14. GIẢI THÍCH CHƯƠNG MỘT PHÁP (XXIV – Phẩm Người Tối Thắng-04)

Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương 1 pháp – Phẩm 14 

(Kệ 219-234)

 4– Phẩm Người Tối Thắng thứ tư (04)

 

Câu chuyện về Trưởng lão Ānanda

219-223. Catutthassa paṭhame bahussutānantiādīsu aññepi therā bahussutā satimantā gatimantā dhitimantā upaṭṭhākā ca atthi. Ayaṃ panāyasmā buddhavacanaṃ uggaṇhanto dasabalassa sāsane bhaṇḍāgārikapariyattiyaṃ ṭhatvā gaṇhi. Tasmā bahussutānaṃ aggo nāma jāto. Imasseva ca therassa buddhavacanaṃ gahetvā dhāraṇakasati aññehi therehi balavatarā ahosi, tasmā satimantānaṃ aggo nāma jāto. Ayameva cāyasmā ekapade ṭhatvā saṭṭhi padasahassāni gaṇhanto satthārā kathitaniyāmeneva sabbapadāni jānāti, tasmā gatimantānaṃ aggo nāma jāto. Tasseva cāyasmato buddhavacanaṃ uggaṇhanavīriyaṃ sajjhāyanavīriyañca dhāraṇavīriyañca satthu upaṭṭhānavīriyañca aññehi asadisaṃ ahosi, tasmā dhitimantānaṃ aggo nāma jāto. Tathāgataṃ upaṭṭhahanto cesa na aññesaṃ upaṭṭhākabhikkhūnaṃ upaṭṭhānākārena upaṭṭhahi, aññe hi tathāgataṃ upaṭṭhahantā na ciraṃ upaṭṭhahiṃsu, na ca buddhānaṃ manaṃ gahetvā upaṭṭhahiṃsu. Ayaṃ thero pana upaṭṭhākaṭṭhānaṃ laddhadivasato paṭṭhāya āraddhavīriyo hutvā tathāgatassa manaṃ gahetvā upaṭṭhahi. Tasmā upaṭṭhākānaṃ aggo nāma jāto.

219-223. Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm thứ tư— vị nghe nhiều (bậc đa văn): Mặc dù những vị Trưởng lão khác cũng là vị nghe nhiều, có sự ghi nhớ, có sự lãnh hội nhanh chóng, có sự kiên trì và là vị thị giả. Tuy nhiên, vị Đại đức này, khi học tập Phật ngôn Ngài nắm giữ vững chắc trong Pháp học như vị thủ kho trong Giáo Pháp của đấng Thập Lực. Do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu đa văn. Mặt khác, sự ghi nhớ Phật ngôn do học thuộc lòng của vị Trưởng lão này, sau khi đã nắm giữ cũng có sức mạnh hơn những vị Trưởng lão khác; vì vậy, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có đầy đủ sự ghi nhớ.

Hơn nữa, vị Đại đức này sau khi vững trú trong một câu duy nhất cũng có thể nắm bắt ý nghĩa đến sáu mươi ngàn câu, và ghi nhớ tất cả mọi câu từ theo đúng như cách thức mà bậc Đạo Sư đã nói; do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có sự lãnh hội nhanh chóng. Lại nữa, sự tinh tấn trong việc học tập, sự tinh tấn trong việc tụng đọc, sự tinh tấn trong việc ghi nhớ và sự tinh tấn trong việc hầu cận bậc Đạo Sư của chính vị Đại đức ấy  mà những vị khác là không thể sánh bằng; do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có đầy đủ tính kiên trì. Và cuối cùng, vị Đại đức này khi hầu cận Như Lai cũng không hầu cận với các cử chỉ hầu cận các vị thị giả khác. Bởi vì, các vị khác khi hầu cận Như Lai thường không hầu cận được lâu dài và khi hầu cận cũng không thể nắm bắt được  tâm ý của chư Phật. Riêng vị Trưởng lão này (Đại đức Ānanda), kể từ ngày đạt được vị thế thị giả, Ngài đã ra sức tinh tấn, phục vụ và nắm bắt tâm ý của Như Lai; do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu thị giả.

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ito kira satasahassamatthake kappe padumuttaro nāma satthā loke uppajji. Tassa haṃsavatī nāma nagaraṃ ahosi, nando nāma rājā pitā, sumedhā nāma devī mātā, bodhisatto uttarakumāro nāma ahosi. So puttassa jātadivase mahābhinikkhamanaṃ nikkhamma pabbajitvā padhānamanuyutto anukkamena sabbaññutaṃ patvā ‘‘anekajātisaṃsāra’’nti udānaṃ udānetvā sattāhaṃ bodhipallaṅke vītināmetvā ‘‘pathaviyaṃ ṭhapessāmī’’ti pādaṃ abhinīhari. Atha pathaviṃ bhinditvā heṭṭhā vuttappamāṇaṃ padumaṃ uṭṭhāsi. Tadupādāya bhagavā padumuttaroteva paññāyittha. Tassa devalo ca sujāto ca dve aggasāvakā ahesuṃ, amitā ca asamā ca dve aggasāvikā, sumano nāma upaṭṭhāko. Padumuttaro bhagavā pitu saṅgahaṃ kurumāno bhikkhusatasahassaparivāro haṃsavatiyā rājadhāniyā vasati.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Được biết rằng, kể từ đó một trăm ngàn kiếp, vào kiếp bậc Đạo Sư Padumuttara xuất hiện ở thế gian. Ngài đã có kinh thành tên là Haṃsavatī, Phụ Vương của Ngài là Đức Vua Nanda, mẫu hậu là hoàng hậu Sumedhā, có Bồ-tát tên là Hoàng tử Uttara. Ngài đã rời bỏ Hoàng cung thực hiện cuộc ra đi vĩ đại, xuất gia vào ngày chào đời của Hoàng tử, thường xuyên gắn liền với sự nỗ lực, Ngài đã chứng đạt quả vị Toàn giác theo tuần tự, rồi đã thốt lên lời cảm hứng rằng: “Ta đã lang thang trong vòng luân hồi trong nhiều kiếp sống không ngừng nghỉ, trong khi tìm kiếm người thợ làm nhà; sự sanh tái diễn là khổ đau.” Trải qua một tuần lễ ở tại bảo tọa Bồ-đề, Ngài duỗi bàn chân ra với ý định: “Ta sẽ đặt chân xuống mặt đất.” Ngay lúc đó, những đóa hoa sen có kích thước như đã được mô tả trước đó, đã xuyên thủng mặt đất vươn lên để nâng đỡ (bàn chân Ngài). Vì điều ấy, mà đức Thế Tôn mới được biết đến với hồng danh là Padumuttara. Ngài có hai vị Thinh Văn hàng đầu– vị thứ nhất là Trưởng lão Devala và vị thứ hai là Trưởng lão Sujāta; hai vị nữ Thinh Văn hàng đầu— vị thứ nhất là Trưởng lão ni Amitā và vị thứ hai là Trưởng lão ni Asamā; Vị thị giả tên là Trưởng lão Sumana. Đức Thế Tôn Padumuttara khi tiếp độ Phụ Vương có một trăm ngàn vị Tỳ-khưu tùy tùng cư ngụ ở kinh thành Haṃsavatī.

Kaniṭṭhabhātā panassa sumanakumāro nāma. Tassa rājā haṃsavatito vīsayojanasate bhogagāmaṃ adāsi. So kadāci kadāci āgantvā pitarañca satthārañca passati. Athekadivasaṃ paccanto kupito sumano rañño pesesi. Rājā ‘‘tvaṃ mayā tattha kasmā ṭhapito’’ti paṭipesesi. So core vūpasametvā ‘‘upasanto, deva, janapado’’ti rañño pesesi. Rājā tuṭṭho ‘‘sīghaṃ mama putto āgacchatū’’ti āha. Tassa sahassamattā amaccā honti. So tehi saddhiṃ antarāmagge mantesi – ‘‘mayhaṃ pitā tuṭṭho sace me varaṃ deti, kiṃ gaṇhāmī’’ti? Atha naṃ ekacce ‘‘hatthiṃ gaṇhatha, assaṃ gaṇhatha, janapadaṃ gaṇhatha, satta ratanāni gaṇhathā’’ti āhaṃsu. Apare ‘‘tumhe pathavissarassa puttā, na tumhākaṃ dhanaṃ dullabhaṃ, laddhampi cetaṃ sabbaṃ pahāya gamanīyaṃ, puññameva ekaṃ ādāya gamanīyaṃ. Tasmā deve varaṃ dadamāne temāsaṃ padumuttarabhagavantaṃ upaṭṭhātuṃ varaṃ gaṇhathā’’ti āhaṃsu. So ‘‘tumhe mayhaṃ kalyāṇamittā, na metaṃ cittaṃ atthi, tumhehi pana uppāditaṃ, evaṃ karissāmī’’ti gantvā pitaraṃ vanditvā pitarā āliṅgetvā matthake cumbetvā ‘‘varaṃ te putta demī’’ti vutte ‘‘icchāmahaṃ, mahārāja, bhagavantaṃ temāsaṃ catūhi paccayehi upaṭṭhahanto jīvitaṃ avañjhaṃ kātuṃ, imaṃ me deva varaṃ dehī’’ti āha. Na sakkā, tāta, aññaṃ varehīti. Deva, khattiyānaṃ nāma dve kathā natthi, etadeva me varaṃ dehi, na mama aññena atthoti. Tāta, buddhānaṃ nāma cittaṃ dujjānaṃ, sace bhagavā na icchissati, mayā dinnepi kiṃ bhavissatīti? ‘‘Sādhu, deva, ahaṃ bhagavato cittaṃ jānissāmī’’ti vihāraṃ gato.

Còn Hoàng đệ của Ngài là Vương tử Sumana. Đức Vua đã ban tặng một ngôi làng trù phú hai ngàn do-tuần tính từ kinh thành Haṃsavatī cho Vương tử Sumana. Vị ấy thỉnh thoảng đến yết kiến Phụ Vương và bậc Đạo Sư. Cho đến một ngày nọ, vùng biên thùy xảy ra bạo loạn, Vương tử Sumana đã gửi tin tức cho Phụ Vương. Đức vua liền hồi đáp rằng: “Này Hoàng nhi, tại sao Trẫm lại đặt con vào địa vị đó?” Vương tử Sumana, sau khi dẹp yên lũ giặc cướp, đã phái người đưa tin về tâu với Đức Vua: “Tâu Phụ Vương, vùng biên thùy nay đã được yên bình.” Đức Vua hài lòng, truyền lệnh: “Con trai của trẫm, hãy nhanh chóng đến đây!” Vương tử Sumana có khoảng một ngàn vị quan cận thần. Vị ấy đã tham khảo ý kiến với các quan cận thần ở giữa đường rằng— “Phụ Vương của ta đang rất hài lòng, nếu Ngài ban cho ta đặc ân, ta sẽ nhận lấy điều gì đây?” – Khi đó, một số cận thần thưa với Vương tử rằng: “Xin Điện hạ hãy nhận lấy voi, ngựa, thêm đất đai hoặc hãy nhận lấy bảy loại trân bảo quý giá.” Một nhóm cận thần khác lại thưa rằng: “Điện hạ là con trai của vị chúa tể , tài sản của Điện hạ có được là điều không khó. Nhưng những tài sản ấy dù có được rồi cuối cùng cũng phải bỏ lại tất cả. Chỉ có phước báo mới là thứ Điện hạ mới có thể mang theo bên mình. Do đó, khi Bệ hạ ban đặc ân, Điện hạ hãy chọn nhận lấy đặc ân là việc phục vụ Đức Thế Tôn Padumuttara trong suốt ba tháng an cư mùa mưa.” Vương tử nói rằng: “Các khanh đúng là những thiện ban hữu của ta! Các khanh đã khiến ý nghĩ như vậy khởi lên nơi ta, ta sẽ làm như thế.” Sau đó, Vương tử vào cung đảnh lễ Phụ Vương, Đức Vua đã ôm lấy (Vương tử) hôn lên đỉnh đầu rồi nói rằng: “Này Hoàng nhi, Trẫm sẽ ban cho Hoàng nhi một đặc ân.” Vương tử liền tâu rằng: “Thưa Đại Vương, nhi thần chỉ mong ước được là người phục vụ Đức Thế Tôn bằng bốn món vật dụng trong suốt ba tháng an cư mùa mưa, để làm cho cuộc sống của nhi thần không trở nên lãng phí.” – Đức Vua “Này Hoàng nhi, Trẫm không thể ban cho con đặc ân này được. Trẫm sẽ ban cho con thứ khác.” – Vương tử Sumana: “Thưa Phụ Vương, bậc Quân Vương không nói hai lời. Xin Phụ Vương hãy ban đặc ân này cho nhi thần; những thứ gì khác nhi thần không tha thiết.” – Đức Vua: “Này Hoàng nhi, thông thường tâm ý của chư Phật là khó nhận biết. Nếu Đức Thế Tôn không mong muốn, thì dù Trẫm có ban đặc ân này cho con thì có ích gì?” – Vương tử: “Tốt lành thay, thưa Phụ Vương, nhi thần sẽ tự mình biết được tâm ý của Đức Thế Tôn,” rồi khởi hành đi đến Tịnh xá.”

Tena ca samayena bhattakiccaṃ niṭṭhāpetvā bhagavā gandhakuṭiṃ paviṭṭho hoti, so maṇḍalamāḷe sannipatitānaṃ bhikkhūnaṃ santikaṃ agamāsi. Te naṃ āhaṃsu – ‘‘rājaputta, kasmā āgatosī’’ti? Bhagavantaṃ dassanāya, dassetha me bhagavantanti. Na mayaṃ, rājaputta, icchiticchitakkhaṇe satthāraṃ daṭṭhuṃ labhāmāti. Ko pana, bhante, labhatīti? Sumanatthero nāma rājaputtāti. So ‘‘kuhiṃ, bhante, thero’’ti? Therassa nisinnaṭṭhānaṃ pucchitvā gantvā vanditvā ‘‘icchāmahaṃ, bhante, bhagavantaṃ passituṃ, dassetha me bhagavanta’’nti āha. Thero passantasseva rājakumārassa āpokasiṇajjhānaṃ samāpajjitvā mahāpathaviṃ udakaṃ adhiṭṭhāya pathaviyaṃ nimujjitvā satthu gandhakuṭiyaṃyeva pāturahosi. Atha naṃ bhagavā ‘‘sumana kasmā āgatosī’’ti āha. Rājaputto, bhante, bhagavantaṃ dassanāya āgatoti. Tena hi bhikkhu āsanaṃ paññāpehīti. Puna thero passantasseva rājakumārassa buddhāsanaṃ gahetvā antogandhakuṭiyaṃ nimujjitvā bahipariveṇe pātubhavitvā pariveṇe āsanaṃ paññāpesi. Rājakumāro imāni dve acchariyākārāni disvā ‘‘mahanto vatāyaṃ bhikkhū’’ti cintesi.

Và lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn sau khi hoàn tất phận sự thọ thực và trở về Hương Thất. Vương tử Sumana đã đi đến gặp các vị Tỳ-khưu đang tụ hội với nhau ở gian nhà mái tròn. Các vị Tỳ-khưu hỏi Vương tử: “Tâu Vương tử, Ngài đến đây vì nguyên nhân gì?”  Vương tử: “Ta đến để yết kiến Đức Thế Tôn, xin các Ngài hãy chỉ đường cho ta gặp Đức Thế Tôn.” Các vị Tỳ-khưu: “Tâu Vương tử, chúng tôi không được vào yết kiến bậc Đạo Sư vào khoảng thời gian mình mong muốn.” Vương tử: “Vậy thưa các Ngài, ai mới có thể vào gặp được?” Các vị đáp: “Tâu Vương tử, vị ấy là Trưởng lão Sumana.” Vương tử: “Thưa Ngài, vị Trưởng lão ấy ở đâu?” Sau khi hỏi về chỗ ngồi của vị Trưởng lão, đã đi đến, đảnh lễ, rồi nói rằng: “Bạch Ngài, con muốn được diện kiến Đức Thế Tôn, xin Ngài hãy chỉ Đức Thế Tôn cho con.” Trong khi Vương tử đang chăm chú nhìn theo, vị Trưởng lão Sumana đã nhập vào biến xứ Nước, phát nguyện cho quả địa cầu to lớn trở thành nước, rồi đã lặn vào trong lòng đất và xuất hiện ngay tại Hương Thất của bậc Đạo Sư. Khi ấy, Đức Thế Tôn hỏi Trưởng lão Sumana rằng: “Này Sumana, ông đến đây vì nguyên nhân gì?” – Trưởng lão bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, có Vương tử đi đến mong muốn được diện kiến Ngài.” Đức Thế Tôn nói rằng: “Này Tỳ-khưu, nếu vậy ông hãy sắp đặt sẵn chỗ ngồi.” Trong khi Vương tử đang chăm chú nhìn theo, Trưởng lão cũng đã cầm lấy chiếc tọa cụ của Đức Phật, sau khi lặn vào trong Hương Thất đã hiện ra khu vực bên ngoài, rồi sắp đặt sẵn chỗ ngồi ở khu vực ấy. Vương tử nhìn thấy hai việc kỳ diệu này đã khởi lên ý nghĩ: “Vị Tỳ-khưu này thật vĩ đại!”

Bhagavāpi gandhakuṭito nikkhamitvā paññatte āsane nisīdi. Rājaputto bhagavantaṃ vanditvā paṭisanthāraṃ akāsi. ‘‘Kadā āgatosi rājaputtā’’ti vutte, ‘‘bhante, tumhesu gandhakuṭiṃ paviṭṭhesu, bhikkhū pana ‘na mayaṃ icchiticchitakkhaṇe bhagavantaṃ daṭṭhuṃ labhāmā’ti maṃ therassa santikaṃ pāhesuṃ. Thero pana ekavacaneneva dasseti, thero, bhante, tumhākaṃ sāsane vallabho maññe’’ti. Āma rājakumāra, vallabho esa bhikkhu mayhaṃ sāsaneti. Bhante, buddhānaṃ sāsane kiṃ katvā vallabhā hontīti? Dānaṃ datvā sīlaṃ samādiyitvā uposathakammaṃ katvā kumārāti. Bhagavā ahaṃ thero viya buddhasāsane vallabho hotukāmo, sve mayhaṃ bhikkhaṃ adhivāsethāti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Rājakumāro attano vasanaṭṭhānaṃ gantvā sabbarattiṃ mahāsakkāraṃ sajjetvā satta divasāni khandhāvārabhattaṃ nāma adāsi.

Đức Thế Tôn đã rời khỏi Hương Thất rồi ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Vương tử đã đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi thực hiện việc chào hỏi. Khi Đức Thế Tôn nói rằng “Này Vương tử, Vương tử đến đây từ lúc nào vậy?” – Vương tử: “Bạch Ngài, con đến từ lúc Ngài vừa bước vào Hương Thất. Nhưng các vị Tỳ-khưu bảo rằng: ‘chúng tôi không được yết kiến vào khoảng thời gian mình mong muốn’, nên đã đưa con đến gặp vị Trưởng lão này. Hơn nữa, Trưởng lão chỉ nói đúng một lời. Bạch Ngài, có vẻ vị Tỳ-khưu này là vị được yêu mến trong Giáo Pháp của Ngài.’” Đức Phật: “Đúng rồi, này Vương tử! Vị Tỳ-khưu này chính là vị được yêu mến trong Giáo Pháp của Ta.” Vương tử: “Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-khưu này đã làm gì để trở thành vị được yêu mến của chư Phật như vậy?” Đức Thế Tôn: “Này Vương tử, vị ấy đã cúng dường vật thí, thọ trì (năm) giới, và thực hành Uposatha.”  – Vương tử liền bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, con cũng mong muốn được trở thành người được yêu mến trong Phật Giáo giống như vị Trưởng lão này. Ngày mai, xin Ngài hãy thọ nhận vật thực cúng dường của con.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, Vương tử trở về chỗ trú ngụ của mình, chuẩn bị các lễ vật cúng dường vô cùng trọng thể trọn cả đêm để dâng cúng Khandhāvārabhatta (vật thực dâng cúng các vị Tỳ-khưu dựng trại lưu trú) suốt bảy ngày.

Sattame divase satthāraṃ vanditvā, bhante, mayā pitu santikā temāsaṃ antovassaṃ tumhākaṃ paṭijagganavaro laddho, temāsaṃ me vassāvāsaṃ adhivāsethāti. Bhagavā ‘‘atthi nu kho tattha gatena attho’’ti oloketvā ‘‘atthī’’ti disvā ‘‘suññāgāre kho, rājakumāra, tathāgatā abhiramantī’’ti āha. Kumāro ‘‘aññātaṃ bhagavā aññātaṃ sugatā’’ti vatvā ‘‘ahaṃ, bhante, purimataraṃ gantvā vihāraṃ kāremi, mayā pesite bhikkhusatasahassena saddhiṃ āgacchathā’’ti bhagavantaṃ paṭiññaṃ gāhāpetvā pitu santikaṃ gantvā ‘‘dinnā me, deva, bhagavatā paṭiññā, mayā pahite bhagavantaṃ peseyyathā’’ti vatvā pitaraṃ vanditvā nikkhamitvā yojane yojane vihāraṃ kārento vīsayojanasataṃ addhānaṃ gato. Gantvā ca attano nagare vihāraṭṭhānaṃ vicinanto sobhananāmassa kuṭumbikassa uyyānaṃ disvā satasahassena kiṇitvā satasahassaṃ vissajjetvā vihāraṃ kāresi. Tattha bhagavato gandhakuṭiṃ sesabhikkhūnañca rattiṭṭhānadivāṭṭhānatthāya kuṭileṇamaṇḍape kāretvā pākāraparikkhepaṃ dvārakoṭṭhakañca niṭṭhāpetvā pitu santikaṃ pesesi – ‘‘niṭṭhitaṃ mayhaṃ kiccaṃ, satthāraṃ pahiṇathā’’ti.

Vào ngày thứ bảy, Vương tử đảnh lễ bậc Đạo Sư và thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, con đã nhận được đặc ân là việc phục vụ Ngài trong ba tháng an cư mùa mưa từ Hoàng cung của Phụ vương. Xin Ngài hãy nhận lời cư trú mùa mưa suốt ba tháng để tiếp độ con.” – Đức Thế Tôn sau khi quán xét rằng: “Lợi ích với lời thỉnh mời này liệu có hay không?” Thấy rằng: “Có lợi ích’, rồi mới nói rằng: “Này Vương tử, các Đức Như Lai ưa thích ở ngôi nhà trống vắng.” Vương tử đáp rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, con đã hiểu! Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu!” Rồi nói rằng: “Bạch Thế Tôn, con xin phép đi trước để đôn đốc việc xây dựng Tịnh xá. Khi con sai người đến thỉnh mời, xin Ngài hãy đến cùng với một trăm ngàn vị Tỳ-khưu.” Sau khi nhận được lời hứa khả từ Đức Phật, Vương tử đã đến yết kiến Phụ Vương rồi tâu rằng: “Thưa Phụ Hoàng, Đức Thế Tôn đã ban lời hứa khả với Hoàng nhi. Khi nào Hoàng nhi sai người đến báo tin, xin Phụ Hoàng hãy đưa Đức Thế Tôn đi đến chỗ Hoàng nhi.” Sau khi đảnh lễ Phụ vương, Vương tử đã rời khỏi. Ngài cho xây dựng Tịnh xá mỗi một do-tuần trên suốt quãng đường dài hai ngàn do-tuần ấy. Sau khi về đến nơi, Vương tử đã lựa chọn địa điểm thích hợp để kiến lập Tịnh xá trong kinh thành của mình, Ngài nhận thấy khu vườn thượng uyển của trưởng giả tên là Sobhana, đã được mua với khối tài sản một ngàn đồng tiền vàng, và đã xuất thêm một trăm ngàn vàng nữa để cho kiến lập ngôi Tịnh xá tại đó. Tại đây, Ngài cho kiến lập Hương Thất dành riêng cho Đức Thế Tôn, cùng với các am thất, thạch động và lều vải để làm nơi nghỉ ngơi ban ngày và ban đêm dành cho các vị Tỳ-khưu còn lại, Ngài cũng cho xây dựng tường rào bao quanh và cổng vòm. (Sau khi mọi việc hoàn tất,) dã phái người đến yết kiến Phụ vương (tâu rằng): “Thưa Đại Vương, các phận sự của Điện hạ đã hoàn tất, xin Đại Vương hãy đưa bậc Đạo Sư đến.”

Rājā bhagavantaṃ bhojetvā ‘‘bhagavā sumanassa kiccaṃ niṭṭhitaṃ, tumhākaṃ gamanaṃ paccāsīsatī’’ti āha. Bhagavā bhikkhusatasahassaparivuto yojane yojane vihāresu vasamāno agamāsi. Kumāro ‘‘satthā āgacchatī’’ti sutvā yojanaṃ paccuggantvā gandhamālādīhi pūjayamāno vihāraṃ pavesetvā –

‘‘Satasahassena me kītaṃ, satasahassena māpitaṃ;
Sobhanaṃ nāma uyyānaṃ, paṭiggaṇha mahāmunī’’ti. – Vihāraṃ niyyādesi.

Đức vua, sau khi đã cho Đức Thế Tôn thọ dụng vật thực, rồi bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, các phận sự của Sumana nay đã hoàn tất, Hoàng nhi của Trẫm mong chờ việc đi đến của Ngài.” Vương tử, sau khi nghe được: “Bậc Đạo Sư đang đến,” đã đi ra tiếp đón cuối quãng đường một do-tuần, lễ bái với các loại hương thơm và tràng hoa, v.v, rồi đưa vào Tịnh xá, rồi dâng cúng ngôi Tịnh xá ấy như sau—

“Thưa bậc đại hiền trí, xin Ngài hãy tiếp nhận khu vườn thượng uyển mang tên Sobhana này, – nơi mà con đã mua với số tiền một trăm ngàn, (và) đã cho xây dựng (ngôi Tịnh xá) với số tiền một trăm ngàn.”

So vassūpanāyikādivase dānaṃ datvā attano puttadāre ca amacce ca pakkosāpetvā āha – ‘‘satthā amhākaṃ santikaṃ dūratova āgato, buddhā ca nāma dhammagarukā na āmisacakkhukā. Tasmā ahaṃ imaṃ temāsaṃ dve sāṭake nivāsetvā dasa sīlāni samādiyitvā idheva vasissāmi, tumhe khīṇāsavasatasahassassa imināva nīhārena temāsaṃ dānaṃ dadeyyāthā’’ti.

Vị Vương tử, vào ngày an cư mưa, sau khi cúng dường vật thí đã triệu tập vợ con và các vị quan cận thần đến rồi căn dặn rằng— “Bậc Đạo Sư đã lặn lội đường xa đến chỗ ở của chúng ta. Và theo chư Phật Giáo Pháp là quan trọng chứ tài vật không quan trọng. Vì thế, trong suốt ba tháng này, ta sẽ chỉ mặc hai tấm vải thô, thọ trì mười giới và sẽ  cư ngụ ngay tại nơi đây, các khanh nên dâng cúng vật thí cho một trăm ngàn vị Thánh tăng theo chính cách thức này trong ba tháng an cư mùa mưa.

So sumanattherassa vasanaṭṭhānasabhāgeyeva ṭhāne vasanto yaṃ thero bhagavato vattaṃ karoti, taṃ sabbaṃ disvā ‘‘imasmiṃ ṭhāne ekantavallabho esa thero, etasseva me ṭhānantaraṃ patthetuṃ vaṭṭatī’’ti cintetvā upakaṭṭhāya pavāraṇāya gāmaṃ pavisitvā sattāhaṃ mahādānaṃ datvā sattame divase bhikkhusatasahassassa pādamūle ticīvaraṃ ṭhapetvā bhagavantaṃ vanditvā, ‘‘bhante, yadetaṃ mayā sattāhaṃ khandhāvāradānato paṭṭhāya puññaṃ kataṃ, taṃ neva sakkasampattiṃ, na mārabrahmasampattiṃ patthayantena, buddhassa pana upaṭṭhākabhāvaṃ patthentena kataṃ. Tasmā ahampi bhagavā anāgate sumanatthero viya ekassa buddhassa upaṭṭhāko homī’’ti pañcapatiṭṭhitena patiṭṭhahitvā vandi. Satthā tassa anantarāyaṃ disvā byākaritvā pakkāmi. Kumāro taṃ sutvā ‘‘buddhā ca nāma advejjhakathā hontī’’ti dutiyadivase gotamabuddhassa pattacīvaraṃ gahetvā piṭṭhito piṭṭhito gacchanto viya ahosi.

Vương tử Sumana ấy trong khi cư ngụ chung chỗ trú ngụ của Trưởng lão Sumana. (tại đó) Trưởng lão thực hiện bổn phận đối với Đức Thế Tôn, sau khi nhìn thấy tất cả mọi việc đó (từ cử chỉ đến hành động) đã khởi lên ý nghĩ rằng: “Vị Trưởng lão này vô cùng thân thiết của Đức Như Lai, ta nên phát nguyện vị thế của vị ấy.” Khi gần đến ngày Pavāraṇā (lễ Tự Tứ) kết thúc mùa an cư, Hoàng tử mới đi vào làng và đã thực hiện lễ đại thí suốt bảy ngày liên tiếp. Vào ngày thứ bảy, Ngài đã đặt bộ tam y ở sát chân một trăm ngàn vị Tỳ-khưu, rồi đảnh lễ bậc Đạo Sư với năm phần thân thể chạm xuống đất và thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, những phước báo nào mà con đã tạo kể từ lúc thực hiện Khandhāvārabhatta (vật thực dâng cúng các vị Tỳ-khưu dựng trại lưu trú) đến bảy ngày, phước báo ấy con không mong cầu sự thành tựu cõi Trời, cũng không mong muốn sự thành tựu cõi Phạm Thiên. Mà con đã thực hiện với mong muốn trở thành vị thị giả của một vị Phật. Vì thế, bạch Thế Tôn vào thời vị lai con cũng sẽ là một vị thị giả của một vị Phật giống như Trưởng lão Sumana.” Bậc Đạo Sư (Padumuttara) sau khi quán xét thấy không có chướng ngại nào đối với thiện nam tử này nên đã ban lời thọ ký, rồi  trở về. Thiện nam tử sau khi nghe lời ấy, nghĩ rằng: “Thông thường chư Phật là không nói hai lời.” Vào ngày thứ hai, hoàng tử đã trở nên như thể được cầm bình bát và y phục của Đức Phật Gotama đang bước đi theo phía sau.

So tasmiṃ buddhuppāde vassasatasahassaṃ dānaṃ datvā sagge nibbattitvā kassapabuddhakāle piṇḍāya carato therassa pattaggahaṇatthaṃ uttarisāṭakaṃ datvā pūjaṃ akāsi. Puna sagge nibbattitvā tato cuto bārāṇasirājā hutvā uparipāsādavaragato gandhamādanato ākāsena āgacchante aṭṭha paccekabuddhe disvā nimantāpetvā bhojetvā attano maṅgalauyyāne tesaṃ aṭṭha paṇṇasālāyo kāretvā tesaṃ nisīdanatthāya attano nivesane aṭṭha sabbaratanamayāni pīṭhāni ceva maṇiādhārake ca paṭiyādetvā dasa vassasahassāni upaṭṭhānaṃ akāsi. Etāni pākaṭaṭṭhānāni.

Vị ấy, vào thời kỳ có Đức Phật xuất hiện ở thế gian, sau khi ban phát vật thí đã tái sanh vào cõi Trời thọ hưởng sự thành tựu suốt một trăm ngàn năm. Đến thời Đức Phật Kassapa, vị ấy đã cúng dường tấm y choàng ngoài dùng để làm vật lót bình bát cho một vị Trưởng lão đang đi trì bình khất thực, và đã thực hiện việc lễ bái. Ngài lại tiếp tục tái sanh vào cõi Trời, mệnh chung tại nơi ấy, (rồi tái sanh) trở thành Vua thành Bārāṇasī, khi bước lên lầu cao của cung điện nguy nga, Đức Vua nhìn thấy tám vị Phật Độc Giác đang đi đến bằng đường không trung từ núi Gandhamādana, sau khi cho thỉnh mời rồi đã dâng cúng vật thực. (Đức Vua) đã cho xây dựng tám gian nhà lá dành riêng cho các vị Phật Độc Giác ấy trong khu vườn Maṅgala của mình, cho trang hoàng các ghế ngồi hoàn toàn bằng châu báu, các giường được làm bằng ngọc ma-ni, cùng với các đế để (bình bát) bằng ngọc ma-ni mỗi loại tám chiếc và đã thực hiện sự phục vụ các vị ấy suốt mười ngàn năm. Những sự kiện này đều đã hiển lộ.

