bị nàng hạ sát rồi, trẫm hài lòng, trẫm sẽ ban thưởng của cải cho nàng, nàng hãy gọi thân quyến của nàng đến đây đi.” Sau khi nghe kim khẩu của Đức vua, (nàng) đã cho mời cả những người không phải thân quyến đến mạo nhận là thân quyến. Đức vua, khi biết tất cả bọn họ đã tụ hội, đã cho đào một cái hố ngập sâu tới ngang cổ ở khuôn viên Hoàng cung, trong khi phá vỡ những cái đầu nhô lên đã cày bằng lưỡi cày sắt to lớn. Riêng Vương hậu Māgaṇḍiya, (Đức vua) sai người xẻ ả thành từng miếng nhỏ rồi đem nấu trong cái nồi lớn dùng để nướng bánh.

Kiṃ pana sāmāvatiyā saparivārāya agginā jhāpanakammanti? Sā kira anuppanne buddhe teheva pañcahi mātugāmasatehi saddhiṃ gaṅgāyaṃ kīḷitvā bahititthe ṭhitā sīte jāte avidūraṭṭhāne paccekabuddhassa paṇṇasālaṃ disvā anto asodhetvāva bahi aggiṃ datvā visibbesuṃ. Antopaṇṇasālāya paccekabuddho nirodhasamāpattiṃ samāpajjitvā nisinno. Tā jālāsu pacchinnāsu paccekabuddhaṃ disvā ‘‘kiṃ amhehi kataṃ, ayaṃ paccekabuddho rañño kulūpako, imaṃ disvā rājā amhākaṃ kujjhissati, idāni naṃ sujjhāpitaṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti aññānipi dārūni pakkhipitvā aggiṃ adaṃsu. Puna jālāya pacchinnāya paccekabuddho samāpattito vuṭṭhāya tāsaṃ passantīnaṃyeva cīvarāni papphoṭetvā vehāsaṃ uppatitvā gato. Tena kammena niraye paccitvā pakkāvasesena imaṃ byasanaṃ pāpuṇiṃsu. Catuparisamajjhe pana kathā udapādi – ‘‘bahussutā vata khujjuttarā, mātugāmaattabhāve ṭhatvā pañcannaṃ mātugāmasatānaṃ dhammaṃ kathetvā sotāpattiphale patiṭṭhāpesi. Sāmāvatīpi raññā attano appitaṃ kaṇḍaṃ mettāpharaṇena pharitvā paṭibāhī’’ti tassāpi mahājano guṇaṃ kathesi. Evametaṃ vatthu samuṭṭhitaṃ. Atha satthā aparabhāge jetavane nisinno tadeva kāraṇaṃ aṭṭhuppattiṃ katvā khujjuttaraṃ bahussutānaṃ, sāmāvatiṃ mettāvihārīnaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Hơn nữa, nghiệp mà Vương hậu Sāmāvatī cùng với đám tùy tùng bị thiêu đốt bởi ngọn lửa là do nghiệp gì? – Kể rằng, khi Đức Phật chưa xuất hiện, nàng Sāmāvatī ấy cùng với chính năm trăm nữ nhân (tùy tùng) đó sau khi chơi giỡn ở sông Gaṅgā, đứng ở bến nước bên ngoài, khi trở lạnh, nhìn thấy một am tranh của một vị Phật Độc Giác ở cách đó không xa, do không xem xét ở bên trong đã châm ngọn lửa ở bên ngoài để cùng nhau sưởi ấm. Có một vị Phật Độc Giác ở bên trong am tranh đang ngồi thể nhập Thiền Diệt. Những người phụ nữ ấy, khi ngọn lửa tàn dần mới nhìn thấy vị Phật Độc Giác, nghĩ rằng: “Chúng ta đã làm gì vậy? Vị Phật Độc Giác này là vị thường tới lui với Hoàng tộc. Đức vua chứng kiến cảnh này sẽ nổi giận với chúng ta. Bây giờ, chúng ta cần phải hỏa táng Ngài,” sau đó đã bỏ thêm nhiều củi khác vào rồi châm lửa. Nhưng khi ngọn lửa vừa tàn, vị Phật Độc Giác xuất khỏi sự thể nhập, giũ sạch y phục rồi bay vút lên hư không ngay trước mắt những nữ nhân đó. Những nữ nhân ấy, sau khi bị nung nấu trong địa ngục bởi nghiệp lực ấy, rồi đi đến sự suy vong này do tàn dư của ác nghiệp. Tuy nhiên, giữa bốn Hội chúng có câu chuyện trao đổi này đã khởi lên rằng: “Nàng Khujjuttarā quả thật là bậc đa văn, vững trú trong bản thể nữ nhân đã thuyết giảng Giáo Pháp giúp năm trăm cung nữ thiết lập vào quả vị Nhập Lưu; còn Vương hậu Sāmāvatī, sau khi rải tâm từ đã ngăn chặn được mũi tên mà Đức vua đang nổi giận mình,” đám đông người đã nói lời tán thán nàng.” Câu chuyện này đã diễn ra như vậy. Về sau, bậc Đạo Sư trong khi ngồi ở Jetavana, đã lấy sự việc này làm duyên khởi, Ngài đã thiết lập Khujjuttarā vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ đa văn, và thiết lập Vương hậu Sāmāvatī vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ an trú tâm từ.

Câu chuyện về Uttarānandamātā

  1. Pañcame jhāyīnanti jhānābhiratānaṃ upāsikānaṃ, uttarā nandamātā, aggāti dasseti. Sā kira padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulagehe nibbattā satthu dhammakathaṃ suṇantī satthāraṃ ekaṃ upāsikaṃ jhānābhiratānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. Sā kappasatasahassaṃ devamanussesu saṃsaritvā imasmiṃ buddhuppāde rājagahanagare sumanaseṭṭhiṃ nissāya vasantassa puṇṇasīhassa nāma bhariyāya kucchismiṃ paṭisandhiṃ gaṇhi, uttarātissā nāmaṃ akaṃsu.
    Trong bài Kinh thứ năm, vị có thiền (hoan hỷ trong thiền): Bậc Đạo Sư chỉ rõ rằng nàng Uttarā Nandamātā là tối thắng trong số các nữ cư sĩ hoan hỷ trong thiền. Kể rằng, nàng Uttarā ấy vào thời Đức Phật Padumuttara, được sanh ra trong một gia đình danh giá tại kinh thành Haṃsavatī, lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ hoan hỷ trong thiền, nàng đã thực hiện hành động hướng thượng rồi phát nguyện đạt được vị thế ấy. Sau khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người suốt một trăm ngàn kiếp, vào thời kỳ Đức Phật (Gotama) này, nàng đã tái sanh vào bụng của vợ Puṇṇasīha sống nương nhờ trưởng giả Sumana tại thành Rājagaha. Cha mẹ đã đặt tên cho nàng là Uttarā.

Athekasmiṃ nakkhattamahadivase rājagahaseṭṭhi puṇṇaṃ pakkosāpetvā āha – ‘‘tāta puṇṇa, nakkhattaṃ vā uposatho vā duggatassa kiṃ karissati, evaṃ santepi vadehi ‘kiṃ nakkhattaparibbayaṃ gahetvā nakkhattaṃ kīḷissasi, balavagoṇe ca phālañca naṅgalañca gahetvā kasissasī’’’ti. ‘‘Mama bhariyāya saddhiṃ mantetvā jānissāmi, ayyā’’ti taṃ kathaṃ bhariyāya ārocesi. ‘‘Seṭṭhi nāma ayyo issaro, tassa tayā saddhiṃ kathentassa kathā sobhati, tvaṃ pana attano kasikammaṃ mā vissajjesī’’ti āha. So tassā vacanaṃ sutvā kasibhaṇḍaṃ ādāya kasituṃ gato.

Khi ấy, vào một ngày Đại lễ Nakkhatta, Trưởng giả thành Rājagaha, sau khi mời Puṇṇa đến đã nói rằng– “Này Puṇṇa, ngày lễ Nakkhatta hoặc ngày lễ Uposatha sẽ làm gì cho người nghèo khó được? Nếu là như vậy, ông hãy cho tôi biết: ‘Anh sẽ nhận lãnh tiền thù lao trong lễ hội rồi vui chơi trẩy hội, hay sẽ dắt những con bò khỏe mạnh cùng thân cày, hoặc lưỡi cày ra đồng cày bừa?” – Puṇṇa nói rằng: “Thưa ông chủ, để tôi bàn bạc với vợ tôi trước rồi mới quyết định được,” rồi thuật lại chuyện này với vợ. – Người vợ bảo: “Trưởng giả là ông chủ, là người giàu có nhiều quyền thế; lời ông ấy nói với mình nghe có vẻ êm tai đấy. Còn mình chớ bỏ bê công việc đồng áng của bản thân.” Nghe lời nói của vợ, anh ta đã đi lấy nông cụ mang ra đồng cày ruộng.

