14. GIẢI THÍCH CHƯƠNG MỘT PHÁP (XXIV – Phẩm Người Tối Thắng-03)
Xem Tăng Chi Bộ Kinh – Chương 1 pháp – Phẩm 14
(Kệ 198-208)
3– Phẩm Người Tối Thắng thứ ba (03)
- Tatiyavaggassa paṭhame sikkhākāmānanti tisso sikkhā kāmayamānānaṃ sampiyāyitvā sikkhantānanti attho. Rāhuloti attano puttaṃ rāhulattheraṃ dasseti. Thero kira pabbajitadivasato paṭṭhāya pātova uṭṭhahanto hatthapūraṃ vālikaṃ ukkhipitvā ‘‘aho vatāhaṃ ajja dasabalassa ceva ācariyupajjhāyānañca santikā ettakaṃ ovādañceva anusāsaniñca labheyya’’nti pattheti. Tasmā sikkhākāmānaṃ aggo nāma jātoti.
Trong bài Kinh thứ nhất của phẩm thứ ba— vị ưa thích học tập: người khao khát, có nghĩa là người yêu thích trong việc tu tập theo Tam Học (Giới – Định – Tuệ). Bậc Đạo Sư đã chỉ rõ Hoàng tử Rāhula, là con trai của Ngài, rằng: ‘Rāhulo’. Được biết rằng, kể từ ngày xuất gia, Trưởng lão này thường thức dậy từ rất sớm, bốc một nắm cát đầy tay rồi phát nguyện rằng: “Ôi, mong rằng ta sẽ nhận được lời giáo huấn và sự chỉ dạy chừng này (nhiều như số hạt cát trong lòng bàn tay) từ đấng Thập Lực cũng như từ thầy tế độ và các thầy dạy học vào ngày hôm nay!” Vì lý do đó, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu ưa thích học tập. - Dutiye saddhāpabbajitānanti saddhāya pabbajitānaṃ. Raṭṭhapāloti raṭṭhaṃ pāletuṃ samattho, bhinnaṃ vā raṭṭhaṃ sandhāretuṃ samatthe kule jātotipi raṭṭhapāloti saṅkhaṃ gato. So hi satthu dhammadesanaṃ sutvā paṭiladdhasaddho cuddasabhattacchede katvā mātāpitaro pabbajjaṃ anujānāpetvā pabbajito. Tasmā saddhāpabbajitānaṃ aggo nāma jāto.
Trong bài Kinh thứ hai, vị xuất gia vì lòng tin: vị đã xuất vì đức tin. Raṭṭhapāla: vị đã đi đến tên gọi là ‘Raṭṭhapāla’ với ý nghĩa rằng— là người có khả năng bảo vệ đất nước, hoặc người sanh ra trong gia tộc có khả năng hòa giải các đất nước đã bị chia cắt. Thật vậy, Tỳ-khưu Raṭṭhapāla sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư (vị ấy) có đức tin được thành tựu, đã thực hiện việc tiết chế vật thực (nhịn đói) suốt mười bốn ngày để thuyết phục cha mẹ cho phép được xuất gia, và cuối cùng (vị ấy) đã được xuất gia. Vì thế, Ngài được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu xuất gia vị lòng tin.
Câu chuyện về Trưởng lão Rāhula và Trưởng lão Raṭṭhapāla
Imesaṃ pana ubhinnampi therānaṃ pañhakamme ayamanupubbikathā – ete kira dvepi atīte padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare gahapatimahāsālakule nibbattiṃsu. Tesaṃ daharakāle nāmaṃ vā gottaṃ vā na kathiyati. Vayappattā pana gharāvāse patiṭṭhāya attano attano pitu accayena ubhopi attano attano ratanakoṭṭhāgārakammike pakkosāpetvā aparimāṇaṃ dhanaṃ disvā – ‘‘imaṃ ettakaṃ dhanarāsiṃ ayyakapayyakādayo attanā saddhiṃ gahetvā gantuṃ nāsakkhiṃsu, amhehi dāni yena kenaci upāyena imaṃ dhanaṃ gahetvā gantuṃ vaṭṭatī’’ti te ubhopi janā catūsu ṭhānesu kapaṇaddhikādīnaṃ mahādānaṃ dātuṃ āraddhā. Eko attano dānagge āgatāgatajanaṃ pucchitvā yāgukhajjakādīsu yassa yaṃ paṭibhāti, tassa taṃ adāsi, tassa teneva kāraṇena āgatapākoti nāmaṃ jātaṃ. Itaro apucchitvāva gahitagahitabhājanaṃ pūretvā pūretvā deti, tassapi teneva kāraṇena anaggapākoti nāmaṃ jātaṃ, appamāṇapākoti attho.
Hơn nữa, về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của hai vị Trưởng lão này, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Kể rằng: Trong quá khứ, vào thời kỳ đức Phật Padumuttara, cả hai vị này đều được sanh ra ở gia tộc người tại gia giàu có tại kinh thành Haṃsavatī. Khi hai vị còn nhỏ tuổi, không ai nhắc đến tên tuổi và dòng tộc. Nhưng đến khi trưởng thành, duy trì đời sống tại gia, sau khi người cha của mỗi vị qua đời, cả hai đã cho mời người trong coi kho báu của mỗi cá nhân đến và tận mắt nhìn khối tài sản không sao ước lường hết được, nghĩ rằng: “Những người đi trước như ông nội, ông cố của ta, v.v, không ai có thể mang theo bên mình khối tài sản nhiều đến chừng ấy. Giờ đây, ta nên mang theo khối tài sản này (sang thế giới bên kia) bằng một phương pháp nào đó.” Sau đó, hai vị ấy bắt đầu tổ chức các buổi đại thí cho những người cơ cực, kẻ lang thang, v.v, tại bốn địa điểm khác nhau.Một vị đã ân cần hỏi han người mỗi lần đến bố thí đường của mình; người nào ưa thích món nào, v.v, chẳng hạn như cháo, vật thực mềm cứng, v.v, vị ấy đều cho người đó món đó. Chính vì lý do ấy, vị ấy mới được gọi là “vị nói chuyện với người đã đã đến. Vị còn lại thì chẳng hỏi han gì cả, cứ hễ ai mang bát đựng đến là vị ấy lại sớt đầy tràn rồi cho ngay. Chính vì lý do ấy, vị này được gọi là “vị không nói chuyện với người đã đến”. Giải thích rằng hỏi với sự không xao lãng.