Kappasatasahassaṃ pana dānaṃ dadamānova amhākaṃ bodhisattena saddhiṃ tusitapure nibbattitvā tato cuto amitodanasakkassa gehe nibbatti. Athassa sabbeva ñātake ānandite pamudite karonto jātoti ānandotveva nāmaṃ akaṃsu. So anupubbena katābhinikkhamane sammāsambodhiṃ patvā paṭhamagamanena kapilavatthuṃ āgantvā tato nikkhante bhagavati bhagavato parivāratthaṃ rājakumāresu pabbajantesu bhaddiyādīhi saddhiṃ nikkhamitvā bhagavato santike pabbajitvā nacirasseva āyasmato puṇṇassa mantāṇiputtassa santike dhammakathaṃ sutvā sotāpattiphale patiṭṭhahi.

Hơn nữa, Ngài đã cúng dường vật thí đến một trăm ngàn kiếp rồi tái sanh vào cõi trời Tusita (Đâu Suất) cùng với Đức Bồ-tát của chúng ta, (đến khi hết tuổi thọ) đã từ trần từ nơi ấy, rồi sanh vào hoàng tộc Sakya, là con trai của Đức Vua Amitodana. Khi ấy, ngay từ lúc chào đời, Ngài đã mang lại niềm hoan hỷ và sự vui mừng khôn xiết cho tất cả hàng quyến thuộc; do đó, họ đã đặt tên cho Ngài là Ānanda. Trong khi Đức Thế Tôn thực hiện cuộc ra đi theo tuần tự, Ngài đã chứng đạt quả vị Chánh đẳng Chánh giác. Ngài đã trở về kinh thành Kapilavatthu với việc đến lần đầu tiên. Lúc bấy giờ, khi Đức Phật đang rời khỏi kinh thành, khi các Vương tử xuất gia để trở thành tùy tùng của Đức Thế Tôn, (thì) Đại đức Ānanda cũng xuất gia trong sự chứng minh của Đức Thế Tôn cùng với các vị Vương tử dòng Sakya có Vương tử Bhaddiya, v.v. Không lâu sau đó, sau khi lắng nghe bài giảng Pháp ở trú xứ của Trưởng lão Puṇṇa Mantānīputta, Ngài đã an trú vào quả vị Nhập lưu.

Tena kho pana samayena bhagavato paṭhamabodhiyaṃ vīsati vassāni anibaddhā upaṭṭhākā ahesuṃ. Ekadā nāgasamālo pattacīvaraṃ gahetvā vicari ekadā nāgito, ekadā upavāno, ekadā sunakkhatto, ekadā cundo samaṇuddeso , ekadā sāgato, ekadā rādho, ekadā meghiyo. Tattha ekadā bhagavā nāgasamālattherena saddhiṃ addhānamaggappaṭipanno dvedhāpathaṃ patto. Thero maggā okkamma ‘‘bhagavā ahaṃ iminā maggena gacchāmī’’ti āha. Atha naṃ bhagavā ‘‘ehi bhikkhu, iminā maggena gacchāmā’’ti āha. So ‘‘handa bhagavā tumhākaṃ pattacīvaraṃ gaṇhatha, ahaṃ iminā maggena gacchāmī’’ti vatvā pattacīvaraṃ bhūmiyaṃ ṭhapetuṃ āraddho. Atha naṃ bhagavā ‘‘āhara bhikkhū’’ti vatvā pattacīvaraṃ gahetvā gato. Tassapi bhikkhuno itarena maggena gacchato corā pattacīvarañceva hariṃsu, sīsañca bhindiṃsu. So ‘‘bhagavā idāni me paṭisaraṇaṃ, na añño’’ti cintetvā lohitena galantena bhagavato santikaṃ āgami. ‘‘Kimidaṃ bhikkhū’’ti ca vutte taṃ pavattiṃ ārocesi. Atha naṃ bhagavā ‘‘mā cinteyi bhikkhu, etassa kāraṇāyeva taṃ nivārayimhā’’ti vatvā samassāsesi.

Vào lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đã có vị thị giả không thường trực đến hai mươi năm trong giai đoạn đầu giác ngộ. Thỉnh thoảng là Trưởng lão Nāgasamāla cầm bình bát và y phục, đôi khi là Trưởng lão Nāgita, đôi khi là Trưởng lão Upavāṇa, đôi khi là Trưởng lão Sunakkhatta, đôi khi là Sa-di Cunda Samaṇuddesa, đôi khi là Trưởng lão Sāgata, đôi khi là Trưởng lão Rādha, và đôi khi là Trưởng lão Meghiya. Trong số những vị thị giả không thường trực ấy, một lần nọ Đức Thế Tôn đang đi trên con đường lớn dài cùng với Trưởng lão Nāgasamāla, khi đến con đường hai ngã vị Trưởng lão này đã tách khỏi con đường chính và thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đi theo con đường này.” Khi ấy, Đức Thế Tôn đã nói cùng vị ấy rằng: “Này Tỳ-khưu, hãy lại đây, chúng ta sẽ đi theo con đường bên này.” Trưởng lão đáp rằng: “Bạch Thế Tôn, vậy xin Ngài hãy cầm lấy bình bát và y phục của Ngài, còn con sẽ đi con đường này,” rồi bắt đầu đặt bình bát và y phục xuống mặt đất. Khi đó, Đức Thế Tôn nói rằng: “Này Tỳ-khưu, hãy đưa đây,” rồi Ngài tự mình cầm lấy y phục và bình bát rồi tiếp tục bước đi. Khi vị Tỳ-khưu ấy đi một mình theo con đường kia, bọn cướp đã cướp lấy y bát, và đánh vỡ đầu. Lúc này, vị ấy mới nghĩ rằng: “Giờ đây chỉ có Đức Thế Tôn mới là nơi nương tựa của ta, không có ai khác cả,” rồi đi đến gặp Đức Thế Tôn trong tình trạng máu đang rỉ chảy. Khi Đức Thế Tôn hỏi: “Này Tỳ-khưu, có chuyện gì vậy?” vị ấy đã kể lại diễn biến sự việc. Đức Thế Tôn đã an ủi rằng: “Này Tỳ-khưu, thôi đừng suy nghĩ nữa, Ta đã ngăn cản ông vì chính vì lý do đó.”

Ekadā pana bhagavā meghiyattherena saddhiṃ pācīnavaṃse migadāye jantugāmaṃ agamāsi. Tatrāpi meghiyo jantugāme piṇḍāya caritvā nadītīre pāsādikaṃ ambavanaṃ disvā ‘‘bhagavā tumhākaṃ pattacīvaraṃ gaṇhatha, ahaṃ tasmiṃ ambavane samaṇadhammaṃ karomī’’ti vatvā bhagavatā tikkhattuṃ nivāriyamānopi gantvā akusalavitakkehi anvāsatto paccāgantvā taṃ pavattiṃ ārocesi. Tampi bhagavā ‘‘imameva te kāraṇaṃ sallakkhetvā nivārayimhā’’ti vatvā anupubbena sāvatthiṃ agamāsi. Tattha gandhakuṭipariveṇe paññattavarabuddhāsane nisinno bhikkhusaṅghaparivuto bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhave, idānimhi mahallako, ‘ekacce bhikkhū iminā maggena gacchāmā’ti vutte aññena gacchanti, ekacce mayhaṃ pattacīvaraṃ bhūmiyaṃ nikkhipanti, mayhaṃ nibaddhupaṭṭhākaṃ ekaṃ bhikkhuṃ jānāthā’’ti. Bhikkhūnaṃ dhammasaṃvego udapādi. Athāyasmā sāriputto uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ vanditvā ‘‘ahaṃ, bhante, tumheyeva patthayamāno satasahassakappādhikaṃ asaṅkhyeyyaṃ pāramiyo pūrayiṃ, nanu mādiso mahāpañño upaṭṭhāko nāma vaṭṭati, ahaṃ upaṭṭhahissāmī’’ti āha. Taṃ bhagavā ‘‘alaṃ, sāriputta, yassaṃ disāyaṃ tvaṃ viharasi, asuññā ve sā disā, tava hi ovādo buddhānaṃ ovādasadiso, tena me tayā upaṭṭhākakiccaṃ atthī’’ti paṭikkhipi. Eteneva upāyena mahāmoggallānaṃ ādiṃ katvā asīti mahāsāvakā uṭṭhahiṃsu. Te sabbe bhagavā paṭikkhipi.

Hơn nữa, một lần nọ, Đức Thế Tôn đi đến làng Jantugāma, gần khu rừng Pācīnavaṃsa cùng với Trưởng lão Meghiya. Tại đó, Trưởng lão Meghiya đi khất thực trong làng Jantugāma, trông thấy một vườn xoài làm thích mắt ở bên bờ sông, nên mới nói rằng: “Bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy nhận lấy y phục và bình bát của Ngài. Con sẽ thực hành Sa-môn Pháp ở vườn xoài kia.” Mặc dù đã bị Đức Thế Tôn ngăn cản đến ba lần, nhưng Trưởng lão Meghiya vẫn đi, bị các bất thiện tầm chế ngự, nên đã quay về thuật lại sự việc (lên Đức Phật). Đức Thế Tôn nói với vị ấy rằng: “Này Tỳ-khưu, Ta đã quan sát được nguyên nhân này của ngươi nên mới ngăn cản,” rồi (Ngài) đi đến thành Sāvatthi theo tuần tự. Tại đó, khi Đức Thế Tôn ngồi trên Phật tọa cao quý đã được sắp đặt sẵn ở khu vực Hương Thất có Hội chúng Tỳ-khưu vây quanh, Ngài đã bảo các Tỳ-khưu rằng: “Này các Tỳ-khưu, nay Ta đã già yếu. Một số vị tỳ khưu khi ta nói rằng: ‘ta đi con theo con đường này’ thì lại đi sang con đường khác, một số đặt bình bát và y phục của ta ở trên mặt đất, các ngươi hãy chọn một vị Tỳ-khưu làm thị giả thường cận của ta.’” Các vị Tỳ-khưu khởi lên trạng thái chấn động. Khi ấy, Trưởng lão Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn (và) nói rằng – “Bạch Đức Thế Tôn, con thiết lập sự mong mỏi nơi Ngài, làm tròn đủ các ba-la-mật suốt một a-tăng-kỳ với một trăm ngàn kiếp, người có đại trí tuệ như con làm thị giả là thích hợp không phải sao? Con sẽ là thị giả.” Đức Thế Tôn đã khước từ Trưởng lão Sārīputta: “Chớ nên này Sārīputta, ngươi an trú ở phương nào, thì phương ấy hoàn toàn không trống rỗng, lời giáo huấn của ngươi tương tợ với lời giáo huấn của chư Phật, (vì thế) ngươi không cần làm bổn phận vị thị giả của Ta.” Tám mươi vị Đại-Thánh Thinh-văn đệ tử bắt đầu từ trưởng lão Mahāmoggallāna v.v, từ chỗ ngồi đứng dậy đều làm tương tự. Đức Thế Tôn đều khước từ hết tất cả.

Ānandatthero pana tuṇhīyeva nisīdi. Atha naṃ bhikkhū āhaṃsu – ‘‘āvuso ānanda, bhikkhusaṅgho upaṭṭhākaṭṭhānaṃ yācati, tvampi yācāhī’’ti. Yācitvā laddhaṭṭhānaṃ nāma, āvuso, kīdisaṃ hoti, kiṃ maṃ satthā na passati? Sace satthā rocissati, ‘‘ānando maṃ upaṭṭhahatū’’ti vakkhatīti. Atha bhagavā ‘‘na, bhikkhave, ānando aññehi ussāhetabbo, sayameva jānitvā maṃ upaṭṭhahissatī’’ti āha. Tato bhikkhū ‘‘uṭṭhehi, āvuso ānanda, uṭṭhehi, āvuso ānanda, dasabalaṃ upaṭṭhākaṭṭhānaṃ yācāhī’’ti āhaṃsu. Thero uṭṭhahitvā cattāro paṭikkhepā catasso ca āyācanāti aṭṭha vare yāci.

Còn Trưởng lão Ānanda thì chỉ ngồi thật im lặng. Khi ấy, các vị Tỳ-khưu đã nói với Trưởng lão Ānanda như vầy – “Này Hiền giả Ānanda, Hội chúng Tỳ-khưu khẩn xin vị trí thị giả, luôn cả Hiền giả cũng hãy khẩn xin.” Trưởng lão Ānanda đã nói rằng – “Này chư Hiền giả, (vị trí) mà phải khẩn cầu để có được là như thế nào? Bậc Đạo Sư không thấy ta sao? Nếu như Ngài bằng lòng thì Ngài sẽ nói: ‘Ānanda hãy làm thị giả cho Ta’.” Khi ấy, Đức Thế Tôn đã nói rằng – “Này các Tỳ-khưu, Ānanda không cần người khác động viên, (vị ấy) tự mình biết rồi phục vụ Ta (trở thành vị thị giả).” Lúc đó, các Tỳ-khưu đã nói: “Hiền giả Ānanda hãy đứng lên, hiền giả Ānanda hãy đứng lên, hãy khẩn xin vị thế thị giả cùng đấng Thập Lực.” Trưởng lão đã đứng dậy xin tám điều là bốn điều (được phép) từ khước, (và) bốn điều (được phép) yêu cầu.

Cattāro paṭikkhepā nāma – ‘‘sace me, bhante, bhagavā attanā laddhaṃ paṇītaṃ cīvaraṃ na dassati, piṇḍapātaṃ na dassati, ekagandhakuṭiyaṃ vasituṃ na dassati, nimantanaṃ gahetvā na gamissati, evāhaṃ bhagavantaṃ upaṭṭhahissāmī’’ti vatvā ‘‘kaṃ panettha, ānanda, ādīnavaṃ addasā’’ti vutte āha – ‘‘sacāhaṃ, bhante, imāni vatthūni labhissāmi, bhavissanti vattāro ‘ānando dasabalena laddhaṃ paṇītaṃ cīvaraṃ paribhuñjati, piṇḍapātaṃ paribhuñjati, ekagandhakuṭiyaṃ vasati , ekato nimantanaṃ gacchati. Etaṃ lābhaṃ labhanto tathāgataṃ upaṭṭhāti, ko evaṃ upaṭṭhahato bhāro’’’ti? Ime cattāro paṭikkhepe yāci.

Gọi là bốn điều (được phép) từ khước – “Kính bạch Đức Thế Tôn, (1) nếu Đức Thế Tôn nhận được y phục thượng hạng sẽ không ban cho Ānanda, (2) sẽ không ban cho bình bát, (3) sẽ không cho ở chung một Hương Thất, (4) sau khi (Đức Thế Tôn) nhận lời thỉnh mời (Ānanda) sẽ không đi cùng. – Trong khi Đức Thế Tôn nói rằng: “Này Ānanda, ngươi thấy lỗi lầm gì?” – “Kích bạch Ngài, nếu con sẽ được nhận những thứ này, (lúc đó) có người sẽ phê phán con rằng – “Ānanda sử dụng y phục thượng hạng mà đấng Thập Lực đã nhận được, thọ dụng vật thực khất thực, ở cùng trong một Hương Thất, đi chung đến nơi thỉnh mời (nơi chỉ thỉnh mời riêng đức Phật), khi nhận được lợi đắc này mới săn sóc Như Lai, một vị thị giả như vậy (thì) có trọng trách gì? Trưởng lão Ānanda đã xin bốn điều từ khước như thế.

Catasso āyācanā nāma – ‘‘sace, bhante, bhagavā mayā gahitanimantanaṃ gamissati, sacāhaṃ tiroraṭṭhā tirojanapadā bhagavantaṃ daṭṭhuṃ āgataṃ parisaṃ āgatakkhaṇeyeva bhagavantaṃ dassetuṃ lacchāmi, yadā me kaṅkhā uppajjati, tasmiṃyeva khaṇe bhagavantaṃ upasaṅkamituṃ lacchāmi, tathā yaṃ bhagavā mayhaṃ parammukhe dhammaṃ deseti, taṃ āgantvā mayhaṃ kathessati, evāhaṃ bhagavantaṃ upaṭṭhahissāmī’’ti vatvā ‘‘kaṃ panettha, ānanda, ānisaṃsaṃ passasī’’ti vutte āha – ‘‘idha, bhante, saddhā kulaputtā bhagavato okāsaṃ alabhantā maṃ evaṃ vadanti ‘sve, bhante ānanda, bhagavatā saddhiṃ amhākaṃ ghare bhikkhaṃ gaṇheyyāthā’ti. Sace bhagavā tattha na gamissati, icchiticchitakkhaṇeyeva parisaṃ dassetuṃ, kaṅkhañca vinodetuṃ okāsaṃ na lacchāmi, bhavissanti vattāro ‘kiṃ ānando dasabalaṃ upaṭṭhāti . Ettakampissa bhagavā anuggahaṃ na karotī’ti. Bhagavato ca parammukhā maṃ pucchissanti ‘ayaṃ, āvuso ānanda, gāthā, idaṃ suttaṃ, idaṃ jātakaṃ kattha desita’nti. Sacāhaṃ taṃ na sampādayissāmi, bhavissanti vattāro – ‘ettakampi, āvuso, na jānāsi, kasmā tvaṃ chāyā viya bhagavantaṃ avijahanto dīgharattaṃ vicarasī’ti. Tenāhaṃ parammukhā desitassapi dhammassa puna kathanaṃ icchāmī’’ti. Imā catasso āyācanā yāci. Bhagavāpissa adāsi.

Gọi là bốn điều (được phép) yêu cầu – “Kính bạch Đức Thế Tôn, (1) nếu được xin Đức Thế Tôn sẽ đi đến nơi mà con đã nhận lời thỉnh mời, (2) nếu được con sẽ đến gặp Đức Thế Tôn trong lúc Hội chúng đến từ vương quốc khác, từ xứ sở khác khi đến yết kiến Đức Thế Tôn, (3) lúc nào sự nghi ngờ khởi lên nơi con, lúc ấy con sẽ được phép đến yết kiến Đức Thế Tôn, (4) Khi Thế Tôn thuyết pháp ở đâu không có mặt con, sau khi ngài trở về sẽ thuyết giảng lại Pháp đó cho con, với tám điều như vậy con sẽ săn sóc Đức Thế Tôn.” Khi Đức Thế Tôn hỏi rằng: “Hơn nữa, ở đây Ānanda thấy được lợi ích gì?” –  vị ấy đáp rằng: “Kính bạch Đức Thế Tôn, các thiện nam tử có đức tin trong Giáo Pháp này, khi không có được cơ hội của Đức Thế Tôn, đã nói cùng con như vầy rằng: ‘Thưa ngài Ānanda, hãy nhận lời thọ thực nơi tư gia của chúng tôi cùng với Đức Thế Tôn vào ngày mai’, thưa Ngài nếu như đức Thế Tôn sẽ không đi đến nơi ấy, tôi sẽ không có cơ hội để giải thích cùng hội chúng vào lúc họ mong muốn và để xóa tan sự nghi ngờ, sẽ có người nói rằng: ‘Chuyện gì vậy ngài Ānanda, vị hầu cận đấng Thập Lực chỉ chừng ấy, Đức Thế Tôn cũng không trợ giúp cho ngài Ānanda.” Và mọi người sẽ hỏi tôi ở sau lưng Đức Thế Tôn rằng – ‘Thưa ngài Ānanda, Đức Thế Tôn thuyết giảng kệ ngôn này, bài Kinh này, Bổn Sanh này ở đâu? Nếu như Ngài sẽ giải thích điều ấy không được, sẽ có người nói rằng: ‘Chỉ chừng ấy, Ngài cũng không biết, Ngài không rời khỏi Đức Thế Tôn như bóng (không rời hình) trong suốt thời gian dài, do lý do gì? Vì lý do ấy con muốn nói lại Giáo Pháp luôn cả Pháp đã được ngài thuyết giảng gián tiếp (cho con) thêm lần nữa. Ngài Ānanda xin yêu cầu bốn điều này. Đức Thế Tôn cũng đã ban cho Ngài Ānanda (tám điều ấy).

Evaṃ ime aṭṭha vare gahetvā nibaddhupaṭṭhāko ahosi. Tasseva ṭhānantarassa atthāya kappasatasahassaṃ pūritānaṃ pāramīnaṃ phalaṃ pāpuṇi. So upaṭṭhākaṭṭhānaṃ laddhadivasato paṭṭhāya dasabalassa duvidhena udakena tividhena dantakaṭṭhena hatthapādaparikammena piṭṭhiparikammena gandhakuṭipariveṇaṃ sammajjanenāti evamādīhi kiccehi upaṭṭhahanto ‘‘imāya nāma velāya satthu imaṃ nāma laddhuṃ vaṭṭati, idaṃ nāma kātuṃ vaṭṭatī’’ti divasabhāgaṃ santikāvacaro hutvā rattibhāgasamanantare daṇḍadīpikaṃ gahetvā ekarattiṃ gandhakuṭipariveṇaṃ nava vāre anupariyāyati. Evañhissa ahosi – ‘‘sace me thinamiddhaṃ okkameyya, dasabale pakkosante paṭivacanaṃ dātuṃ na sakkuṇeyya’’nti. Tasmā sabbarattiṃ daṇḍadīpikaṃ hatthena na muñcati. Idamettakaṃ vatthu. Aparabhāge pana satthā jetavane viharanto anekapariyāyena dhammabhaṇḍāgārikaānandattherassa vaṇṇaṃ kathetvā theraṃ imasmiṃ sāsane bahussutānaṃ satimantānaṃ gatimantānaṃ dhitimantānaṃ upaṭṭhākānañca bhikkhūnaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Sau khi nhận tám điều cao quý như vậy, Trưởng lão Ānanda đã trở thành vị thị giả thường cận. Kết quả của các ba-la-mật được thực hành suốt một trăm ngàn kiếp đã đến Ngài, vị thiết lập vào chính vị thế đó. Kể từ ngày đạt được vị thế vị thị giả, Ngài đã tận tâm phục vụ đấng Thập Lực với các phận sự như sau: dâng hai loại nước (nước uống và nước rửa), với ba loại tăm xỉa răng, với việc xoa bóp tay chân, với việc xoa bóp lưng và quét dọn khu vực Hương Thất, (Ngài) nghĩ rằng: “Thời gian này bậc Đạo Sư nên nhận việc này, Ta nên làm việc này,” Ngài có sự sinh hoạt kề cận vào ban ngày; thời điểm kế tiếp ngay sau khi đêm bắt đầu Ngài cầm một cây đèn dầu lớn, đi ki quanh khu vực Hương Thất một đêm chín lần. Hơn nữa, Ngài luôn suy nghĩ như vầy: “Nếu như ta rơi vào trạng thái lờ đờ buồn ngủ, ta sẽ không thể trả lời khi đấng Thập Lực gọi.” Do đó, Ngài không bao giờ để chiếc đèn rời khỏi tay suốt cả đêm. Trong vấn đề, có câu chuyện như đã kể. Về sau, trong khi Đức Thế Tôn an trú tại Tịnh xá Jetavana, Ngài đã tán thán Trưởng lão Ānanda – vị thủ kho Pháp bảo bằng nhiều phương thức khác nhau, Ngài đã thiết lập Trưởng lão vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu là bậc đa văn, có sự ghi nhớ, có sự lãnh hội nhanh chóng, có sự kiên trì và là vị thị giả của Đức Phật trong Giáo Pháp này.

Câu chuyện về Trưởng lão Uruvelakassapa

  1. Dutiye mahāparisānanti mahāparivārānaṃ uruvelakassapo aggoti dasseti. Aññesañhi therānaṃ kañci kālaṃ parivāro mahā hoti kañci kālaṃ appo, imassa pana therassa dvīhi bhātikehi saddhiṃ ekaṃ samaṇasahassaṃ nibaddhaparivārova ahosi. Tesu ekekasmiṃ ekekaṃ pabbājente dve samaṇasahassāni honti, dve dve pabbājente tīṇi sahassāni honti. Tasmā so mahāparivārānaṃ aggo nāma jāto. Kassapoti panassa gottaṃ. Uruvelāyaṃ pabbajitattā uruvelakassapoti paññāyittha.
    Trong bài Kinh thứ hai, vị có tùy tùng đông đúc: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng Trưởng lão Uruvela Kassapa là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có tùy tùng đông đúc. Thật vậy, các vị Trưởng lão khác, có lúc có nhiều tùy tùng, và cũng có lúc có ít tùy tùng; còn vị Trưởng lão này cùng với hai người em trai đã luôn có một đoàn tùy tùng (đông đúc) lên đến một ngàn vị Sa-môn. Trong số ba anh em vị đạo sĩ bện tóc ấy, khi một vị cho xuất gia một vị cũng sẽ có hai ngàn vị Sa-môn; khi một vị cho xuất gia hai vị cũng sẽ có ba ngàn vị Sa-môn. Chính vì lý do đó, Trưởng lão Uruvela Kassapa được gọi là bậc tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có tùy tùng đông đúc. Hơn nữa, Kassapa là họ của Ngài. Ngài được nhận biết là Uruvela Kassapa do Ngài xuất gia ở Uruvelā (thị trấn Senānigama).

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe paṭisandhiṃ gahetvā vayappatto satthu dhammakathaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ mahāparisānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā ‘‘mayāpi anāgate evarūpena bhavituṃ vaṭṭatī’’ti sattāhaṃ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa mahādānaṃ datvā ticīvarena acchādetvā satthāraṃ vanditvā mahāparisānaṃ aggabhāvatthaṃ patthanaṃ akāsi. Satthā anantarāyaṃ disvā anāgate gotamabuddhassa sāsane mahāparisānaṃ aggo bhavissatī’’ti byākaritvā pakkāmi.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Thật vậy, vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, Trưởng lão Uruvela Kassapa này tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī. Đến tuổi trưởng thành, khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có tùy tùng đông đảo, nghĩ rằng: “Ngay cả ta cũng sẽ trở thành như vị Tỳ-khưu này vào ngày vị lai,” nên đã thực hiện lễ đại thí đến Hội chúng Tỳ-khưu có Đức Phật đứng đầu suốt bảy ngày liên tiếp, đã dâng ba y, đảnh lễ bậc Đạo Sư rồi thực hiện phát nguyện vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có tùy tùng đông đúc. Bậc Đạo Sư quán xét thấy không có chướng ngại, mới thọ ký rằng: “Người sẽ trở thành vị tối thắng trong số các Tỳ-khưu có tùy tùng đông đúc trong Giáo Pháp của Đức Phật Gotama vào thời vị lai,” rồi ra đi.

Sopi kulaputto yāvajīvaṃ kalyāṇakammaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto ito dvenavutikappamatthake phussabuddhassa vemātikakaniṭṭhabhātā hutvā nibbatto, pitā mahindarājā nāma. Apare panassa dve kaniṭṭhabhātaro ahesuṃ. Evaṃ te tayo bhātaro visuṃ visuṃ ṭhānantaraṃ labhiṃsu. Te heṭṭhā vuttanayeneva kupitaṃ paccantaṃ vūpasametvā pitu santikā varaṃ labhitvā ‘‘temāsaṃ dasabalaṃ paṭijaggissāmā’’ti varaṃ gaṇhiṃsu. Atha nesaṃ etadahosi – ‘‘amhehi dasabalaṃ paṭijaggantehi anucchavikaṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti ekaṃ amaccaṃ uppādakaṭṭhāne ṭhapetvā ekaṃ āyavayajānanakaṃ katvā ekaṃ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa parivesakaṭṭhāne ṭhapetvā attanā dasa sīlāni samādāya temāsaṃ sikkhāpadāni rakkhiṃsu. Te tayo amaccā heṭṭhā vuttanayeneva imasmiṃ buddhuppāde bimbisāravisākharaṭṭhapālā jātā.

Vị thiện nam tử ấy, sau khi đã làm các nghiệp thiện lành cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, chín mươi hai kiếp từ đây tính về trước, vị ấy hạ sanh làm người em út khác mẹ của Đức Phật Phussa, còn Phụ vương của Ngài là Đức Vua Mahinda. Ngài còn có hai người anh em khác nữa. Cả ba anh em đều nhận được tước vị riêng biệt như vậy. Họ đã cùng nhau dẹp tan cuộc bạo loạn ở vùng biên địa theo cách thức đã được đề cập trước đây. Sau khi nhận được đặc ân trong sự hiện diện của Phụ vương, cả ba đã thỉnh cầu rằng: “Tâu Phụ hoàng, chúng thần sẽ phục vụ đấng Thập Lực trong ba tháng an cư mùa mưa.” Khi ấy, ba anh em đã khởi ý điều này: “Việc chúng ta phục vụ đấng Thập Lực cần phải được làm cho phù hợp,” nên mới bổ nhiệm một vị quan cận thần phụ trách việc ngân sách, bổ nhiệm một vị phụ trách việc chi tiêu, và một vị phụ trách việc dọn bữa ăn cho Hội chúng Tỳ-khưu có Đức Phật đứng đầu, còn ba anh em họ thì tự mình thọ trì mười giới và giữ gìn các điều học suốt ba tháng an cư mùa hạ. Ba vị quan cận thần ấy, đã tái sanh thành vua Bimbisāra, cư sĩ Visākha và Trưởng lão Raṭṭhapāla vào thời kỳ Đức Phật hiện khởi này như cách thức đã được đề cập ở các phần trước.

Te pana rājakumārā vutthavasse dasabale sahatthā buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ paccayapūjāya pūjetvā yāvajīvaṃ kalyāṇakammaṃ katvā amhākaṃ dasabalassa nibbattito puretarameva brāhamaṇakule nibbattitvā attano gottavasena tayopi janā kassapā eva nāma jātā. Te vayappattā tayo vede uggaṇhiṃsu. Tesaṃ jeṭṭhabhātikassa pañca māṇavakasatāni parivāro ahosi, majjhimassa tīṇi, kaniṭṭhassa dve. Te attano ganthe sāraṃ olokentā diṭṭhadhammikameva passiṃsu, na samparāyikaṃ. Atha nesaṃ jeṭṭhabhātā attano parivārena saddhiṃ uruvelaṃ gantvā isipabbajjaṃ pabbajitvā uruvelakassapo nāma jāto, mahāgaṅgānadīvaṅke pabbajito nadīkassapo nāma jāto, gayāsīse pabbajito gayākassapo nāma jāto.

Về phía các vị Vương tử ấy, khi Đức Thập Lực an cư kiết hạ, đã lễ bái Hội chúng Tỳ-khưu có đức Phật đứng đầu với việc tự tay dâng cúng các món vật dụng (tứ vật dụng), thực hiện các nghiệp thiện lành cho đến hết cuộc đời. (Sau khi mệnh chung ở tại đó) họ đã tái sanh vào một gia đình Bà-la-môn trước khi Đức Thập Lực của chúng ta (Đức Phật Gotama) xuất hiện, có tên là Kassapa. Cả ba anh em đều theo họ tộc của mình. Khi đến tuổi trưởng thành, họ đã học tập ba kiến thức Vệ-đà. Người anh cả có năm trăm thanh niên Bà-la-môn là tùy tùng, người anh thứ có ba trăm, và người em út có hai trăm. Ba anh em xem xét cốt lõi trong ba kiến thức Về-đà ấy, họ chỉ thấy được lợi ích ở hiện tại, chớ không thấy được lợi ích ở đời sau. Vì thế, người anh cả sau khi đi đến Uruvelā, cùng với các tùy tùng của mình đã xuất gia theo đời sống xuất gia của vị ẩn sĩ, được gọi tên là Uruvela Kassapa. Người anh thứ đã xuất gia tại khúc quanh hiểm trở của dòng sông Gaṅgā vĩ đại, được gọi là Nadī Kassapa. Người em út đã xuất gia ở đỉnh núi Gayā (tại làng Gayā), được gọi là Gayā Kassapa.