Taṃdivasañca sāriputtatthero nirodhasamāpattito vuṭṭhāya ‘‘kassa ajja mayā saṅgahaṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti āvajjento imassa puṇṇassa upanissayaṃ disvā bhikkhācāravelāya pattacīvaramādāya puṇṇassa kasanaṭṭhānaṃ gacchanto avidūre attānaṃ dassesi. Puṇṇo theraṃ disvā kasiṃ ṭhapetvā therassa santikaṃ gantvā pañcapatiṭṭhitena vandi. Thero taṃ oloketvā udakasabhāgaṃ pucchi. Tassa etadahosi – ‘‘ayyo mukhaṃ dhovitukāmo bhavissatī’’ti. Tato vegena gantvā dantakaṭṭhaṃ āharitvā kappiyaṃ katvā therassa adāsi. There dantakaṭṭhaṃ khādante pattena saddhiṃ dhammakaraṇaṃ nīharitvā udakassa pūretvā āhari. Thero mukhaṃ dhovitvā bhikkhācāramaggaṃ paṭipajji. Puṇṇo cintesi – ‘‘thero aññesu divasesu imaṃ maggaṃ na paṭipajjati, ajja pana mayhaṃ saṅgahatthāya paṭipanno bhavissati. Aho vata me bhariyā mamatthāya āharaṇakaṃ āhāraṃ therassa patte patiṭṭhapeyyā’’ti.

Cũng trong ngày hôm đó, Trưởng lão Sāriputta vừa xuất khỏi sự thể nhập Thiền Diệt, trong khi quan sát: “Hôm nay, ta nên tế độ ai?” đã nhìn thấy duyên lành của Puṇṇa này; vào lúc đi khất thực, Ngài liền mang y bát đi đến chỗ Puṇṇa đang cày ruộng và hiện thân ở một nơi không xa. Puṇṇa nhìn thấy Trưởng lão đã dừng việc cày ruộng rồi đi đến gặp Trưởng lão, đảnh lễ với năm phần thân thể chạm xuống đất. Trưởng lão quan sát anh rồi hỏi về nước có thể sử dụng được. Điều này đã khởi đến cho anh ấy– “Ngài Đại đức sẽ có mong muốn súc miệng.” Đã vội vã đi từ nơi ấy mang gỗ chà răng đến, làm thành được phép rồi dâng cúng Trưởng lão. Trong khi Trưởng lão đang nhai gỗ chà răng, đã lấy đồ lọc nước thông thường cùng với bình bát, đổ đầy nước rồi mang đến. Trưởng lão, sau khi súc miệng đã tiếp tục lên đường khất thực. Puṇṇa nghĩ rằng: “Trưởng lão không bộ hành qua con đường này vào những ngày khác, nhưng hôm nay Ngài bộ hành (qua con đường này) vì muốn tế độ cho ta. Ôi! Mong rằng vợ của ta có thể đặt phần thức ăn định mang cho ta vào bình bát của Trưởng lão.”

Athassa bhariyā ‘‘ajja nakkhattadivaso’’ti pātova attano labhanakaniyāmena khādanīyabhojanīyaṃ saṃvidhāya gahetvā sāmikassa kasanaṭṭhānaṃ āgacchantī antarāmagge theraṃ disvā cintesi – ‘‘aññesu divasesu mayhaṃ theraṃ disvā deyyadhammo na hoti, deyyadhamme santepi mama ayyaṃ na passāmi, ajja pana dvinnampi sammukhībhāvo jāto. Mama sāmikassa puna sampādetvā āharissāmi, imaṃ tāva āhāraṃ therassa dassāmī’’ti tīhi cetanāhi sampayuttaṃ katvā taṃ bhojanaṃ sāriputtattherassa patte patiṭṭhapetvā ‘‘evaṃvidhā duggatajīvitā muccāmī’’ti āha. Theropi ‘‘tava ajjhāsayo pūratū’’ti tassānumodanaṃ katvā tato nivattitvā vihāraṃ agamāsi.

Khi ấy, vợ của anh ta suy nghĩ rằng: “Hôm nay là ngày lễ hội,” từ sáng sớm nàng đã chuẩn bị các loại vật thực loại cứng và loại mềm theo cách thức có thể có được của bản thân, rồi mang đến nơi chồng đang cày ruộng, gặp được Trưởng lão giữa đường, lại suy nghĩ – “Ở những ngày khác ta gặp Trưởng lão thì không có vật phẩm cúng dường; nhưng khi có vật phẩm cúng dường thì ta lại không gặp được Ngài Đại đức. Nhưng hôm nay, cả hai điều này đều hiện hữu ngay trước mặt.  Ta sẽ chuẩn bị (phần thức ăn khác) cho chồng mình rồi mang đến sau. (Bây giờ) ta sẽ cúng dường phần thức ăn này đến Trưởng lão trước đã,” nàng đã thực hiện bố thí phối hợp với cả ba sự tác ý (Tư tiền, Tư hiện và Tư hậu), rồi đặt phần thức ăn đó vào bình bát của Trưởng giả Sāriputta, đã nói rằng: “Nguyện cho con thoát khỏi cuộc sống khó khăn ở kiếp này như vậy.” Còn Trưởng lão, sau khi thực hiện sự tùy hỷ (phước báu) cho nàng rằng: “Mong ý nguyện của nàng hãy được viên mãn,” đã rời khỏi nơi ấy rồi trở về Tịnh xá.

Sāpi puna attano gehaṃ gantvā sāmikassa āhāraṃ sampādetvā ādāya kasanaṭṭhānaṃ gantvā sāmikassa kujjhanabhāvato bhītā ‘‘sāmi, ajja ekadivasaṃ tava manaṃ sandhārehī’’ti āha. Kiṃ kāraṇāti? Ahaṃ ajja tāva āhāraṃ āharantī antarāmagge theraṃ disvā tava bhāgabhattaṃ therassa patte patiṭṭhapetvā puna gehaṃ gantvā āhāraṃ pacitvā ādāya āgatāmhīti. Manāpaṃ te, bhadde, kataṃ, mayāpi pātova therassa dantakaṭṭhañca mukhodakañca dinnaṃ. Ajja amhākaṃ suppabhātaṃ, sabbampi therassa amhākaṃ santakameva jātanti dvinnampi janānaṃ ekasadisameva cittaṃ ahosi. Atha puṇṇo āhārakiccaṃ katvā bhariyāya ūrumhi sīsaṃ katvā muhuttaṃ nipajji. Athassa niddā okkami. So thokaṃ niddāyitvā pabuddho kasitaṭṭhānaṃ olokesi, olokitolokitaṭṭhānaṃ mahākosātakipupphehi samparikiṇṇaṃ viya ahosi. So bhariyaṃ āha – ‘‘bhadde, kinnāmetaṃ ajja idaṃ kasitaṭṭhānaṃ suvaṇṇavaṇṇaṃ hutvā khāyatī’’ti. Ayya, ajja te sakaladivasaṃ kilantatāya akkhīni maññe bhamantīti. Bhadde, mayhaṃ assaddahantī sayaṃ olokehīti. Tasmiṃ kāle sā oloketvā sabhāvaṃ ayya, kathesi, evametaṃ bhavissatīti.

Về phần người vợ, cô đã trở về nhà lần nữa, liền chuẩn bị một phần ăn khác dành cho chồng rồi mang ra chỗ anh đang cày ruộng. Sợ chồng sẽ nổi giận, nên mới nói rằng: “Chồng ơi, hôm nay xin anh hãy ráng chịu một bữa nhé.” – Việc ấy là vì lý do gì? – Hôm nay, trong lúc em đang mang phần thức ăn cho anh, giữa đường em gặp được Trưởng lão nên đã đặt phần cơm đó vào bình bát của Trưởng lão, sau đó em mới trở về nhà, nấu phần thức ăn khác rồi mang ra đây. – Em ơi! em đã làm rất đúng ý ta! Ngay cả anh cũng đã dâng cúng cây chà răng và nước súc miệng đến Trưởng lão từ sáng sớm. Hôm nay thật là một buổi sáng tốt lành của chúng ta. Tất cả mọi vật phẩm mà chúng ta đã dâng cúng Trưởng lão đều sẽ trở thành tài sản của chúng ta. Hai vợ chồng chúng ta đã có tâm như thể hòa thành một. Lúc bấy giờ, sau khi hoàn tất phần sự về bữa cơm, Puṇṇa đã gối đầu lên đùi vợ nằm nghỉ một lát. Trong chốc lát anh đã thiếp đi. Sau khi chợp mắt được một chút anh đã tỉnh dậy rồi đưa mắt nhìn khu đất vừa cày. Tại mỗi nơi đã được nhìn đi rồi nhìn lại, đã trở thành như thể được trải đầy những bông hoa kosātakī[25] to lớn. Anh bèn thốt lên với vợ – “Em ơi! Chuyện gì thế kia? Hôm nay khu đất đã được cày cấy này dường như đã trở thành vàng!” Anh ơi! Hôm nay, do anh làm việc mệt mỏi cả ngày có lẽ đã bị hoa mắt. – Em ơi! Nếu em không tin thì hãy tự nhìn xem. Vào lúc bấy giờ, người vợ nhìn rồi thốt lên: “Anh nói đúng thật, đó chắc chắn sẽ là như vậy.”