Te ubhopi ekadivasaṃ pātova mukhadhovanatthaṃ bahigāmaṃ agamaṃsu. Tasmiṃ samaye himavantato dve mahiddhikā tāpasā bhikkhācāratthāya ākāsena āgantvā tesaṃ sahāyakānaṃ avidūre otaritvā ‘‘mā no ete passiṃsū’’ti ekapasse aṭṭhaṃsu. Te ubhopi janā tesaṃ lābubhājanādiparikkhāraṃ saṃvidhāya antogāmaṃ sandhāya bhikkhāya gatānaṃ santikaṃ āgamma vandiṃsu. Atha ne tāpasā ‘‘kāya velāya āgatattha mahāpuññā’’ti āhaṃsu. Te ‘‘adhunāva, bhante’’ti vatvā tesaṃ hatthato lābubhājanaṃ gahetvā attano attano gehaṃ netvā bhattakiccapariyosāne nibaddhaṃ bhikkhāgahaṇatthaṃ paṭiññaṃ gaṇhiṃsu.
Một ngày nọ, hai người bạn ấy đi ra ngoài làng để súc miệng và rửa mặt ngay từ sáng sớm. Vào lúc bấy giờ, hai vị đạo sĩ có thần lực lớn bay từ rừng Hy-mã-lạp đến để đi khất thực, đáp xuống không xa hai người bạn đó rồi đứng sang một bên, với ý nghĩ rằng: “Hai người ấy khi hai vị đạo sĩ đang sắp xếp các vật dụng như bình nước bằng quả bầu, v.v, và đi vào trong làng, liền tiến lại gần để đảnh lễ. Khi ấy, các vị đạo sĩ hỏi hai người ấy rằng: “Này người có phước báu lớn lao, các cậu đến đây vào lúc nào?” Hai người đáp: “Bạch các Ngài, chúng con vừa mới đến đây thôi ạ”. Nói rồi, họ nhận lấy bình nước bằng quả bầu từ tay hai vị ấy, (và) đưa các ngài về nhà của mỗi cá nhân. Khi phận sự phận sự về thọ thực hoàn tất, họ đã xin các Ngài chấp thuận sẽ thường xuyên đến thọ nhận vật thực cúng dường.
Tesu eko tāpaso sapariḷāhakāyadhātuko hoti. So attano ānubhāvena mahāsamuddaudakaṃ dvedhā katvā pathavindharanāgarājassa bhavanaṃ gantvā divāvihāraṃ nisīdati. So utusappāyaṃ gahetvā paccāgantvā attano upaṭṭhākassa gehe bhattānumodanaṃ karonto ‘‘pathavindharanāgabhavanaṃ viya hotū’’ti vadati. Atha naṃ ekadivasaṃ upaṭṭhāko pucchi – ‘‘bhante, tumhe anumodanaṃ karontā ‘pathavindharanāgabhavanaṃ viya hotū’ti vadatha, mayamassa atthaṃ na jānāma, kiṃ vuttaṃ hoti idaṃ, bhante’’ti? Āma, kuṭumbiya ahaṃ ‘‘tumhākaṃ sampatti pathavindharanāgarājasampattisadisā hotū’’ti vadāmīti. Kuṭumbiko tato paṭṭhāya pathavindharanāgarājabhavane cittaṃ ṭhapesi.
Trong số hai vị đạo sĩ ấy, một vị có thân giới hay nóng bức, nên đã rẽ nước đại dương ra làm hai bằng thần lực của bản thân, rồi đi xuống cảnh giới (cung điện) của Long Vương Pathavindhara ngồi nghỉ ngơi lúc ban trưa. Sau khi hưởng được bầu không khí mát mẻ dễ chịu, mới quay trở về, trong khi thực hiện sự tùy hỷ (phước báu) về bữa ăn tại nhà thí chủ hộ độ cho mình, (vị đạo sĩ ấy) đã nói rằng: “Mong hãy thành tựu giống như cung điện của Long Vương Pathavindhara vậy.” Sau đó, vào một ngày nọ, thí chủ hộ độ đã hỏi vị đạo sĩ ấy rằng: “Bạch ngài, khi thực hiện tùy hỷ (phước báu) Ngài thường nói rằng: ‘Mong hãy thành tựu như cảnh giới của Long Vương Pathavindhara.’ Xin ngài hãy nói về ý nghĩa, chúng con không hiểu ý nghĩa ấy, điều này Ngài đề cập đến (ý nghĩa) gì?’” – Vị đạo sĩ đáp: “Đúng vậy, này gia chủ, ta muốn nói rằng sự thành tựu của cậu hãy giống như sự thành tựu của Long Vương Pathavindhara vậy.” Kể từ thời điểm đó trở đi, cậu gia chủ đã thiết lập tâm trí vào cung điện Long Vương Pathavindhara.
Itaro tāpaso tāvatiṃsabhavanaṃ gantvā suññe serisakavimāne divāvihāraṃ karoti. So āgacchanto gacchanto ca sakkassa devarājassa sampattiṃ disvā attano upaṭṭhākassa anumodanaṃ karonto ‘‘sakkavimānaṃ viya hotū’’ti vadati. Atha naṃ sopi kuṭumbiyo itaro sahāyako taṃ tāpasaṃ viya pucchi. So tassa vacanaṃ sutvā sakkabhavane cittaṃ ṭhapesi. Te ubhopi patthitaṭṭhānesuyeva nibbattā.