Evaṃ tesu isipabbajjaṃ pabbajitvā tattha vasantesu bahūnaṃ divasānaṃ accayena amhākaṃ bodhisatto mahābhinikkhamanaṃ nikkhamitvā paṭividdhasabbaññutaññāṇo anukkamena dhammacakkaṃ pavattetvā pañcavaggiye there arahatte patiṭṭhāpetvā yasadārakappamukhe pañcapaññāsa sahāyakepi vinetvā saṭṭhi arahante ‘‘caratha, bhikkhave, cārika’’nti bahujanahitāya cārikaṃ pesetvā bhaddavaggiye vinetvā uruvelakassapassa hetuṃ disvā ‘‘mayi gate tayo bhātikā saparivārā arahattaṃ pāpuṇissantī’’ti ñatvā ekako adutiyo uruvelakassapassa vasanaṭṭhānaṃ gantvā vasanatthāya agyāgāraṃ yācitvā tattha kataṃ nāgadamanaṃ ādiṃ katvā aḍḍhuḍḍhasahassehi pāṭihāriyehi uruvelakassapaṃ saparivāraṃ vinetvā pabbājesi. Tassa pabbajitabhāvaṃ ñatvā itarepi dve bhātaro saparivārā āgantvā pabbajiṃsu, sabbepi ehibhikkhū iddhimayapattacīvaradharā ahesuṃ.

Sau khi ba anh em Kassapa xuất gia làm ẩn sĩ như vậy, an trú ở tại nơi ấy trải qua nhiều ngày, (thì) Đức Bồ-tát của chúng ta đã thực hiện cuộc ra đi vĩ đại, đã thấu triệt Trí Toàn Tri, đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp theo tuần tự, đã làm cho nhóm năm vị Trưởng lão an trú vào phẩm vị A-ra-hán, đã hướng dẫn năm mươi lăm người bạn có thiện nam tử Yasa dẫn đầu, đã phái sáu mươi vị A-ra-hán đầu tiên đi hoằng khai Giáo Pháp vì sự lợi ích cho nhiều người với lời dạy rằng: “Này các Tỳ-khưu, hãy cất bước du hành…” Tiếp đó, (Ngài) đã hướng dẫn nhóm Vương tử Bhadda; sau khi nhìn thấy nhân duyên của Uruvela Kassapa, đã biết được rằng: “Khi Ta đi, cả ba anh em cùng với toàn bộ tùy tùng của họ sẽ đạt được phẩm vị A-ra-hán.” Vì vậy, một mình không có người đồng hành, Ngài đã tìm đến trú xứ của Uruvela Kassapa. Tại đây, Ngài xin được vào ngôi nhà thờ lửa để cư trú. Đức Thế Tôn đã hướng dẫn Uruvela Kassapa cùng với các tùy tùng, bắt đầu từ việc khuất phục con rồng trong ngôi nhà thờ lửa đó cùng với ba ngàn năm trăm pháp thần thông, rồi đã cho họ xuất gia. Khi hai người em trai biết rằng: “Người anh đã xuất gia,” cũng đã đến cùng với tùy tùng xin xuất gia, toàn bộ các đạo sĩ bện tóc ấy (đều được tu lên bậc trên theo hình thức) “Hãy đến đây, này các Tỳ-khưu,” có y phục và bình bát được thành tựu bằng thần thông.

Satthā taṃ samaṇasahassaṃ ādāya gayāsīsaṃ gantvā piṭṭhipāsāṇe nisinno ‘‘kathaṃrūpā nu kho etesaṃ dhammadesanā sappāyā’’ti olokento ‘‘ime aggiṃ paricarantā vicariṃsu, imesaṃ tayo bhave ādittāgārasadise katvā dassetuṃ vaṭṭatī’’ti ādittapariyāyasuttaṃ (mahāva. 54) desesi. Desanāpariyosāne sabbeva arahattaṃ pattā. Satthā tehi parivuto pubbe bimbisārarañño dinnapaṭiññattā rājagahanagare laṭṭhivanuyyānaṃ agamāsi. Rājā dasabalassa āgatabhāvaṃ sutvā dvādasanahutehi brāhmaṇagahapatikehi saddhiṃ satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ nisīdi. Satthā sabbāvantaṃ parisaṃ oloketvā mahājanaṃ uruvelakassapassa nipaccakāraṃ karontaṃ disvā ‘‘ime mayhaṃ vā kassapassa vā mahantabhāvaṃ na jānanti, savitakkā ca nāma desanaṃ sampaṭicchituṃ na sakkontī’’ti cintetvā, ‘‘kassapa, tuyhaṃ upaṭṭhākānaṃ vitakkaṃ chindā’’ti therassa saññaṃ adāsi. Thero satthu vacanaṃ sampaṭicchitvā uṭṭhāyāsanā satthāraṃ pañcapatiṭṭhitena vanditvā tālappamāṇaṃ ākāsaṃ uppatitvā iddhivikubbanaṃ dassetvā ‘‘satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmi, satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmī’’ti vatvā oruyha dasabalassa pāde vandi. Etenupāyena sattame vāre sattatālappamāṇaṃ ākāsaṃ abbhuggantvā puna āgantvā dasabalassa pāde vanditvā ekamantaṃ nisīdi.

Bậc Đạo Sư đưa một ngàn vị Sa-môn ấy đến đỉnh núi Gayā rồi ngồi trên một tảng đá lớn, quán xét rằng: “Sự chỉ bảo về Pháp nào là phù hợp đối với các vị này?” Biết được: “Những người này vốn thờ phụng thần lửa, Ta nên thuyết giảng về ba cõi (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) như thể một ngôi nhà đang bị lửa thiêu rụi cho họ.” Vì thế, Ngài đã thuyết giảng bài kinh Ādittapariyāya (Kinh Bị Cháy Rực). Khi bài thuyết giảng chấm dứt, toàn bộ một ngàn vị ấy đều đã đạt được phẩm vị A-ra-hán. Bậc Đạo Sư có các Tỳ-khưu (vốn là đạo sĩ bện tóc) ấy vây quanh, nhớ lại lời hứa xưa kia với Vua Bimbisāra, nên Ngài đã lần lượt đi đến vườn hoa Laṭṭhivana tại kinh thành Rājagaha. Đức Vua sau khi nghe được việc đi đến của đấng Thập Lực, Ngài đã đến yết kiến bậc Đạo Sư cùng với một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn quán sát toàn thể Hội chúng, thấy rằng đám đông người vẫn thực hiện sự tôn kính đối với Uruvela Kassapa, nên đã suy nghĩ rằng: “Những người này không biết đến sự vĩ đại (giữa) Ta hay Kassapa. Những người này là có suy tầm, không thể tiếp thu sự chỉ bảo (Giáo Pháp).” Do đó, Ngài đã ra dấu hiệu cho Trưởng lão: “Này Kassapa, ông hãy cắt đứt suy tầm của những người hộ độ ông.” Trưởng lão, sau khi tiếp nhận lời nói của bậc Đạo Sư, đã đứng dậy từ chỗ ngồi, rồi đảnh lễ bậc Đạo Sư với năm phần thân thể chạm xuống đất (ngũ thể đầu địa). Sau đó, Ngài dùng thần thông bay lên không trung cảo khoảng một thân cây thốt nốt, thi triển các loại thần thông khác nhau và tuyên bố rằng: “Bạch Ngài, Đức Thế Tôn chính là bậc Đạo Sư của con, và con là vị Thinh văn đệ tử! Bạch Thế Tôn, Ngài chính là bậc Đạo Sư của con, và con là vị Thinh văn đệ tử!” Rồi hạ xuống đảnh lễ dưới đôi chân của đấng Thập Lực. Với phương thức ấy, đến lần thứ bảy, Ngài bay lên không trung cao tới bảy thân cây thốt nốt, đã hạ xuống đảnh lễ dưới đôi chân của đấng Thập Lực thêm lần nữa rồi ngồi xuống một bên.

Tasmiṃ kāle mahājano ‘‘ayaṃ loke mahāsamaṇo’’ti satthari nibbitakko jāto, athassa satthā dhammaṃ desesi. Desanāpariyosāne rājā ekādasanahutehi brāhmaṇagahapatikehi saddhiṃ sotāpattiphale patiṭṭhito, ekanahutaṃ upāsakattaṃ paṭivedesi. Tepi uruvelakassapassa parivārā sahassamattā bhikkhū attano āsevanavasena cintesuṃ – ‘‘amhākaṃ pabbajitakiccaṃ matthakaṃ pattaṃ, bahi gantvā kiṃ karissāmā’’ti uruvelakassapattheraṃyeva parivāretvā vicariṃsu. Tesu ekekasmiṃ ekekaṃ nissitakaṃ gaṇhante dve sahassāni honti, dve dve gaṇhante tīṇi sahassāni honti. Tato paṭṭhāya yattakā tesaṃ nissitakā, tattake kathetuṃ vaṭṭatīti. Idamettha vatthu. Aparabhāge pana satthā jetavane viharanto theraṃ mahāparisānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Vào thời điểm đó, đám đông dân chúng hết mọi suy tầm đối với bậc Đạo Sư rằng: “Đây chính là vị Đại Sa-môn của thế gian.” Sau đó, bậc Đạo Sư đã thuyết giảng Giáo Pháp. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, Đức Vua cùng với một trăm mười ngàn vị Bà-la-môn và gia chủ đã đắc chứng quả vị Nhập Lưu; còn mười ngàn vị còn lại đã tuyên bố bản thân là người cư sĩ. Một ngàn vị Tỳ-khưu vốn là tùy tùng của các Uruvela Kassapa ấy, suy nghĩ do sự thân cận của bản thân rằng— “Phận sự xuất gia của chúng ta đã đạt đến cứu cánh (mục đích cuối cùng), chúng ta còn đi ra ngoài để làm gì nữa?” Vì vậy, họ chỉ đi theo vây quanh Trưởng lão Uruvela Kassapa. Trong số những vị Tỳ-khưu ấy, khi mỗi vị thu nhận thêm một môn đệ thì tập thể (của mỗi vị) sẽ là hai ngàn; khi mỗi vị thu nhận hai người thì (tập thể của mỗi vị) sẽ là ba ngàn. Kể từ đó trở đi, dù môn đệ của các vị Trưởng lão ấy có chừng nào, thì sẽ nói đến chừng ấy. Trong câu chuyện này chỉ có bấy nhiêu. Về sau, trong khi an trú tại Tịnh xá Jetavana, bậc Đạo Sư đã thiết lập vị Trưởng lão vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có tùy tùng đông đúc.

Câu chuyện về Trưởng lão Kāḷudāyī

  1. Tatiye kulappasādakānanti kulaṃ pasādentānaṃ. Ayaṃ hi thero adiṭṭhabuddhadassanaṃyeva suddhodanamahārājassa nivesanaṃ pasādesi, tasmā kulappasādakānaṃ aggo nāma jāto.
    Trong bài Kinh thứ ba, vị làm cho các gia đình tịnh tín: người làm cho các gia đình khởi lên niềm tịnh tín. Thật vậy, vị Trưởng lão này đã khiến cho toàn bộ hoàng cung của Đại Vương Suddhodana — những người chưa từng gặp Đức Phật được tịnh tín. Chính vì lý do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu làm cho các gia đình tịnh tín.

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe nibbatto satthu dhammadesanaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ kulappasādakānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto amhākaṃ bodhisattassa mātukucchiyaṃ paṭisandhiggahaṇadivase kapilavatthusmiṃyeva amaccagehe paṭisandhiṃ gaṇhi. Jātadivase bodhisattena saddhiṃyeva jātoti taṃdivasaṃyeva taṃ dukūlacumbuṭake nipajjāpetvā bodhisattassa upaṭṭhānatthāya nayiṃsu. Bodhisattena hi saddhiṃ bodhirukkho rāhulamātā catasso nidhikumbhiyo ārohaniyahatthī kaṇḍako channo kāḷudāyīti ime satta ekadivase jātattā sahajātā nāma ahesuṃ. Athassa nāmaggahaṇadivase sakalanagarassa udaggacittadivase jātoti udāyītveva nāmaṃ akaṃsu. Thokaṃ kāḷadhātukattā pana kāḷudāyī nāma jāto. So bodhisattena saddhiṃ kumārakīḷaṃ kīḷanto vuddhiṃ agamāsi.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, vị Trưởng lão này tái sanh trong một gia đình danh giá tại thành phố Haṃsavatī. Khi đang nghe Đức Thế Tôn chỉ bảo về Giáo Pháp, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu làm cho các gia đình tịnh tín, (vị ấy) đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện (đạt được) vị thế đó (trong ngày tương lai). Vị ấy, sau khi thực hiện các thiện nghiệp cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, đã tái sanh vào gia đình của một viên quan đại thần tại kinh thành Kapilavatthu đúng vào ngày mà Đức Bồ-tát của chúng ta giáng sanh vào bụng người mẹ. Vào ngày hạ sanh thì vị ấy cũng được sanh cùng ngày với Đức Bồ-tát. Chính vào ngày hôm đó, các thân quyến đã đặt cậu nằm trong tấm vải bông thật mịn rồi đưa vào cung để hiến dâng làm người hầu cận cho Đức Bồ-tát. Cây Bồ-đề, mẫu thân của Rāhula (Công chúa Yasodharā), bốn hầm kho báu, voi báu, ngựa Kanthaka, xa phu Channa và viên quan đại thần Kāḷudāyī — bảy điều này được gọi là Satta Sahajāta (tức là bảy người và vật sanh cùng lúc với Đức Bồ-tát) bởi vì tất cả đều sanh ra cùng ngày với Đức Bồ-tát. Vào ngày đặt tên cho đứa trẻ ấy, họ đã đặt tên cho cậu là Udāyī, bởi vì cậu sanh ra vào ngày dân chúng khắp kinh thành đều có tâm tràn ngập niềm hoan hỷ. Tuy nhiên, vì cậu có nước da hơi đen (sậm màu), nên sau này mới có cái tên là Kāḷudāyī. Kāḷudāyī đã chơi đùa trò chơi của những đứa bé cùng với Đức Bồ-tát cho đến khi trưởng thành.

Aparabhāge bodhisatto mahābhinikkhamanaṃ nikkhamitvā anukkamena sabbaññutaṃ patvā pavattitavaradhammacakko lokānuggahaṃ karonto rājagahaṃ upanissāya viharati. Tasmiṃ samaye suddhodanamahārājā ‘‘siddhatthakumāro abhisambodhiṃ patvā rājagahaṃ upanissāya veḷuvane viharatī’’ti sutvā purisasahassaparivāraṃ ekaṃ amaccaṃ ‘‘puttaṃ me idha ānehī’’ti pesesi. So saṭṭhiyojanamaggaṃ gantvā dasabalassa catuparisamajjhe nisīditvā dhammadesanāvelāya vihāraṃ pāvisi. So ‘‘tiṭṭhatu tāva raññā pahitasāsana’’nti parisapariyante ṭhito satthu dhammadesanaṃ sutvā yathāṭhitova saddhiṃ purisasahassehi arahattaṃ pāpuṇi. Atha nesaṃ satthā ‘‘etha bhikkhavo’’ti hatthaṃ pasāresi, sabbe taṃkhaṇaṃyeva iddhimayapattacīvaradharā vassasaṭṭhikattherā viya ahesuṃ. Arahattaṃ pattakālato paṭṭhāya pana ariyā nāma majjhattāva hontīti raññā pahitasāsanaṃ dasabalassa na kathesi. Rājā ‘‘neva gato āgacchati, na sāsanaṃ suyyatī’’ti ‘‘ehi, tāta, tvaṃ gacchā’’ti teneva niyāmena aññaṃ amaccaṃ pesesi. Sopi gantvā purimanayeneva saddhiṃ parisāya arahattaṃ patvā tuṇhī ahosi. Evaṃ navahi amaccehi saddhiṃ nava purisasahassāni pesesi. Sabbe attano kiccaṃ niṭṭhāpetvā tuṇhī ahesuṃ.

Sau đó, vị Bồ-tát đã thực hiện cuộc ra đi vĩ đại, đạt được trạng thái Toàn Tri theo tuần tự, vận chuyển bánh xe Pháp cao quý, thực hiện sự trợ giúp thế gian, và sống nương tựa tại kinh thành Rājagaha. Vào lúc bấy giờ, Đại Vương Suddhodana nghe rằng: “Thái tử Siddhattha đã đạt được đạo quả vị vô thượng Toàn Giác, đang ngự tại Tịnh xá Veḷuvana, gần thành Rājagaha,” Đức vua đã phái một vị đại thần có một ngàn người làm tùy tùng cùng với mệnh lệnh rằng: “Khanh hãy đưa Thái tử con trai của Trẫm về đây.” Viên đại thần đó đã đi quãng đường dài sáu mươi do-tuần để đến Tịnh xá đúng vào lúc đấng Thập Lực đang ngồi giữa bốn Hội chúng để thuyết giảng Giáo Pháp. Vị ấy nghĩ rằng: “Chiếu thư mà Đức Vua giao phó hãy tạm gác lại,” rồi đứng phía sau Hội chúng để lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, Ngay tại chỗ đứng đó, viên đại thần đã đạt được quả vị A-ra-hán cùng với một ngàn người tùy tùng. Khi ấy, bậc Đạo Sư đã duỗi tay về phía viên quan đại thần và một ngàn người tùy tùng ấy và nói rằng: “Hãy đến đây, này các Tỳ-khưu.” Ngay chính vào thời điểm ấy, tất cả đều (mặc) y phục và (mang) bình bát đầy đủ nhờ vào năng lực thần thông, đã trở nên giống như những vị Trưởng lão có trăm tuổi hạ. Kể từ lúc đạt được bản thể A-ra-hán, vốn dĩ các bậc Thánh nhân là vị trú tâm quân bình, do đó viên quan đại thần ấy đã không đưa chiếu thư mà Đức Vua gửi đến đấng Thập Lực. Đức Vua nghĩ rằng: “Viên quan đại thần không những đi không trở về, mà cả một chút tin tức cũng không nghe thấy.” Vì vậy, Đức Vua lại tiếp tục phái các viên đại thần khác đi theo đúng cách thức như trước rằng: “Hãy đến đây các khanh, các khanh hãy đi.” Cả các viên quan đại thần ấy, sau khi đi cũng đã đạt được quả vị A-ra-hán cùng với đoàn tùy tùng theo cách thức trước đó, rồi cũng đã im lặng. Cứ như thế, Đức Vua đã phái tổng cộng chín ngàn người cùng với chín viên quan đại thần; tất cả bọn họ, sau khi hoàn thành phận sự (cần phải làm của bậc xuất gia), đều đã im lặng.

Atha rājā cintesi – ‘‘ettakā janā mayi sinehābhāvena dasabalassa idhāgamanatthāya na kiñci kathayiṃsu, aññe gantvāpi dasabalaṃ ānetuṃ na sakkhissanti. Mayhaṃ kho pana putto udāyī dasabalena saddhiṃ ekavayo sahapaṃsukīḷiko, mayi cassa sineho atthī’’ti kāḷudāyiṃ pakkosāpetvā, ‘‘tāta, purisasahassaparivāro gantvā dasabalaṃ ānehī’’ti āha. Paṭhamaṃ gatapurisā viya pabbajituṃ labhanto ānessāmi, devāti. Yaṃkiñci katvā mama puttaṃ dassehīti. ‘‘Sādhu, devā’’ti rañño sāsanaṃ ādāya rājagahaṃ gantvā satthu dhammadesanāvelāya parisapariyante ṭhito dhammaṃ sutvā saparivāro arahattaphalaṃ patvā ehibhikkhubhāve patiṭṭhāsi. Tato cintesi – ‘‘na tāva dasabalassa kulanagaraṃ gantuṃ esa kālo, vasantasamaye supupphitesu vanasaṇḍesu haritatiṇasañchannāya pathaviyā esa kālo bhavissatī’’ti kālaṃ paṭimānento tassa kālassa āgatabhāvaṃ ñatvā –

‘‘Nātisītaṃ nātiuṇhaṃ, nātidubbhikkhachātakaṃ;
 Saddalā haritā bhūmi, esa kālo mahāmunī’’ti. –

Saṭṭhimattāhi gāthāhi dasabalassa kulanagaraṃ gamanatthāya gamanavaṇṇaṃ vaṇṇesi.

Khi ấy, Đức Vua nghĩ rằng— “Ngần ấy con người mà chẳng ai nói lời nào cho đấng Thập Lực để vị ấy trở về đây, bởi họ không yêu kính Trẫm. Những người khác dù có đi tiếp thì có lẽ cũng không đủ khả năng thỉnh mời đấng Thập Lực về. Nhưng Udāyī này là con của Trẫm, cùng tuổi với đấng Thập Lực, cùng nhau chơi đùa từ thuở ấu thơ, có lòng kính yêu Trẫm.” Nghĩ vậy, Đức Vua đã cho (người) gọi Udāyī đến, rồi nói rằng: “Này con thương, con có một ngàn người làm tùy tùng hãy đi thỉnh đấng Thập Lực về đây.” Kāḷudāyī thưa rằng: “Tâu Bệ hạ, khi con được xuất gia như những người đã đi lần trước, thì con sẽ có thể thỉnh Ngài về.” Đức Vua đáp: “Con sau khi làm một việc nào đó rồi hãy đưa (Thái tử) con trai của Trẫm về đây.” – “Tốt lành thay! Tâu Bệ hạ” rồi cầm chiếu thư của Đức Vua đi đến thành Rājagaha, khi đứng nghe Pháp ở cuối Hội chúng vào lúc bậc Đạo Sư thuyết Pháp đã chứng đạt quả vị A-ra-hán, và đã an trú trong bản thể vị Tỳ-khưu được gọi đến [ehibhikkhubhāve] cũng với đoàn tùy tùng. Khi đó, vị ấy nghĩ rằng— “Bây giờ vẫn chưa phải thời điểm thích hợp mà đấng Thập Lực đi về thành phố của Hoàng tộc, vào lúc tiết trời sang xuân (trăm hoa khoe sắc) khi khu rừng rậm có những bông hoa đua nở và mặt đất được bao phủ bởi lớp cỏ xanh tươi; đó mới chính là thời điểm thích hợp.” Trong khi chờ đợi thời điểm phù hợp, biết rằng thời khắc ấy đã đến, nên mới ca ngợi vẻ đẹp vẻ đẹp của cung đường nhằm mục đích trở về Hoàng tộc của đấng Thập Lực với sáu mươi bài kệ như sau—

(Thời tiết) không quá lạnh, cũng không quá nóng, (khu vực) không khó khăn để tìm kiếm vật thực và không bị đói khát; mặt đất được bảo trùm một màu xanh biết bởi cỏ tươi, đây là thời điểm thích hợp, kính thưa bậc Đại ẩn sĩ.” –

Satthā ‘‘udāyī gamanavaṇṇaṃ katheti, kapilavatthunagaraṃ gantuṃ esa kālo’’ti vīsatisahassabhikkhuparivāro aturitagamanena cārikaṃ nikkhami. Udāyitthero satthu nikkhantabhāvaṃ ñatvā ‘‘pitu mahārājassa saññaṃ dātuṃ vaṭṭatī’’ti vehāsaṃ abbhuggantvā rañño nivesane pāturahosi. Suddhodanamahārājā theraṃ disvā tuṭṭhacitto mahārahe pallaṅke nisīdāpetvā attano paṭiyāditassa nānaggarasabhojanassa pattaṃ pūretvā adāsi. Thero uṭṭhāya gamanākappaṃ dassesi. Nisīditvāva bhuñja, tātāti. Satthu santikaṃ gantvā bhuñjissāmi, mahārājāti. Kahaṃ pana, tāta, satthāti? Vīsatisahassabhikkhuparivāro tumhākaṃ dassanatthāya cārikaṃ nikkhanto, mahārājāti. Tumhe imaṃ piṇḍapātaṃ paribhuñjitvā yāva mama putto imaṃ nagaraṃ sampāpuṇāti, tāvassa itova piṇḍapātaṃ harathāti. Thero bhattakiccaṃ katvā dasabalassa āharitabbaṃ bhattaṃ gahetvā dhammakathaṃ kathetvā dasabalassa adassaneneva sakalarājanivesanaṃ saddhāpaṭilābhaṃ labhāpetvā sabbesaṃ passantānaññeva pattaṃ ākāse vissajjetvā sayampi vehāsaṃ abbhuggantvā piṇḍapātaṃ ādāya satthu hatthe ṭhapesi, satthā taṃ piṇḍapātaṃ paribhuñji. Thero saṭṭhiyojanamaggaṃ yojanaparamaṃ gacchantassa satthuno divase divase rājagehato bhattaṃ āharitvā adāsi. Evaṃ vatthu veditabbaṃ. Atha aparabhāge satthā ‘‘mayhaṃ pitu mahārājassa sakalanivesanaṃ pasādesī’’ti theraṃ kulappasādakānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Bậc Đạo Sư biết rằng: “Udāyī đã ca ngợi sự đi, đây là thời điểm thích hợp để đến kinh thành Kapilavatthu,” có hai mươi ngàn vị Tỳ-khưu làm tùy tùng Ngài đã rời khỏi (Tịnh xá) đi du hành với bước đi không hối hả. Trưởng lão Udāyī sau khi biết được việc ra đi của bậc Đạo Sư, nghĩ rằng: “Ta nên ra dấu hiệu cho Đại vương là Phụ vương của Ta.” Vì thế, Ngài đã bay lên không trung và đã hiện ra tại Hoàng cung của Đức Vua. Đại vương Suddhodana khi trông thấy Trưởng lão, có tâm hoan hỷ, đã thỉnh mời Ngài ngồi lên long sàng vô cùng quý giá, rồi làm đầy bình bát với những món ăn có hương vị tuyệt hảo đã được chuẩn bị sẵn dành cho Ngài rồi cúng dường. Trưởng lão Udāyī đứng dậy thể hiện điệu bộ sẽ rời đi, Đức Vua mới nói rằng: “Hãy ngồi lại đây thọ dụng vật thực, này con thương.” – Trưởng lão thưa rằng: “Tâu Đại vương, bần tăng sẽ thọ dụng vật thực trong sự hiện diện của bậc Đạo Sư.” – (Đức Vua): “Này con thương, vậy bậc Đạo Sư hiện đang ở đâu?” – (Trưởng lão): “Tâu Đại vương, Bậc Đạo Sư có Hội chúng Tỳ-khưu hai mươi ngàn vị tháp tùng đã ra đi du hành nhằm mục đích thăm viếng Đại vương.” –  (Đức Vua): “Này con thương, sau khi thọ dụng đồ ăn khất thực này, cho đến khi (Thái tử) con trai của Trẫm đến kinh thành này, hãy mang phần vật thực còn lại này đi cúng dường.” Trưởng lão sau khi làm phận sự về thọ thực, đã nhận lấy phần vật thực cần được mang đi để cúng dường đấng Thập Lực, rồi thuyết giảng bài Pháp khiến cho toàn thể người trong Hoàng cung khởi lên niềm tịnh tín dù chưa hề tận mắt thấy đấng Thập Lực. Ngay lúc mọi người đang nhìn, thì Ngài đã tung bình bát lên không trung, luôn cả bản thân Ngài cũng bay lên mang phần vật thực ấy đặt vào tay của bậc Đạo Sư. Bậc Đạo Sư đã thọ nhận phần vật thực đó mỗi ngày. Trưởng lão đã mang phần vật thực từ Hoàng cung đến cúng dường cho bậc Đạo Sư khi đi được một do-tuần trên quãng đường dài sáu mươi do-tuần mỗi ngày. Nên biết câu chuyện như vậy. Về sau, bậc Đạo Sư suy xét: “Udāyī đã khiến cho toàn bộ Hoàng cung của Đại vương (Suddhodana) là Phụ vương của Ta khởi tâm tịnh tín,” nên đã thiết lập Trưởng lão vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu làm cho các gia đình tịnh tín.

Câu chuyện về Trưởng lão Bākula

  1. Catutthe appābādhānanti nirābādhānaṃ. Bākuloti dvīsu kulesu vaḍḍhitattā evaṃladdhanāmo thero.
    Trong bài Kinh thứ tư, vị ít có bệnh tật: vị không có bệnh tật. Bākula: Trưởng lão có được tên gọi như vậy bởi vì Ngài trưởng thành ở cả hai gia đình.

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayaṃ kira atīte ito kappasatasahassādhike asaṅkhyeyyamatthake anomadassidasabalassa nibbattito puretarameva brāhmaṇakule paṭisandhiṃ gaṇhitvā vayaṃ āgamma uggahitavedo vedattaye sāraṃ apassanto ‘‘samparāyikatthaṃ gavesissāmī’’ti pabbatapāde isipabbajjaṃ pabbajitvā pañcābhiññā-aṭṭhasamāpattilābhī hutvā jhānakīḷitāya vītināmesi. Tasmiṃ samaye anomadassī bodhisatto sabbaññutaṃ patvā ariyagaṇaparivuto cārikaṃ carati. Tāpaso ‘‘tīṇi ratanāni uppannānī’’ti sutvā satthu santikaṃ gantvā dhammaṃ sutvā desanāpariyosāne saraṇesu patiṭṭhito, attano ṭhānaṃ pana vijahituṃ nāsakkhi. So kālena kālaṃ satthu dassanāya ceva gacchati, dhammañca suṇāti.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Nghe rằng, trong quá khứ vị Trưởng lão này đã tái sanh vài gia tộc Bà-la-môn trước khi đấng Thập Lực Anomadassi xuất hiện từ đây trở về trước một a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp. Đến tuổi trưởng thành (vị ấy) cũng học tập ba kiến thức Vệ-đà, nhưng không tìm thấy cốt lõi chân thật trong ba bộ kiến thức ấy, nghĩ rằng: “Ta sẽ tầm cầu lợi ích trong đời sau,” nên mới xuất gia theo đời sống xuất gia của vị ẩn sĩ, đã đạt được năm thắng trí và tám tầng thiền, rồi làm cho thời gian trôi qua với sự vui thích trong thiền. Vào lúc bấy giờ, Đức Bồ-tát Anomadassī đã đạt được trạng thái Toàn Tri, có Hội chúng Thánh Tăng tháp tùng đi du hành. Vị đạo sĩ nghe rằng “Tam Bảo đã xuất hiện” liền đi đến yết kiến bậc Đạo Sư để nghe pháp. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, vị ấy đã an trú vào (ba) sự nương nhờ, nhưng không thể từ bỏ địa vị (hình tướng bên ngoài) của bản thân. (Vì thế) vị ấy thỉnh thoảng mới đi đến yết kiến bậc Đạo Sư và nghe pháp.

Athekasmiṃ samaye tathāgatassa udaravāto uppajji. Tāpaso satthu dassanatthāya āgato ‘‘satthā gilāno’’ti sutvā ‘‘ko, bhante, ābādho’’ti. ‘‘Udaravāto’’ti vutte ‘‘ayaṃ kālo mayhaṃ puññaṃ kātu’’nti pabbatapādaṃ gantvā nānāvidhāni bhesajjāni samodhānetvā ‘‘idaṃ bhesajjaṃ satthu upanethā’’ti upaṭṭhākattherassa adāsi. Saha bhesajjassa upayogena udaravāto paṭippassambhi. So satthu phāsukakāle gantvā evamāha – ‘‘bhante, yadidaṃ mama bhesajjena tathāgatassa phāsukaṃ jātaṃ, tassa me nissandena nibbattanibbattabhave gaddūhanamattampi sarīre byādhi nāma mā hotū’’ti. Idamassa tasmiṃ attabhāve kalyāṇakammaṃ.