Puṇṇo uṭṭhāya ekaṃ kaṭṭhiṃ gahetvā naṅgalasīse pahari, guḷapiṇḍo viya naṅgalasīse allīyitvā aṭṭhāsi. So bhariyaṃ pakkositvā āha – ‘‘bhadde, aññesaṃ vapitabījaṃ nāma tīhi vā catūhi vā māsehi phalaṃ deti, amhākaṃ pana ayyassa sāriputtattherassa antare ropitena saddhābījena ajjeva avassaṃ phalaṃ dinnaṃ. Imasmiṃ karīsamatte padese āmalakamattopi paṃsupiṇḍo asuvaṇṇo nāma natthī’’ti. Idāni kiṃ karissāma, ayyāti? ‘‘Bhadde, imaṃ ettakaṃ suvaṇṇaṃ thenetvā khādituṃ nāma na sakkā’’ti bhariyaṃ tasmiṃ ṭhāne ṭhapetvā bhattassa pūretvā ābhataṃ pātiṃ suvaṇṇassa pūretvā gantvā rañño ārocāpesi – ‘‘eko manusso suvaṇṇapātiṃ gahetvā ṭhito’’ti. Rājā taṃ pakkosāpetvā ‘‘kahaṃ te, tāta, laddha’’nti pucchi. ‘‘Deva, mayhaṃ ekaṃ kasitaṭṭhānaṃ sabbaṃ suvaṇṇameva jātaṃ, pahiṇitvā āharāpethā’’ti āha. Tvaṃ kinnāmosīti? Puṇṇo nāma ahaṃ, devāti. Gacchatha, bhaṇe, sakaṭāni yojetvā puṇṇassa kasitaṭṭhānato suvaṇṇamāharathāti.

Puṇṇa liền đứng dậy, cầm một khúc gỗ gõ vào đầu lưỡi cày, (khối đất) dính ở đầu lưỡi cày giống như khối đường mía. Anh đã gọi vợ đến rồi nói: “Em ơi, khi những người khác gieo trồng hạt giống, phải mất 3 đến 4 tháng cây mới đơm hoa kết trái. Còn kết quả của việc bố thí ngày hôm nay với hạt giống là đức tin mà chúng ta đã gieo vào trong Ngài Đại đức Trưởng lão Sāriputta của chúng ta. Trên khu đất khoảng một karīsa[26] này, ngay cả cục đất có kích thước bằng quả āmalaka không phải vàng là không có (tất cả đều là vàng). Anh ơi! Bây giờ chúng ta sẽ làm gì? “Em à, chúng ta không thể tiêu xài sau khi trộm số vàng chừng này được,” rồi đặt số vàng đầy vào chiếc mâm mà vợ đã mang đến để ở đó, đi tâu trình với Đức vua rằng: “Tâu Đại vương, có một người đàn ông đang đứng bưng mâm vàng.” Đức vua, sau khi cho mời anh vào đã hỏi rằng: “Này ngươi, ngươi đã được thứ này ở đâu?” – Puṇna đã nói rằng: “Thưa Bệ hạ, khu đất đã được cày xới của thảo dân, toàn bộ đều đã hóa thành vàng; xin Ngài hãy phái người đến chở về.” – Nhà ngươi tên gì? – Thưa Bệ hạ, thảo dân tên Puṇṇa. – Này các khanh, hãy đi, thắng các cỗ xe chở vàng từ khu đất mà Punṇa đã cày xới.

Sakaṭehi saddhiṃ gatarājapurisā ‘‘rañño puñña’’nti vatvā suvaṇṇapiṇḍe gaṇhanti, gahitagahitampi kasitaleḍḍuyeva hoti. Te gantvā rañño ārocesuṃ. Tena hi bhaṇe gantvā ‘‘puṇṇassa puñña’’nti vatvā gaṇhathāti. Gahitagahitaṃ suvaṇṇameva hoti. Te sabbampi taṃ suvaṇṇaṃ āharitvā rājaṅgaṇe rāsiṃ akaṃsu. Rāsi ubbedhena tālappamāṇo ahosi. Rājā vāṇije pakkosāpetvā ‘‘kassa gehe ettakaṃ suvaṇṇaṃ atthī’’ti pucchi. Natthi, deva, kassacīti. Ettakassa pana dhanassa sāmino kiṃ kātuṃ vaṭṭatīti? Dhanaseṭṭhiṃ nāma naṃ kātuṃ vaṭṭati, devāti? Tena hi puṇṇaṃ imasmiṃ nagare dhanaseṭṭhiṃ nāma karothāti sabbaṃ taṃ suvaṇṇaṃ tasseva datvā taṃdivasaṃyevassa seṭṭhiṭṭhānaṃ adāsi. So seṭṭhi maṅgalaṃ karonto sattāhaṃ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa mahādānaṃ adāsi. Sattame divase dasabalassa bhattānumodanāya puṇṇaseṭṭhipi bhariyāpi dhītāpi sabbe sotāpattiphale patiṭṭhahiṃsu.

Các binh lính đã đi đến cùng với các cỗ xe, rồi nói rằng: “Phước báu của Đức vua,” cầm lấy những thỏi vàng lên. Hễ lấy phần nào thì phần ấy đều trở thành những cục đất cày xới. Họ liền đi trình sự việc lên Đức vua. – Này các khanh, nếu đã như vậy, các khanh hãy đi đến đó nói rằng: ‘Đây là phước báu của Puṇṇa,’ rồi cầm lấy. Hễ lấy phần nào thì phần ấy đều trở thành vàng. Các binh lính đã chở toàn bộ số vàng đó về chất thành đống ở khuôn viên Hoàng cung. Đống vàng đã có kích thước cao ngang bằng cây thốt nốt. Đức vua đã mời các thương nhân đến rồi hỏi rằng: “Ở ngôi nhà nào có được số vàng nhiều đến chừng này?” – Thưa Bệ hạ, không có của ai cả. – Vậy trẫm nên làm gì cho chủ nhân của khối tài sản này? – Thưa Bệ hạ, nên sắc phong cho Puṇṇa tước vị Trưởng giả Dhana. Nếu vậy, các khanh hãy sắc phong Puṇṇa tước vị Trưởng giả Dhana trong kinh thành này, rồi ban lại toàn bộ số của cải đó cho riêng Puṇṇa và ban tước vị Trưởng giả cho vị ấy ngay trong ngày hôm đó. Vị Trưởng giả ấy (Puṇṇa) trong khi thể hiện điềm lành, đã thực hiện cuộc đại thí đến Hội chúng Tỳ-khưu có Đức Phật đứng đầu trong bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, khi đấng Thập Lực thể hiện sự tùy hỷ phước báu về bữa ăn của Trưởng giả Puṇṇa, phu nhân, cả con gái, tất cả đều đã an trú vào quả vị Nhập Lưu.

Aparabhāge rājagahaseṭṭhi ‘‘puṇṇaseṭṭhino vayappattā dārikā atthī’’ti sutvā attano puttassa kāraṇā tassa gehaṃ pesesi. So tassa sāsanaṃ sutvā ‘‘nāhaṃ dhītaraṃ dassāmī’’ti paṭisāsanaṃ pesesi. Sumanaseṭṭhipi puna pesesi – ‘‘tvaṃ mama gehaṃ nissāya vasitvā idāni ekappahāreneva issaro hutvā mayhaṃ dārikaṃ na desī’’ti. Tato puṇṇaseṭṭhi āha – ‘‘imaṃ tāva tumhākaṃ seṭṭhi sabhāvameva kathesi, puriso nāma sabbakāle evaṃvidhoyevāti na sallakkhetabbo. Ahañhi idāni tādise purise dāse katvā gahetuṃ sakkomi, tuyhaṃ pana jātiṃ vā gottaṃ vā na kopemi. Apica kho mama dhītā sotāpannā ariyasāvikā devasikaṃ kahāpaṇagghanakehi pupphehi pūjaṃ karoti, tamahaṃ tumhādisassa micchādiṭṭhikassa gehaṃ na pesessāmī’’ti. Evaṃ puṇṇaseṭṭhissa paṭibāhakabhāvaṃ ñatvā rājagahaseṭṭhi puna sāsanaṃ pesesi – ‘‘porāṇakaṃ vissāsaṃ mā bhindatu, ahaṃ mayhaṃ suṇisāya devasikaṃ dvinnaṃ kahāpaṇānaṃ andhanakāni pupphāni sajjāpessāmī’’ti. So ‘‘sādhū’’ti sampaṭicchitvā dhītaraṃ tassa gharaṃ pesesi.