Vị đạo sĩ còn lại thì đi lên cung trời Đạo Lợi (Tāvatiṃsa) để thực hiện việc nghỉ nghỉ ngơi lúc ban trưa tại Thiên cung Serīsaka trống không. Vị ấy đi dạo quanh chiêm ngưỡng sự thành tựu của Chúa Trời Sakka, khi thực hiện tùy hỷ (phước báu) đến người thí chủ hộ độ mình, cũng nói rằng: “Mong hãy thành tựu giống như Thiên cũng của Chúa Trời Sakka vậy.” Khi đó, cậu gia chủ này cũng hỏi vị đạo sĩ ấy giống hệt như cách người bạn mình đã hỏi vị kia. Sau khi nghe lời giải thích, cậu gia chủ ấy cũng thiết lập tâm trí vào Thiên cung của Chúa Trời Sakka. Cả hai (sau khi chết) đều được sanh vào đúng nơi mà mình đã phát nguyện.
Pathavindharabhavane nibbatto pathavindharanāgarājā nāma jāto. So nibbattakkhaṇe attano attabhāvaṃ disvā ‘‘amanāpassa vata me ṭhānassa kulupakatāpaso vaṇṇaṃ kathesi, urena parisakkitvā vicaraṇaṭṭhānametaṃ, nūna so aññaṃ ṭhānaṃ na jānātī’’ti vippaṭisārī ahosi. Athassa taṃkhaṇeyeva alaṅkatapaṭiyattāni nāganāṭakāni sabbadisāsu tūriyāni paggaṇhiṃsu. So tasmiṃyeva khaṇe taṃ attabhāvaṃ vijahitvā māṇavakavaṇṇī ahosi. Anvaddhamāsañca cattāro mahārājāno sakkassa upaṭṭhānaṃ gacchanti. Tasmā sopi virūpakkhena nāgaraññā saddhiṃ sakkassa upaṭṭhānaṃ gato. Sakko taṃ dūratova āgacchantaṃ disvā sañjāni. Atha naṃ samīpe āgantvā ṭhitakāle ‘‘kahaṃ nibbattosi sammā’’ti pucchi. Mā kathesi, mahārāja, urena parisakkanaṭṭhāne nibbattomhi, tumhe pana kalyāṇamittaṃ labhitthāti. Samma, tvaṃ ‘‘aṭṭhāne nibbattomhī’’ti mā vitakkayi, padumuttaradasabalo loke nibbatto, tassa adhikārakammaṃ katvā imaṃyeva ṭhānaṃ patthehi, ubho sukhaṃ vasissāmāti. So ‘‘evaṃ, deva, karissāmī’’ti gantvā padumuttaradasabalaṃ nimantetvā attano nāgabhavane nāgaparisāya saddhiṃ sabbarattiṃ sakkārasammānaṃ sajjesi.
Vị tái sanh vào cảnh giới của Long Vương Pathavindhara cũng mang tên là Long Vương Pathavindhara. Tuy nhiên, ở sát-na tục sanh, sau khi nhìn thấy bản thể của chính mình (thuộc loài bàn sanh) vị ấy đã có sự hối tiếc rằng: “Chỗ ở của ta quả thật không đáng hài lòng nơi mà vị đạo sĩ bước vào gia đình đã nói lời ca ngợi. Nơi đây là nơi phải bò đi bằng bụng, chắc hẳn vị đạo sĩ ấy chẳng hề biết đến những cảnh giới khác.” Khi đó, ngay khoảnh khắc ấy, các vũ công rồng đã được trang hoàng và sửa soạn, sau đó đã cầm lấy các loại nhạc cụ từ khắp mọi phía để nghênh đón vị Vua rồng. Cũng chính khoảnh khắc ấy, Long Vương liền rũ bỏ bản thể loài rồng ấy rồi hóa thân vào hình tướng một thanh niên trẻ. Bốn vị Đại Thiên Vương đi đến phụng sự Chúa Trời Sakka mỗi nửa tháng. Do đó, cả Long Vương ấy cũng đi đến phụng sự Chúa Trời Sakka cùng với Long Vương Virūpakkha. Chúa Trời Sakka vừa nhìn thấy Long Vương từ đằng xa đã nhận ra ngay người bạn cũ. Lúc đó, Chúa Trời Sakka đã hỏi Long Vương ấy trong lúc đứng ở một nơi không xa rằng: “Này bạn, bạn đã tái sanh ở đâu vậy?” Long Vương: “Thưa Đại Vương, xin ngài đừng hỏi nữa! Tôi đã tái sanh vào nơi mà phải bò đi bằng bụng, riêng Ngài đã có được một người bạn tốt lành.” – Chùa Trời Sakka: “Này bạn, bạn chớ khởi lên suy tầm rằng: ‘Ta sanh ra ở một nơi không thích hợp,” bậc Đạo Sư Padumuttara đã xuất hiện ở thế gian, bạn hãy thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện vào cảnh giới này, (như vậy) cả hai chúng ta sẽ sống được an lạc.’” Long Vương đáp rằng: “Thưa Thiên chủ, tôi sẽ làm như thế”. Sau khi thỉnh mời đấng Thập Lực Padumuttara, Long Vương cùng với tập thể loài rồng ở Long cung đã sắp đặt, chuẩn bị các lễ vật cúng dường long trọng suốt trọn đêm cho đến rạng sáng.
Satthā punadivase uṭṭhite aruṇe attano upaṭṭhākaṃ sumanattheraṃ āmantesi – ‘‘sumana, ajja tathāgato dūraṃ bhikkhācāraṃ gamissati, mā puthujjanabhikkhū āgacchantu, tepiṭakā paṭisambhidāppattā chaḷabhiññāva āgacchantū’’ti. Thero satthu vacanaṃ sutvā sabbesaṃ ārocesi. Satthārā saddhiṃ satasahassā bhikkhū ākāsaṃ pakkhandiṃsu. Pathavindharo nāgaparisāya saddhiṃ dasabalassa paccuggamanaṃ āgato satthāraṃ parivāretvā samuddamatthake maṇivaṇṇā ūmiyo maddamānaṃ bhikkhusaṅghaṃ oloketvā ādito satthāraṃ, pariyosāne saṅghanavakaṃ tathāgatassa puttaṃ uparevatasāmaṇeraṃ nāma olokento ‘‘anacchariyo sesasāvakānaṃ evarūpo iddhānubhāvo, imassa pana taruṇabāladārakassa evarūpo iddhānubhāvo ativiya acchariyo’’ti pītipāmojjaṃ uppādesi.