Khi đó, vào một thuở nọ Đức Như Lai đã khởi lên chứng đau bụng. Vị đạo sĩ khi đến để yết kiến bậc Đạo Sư đã nghe rằng: “Bậc Đạo Sư đang đau bệnh” mới hỏi (các vị Tỳ-khưu) rằng: “Bạch Ngài, bậc Đạo Sư bị đau như thế nào?” – Khi các vị Tỳ-khưu nói rằng: “Đó là chứng đau bụng.” – (Vị đạo sĩ): “Đây là cơ hội để ta tạo phước,” nên vị ấy liền đi đến chân núi để thu thập các cây thuốc khác nhau rồi mang về dâng lên vị Tỳ-khưu là vị thị giả rồi nói rằng: “Xin Ngài hãy dâng phương thuốc này lên bậc Đạo Sư,” chứng đau bụng của Ngài cũng đã được thuyên giảm cùng với việc sử dụng cây thuốc. Vị đạo sĩ ấy, khi bậc Đạo Sư được dễ chịu (khỏe mạnh), đã đi đến rồi nói như vầy– “Bạch Ngài, sự dễ chịu được khởi lên nơi Như Lai do nhờ các cây thuốc này đây của con; với kết quả của việc đó của con, mong rằng– bệnh tật ở cơ thể dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn bằng thời gian vắt sữa bò hãy đừng xảy ra tại mỗi kiếp mà con được lần lượt sanh ra.” Đây là nghiệp thiện lành ở bản thể ấy của Ngài.

So tato cuto brahmaloke nibbattitvā ekaṃ asaṅkhyeyyaṃ devamanussesu saṃsaranto padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe paṭisandhiṃ gahetvā satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ appābādhānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvatāyukaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto vipassīdasabalassa nibbattito puretarameva bandhumatīnagare brāhmaṇakule nibbatto purimanayeneva isipabbajjaṃ pabbajitvā jhānalābhī hutvā pabbatapāde vasati.

Vị ấy đã từ trần tại nơi ấy rồi tái sanh vào thế giới Phạm Thiên; trong khi luân hồi giữa cõi Trời và cõi Người hết một a-tăng-kỳ, vào thời Đức Phật Padumuttara, vị ấy đã tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu ít có bệnh tật, (vị ấy) đã thực hiện các hành động hướng thượng và đã phát nguyện vào vị thế đó. Vị ấy, sau khi thực hiện các nghiệp thiện cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, (vị ấy) đã tái sanh vào gia tộc Bà-la-môn tại kinh thành Bandhumatī trước khi đấng Thập Lực Vipassī đản sanh, Ngài đã xuất gia làm ẩn sĩ theo cách thức đã đề cập trước, là vị đắc được thiền định và nương tựa sống ở chân núi.

Vipassībodhisattopi sabbaññutaṃ patvā aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaparivāro bandhumatīnagaraṃ upanissāya pitu mahārājassa saṅgahaṃ karonto kheme migadāye viharati. Athāyaṃ tāpaso dasabalassa loke nibbattabhāvaṃ ñatvā āgantvā satthu dhammakathaṃ sutvā saraṇesu patiṭṭhāsi, attano pabbajjaṃ jahituṃ nāsakkhi, kālena kālaṃ pana satthu upaṭṭhānaṃ gacchati.

Sau khi Đức Bồ-tát Vipassī chứng đắc Toàn Giác, có Hội chúng Tỳ-khưu sáu triệu tám trăm ngàn vị làm tùy tùng nương nhờ kinh thành Bandhumatī (Ngài) thực hiện sự trợ giúp (tiếp độ) Đại vương là Vua cha rồi trú tại vườn nai Khema. Khi ấy, đạo sĩ này (tiền thân Ngài Bākula) biết được đấng Thập Lực đã xuất hiện ở thế gian, mới đến lắng nghe bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư và đã an trú vào (ba) sự nương nhờ (quy y Tam Bảo), (vị ấy) không thể từ bỏ lối sống khổ hạnh của bản thân, nhưng cũng thỉnh thoảng đến phục vụ bậc Đạo Sư.

Athekasmiṃ samaye ṭhapetvā satthārañceva dve aggasāvake ca himavati pupphitānaṃ visarukkhānaṃ vātasamphassena sesabhikkhūnaṃ matthakarogo nāma udapādi. Tāpaso satthu upaṭṭhānaṃ āgato bhikkhū sasīsaṃ pārupitvā nipanne disvā – ‘‘kiṃ, bhante, bhikkhusaṅghassa aphāsuka’’nti pucchi. Bhikkhūnaṃ tiṇapupphakarogo, āvusoti. Tāpaso cintesi – ‘‘ayaṃ kālo mayhaṃ bhikkhusaṅghassa kāyaveyyāvatikakammaṃ katvā puññaṃ nibbattetu’’nti attano ānubhāvena nānāvidhāni bhesajjāni saṃkaḍḍhitvā yojetvā adāsi. Sabbabhikkhūnaṃ rogo taṃkhaṇaṃyeva vūpasanto.

Rồi một thuở nọ, ngoại trừ bậc Đạo Sư và hai vị Thinh Văn hàng đầu thì các vị Tỳ-khưu còn lại khởi lên cơn đau đầu dữ dội do tiếp xúc luồng gió (chứa phấn hoa) của các loại cây có độc đang nở rộ trong rừng Hy-mã-lạp. Vị đạo sĩ khi đến phục vụ bậc Đạo Sư, đã nhìn thấy các vị Tỳ-khưu ngồi trùm kín đầu, mới hỏi rằng: “Bạch các Ngài, Hội chúng Tỳ-khưu không khỏe thể nào vậy?” Các vị Tỳ-khưu đáp rằng: “Này hiền giả, các vị Tỳ-khưu mắc phải bệnh hoa cỏ dị ứng.” – Vị đạo sĩ đã nghĩ rằng: “Đây là cơ hội để thể hiện sự phục vụ bằng thân của ta đến Hội chúng Tỳ-khưu làm cho phước báo khởi lên nơi ta,” nên đã đi thu thập các cây thuốc khác nhau nhờ oai lực của bản thân, rồi điều chế thành thuốc dâng cúng (cho các vị Tỳ-khưu). Ngay lập tức, bệnh tình của tất cả các vị Tỳ-khưu được lắng dịu.

So yāvatāyukaṃ ṭhatvā brahmaloke nibbattitvā ekanavutikappe devamanussesu saṃsaranto kassapabuddhakāle bārāṇasiyaṃ kulagehe nibbatto gharāvāsaṃ vasanto ‘‘mayhaṃ vasanagehaṃ dubbalaṃ, paccantaṃ gantvā dabbasambhāraṃ āharitvā gehaṃ karissāmī’’ti vaḍḍhakīhi saddhiṃ gacchanto antarāmagge ekaṃ jiṇṇaṃ mahāvihāraṃ disvā ‘‘tiṭṭhatu tāva mayhaṃ gehakammaṃ, na taṃ mayā saddhiṃ gamissati, yaṃkiñci katvā pana saddhiṃ gamanakammameva puretaraṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti teheva vaḍḍhakīhi dabbasambhāraṃ gāhāpetvā tasmiṃ vihāre uposathāgāraṃ kāresi, bhojanasālaṃ aggisālaṃ dīghacaṅkamaṃ jantāgharaṃ kappiyakuṭiṃ vaccakuṭiṃ ārogyasālaṃ kāresi, yaṃkiñci bhikkhusaṅghassa upabhogaparibhogaṃ bhesajjaṃ nāma sabbaṃ paṭiyādetvā ṭhapesi.

Vị đạo sĩ ấy khi sống hết tuổi thọ, đã tái sanh vào cõi Phạm Thiên, rồi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người suốt chín mươi mốt kiếp. Vào thời kỳ Đức Phật Kassapa, vị ấy tái sanh tại kinh thành Bārāṇasī, trong khi sống đời sống cư sĩ, nghĩ rằng: “Ngôi nhà đang ở của mình bị đổ nát, nên dự tính đi đến vùng biên địa để mang các loại gỗ và vật liệu về để làm nhà.” Trong khi đi cùng với những người thợ mộc, (vị ấy) đã nhìn thấy một Đại Tịnh xá cũ kỹ ở giữa đường, (nghĩ rằng): “hãy tạm gác lại việc làm nhà của ta, việc đó sẽ không đi theo ta (khi qua đời). Nhưng việc đi cùng nhau chung tay làm việc nào đó trước mắt lúc này mới là điều nên làm,” vị ấy đã bảo những người thợ mộc ấy mang theo những các loại gỗ và vật liệu để xây dựng lại nhà hành lễ Uposatha, trai đường, nhà đốt lửa, chỗ đi kinh hành dài, nhà tắm hơi, nhà làm thành được phép (bệnh viện, nơi nghỉ ngơi ban ngày và ban đêm) và xây dựng cả nhà vệ sinh; bất cứ thứ gì dùng sài (ở bên ngoài) và thọ dụng (bên trong) của Tăng Chúng, được gọi là thuốc men, tất cả đều đã được chuẩn bị và sắp đặt sẵn đầy đủ trong Tịnh xá ấy.

So yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā ekaṃ buddhantaraṃ devamanussesu saṃsaranto amhākaṃ dasabalassa nibbattito puretarameva kosambiyaṃ seṭṭhigehe paṭisandhiṃ gaṇhi. Tassa paṭisandhiggahaṇadivasato paṭṭhāya taṃ seṭṭhikulaṃ lābhaggayasaggappattaṃ ahosi. Athassa mātā puttaṃ vijāyitvā cintesi – ‘‘ayaṃ dārako puññavā katādhikāro, yattakaṃ kālaṃ arogo dīghāyuko hutvā tiṭṭhati, tattakaṃ amhākaṃ sampattidāyako bhavissati. Jātadivaseyeva mahāyamunāya nhātadārakā nirogā hontī’’ti nhāpanatthāya naṃ pesesi.

Vị ấy, sau khi thực hiện các nghiệp thiện cho đến trọn đời, trong khi luân hồi giữa cõi Trời và cõi Người đã trải qua một khoảng thời gian giữa hai vị Phật, rồi tái sanh vào gia đình trưởng giả tại thành Kosambī trước khi đấng Thập Lực của chúng ta xuất hiện. Kể từ ngày vị ấy nhập thai, gia đình trưởng giả đó đã có được đỉnh cao về lợi lộc và đỉnh cao về danh vọng. Khi ấy, mẹ của đứa bé, sau khi sanh ra một người con trai đã khởi lên ý nghĩ rằng: “Đứa bé này có phước báo, có (hành động) hướng thượng đã thực hiện từ tiền kiếp; không bệnh tật, có tuổi thọ lâu dài còn tồn tại suốt khoảng thời gian chừng nào, thì sẽ là người mang lại sự thành tựu cho chúng ta suốt khoảng thời gian chừng ấy. Những đứa trẻ được tắm ở dòng sông Mahāyamunā ngay trong ngày chào đời sẽ là người không có bệnh tật,” nên đã sai người đưa đứa bé đi tắm (ở dòng sông đó).

‘‘Pañcame divase sīsaṃ nhāpetvā nadīkīḷanatthāya naṃ pesesī’’ti majjhimabhāṇakā. Tattha dhātiyā dārakaṃ nimujjanummujjanavasena kīḷāpentiyā eko maccho dārakaṃ disvā ‘‘bhakkho me aya’’nti maññamāno mukhaṃ vivaritvā upagato. Dhātī dārakaṃ chaḍḍetvā palātā, maccho taṃ gili. Puññavā satto dukkhaṃ na pāpuṇi, sayanagabbhaṃ pavisitvā nipanno viya ahosi. Maccho dārakassa tejena tattakapallaṃ gilitvā dayhamāno viya vegena tiṃsayojanamaggaṃ gantvā Bārāṇasinagaravāsino macchabandhassa jālaṃ pāvisi, mahāmacchā nāma jālabaddhā pahariyamānā maranti. Ayaṃ pana dārakassa tejena jālato nīhaṭamattova mato. Macchabandhā ca mahantaṃ macchaṃ labhitvā phāletvā vikkiṇanti. Taṃ pana dārakassa ānubhāvena aphāletvā sakalameva kājena haritvā sahassena demāti vadantā nagare vicariṃsu. Koci na gaṇhāti.

Các vị trì tụng Trung Bộ nói rằng: “Vào ngày thứ năm (sau khi sinh) bà đã cho (đứa trẻ) gội đầu rồi đưa đến chơi đùa nước tại dòng sông đó.” Khi bà vú đang cho đứa bé đùa giỡn với cách thức bồng lên hạ xuống, một con cá lớn trông thấy đứa bé tưởng rằng ‘đây là miếng mồi của ta’ nên đã há miệng đớp lấy (đứa bé). Bà vú hoảng hốt đã vứt đứa bé rồi bỏ chạy, còn con cá thì nuốt chửng đứa bé vào bụng. Một chúng sanh có phước báo không phải chịu khổ đau; đứa trẻ như thể bước vào phòng ngủ rồi nằm ngủ vậy. Do nhờ oai lực phước báo của đứa trẻ, con cá như thể vừa nuốt phải một chiếc bình nung nóng cũng cảm thấy bị đốt nóng, đã bơi suốt quãng đường dài ba mươi do-tuần với hết tốc lực rồi mắc vào lưới của một người đánh cá cư ngụ ở kinh thành Bārāṇasī. Thông thường, những con cá lớn khi mắc lưới sẽ chết. Nhưng nhờ oai lực phước báo của đứa trẻ, con cá này chỉ khi được gỡ ra khỏi lưới thì mới chết. Những người đánh cá khi bắt được con cá to, định bụng xẻ thịt rồi mang đi bán. Tuy nhiên, do nhờ oai lực của đứa bé nên họ đã không xẻ thịt con cá ấy (mà) sử dụng cán khiêng khiêng cả con cá đi quanh kinh thành rao lên rằng: ‘Đem một ngàn đồng tiền đến, chúng tôi sẽ cho con cá này,’ những chẳng có một ai mua cả.

Tasmiṃ pana nagare aputtakaṃ asītikoṭivibhavaṃ seṭṭhikulaṃ atthi. Tassa dvāramūlaṃ patvā ‘‘kiṃ gahetvā dethā’’ti vuttā ‘‘kahāpaṇa’’nti āhaṃsu. Tehi kahāpaṇaṃ datvā gahito. Seṭṭhibhariyāpi aññesu divasesu macche na keḷāyati, taṃdivasaṃ pana macchaṃ phalake ṭhapetvā sayameva phālesi. Macchañca nāma kucchito phālenti, sā pana piṭṭhito phālentī macchakucchiyaṃ suvaṇṇavaṇṇaṃ dārakaṃ disvā ‘‘macchakucchiyaṃ me putto laddho’’ti nādaṃ naditvā dārakaṃ ādāya sāmikassa santikaṃ agamāsi. Seṭṭhi tāvadeva bheriṃ carāpetvā dārakamādāya rañño santikaṃ gantvā ‘‘macchakucchiyaṃ me, deva, dārako laddho, kiṃ karomā’’ti āha. Puññavā esa, yo macchakucchiyaṃ ārogo vasi, posehi nanti.

Trong kinh thành ấy, có gia đình trưởng giả có khối tài sản tám mươi koṭi nhưng không có con trai. Khi những người đánh cá đến gần cổng nhà của vị ấy thì bị trưởng giả hỏi rằng: “Mấy ông lấy cái gì thì vừa cho con cá này?”, – họ nói rằng: “Một đồng tiền vàng.” (Trưởng giả) đã đưa một đồng tiền vàng rồi lấy cá mang về. Vợ trưởng giả vào những ngày khác không ưa đụng đến cá, nhưng ngày hôm đó bà đã đặt con cá lên tấm thớt, tự tay xẻ thịt. Thông thường thì mọi người (làm cá) sẽ mổ từ phần bụng, nhưng bà lại mổ từ phần lưng; nhìn thấy đứa bé trai có màu da vàng chói nằm trong bụng cá, đã la lên: “Ta có được đứa con trai nằm trong bụng cá!” rồi ngay lập tức bà bế đứa bé đến tìm gặp chồng. Trưởng giả, sau khi cho đánh trống loan tin, đã bồng đứa bé đi đến yết kiến Đức Vua, rồi tâu rằng: “Tâu Bệ hạ, chúng thần có được một đứa bé trai nằm trong bụng cá; chúng thần phải làm như thế nào?” Đức Vua bảo: “Đứa bé này là bậc có phước báo, (mặc dù) đã nằm trong bụng cá (nhưng) vẫn khỏe mạnh; khanh hãy nuôi nấng nó.”

Assosi kho itaraṃ kulaṃ ‘‘bārāṇasiyaṃ kira ekaṃ seṭṭhikulaṃ macchakucchiyaṃ dārakaṃ labhī’’ti. Te tattha agamaṃsu. Athassa mātā dārakaṃ alaṅkaritvā kīḷāpiyamānaṃ disvā ‘‘manāpo vatāyaṃ dārako’’ti gahetvā pakatiṃ ācikkhi. Itarā ‘‘mayhaṃ putto’’ti āha. Kahaṃ te laddhoti. Macchakucchiyanti. Na tuyhaṃ putto, mayhaṃ puttoti. Kahaṃ te laddhoti. Mayā dasa māse kucchiyā dhārito, atha naṃ nadiyā kīḷāpiyamānaṃ maccho gilīti. Tuyhaṃ putto aññena macchena gilito bhavissati, ayaṃ pana mayā macchakucchiyaṃ laddhoti ubhopi rājakulaṃ agamaṃsu. Rājā āha – ‘‘ayaṃ dasa māse kucchiyā dhāritattā amātā kātuṃ na sakkā, macchaṃ gaṇhantāpi vakkayakanādīni bahi katvā gaṇhantā nāma natthīti macchakucchiyaṃ laddhattā ayampi amātā kātuṃ na sakkā, dārako ubhinnampi kulānaṃ dāyādo hotū’’ti. Tato paṭṭhāya dvepi kulāni ativiya lābhaggayasaggappattāni ahesuṃ. Tassa dvīhi kulehi vaḍḍhitattā bākulakumāroti nāmaṃ kariṃsu.

Gia đình (trưởng giả ở Kosambī) nghe tin rằng: “Nghe rằng một gia đình trưởng giả trong thành Bārāṇasī nhận được một đứa bé trai trong bụng cá.” Họ liền đi đến nơi đó. Khi ấy, mẹ ruột của đứa bé, sau khi nhìn thấy đứa bé đã được trang điểm và đang được cho vui chơi, hỏi rằng: “Đứa bé này thật đáng mến,” rồi thuật lại câu chuyện đó. – Người phụ nữ kia (mẹ nuôi) nói rằng: “Đứa bé này là con trai của tôi.” – Mẹ ruột: “Bà có được đứa con từ đâu?” – Mẹ nuôi: “Từ bụng cá.” – Mẹ ruột: “Vậy nó không phải là con của bà, mà là con của tôi.” – Mẹ nuôi: “Bà có được nó từ đâu?” – Mẹ ruột: “Tôi mang thai đến mười tháng; lần đó đứa bé đang chơi giỡn ở dưới sông, thì một con cá đã nuốt lấy.” – Mẹ nuôi: “Con của bà có lẽ đã bị con cá khác nuốt đi; còn đứa bé này là tôi có được từ bụng cá.” Thế là cả hai đã đi Hoàng cung. Đức Vua đã phân xử rằng– “Người phụ nữ này (nếu) nói không phải mẹ thì cũng không được bởi vì (bà) đã mang thai đến mười tháng; còn những người đánh cá dầu bắt được cá, nhưng chỉ gọi là bắt được phần bên ngoài mà thôi, chứ gan thận, v.v, bên trong là không có; còn về phần người phụ nữ này (nếu) nói rằng không phải mẹ cũng không đúng bởi vì (bà) có được đứa bé trong bụng cá. Chính vì vậy, đứa bé này hãy là người thừa tự của cả hai gia đình.” Kể từ đó trở đi, cả hai gia đình đều đạt được đỉnh cao về lợi lộc và đỉnh cao về danh vọng vượt bậc. Họ đã đặt tên cho đứa bé là công tử Bākula, do được cả hai gia đình nuôi nấng và chăm sóc cho đến khi trưởng thành.

Tassa viññutaṃ pattassa dvīsupi nagaresu tayo tayo pāsāde kāretvā nāṭakāni paccupaṭṭhapesuṃ. Ekekasmiṃ nagare cattāro cattāro māse vasati. Ekasmiṃ nagare cattāro māse vutthassa saṅghāṭanāvāsu maṇḍapaṃ kāretvā tattha naṃ saddhiṃ nāṭakehi āropenti. So sampattiṃ anubhavamāno catūhi māsehi itaraṃ nagaraṃ gacchati. Taṃnagaravāsīni nāṭakāni ‘‘dvīhi māsehi upaḍḍhamaggaṃ āgato bhavissatī’’ti paccuggantvā taṃ parivāretvā dvīhi māsehi attano nagaraṃ nenti, itarāni nāṭakāni nivattitvā attano nagarameva gacchanti. Tattha cattāro māse vasitvā teneva niyāmena puna itaraṃ nagaraṃ gacchati. Evamassa sampattiṃ anubhavantassa asīti vassāni paripuṇṇāni.

Từ khi cậu đạt được hiểu biết, hai bên gia đình đã xây dựng ba tòa lâu đài ở hai thành phố, đồng thời sắp xếp các vũ công phục vụ cho cậu. Cậu sống mỗi bốn tháng ở mỗi một thành phố. Khi ở đủ bốn thắng ở mỗi một thành phố họ đã kiến lập một mái đình trên chiếc thuyền hai thân song song rồi cho cậu cùng các vũ công bước xuống đó. Cậu ấy, trong khi tận hưởng sự thành tựu (trên chiếc thuyền hai thân song song) thì di chuyển đến thành phố còn lại (từ thành phố này) trong bốn tháng. Các vũ công sống tại thành phố đó đã đi ra nghênh đón cậu với suy nghĩ rằng: “Cậu sẽ đến nửa chặng đường trong hai tháng,” sau đó tháp tùng rồi đưa cậu đến thành phố của mình thêm hai tháng nữa, còn các vũ công còn lại thì trở về thành phố của mình. Sau khi sống bốn tháng ở tại đó, cậu lại đi đến phố kia theo chính cách thức đã trình bày. Cậu đã tận hưởng sự thành tựu như vậy tròn đủ tám mươi năm.

Tasmiṃ samaye amhākaṃ bodhisatto sabbaññutaṃ patvā pavattitavaradhammacakko anukkamena cārikaṃ caramāno kosambiṃ pāpuṇi, bārāṇasinti majjhimabhāṇakā. Bākulo seṭṭhipi kho ‘‘dasabalo āgato’’ti sutvā bahuṃ gandhamālaṃ ādāya satthu santikaṃ gantvā dhammakathaṃ sutvā paṭiladdhasaddho pabbaji. So sattāhameva puthujjano hutvā aṭṭhame aruṇe saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi. Athassa dvīsu nagaresu gihikāle paricārikamātugāmā attano kulagharāni āgantvā tattha vasamānā cīvarāni katvā pahiṇiṃsu. Thero ekaṃ addhamāsaṃ kosambivāsikehi pahitaṃ cīvaraṃ bhuñjati, ekaṃ addhamāsaṃ bārāṇasivāsikehīti. Eteneva niyāmena dvīsupi nagaresu yaṃ yaṃ uttamaṃ, taṃ taṃ therasseva āhariyati. Therassa asīti vassāni agāramajjhe vasantassa dvīhaṅgulehi gandhapiṇḍaṃ gahetvā upasiṅghanamattampi kālaṃ na koci ābādho nāma ahosi. Āsītime vasse sukheneva pabbajjaṃ upagato. Pabbajitassāpissa appamattakopi ābādho vā catūhi paccayehi vekallaṃ vā nāhosi. So pacchime kāle parinibbānasamayepi purāṇagihisahāyakassa acelakassapassa attano kāyikacetasikasukhadīpanavaseneva sakalaṃ bākulasuttaṃ (ma. ni. 3.209 ādayo) kathetvā anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyi. Evaṃ aṭṭhuppatti samuṭṭhitā. Satthā pana therassa dharamānakāleyeva there yathā paṭipāṭiyā ṭhānantare ṭhapento bākulattheraṃ imasmiṃ sāsane appābādhānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Vào lúc bấy giờ, Đức Bồ-tát của chúng ta đã đạt được trạng thái Toàn Tri, đã vận chuyển bánh xe Pháp cao quý theo tuần tự và trong khi tuần tự du hành đến thành Kosambī, các vị trì tụng Trung Bộ nói là ‘đến thành Bārāṇasī’. Trưởng giả Bākula sau khi nghe tin: “Đấng Thập Lực đã đến”, liền mang theo nhiều hương thơm và tràng hoa đến yết kiến bậc Đạo Sư, sau khi lắng nghe bài giảng Pháp, có đức tin được thành tựu và đã xin xuất gia. (Sau khi tu lên bậc trên) Ngài là vị phàm tăng chỉ trong bảy ngày; đến rạng sáng ngày thứ tám, Ngài đã chứng đạt được bản thể A-ra-hán cùng với các tuệ phân tích. Khi ấy, những người phụ nữ từng hầu hạ Ngài trong thời gian sống đời cư sĩ ở cả hai kinh thành đều trở về gia đình của mình. Khi sống ở tại đó, họ đã may những tấm y rồi gửi đi cúng dường. Trưởng lão sử dụng một tấm y đã được gửi đến bởi cư dân ở thành Kosambī trong nửa tháng, (và) một tấm y bởi cư dân ở thành Bārāṇasī gửi trong nửa tháng. Với chính phương thức này, bất cứ vật nào thượng hạng nhất trong hai thành phố thì dân chúng đều mang những vật đó đến dâng cúng riêng cho Trưởng lão. Trưởng lão đã sống đời cư sĩ suốt tám mươi năm mà không hề mắc bất kỳ một căn bệnh nào, dù chỉ là việc sử dụng hai ngón tay cầm cục đất sét có hương thơm để ngửi. Đến năm 80 tuổi, Ngài vào xuất gia một cách rất thuận lợi. Thậm chí sau khi xuất gia, thì những căn bệnh dù nhỏ hay sự thiếu thốn về bốn món vật dụng cũng không hề có đối với Ngài. Thậm chí trong khoảng thời gian cuối cùng vào lúc sắp viên tịch Niết Bàn, Ngài đã thuyết toàn bộ Kinh Bākula, trình bày về sự an lạc của thân và tâm mà chính bản thân đã cảm nghiệm cho người bạn cũ thời còn sống đời sống tại gia là du sĩ ngoại đạo Acela Kassapa rồi viên tịch Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Duyên sự sanh khởi của câu chuyện là như vậy. Về phần bậc Đạo Sư, khi lần lượt thiết lập các vị Trưởng lão vào các vị trí khác nhau, Ngài cũng thiết lập Tôn giả Bākula vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu ít có bệnh tật trong Giáo Pháp này khi Trưởng lão còn tại thế.

Câu chuyện về Trưởng lão Sobhita

  1. Pañcame pubbenivāsaṃ anussarantānanti pubbe nivutthakkhandhasantānaṃ anussaraṇasamatthānaṃ sobhitatthero aggoti dasseti. So kira pubbenivāsaṃ anupaṭipāṭiyā anussaramāno pañca kappasatāni asaññibhave acittakapaṭisandhiṃ nayato aggahesi ākāse padaṃ dassento viya. Tasmā pubbenivāsaṃ anussarantānaṃ aggo nāma jāto.
    Trong bài Kinh thứ năm, vị nhớ đến các đời sống quá khứ: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng Trưởng lão Sobhita là vị tối thắng trong số các Tỳ-khưu có khả năng nhớ lại sự liên tục của các uẩn đã y cứ trong các kiếp quá khứ. Được biết rằng, vị ấy khi nhớ đến các uẩn đã y cứ trong các kiếp sống quá khứ theo tuần tự, Ngài cũng có thể nắm bắt hoàn toàn cả giai đoạn tục sanh không có tâm thức trong cõi Vô tưởng suốt năm trăm đại kiếp giống như việc vẽ ra dấu chân trong hư không. Chính vì lý do đó, Ngài được gọi là bậc tối thắng trong số các Tỳ-khưu nhớ đến các uẩn đã y cứ trong các kiếp sống quá khứ (vị nhớ đến các đời sống quá khứ).

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi kira padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe paṭisandhiṃ gaṇhitvā vayappatto satthu dhammadesanaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ pubbenivāsañāṇalābhīnaṃ bhikkhūnaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvajīvaṃ kusalakammaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto imasmiṃ buddhuppāde sāvatthiyaṃ brāhmaṇakule nibbatti, sobhitotissa nāmaṃ akaṃsu.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Được biết rằng, vị này đã tái sanh vào một gia tộc trong thành Haṃsavatī vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara. Đến tuổi trưởng thành, khi đang lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, vị ấy chứng kiến Đức Thế Tôn thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu đạt được về các kiếp sống quá khứ (Túc mạng thông – Pubbenivāsa-ñāṇa). Sau khi thực hiện các hành động hướng thượng đã phát nguyện đạt được vị thế đó (vào thời vị lai). Vị ấy đã tạo các nghiệp thiện cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, đến thời kỳ Đức Phật (Gotama) hiện khởi ở thế gian này, vị ấy đã sanh vào gia đình Bà-la-môn tại thành Sāvatthi, cha mẹ đã đặt tên cho cậu là Sobhita.

So aparena samayena satthu dhammadesanaṃ sutvā paṭiladdhasaddho pabbajitvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ patvā pubbenivāsañāṇe ciṇṇavasī ahosi. So anupaṭipāṭiyā attano nibbattaṭṭhānaṃ anussaranto yāva asaññibhave acittakapaṭisandhi, tāva paṭisandhiṃ addasa. Tato paraṃ antare pañca kappasatāni pavattiṃ adisvā avasāne cutiṃ disvā ‘‘kiṃ nāmeta’’nti āvajjamāno nayavasena ‘‘asaññibhavo bhavissatī’’ti niṭṭhaṃ agamāsi. Satthā imaṃ kāraṇaṃ aṭṭhuppattiṃ katvā theraṃ pubbenivāsaṃ anussarantānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Vị ấy, một thời gian sau, sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, có đức tin được thành tựu đã xuất gia, sau khi phát triển Minh sát đã đạt được quả vị A-ra-hán, và trở thành vị thường xuyên an trú trong Trí về các kiếp sống quá khứ (Túc mạng thông). Vị ấy, trong khi nhớ đến tại mỗi nơi được sanh ra của bản thân theo tuần tự, đã nhìn thấy từ (sát-na) tục sanh cho đến khi tục sanh không có tâm thức ở cõi Vô tưởng. Tiếp theo sau đó, thì không nhìn thấy sự diễn tiến 500 kiếp, đã nhìn thấy sự tử ở kiếp cuối cùng, khi hướng tâm suy xét: “Đây là gì?” Ngài đã đi đến sự quyết định: “Cõi Vô tưởng sẽ có,” theo phương diện cách thức (ước đoán). Bậc Đạo Sư đã lấy sự việc này làm duyên sự, rồi thiết lập Trưởng lão vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu nhớ đến các uẩn đã y cứ vào các kiếp sống quá khứ (nhớ đến các đời sống quá khứ).

Câu chuyện về Trưởng lão Upālī

  1. Chaṭṭhe vinayadharānaṃ yadidaṃ upālīti vinayadharānaṃ bhikkhūnaṃ upālitthero aggoti dasseti. Thero kira tathāgatasseva santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ pāpuṇi. Tathāgatasseva santike vinayapiṭakaṃ uggaṇhitvā bhārukacchakavatthuṃ, ajjukavatthuṃ, (pārā. 158) kumārakassapavatthunti imāni tīṇi vatthūni sabbaññutaññāṇena saddhiṃ saṃsandetvā kathesi. Tasmā vinayadharānaṃ aggo nāma jāto.
    Trong bài Kinh thứ sáu, thông hiểu Luật, là Upālī: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng Trưởng lão Upāli là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu thông hiểu Luật. Nghe rằng, sau khi nắm được đề mục hành thiền trong sự hiện diện của Đức Như Lai, Trưởng lão đã phát triển thiền Minh sát và đã đạt được phẩm vị A-ra-hán. Ngài cũng đã học tập Tạng Luật từ chính Đức Thế Tôn, Ngài nói và so sánh với Trí Toàn Tri cả ba câu chuyện này là câu chuyện về Tỳ-khưu Bhārukacchaka, câu chuyện về Tỳ-khưu Ajjuka và câu chuyện về Trưởng lão Kumāra Kassapa. Chính vì lý do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu thông hiểu Luật.