Về sau, vị Trưởng giả thành Rājagaha biết rằng: “Trưởng giả Puṇṇa có một cô con gái đã đến tuổi trưởng thành,” liền sai người đến nhà của Trưởng giả Puṇṇa để xin cưới cô gái cho con trai của họ. Trưởng giả ấy nghe thông điệp của Trưởng giả thành Rājagaha ấy, liền gửi thông điệp hồi đáp rằng: “Tôi sẽ không gả con gái đâu.” Về phần Trưởng giả Sumana [tức Trưởng giả thành Rājagaha] lại gửi thông điệp lần nữa: “Ngươi đã sống nương nhờ nhà của ta, giờ đây đột nhiên đã trở thành người quyền thế, vậy mà không chịu gả con gái cho (con trai) tôi hay sao?” Khi ấy, Trưởng giả Puṇṇa đáp rằng– “Ông chỉ nói đến bản chất Trưởng giả trước kia mà thôi. Gọi là con người, ông không nên để ý đến rằng: ‘Phải là như vậy vào mọi lúc.’ Thực tế, tôi có thể nhận những người đàn ông như thế về làm nô lệ. Nhưng tôi không phù hợp với sanh chủng và dòng dõi của ông. Hơn nữa, con gái của tôi là nữ Thánh đệ tử, là bậc Thánh Nhập Lưu, thực hiện việc lễ bái với những bông hoa có giá trị nhiều đồng tiền mỗi ngày. Tôi sẽ không gả con gái mình vào gia đình của một người tà kiến giống như ông.” Trưởng giả thành Rājagaha biết được Trưởng giả Puṇṇa cự tuyệt như vậy, đã gửi thư đến lần nữa: “Mông ông đừng phá vỡ sự thâm tình bấy lâu của chúng ta. Tôi sẽ chuẩn bị các bông hoa có giá hai đồng tiền mỗi ngày cho con dâu của tôi.” Nghe vậy, Trưởng giả Puṇṇa đã đồng ý (nói rằng): “Tốt lắm!” và gả con gái đến gia đình của Trưởng giả ấy.

Athekadivasaṃ sā puṇṇaseṭṭhino dhītā uttarā attano sāmikaṃ evamāha – ‘‘ahaṃ attano kulagehe māsassa aṭṭha divasāni nibaddhaṃ uposathakammaṃ karomi, idānipi tumhesu sampaṭicchantesu uposathaṅgāni adhiṭṭhaheyya’’nti. So ‘‘na sakkā’’ti taṃ na sampaṭicchi. Sā taṃ saññāpetuṃ asakkontī tuṇhī ahosi. Puna antovasse ‘‘uposathikā bhavissāmī’’ti tadāpi okāsaṃ kārentī neva alattha. Sā antovasse aḍḍhatiyesu māsesu atikkantesu aḍḍhamāse avasiṭṭhe mātāpitūnaṃ sāsanaṃ pesesi – ‘‘ahaṃ tumhehi cārake pakkhittā ettake addhāne ekadivasampi uposathaṅgāni adhiṭṭhātuṃ na labhāmi, pañcadasa me kahāpaṇasahassāni pesethā’’ti. Te dhītu sāsanaṃ sutvā ‘‘kiṃkāraṇā’’ti apucchitvāva pahiṇiṃsu. Uttarā te kahāpaṇe gaṇhitvā tasmiṃ nagare sirimā nāma gaṇikā atthi, taṃ pakkosāpetvā ‘‘amma sirime, ahaṃ imaṃ aḍḍhamāsaṃ uposathaṅgāni adhiṭṭhahissāmi, tvaṃ imāni pañcadasa kahāpaṇasahassāni gahetvā imaṃ aḍḍhamāsaṃ seṭṭhiputtaṃ paricarāhī’’ti. Sā ‘‘sādhu, ayye’’ti sampaṭicchi. Tato paṭṭhāya seṭṭhiputto ‘‘ahaṃ sirimāya saddhiṃ modissāmī’’ti uttarāya aḍḍhamāsaṃ uposathakammaṃ sampaṭicchi.

Sau đó vào một ngày nọ, nàng Uttarā, con gái Trưởng giả Puṇṇa đã nói với chồng mình: “Thiếp thường xuyên thực hành thọ trì Uposatha mỗi tháng tám ngày ở nhà cha mẹ của thiếp. Nay nếu như chàng đồng ý, thiếp có thể phát nguyện tám chi phần của ngày Uposatha.” Người chồng nói rằng: “không thể,” rồi không chấp thuận lời nói ấy. Nàng không thể thuyết phục được chồng nên đã im lặng. Hơn nữa, vào mùa an cư mưa (nghĩ rằng): “Ta sẽ là người thọ trì Uposatha.” Luôn cả lần này, khi nàng xin phép vẫn không nhận được sự chấp thuận như lần trước. Trong mùa an cư mưa, khi thời gian đã trôi qua được hai tháng rưỡi và chỉ còn lại nửa tháng nữa, nàng Uttarā liền nhắn tin về cho cha mẹ: “Con đã bị cha mẹ đưa đi giam giữ trong nhà tù suốt một khoảng thời gian dài chừng ấy. Ngay cả việc thọ trì tám chi phần của ngày Uposatha dù chỉ trọn một ngày cũng không làm được. Xin cha mẹ hãy gửi cho con mười lăm ngàn đồng tiền.” Sau khi nghe tin con gái, cha mẹ nàng đã không hỏi han: “Vì lý do gì?” liền gửi số tiền đó đến cho nàng. Nàng Uttarā, sau khi nhận được số tiền; trong kinh thành đó có một một kỹ nữ tên là Sirimā, đã cho mời nàng đến, rồi nói rằng: “Này cô Sirimā, tôi sẽ phát nguyện tám chi phần của ngày Uposatha trong nửa tháng này. Xin cô hãy nhận lấy mười lăm ngàn đồng tiền này và hầu hạ con trai Trưởng giả trong suốt nửa tháng này.” Nàng Sirimā đã đồng ý (nói rằng): “Được rồi, thưa cô!” Kể từ ngày ấy trở đi, con trai Trưởng giả nghĩ: “Mình sẽ hạnh phúc với nàng Sirimā,” mới đồng ý cho nàng Uttarā thọ trì Uposatha trong suốt nửa tháng.

Sā tena sampaṭicchitabhāvaṃ ñatvā divase divase pātova dāsigaṇaparivutā satthu sahatthā khādanīyabhojanīyaṃ saṃvidahitvā satthari bhattakiccaṃ katvā vihāraṃ gate uposathaṅgāni adhiṭṭhāya pāsādavaraṃ āruyha attano sīlāni āvajjamānā nisīdati. Evaṃ aḍḍhamāsaṃ vītināmetvā uposathaṃ vissajjanadivase pātova yāgukhajjakādīni saṃvidahantī vicarati. Tasmiṃ samaye seṭṭhiputto sirimāya saddhiṃ uparipāsādavaragato jālavātapānaṃ vivaritvā antaravatthuṃ olokento aṭṭhāsi. Uttarā, vātapānacchiddena uddhaṃ olokesi. Seṭṭhiputto uttaraṃ oloketvā ‘‘nerayikajātikā vatāyaṃ evaṃvidhaṃ nāma sampattiṃ pahāya ukkhalikamasimakkhitā hutvā nikkāraṇā dāsīnaṃ antare vicaratī’’ti sitaṃ akāsi. Uttarā, tassa pamādabhāvaṃ ñatvā ‘‘ayaṃ bālo nāma attano sampatti sabbakālaṃ thāvarāti saññī bhavissatī’’ti sayampi sitaṃ akāsi. Tato sirimā ‘‘ayaṃ ceṭikā mayi ṭhitāya evaṃ mama sāmikena saddhiṃ sitaṃ karotī’’ti kupitā vegena otari. Uttarā, tassā āgamanākappeneva ‘‘ayaṃ bālā aḍḍhamāsamattaṃ imasmiṃ gehe vasitvā mayhamevetaṃ gehantisaññī jātā’’ti ñatvā taṅkhaṇaññeva mettājhānaṃ samāpajjitvā aṭṭhāsi. Sirimāpi dāsīnaṃ antarena āgantvā uḷuṅkaṃ gahetvā pūvapacanaṭṭhāne pakkuthitatelassa pūretvā uttarāya matthake āsiñci, mettājhānassa vipphārena uttarāya matthake āsittaṃ pakkuthitatelaṃ padumapatte āsittaudakaṃ viya vinivattitvā gataṃ.

Nàng, sau khi biết rằng: ‘sự việc đã được chấp thuận,’ mỗi ngày vào buổi sáng sớm, có đám tớ gái vây quanh, đã tự tay chuẩn bị vật thực loại cứng và loại mềm để cúng dường bậc Đạo Sư. Sau khi làm phận sự về thọ thực, bậc Đạo Sư đã trở về Tịnh xá, và nàng cũng đã phát nguyện tám chi phần của ngày Uposatha, sau đó bước lên tòa lâu đài quý giá và ngồi quán xét lại giới hạnh của chính mình. Trải qua nửa tháng như thế, đến ngày xả giới Uposatha, nàng lại chuẩn bị món cháo, vật thực cứng, v.v, từ sáng sớm. Vào lúc bấy giờ, con trai Trưởng giả ở lầu trên của tòa lâu đài quý giá cùng với nàng Surimā, mở cánh cửa sổ có gắn lưới, đứng nhìn cảnh vật bên trong. Nàng Uttarā ngước nhìn lên trên qua khoảng trống của ô cửa sổ. Con trai Trưởng giả nhìn nàng Uttarā nghĩ rằng: “Người phụ nữ này chắc chắn được sanh ra từ địa ngục! Đã buông bỏ tài sản như vậy, trở thành người bị lấm lem bởi nhọ nồi, bận rộn giữa đám tớ gái không có lý do,” nên đã cười nhạo. Nàng Uttarā, biết được sự xao lãng của con trai Trưởng giả, nghĩ rằng: “Chàng trai này quả là kẻ ngu xuẩn. Chắc lầm tưởng rằng tài sản của mình sẽ bền vững mãi mãi,” cả bản thân nàng cũng mỉm cười. Lúc đó, Sirimā đã nổi giận, rồi chửi rủa: “Con tiện tỳ này, khi ta đang đứng đây cũng vẫn mỉm cười với chồng của ta như vậy,” mới vội vã bước xuống từ tòa lâu đài. Với chính thái độ việc đến của Sirimā, nàng Uttarā đã biết rõ: “Người phụ nữ ngu ngốc này sống trong ngôi nhà này chỉ mới nửa tháng mà đã khởi lên sự lầm tưởng rằng: ‘Ngôi nhà này là của riêng tôi.’ Ngay tại khoảnh khắc đó, nàng đã đứng thể nhập vào thiền tâm từ. Về phần Sirimā, ả xông thẳng vào giữa đám tớ gái, cầm lấy cái muôi múc đầy dầu đang sôi từ trong chảo rán bánh rồi xối lên đầu nàng Uttarā, nhờ sự lan tỏa của thiền tâm từ mà dầu sôi đã được xối lên đầu của nàng Uttarā đã tuôn chảy giống như nước đổ lên lá sen.