Sáng sớm hôm sau, khi bình minh vừa ló dạng, bậc Đạo Sư đã gọi Trưởng lão Trưởng lão Sumana là vị thị giả của mình đến và nói rằng: “Này Sumana, hôm nay Như Lai sẽ đi khất thực ở một nơi rất xa. Các vị Tỳ-khưu còn là phàm phu thì chớ đi đến; hãy đến chỉ với những vị đã chứng đắc các tuệ phân tích, lầu thông Tam Tạng và vị có Lục thông mà thôi.” Trưởng lão, sau khi nghe lời nói của bậc Đạo Sư, đã thông báo cho tất cả các Tỳ-khưu, có khoảng một trăm ngàn (100.000) vị Tỳ-khưu bày đi cùng với bậc Đạo Sư. Long Vương Pathavindhara cùng với tập thể loài rồng đã ra nghênh đón đấng Thập Lực, khi quan sát Hội chúng Tỳ-khưu tháp tùng bậc Đạo Sư đang bước trên đầu những ngọn sóng lấp lánh tựa như màu sắc ngọc ma-ni từ phía sau đại dương, nhìn thấy bậc Đạo Sư đi đầu hàng, còn ở cuối đoàn là vị Sa-di trẻ tuổi tên là Uparevata vốn là vương tử (con trai thế văn) của đức Như Lai, (nhìn thấy cảnh tượng ấy), Long Vương đã khởi lên sự vui mừng hân hoan suy, nghĩ rằng: “Năng lực thần thông có hình thức như thế của các vị Thinh Văn còn lại không kỳ lạ chút nào, nhưng năng lực thần thông có hình thức như vầy của vị Sa-di nhỏ tuổi này quá đỗi kỳ diệu.”
Athassa bhavane dasabale nisinne sesabhikkhūsu koṭito paṭṭhāya nisīdantesu satthu sammukhaṭṭhāneyeva uparevatasāmaṇerassa āsanaṃ pāpuṇi. Nāgarājā yāguṃ dentopi khajjakaṃ dentopi sakiṃ dasabalaṃ oloketi, sakiṃ uparevatasāmaṇeraṃ. Tassa kira sarīre satthu sarīre viya dvattiṃsa mahāpurisalakkhaṇāni paññāyanti. Tato nāgarājā ‘‘ayaṃ sāmaṇero buddhānaṃ sadiso paññāyati, kiṃ nu kho hotī’’ti avidūre nisinnaṃ aññataraṃ bhikkhuṃ pucchi – ‘‘ayaṃ, bhante, sāmaṇero dasabalassa kiṃ hotī’’ti? Putto, mahārājāti. So cintesi – ‘‘mahā vatāyaṃ bhikkhu, evarūpassa sobhaggappattassa tathāgatassa puttabhāvaṃ labhi. Sarīrampissa ekadesena buddhānaṃ sarīrasadisaṃ paññāyati, mayāpi anāgate evarūpena bhavituṃ vaṭṭatī’’ti sattāhaṃ mahādānaṃ datvā, ‘‘bhante, ahaṃ imassa adhikārakammassānubhāvena ayaṃ uparevato viya anāgate ekassa buddhassa putto bhaveyya’’nti patthanaṃ akāsi. Satthā anantarāyaṃ disvā ‘‘anāgate gotamabuddhassa putto bhavissasī’’ti byākaritvā pakkāmi.
Lúc đó, khi đấng Thập Lực an tọa tại Cung điện của Long Vương, các vị Tỳ-khưu còn lại cũng lần lượt ngồi xuống theo thứ tự bắt đầu từ chỗ cuối cùng cho đến chỗ ngồi của Sa-di Uparevata ngay trước tôn nhan của bậc Đạo Sư. Trong lúc dâng cúng cháo, cùng các loại vật thực cứng mềm, Long Vương vừa nhìn đức Thập Lực lại vừa nhìn sang Sa-di Uparevata. Kể rằng, ba mươi hai tướng của bậc đại nhân ở thân thể của vị Sa-di ấy hiển lộ tương tợ như ở thân thể của bậc Đạo Sư. Lúc đó, Long Vương mới hỏi một vị Tỳ-khưu nọ ngồi không xa rằng: “Bạch ngài, vị Sa-di này có mối quan hệ thế nào với đấng Thập Lực?” – Vị Tỳ-khưu đáp rằng: “Tâu Đại Vương, là con trai (của đấng Thập Lực).” Long Vương nghĩ rằng– “Vị Tỳ-khưu (Sa-di Uparevata) này thật vĩ đại! Đã đạt được tư cách con trai của Như Lai, vị tuyệt mỹ như thế, thậm chí thân thể của Ngài cũng hiển lộ hoàn toàn giống với thân thể của Đức Phật, cả ta cũng thật xứng đáng để trở thành (vị Tỳ–khưu) như thế trong thời vị lai,” Long Vương đã dâng cúng lễ đại thí trong bảy ngày, rồi thực hiện lời thệ nguyện rằng: “Bạch Ngài, mong rằng con sẽ trở thành con trai của một vị Phật trong thời vị lai, giống như Sa-di Uparevata này vậy do nhờ sức mạnh của hành động hướng thượng này.” Đức Đạo Sư quán chiếu thấy không có bất cứ chướng ngại nào, nên đã thọ ký rằng: “Trong thời vị lai, này Đại vương sẽ trở thành con trai của đức Phật Gotama,” rồi quay trở về.