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – padumuttarabuddhakāle kiresa haṃsavatiyaṃ kulaghare nibbatto ekadivasaṃ satthu dhammakathaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ vinayadharānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto imasmiṃ buddhuppāde kappakagehe paṭisandhiṃ gaṇhi, upālidārakotissa nāmaṃ akaṃsu. So vayappatto channaṃ khattiyānaṃ pasādhako hutvā tathāgate anupiyambavane viharante pabbajjatthāya nikkhamantehi teti chahi khattiyehi saddhiṃ nikkhamitvā pabbaji. Tassa pabbajjāvidhānaṃ pāḷiyaṃ (cūḷava. 330) āgatameva.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Kể rằng, vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, vị này tái sanh vào gia đình danh giá tại thành phố Haṃsavatī. Một ngày nọ, trong khi đang nghe bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư chỉ bảo về Giáo Pháp, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu thông hiểu Luật, (vị ấy) đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện đạt được vị thế đó (trong ngày vị lai). Vị ấy, sau khi làm việc thiện cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi người, đến thời kỳ Đức Phật hiện khởi ở thế gian này (Đức Phật Gotama), đã tái sanh vào gia đình thợ hớt tóc, và (cha mẹ) đã đặt tên là cậu bé Upālī. Đến tuổi trưởng thành cậu trở thành người hầu cận lo việc phục sức cho sáu vị Sát-đế-lỵ; khi Như Lai đang ngự tại vườn xoài Anupiya, (vị ấy) đã rời khỏi (Hoàng cung) cùng với sáu vị Sát-đế-lỵ đang rời khỏi (Hoàng cung) để xuất gia, và đã xuất gia. Quá trình xuất gia của Ngài đã được đề cập trong Chánh văn Pāḷi. (cūḷava. 330);

So pabbajitvā upasampanno satthāraṃ kammaṭṭhānaṃ kathāpetvā ‘‘mayhaṃ, bhante, araññavāsaṃ anujānāthā’’ti āha. Bhikkhu tava araññe vasantassa ekameva dhuraṃ vaḍḍhissati, amhākaṃ pana santike vasantassa vipassanādhurañca ganthadhurañca paripūressatīti. Thero satthu vacanaṃ sampaṭicchitvā vipassanāya kammaṃ karonto nacirasseva arahattaṃ pāpuṇi. Atha naṃ satthā sayameva sakalaṃ vinayapiṭakaṃ uggaṇhāpesi. So aparabhāge heṭṭhā vuttāni tīṇi vatthūni vinicchini. Satthā ekekasmiṃ vinicchite sādhukāraṃ datvā tayopi vinicchaye aṭṭhuppattiṃ katvā theraṃ vinayadharānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Vị ấy, sau khi xuất gia đã tu lên bậc trên, Ngài thỉnh cầu bậc Đạo Sư ban dạy đề mục hành thiền (nghiệp xứ) rồi nói rằng: “Bạch Ngài, xin Ngài hãy cho phép con được sống ở rừng.” – Bậc Đạo Sư đáp rằng: Này Tỳ-khưu, khi ông ở rừng, ông sẽ chỉ phát triển một phận sự mà thôi. Nhưng khi ông ở gần Ta thì phận sự thực hành thiền Minh sát và cả phận sự học Pháp học sẽ viên mãn. – Trưởng lão, sau khi tiếp nhận lời nói của bậc Đạo Sư, trong khi thực hành thiền Minh sát, chẳng bao lâu sau đã đạt đến phẩm vị A-ra-hán. Khi ấy, bậc Đạo Sư đã tự mình chỉ dạy toàn bộ Tạng Luật cho Ngài. Về sau, Ngài đã phân xử ba sự sự việc đã được đề cập ở phần trước. Đức Thế Tôn đều ban lời khen ngợi trong mỗi sự việc mà Ngài đã phân xử; Sau khi lấy ba sự việc phán xử đó làm duyên sự, đã thiết lập Trưởng lão vào vị thể tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu thông hiểu Luật.

Câu chuyện về Trưởng lão Nandaka

  1. Sattame bhikkhunovādakānaṃ yadidaṃ nandakoti ayaṃ hi thero dhammakathaṃ kathento ekasamodhāne pañca bhikkhunīsatāni arahattaṃ pāpesi. Tasmā bhikkhunovādakānaṃ aggo nāma jāto.
    Trong bài Kinh thứ bảy, giáo huấn Tỳ-khưu-ni, tối thắng là Nandaka: Thật vậy, Trưởng lão này khi thuyết Pháp cũng làm cho năm trăm vị Tỳ-khưu-ni đạt đến phẩm vị A-ra-hán. Do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các Tỳ-khưu giáo huấn Tỳ-khưu-ni.

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayañhi padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe nibbatto satthu dhammadesanaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ bhikkhunovādakānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto imasmiṃ buddhuppāde sāvatthiyaṃ kulagehe paṭisandhiṃ gahetvā vayappatto satthu dhammadesanaṃ sutvā paṭiladdhasaddho satthu santike pabbajitvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ pāpuṇi, pubbenivāsañāṇe ca ciṇṇavasī ahosi. So catūsu parisāsu sampattāsu ‘‘sabbesaṃyeva manaṃ gahetvā kathetuṃ sakkotī’’ti dhammakathikanandako nāma jāto.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, vị này tái sanh vào một gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī. Khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu giáo huấn Tỳ-khưu-ni, sau khi thực hiện các hành động hướng thượng đã phát nguyện (đạt được) vị thế đó (trong ngày tương lai). Sau khi tạo các việc thiện cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, vị ấy tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Sāvatthi, vào thời kỳ Đức Phật hiện khởi ở thế gian này (Đức Phật Gotama). Đến tuổi trưởng thành, sau khi lắng nghe bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư, có đức tin được thành tựu, đã xuất gia trong sự chứng minh của bậc Đạo Sư, đã phát triển thiền Minh sát, đã đạt được phẩm vị A-ra-hán và đã trở thành vị tinh thông trong trí về các kiếp sống quá khứ (Túc mạng thông). Vị ấy, trong khi tứ chúng đến– “Ngài có thể nắm bắt tâm ý của tất cả rồi thuyết giảng Giáo Pháp.” Do đó, Ngài được gọi là Nandaka là vị thuyết giảng Giáo Pháp (vị Pháp sư).

Tathāgatopi kho rohiṇīnadītīre cumbaṭakakalahe nikkhamitvā pabbajitānaṃ pañcannaṃ sākiyakumārasatānaṃ anabhiratiyā uppannāya te bhikkhū ādāya kuṇāladahaṃ gantvā kuṇālajātakakathāya (jā. 2.21. kuṇālajātaka) nesaṃ saṃviggabhāvaṃ ñatvā catusaccakathaṃ kathetvā sotāpattiphale patiṭṭhāpesi. Aparabhāge mahāsamayasuttaṃ (dī. ni. 2.331 ādayo) kathetvā aggaphalaṃ arahattaṃ pāpesi. Tesaṃ therānaṃ purāṇadutiyikā ‘‘amhe dāni idha kiṃ karissāmā’’ti vatvā sabbāva ekacittā hutvā mahāpajāpatiṃ upasaṅkamitvā pabbajjaṃ yāciṃsu. Tāpi pañcasatā theriyā santike pabbajjañca upasampadañca labhiṃsu. Atītānantarāya pana jātiyā sabbāva tā nandakattherassa rājaputtabhāve[1] ṭhitassa pādaparicārikā ahesuṃ.

Về phần Như Lai, khi sự không được thỏa thích (chán nản) khởi lên cho năm trăm Vương tử dòng Sākiya đã rời khỏi gia tộc vì danh dự để xuất gia bên bờ sông Rohiṇī (muốn hoàn tục); Ngài đã đưa các vị Tỳ-khưu ấy đi đến hồ nước Kuṇāla, sau khi biết trạng thái bị rúng động của các vị ấy bởi câu chuyện Bổn sanh Kuṇāla (jā. 2.21. kuṇālajātaka), nên đã thuyết về Bốn Sự Thật (Tứ Diệu Đế) giúp các vị ấy an trú vào quả vị Nhập lưu. Sau đó, Ngài thuyết giảng bài Kình Đại Hội (Mahāsamaya sutta – dī. ni. 2.331 ādayo) giúp họ đạt được phẩm vị A-ra-hán là quả báu tột cùng. Vợ của năm trăm vị Tỳ khưu ấy, tất cả đều đồng lòng (nghĩ rằng): “Bây giờ, ở nơi đây chúng ta sẽ làm gì?” Nên đã cùng nhau đến gặp Trưởng lão ni Mahāpajāpati Gotami để xin xuất gia. Cả năm trăm người vợ ấy sau đó đã được xuất gia và tu lên bậc trên trong sự chứng minh của vị Trưởng lão ni. Hơn nữa, trong kiếp sống quá khứ, tất cả họ đã từng là cung phi hầu cận của Trưởng lão Nandaka khi Ngài đang nắm giữ địa vị của một vị vua.

Tena samayena satthā ‘‘bhikkhū bhikkhuniyo ovadantū’’ti āha. Thero attano vāre sampatte tāsaṃ purimabhave attano pādaparicārikabhāvaṃ ñatvā cintesi – ‘‘maṃ imassa bhikkhunīsaṅghassa majjhe nisinnaṃ upamāyo ca kāraṇāni ca āharitvā dhammaṃ kathayamānaṃ disvā añño pubbenivāsañāṇalābhī bhikkhu imaṃ kāraṇaṃ oloketvā ‘āyasmā nandako yāvajjadivasā orodhe na vissajjeti, sobhatāyamāyasmā orodhaparivuto’ti vattabbaṃ maññeyyā’’ti. Tasmā sayaṃ agantvā aññaṃ bhikkhuṃ pesesi. Tā pana pañcasatā bhikkhuniyo therasseva ovādaṃ paccāsīsanti. Iminā kāraṇena bhagavā ‘‘attano vāre sampatte aññaṃ apesetvā sayameva gantvā bhikkhunīsaṅghaṃ ovadāhī’’ti theraṃ āha. So satthu kathaṃ paṭibāhituṃ asakkonto attano vāre sampatte cātuddase bhikkhunisaṅghassa ovādaṃ datvā sabbāva tā bhikkhuniyo saḷāyatanapaṭimaṇḍitāya dhammadesanāya sotāpattiphale patiṭṭhāpesi.

Vào lúc bấy giờ, bậc Đạo Sư đã bảo rằng: “Các Tỳ-khưu hãy luân phiên giáo huấn các Tỳ-khưu-ni.” Trưởng lão Nandaka, khi đến lượt của mình, sau khi biết các Tỳ-khưu-ni ấy từng là các cung phi của mình trong kiếp sống quá khứ, đã khởi lên ý nghĩ rằng: “Vị Tỳ-khưu có được trí về các kiếp sống quá khứ, sau khi nhìn thấy ta đang ngồi giữa Hội chúng Tỳ-khưu-ni này sẽ mang lại ví dụ và nguyên nhân, v.v, lại để thuyết giảng Giáo Pháp; sau khi xem xét nguyên nhân này vị ấy có thể đánh giá về ta rằng: ‘Ngài Nandaka vẫn chưa chịu từ bỏ các cung phi cho đến tận ngày hôm nay; Ngài có các cung phi vây quanh trông thật đẹp!’” Do đó, Ngài đã không đi một mình mà cử một vị Tỳ-khưu khác đi thay. Thế nhưng, cả năm trăm vị Tỳ-khưu-ni ấy chỉ mong chờ lời giáo huấn của Trưởng lão Nandaka. Vì lý do này, Đức Thế Tôn đã nói với Trưởng lão rằng: “Khi đến lượt của mình chớ cử một vị nào khác đi để thay thế mà hãy tự mình đi giáo huấn Hội chúng Tỳ-khưu-ni.” Trưởng lão không thể kháng lại lời của bậc Đạo Sư; Vào ngày 14 âm lịch, khi đến lượt của mình, Ngài đã ban lời giáo huấn đến Hội chúng Tỳ-khưu-ni, tất cả đều an trú vào quả vị Nhập lưu bằng bài giảng Pháp được tô điểm với Sáu Xứ.

Tā bhikkhuniyo therassa dhammadesanāya attamanā hutvā satthu santikaṃ gantvā attano paṭividdhaguṇaṃ ārocesuṃ. Satthā ‘‘kasmiṃ nu kho dhammaṃ desente imā bhikkhuniyo uparimaggaphalāni pāpuṇeyyu’’nti āvajjento puna ‘‘taṃyeva nandakassa dhammadesanaṃ sutvā pañcasatāpi etā arahattaṃ pāpuṇissantī’’ti disvā punadivasepi therasseva santikaṃ dhammassavanatthāya pesesi. Tā punadivase dhammaṃ sutvā sabbāva arahattaṃ pattā. Taṃdivasaṃ bhagavā tāsaṃ bhikkhunīnaṃ attano santikaṃ āgatakāle dhammadesanāya saphalabhāvaṃ ñatvā ‘‘hiyyo nandakassa dhammadesanā cātuddasiyaṃ candasadisī ahosi, ajja pannarasiyaṃ candasadisī’’ti vatvā therassa sādhukāraṃ datvā tadeva ca kāraṇaṃ aṭṭhuppattiṃ katvā theraṃ bhikkhunovādakānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Các vị Tỳ-khưu-ni vô cùng hoan hỷ với lời giảng Pháp của Trưởng lão, đã cùng nhau đến diện kiến bậc Đạo Sư rồi nói về các ăn đức mà bản thân đã được thấu triệt. Đức Thế Tôn suy xét rằng: “Vị Tỳ-khưu nào chỉ bảo Giáo Pháp thì các Tỳ-khưu-ni này có thể đạt được các đạo quả cao hơn?” – Ngài nhận thấy rằng: “Cả năm trăm vị Tỳ-khưu-ni ấy, sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp của Trưởng lão Nandaka một lần nữa sẽ đạt được quả vị A-ra-hán;” vào ngày hôm sau, mới bảo các vị Tỳ-khưu-ni đến để lắng nghe Pháp ở trú xứ của chính vị Trưởng lão ấy. Vào ngày hôm sau, sau khi lắng nghe Pháp, thì tất cả năm trăm vị Tỳ-khưu-ni ấy đều đã đạt được quả vị A-ra-hán. Vào ngày hôm đó, khi các vị Tỳ-khưu-ni đến yết kiến, Đức Thế Tôn biết rằng bài giảng Pháp có kết quả mới nói rằng: “Ngày hôm qua, bài giảng Pháp của Nandaka tựa như vầng trăng rằm ngày mười bốn; còn ngày hôm nay, đã giống như vầng trăng rằm ngày mười lăm,” đã ban lời tán thán đến Trưởng lão, rồi lấy chính nguyên nhân đó làm duyên sự, Ngài đã thiết lập Trưởng lão Nandaka vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu giáo huấn Tỳ-khưu-ni.

Câu chuyện về Trưởng lão Nanda

  1. Aṭṭhame indriyesu guttadvārānanti chasu indriyesu pihitadvārānaṃ nandatthero aggoti dasseti. Kiñcāpi hi satthusāvakā aguttadvārā nāma natthi, nandatthero pana dasasu disāsu yaṃ yaṃ disaṃ oloketukāmo hoti, na taṃ catusampajaññavasena aparicchinditvā oloketi. Tasmā indriyesu guttadvārānaṃ aggo nāma jāto.
    Trong bài Kinh thứ tám, vị phòng vệ các giác quan (vị phòng hộ các căn): Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng Trưởng lão Nanda là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu tôi thắng trong số các vị Tỳ-khưu đóng kín sáu giác quan. Thật vậy, trong số các vị đệ tử của bậc Đạo Sư không phòng vệ các giác quan là không có. Tuy nhiên, Trưởng lão Nanda khi muốn nhìn về bất cứ hướng nào trong mười phương, Ngài không nhìn về hướng đó mà thiếu đi bốn sự tỉnh giác. Chính vì lý do đó, Ngài được gọi là bậc tối thắng trong số các Tỳ-khưu phòng vệ các giác quan.

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe paṭisandhiṃ gahetvā vayappatto satthu santike dhammaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ indriyesu guttadvārānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto kapilavatthupure mahāpajāpatigotamiyā kucchimhi paṭisandhiṃ gaṇhi. Athassa nāmaggahaṇadivase ñātisaṅghaṃ nandayanto tosento jātoti nandakumāroteva nāmaṃ akaṃsu.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Thật vậy, vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, vị này tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī. Đến tuổi trưởng thành, khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu phòng vệ các giác quan, (vị ấy) đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện (đạt được) vị thế đó (trong ngày tương lai). Vị ấy, sau khi tạo các việc thiện cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, đã giáng sanh vào bụng của Mahāpajāpati Gotamī ở kinh thành Kapilavatthu. Khi ấy, vào ngày lễ đặt tên, Ngài đã làm cho tập thể thân quyến mừng rỡ và hoan hỷ. Chính vì lý do đó, thân quyến đã đặt tên cho Ngài là Vương tử Nanda.

Mahāsattopi sabbaññutaṃ patvā pavattitavaradhammacakko lokānuggahaṃ karonto rājagahato kapilavatthupuraṃ gantvā paṭhamadassaneneva pitaraṃ sotāpattiphale patiṭṭhāpesi. Punadivase pitu nivesanaṃ gantvā rāhulamātāya ovādaṃ datvā sesajanassapi dhammaṃ kathesi. Punadivase nandakumārassa abhiseka– gehapavesana– āvāhamaṅgalesu vattamānesu tassa nivesanaṃ gantvā kumāraṃ pattaṃ gāhāpetvā pabbājetuṃ vihārābhimukho pāyāsi. Nandakumāraṃ abhisekamaṅgalaṃ na tathā pīḷesi, pattaṃ ādāya gamanakāle pana janapadakalyāṇī uparipāsādavaragatā sīhapañjaraṃ ugghāṭetvā ‘‘tuvaṭaṃ kho, ayyaputta, āgaccheyyāsī’’ti yaṃ vācaṃ nicchāresi. Taṃ sutvā gehasitachandarāgavasena olokento panesa satthari gāravena yathāruciyā nimittaṃ gahetuṃ nāsakkhi, tenassa cittasantāpo ahosi. Atha naṃ ‘‘imasmiṃ ṭhāne nivattessati, imasmiṃ ṭhāne nivattessatī’’ti cintentameva satthā vihāraṃ netvā pabbājesi. Pabbajitopi paṭibāhituṃ asakkonto tuṇhī ahosi. Pabbajitadivasato paṭṭhāya pana janapadakalyāṇiyā vuttavacanameva sarati. Athassa sā āgantvā avidūre ṭhitā viya ahosi. So anabhiratiyā pīḷito thokaṃ ṭhānaṃ gacchati, tassa gumbaṃ vā gacchaṃ vā atikkamantasseva dasabalo purato ṭhitako viya ahosi. So aggimhi pakkhittaṃ kukkuṭapattaṃ viya paṭinivattitvā attano vasanaṭṭhānameva pavisati.

Còn bậc Đại Nhân (vào lúc bấy giờ), sau khi đạt được trạng thái Toàn Tri, đã vận chuyển bánh xe Pháp vô thượng để trợ giúp thế gian; Từ thành Rājagaha Ngài trở về thành Kapilavatthu, tiếp độ Phụ vương (Đức Vua Suddhodana) an trú vào quả vị Nhập Lưu chỉ trong lần gặp đầu tiên. Ngày hôm sau, khi đi đến cung điện của Phụ vương, Ngài đã ban lời giáo huấn cho thân mẫu của Rāhula (Công chúa Yasodharā) và đã thuyết Pháp cho những người còn lại. Sang ngày kế tiếp, trong buổi lễ đăng quang, lễ ngự vào cung điện mới và lễ thành hôn[2] của Vương tử Nanda đang được diễn ra; (vào lúc ấy) Đức Thế Tôn đi đến cung điện của Vương tử, Ngài đã bảo Nanda cầm lấy bình bát rồi quay bước trở về Tịnh xá để cho vị này xuất gia. Lễ đăng quang cũng không thể ngăn cản được Vương tử Nanda; vào lúc ấy, Vương tử Nanda đang cầm bát theo sau Thế Tôn. Khi ấy. Nàng Janapada Kalyāṇī[3], vị hôn thê của Nanda, đang đứng ở lầu trên của tòa lâu đài quý giá, đã mở ra cánh cửa sổ nhìn xuống và gọi theo: “Điện hạ, xin chàng hãy mau chóng quay trở về!” Vương tử Nanda nghe tiếng gọi tha thiết của nàng cũng ngoái nhìn do tác động của sự mong muốn và luyến ái liên quan đến tại gia nhưng không thể ra dấu đáp lại theo như ý thích, bởi lòng tôn kính đối với bậc Đạo Sư; vì thế, tâm trí của Vương tử trở nên nóng đốt. Khi ấy, Vương tử chỉ suy nghĩ như vầy: “Bậc Đạo Sư sẽ cho ta trở về từ chỗ này, sẽ cho ta trở về từ chỗ này”. Thế nhưng, bậc Đạo Sư đã đưa vị ấy về Tịnh xá và đã cho xuất gia. Dù đã xuất gia, nhưng do Vương tử Nanda không thể từ chối nên đã giữ trạng thái im lặng. Kể từ ngày xuất gia, Vương tử chỉ nhớ đến lời nói của nàng Janapada Kalyāṇī; thời khắc ấy cứ như thể nàng đã đến và đang đứng ở kế bên. Vị ấy bị bực bội bởi sự không được thỏa thích, đi được một chút nhưng khi đi ngang qua bụi cây hay khóm cây, chàng lại cảm thấy như đấng Thập Lực đang đứng trước mặt. Khi đó, vị ấy giống như cọng lông gà bị ném vào đống lửa, nên đã quay trở lại và đi vào chỗ trú ngụ của mình.

Satthā cintesi – ‘‘nando ativiya pamatto viharati, anabhiratiṃ vūpasametuṃ na sakkoti, etassa cittanibbāpanaṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti. Tato naṃ āha – ‘‘ehi, nanda, devacārikaṃ gacchissāmā’’ti. Bhagavā kathāhaṃ iddhimantehi gantabbaṭṭhānaṃ gamissāmīti. Tvaṃ kevalaṃ gamanacittaṃ uppādehi, gantvā passissasīti. So dasabalassa ānubhāvena tathāgateneva saddhiṃ devacārikaṃ gantvā sakkassa devarañño nivesanaṃ oloketvā pañca accharāsatāni addasa. Satthā nandattheraṃ subhanimittavasena tā olokentaṃ disvā, ‘‘nanda, imā nu kho accharā manāpā, atha janapadakalyāṇī’’ti pucchi. Bhante, janapadakalyāṇī imā accharā upanidhāya kaṇṇanāsacchinnakā makkaṭī viya khāyatīti. Nanda, evarūpā accharā samaṇadhammaṃ karontānaṃ na dullabhāti. Sace me, bhante bhagavā, pāṭibhogo hoti, ahaṃ samaṇadhammaṃ karissāmīti. Vissattho tvaṃ, nanda, samaṇadhammaṃ karohi. Sace te sappaṭisandhikā kālakiriyā bhavissati, ahaṃ etāsaṃ paṭilābhatthāya pāṭibhogoti. Iti satthā yathāruciyā devacārikaṃ caritvā jetavanameva paccāgañchi.

Bậc Đạo Sư nghĩ rằng: “Nanda đang sống quá xao lãng, không thể tự mình dập tắt sự không thỏa thích, Ta nên làm cho tâm của vị ấy được mát mẻ.” Khi ấy, Ngài đã nói với Nanda rằng: “Hãy đến, này Nanda, chúng ta sẽ cùng đi du ngoạn cõi Trời.” – Đại đức Nanda hỏi rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, con sẽ đi đến nơi nên được đi đến bởi các vị có thần thông bằng cách nào?” – Ngài đáp: “Con chỉ khởi tâm đi, sau khi đi sẽ thấy.” Vị ấy, sau khi đi đến cõi Trời cùng với Đức Như Lai do nhờ oai lực của đấng Thập Lực, khi chiêm ngưỡng Cung điện của Thiên chủ Sakka, cũng đã nhìn thấy năm trăm tiên nữ. Bậc Đạo Sư nhận thấy Trưởng lão Nanda đang say sưa ngắm nhìn hình tướng mỹ miều ấy, mới hỏi rằng: “Này Nanda, giữa những nàng tiên nữ này hay nàng Janapada Kalyāṇī thì bên nào đáng yêu hơn?” – Nanda bạch rằng: “Bạch Ngài, nếu đem nàng Janapada Kalyāṇī so với những tiên nữ này, thì nàng ấy trông chẳng khác nào một con khỉ cái bị xẻo lỗ tai và lỗ mũi.” – (Đức Thế Tôn): “Này Nanda, không khó để có được các tiên nữ như thế đối với người thực hành Sa-môn Pháp.” (Nanda): “Bạch Đức Thế Tôn, nếu Ngài đảm bảo việc đó cho con, con sẽ thực hành Sa-môn Pháp.” (Đức Thế Tôn): “Này Nanda, con hãy yên tâm. Hãy tinh tấn thực hành Sa-môn Pháp. Giả sử con sẽ mệnh chung như chúng sanh có sự tái tục (trong vòng luân hồi), Ta là người bảo đảm rằng: ‘Nanda sẽ có được các nàng tiên nữ ấy.” Khi ấy, bậc Đạo Sư sau khi du ngoạn cõi trời tùy theo ý thích (cùng Trưởng lão Nanda) đã trở về lại thành Sāvatthi.

Tato paṭṭhāya nandatthero accharānaṃ hetu rattindivaṃ samaṇadhammaṃ karoti. Satthā bhikkhū āṇāpesi – ‘‘tumhe nandassa vasanaṭṭhāne ‘eko kira bhikkhu dasabalaṃ pāṭibhogaṃ katvā accharānaṃ hetu samaṇadhammaṃ karotī’ti tattha tattha kathentā vicarathā’’ti. Te satthu vacanaṃ sampaṭicchitvā ‘‘bhatako kirāyasmā nando, upakkitako kirāyasmā nando, accharānaṃ hetu brahmacariyaṃ carati, bhagavā kirassa pāṭibhogo pañcannaṃ accharāsatānaṃ paṭilābhāya kakuṭapādīna’’nti therassa savanūpacāre kathentā vicaranti. Nandatthero taṃ kathaṃ sutvā ‘‘ime bhikkhū na aññaṃ kathenti, maṃ ārabbha kathenti, ayuttaṃ mama kamma’’nti paṭisaṅkhānaṃ uppādetvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ pāpuṇi. Athassa arahattapattakkhaṇeyeva aññatarā devatā bhagavato etamatthaṃ ārocesi, sayampi bhagavā aññāsiyeva. Punadivase nandatthero bhagavantaṃ upasaṅkamitvā evamāha – ‘‘yaṃ me, bhante bhagavā, pāṭibhogo pañcannaṃ accharāsatānaṃ paṭilābhāya kakuṭapādīnaṃ, muñcāmahaṃ, bhante, bhagavantaṃ etasmā paṭissavā’’ti. Evaṃ vatthu (udā. 22) samuṭṭhitaṃ. Satthā aparabhāge jetavanavihāre viharanto theraṃ indriyesu guttadvārānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Kể từ đó trở đi, Trưởng lão Nanda thực hành Sa-môn Pháp cả ngày lẫn đêm vì lý do các tiên nữ. Bậc Đạo Sư đã bảo các Tỳ-khưu rằng: “Trong chỗ trú ngụ của Nanda, các ông hãy đi nói ở chỗ này chỗ nọ như vầy: ‘Nghe nói một vị Tỳ-khưu sau khi làm cho đấng Thập Lực bảo đảm rồi mới thực hành Sa-môn Pháp vì lý do các tiên nữ.’” Họ đã nhận lời của bậc Đạo Sư rồi đi nói rằng: “Nghe nói Đại đức Nanda là kẻ làm thuê, nghe nói đại đức Nanda là kẻ thu mua, vì lý do các tiên nữ mà thực hành Phạm hạnh. Nghe nói Đức Thế Tôn là người bảo đảm cho vị này về việc có được năm trăm tiên nữ có các bàn chân (thon hồng) như của chim bồ câu[4],” ở gần (trú xứ) vừa đủ Ngài có thể nhìn thấy và nghe thấy. Trưởng lão Nanda, sau khi nghe những lời nói đó (nghĩ rằng): “Các vị Tỳ-khưu này không nói đến người nào khác, mà chỉ nhắm vào ta, việc làm của ta thật không đúng đắn,” sau khi suy xét thấu đáo, Ngài đã phát triển minh sát và đã chứng đắc quả vị A-ra-hán. Ngay chính khoảnh khắc Ngài đắc quả vị A-ra-hán, một vị thiên khác đã đến thuật lại sự việc đó với Đức Thế Tôn; và đức Thế Tôn cũng đã tự mình biết rõ sự việc đó. Ngày hôm sau, Trưởng lão Nanda sau khi đến diện kiến Đức Thế Tôn đã nói rằng: “Bạch Ngài, về việc đức Thế Tôn là người bảo đảm cho con về việc đạt được năm trăm tiên nữ có các bàn chân (thon hồng) như của chim bồ câu, bạch Ngài, con xin tháo gỡ cho đức Thế Tôn về lời hứa hẹn ấy.” Câu chuyện bắt nguồn như vậy. (udā. 22); Về sau, khi bậc Đạo Sư đang cư ngụ tại Tịnh xá Jetavana, Ngài đã thiết lập Trưởng lão Nanda vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu phòng vệ các giác quan (vị phòng hộ các căn).

Câu chuyện về Trưởng lão Mahākappina

  1. Navame bhikkhuovādakānanti bhikkhū ovadantānaṃ mahākappinatthero aggoti dasseti. Ayaṃ kira thero ekasamodhānasmiṃyeva dhammakathaṃ kathento bhikkhusahassaṃ arahattaṃ pāpesi. Tasmā bhikkhuovādakānaṃ aggo nāma jāto.
    Trong bài Kinh thứ chín, vị giáo huấn Tỳ-khưu: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng– Trưởng lão Mahākappina là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu giáo huấn Tỳ-khưu. Được biết rằng vị Trưởng lão này khi thuyết Pháp chỉ trong một lần hội họp đã giúp cho một ngàn vị Tỳ-khưu đạt được quả vị A-ra-hán. Do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu giáo huấn Tỳ-khưu.

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulaghare nibbattitvā aparabhāge satthu dhammakathaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ bhikkhuovādakānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto kassapasammāsambuddhakāle bārāṇasiyaṃ kulagehe paṭisandhiṃ gahetvā purisasahassassa gaṇajeṭṭhako hutvā gabbhasahassapaṭimaṇḍitaṃ mahāpariveṇaṃ kāresi. Te sabbepi janā yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā kappinaupāsakaṃ jeṭṭhakaṃ katvā saputtadārā devaloke nibbattā. Ekaṃ buddhantaraṃ devamanussesu saṃsariṃsu.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Thật vậy, vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara, vị Trưởng lão này đã tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī. Về sau, khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu giáo huấn Tỳ-khưu, (vị ấy) đã thực hiện hành động hướng thượng rồi phát nguyện đạt được vị thế ấy (trong ngày vị lai). Vị ấy, sau khi làm việc thiện cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, đã tái sanh vào gia tộc tại thành Bārāṇasī vào thời kỳ đức Phật Kassapa, và đã trở thành người đứng đầu một tập thể có một ngàn người, họ đã cùng nhau xây dựng một gian phòng lớn gồm có một ngàn gian phòng. Tất cả họ đã tạo các việc thiện cho đến hết cuộc đời, nam cư sĩ Kappina đã được tôn làm người đứng đầu cùng với cả vợ và con (sau khi mệnh chung) đã được sanh vào thế giới chư Thiên, luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người suốt một khoảng thời gian giữa hai vị Phật.

Atha amhākaṃ satthu nibbattito puretarameva ayaṃ kappino paccantadese kukkuṭavatīnagare rājagehe paṭisandhiṃ gaṇhi, sesapurisā tasmiṃyeva nagare amaccakulesu nibbattiṃsu. Tesu kappinakumāro pitu accayena chattaṃ ussāpetvā mahākappinarājā nāma jāto. Pubbe kalyāṇakammakaraṇakāle tassa gharasāminī itthī samānajātike rājakule nibbattitvā mahākappinarañño aggamahesī jātā, anojāpupphasadisavaṇṇatāya panassā anojādevītveva nāmaṃ ahosi. Mahākappinarājāpi sutavittako ahosi. So pātova uṭṭhāya catūhi dvārehi sīghaṃ dūte pesesi – ‘‘yattha bahussute sutadhare passatha, tato nivattitvā mayhaṃ ārocethā’’ti.