Tasmiṃ khaṇe sirimāya samīpe ṭhitā dāsiyo taṃ oloketvā, ‘‘bho je, tvaṃ amhākaṃ ayyāya hatthato mūlaṃ gahetvā āgatā imasmiṃ gehe vasamānā amhākaṃ ayyāya sadisā bhavituṃ vāyamasī’’ti sammukhaṭṭhāne taṃ paribhāsiṃsu. Tasmiṃ khaṇe sirimā attano āgantukabhāvaṃ aññāsi. Sā tatova gantvā uttarāya pādesu patitvā, ‘‘ayye, anupadhāretvā me kataṃ, khamatha mayha’’nti āha. Amma sirime, nāhaṃ tava imasmiṃ ṭhāne khamissāmi, ahaṃ sapitikā dhītā, dasabale khamanteyeva khamissāmīti.

Vào thời khắc ấy, các tớ gái đứng gần Sirimā chứng kiến sự việc đã mắng nhiếc nàng ấy ngay trước mặt rằng: “Người phụ nữ hèn hạ! Ngươi đã nhận tiền thù lao từ tay cô chủ của chúng tôi để vào sống trong ngôi nhà này, lại còn ra sức trở thành ngang hàng với cô chủ của chúng tôi à.” Vào thời khắc ấy, nàng Sirimā nhận ra rằng bản thân là vị khách vãng lai. Nàng đã đi từ chỗ đó rồi quỳ xuống dưới chân nàng Uttarā và nói rằng: “Thưa cô, tôi đã không suy xét kỹ lưỡng đã gây ra ác nghiệp như vậy, xin cô hãy tha thứ cho tôi.” – Này Sirimā, tôi sẽ không tha thứ cho cô ở địa vị này, tôi là đứa con gái có cha, tôi sẽ tha thứ cho cô chỉ khi đấng Thập Lực tha thứ cho cô.

Satthāpi kho bhikkhusaṅghaparivāro āgantvā uttarāya nivesane paññattāsane nisīdi. Sirimā gantvā satthu pādesu patitvā, ‘‘bhante, mayā ayyāya uttarāya antare eko doso kato, tumhesu khamantesu khamissāmīti vadati, khamatha mayhaṃ bhagavā’’ti. Khamāmi te sirimeti. Sā tasmiṃ kāle gantvā uttaraṃ khamāpesi. Taṃdivasañca sirimā dasabalassa bhattānumodanaṃ sutvā –

Về phần bậc Đạo Sư, có Hội chúng Tỳ-khưu tháp tùng, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn ở dinh thự của nàng Uttarā. Nàng Sirimā liền đi đến quỳ xuống dưới chân của Đức Đạo Sư, thưa rằng: “Bạch Ngài, con đã gây ra một lỗi lầm đối với nàng Uttarā. Nàng ấy nói rằng: ‘Khi Ngài tha thứ (cho cô) thì tôi sẽ tha thứ.’ Bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài hãy tha thứ cho con,’” – Này Sirimā, Ta tha thứ cho cô. Lúc bấy giờ, nàng Sirimā đã đi đến xin nàng Uttarā tha thứ. Và cũng trong ngày hôm đó, nàng Sirimā sau khi lắng nghe sự tùy hỷ phước báu về bữa ăn của đấng Thập Lực —

‘‘Akkodhena jine kodhaṃ, asādhuṃ sādhunā jine;
          Jine kadariyaṃ dānena, saccenālikavādina’’nti. (dha. pa. 223) –

Gāthāpariyosāne sotāpattiphale patiṭṭhitā dasabalaṃ nimantetvā punadivase mahādānaṃ adāsi. Evametaṃ vatthu samuṭṭhitaṃ. Aparabhāge pana satthā jetavane nisīditvā upāsikāyo ṭhānantaresu ṭhapento uttaraṃ nandamātaraṃ jhāyīnaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

“Nên chinh phục người giận dữ bằng sự không giận dữ, nên chinh phục người không tốt bằng điều tốt, nên chinh phục người bỏn xẻn bằng sự bố thí, (nên chinh phục) người có lời nói sai trái bằng sự chân thật.” (dha. pa. 223) –

Khi kết thúc bài kệ, nàng đã an trú vào quả vị Nhập Lưu, rồi thỉnh mời đấng Thập Lực thực hiện lễ đại thí vào ngày hôm sau. Câu chuyện này đã diễn ra như vậy. Hơn nữa, về sau, bậc Đạo Sư ngồi ở Jetavana, khi thiết lập các cận sự nữ vào vị thế tối thắng, mới thiết lập nàng Uttarā Nandamātā vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ có thiền (hoan hỷ trong thiền).

Câu chuyện về Suppavāsā

  1. Chaṭṭhe paṇītadāyikānanti paṇītarasadāyikānaṃ upāsikānaṃ, suppavāsā koliyadhītā, aggāti dasseti. Sā kira padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulagehe nibbattā satthu dhammadesanaṃ suṇantī satthāraṃ ekaṃ upāsikaṃ paṇītadāyikānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. Sā kappasatasahassaṃ devamanussesu saṃsaritvā imasmiṃ buddhuppāde koliyanagare khattiyakule nibbatti, suppavāsātissā nāmaṃ akaṃsu. Sā vayappattā ekassa sakyakumārassa gehaṃ gatā, paṭhamadassaneyeva satthu dhammakathaṃ sutvā sotāpattiphale patiṭṭhāsi. Sā aparabhāge sīvaliṃ nāma dārakaṃ vijāyi. Tassa vatthu heṭṭhā vitthāritameva.
    Trong bài Kinh thứ sáu, vị bố thí các món ăn thượng vị: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng– Nàng Suppavāsā, người con gái bộ tộc Koliya, là tối thắng trong số các nữ cư sĩ bố thí các món ăn thượng vị. Kể rằng, vào thời Đức Phật Padumuttara, nàng được sanh vào gia đình danh giá tại kinh thành Haṃsavati. Khi đang lắng nghe bài thuyết giảng Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến Ngài thiết lập một nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ về việc bố thí các món ăn thượng vị. Nàng đã thực hiện hành động hướng thượng rồi phát nguyện vào vị thế đó. Nàng đã luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người suốt một trăm ngàn kiếp, vào thời kỳ Đức Phật (Gotama) này xuất hiện (ở thế gian), nàng sanh ra ở gia tộc Sát-đế-lỵ tại kinh thành Koliya. Hoàng thân đã đặt tên cho nàng là Suppavāsā. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng được gả vào gia đình Hoàng tộc cho một vị Vương tử thuộc dòng dõi Sakya. Ngay trong lần gặp đầu tiên, sau khi lắng nghe bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư, nàng đã an trú vào quả vị Nhập Lưu. Về sau, nàng đã hạ sanh tiểu Hoàng tử tên là Sīvalī. Câu chuyện của Trưởng lão Sīvalī ấy đã được nói chi tiết ở trên.