Pathavindharopi puna addhamāse sampatte virūpakkhena saddhiṃ sakkassa upaṭṭhānaṃ gato. Atha naṃ samīpe ṭhitaṃ sakko pucchi – ‘‘patthito te, samma, ayaṃ devaloko’’ti? Na patthito mahārājāti. Kiṃ dosaṃ addasāti? Doso natthi, mahārāja, ahaṃ pana dasabalassa puttaṃ uparevatasāmaṇeraṃ passiṃ. Tassa me diṭṭhakālato paṭṭhāya aññattha cittaṃ na nami, svāhaṃ ‘‘anāgate ekassa buddhassa evarūpo putto bhaveyya’’nti patthanaṃ akāsiṃ. Tvampi, mahārāja, ekaṃ patthanaṃ karohi, te mayaṃ nibbattaṭṭhāne na vinā bhavissāmāti. Sakko tassa vacanaṃ sampaṭicchitvā ekaṃ mahānubhāvaṃ bhikkhuṃ disvā ‘‘katarakulā nu kho nikkhamitvā ayaṃ kulaputto pabbajito’’ti āvajjento ‘‘ayaṃ bhinnaṃ raṭṭhaṃ sandhāretuṃ samatthassa kulassa putto hutvā cuddasa bhattacchede katvā mātāpitaro pabbajjaṃ anujānāpetvā pabbajito’’ti aññāsi. Ñatvā ca pana ajānanto viya dasabalaṃ pucchitvā sattāhaṃ mahāsakkāraṃ katvā, ‘‘bhante, ahaṃ imassa kalyāṇakammassa nissandena tumhākaṃ sāsane ayaṃ kulaputto viya anāgate ekassa buddhassa sāsane saddhāpabbajitānaṃ aggo bhaveyya’’nti patthanaṃ akāsi. Satthā anantarāyaṃ disvā ‘‘tvaṃ, mahārāja, anāgate gotamassa buddhassa sāsane saddhāpabbajitānaṃ aggo bhavissasī’’ti byākaritvā pakkāmi. Sakkopi attano devapurameva gato.
Về phần Long Vương Pathavindhara, khi đến nửa tháng tiếp theo, đã đi đến phụng sự Chúa Trời Sakka cùng với Thiên vương Virūpakkha. Khi ấy, Chúa Trời Sakka đã hỏi vị Long Vương ấy, người đứng khi Vua rồng đến đứng ở gần bên rằng: “Này bạn, bạn đã phát nguyện về cõi Trời này rồi chứ?” – Long Vương: Tôi đã không phát nguyện nơi này, thưa Đại Vương. – Chúa Trời: Bạn đã nhìn thấy lỗi lầm gì chăng? – Long Vương: Chẳng có lỗi lầm gì, thưa Đại Vương. Tuy nhiên, tôi đã nhìn thấy Sa-di Uparevata, con trai của đấng Thập Lực. Kể từ khi nhìn thấy vị ấy, tôi không còn hướng tâm đến nơi nào khác nữa. Tôi đã lập lời thệ nguyện rằng: “Trong thời vị lai, mong rằng tôi sẽ trở thành người con trai có hình thức như thế của một vị Phật.” Thưa Đại vương, Ngài cũng hãy thực hiện chú nguyện một điều gì đó, để sau này cả hai chúng ta sẽ không tách rời nhau tại mỗi nơi được sanh ra. – Chúa Trời Sakka đã chấp thuận lời đề nghị của Long Vương, rồi nhìn thấy một vị Tỳ-khưu có đại uy lực mới ngẫm nghĩ rằng: “Thiện nam tử này đã rời khỏi (nhà) xuất gia từ gia tộc nào vậy?” (Ngài) biết được rằng: “Vị này vốn là con trai của một gia tộc có khả năng hàn gắn các đất nước đã bị chia cắt, rồi đã thực hiện việc tiết chế ăn uống suốt mười bốn ngày để thuyết phục cha mẹ cho phép xuất gia, rồi (vị ấy) đã được xuất gia.” Và hơn nữa, khi biết rõ (sự việc) cũng có vẻ như không biết, (vị ấy) đã hỏi đấng Thập Lực rồi thực hiện sự tôn vinh trọng thể suốt 7 ngày, và thực hiện lời phát nguyện rằng: “Bạch Ngài, do nhờ kết quả của hành động tốt lành này, mong rằng con sẽ trở thành vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu xuất gia vì niềm tin trong Giáo Pháp của một vị Phật vào thời vị lai, giống như vị thiện nam này trong Giáo Pháp của Ngài vậy.” Bậc Đạo Sư quán chiếu thấy không có bất kỳ chướng ngại nào, nên Ngài đã thọ ký rằng: “Này Đại vương, vào thời vị lai, ông sẽ trở thành vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu xuất gia vì niềm tin trong Giáo Pháp của đức Phật Gotama,” rồi quay trở về. Về phần Chúa Trời Sakka cũng trở về thành phố của chư Thiên của mình.
Te ubhopi nibbattaṭṭhānato cavitvā devamanussesu saṃsarantā anekasahassakappe atikkamiṃsu. Ito pana dvānavutikappamatthake phusso nāma buddho loke udapādi. Tassa pitā mahindo nāma rājā ahosi, vemātikā tayo kaniṭṭhabhātaro. Rājā divase divase ‘‘mayhaṃyeva buddho mayhaṃ dhammo mayhaṃ saṅgho’’ti mamāyanto sayameva dasabalaṃ nibaddhaṃ bhojanaṃ bhojeti.