Khi ấy, trước khi bậc Đạo Sư của chúng ta đản sinh, Kappina này đã tái sanh vào gia đình hoàng tộc tại kinh thành Kukkuṭavati ở vùng biên địa, những người còn lại trong nhóm cũng lần lượt tái sanh vào các gia đình các viên quan đại thần ngay tại kinh thành đó. Trong số đó, Vương tử Kappina, sau khi Phụ vương băng hà, đã lên ngôi kế vị trở thành vị Vua tên là Mahā Kappina. Người phụ nữ từng là bạn đời của Ngài khi cùng thực hiện các nghiệp lành trong kiếp quá khứ, nay cũng tái sanh vào gia đình hoàng tộc có dòng dõi tương đồng, và đã trở thành Chánh cung hoàng hậu của Vua Mahā Kappina. Tuy nhiên, do bà có làn da tựa như hoa Anojā, nên bà đã có tên là Hoàng hậu Anojā. Về phần Vua Mahā Kappina là vị ưa thích sự học tập. Đức vua thức dậy từ rất sớm sai các sứ giả nhanh chóng ra bốn cửa thành và truyền lệnh rằng: “Các khanh hễ thấy các bậc đa văn ở nơi nào, (thì) trở về từ nơi ấy hãy bẩm báo ngay cho Trẫm biết.”

Tena kho pana samayena amhākaṃ satthā loke nibbattitvā sāvatthiṃ upanissāya paṭivasati. Tasmiṃ kāle sāvatthinagaravāsino vāṇijā sāvatthiyaṃ uṭṭhānakabhaṇḍaṃ gahetvā, taṃ nagaraṃ gantvā, bhaṇḍaṃ paṭisāmetvā, ‘‘rājānaṃ passissāmā’’ti paṇṇākāraṃ gahetvā, rājakuladvāraṃ gantvā, ‘‘rājā uyyānaṃ gato’’ti sutvā, uyyānaṃ gantvā, dvāre ṭhitā paṭihārakassa ārocayiṃsu. Atha rañño nivedi, te rājā pakkosāpetvā niyyātitapaṇṇākāre vanditvā ṭhite, ‘‘tātā, kuto āgacchathā’’ti pucchi. Sāvatthito, devāti. Kacci vo raṭṭhaṃ subhikkhaṃ, dhammiko rājāti? Āma, devāti. Atthi pana tumhākaṃ dese kiñci sāsananti? Atthi deva, na pana sakkā ucchiṭṭhamukhehi kathetunti. Rājā suvaṇṇabhiṅgārena udakaṃ dāpesi. Te mukhaṃ vikkhāletvā dasabalābhimukhā añjaliṃ paggahetvā, ‘‘deva, amhākaṃ dese buddharatanaṃ nāma uppanna’’nti āhaṃsu. Rañño ‘‘buddho’’ti vacane sutamatteyeva sakalasarīraṃ pharamānā pīti uppajji. Tato ‘‘buddhoti, tātā, vadathā’’ti āha. Buddhoti, deva, vadāmāti. Evaṃ tikkhattuṃ vadāpetvā ‘‘buddhotipadaṃ aparimāṇaṃ, nāssa sakkā parimāṇaṃ kātu’’nti tasmiṃyeva pade pasanno satasahassaṃ datvā ‘‘aparaṃ kiṃ sāsana’’nti pucchi. Deva dhammaratanaṃ nāma uppannanti. Tampi sutvā tatheva tikkhattuṃ paṭiññaṃ gahetvā aparampi satasahassaṃ datvā puna ‘‘aññaṃ kiṃ sāsana’’nti pucchi. Saṅgharatanaṃ deva uppannanti. Tampi sutvā tatheva paṭiññaṃ gahetvā aparampi satasahassaṃ datvā dinnabhāvaṃ paṇṇe likhitvā, ‘‘tātā, deviyā santikaṃ gacchathā’’ti pesesi. Tesu gatesu amacce pucchi – ‘‘tātā, buddho loke uppanno, tumhe kiṃ karissathā’’ti? Deva tumhe kiṃ kattukāmāti? Ahaṃ pabbajissāmīti. Mayampi pabbajissāmāti. Te sabbepi gharaṃ vā kuṭumbaṃ vā anapaloketvā ye asse āruyha gatā teheva nikkhamiṃsu.

Vào lúc bấy giờ, bậc Đạo Sư của chúng ta đã tái sanh ở thế gian và đang cư ngụ gần tại thành Sāvatthi. Thời gian ấy, các thương buôn thành Sāvatthi sau khi lấy hàng hóa được sản xuất trong kinh thành Sāvatthi, đã đi đến kinh thành ấy (Kukkuṭavati), rồi cất giữ hàng hóa cẩn thận, và sau khi lấy các lễ vật với ý định rằng: “Chúng ta sẽ đến yết kiến Đức vua”, (họ) đã đi đến cổng Hoàng cung, và đã nghe rằng: “Đức vua đã ngự giá đến vườn thượng uyển”; nên sau khi đi đến vườn thượng uyển, đã đứng gần cánh cổng rồi nói với người giữ vườn. Khi người giữ vườn bẩm báo cho Đức vua, Đức vua đã cho mời các thương buôn vào yết kiến, sau khi dâng lễ vật họ đã đứng đảnh lễ cung kính; Đức vua hỏi rằng: “Này các khanh, các khanh đến từ đâu?” – Tâu Bệ hạ, chúng thần từ thành Sāvatthi đến. – Xứ sở ấy có dồi dào vật thực? Đức vua là vị công minh chăng? – “Dạ phải, tâu Bệ hạ.” – Vậy ở xứ sở của các khanh có tin tức gì mới không? – Tâu Bệ hạ, có ạ, nhưng chúng thần không thể tâu bằng cái miệng chưa sạch sẽ này. Đức vua đã ban nước (được chứa đựng) bằng bình vàng. Các thương buôn, sau khi súc miệng sạch sẽ, họ liền quay mặt về phía đấng Thập Lực, chắp tay lên và đã nói rằng: “Tâu Bệ hạ, ở xứ sở của hạ thần, Phật Bảo đã hiện khởi ở thế gian!” – Vừa mới nghe danh hiệu “Đức Phật”, Đức vua đã khơi lên niềm phỉ lạc dâng trào, thấm đẫm khắp châu thân. Khi ấy, Đức vua nói rằng: “Này các khanh, các khanh nói là ‘Đức Phật’ phải không?’” – “Tâu Bệ hạ, chúng thần nói là Đức Phật.” Đức vua đã cho các thương buôn nói đến ba lần như vầy– “Từ ngữ Đức Phật là vô lượng, không ai có thể thực hiện việc đo lường được,” Đức vua đã được tịnh tín trong chính chính câu nói ấy (Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian) nên liền ban thưởng một trăm ngàn đồng tiền, rồi hỏi tiếp: “Còn tin gì khác nữa không?” – Tâu Bệ hạ, Pháp Bảo đã xuất hiện. Sau khi nghe tin đó, Ngài đã lấy sự xác nhận đến ba lần y như trước và đã ban thưởng thêm một trăm ngàn đồng tiền nữa, rồi lại hỏi tiếp: “Còn có tin tức gì khác nữa không?” – “Tâu Bệ hạ, Tăng Bảo đã xuất hiện.” Sau khi nghe tin đó, Ngài cũng đã lấy sự xác nhận tương tự y như thế và đã ban thưởng thêm một trăm ngàn đồng tiền nữa. Sau đó, Đức vua viết nội dung về việc ban thưởng số tiền này vào một bức thư và gửi đi cùng với kim khẩu rằng: “Này các khanh, các khanh hãy cầm bức thư này đến gặp Hoàng hậu.” Khi các thương buôn đã đi, Đức vua đã hỏi các viên quan đại thần rằng– “Này các khanh, Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian, các khanh sẽ làm gì?” – Các viên quan đại thần đồng thanh hỏi ngược lại: “Tâu Bệ hạ, Ngài có ý định làm gì?” Đức vua: “Trẫm sẽ xuất gia.” Các viên quan đại thần: “Ngay cả chúng thần, chúng thần cũng sẽ xuất gia.” Tất cả họ đều không còn chút vương vấn nào với nhà cửa hay tài sản, nên đã cùng nhau bước lên ngựa, thúc ngựa ra đi.”

Vāṇijā anojādeviyā santikaṃ gantvā paṇṇaṃ dassesuṃ. Sā taṃ vācetvā ‘‘raññā tumhākaṃ bahū kahāpaṇā dinnā, kiṃ tumhehi kataṃ, tātā’’ti pucchi. Piyasāsanaṃ, devi, ānītanti. Amhepi sakkā, tātā, suṇāpetunti? Sakkā, devi, ucchiṭṭhamukhehi pana vattuṃ na sakkāti. Sā suvaṇṇabhiṅgārena udakaṃ dāpesi. Te mukhaṃ vikkhāletvā rañño ārocitaniyāmeneva ārocesuṃ. Sāpi taṃ sutvā uppannapāmojjā teneva nayena ekekasmiṃ pade tikkhattuṃ paṭiññaṃ gahetvā paṭiññāgaṇanāya tīṇi tīṇi katvā nava satasahassāni adāsi. Vāṇijā sabbānipi dvādasa satasahassāni labhiṃsu. Atha ne ‘‘rājā kahaṃ, tātā’’ti pucchi. Pabbajissāmīti nikkhanto, devīti. ‘‘Tena hi, tātā, tumhe gacchathā’’ti te uyyojetvā raññā saddhiṃ gatānaṃ amaccānaṃ mātugāme pakkosāpetvā ‘‘tumhe attano sāmikānaṃ gataṭṭhānaṃ jānātha ammā’’ti pucchi. Jānāma, ayye, raññā saddhiṃ uyyānakīḷaṃ gatāti. Āma, ammā gatā, tattha pana gantvā ‘‘buddho uppanno, dhammo uppanno, saṅgho uppanno’’ti sutvā ‘‘dasabalassa santike pabbajissāmā’’ti gatā, tumhe kiṃ karissathāti? Tumhe pana, ayye, kiṃ kattukāmāti? ‘‘Ahaṃ pabbajissāmi, na tehi vantavamanaṃ jivhagge ṭhapeyyanti. ‘‘Yadi evaṃ, mayampi pabbajissāmā’’ti sabbāpi rathe yojetvā nikkhamiṃsu.

Các thương buôn, sau khi đến yết kiến Hoàng hậu Anojā đã trình lên bức thư. Hoàng hậu, sau khi đọc xong bức thư, đã hỏi rằng: “Này các khanh, Đức vua đã ban thưởng cho các khanh rất nhiều đồng tiền vàng, các khanh đã làm điều gì vậy?” – Các thương buôn: “Bẩm Hoàng hậu, chúng thần mang những tin tức quý báu đến dâng lên Ngài.” – (Hoàng hậu): “Này các khanh, các khanh có thể cho Ta nghe tin tức đó được không?”  (Các thương buôn): “Thưa Hoàng hậu, có thể được, nhưng chúng thần không thể nói ra bằng cái miệng chưa sạch sẽ.” Hoàng hậu mới ban cho nước sạch đựng trong bình vàng. Các thương buôn, sau khi súc miệng, đã trình mọi chuyện y như cách họ đã tâu với Đức vua. Ngay cả Hoàng hậu, sau khi nghe về tin ấy cũng đã khởi lên niềm hân hoan, cho các thương buôn xác nhận lại ba lần ở mỗi câu theo đúng cách thức ấy, rồi ban thưởng ba trăm ngàn cho mỗi tin; tổng cộng là chín trăm ngàn đồng tiền vàng. Như vậy, các thương buôn đã nhận được tổng số tiền lên đến một triệu hai trăm ngàn đồng tiền vàng. Khi ấy, Hoàng hậu đã hỏi các thương buôn rằng: “Này các khanh, Đức vua hiện đang ở đâu?” – Bẩm Hoàng hậu, Đức vua đã rời đi với ý định xuất gia. Hoàng hậu cho các thương buôn lui ra và nói: “Này các khanh, nếu vậy các khanh hãy trở về đi.” Rồi Bà cho mời gọi các phu nhân của các viên quan đại thần đến và hỏi: “Này các khanh, các khanh biết địa điểm nơi mà các phu quân của mình đã đi không?” (Các phu nhân): “Bẩm Hoàng hậu, chúng thần không biết, các phu quân của chúng thần đã đi dạo ở vườn thượng uyển cùng với đức vua.” (Hoàng hậu): “Vâng! các khanh, họ đã đi. Nhưng sau khi vào khu vườn ấy, họ nghe rằng: “Đức Phật đã xuất hiện, Giáo Pháp đã xuất hiện, và Tăng Chúng đã xuất hiện,’ nên tất cả đã cùng nhau đi với ý định: “Chúng ta sẽ xuất gia trong sự chứng minh của đấng Thập Lực”, vậy các khanh sẽ làm gì? Họ hỏi ngược lại: “Bẩm Hoàng hậu, còn Hoàng hậu có ý định làm gì?” – (Hoàng hậu): “Ta cũng sẽ đi xuất gia, Ta không thể đặt bãi nước bọt mà những người đó đã nhổ bỏ lên đầu lưỡi.” – Các phu nhân tâu rằng: “Nếu đã như vậy, tất cả chúng thần cũng sẽ cùng đi xuất gia.” Thế là tất cả đã cho buộc các cỗ xe và cùng nhau ra đi.

Rājāpi amaccasahassehi saddhiṃ gaṅgātīraṃ pāpuṇi, tasmiṃ samaye gaṅgā pūrā hoti. Atha naṃ disvā ‘‘ayaṃ gaṅgā pūrā hoti caṇḍamacchākiṇṇā, amhehi ca saddhiṃ āgatā dāsā vā manussā vā natthi, ye no nāvaṃ vā uḷumpaṃ vā katvā dadeyyuṃ. Etassa pana satthu guṇā nāma heṭṭhā avīcito upari yāva bhavaggā patthaṭā. Sace esa satthā sammāsambuddho, imesaṃ assānaṃ khurapiṭṭhāni mā tementū’’ti udakapiṭṭhena asse pakkhandāpesuṃ. Ekassa assassāpi khurapiṭṭhamattaṃ na temi, rājamaggena gacchantā viya paratīraṃ patvā parato aññaṃ mahānadiṃ pāpuṇiṃsu. ‘‘Dutiyā kinnamā’’ti pucchi. Nīlavāhinī nāma gambhīratopi puthulatopi aḍḍhayojanamattā devāti. Tattha aññā saccakiriyā natthi, tāya eva saccakiriyāya tampi aḍḍhayojanavitthāraṃ nadiṃ atikkamiṃsu. Atha tatiyaṃ candabhāgaṃ nāma mahānadiṃ patvā tampi tāya eva saccakiriyāya atikkamiṃsu.

Về phần Đức vua, Ngài đã đi đến bờ sông Gaṅgā cùng với một ngàn viên quan đại thần. Vào lúc bấy giờ, sông Gaṅgā luôn tràn đầy. Khi nhìn thấy dòng sông ấy, ai ai cũng phát nguyện rằng: “Sông Gaṅgā luôn tràn đầy, đầy rẫy loài cá dữ, không có người hầu hay nam nhân nào khác đến cùng với chúng ta, để có thể cung cấp thuyền hay bè cho chúng ta ở nơi ấy. Tuy nhiên, thường các ân đức của bậc Đạo Sư luôn lan tỏa từ phía dưới là từ địa ngục Avīci cho đến từ phía trên là từ cõi trời cao nhất (cảnh giới tột cùng của hiện hữu). Nếu như bậc Đạo Sư là bậc Chánh đẳng Chánh giác, thì nguyện cầu phía sau móng của những con ngựa này hãy đừng bị thấm nước,” rồi thúc ngựa phi trên mặt nước. Thậm chí từng móng của mỗi con ngựa cũng không hề bị ướt, sang đến bờ bên kia như thể đang đi bằng con đường chính, thế nhưng lại đến dòng sông rộng lớn khác ở phía trước mặt. (Đức vua)  đã hỏi rằng: “Con sông thứ hai này tên là gì?” Các viên quan đại thần tâu: “Thưa Bệ hạ, đây là sông Nīlavāhinī, có kích thước nửa do-tuần cả chiều rộng lẫn chiều sâu.” Tại con sông ấy, không thực hiện sự phát nguyện chân thật nào khác, mà cùng nhau vượt qua dòng sông rộng lớn nửa do tuần ấy bằng chính sự phát nguyện chân thật ấy. Đến con sông thứ ba tên là Candabhāgā, họ cũng đã vượt qua bằng chính sự phát nguyện chân thật ấy.

Satthāpi taṃdivasaṃ paccūsasamaye mahākaruṇāsamāpattito vuṭṭhāya lokaṃ olokento ‘‘ajja mahākappino tiyojanasatikaṃ rajjaṃ pahāya amaccasahassaparivāro mama santike pabbajituṃ āgacchatī’’ti disvā ‘‘mayā tesaṃ paccuggamanaṃ kātuṃ yutta’’nti pātova sarīrapaṭijagganaṃ katvā bhikkhusaṅghaparivāro sāvatthiyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkanto sayameva pattacīvaraṃ gahetvā ākāse uppatitvā candabhāgāya tīre tesaṃ uttaraṇatitthaabhimukhaṭṭhāne mahānigrodharukkho atthi, tattha pallaṅkena nisīditvā parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā chabbaṇṇabuddharasmiyo vissajjesi. Te tena titthena uttarantā buddharasmiyo ito cito ca dhāvantiyo oloketvā dasabalassa puṇṇacandasassirikaṃ mukhaṃ disvā ‘‘yaṃ satthāraṃ uddissa mayaṃ pabbajitā, addhā so eso’’ti dassaneneva niṭṭhaṃ gantvā diṭṭhaṭṭhānato paṭṭhāya oṇamitvā vandamānā āgamma satthāraṃ vandiṃsu. Rājā gopphakesu gahetvā satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ nisīdi saddhiṃ amaccasahassena. Satthā tesaṃ dhammakathaṃ kathesi. Desanāpariyosāne sabbeva arahatte patiṭṭhāya satthāraṃ pabbajjaṃ yāciṃsu. Satthā ‘‘pubbe ime cīvaradānassa dinnattā attano pattacīvarāni gahetvāva āgatā’’ti suvaṇṇavaṇṇaṃ hatthaṃ pasāretvā ‘‘etha bhikkhavo, svākkhāto dhammo, caratha brahmacariyaṃ sammā dukkhassa antakiriyāyā’’ti āha. Sāva tesaṃ āyasmantānaṃ pabbajjā ca upasampadā ca ahosi, vassasaṭṭhikattherā viya satthāraṃ parivārayiṃsu.

Vào ngày hôm đó, bậc Đạo Sư sau khi xuất khỏi sự thể nhập Đại Bi Định, quán chiếu thế gian lúc trời hừng sáng, Ngài đã thấy rằng: “Hôm nay, Đức vua Mahā Kappina đã từ bỏ vương vị có một ngàn viên quan đại thần tháp tùng, vượt quãng đường ba trăm do-tuần đến vì mục đích xuất gia trong sự hiện diện của Ta.” Ngài nghĩ rằng: “Điều thích hợp mà Ta thực hiện đi ra tiếp đón tiếp họ”. Sau khi làm phận sự đối với cơ thể vào sáng sớm, có Hội chúng Tỳ-khưu tháp tùng đi vào thành Sāvatthī để khất thực. Sau bữa ăn, khi đã đi khất thực trở về. Ngài tự chính mình cầm lấy bình bát và y phục bay lên hư không đến bờ sông Candabhāgā có một cây Nigrodha to lớn đối diện với bến sông mà những người ấy sẽ vượt qua. Tại đó, Ngài đã ngồi xuống với thế kiết già, thiết lập niệm luôn hiện diện, và phóng hào quang của Đức Phật có sáu màu. Khi những người ấy vượt qua bến sông ấy, nhìn thấy hào quang của Đức Phật chiếu sáng hướng này và hướng kia, chiêm bái dung nhan của đấng Thập Lực rạng rỡ tựa như ánh trăng rằm, họ đã đi đến quyết định ngay khoảnh khắc nhìn thấy ấy rằng: “Chúng con xuất gia y chỉ bậc Đạo Sư nào, thì bậc bậc Đạo Sư ấy chắc chắn chính là vị này đây rồi!”[5] Tất cả đều nghiêng mình đảnh lễ bắt đầu từ địa điểm được nhìn thấy, rồi tiến đến đảnh lễ (ở bàn chân) của bậc Đạo Sư. Đức vua nắm lấy mắt cá chân của bậc Đạo Sư, sau khi đảnh lễ rồi đã ngồi xuống ở một bên cùng một ngàn viên quan đại thần. Bậc Đạo Sư đã nói lên bài Pháp thoại cho những vị ấy. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, tất cả mọi người đều an trú vào quả vị A-ra-hán và đã thỉnh cầu xuất gia với bậc Đạo Sư. Bậc Đạo Sư biết rằng: “Bởi vì những người này đã từng cúng dường y phục trong kiếp sống quá khứ, nên mới tiếp nhận bình bát và y phúc của mình rồi duỗi cánh tay có màu sắc hoàng kim,” và đã nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự xuất gia và sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy, cùng vây quanh bậc Đạo Sư như những bậc Trưởng lão đã có trăm năm hạ-lạp.

Anojāpi devī rathasahassaparivārā gaṅgātīraṃ patvā rañño atthāya ābhataṃ nāvaṃ vā uḷumpaṃ vā adisvā attano byattatāya cintesi – ‘‘rājā saccakiriyaṃ katvā gato bhavissati, so pana satthā na kevalaṃ tesaṃyeva atthāya nibbatto, sace so satthā sammāsambuddho, amhākaṃ rathā mā udake nimujjiṃsū’’ti udakapiṭṭhena rathe pakkhandāpesi. Rathānaṃ nemivaṭṭimattampi na temi. Dutiyanadimpi tatiyanadimpi teneva saccakārena uttari. Uttaramānā eva ca nigrodharukkhamūle satthāraṃ addasa. Satthāpi ‘‘imāsaṃ attano sāmike passantīnaṃ chandarāgo uppajjitvā maggaphalānaṃ antarāyaṃ kareyya, dhammaṃ sotuṃ ca na sakkhissantī’’ti. Yathā aññamaññaṃ na passanti, tathā akāsi. Tā sabbāpi titthato uttaritvā dasabalaṃ vanditvā nisīdiṃsu. Satthā tāsaṃ dhammakathaṃ kathesi. Desanāpariyosāne sabbā sotāpattiphale patiṭṭhāya aññamaññaṃ passiṃsu. Satthā ‘‘uppalavaṇṇā āgacchatū’’ti cintesi. Therī āgantvā sabbā pabbājetvā ādāya bhikkhuniupassayaṃ gatā, satthā bhikkhusahassaṃ gahetvā ākāsena jetavanaṃ agamāsi.

Về phần Hoàng hậu Anojā, bà cùng đoàn tùy tùng với một ngàn cỗ xe đã đi đến bờ sông Gaṅgā, khi không thấy thuyền hay bè để vượt qua sông, nhưng vốn là người thông minh, bà đã khởi lên ý nghĩ rằng: “Chắc hẳn Đức vua cũng đã thực hiện sự phát nguyện chân thật mà đi qua. Hơn nữa, Đức Thế Tôn không phải giáng sanh ở đời chỉ vì nhóm người đó. Nếu như bậc Đạo Sư ấy là bậc Chánh đẳng Chánh giác, nguyện cho các cỗ xe của chúng tôi hãy đừng bị chìm dưới nước,” nên bà mới đánh xe đi trên mặt nước. Ngay cả trục xe và bánh xe của các cỗ xe ấy cũng không bị thấm nước. Luôn cả con sông thứ hai và thứ ba cũng đều vượt qua được nhờ vào việc thực hiện sự phát nguyện chân thật ấy. Ngay khi vừa sang đến bờ bên kia, bà đã nhìn thấy bậc Đạo Sư ở dưới gốc cây Nigrodha. Lúc bấy giờ, bậc Đạo Sư nghĩ rằng: “(Nếu như) những nữ nhân này nhìn thấy phu quân của mình, mong muốn và luyến ái sẽ khởi lên có thể gây trở ngại đến Đạo và Quả và họ cũng sẽ không thể nghe Pháp.” (Vì vậy) Ngài đã khiến cho họ không thể nhìn thấy nhau. Tất cả các nữ nhân ấy sau khi lên bờ đã đảnh lễ đấng Thập Lực rồi ngồi xuống. Bậc Đạo Sư thuyết giảng Giáo Pháp cho họ. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, tất cả các nữ nhân đều an trú vào quả vị Nhập lưu (Tu-đà-hoàn) và họ đã nhìn thấy nhau. Bậc Đạo Sư khởi lên ý nghĩ rằng: “Uppalavaṇṇā hãy đến.” Vị Trưởng lão ni sau khi đến, đã cho tất cả xuất gia rồi đưa họ về trú xứ của Ni đoàn. Còn bậc Đạo Sư đưa một ngàn vị Tỳ-khưu đến Tịnh xá Jetavana bằng đường hư không.

Athāyaṃ mahākappinatthero attano kiccaṃ matthakappattaṃ ñatvā appossukko hutvā phalasamāpattisukhena vītināmento araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi ‘‘aho sukhaṃ aho sukha’’nti abhiṇhaṃ udānaṃ udānesi. Bhikkhū kathaṃ uppādesuṃ ‘‘kappinatthero rajjasukhaṃ anussaranto udānaṃ udānetī’’ti. Te tathāgatassa ārocesuṃ. Bhagavā ‘‘mama putto maggasukhaṃ phalasukhaṃ ārabbha udānaṃ udānesī’’ti vatvā dhammapade imaṃ gāthamāha –

‘‘Dhammapīti sukhaṃ seti, vippasannena cetasā;
Ariyappavedite dhamme, sadā ramati paṇḍito’’ti. (dha. pa. 79);

Khi ấy, Trưởng lão Mahākappina sau khi biết rằng phận sự của mình đã đạt đến cứu cánh, trở thành người ít bận tâm, trải qua thời gian (đêm ngày) với sự an lạc trong sự thể nhập Thánh Quả, mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi trống vắng đã nhiều lần thốt lên lời cảm hứng rằng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’ Các vị Tỳ-khưu khởi lên bàn tán rằng: “Trưởng lão Kappina trong khi việc trong khi hồi tưởng lại sự khoái lạc vương giả đã thốt lên lời cảm hứng”. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Như Lai. Đức Thế Tôn nói rằng: “Con trai của Ta vì hướng đến sự an lạc của Đạo và sự an lạc của Quả đã thốt lên lời cảm hứng ấy,”rồi nói lên kệ ngôn này trong Kinh Pháp Cú—

“Người có sự hoan hỷ trong Giáo Pháp ngủ một cách an lạc với tâm ý thanh tịnh. Người sáng suốt luôn luôn hứng thú trong Giáo Pháp đã được các bậc Thánh tuyên thuyết.” (dha. pa. 79);

Athekadivasaṃ satthā tassa antevāsikabhikkhusahassaṃ āmantetvā āha – ‘‘kacci vo, bhikkhave, ācariyo dhammaṃ desetī’’ti. Na bhagavā deseti, appossukko diṭṭhadhammasukhavihāraṃ anuyutto viharati, kassaci ovādamattampi na detīti. Satthā taṃ pakkosāpetvā ‘‘saccaṃ kira tvaṃ, kappina, antevāsikānaṃ ovādamattampi na desī’’ti? Saccaṃ bhagavāti. Brāhmaṇa, mā evaṃ kari, ajja paṭṭhāya antevāsikānaṃ dhammaṃ desehīti. ‘‘Sādhu, bhante’’ti thero satthu kathaṃ siravarena sampaṭicchitvā ekasamodhāneyeva samaṇasahassassa dhammaṃ desetvā sabbe arahattaṃ pāpesi. Aparabhāge satthā saṅghamajjhe nisinno paṭipāṭiyā there ṭhānantaresu ṭhapento mahākappinattheraṃ bhikkhuovādakānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Sau đó vào một ngày nọ, bậc Đạo Sư gọi một ngàn vị Tỳ-khưu là đệ tử của Ngài Mahā Kappina đến rồi hỏi rằng: “Này các Tỳ-khưu, Thầy của các ông có thuyết giảng Giáo Pháp hay không?” Các Tỳ-khưu đáp rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, Thầy của chúng con không thuyết giảng, Ngài là vị ít bận tâm, thường xuyên sống gắn bó vào sự lạc trú trong hiện tại, không ban dù chỉ một lời giáo huấn cho bất kỳ ai.” Bậc Đạo Sư cho mời Trưởng lão Mahā Kappina đến và hỏi: “Này Kappina, nghe nói ông không ban dù chỉ một lời giáo huấn cho các đệ tử của mình có đúng không vậy?” Ngài Mahā Kappina bạch: Bạch Đức Thế Tôn, đúng vậy. – Đức Thế Tôn nói rằng: “Này vị Bà-la-môn[6], ông chớ làm như vậy. Kể từ hôm nay, ông hãy thuyết giảng Giáo Pháp cho các đệ tử.” – Trưởng lão đã đê đầu cung kính tiếp nhận lời nói của bậc Đạo Sư (nói rằng) “Bạch ngài, lành thay!” Rồi thuyết giảng Giáo Pháp cho một ngàn vị Sa-môn chỉ trong một lần hội họp duy nhất đã khiến cho tất cả thành tựu quả vị A-la-hán. Về sau, bậc Đạo Sư trong khi ngồi giữa Hội chúng Tỳ-khưu đã thiết lập các Trưởng lão vào vị thế khác nhau theo thứ tự, rồi mới thiết lập Trưởng lão Mahā Kappina vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu giáo huấn Tỳ-khưu.

Câu chuyện về Trưởng lão Sāgata

  1. Dasame tejodhātukusalānanti tejodhātuṃ samāpajjituṃ kusalānaṃ sāgatatthero aggoti dasseti. Ayañhi thero tejodhātusamāpattiyā ambatitthanāgassa tejasā tejaṃ pariyādiyitvā taṃ nāgaṃ nibbisevanaṃ akāsi. Tasmā tejodhātukusalānaṃ aggo nāma jāto.
    Trong bài Kinh thứ mười, vị thiện xảo về hỏa giới: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng “Trưởng lão Sāgata là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu thiện xảo về hỏa giới”. Thật vậy, vị Trưởng lão này đã dùng sức mạnh (lửa) của bản thân nhiếp phục sức mạnh (lửa) của con rồng Ambatittha làm cho mất tính hung hãn. Chính vì lý do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu thiện xảo về hỏa giới.

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulagehe paṭisandhiṃ gahetvā aparabhāge satthudhammadesanaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ tejodhātukusalānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto imasmiṃ buddhuppāde sāvatthiyaṃ brāhmaṇakule nibbatti, sāgatamāṇavotissa nāmaṃ akaṃsu. So aparabhāge satthu dhammadesanaṃ sutvā paṭiladdhasaddho pabbajitvā aṭṭha samāpattiyo nibbattetvā tattha vasībhāvaṃ pāpuṇi.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Thật vậy, vị Trưởng lão này vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara đã tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī. Về sau, trong khi đang nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu thiện xảo về hỏa giới, (vị ấy) đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện (đạt được) vị thế đó (trong ngày tương lai). Vị ấy, sau khi thực hiện các thiện nghiệp cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, vào thời kỳ Đức Phật này xuất hiện vị ấy đã tái sanh vào gia tộc Bà-la-môn tại thành Sāvatthi, và đã được cha mẹ đặt tên là thanh niên Sāgata. Về sau, sau khi lắng nghe vị ấy lắng nghe Giáo Pháp của bậc Đạo Sư vị ấy có đức tin được thành tựu rồi xuất gia, (vị ấy) đã làm sanh khởi tám thiền chứng và đã đạt được bản thể năng lực trong các thiền chứng ấy.