Sā ekasmiṃ samaye buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa nānaggarasapaṇītabhojanaṃ adāsi. Satthā katabhattakicco anumodanaṃ karonto suppavāsāya imaṃ dhammaṃ desesi ‘‘bhojanaṃ suppavāse dentī ariyasāvikā paṭiggāhakānaṃ pañca ṭhānāni deti. Āyuṃ deti, vaṇṇaṃ deti, sukhaṃ deti, balaṃ deti, paṭibhānaṃ deti. Āyuṃ kho pana datvā āyussa bhāginī hoti dibbassa vā mānusassa vā…pe… paṭibhānaṃ datvā paṭibhānassa bhāginī hoti dibbassa vā mānusassa vā’’ti. Evametaṃ vatthu samuṭṭhitaṃ. Atha aparabhāge satthā jetavane nisīditvā upāsikāyo ṭhānantaresu ṭhapento suppavāsaṃ koliyadhītaraṃ paṇītadāyikānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Một ngày nọ, nàng Suppavāsā đã dâng cúng các loại vật thực thượng hạng tinh túy cao sang khác nhau đến Hội chúng Tỳ-khưu có Đức Phật đứng đầu. Sau khi việc thọ thực hoàn tất, bậc Đạo Sư trong khi thể hiện sự tùy hỷ (phước báu) đã thuyết giảng Giáo Pháp này cho Suppavāsā rằng: “Các Thánh nữ đệ tử khi bố thí đồ ăn, này Suppavāsā, bố thí năm sự cho những người thọ nhận. Là (1) bố thí tuổi thọ, (2) bố thí sắc đẹp, (3) bố thí sự an lạc, (4) bố thí sức mạnh, (5) bố thí sự sáng suốt.Hơn nữa, người bố thí thọ mạng là người được chia phần của tuổi thọ, thuộc cõi Trời hay cõi Người. Sau khi cho dung sắc, người cho được chia phần dung sắc, thuộc cõi Trời hay cõi Người …như trên… người cho sự sáng suốt là người được chia phần của sự sáng suốt, thuộc cõi Trời hay cõi Người.” Câu chuyện này đã diễn ra như vậy. Khi ấy, về sau, bậc Đạo Sư ngồi ở Jetavana, trong khi thiết lập các nữ cư sĩ vào các vị thế tối thắng, đã thiết lập Suppavāsā–người con gái bộ tộc Koliya vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ về việc bố thí các món ăn thượng vị.

Câu chuyện về Suppiyā

  1. Sattame gilānupaṭṭhākīnanti gilānupaṭṭhākīnaṃ upāsikānaṃ, suppiyā upāsikā, aggāti dasseti. Ayaṃ kira padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulagehe nibbattā aparabhāge satthu dhammadesanaṃ suṇantī satthāraṃ ekaṃ upāsikaṃ gilānupaṭṭhākīnaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. Sā kappasatasahassaṃ devamanussesu saṃsaritvā imasmiṃ buddhuppāde bārāṇasiyaṃ kulagehe nibbatti, suppiyātissā nāmaṃ akaṃsu. Aparabhāge satthā bhikkhusaṅghaparivāro bārāṇasiṃ agamāsi. Sā tathāgatassa paṭhamadassaneyeva dhammaṃ sutvā sotāpattiphale patiṭṭhāsi.
    Trong bài Kinh thứ bảy, vị chăm sóc Tỳ-khưu bệnh: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng nữ cư sĩ Suppiyā là người tối thắng trong các nữ cư sĩ chăm sóc các vị Tỳ-khưu bệnh. Kể rằng, vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, nữ cư sĩ Suppiyā này được sanh ra trong một gia đình danh giá tại kinh thành Haṃsavatī. Khi đang lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến Ngài thiết lập một nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ chăm sóc Tỳ-khưu bệnh. Nàng đã thực hiện hành động hướng thượng rồi phát nguyện vào vị thế đó. Sau khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người đến một trăm ngàn kiếp, vào thời kỳ Đức Phật (Gotama) này xuất hiện, nàng được sanh vào một gia đình danh giá tại kinh thành Bārāṇasī. Cha mẹ đã đặt tên cho nàng là Suppiyā. Về sau, bậc Đạo Sư có Hội chúng Tỳ-khưu tháp tùng đã đi đến thành Bārāṇasī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Thập Lực, nàng đã an trú vào quả vị Nhập Lưu ngay trong lần đầu tiên yết kiến.

Athekadivasaṃ dhammassavanatthāya vihāraṃ gatā. Vihāracārikaṃ caramānā ekaṃ bhikkhuṃ gilānaṃ disvā abhivādetvā paṭisanthāraṃ katvā ‘‘ayyassa kiṃ laddhuṃ vaṭṭatī’’ti pucchi. Rasaṃ laddhuṃ vaṭṭati, upāsiketi. ‘‘Hotu, bhante, ahaṃ pahiṇissāmī’’ti theraṃ abhivādetvā antonagaraṃ gantvā punadivase pavattamaṃsatthāya dāsiṃ antarāpaṇaṃ pesesi. Sā sakalanagare pavattamaṃsaṃ alabhitvā aladdhabhāvaṃ kathesi. Upāsikā cintesi – ‘‘ahaṃ ayyassa rasaṃ pahiṇissāmīti vatvā sace na pesessāmi, ayyo aññatopi alabhanto kilamissati, yaṃkiñci katvā pesetuṃ vaṭṭatī’’ti gabbhaṃ pavisitvā ūrumaṃsaṃ chinditvā dāsiyā adāsi ‘‘idaṃ maṃsaṃ gahetvā sambhārehi yojetvā rasaṃ katvā vihāraṃ netvā ayyassa dehi. So ce maṃ pucchati, gilānāti vadehī’’ti. Sā tathā akāsi.

Sau đó vào một ngày nọ, nàng đã đi đến Tịnh xá để lắng nghe Giáo Pháp. Trong khi du hành đến Tịnh xá, nàng nhìn thấy một vị Tỳ-khưu bệnh, đã đảnh lễ, đã thực hiện việc chào hỏi, rồi đã hỏi rằng: “Thưa Ngài đại đức, Ngài cần được món ăn gì chăng?” – Này nữ cư sĩ, bần tăng cần được món ăn có vị (thịt). – “Thưa Ngài, hãy là vậy, con sẽ gởi đến,” sau khi đảnh lễ, đã đi vào trong nội thành. Vào ngày hôm sau, nàng đã sai người tớ gái ra chợ để tìm mua loại thịt đã được làm sẵn. Người tớ gái tìm mua loại đã được làm sẵn khắp cả kinh thành cũng không thấy, liền trở về nói với nàng: “Thưa cô, em không mua được thịt.” – Nữ cư sĩ nghĩ rằng: “Ta đã nói với Ngài đại đức rằng: ‘con sẽ gởi (thịt) đến,’ nếu ta không gởi, Ngài đại đức khi không nhận được từ chỗ khác sẽ bị mệt nhọc, thật thích hợp để ta làm một loại thịt nào đó để gởi đến,’” rồi trở về phòng, tự tay cắt lìa miếng thịt ở đùi rồi trao cho người tớ gái (nói rằng): “Này em, em hãy cầm lấy miếng thịt này chế biến với các loại gia vị rồi mang đến Tịnh xá cúng dường cho Ngài đại đức. Nếu Ngài hỏi về ta, thì hãy thưa rằng ‘ta đang bị bệnh.’” Người tớ gái đã làm như thế.

Satthā taṃ kāraṇaṃ ñatvā punadivase bhikkhācāravelāya bhikkhusaṅghaparivuto upāsikāya gehaṃ agamāsi. Sā tathāgatassa āgatabhāvaṃ sutvā sāmikaṃ āmantesi – ‘‘ayyaputta, ahaṃ satthu santikaṃ gantuṃ na sakkomi, gaccha tvaṃ satthāraṃ antogehaṃ pavesetvā nisīdāpehī’’ti. So tathā akāsi. Satthā ‘‘kahaṃ suppiyā’’ti pucchi. Gilānā, bhanteti. Pakkosatha, nanti. Atha te gantvā ‘‘satthā taṃ pakkosatī’’ti āhaṃsu. Sā cintesi – ‘‘sabbalokassa hitānukampako satthā na imaṃ kāraṇaṃ adisvā pakkosāpessatī’’ti sahasā mañcamhā vuṭṭhāsi. Athassā buddhānubhāvena taṃkhaṇaṃyeva vaṇo ruhitvā succhavi ahosi sesaṭṭhānato atirekataraṃ vippasannavaṇṇo. Tasmiṃ khaṇe upāsikā sitaṃ katvā dasabalaṃ pañcapatiṭṭhitena vanditvā ekamantaṃ nisīdi. Satthā ‘‘imissā upāsikāya kiṃ aphāsuka’’nti pucchi. Sā attanā katakāraṇaṃ sabbaṃ kathesi. Satthā katabhattakicco vihāraṃ gantvā bhikkhusaṅghaṃ sannipātāpetvā taṃ bhikkhuṃ anekapariyāyena vigarahitvā sikkhāpadaṃ (mahāva. 280) paññapesi. Evametaṃ vatthu samuṭṭhitaṃ. Aparabhāge satthā jetavane nisinno upāsikāyo ṭhānantaresu ṭhapento suppiyaṃ upāsikaṃ gilānupaṭṭhākīnaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Vào ngày hôm sau bậc Đạo Sư biết về nguyên nhân đó, khi tầm cầu vật thực có Hội chúng Tỳ-khưu tháp tùng, đã đi đến nhà của nữ cư sĩ. Sau khi nghe được việc đi đến của đấng Thập Lực đã bảo với chồng rằng: “Thưa phu quân, thiếp không thể ra yết kiến bậc Đạo Sư. Xin chàng hãy ra thỉnh mời đấng Thập Lực vào nhà để an tọa.” Người chồng đã làm như thế. Bậc Đạo Sư hỏi rằng: “Suppiyā đi đâu rồi?” Nàng bị bệnh, thưa Ngài. – Hãy gọi nàng đến! – Khi ấy, những người ấy đã đi nói (với nàng) rằng: “Bậc Đạo Sư cho gọi cô.” Nàng nghĩ rằng: “Bậc Đạo Sư có lòng thương tưởng đến điều lợi ích của tất cả chúng sanh trên thế gian, hẳn Ngài biết rõ sự tình của ta nên mới cho gọi,” nàng lập tức ngồi dậy từ chiếc giường. Khi ấy, nhờ oai lực của Đức Phật, ngay trong khoảnh khắc đó, vết thương của nàng đã được liền lại, da trở nên đẹp đẽ, màu da tươi sáng hơn màu da ở những chỗ còn lại. Vào thời điểm ấy, sau khi nở nụ cười nữ cư sĩ đã đảnh lễ đấng Thập Lực với năm phần thân thể chạm xuống đất, rồi ngồi xuống một bên. Bậc Đạo Sư mới hỏi rằng: “Có phải nữ cư sĩ này không được khoẻ?” Nàng đã thuật lại toàn bộ sự việc mà bản thân đã làm. Sau khi việc thọ thực hoàn tất, bậc Đạo Sư đã trở về Tịnh xá và đã triệu tập Hội chúng Tỳ-khưu liền khiển trách Tỳ-khưu ấy bằng nhiều phương thức, rồi quy định điều học. Câu chuyện này đã diễn ra như vậy. Về sau, bậc Đạo Sư trong khi ngồi ở Jetavana đã thiết lập các nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ theo tuần tự, mới thiết lập nữ cư sĩ Suppiyā vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ chăm sóc Tỳ-khưu bệnh.