Cả hai vị ấy, sau khi mệnh chung tại cảnh giới mình đã sanh ra, trong khi luân hồi giữa chư Thiên và loài Người trải qua nhiều ngàn kiếp. Cho đến chín mươi kiếp từ kiếp này, vị Phật tên là Phussa đã xuất hiện ở thế gian. Phụ vương của Ngài khi ấy là Vua tên là Mahinda, (và) có ba người em trai cùng cha khác mẹ. Lúc bấy giờ, Đức Vua luôn giữ ý niệm rằng: “Đức Phật là của riêng trẫm, Giáo Pháp là của riêng trẫm, và Hội chúng Tỳ-khưu cũng là của riêng trẫm,” (chính vì thế), hằng ngày đích thân Đức Vua cho đấng Thập Lực thọ dụng vật thực đều đặn (không muốn chia sẻ phước báu này cho người khác).
Athassa ekadivasaṃ paccanto kupito. So putte āmantesi – ‘‘tātā, paccanto kupito , tumhehi vā mayā vā gantabbaṃ. Yadi ahaṃ gacchāmi, tumhehi iminā niyāmena dasabalo paricaritabbo’’ti. Te tayopi ekappahāreneva āhaṃsu – ‘‘tāta, tumhākaṃ gamanakiccaṃ natthi, mayaṃ core vidhamissāmā’’ti pitaraṃ vanditvā paccantaṃ gantvā core vidhamitvā vijitasaṅgāmā hutvā nivattiṃsu.
Thời gian sau, vào một ngày nọ, biên thùy của vương quốc xảy ra bạo loạn. Đức Vua bảo các Hoàng tử rằng: “Này các Hoàng nhi, biên thùy đang có bạo loạn, các Hoàng nhi hay là Trẫm nên xuất chinh? Nếu Trẫm đi, các Hoàng nhi phải thay ta phụng sự đấng Thập Lực đúng theo phương thức mà ta vẫn thường làm.” Ba vị Hoàng tử đã đồng thanh thưa rằng: “Thưa Phụ vương, Phụ vương không cần phải thân chinh đâu ạ. Chúng con sẽ cùng nhau đi dẹp tan giặc cướp,” sau đó, họ đã hành lễ Vua cha rồi tiến đến vùng biên ải. Sau khi dẹp tan giặc cướp, đã giành được chiến thắng trước kẻ thù, rồi quay trở về.
Te antarāmagge pādamūlikehi saddhiṃ mantayiṃsu – ‘‘tātā, amhākaṃ gatakkhaṇeyeva pitā varaṃ dassati, kataraṃ varaṃ gaṇhāmā’’ti? Ayyā, tumhākaṃ pitu accayena dullabhaṃ nāma natthi, tumhākaṃ pana jeṭṭhabhātikaṃ phussabuddhaṃ paṭijagganavaraṃ gaṇhathā’’ti āhaṃsu. Te ‘‘kalyāṇaṃ tumhehi vutta’’nti sabbepi ekacittā hutvā gantvā pitaraṃ addasaṃsu. Tadā pitā tesaṃ pasīditvā varaṃ adāsi. Te ‘‘temāsaṃ tathāgataṃ paṭijaggissāmā’’ti varaṃ yāciṃsu. Rājā ‘‘ayaṃ dātuṃ na sakkā, aññaṃ varaṃ gaṇhathā’’ti āha. Tāta, amhākaṃ aññena varena kiccaṃ natthi, sace tumhe dātukāmā, etaṃyeva no varaṃ dethāti. Rājā tesu punappunaṃ kathentesu attanā paṭiññātattā ‘‘na sakkā na dātu’’nti cintetvā āha – ‘‘tātā, ahaṃ tumhākaṃ varaṃ demi, apica kho pana buddhā nāma durāsadā honti sīhā viya ekacarā, dasabalaṃ paṭijaggantā appamattā bhaveyyāthā’’ti.
Trên đường đi các Hoàng tử đã bàn bạc với những cận thần thân tín rằng: “Này các khanh, khi chúng ta về diện kiến, Phụ vương chắc chắn sẽ ban thưởng, vậy chúng ta nên nhận phần thưởng gì đây?” Các cận thần thân tín thưa rằng: “Tâu các Điện Hạ, khi Phụ vương của các Ngài băng hà, chẳng có gì (vật chất thế gian) là khó tầm cầu cả. Nhưng giờ đây, xin các Ngài hãy nhận lấy phần thưởng là quyền được phụng sự Đức Phật Phussa – là huynh trưởng của các Ngài.” – Các Hoàng tử đáp: “Điều các khanh nói thật tốt lành!” rồi tất cả đã đồng lòng cùng nhau đến diện kiến Vua cha. – Khi ấy, Vua cha đã rất hài lòng (trước chiến công) của các Hoàng tử nên đã ban thưởng. Các Hoàng tử liền tâu rằng: “Thưa Phụ vương, chúng con sẽ phụng sự Đức Như Lai suốt ba tháng an cư.” – Đức Vua nghe vậy liền nói: “Trẫm không thể ban ân huệ này! Các con hãy xin thứ khác đi.” – Các Hoàng tử kiên quyết: “Tâu Phụ vương, chúng con không cần bất cứ ân huệ gì khác. Nếu Phụ vương thực lòng muốn ban thưởng, xin hãy ban chính ân huệ ấy cho chúng con.” Khi các Hoàng tử ấy khẩn cầu nhiều lần, Đức Vua nghĩ rằng: “Trẫm không thể không ban cho,” vì Trẫm đã hứa, nên đã nói: “Này các con, Trẫm chấp thuận ban ân huệ này cho các con. Tuy nhiên, chư Phật là bậc rất khó đến gần, là vị ưa thích sống một mình tựa như loài sư tử. Các con hãy là những người không xao lãng trong việc phụng sự đấng Thập Lực.’”