Athekadivasaṃ satthā cārikaṃ caramāno kosambinagarasamīpaṃ agamāsi. Tena ca samayena nadītitthe porāṇakanāvikassa bahū āgantukagamikā verino hutvā taṃ pothetvā mārayiṃsu. So viruddhena cittena patthanaṃ paṭṭhapetvā tasmiṃyeva titthe mahānubhāvo nāgarājā hutvā nibbatto. So viruddhacittattā akāleyeva vassāpeti, kāle pana na vassāpeti, sassāni na sammā sampajjanti. Sakalaraṭṭhavāsino ca tassa vūpasamanatthaṃ anusaṃvaccharaṃ balikammaṃ karonti, vasanatthāya cassa ekaṃ gehaṃ akaṃsu. Satthāpi teneva titthena uttaritvā bhikkhusaṅghaparivuto ‘‘tasmiṃyeva padese rattiṃ vasissāmī’’ti agamāsi.

Sau đó vào một ngày nọ, trong lúc du hành bậc Đạo Sư đã đi đến gần thành Kosambi. Vào lúc bấy giờ, nhiều người qua lại là kẻ thù của người chèo thuyền cũ tại bến sông; bọn chúng đã đánh đập người ấy đến chết. Người chèo thuyền ấy đã lập nên lời phát nguyện với tâm oán hận và đã tái sanh thành một con rồng có năng lực quảng đại ở ngay tại bến sông đó. Do mang tâm oán hận, con rồng không những làm trời đổ mưa không đúng mùa; mà còn ngăn trời đổ mưa vào đúng mùa, làm cho mùa màng bị thất thu. Toàn bộ dân chúng sống trong thành phố hằng năm đều thực hiện nghi thức cúng tế (thần linh) nhằm mục đích trấn an con rồng đó, và đã xây dựng một ngôi đền cho con rồng ấy trú ngụ. Bậc Đạo Sư được Hội chúng Tỳ-khưu tháp tùng đã đi qua bến sông đó, rồi đi (đến đó) với ý định rằng: ‘Ta sẽ qua đêm ở tại khu vực ấy.’

Athāyaṃ thero ‘‘caṇḍo kirettha nāgarājā’’ti sutvā ‘‘imaṃ nāgarājānaṃ dametvā nibbisevanaṃ katvā satthu vasanaṭṭhānaṃ pariyādetuṃ vaṭṭatī’’ti nāgarājassa vasanaṭṭhānaṃ pavisitvā pallaṅkaṃ ābhujitvā nisīdi. Nāgo kujjhitvā ‘‘konāmāyaṃ muṇḍako mayhaṃ vasanaṭṭhānaṃ pavisitvā nisinno’’ti dhūpāyi, thero uttaritaraṃ dhūpāyi. Nāgo, pajjali, theropi uttaritaraṃ pajjalitvā tassa tejaṃ pariyādiyi. So ‘‘mahanto vatāyaṃ bhikkhū’’ti therassa pādamūle nipatitvā, ‘‘bhante, tumhākaṃ saraṇaṃ gacchāmī’’ti āha. Mayhaṃ saraṇagamanakiccaṃ natthi, dasabalassa saraṇaṃ gacchāti. So ‘‘sādhū’’ti saraṇagato hutvā tato paṭṭhāya na kañci viheṭheti, devampi sammā vassāpeti, sassāni sammā sampajjanti.

Khi ấy, vị Trưởng lão này biết rằng: “Nghe nói có con rồng chúa hung hãn đang trú ở nơi đó,” Ngài nghĩ rằng: “Ta nên nhiếp phục con rồng này để nó từ bỏ tính hung hãn, rồi mới sắp xếp chỗ nghỉ ngơi dành cho bậc Đạo Sư.” Sau khi đi vào chỗ ở của rồng đã ngồi xuống, xếp chân thế kiết già. Con rồng đã nổi giận: “Sa-môn đầu trọc này là ai mà dám ngang nhiên bước vào chỗ trú ngụ của ta?” rồi đã phun ra khói, Trưởng lão cũng phun ra khói còn dày đặc hơn. Rồng chúa đã phun ra lửa; Trưởng lão cũng phun ra ngọn lửa dữ dội hơn nữa, chế ngự hoàn toàn sức mạnh của con rồng ấy. Rồng chúa nghĩ rằng: “Vị Trưởng lão này thật vĩ đại” nên đã phủ phục dưới chân của Trưởng lão, nói rằng: “Thưa Ngài, con xin đi đến nương nhờ Ngài.” – Trưởng lão đáp: “Phận sự đi đến nương nhờ đối với Ta là không có, ngươi hãy đi đến nương nhờ nơi đấng Thập Lực.” – Con rồng liền vâng lời đáp: “Lành thay!” rồi đã đi đến nơi nương nhờ, kể từ đó trở đi (rồng chúa) không đem lại sự nhiểu hại cho bất kỳ ai, làm cho trời mưa đúng mùa, mùa màng được bội thu.

Kosambivāsino ‘‘ayyena kira sāgatena ambatitthakanāgo damito’’ti sutvā satthu āgamanaṃ udikkhamānā dasabalassa mahāsakkāraṃ sajjayiṃsu. Te dasabalassa mahāsakkāraṃ katvā chabbaggiyānaṃ vacanena sabbagehesu kāpotikaṃ pasannaṃ paṭiyādetvā punadivase sāgatattherassa piṇḍāya carantassa gehe gehe thokaṃ thokaṃ adaṃsu. Thero apaññatte sikkhāpade manussehi yāciyamāno gehe gehe thokaṃ thokaṃ pivitvā avidūraṃ gantvāva anāhārikabhāvena satiṃ vissajjetvā saṅkāraṭṭhāne pati.

Dân chúng thành Kosambi nghe rằng: “Nghe nói Ngài Đại đức Sāgata đã hàng phục được rồng chúa Ambatittha,” ai ai cũng chờ việc đi đến của bậc Đạo Sư và đã chuẩn bị các lễ vật trọng thể dâng lên đấng Thập Lực. Sau khi thực hiện dâng các lễ vật trọng thể đến đấng Thập Lực, họ đã chuẩn bị rượu cất có màu đỏ nhạt (giống như chân chim Bồ Câu) ở mỗi nhà theo lời chỉ dẫn của các Tỳ-khưu nhóm Lục Sư. Ngày hôm sau, khi Trưởng lão Sāgata đi khất thực đã cùng nhau dâng mỗi nhà một chút, vì khi ấy vẫn chưa chế định điều học, Trưởng lão bị mọi người khẩn khoản thỉnh cầu đã uống tại mỗi nhà một ít; đi chưa được bao xa Ngài đã thất niệm và đã ngã nhào vào đống rác bởi (trong bụng) không có thức ăn.

Satthā katabhattakicco nikkhamanto taṃ disvā gāhāpetvā vihāraṃ gantvā vigarahitvā sikkhāpadaṃ paññāpesi. So punadivase satiṃ labhitvā attanā katakāraṇaṃ sutvā accayaṃ desetvā dasabalaṃ khamāpetvā uppannasaṃvego vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ pāpuṇi. Evaṃ vatthu vinaye samuṭṭhitaṃ. Taṃ tattha āgatanayeneva vitthārato veditabbaṃ. Aparabhāge pana satthā jetavane mahāvihāre nisīditvā paṭipāṭiyā there ṭhānantaresu ṭhapento sāgatattheraṃ tejodhātukusalānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Sau khi bậc Đạo Sư hoàn tất việc thọ thực, rồi trong khi rời khỏi đã nhìn thấy Trưởng lão Sāgata ấy truyền lệnh đưa vị ấy về lại Tịnh xá; sau khi khiển trách, Đức Thế Tôn đã quy định điều học. Ngày hôm sau, vị Trưởng lão ấy có niệm đã nghe mọi người kể lại những việc mình đã làm, sau khi bày tỏ lỗi lầm đã khẩn xin đấng Thập Lập tha thứ, đã khởi lên sự chấn động tâm, đã phát triển minh sát và đã đạt đến quả vị A-ra-hán. Câu chuyện được xuất hiện trong Luật Tạng[7] như đã đề cập. Nên hiểu chi tiết câu chuyện theo phương thức đã được trình bày trong chính bộ Luật ấy.” Về sau, khi bậc Đạo Sư ngồi trong Tịnh xá Jetavana đang thiết lập các vị Trưởng lão vào các vị thế theo thứ tự, mới thiết lập Trưởng lão Sāgata vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu thiện xảo về hỏa giới.

Câu chuyện về Trưởng lão Rādha

  1. Ekādasame paṭibhāneyyakānanti[8] satthu dhammadesanāpaṭibhānassa paccayabhūtānaṃ paṭibhānajanakānaṃ bhikkhūnaṃ rādhatthero aggoti dasseti. Therassa hi diṭṭhisamudācārañca okappaniyasaddhañca āgamma dasabalassa navanavā dhammadesanā paṭibhāti. Tasmā thero paṭibhāneyyakānaṃ aggo nāma jāto.
    Trong bài Kinh thứ mười một, vị năng khởi biện tài: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng Trưởng lão Rādha là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu năng khởi biện tài, trở thành điều kiện cho phép biện giải trong bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư. Thật vậy, do sự hiểu biết về quan điểm và đức tin không dao động của Trưởng lão ấy mà những bài giảng Pháp mới của đấng Thập Lực được khởi lên. Chính vì lý do đó, Trưởng lão được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu năng khởi biện tài.

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulagehe nibbattitvā aparabhāge satthu dhammadesanaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ paṭibhāneyyakānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvajīvaṃ tathāgataṃ paricaritvā devamanussesu saṃsaranto imasmiṃ buddhuppāde rājagahanagare brāhmaṇakule paṭisandhiṃ gaṇhi, rādhamāṇavotissa nāmaṃ akaṃsu.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Thật vậy, vị Trưởng lão này vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara đã tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī. Về sau, trong khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu năng khởi biện tài, đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện vào vị thế đó. Vị ấy đã tận tụy chăm sóc Đức Như Lai (Padumuttara) cho đến trọn đời, rồi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người. Đến thời kỳ Đức Phật hiện tại xuất hiện, vị ấy tái sanh vào gia đình Bà-la-môn tại thành Rājagaha, và đã đặt tên là thanh niên Rādha.

So mahallakakāle attano puttadārena abahumato ‘‘pabbajitvā kālaṃ vītināmessāmī’’ti vihāraṃ gantvā there pabbajjaṃ yāci. ‘‘Jiṇṇo mahallakabrāhmaṇo’’ti na koci pabbājetuṃ icchi. Athekadivasaṃ brāhmaṇo satthu santikaṃ gantvā paṭisanthāraṃ katvā ekamantaṃ nisīdi. Satthā tassa upanissayasampattiṃ disvā kathaṃ samuṭṭhāpetukāmo ‘‘kiṃ, brāhmaṇa, puttadārā taṃ paṭijaggantī’’ti? Kuto, bho gotama, paṭijagganaṃ, mahallakoti maṃ bahi nīhariṃsu. Kiṃ pana te, brāhmaṇa, pabbajituṃ na vaṭṭatīti? Ko maṃ, bho gotama, pabbājessati, mahallakabhāvena maṃ na koci icchatīti. Satthā sāriputtattherassa saññaṃ adāsi. Thero satthu vacanaṃ sirasā sampaṭicchitvā rādhabrāhmaṇaṃ pabbājetvā cintesi – ‘‘satthā imaṃ brāhmaṇaṃ sādarena pabbajāpesi, na kho me etaṃ anādarena pariharituṃ vaṭṭatī’’ti rādhattheraṃ ādāya gāmakāvāsaṃ agamāsi. Tatrassa adhunā pabbajitattā kicchalābhissa thero attano pattaṃ āvāsaṃ deti, attano pattaṃ paṇītapiṇḍapātampi tasseva datvā sayaṃ piṇḍāya carati. Rādhatthero senāsanasappāyañca bhojanasappāyañca labhitvā sāriputtattherassa santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā nacirasseva arahattaṃ pāpuṇi.

Khi về già, vị ấy không còn yêu quý bởi vợ và con của mình, nên nghĩ rằng: “Ta sẽ xuất gia để tiêu phí thời gian,” rồi đã đi đến Tịnh xá thỉnh cầu sự xuất gia cùng các vị Trưởng lão. Một số vị Trưởng lão không có ý muốn cho xuất gia bởi thấy rằng: “Là người già yếu, là Bà-la-môn lớn tuổi.” Sau đó vào một ngày nọ, vị Bà-la-môn này sau khi đi đến gặp bậc Đạo Sư, đã thực hiện việc chào hỏi, rồi ngồi xuống một bên. Bậc Đạo Sư, (với tuệ nhãn) nhìn thấy sự thành tựu về việc nâng đỡ (sự có đủ điều kiện giác ngộ) của vị ấy, có ý muốn gợi mở câu chuyện nên đã hỏi: “Này Bà-la-môn, vợ con ông vẫn chăm sóc ông chu đáo chứ?” – Vị ấy đáp: “Thưa Ngài Gotama, làm gì có chuyện chăm sóc ấy! Vợ con đã đuổi con ra khỏi nhà vì họ nghĩ rằng: ‘con đã già.’” – Đức Phật hỏi tiếp: “Này Bà-la-môn, vậy ông đi xuất gia chẳng phải phù hợp hơn sao?” Vị ấy đáp: “Thưa Ngài Gotama, ai sẽ cho con xuất gia đây? Chẳng ai muốn nhận con cả vì con là một lão già.” – Bậc Đạo Sư đã ra hiệu cho Trưởng lão Sāriputta. Trưởng lão đã đê đầu cung kính tiếp nhận lời nói của bậc Đạo Sư cho Bà-la-môn Rādha xuất gia. Trưởng lão nghĩ rằng: “Bậc Đạo Sư đã cho Bà-la-môn này xuất gia vì lòng thương mến, thì không thích hợp chăm sóc Bà-la-môn này với lòng không thương mến.” Vì vậy, Trưởng lão đã đưa Tỳ-khưu Rādha đến nơi cư ngụ ở gần làng. Tại đó, Ngài có lợi lộc khó khăn vì là người mới xuất gia, Trưởng lão đã nhường chỗ trú ngụ thuộc phần mình, luôn cả chỗ trú ngụ tốt nhất; nhường phần đồ ăn khất thực thượng hạng thuộc về mình cho Tỳ-khưu Rādha, và tự mình đi khất thực. Trưởng lão Rādha sau khi có được chỗ trú ngụ và vật thực thích hợp, Ngài đã tiếp nhận đề mục thiền định trong sự hiện diện của Trưởng lão Sāriputta, chẳng bao lâu sau đó Ngài đã chứng đắc quả vị A-ra-hán.

Atha naṃ thero gahetvā dasabalaṃ passituṃ āgato. Satthā jānantova pucchi – ‘‘yo te mayā , sāriputta, nissitako dinno, kīdisaṃ tassa, na ukkaṇṭhatī’’ti? Bhante, sāsane abhiramitabhikkhu nāma evarūpo bhaveyyāti. Athāyasmato sāriputtassa ‘‘sāriputtatthero kataññū katavedī’’ti saṅghamajjhe kathā udapādi. Taṃ sutvā satthā bhikkhū āmantesi – ‘‘anacchariyaṃ, bhikkhave, sāriputtassa idāni kataññūkataveditā, so atīte ahetukapaṭisandhiyaṃ nibbattopi kataññūkatavedīyeva ahosī’’ti. Katarasmiṃ kāle bhagavāti?

Khi ấy, Trưởng lão Sāriputta đã đưa Tỳ-khưu Rādha đến yết kiến đấng Thập Lực. Bậc Đạo Sư tuy đã biết rõ mọi việc, nhưng vẫn hỏi: “Này Sāriputta, vị đệ tử mà Ta đã giao phó cho ông giờ đây thế nào? Có ý muốn hoàn tục chăng?” Trưởng lão Sāriputta thưa: “Bạch Đức Thế Tôn, vị Tỳ-khưu thỏa thích trong Giáo Pháp có thể trở thành như thế.” – Khi ấy, có câu chuyện trao đổi này đã khởi lên ở giữa Tăng Chúng về đại đức Sāriputta rằng: “Trưởng lão Sāriputta là người có sự tri ân, là người có sự báo ân.” Bậc Đạo Sư khi nghe được những lời ấy, đã bảo các vị Tỳ-khưu rằng– “Này các Tỳ-khưu, Sāriputta là người có sự tri ân và báo ân trong kiếp này không kỳ lạ chút nào. Ngay cả trong các kiếp quá khứ khi tái sanh trong sự tục sanh bằng tâm vô nhân (tái sanh thành loài bàng sanh), thì vị ấy cũng đã là người có sự tri ân và báo ân tương tự y như thế.” – Bạch Đức Thế Tôn vào thời gian nào?

Atīte, bhikkhave, pabbatapādamhi pañcasatamattā vaḍḍhakipurisā mahāaraññaṃ pavisitvā dabbasambhāre chinditvā mahāuḷumpaṃ bandhitvā nadiyā otārenti. Atheko hatthināgo ekasmiṃ visamaṭṭhāne soṇḍāya sākhaṃ gaṇhanto sākhābhaṅgavegaṃ sandhāretuṃ asakkonto tikhiṇakhāṇuke pādena avatthāsi, pādo viddho, dukkhavedanā vattanti. So gamanaṃ abhinīharituṃ asakkonto tattheva nipajji. So katipāhaccayena te vaḍḍhakī attano samīpena gacchante disvā ‘‘ime nissāyāhaṃ jīvitaṃ labhissāmī’’ti tesaṃ anupadaṃ agamāsi. Te nivattitvā hatthiṃ disvā bhītā palāyanti. So tesaṃ palāyanabhāvaṃ ñatvā aṭṭhāsi, puna ṭhitakāle anubandhi.

– Này các Tỳ-khưu, vào thời quá khứ, có khoảng năm trăm người thợ mộc cùng nhau vào một khu rừng lớn dưới chân núi, sau khi đốn hạ các cây gỗ và vật liệu đã kết thành những chiếc bè lớn thả trôi theo dòng sông. Khi ấy, có một con Long tượng dùng vòi nắm vào một cành cây ở một nơi gồ ghề, không thể giữ được sức đẩy tới của cành cây đã bị gãy nên đã giẫm chân lên một gốc cây nhọn, chân voi bị gốc cây nhọn ấy đâm thủng, đưa đến cảm giác vô cùng đau đớn. Con long tượng ấy không thể bước đi được nữa nên đành nằm xuống ngay tại chỗ đó. Sau vài ngày, con long tượng nhìn thấy những người thợ mộc đang đi đến gần chỗ mình, nghĩ rằng: “Nương nhờ vào những người thợ mộc này ta sẽ giữ được mạng sống,” nên đã lần theo dấu chân của những người thợ ấy. Sau khi quay trở lại những người thợ mộc đã nhìn thấy voi, họ rất hoảng sợ và đã bỏ chạy. Con long tượng ấy biết rằng những người thợ mộc đó bỏ chạy cũng đã dừng lại; và khi họ dừng lại thì tiếp tục đi theo.

Vaḍḍhakijeṭṭhako cintesi – ‘‘ayaṃ hatthi amhesu tiṭṭhantesu anubandhati, palāyantesu tiṭṭhati, bhavissati tattha kāraṇa’’nti. Sabbe taṃ taṃ rukkhaṃ āruyha tassa āgamanaṃ paṭimānentā nisīdiṃsu. So tesaṃ santikaṃ āgantvā attano pādaṃ dassento parivattetvā nipajji. Tadā vaḍḍhakīnaṃ saññā udapādi – ‘‘gilānabhāvena, bho, esa āgacchati, na aññena kāraṇenā’’ti tassa santikaṃ gantvā pāde paviṭṭhakhāṇukaṃ disvā ‘‘iminā kāraṇena esa āgato’’ti tikhiṇavāsiyā khāṇukakoṭiyaṃ odhiṃ datvā daḷhāya rajjuyā bandhitvā kaḍḍhitvā nīhariṃsu. Athassa vaṇamukhaṃ pīḷetvā pubbalohitaṃ nīharitvā kasāvodakena dhovitvā attano jānanabhesajjaṃ makkhetvā nacirasseva phāsukaṃ akaṃsu.

Trưởng nhóm thợ mộc nghĩ rằng: “Con voi này khi ta dừng thì nó chạy theo, khi ta chạy thì nó dừng lại, ở đây chắc hẳn sẽ có lý do.” Tất cả liền trèo lên cây này cây kia và ngồi chờ con voi đi đến. Con long tượng ấy, sau khi đi đến gần những người ấy, đã nằm xuống và đưa chân của mình lên. Khi ấy, những người thợ mộc đã hiểu ra sự việc, mới bảo nhau: “Này các anh em, con voi này đến vì tình trạng đau bệnh, chứ không phải vì lý do nào khác,” mới đi đến gần con voi ấy đã nhìn thấy gốc cây nhọn đâm sâu vào chân (hiểu rằng): “Chính vì nguyên nhân này mà nó mới tìm đến,” họ dùng con dao sắc bén rạch quanh đầu gốc cây, dùng dây buộc thật chặt rồi cùng nhau ra sức kéo ra, sau đó bóp miệng vết thương để nặn hết mủ và máu bầm, rửa sạch bằng nước làm đông máu, rồi đắp loại thuốc mà bản thân họ biết. Chẳng bao lâu sau, họ đã khiến cho nó cảm thấy dễ chịu trở lại.

Hatthināgo gilānā vuṭṭhito cintesi – ‘‘ime mayhaṃ bahupakārā, ime mayā nissāya jīvitaṃ laddhaṃ, mayā imesaṃ kataññunā katavedinā bhavituṃ vaṭṭatī’’ti attano vasanaṭṭhānaṃ gantvā setaṃ gandhahatthipotakaṃ ānesi.

Sau khi khỏi bệnh, con long tượng nghĩ rằng– “Những người thợ mộc này giúp đỡ ta rất nhiều, nhờ dựa vào họ mà ta mới giữ được mạng sống. Ta cần phải có sự tri ân và sự báo ân đối với họ.” Sau khi trở về nơi ở của mình đã dẫn theo một con voi con thuộc dòng dõi voi Gandha đến.

Vaḍḍhakino hatthipotakaṃ disvā ‘‘amhākaṃ hatthī puttampi gahetvā āgato’’ti ativiya tuṭṭhacittā ahesuṃ. Hatthināgo cintesi – ‘‘mayi tiṭṭhante ‘kiṃ nu kho ayaṃ āgato’ti mama āgatakāraṇaṃ na jānissantī’’ti ṭhitaṭṭhānato pakkāmi. Hatthipotako pitu pacchato pacchato anupāyāsi. Hatthināgo tassa āgatabhāvaṃ ñatvā nivattanatthāya saddasaññaṃ adāsi. So pitu kathaṃ sutvā nivattitvā vaḍḍhakīnaṃ santikaṃ gato. Vaḍḍhakino ‘‘imaṃ hatthipotakaṃ amhākaṃ dātuṃ āgato bhavissati eso’’ti ñatvā ‘‘amhākaṃ santike tayā kattabbakiccaṃ natthi, pitu santikaṃyeva gacchā’’ti pahiṇiṃsu. Hatthināgo yāvatatiyaṃ attano santikaṃ āgatampi puna vaḍḍhakīnaṃyeva samīpaṃ pesesi. Tato paṭṭhāya vaḍḍhakino hatthipotakaṃ attano santike katvā paṭijagganti. Bhojanakāle ekekaṃ bhattapiṇḍaṃ denti, bhattaṃ tassa yāvadatthaṃ ahosi. So vaḍḍhakīhi antogahane koṭṭitaṃ dabbasambhāraṃ āharitvā aṅgaṇaṭṭhāne rāsiṃ karoti. Eteneva niyāmena aññampi upakārakammaṃ karoti.

Những người thợ mộc sau khi nhìn thấy voi con, đã có tâm vô cùng hoan hỷ rằng: “Con voi của chúng ta đã dẫn con nó đến!” Con long tượng nghĩ rằng: “Khi ta đứng đây ‘vì sao voi con này đi đến?’ Chắc hẳn nó sẽ không biết lý do mà ta đến,” mới rời khỏi vị trí đang đứng. Voi con vẫn lũi cũi đi phía sau cha. Con long tượng biết về việc đi theo của voi con ’, liền phát ra tiếng kêu báo hiệu hãy quay trở lại. Voi con nghe tiếng cha, liền quay trở lại tìm gặp những người thợ mộc. Những người thợ mộc biết rằng: “Con long tượng có lẽ đến vì mục đích ban tặng voi con này cho chúng ta,” nên họ mới nói rằng: “Ở chỗ của chúng tôi không có công việc cần phải làm để cho mày đâu, hãy trở về gặp cha của mày đi,” rồi đưa voi con quay trở về. Tuy nhiên, con long tượng đã gửi con mình đến lần thứ tới gần chỗ những người thợ mộc. Kể từ đó, những người thợ mộc đã cùng nhau nuôi dưỡng voi con ở tại nơi làm việc của mình. Đến bữa ăn, mỗi người đều chia sẻ cho nó một vắt cơm vừa đủ cho nhu cầu của voi con. Lúc bấy giờ, voi con ấy bắt đầu giúp sức bằng cách thu gom các loại gỗ và vật liệu mà những người thợ mộc đã đốn hạ trong rừng, rồi mang về chất thành từng đống lớn tại sân bãi. Voi con đã thực hiện cả những công việc trợ giúp khác theo cách thức như vậy.

Satthā imaṃ kāraṇaṃ āharitvā pubbepi sāriputtassa kataññūkatavedibhāvaṃ dīpeti. Sāriputtatthero hi tadā mahāhatthī ahosi, aṭṭhuppattiyaṃ āgato ossaṭṭhavīriyo bhikkhu hatthipotako ahosi. Saṃyuttanikāyaṃ pana patvā sakalaṃ rādhasaṃyuttaṃ, dhammapade ca –

‘‘Nidhīnaṃva pavattāraṃ, yaṃ passe vajjadassinaṃ;
Niggayhavādiṃ medhāviṃ, tādisaṃ paṇḍitaṃ bhaje;
Tādisaṃ bhajamānassa, seyyo hoti na pāpiyo’’ti. (dha. pa. 76) –

Gāthā therassa dhammadesanā nāma. Aparabhāge pana satthā paṭipāṭiyā there ṭhānantaresu ṭhapento rādhattheraṃ paṭibhāneyyakānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.

Bậc Đạo Sư đã đưa ra lý do này để làm sáng tỏ rằng: “Ngay cả trong kiếp sống quá khứ, Sāriputta đã là người có sự tri ân và có sự báo ân.” Thật vậy, khi đó Trưởng lão Sāriputta là con voi to lớn; còn vị Tỳ-khưu buông bỏ sự tinh tấn được đề cập ở nhân sanh khởi của câu chuyện này chính là voi con. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về Ngài Rādha, nên tham khảo toàn bộ chương Tương Ưng Rādha trong Tương Ưng Bộ Kinh và trong Kinh Pháp Cú như sau–

“Nên gặp gỡ người thông minh, có sự nhìn thấy được lỗi lầm, có lời nói khiển trách, tựa như người chỉ ra những của cải chôn giấu; nên giao thiệp với người sáng suốt như thế ấy. Đối với người giao thiệp với vị (thông minh) như thế ấy, thì trở nên tốt hơn, không xấu.” (dha. pa. 76) –

Các bài kệ này được gọi là bài thuyết giảng Giáo Pháp của vị Trưởng lão (đã được ghi chép lại). Nhưng về sau, bậc Đạo Sư thiết lập các vị Trưởng lão vào các vị thế theo thứ tự, Ngài đã thiết lập Trưởng lão Rādha vào vị thế tối thắng trong số các Tỳ-khưu năng khởi biện tài.

Câu chuyện về Trưởng lão Mogharāja

  1. Dvādasame lūkhacīvaradharānanti lūkhacīvaraṃ dhārentānaṃ mogharājā aggoti dasseti. Ayaṃ hi thero satthalūkhaṃ suttalūkhaṃ rajanalūkhanti tividhenapi lūkhena samannāgataṃ paṃsukūlaṃ dhāresi. Tasmā lūkhacīvaradharānaṃ aggo nāma jāto.
    Trong bài Kinh thứ mười hai, vị mang y thô xấu: Đức Thế Tôn chỉ rõ rằng: Trưởng lão Mogharāja là vị tối thắng trong số các Tỳ-khưu mang y thô xấu. Thật vậy, vị Trưởng lão này thường xuyên mặc những tấm y phấn tảo (y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ) được hợp thành từ ba sự thô xấu là thô xấu do mảnh vải, thô xấu do sợi chỉ, thô xấu do thuốc nhuộm. Chính vì lý do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu mang y thô xấu.

Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatiyaṃ kulagehe paṭisandhiṃ gahetvā nibbatti, tato aparabhāge satthu dhammakathaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ lūkhacīvaradharānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto kassapadasabalassa nibbattito puretarameva kaṭṭhavāhananagare amaccagehe paṭisandhiṃ gaṇhi. Aparabhāge vayappatto kaṭṭhavāhanarājānaṃ upaṭṭhahanto amaccaṭṭhānaṃ labhi.

Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Thật vậy, vị Trưởng lão này vào thời kỳ Đức Phật Padumuttara đã tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī. Sau đó, trong khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu mang y thô xấu, đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện vào vị thế đó. Vị ấy, sau khi thực hiện các việc thiện cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, đã tái sanh vào gia đình của một viên quan đại thần tại kinh thành Kaṭṭhavāha trước khi đấng Thập Lực Kassapa xuất hiện. Về sau, đến tuổi trưởng thành, khi đến phục vụ vua Kaṭṭhavāhana đã đạt được tước vị đại thần cố vấn (trong triều đình).

Tasmiṃ kāle kassapadasabalo loke uppajji. Kaṭṭhavāhanarājā ‘‘buddho kira loke uppanno’’ti sutvā taṃ pakkosāpetvā āha – ‘‘tāta, buddho kira loke uppanno, imaṃ paccantanagaraṃ ekappahāreneva ubhohi amhehi tucchaṃ kātuṃ na sakkā, tvaṃ tāva majjhimadesaṃ gantvā buddhassa uppannabhāvaṃ ñatvā dasabalaṃ imaṃ nagaraṃ ānehī’’ti purisasahassena saddhiṃ pesesi. So anupubbena satthu santikaṃ gantvā dhammakathaṃ sutvā paṭiladdhasaddho tattheva pabbajitvā vīsati vassasahassāni samaṇadhammaṃ akāsi. Tena saddhiṃ gatapurisā pana sabbepi nivattitvā puna rañño santikaṃ āgatā.

Vào thời gian đó, đấng Thập Lực Kassapa đã xuất hiện ở thế gian. Đức vua Kaṭṭhavāhana sau khi nghe rằng: “Nghe nói Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian,” đã triệu vị đại thần ấy đến rồi nói rằng: “Này khanh, nghe nói Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian. Bất cứ ai cũng không thể làm cho thành phố thuộc vùng biên địa này vắng bóng cả hai chúng ta. Trước hết, khanh hãy đi đến Trung tâm quốc độ để xác nhận rằng: ‘Đức Phật đã xuất hiện.’ Hãy cung thỉnh đấng Thập Lực đến thành phố này.’” Rồi phái đi cùng với một ngàn người tùy tùng. Vị ấy, sau khi đi đến yết kiến bậc Đạo Sư theo đã nghe bài thuyết giảng Giáo Pháp, có đức tin được thành tựu rồi xuất gia ngay tại nơi đó theo trình tự, đã thực hành Sa-môn Pháp suốt hai mươi ngàn năm. Trong khi đó, tất cả những người đi cùng đều đã trở về trình báo với Đức vua toàn bộ sự việc.