Câu chuyện về Kātiyānī

  1. Aṭṭhame aveccappasannānanti adhigatena acalappasādena samannāgatānaṃ upāsikānaṃ, kātiyānī, aggāti dasseti. Sā kira padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulagehe nibbattā satthāraṃ ekaṃ upāsikaṃ aveccappasannānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. Sā kappasatasahassaṃ devamanussesu saṃsaritvā imasmiṃ buddhuppāde kuraragharanagare nibbatti, kātiyānītissā nāmaṃ akaṃsu.
    Trong bài Kinh thứ tám, vị có lòng tịnh tín bất động: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng– Nàng Kātiyānī, là người tối thắng trong số nữ cư sĩ có niềm tịnh tín không thể lay động mà bản thân đã đạt đến. Kể rằng, vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, nàng Kātiyānī được sinh ra trong một gia đình danh giá tại kinh thành Haṃsavatī. Khi nhìn thấy bậc Đạo Sư thiết lập một nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ có lòng tịnh tín bất động, nàng đã thực hiện hành động hướng thượng rồi phát nguyện vị thế đó. Sau khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người suốt một trăm ngàn kiếp, vào thời kỳ Đức Phật (Gotama) này xuất hiện, nàng tái sanh ở kinh thành Kuraraghara. Cha mẹ đã đặt tên cho nàng là Kātiyānī.

Sā aparabhāge vayappattā kuraragharikāya, kāḷiyā sahāyikā, daḷhamittā ahosi. Yadā pana kuṭikaṇṇasoṇatthero ‘‘dasabalassa kathitaniyāmena mayhampi dhammaṃ kathehī’’ti mātarā yācito rattibhāge antonagare alaṅkatadhammāsane nisīditvā mātaraṃ kāyasakkhiṃ katvā dhammadesanaṃ ārabhi, tadā ayaṃ kātiyānī upāsikā kāḷiyā saddhiṃ gantvā parisapariyante dhammaṃ suṇantī aṭṭhāsi. Tasmiṃ samaye pañcamattāni corasatāni antonagare divā katasaññāya koṭito paṭṭhāya ummaṅgaṃ khanitvā imissā kātiyāniyā gharaṃ sampāpuṇiṃsu. Tesaṃ corajeṭṭhako tehi saddhiṃ apavisitvā ‘‘kiṃ nu kho ayaṃ parisā sannipatitā’’ti vīmaṃsanatthāya soṇattherassa dhammakathanaṭṭhānaṃ gantvā parisapariyante tiṭṭhamāno imissā kātiyāniyā piṭṭhipasse aṭṭhāsi.

Về sau, đến tuổi trưởng thành, nàng đã trở thành người bạn đồng hành, người bạn thân thiết của Kāḷī ở Kuraraghara. Hơn nữa, khi nào Trưởng lão Kuṭikaṇṇasoṇa được mẹ thỉnh cầu: “Ngài hãy thuyết giảng Giáo Pháp cho mẹ, theo phương thức mà đấng Thập Lực đã thuyết giảng.” Vào lúc nửa đêm, Trưởng lão đã ngồi lên chỗ ngồi đã được trang hoàng bên trong nội thành, bắt đầu thuyết giảng Giáo Pháp, giúp mẹ trở thành bậc thân chứng; Khi ấy, nữ cư sĩ Kātiyānī này đã đi cùng với nàng Kāḷī đứng lắng nghe pháp ở cuối Hội chúng. Vào lúc ấy, có khoảng chín trăm tên trộm đang đào một đường hầm bắt đầu từ một góc (phố) bên trong thành, men theo dấu vết đã được đánh dấu từ ban ngày, thông đến nhà của nữ cư sĩ Kātiyānī này. Trong số các tên cướp đó, kẻ cầm đầu bọn trộm không chui vào hầm cùng đồng bọn, mà lại đi đến địa điểm thuyết Pháp của Trưởng lão Soṇa để xem xét rằng: “Hội chúng này tụ họp làm gì vậy?” Trong khi đứng ở cuối Hội chúng, (hắn) đã đứng ở sau lưng nữ cư sĩ Kātiyānī này.

Tasmiṃ samaye, kātiyānī, dāsiṃ āmantesi – ‘‘gaccha je, gehaṃ pavisitvā dīpatelaṃ āhara, mayaṃ dīpe jāletvā dhammaṃ sossāmā’’ti. Sā gharaṃ gantvā ummaṅge core disvā dīpatelaṃ agaṇhitvāva āgantvā attano ayyāya ārocesi – ‘‘ayye, gehe corā ummaṅgaṃ khanantī’’ti. Taṃ sutvā corajeṭṭhako cintesi – ‘‘sacāyaṃ imissā kathaṃ gaṇhitvā gehaṃ gamissati, ettheva naṃ asinā dvedhā chindissāmi. Sace pana gahitanimitteneva dhammaṃ suṇissati, corehi gahitabhaṇḍakampi puna dāpessāmī’’ti. Kātiyānīpi kho dāsiyā kathaṃ sutvā, ‘‘amma, mā saddaṃ kari, corā nāma harantā attanā diṭṭhameva harissanti, ahaṃ pana ajja dullabhassavanaṃ suṇāmi, mā dhammassa antarāyaṃ karohī’’ti āha. Corajeṭṭhako tassā vacanaṃ sutvā cintesi – ‘‘iminā ajjhāsayena ṭhitāya nāma gehe bhaṇḍaṃ harantehi amhehi mahāpathavī pavisitabbā bhaveyyā’’ti. So tāvadeva gantvā corehi gahitabhaṇḍaṃ chaḍḍāpetvā corehi saddhiṃ āgantvā dhammaṃ suṇanto parisapariyante aṭṭhāsi. Kātiyānīpi upāsikā therassa desanāpariyosāne sotāpattiphale patiṭṭhāsi.

Vào lúc ấy, nàng Kātiyānī đã bảo người tớ gái– “Này em, hãy về nhà mang dầu đèn đến đây. Chúng ta sẽ thắp đèn cho sáng để nghe Pháp.” Người tớ gái, sau khi trở về nhà, đã phát hiện bọn trộm đang đào hầm, nên không mang dầu đèn đến mà quay lại báo với bà chủ: “Thưa bà, bọn trộm đang đào hầm trong nhà chúng ta!” Kẻ cầm đầu bọn trộm sau khi nghe lời nói ấy, đã khởi lên ý nghĩ rằng– “Nếu người phụ nữ này tin lời người tớ gái mà bỏ chạy về nhà, ta sẽ rút gươm chém ả đứt làm đôi ở tại chỗ này. Còn nếu người phụ nữ này sẽ lắng nghe Pháp theo biểu hiện mà ả đã nắm bắt, ta sẽ cho trả lại toàn bộ tài sản mà bọn đàn em đã chiếm đoạt.” Về phần nữ cư sĩ Kātiyānī, sau khi nghe lời nói của người tớ gái, nàng đã nói rằng: “Này em, chớ gây ra tiếng ồn. Đã gọi là trộm cướp, thì khi cướp cũng chỉ cướp được những thứ chúng nhìn thấy mà thôi. Còn ngày hôm nay, ta sẽ lắng điều khó được nghe. Em chớ làm trở ngại cho Giáo Pháp.” Kẻ cầm đầu bọn trộm nghe được lời của nàng đã nghĩ rằng– “Bọn ta đã trộm cắp tài sản của một người phụ nữ được kiên cố bởi khuynh hướng này, có thể sẽ bị quả địa cầu to lớn nuốt chửng.” Ngay tức khắc, kẻ ấy liền chạy đi bảo đồng bọn trả lại toàn bộ đồ đạc đã lấy cắp, rồi cùng với bọn cướp đến đứng ở cuối Hội chúng lắng nghe Giáo Pháp. Còn nữ cư sĩ Kātiyānī khi kết thúc bài Pháp đã an trú vào quả vị Nhập Lưu.