Te cintayiṃsu – ‘‘amhehi tathāgataṃ paṭijaggantehi anucchavikaṃ katvā paṭijaggituṃ vaṭṭatī’’ti sabbepi ekacittā hutvā dasasīlāni samādāya nirāmagandhā hutvā satthu dānaggaparivahanake tayo purise ṭhapayiṃsu. Tesu eko dhanadhaññuppādako ahosi, eko māpako, eko dānasaṃvidhāyako. Tesu dhanadhaññuppādako paccuppanne bimbisāro mahārājā jāto, māpako visākho upāsako, dānasaṃvidhāyako raṭṭhapālattheroti. So tattha yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devapure nibbatto. Ayaṃ pana rāhulatthero nāma kassapadasabalassa kāle kikissa kāsirañño jeṭṭhaputto hutvā nibbatti, pathavindharakumārotissa nāmaṃ akaṃsu. Tassa satta bhaginiyo ahesuṃ. Tā dasabalassa satta pariveṇāni kārayiṃsu. Pathavindharo oparajjaṃ labhi. So tā bhaginiyo āha – ‘‘tumhehi kāritapariveṇesu mayhampi ekaṃ dethā’’ti. Bhātika, tumhe uparājaṭṭhāne ṭhitā, tumhehi nāma amhākaṃ dātabbaṃ, tumhe aññaṃ pariveṇaṃ karothāti. So tāsaṃ vacanaṃ sutvā pañca vihārasatāni kāresi. Pañca pariveṇasatānītipi vadanti. So tattha yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devapure nibbatti. Imasmiṃ pana buddhuppāde pathavindharakumāro amhākaṃ bodhisattassa aggamahesiyā kucchismiṃ paṭisandhiṃ gaṇhi, tassa sahāyako kururaṭṭhe thullakoṭṭhitanigame raṭṭhapālaseṭṭhigehe nibbatti.
Các Hoàng tử ấy suy nghĩ rằng: “Khi chúng ta phụng sự Đức Như Lai, thì cần phải phụng sự sao cho thật xứng đáng,” nên tất cả đã đồng lòng thọ trì mười giới (Thập giới), trở thành người không còn mùi tanh hôi (giữ thân tâm thanh tịnh), và bố trí ba người đàn ông để trông nom phước xá dành cho bậc Đạo Sư. Trong số ba người đó, một người lo liệu về tài chính và chuẩn bị lương thực; một người có nhiệm vụ đong gạo; và một người có nhiệm vụ sắp xếp vật thí. Trong số ba người ấy, người lo liệu tài chính và chuẩn bị lương thực chính là tiền thân của Đại vương Bimbisāra trong kiếp hiện tại. Người đong gạo chính là tiền thân của bà tín nữ Visākha. Người sắp xếp vật thí chính là tiền thân của Trưởng lão Raṭṭhapāla. Vị thiện nam tử ấy (Raṭṭhapāla), sau khi thực hiện các thiện nghiệp cho đến hết cuộc đời ở kiếp sống đó, đã được tái sanh vào cõi Trời. Hơn nữa, Trưởng lão Raṭṭhapāla này (tức Long Vương Pathavindhara) vào thời đấng Thập Lực Kassapa, vị ấy tái sanh làm con trai trưởng của vua Kiki xứ Kāsi, được đặt tên là Hoàng tử Pathavindhara. Ngài có bảy Hoàng muội. Bảy vị Công chúa này đã xây dựng bảy căn phòng dâng cúng đấng Thập Lực. Khi Hoàng tử Pathavindhara được sắc phong làm Phó vương, Ngài đã ngỏ lời với các Hoàng muội rằng: “Trong số các căn phòng mà các Hoàng muội đã xây, hãy nhường lại cho ta một căn phòng.” – Các Công chúa đáp rằng: “Thưa Hoàng huynh, Hoàng huynh đang giữ địa vị Phó vương, lẽ ra Hoàng huynh phải là người ban tặng cho các muội mới phải. Xin Hoàng huynh hãy tự xây dựng một căn phòng khác.” Hoàng tử sau khi nghe lời của các Hoàng muội, đã cho xây dựng tới năm trăm ngôi Tịnh xá. Một số vị nói rằng (Hoàng tử) đã cho xây dựng năm trăm căn phòng. Hoàng tử, sau khi thực hiện các thiện nghiệp cho đến trọn đời ở tại đó, rồi tái sanh vào thế giới chư Thiên. Vào thời kỳ đức Phật này (tức là đức Phật Gotama xuất hiện ở thế gian), Hoàng tử Pathavindhara đã giáng sanh vào bụng Chánh cung Hoàng hậu của Bồ-tát chúng ta (tức Thái tử Siddhattha). Còn người bạn của Ngài (Chúa trời Sakka thuở trước) thì sanh vào gia đình trưởng giả Raṭṭhapāla tại thị trấn Thullakoṭṭhita, thuộc vương quốc Kuru.