Ayaṃ thero paripuṇṇasīlo kālaṃ katvā ekaṃ buddhantaraṃ devamanussesu saṃsaranto amhākaṃ dasabalassa nibbattito puretarameva sāvatthiyaṃ brāhmaṇakule paṭisandhiṃ gaṇhi, mogharājamāṇavotissa nāmaṃ akaṃsu. Kaṭṭhavāhanarājāpi kassapassa bhagavato adhikārakammaṃ katvā ekaṃ buddhantaraṃ saparivāro devamanussesu saṃsaritvā amhākaṃ dasabalassa nibbattito puretarameva sāvatthiyaṃ purohitagehe paṭisandhiṃ gaṇhi, bāvarimāṇavotissa nāmaṃ akaṃsu. So aparena samayena tayo vede uggaṇhitvā soḷasannaṃ māṇavakasahassānaṃ sippaṃ vācento carati. Athassa pasenadikosalarañño kāle pitu accayena purohitaṭṭhānaṃ adaṃsu. Tadā ayampi mogharājamāṇavo bāvaribrāhmaṇassa santike sippaṃ gaṇhāti.

Vị Trưởng lão này có giới tròn đủ, sau khi mệnh chung rồi luân hồi giữa cõi Trời và cõi Người trải qua một khoảng thời gian giữa hai vị Phật. Ngài đã tái sanh vào gia tộc Bà-la-môn tại thành Sāvatthi trước khi đấng Thập Lực của chúng ta giáng sanh, và đã được cha mẹ đặt tên là thanh niên Mogharāja. Luôn cả Đức vua Kaṭṭhavāhana, Ngài cũng đã thực hiện các hành động hướng thượng đến Đức Thế Tôn Kassapa cùng với các tùy tùng, luân hồi giữa giữa các cõi Trời và cõi Người trải qua một khoảng thời gian giữa hai vị Phật. Trước khi Đức Thập Lực của chúng ta giáng sanh, Đức vua đã tái sanh vào gia đình của một vị quan tế tự tại thành Sāvatthi, và đã được cha mẹ đặt tên là thanh niên Bāvarī. Một thời gian sau, thanh niên Bāvarī sau khi đã học ba kiến thức Vệ-đà rồi khắp nơi dạy nghề nghiệp cho mười sáu ngàn thanh niên. Lúc bấy giờ, thanh niên Bāvarī đã tiếp quản vị trí viên quan tế tự thay thế (cha) khi người cha qua đời vào thời điểm vua Pasenadi xứ Kosala giáng sanh. Về phần thanh niên Mogharāja cũng học tập nghề nghiệp ở trú xứ của Bà-la-môn Bāvarī.

Athekadivasaṃ bāvaribrāhmaṇo rahogato attano sippe sāraṃ olokento samparāyikaṃ sāraṃ adisvā ‘‘ekaṃ pabbajjaṃ pabbajitvā samparāyikaṃ gavesessāmī’’ti kosalarājānaṃ upasaṅkamitvā attano pabbajjaṃ anujānāpesi. So tena anuññāto soḷasahi māṇavakasahassehi parivuto pabbajjatthāya nikkhami. Kosalarājāpi tena saddhiṃyeva ekaṃ amaccaṃ kahāpaṇasahassaṃ datvā pesesi – ‘‘yasmiṃ ṭhāne ācariyo pabbajati, tatrassa vasanaṭṭhānaṃ gahetvā dethā’’ti. Bāvaribrāhmaṇo phāsukaṭṭhānaṃ olokento majjhimadesato paṭikkamma assakarañño ca muḷhakarañño ca sīmantare godhāvaritīre attano vasanaṭṭhānaṃ kāresi.

Sau đó vào một ngày nọ, Bà-la-môn Bāvarī đã đi đến nơi thanh vắng tự mình xem xét lại giá trị cốt lõi trong nghề nghiệp, nhưng chẳng tìm thấy giá trị cốt lõi nào cho đời sau, nghĩ rằng: “Ta sẽ xuất gia trở thành một vị tu sĩ rồi tầm cầu lợi ích cho ngày tương lai,” nên đã vào yết kiến Đức vua Kosala xin phép cho bản thân được xuất gia. Sau khi được Đức vua chấp thuận, Bà-la-môn Bāvarī cùng với mười sáu ngàn thanh niên tháp tùng đã ra đi để thực hiện ý nguyện xuất gia. Đức vua Kosala cũng đã ban cho một ngàn đồng tiền vàng rồi tiễn đưa một viên quan tế tự cùng với đoàn tùy tùng và đã truyền lệnh rằng: “Thầy xuất gia ở nơi nào, các ngươi hãy đi đến chỗ của vị thầy đó rồi dâng số tiền này tại địa điểm ấy.” Bà-la-môn Bāvarī mong muốn tìm kiếm một địa điểm thoải mái, nên đã rời khỏi trung tâm quốc độ, cho xây dựng chỗ trú ngụ của mình ngay ở khúc sông Godhāvarī nằm giữa ranh giới lãnh thổ của Đức vua Assaka và Đức vua Muḷhaka (Malla).

Atheko puriso jaṭilānaṃ dassanāya gato tesaṃ santake bhūmiṭṭhāne tehi anuññāto attano vasanaṭṭhānaṃ akāsi. Tena kataṃ disvā aparaṃ kulasataṃ gehasataṃ kāresi. Te sabbepi sannipatitvā ‘‘mayaṃ ayyānaṃ santake bhūmibhāge vasāma, mudhā vasituṃ na kāraṇaṃ, sukhavāsaṃ vo dassāmā’’ti ekeko ekekaṃ kahāpaṇaṃ bāvaribrāhmaṇassa vasanaṭṭhāne ṭhapesi. Sabbehipi ābhatakahāpaṇā satasahassamattā ahesuṃ. Bāvaribrāhmaṇo ‘‘kimatthaṃ ete ābhatā’’ti āha. Sukhavāsadānatthāya, bhanteti. Sacāhaṃ hiraññasuvaṇṇena atthiko assaṃ, ahaṃ mahantaṃ dhanarāsiṃ pahāya na pabbajeyyaṃ. Tumhākaṃ kahāpaṇe gaṇhitvā gacchathāti. Amhehi ayyassa pariccattaṃ na puna gaṇhāma, anusaṃvaccharaṃ pana eteneva niyāmena āharissāma, ime gahetvā ayyo dānaṃ detūti. Brāhmaṇo adhivāsetvā kapaṇaddhikavaṇibbakayācakānaṃ dānamukhe niyyātesi. Tassa aparāparaṃ dāyakabhāvo sakalajambudīpe paññāyittha.

Khi ấy, có một người đàn ông đi đến với mong muốn được chiêm bái các vị đạo sĩ tóc bện, khi được cho phép bởi các vị ấy, người ấy đã xây dựng chỗ trú ngụ của mình trên vùng đất kế cận các vị bện tóc ấy. Sau khi nhìn thấy việc thiện mà Bà-la-môn Bāvarī đã thực hiện, người ấy lại cho xây thêm nơi ở cho một trăm gia đình với một trăm ngôi nhà tại đó. Tất cả những người này đã họp lại và bàn bạc với nhau: “Chúng ta đang sinh sống trên vùng đất kế cận các bậc tôn túc. Việc sống nhàn rỗi không phải điều nên làm, chúng ta sẽ giúp cho các ngài sống được an lạc.” Thế rồi, mỗi người dân đã đặt một đồng tiền vàng ở chỗ trú xứ của Bà-la-môn Bāvarī. Tổng số đồng tiền vằng mà tất cả bọn họ mang đến góp lại rơi vào khoảng một trăm ngàn đồng tiền vàng. Bà-la-môn Bāvarī hỏi rằng: “Những đồng tiền này các người mang đến đây nhằm mục đích gì?” Họ đáp: “Bạch ngài, vì mong muốn cho các ngài sống được an lạc.” Bà-la-môn Bāvarī nói rằng: “Nếu ta còn cần đến tiền bạc thì ta đã chẳng từ bỏ khối tài sản khổng lồ để đi xuất gia. Các người hãy cầm lấy những đồng tiền vàng của mình về đi.” Họ đáp rằng: “Chúng con sẽ không nhận lại đồng tiền vàng mà chúng đã chúng con đã buông bỏ. Nhưng chúng con sẽ mang đến theo chính cách thức này vào mỗi năm, xin ngài hãy nhận lấy những đồng tiền vàng này để ban bố vật thí.” – Bà-la-môn đã nhận lời (dành số tiền đó) giao vào quỹ bố thí cho những người cơ cực, kẻ lang thang, người lỡ đường, và kẻ hành khất. Tư cách người bố thí của Bà-la-môn Bāvarī ấy liên tục được nhận biết khắp cả cõi Jambudīpa.

Tato kāliṅgaraṭṭhe dunniviṭṭhe nāma gāme jūjakabrāhmaṇassa vaṃse jātabrāhmaṇassa brāhmaṇī uṭṭhāya samuṭṭhāya brāhmaṇaṃ codeti – ‘‘bāvarī, kira dānaṃ deti, gantvā tato hiraññasuvaṇṇaṃ āharā’’ti. So tāya codiyamāno saṇṭhātuṃ asakkonto bāvarissa santikaṃ gacchamāno bāvarimhi dānaṃ datvā paṇṇasālaṃ pavisitvā nipajjitvā dānaṃ anussaramāne gato. Gantvā ca ‘‘dānaṃ me, brāhmaṇa, dehi, dānaṃ me, brāhmaṇa, dehī’’ti āha. Akāle tvaṃ, brāhmaṇa, āgato, sampattayācakānaṃ me dinnaṃ, idāni kahāpaṇaṃ natthīti. Na mayhaṃ, brāhmaṇa, bahūhi kahāpaṇehi attho, tava ettakaṃ dānaṃ dadantassa na sakkā kahāpaṇehi vinā bhavituṃ, mayhaṃ pañca kahāpaṇasatāni dehīti. Brāhmaṇa, pañcapi satāni natthi, puna dānakāle sampatte labhissasīti. Kiṃ panāhaṃ tava dānakāle āgamissāmīti? Bāvaribrāhmaṇassa paṇṇasāladvāre vālukaṃ thūpaṃ katvā samantato rattavaṇṇāni pupphāni vikiritvā mantaṃ jappento viya oṭṭhe cāletvā cāletvā ‘‘muddhā phalatu sattadhā’’ti vadati.

Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn — vợ của Bà-la-môn sinh ra trong dòng dõi của Bà-la-môn Jūjaka, cư ngụ tại ngôi làng tên là Dunniviṭṭha thuộc vương quốc Kāliṅga — đã đứng dậy thúc giục Bà-la-môn (chồng) — “Nghe nói Bà-la-môn Bāvarī đang ban bố vật thí, ông hãy đi mang tiền bạc từ nơi đó về.” Người chồng bị vợ thúc giục cũng không thể đứng yên, trong khi đi đến trú xứ của Bà-la-môn Bāvarī, thì đi đúng lúc Bà-la-môn Bāvarī đã ban phát xong vật thí rồi bước vào gian nhà rộng bằng lá, đang nằm hồi tưởng lại việc bố thí. Và khi bước vào gã ấy đã nói rằng: “Này Bà-la-môn, hãy ban phát vật thí cho tôi! Này Bà-la-môn, hãy ban phát vật thí cho tôi!” Bà-la-môn Bāvarī đáp: “Này Bà-la-môn, ông đến không đúng thời. Ta đã ban phát hết cho những người hành khất đến trước đó, hiện giờ không còn đồng tiền vàng nào cả. Gã Bà-la-môn nói: ‘Này Bà-la-môn, tôi không cần nhiều đồng tiền vàng, trong khi Ngài ban phát vật thí đến chừng này, tôi cũng không thể nào bỏ qua các đồng tiền vàng được, xin hãy cho tôi năm trăm đồng tiền vàng.’” – Bà-la-môn Bāvarī đáp: ‘Này Bà-la-môn, năm trăm đồng tiền vàng cũng không còn. Khi đến thời ban phát, ông sẽ có được.’” – Gã Bà-la-môn nó: “Vậy tôi sẽ phải đến vào lúc Ngài ban phát như thế nào? (Nói xong) gã đã làm một đống cát thành hình tháp nhỏ gần cửa gian nhà rộng bằng lá, rải rắc những bông hoa màu đỏ xung quanh, miệng lẩm bẩm như đang đọc thần chú rồi nói rằng: Đầu ngươi hãy vỡ ra thành bảy mảnh!’”.

Bāvaribrāhmaṇo cintesi – ‘‘ayaṃ mahātapo tapacāraṃ gaṇhitvā caraṇabrāhmaṇako mayhaṃ sattadivasamatthake ‘sattadhā muddhā phālatū’ti vadati, mayhañca imassa dātabbāni pañca kahāpaṇasatāni natthi, ekaṃsena maṃ esa ghātessatī’’ti. Evaṃ tasmiṃ sokasallasamappite nipanne rattibhāgasamanantare anantarattabhāve bāvarissa mātā devatā hutvā nibbatti. Sā puttassa sokasallasamappitabhāvaṃ disvā āgantvā āha – ‘‘tāta, esa muddhaṃ vā muddhaphālanaṃ vā na jānāti, tvampi loke buddhānaṃ uppannabhāvaṃ na jānāsi. Sace te saṃsayo atthi, satthu santikaṃ gantvā puccha, so te etaṃ kāraṇaṃ kathessatī’’ti. Brāhmaṇo devatāya kathaṃ sutakālato paṭṭhāya assāsaṃ labhitvā punadivase uṭṭhite aruṇe sabbeva antevāsike pakkositvā, ‘‘tātā, buddho kira loke uppanno, tumhe sīghaṃ gantvā ‘buddho vā no vā’ti ñatvā āgantvā mayhaṃ ārocetha, ahaṃ satthu santikaṃ gamissāmi. Apica kho pana mayhaṃ mahallakabhāvena jīvitantarāyo dujjāno, tumhe tassa santikaṃ gantvā iminā ca iminā ca niyāmena pañhe pucchathā’’ti muddhaphālanapañhaṃ nāma abhisaṅkharitvā adāsi.

Bà-la-môn Bāvarī nghĩ rằng: “Gã Bà-la-môn này có uy lực lớn, thọ trì việc thực hành khổ hạnh, là vị Bà-la-môn du hành khắp nơi, nói rằng: “Kết thúc 7 ngày nữa thì đầu của ta sẽ vỡ thành 7 mảnh, năm trăm đồng tiền vàng mà ta có thể cho Bà-la-môn này cũng không có, nhất định gã sẽ giết ta.” Trong khi nằm xuống Bà-la-môn Bāvarī ấy đã bị mũi tên sầu muộn đâm thủng như thế. Vào ban đêm, mẫu thân của Bāvarī trong bản ngã kế tiếp (người mẹ trong kiếp sống quá khứ) nay đã tái sanh thành một vị Thiên nhân xuất hiện. Thấy trạng thái bị mũi tên sầu muộn đâm thủng của con trai mình, sau khi đến bà đã nói rằng: “Này con trai, gã Bà-la-môn kia không biết rằng: ‘Đầu con có vỡ hay không vỡ đâu’. Con không biết hay sao: ‘Chư Phật đã xuất hiện ở thế gian này’. Nếu con có điều nghi hoặc, hãy đi đến yết kiến bậc Đạo Sư rồi  hỏi Ngài. Bậc Đạo Sư sẽ nói lý do đó cho con.’” Bà-la-môn Bāvarī, kể từ lúc nghe được lời của vị Thiên nhân nói, cảm thấy an lòng. Ngày hôm sau, vào lúc bình minh ló dạng, ông liền gọi tất cả các đệ tử đến và nói rằng: “Này các trò, nghe nói Đức Phật đã xuất hiện ở thế gian. Các trò hãy mau chóng lên đường (để xác thực) sau khi biết rằng: “Là Đức Phật hay không”, rồi hãy trở về báo cho ta. Ta cũng sẽ đích thân đi đến yết kiến bậc Đạo Sư. Tuy nhiên, sự nguy hiểm cho mạng sống là khó nhận biết bởi ta đã già yếu. Vậy nên, các trò đi yết kiến bậc Đạo Sư hãy hỏi câu hỏi theo phương thức này và phương thức này cùng Ngài,” rồi biên soạn câu hỏi liên quan đến chủ đề ‘sự vỡ tan cái đầu’ đưa cho các đệ tử mang đi.

Tato cintesi – ‘‘sabbe ime māṇavā paṇḍitā, satthu dhammakathaṃ sutvā attano kicce matthakaṃ patte puna mayhaṃ santikaṃ āgaccheyyuṃ vā no vā’’ti. Atha attano bhāgineyyassa ajitamāṇavassa nāma saññaṃ adāsi – ‘‘tvaṃ pana ekanteneva mama santikaṃ āgantuṃ arahasi, tayā paṭiladdhaguṇaṃ āgantvā mayhaṃ katheyyāsī’’ti. Atha te soḷasasahassajaṭilā ajitamāṇavaṃ jeṭṭhakaṃ katvā soḷasahi jeṭṭhantevāsikehi saddhiṃ ‘‘satthāraṃ pañhaṃ pucchissāmā’’ti cārikaṃ carantā gatagataṭṭhāne, ‘‘ayyā, kahaṃ gacchatha, kahaṃ gacchathā’’ti pucchitā ‘‘dasabalassa santikaṃ pañhaṃ pucchituṃ gacchāmā’’ti koṭito paṭṭhāya parisaṃ saṃkaḍḍhantā anekayojanasataṃ maggaṃ gatā. Satthā ‘‘tesaṃ āgamanadivase aññassa okāso na bhavissati, idaṃ imissā parisāya anucchavikaṭṭhāna’’nti gantvā pāsāṇacetiye piṭṭhipāsāṇe nisīdi. So ajitamāṇavopi sapariso taṃ piṭṭhipāsāṇaṃ āruyha satthu sarīrasampattiṃ disvā ‘‘ayaṃ puriso imasmiṃ loke vivaṭacchado buddho bhavissatī’’ti attano ācariyena pahite pañhe manasā pucchantova gato.

Sau đó, Bà-la-môn nghĩ rằng– “Các thanh niên này tất cả đều là bậc sáng trí, lắng nghe bài thuyết giảng Giáo Pháp của bậc Đạo Sư khi phận sự của bản thân đạt đến cứu cánh, liệu có trở về gặp ta nữa hay không?” Khi đó, ông mới ra hiệu cho thanh niên Ajita – cháu trai của mình rằng: “Con nhất định phải quay về báo cho ta biết những ân đức mà con đã chứng đạt..” Khi ấy, mười sáu ngàn vị đạo sĩ tóc bện đã đề cử thanh niên Ajita làm người đứng đầu ra đi du hành cùng với 16 vị đệ tử trưởng thượng với ý định: “Chúng ta sẽ hỏi câu hỏi cùng bậc Đạo Sư”, ở tại địa điểm đã đi đến đều bị hỏi rằng: “Các bậc tôn túc định đi đâu? Các bậc tôn túc định đi đâu?” Họ đáp rằng: “Chúng tôi đi đến yết kiến đấng Thập Lực để hỏi câu hỏi.” Đoàn người nối đuôi nhau kéo dài từ đầu đến cuối đã vượt qua quãng đường dài hàng trăm do tuần. Bậc Đạo Sư đã đi đến ngồi trên bề mặt một tảng đá tại Bảo điện Pāsāṇa với ý nghĩ rằng: “Vào ngày mà các thanh niên ấy đến sẽ không có chỗ trống cho những người khác; nơi này sẽ không còn phù hợp cho tập thể này nữa.” Luôn cả thanh niên Ajita ấy cùng với tập thể cũng bước lên bề mặt tảng đá ấy, sau khi nhìn thấy sự thành tựu về hình tướng của bậc Đạo Sư, đã khởi lên suy nghĩ rằng: “Vị nam nhân này chắc chắn sẽ là Đức Phật (bậc Giác Ngộ), vĩ đã mở ra tấm màn che ở thế gian này,” (vì thế) vị ấy đã đem hết tâm ý đi hỏi câu hỏi mà thầy đã giao cho mình.

Taṃdivasaṃ tasmiṃ ṭhāne sampattaparisā dvādasayojanikā ahosi. Tesaṃ soḷasannaṃ antevāsikānaṃ antare mogharājamāṇavo ‘‘ahaṃ sabbehi paṇḍitataro’’ti mānatthaddho, tassa etadahosi – ‘‘ayaṃ ajitamāṇavo sabbesaṃ jeṭṭhako, etassa paṭhamataraṃ mama pañhaṃ pucchituṃ na yutta’’nti. So satthu santikā apasādaṃ labhitvā cintesi – ‘‘ahaṃ ettakaṃ kālaṃ mayā paṇḍitataro nāma natthīti vicarāmi, buddhā ca nāma ajānitvā na kathenti. Satthārā mama pucchāya doso diṭṭho bhavissatī’’ti tuṇhī ahosi. So aṭṭhahi janehi paṭipāṭiyā pañhe pucchite adhivāsetuṃ asakkonto navamo hutvā puna uṭṭhāsi. Punapi naṃ satthā apasādesi.

Vào ngày hôm ấy, tập thể đã đi đến nơi ấy khoảng mười hai do-tuần. Trong số 16 vị đệ tử ấy, thanh niên Mogharāja ngã mạn và ương ngạnh cho rằng: “Ta là bậc sáng trí hơn tất cả mọi người,” vi ấy đã khởi ý điều này: “Thanh niên Ajita này là trưởng nhóm của tất cả, Ta không nên hỏi câu hỏi trước thanh niên ấy.” Vị ấy cảm thấy xấu hổ đã không hỏi câu hỏi trước, khi (câu hỏi) được hỏi bởi Ajita, (thì) vị ấy mới hỏi câu hỏi cùng bậc Đạo Sư để trở thành người thứ hai. Bậc Đạo Sư đã suy xét rằng: “Mogharāja là người ngã mạn và ương ngạnh, đồng thời trí của vị ấy vẫn chưa đến sự chín muồi. Cần phải loại bỏ sự ngã mạn này của vị ấy,” rồi đã nói rằng: “Này Mogharāja, hãy đợi đã! Những người khác hãy hỏi câu hỏi trước.” Mogharāja ấy, khi bị phản đối trực tiếp từ bậc Đạo Sư, đã khởi lên ý nghĩ rằng: “Ta đã đi suốt quãng đường chừng ấy, vì nghĩ rằng: ‘Không có ai là bậc sáng trí hơn ta. Và thông thường, chư Phật không biết (sẽ) không nói. Bậc Đạo Sư chắc hẳn là đã nhìn thấy khuyết điểm trong việc hỏi câu hỏi của ta,’” nên đã giữ im lặng. Thanh niên Mogharāja ấy, khi vị thứ tám đã hỏi xong câu hỏi theo thứ tự, (vị ấy) cũng không thể nào kham nhẫn thêm được nữa mới đứng dậy (ý định) trở thành người thứ chín. Nhưng bậc Đạo Sư lại phản đối thêm một lần nữa.

So punapi tuṇhī hutvā ‘‘saṅghanavako dāni bhavituṃ na sakkhissāmī’’ti pañcadasamo hutvā pañhaṃ pucchi.

Thanh niên Mogharāja ấy đã im lặng, nghĩ rằng: “Giờ đây ta sẽ không thể trở thành vị tân thọ của Hội chúng.” Cuối cùng, vị ấy đã hỏi câu hỏi và trở thành người thứ mười lăm.

Atha satthā ñāṇassa paripākabhāvaṃ ñatvā pañhaṃ kathesi. So desanāpariyosāne attano parivārena jaṭilasahassena saddhiṃ arahattaṃ pāpuṇi. Imināva niyāmena sesānipi pannarasa jaṭilasahassāni arahattaṃ pāpuṇiṃsu. Sabbepi iddhimayapattacīvaradharā ehibhikkhūva ahesuṃ. Sesajanā pana na kathiyanti. Ayaṃ mogharājatthero tato paṭṭhāya tīhi lūkhehi samannāgataṃ cīvaraṃ dhāreti. Evaṃ pārāyane (su. ni. 982 ādayo) vatthu samuṭṭhitaṃ. Satthā pana aparabhāge jetavane nisinno there paṭipāṭiyā ṭhānantaresu ṭhapento mogharājattheraṃ imasmiṃ sāsane lūkhacīvaradharānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapento ‘‘etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ lūkhacīvaradharānaṃ yadidaṃ mogharājā’’ti āha.

Khi ấy, Khi ấy, bậc Đạo Sư trả lời câu hỏi (của thanh niên Mogharāja) sau khi biết rõ trí tuệ của vị ấy đã hoàn toàn chín muồi. Khi bài thuyết giảng chấm dứt, vị ấy đã chứng đắc quả vị A-ra-hán cùng với một ngàn tùy tùng của mình. Theo chính phương thức ấy, mười lăm ngàn vị đạo sĩ bện tóc còn lại cũng chứng đắc quả vị A-ra-hán. Tất cả đều trở thành vị thiện lai Tỳ-khưu, có y phục và bình bát được thành tựu nhờ thần lực. Tuy nhiên, những người còn lại không được nhắc đến ở đây. Từ đó về sau, Trưởng lão Mogharāja này luôn thọ trì hạnh mặc y phục hợp thành bởi ba sự thô xấu (như đã nêu trên). Câu chuyện này xuất hiện trong Phẩm Đường Đi Đến Bờ Kia. (su. ni. 982 ādayo); Hơn nữa, về sau, khi bậc Đạo Sư ngồi tại Tịnh xá Jetavana, trong lúc đang thiết lập các vị Trưởng lão vào vị thế tối thắng theo thứ tự, Ngài đã thiết lập Trưởng lão Mogharāja vào vị thế tối thắng trong các Tỳ-khưu về hạnh mặc y thô xấu, và đã nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, Mogharāja là vị tối thắng trong số các Tỳ-khưu đệ tử của Ta về hạnh mặc y phục thô xấu.”

Catutthavaggavaṇṇanā.

Phẩm thứ tư – được kết thúc

Ekacattālīsasuttamattāya therapāḷiyā vaṇṇanā niṭṭhitā.

Giải thích Chánh văn Pāḷī về các vị Trưởng lão với bốn mươi mốt bài Kinh
– được kết thúc

[1] Rājattabhāve (sī)

[2] – Về nội dung này, trong Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (Aṇguttara Nikāya Aṭṭhākathā) và Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapāda Aṭṭhākathā) có nêu rõ về 3 sự kiện đại hỷ của Vương tử Nanda diễn ra cùng lúc, đó là:

  1. Abhiseka maṅgala: Lễ đăng quang/lên ngôi/lễ quán đảnh.
  2. Gehapavesana maṅgala: Lễ ngự vào cung điện mới/lễ vào nhà mới.
  3. Āvāha maṅgala hay Vivāha maṅgala: Lễ cưới/lễ thành hôn. [Aṅ. Ṭīkā (Pali) 1/230/231-232, Khu. Dha. A (Pali) 1/-/88].

– Trong khi đó, Chú giải Luật Tạng (Vinaya Aṭṭhākathā) đề cập rằng trong ngày hôm đó, Vương tử Nanda có đến đồng thời 5 sự kiện đại hỷ, bao gồm:

  1. Kesavissajjana maṅgala: Lễ buông xõa tóc, nghi lễ mở búi tóc thiếu niên để thay thế bằng kiểu tóc mới, phù hợp với vị Hoàng tử kế vị Ngai vàng.
  2. Pattabandha maṅgala: Lễ buộc dải băng, tức là buộc dải băng bằng vàng quanh trán mang tước hiệu của vị Hoàng tử sẽ kế vị.
  3. Gehapavesana maṅgala: Nghi lễ nhập cung điện mới dành cho Hoàng tử.
  4. Āvāha maṅgala: Lễ cưới/lễ thành hôn.
  5. Chatta maṅgala: Nghi lễ ban tặng và dựng cây lọng trắng Hoàng gia cho Hoàng tử. [Vi. A (Thai) 3/105/90, Sārattha. Ṭīkā (Pali) 3/105/301].

[3] Janapada Kalyāṇī: Người thiếu nữ có vẻ đẹp thù thắng trong toàn xứ sở, là người phụ nữ có thân hình hoàn hảo, không vướng phải 6 khuyết điểm là: (1) Không quá cao., (2) Không quá thấp, (3) Không quá gầy, (4) Không quá béo, (5) Không quá đen, (6) Không quá trắng. Nàng sở hữu làn da đẹp tuyệt trần, vượt xa vẻ đẹp của loài người nhưng chưa chạm đến màu da thuộc cõi Trời. Nàng hội tụ đủ với 5 nét đẹp, bao gồm:

  • Màu da xinh đẹp: Người phụ nữ này không cần đến bất kỳ ánh sáng nào khác hỗ trợ, tự thân thể nàng tỏa ra hào quang trong phạm vi khoảng 12 sải tay, với màu da nâu ánh vàng hoặc ánh kim.
  • Làn da mịn màng: Người phụ nữ có bàn tay, bàn chân và đôi môi đỏ tựa như ngọc san hô hay ấm vải len nhuộm đỏ, trông rực rỡ như thể được nhuộm bằng nhựa cánh kiến.
  • Gân cốt đẹp: Người phụ nữ có móng tay, móng chân ở phần còn dính liền với thịt thì luôn đầy đặn, hồng hào tựa như màu cánh kiến; còn phần móng mọc dài ra khỏi thịt thì trắng muốt như dòng sữa.
  • Xương đẹp: Người phụ nữ có đầy đủ 32 chiếc răng mọc đều đặn, khít, hiển lộ trắng sáng như một chuỗi kim cương đã khéo được mài giũa tinh xảo.
  • Độ tuổi xinh đẹp: Người phụ nữ dù dù đạt đến 120 tuổi nhưng trông vẫn trẻ trung như thiếu nữ vừa tròn 16, hoàn toàn không có một sợi tóc bạc nào. [Aṅ. Ṭīkā (Pali) 1/230/231-232, Sarattha. Ṭīkā. (Pāḷī) 1/105/301-302].

Ngoài ra, trong Chú giải Kinh Pháp Cú, có đề cập đến 5 nét đẹp như sau:

  1. Tóc đẹp: Người phụ nữ có phước báo to lớn sẽ sở hữu mái tóc đen mượt như đuôi công; khi buông xõa tóc thì mái tóc dài chạm đến gấu y phục và đầu ngọn tóc sẽ tự động cong vút hướng lên trên.
  2. Thịt đẹp: Người phụ nữ có bờ môi đỏ thắm như quả bình bát dây vùa chín, màu sắc tươi tắn, cân đối và khép lại rất khít, mịn màng.
  3. Xương đẹp: Người phụ nữ có hàm răng trắng bóng, đều đặn, không kẽ hở; trông rạng rỡ như chuỗi kim cương được khéo léo xếp đặt tinh xảo hay tựa như hàng vỏ ốc xà cừ đã được mài bóng.
  4. Da đẹp: Người phụ nữ có làn da đẹp tự nhiên, nếu là người da ngăm cũng sẽ có màu da không cần thoa với bất cứ loại mỹ phẩm hay loại hương liệu nào, v.v, mà vẫn đen mịn màng như đóa hoa sen xanh; nếu là người phụ nữ da trắng sẽ có màu da tựa như đóa hoa Kaṇṇikā (hoa nhài).
  5. Độ tuổi đẹp: Người phụ nữ dù đã trải qua 10 lần sinh nở nhưng trông vẫn trẻ trung như mới sinh đứa con đầu lòng, vẻ xuân sắc vẫn mặn mà như thuở ban đầu. [Khu. Dha. A (Pāḷī) 1/-/287]

[4] Bản tiếng Thái– Kukkuṭapādānaṃ: có bàn chân như chân gà. Bản Miến Điện– Kakuṭapādānaṃ: có bàn chân như chân chim bồ câu, ở một văn bản khác còn sử dụng là ‘kāpotaka’ cũng có nghĩa tương tự là chim bồ câu.

[5] Bảng tiếng Thái– ‘yaṃ satthāraṃ uddissa mayaṃ pabbajitā, satthā no esoti’; Bảng tiếng Miến Điện– ‘yaṃ satthāraṃ uddissa mayaṃ pabbajitā, addhā so cesoti’ (dịch theo bản tiếng Miến)

[6] Bà-la-môn: Trong ngữ cảnh này, Đức Phật gọi Ngài Mahā Kappina là ‘Bà-la-môn’ với ý nghĩa vị đã thanh tịnh phiền não (theo nghĩa của kinh Pháp Cú), không phải chỉ giai cấp dòng dõi.

[7] Vi. Mahā. 2/326/462

[8] Một số văn bản ghi là ‘Paṭibhānakabhikkhūnaṃ’ – vị Tỳ-khưu có phép biện tài.