Atha aruṇe uggate corajeṭṭhako gantvā upāsikāya pādesu patitvā, ‘‘ayye, sabbesaṃyeva no khamāhī’’ti āha. Kiṃ pana tumhehi mayhaṃ katanti? So sabbaṃ attanā katadosaṃ ārocesi. Tena hi, tātā, khamāmi tumhākanti. Ayye, amhākaṃ evaṃ khamitaṃ nāma na hoti, tumhākaṃ pana puttattherassa santike sabbesaṃyeva no pabbajjaṃ dāpehīti. Sā sabbepi te gahetvā kuṭikaṇṇasoṇattherassa santike pabbājesi. Tepi kho corā therassa santike pabbajitā sabbeva arahattaṃ pāpuṇiṃsu. Evametaṃ vatthu samuṭṭhitaṃ. Aparabhāge satthā jetavane viharanto upāsikāyo ṭhānantaresu ṭhapento kātiyāniṃ upāsikaṃ aveccappasannānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Lúc ấy, khi bình minh ló dạng kẻ cầm đầu bọn trộm đã quỳ xuống ở đôi chân nữ cư sĩ rồi nói rằng: “Thưa bà, xin bà hãy tha thứ cho tất cả chúng tôi.” – Các ông đã làm điều gì (có lỗi) với tôi sao? – Kẻ ấy đã thuật lại toàn bộ lỗi lầm mà bản thân đã làm. – Này ông, tôi tha thứ cho các ông. – Thưa bà, bà đã tha thứ cho chúng tôi, nhưng xin cô hãy giúp cho tất cả chúng tôi được xuất gia trong sự chứng minh của Ngài Trưởng lão – con trai của bà.” – Bà liền dẫn tất cả họ đến cho xuất gia trong sự chứng minh của Trưởng lão Kuṭikaṇṇasoṇa. Tất cả những tên trộm ấy, sau khi xuất gia trong sự chứng minh của Trưởng lão đều đã đạt đến phẩm vị A-la-hán. Câu chuyện này đã diễn ra như vậy. Về sau, bậc Đạo Sư trong lúc trú tại Jetavana, khi thiết lập các nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ, mới thiết lập nữ cư sĩ Kātiyānī vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ có lòng tịnh tín bất động.

Câu chuyện về Kulamātā

  1. Navame vissāsikānanti vissāsakathaṃ kathentīnaṃ upāsikānaṃ, nakulamātā gahapatānī, aggāti dasseti. Yaṃ panettha vattabbaṃ, taṃ sabbaṃ heṭṭhā upāsakapāḷiyaṃ vuttameva. Kevalaṃ idha nakulamātaraṃ dhuraṃ katvā veditabbanti.
    Trong bài Kinh thứ chín, vị nói lời nói tạo ra sự thân mật: Đức Thế Tôn đã chỉ rõ rằng nữ gia chủ Nakulamātā là vị tối thắng trong số các nữ cư sĩ nói lời nói tạo ra sự thân mật. Hơn nữa, ở đây điều nào cần được nói; tất cả điều đó, đều đã được trình bày trong phần chánh văn nói về cận sự nam ở trước đó. Nên được biết câu chuyện của Nakulamātā bằng cách đối chiếu với phần chánh văn nói về cận sự nam vậy.

Câu chuyện về Kāḷī sống ở thành Kuraraghara

  1. Dasame anussavappasannānanti anussaveneva uppannena pasādena samannāgatānaṃ upāsikānaṃ antare, kāḷī upāsikā, kuraragharikā aggāti dasseti. Sā kira padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kuraragharanagare nibbattā satthu dhammakathaṃ suṇantī satthāraṃ ekaṃ upāsikaṃ anussavappasannānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. Sā kappasatasahassaṃ devamanussesu saṃsaritvā imasmiṃ buddhuppāde rājagahanagare kulagehe nibbatti, kāḷītissā nāmaṃ akaṃsu.
    Trong bài Kinh thứ mười, vị tịnh tín do được nghe lời truyền tụng: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng nữ cư sĩ Kāḷī, ở Kuraraghara, là vị tối thắng trong số các nữ cư sĩ có niềm tịnh tín sanh khởi do được nghe lời truyền tụng. Nghe rằng, vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, nữ cư sĩ Kāḷī được sanh ra ở thị trấn Kuraraghara tại thành Haṃsavatī. Khi đang lắng nghe bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một nữ cư sĩ vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ có lòng tịnh tín nhờ nghe truyền tụng. Nàng đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện vị thế đó. Sau khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người suốt một trăm ngàn kiếp, vào thời kỳ Đức Phật (Gotama) này xuất hiện, nàng được sanh vào gia đình danh giá tại thành Rājagaha. Thân quyến đã đặt tên cho nàng là Kāḷī.

Sā vayappattā kuraragharanagare kulagehaṃ gatā. Athassā saṃvāsena gabbho patiṭṭhahi. Sā paripuṇṇagabbhā ‘‘paresaṃ gehe gabbhavuṭṭhānaṃ nāma appatirūpa’’nti attano kulanagarameva āgantvā rattibhāgasamanantare attano pāsādassa upari ākāse ṭhitānaṃ sātāgirahemavatānaṃ ratanattayassa vaṇṇaṃ kathentānaṃ kathaṃ sutvā anussavikappasādaṃ uppādetvā satthu adassaneneva sotāpattiphale patiṭṭhāsi, aparabhāge panassā gabbhavuṭṭhānaṃ ahosīti sabbaṃ vatthu heṭṭhā vitthāritameva. Aparabhāge pana satthā jetavane bhikkhusaṅghamajjhe nisīditvā upāsikāyo ṭhānantaresu ṭhapento imaṃ upāsikaṃ anussavappasannānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Đến tuổi trưởng thành, nàng được gả vào gia đình danh giá ở thị trấn Kuraraghara. Lúc bấy giờ, do việc sống chung nàng đã thọ thai. Khi thai kỳ đã tròn tháng, nàng nghĩ: “Việc sinh nở ở nhà của người khác là không thích hợp,” nên mới trở về nhà mình ở thị trấn Kuraraghara. Vào lúc qua nửa đêm, sau khi nghe lời nói của các nữ Dạ-xoa Sātāgira và Dạ-xoa Hemavata nói lời tán dương ân đức của Tam Bảo nàng đã khởi lên niềm tịnh tín khi được nghe những lời truyền tụng ấy, rồi đã an trú vào quả vị Nhập Lưu dù chưa từng yết kiến bậc Đạo Sư. Sau đó, nàng đã sanh con. Toàn bộ câu chuyện đã được nói chi tiết ở phần trước. Về sau, bậc Đạo Sư ngồi giữa Hội chúng Tỳ-khưu tại Jetavana, khi thiết lập các nữ cư sĩ vào các vị thế tối thắng khác nhau, Ngài đã thiết lập nữ cư sĩ này vào vị thế tối thắng trong số các nữ cư sĩ có niềm tịnh tín do được nghe lời truyền tụng.

Giải thích Chánh văn các nữ cư sĩ gồm có 10 bài Kinh được kết thúc

Giải thích toàn bộ Chánh văn ‘Phẩm Người Tối Thắng’
          trong Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh tên là Manorathapūranī với chừng ấy bài Kinh – được kết thúc.

 

[1] Senānīnigame senānīkuṭumbikassa (Sī)

[2] Agamaṃsu, thanamūlena ca bhojanamhi (Sī

[3] PacitukāmÈ (Ka)

[4] Isivātaparivātameva (Sī)

[5] Dasapi vīsatipi janā (Sī)

[6] Labhantiti (Ka)

[7] Atiṇṇeyeva (Syā)

[8] Ādāya gato (ka)

[9] Naḷakārasālāyaṃ (Sī), naḷakārasālāya (Syā)

[10] Punassa dārakassa (Ka)

[11] Vaṭṭatīti rahassena āha (Sī, Syā)

[12] Gabbhe ṭhapetvā (Ka)

[13] Kinnāmetaṃ saccaṃ vadasīti utrastacitto (Sī)

[14] ( ) natthi Sīhaḷapotthake

[15] Pakkosāpetvā (Ka)

[16] Kumāro gantuṃ āraddho (Sī)

[17] Dharamāne agantvā tassa dubbalabhāvaṃ sutvā (Ka)

[18] Seṭṭhidhītāpissa pageva (Sī)

[19] Sakaputtabhāvaṃ (Sī)

[20] sự thành tựu của cơ thể

[21] Sakkā karotūti āhaṃsu (Sī)

[22] Tathāgatānaṃ abhiratabhāvaṃ (Sī)

[23] (Evarūpaṃ pabbajjaṃ patthemi, ayaṃ kho pana) (Ka)

[24] Aṅ. ekka. a. (Pāḷī) 1/260 – 261/362, Visuddhi. (Pāḷī) 1/44/113, Khu. dha. a. (Pāḷī) 1/-/152-153

[25] kosātakī: hoa mướp đắng

[26] karīsa: một khoảnh vuông đất, lối một mẫu (Bản dịch của ngài Bửu Chơn)