Atha amhākaṃ dasabalo abhisambodhiṃ patvā pavattitavaradhammacakko anupubbena kapilavatthuṃ āgantvā rāhulakumāraṃ pabbājesi. Tassa pabbajjāvidhānaṃ pāḷiyaṃ (mahāva. 105) āgatameva. Evaṃ pabbajitassa panassa satthā abhiṇhaovādavasena rāhulovādasuttaṃ abhāsi. Rāhulopi pātova vuṭṭhāya hatthena vālukaṃ ukkhipitvā ‘‘dasabalassa ceva ācariyupajjhāyānañca santikā ajja ettakaṃ ovādaṃ labheyya’’nti vadati. Bhikkhusaṅghamajjhe kathā udapādi ‘‘ovādakkhamo vata rāhulasāmaṇero pitu anucchaviko putto’’ti. Satthā bhikkhūnaṃ cittācāraṃ ñatvā ‘‘mayi gate ekā dhammadesanā ca vaḍḍhissati, rāhulassa ca guṇo pākaṭo bhavissatī’’ti gantvā dhammasabhāyaṃ buddhāsāne nisinno bhikkhū āmantesi – ‘‘kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā’’ti. Rāhulasāmaṇerassa ovādakkhamabhāvaṃ kathema bhagavāti. Satthā imasmiṃ ṭhāne ṭhatvā rāhulassa guṇadīpanatthaṃ migajātakaṃ āharitvā kathesi –
Khi ấy, đấng Thập Lực của chúng ta sau khi đạt được quả vị Chánh đẳng Chánh giác, đã vận chuyển bánh xe Pháp vô thượng. Ngài đã bộ hành đến kinh thành Kapilavatthu theo tuần tự, (và) đã cho Hoàng tử Rāhula xuất gia. Quá trình xuất gia của Hoàng tử Rāhula đã được đề cập trong Chánh văn Pāḷi (mahāva. 105). Hơn nữa, bậc Đạo Sư đã giảng giải bài Kinh Giáo giới Rāhula là lời giáo huấn thường xuyên cho Rāhula ấy, vị đã được xuất gia như thế. Ngay cả Rāhula ấy vào mỗi sáng thức dậy thường dùng tay bốc một nắm cát lên, và nói rằng: “Ngày hôm nay, Ta có thể nhận được lời giáo huấn bằng chừng này từ đấng Thập Lực cùng với các thầy tế độ, và thầy dạy học.” (Chính vì thế,) đã khởi lên câu chuyện ở giữa Hội chúng Tỳ-khưu như sau: “Sa-di Rāhula thật dễ khuyên dạy; là một đứa con xứng đáng của người cha.” Bậc Đạo Sư hiểu được tâm tư của các vị Tỳ-khưu, Ngài nghĩ rằng: “Khi Ta đến đó, một bài Pháp thoại sẽ được giảng giải chi tiết và ưu điểm của Rāhula sẽ được hiển lộ.’ Sau đó đã đi đến, ngồi trên Phật tọa tại phòng hội về Giáo Pháp, Ngài bảo các vị Tỳ-khưu rằng: “Này các Tỳ-khưu, các ông đang tụ họp bàn luận về chuyện gì?” – Các vị Tỳ-khưu đáp rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, chúng con đang bàn luận về đức tính dễ khuyên dạy của Sa-di Rāhula.” – Bậc Đạo Sư đã thiết lập vào vị thế này nhằm mục đích chỉ rõ ưu điểm của Sa-di Rāhula, nên Ngài đã đem câu chuyện Tiền Thân Con Nai (Miga Jātaka) đến và thuyết rằng—
‘‘Migaṃ tipallatthamanekamāyaṃ, Aṭṭhakkhuraṃ aḍḍharattā papāyiṃ;
Ekena sotena chamā’ssasanto, Chahi kalāhitibhoti bhāgineyyo’’ti. (jā. 1.1.16);
“Con nai có tư thế nằm theo ba kiểu, có nhiều mưu mẹo, có tám móng chân, có việc uống nước vào lúc nửa đêm. Trong khi thở bằng một lỗ mũi ở trên mặt đất, con nai cháu vượt qua (hiểm nạn) nhờ sáu mưu chước.”
Athassa sattavassikasāmaṇerakāle ‘‘mā heva kho rāhulo daharabhāvena kīḷanatthāyapi sampajānamusā bhāseyyā’’ti ambalaṭṭhiyarāhulovādaṃ (ma. ni. 2.107 ādayo) desesi. Aṭṭhārasavassikasāmaṇerakāle tathāgatassa pacchato piṇḍāya pavisantassa satthu ceva attano ca rūpasampattiṃ disvā gehasitaṃ vitakkaṃ vitakkentassa ‘‘yaṃkiñci, rāhula, rūpa’’ntiādinā nayena mahārāhulovādasuttantaṃ (ma. ni. 2.113) kathesi. Saṃyuttake (saṃ. ni. 4.121) pana rāhulovādopi aṅguttare (a. ni. 4.177) rāhulovādopi therassa vipassanācāroyeva. Athassa satthā ñāṇaparipākaṃ ñatvā avassikabhikkhukāle andhavane nisinno cūḷarāhulovādaṃ (ma. ni. 3.416 ādayo) kathesi. Desanāpariyosāne rāhulatthero koṭisatasahassadevatāhi saddhiṃ arahattaṃ pāpuṇi, sotāpannasakadāgāmianāgāmidevatānaṃ gaṇanā natthi. Atha satthā aparabhāge ariyasaṅghamajjhe nisinno theraṃ imasmiṃ sāsane sikkhākāmānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesi.
Về sau, khi Sa-di được bảy tuổi, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng bài kinh Giáo giới Rāhula ở rừng Ambalaṭṭhika (Ambalaṭṭhika Rāhulovāda) cho Sa-di Rāhula (với đại ý) rằng: “Này Rāhula, chớ nên nói dối dù chỉ để đùa giỡn theo tính cách trẻ con, v.v.” (ma. ni. 2.107); Đến khi Sa-di được mười tám tuổi, Đức Thế Tôn đã thuyết bài Đại Kinh giáo giới Rāhula (Mahā Rāhulovāda) theo phương thức sau: “Này Rāhula, bất kỳ sắc nào, v.v.” (ma. ni. 2.113). (Bài kinh này được thuyết) cho Sa-di Rāhula khi đang đi khất thực ở sau lưng của Như Lai, lúc ấy mải mê ngắm nhìn vẻ đẹp sắc tướng của bậc Đạo Sư và chính mình, đã khởi lên những suy tầm liên quan đến đời sống thế tục. Bên cạnh đó, các bài kinh Giáo giới Rāhula trong Kinh Tương Ưng Bộ (saṃ. ni. 4.121) và Kinh Tăng Chi Bộ (a. ni. 4.177) đều là phương pháp thực hành Minh sát (Vipassanā) dành cho vị Trưởng lão. Sau đó, bậc Đạo Sư biết rằng trí (tuệ) của (Rāhula) đã chín muồi, vào lúc Rāhula trở thành Tỳ-khưu chưa có hạ lạp, trong khi đang ngồi tại Andhavana đã thuyết bài Tiểu Kinh giáo giới Rāhula (ma. ni. 3.416). Khi bài thuyết giảng chấm dứt, Trưởng lão Rāhula đã chứng đắc quả vị A-ra-hán cùng với hàng trăm ngàn koṭi chư thiên; số lượng chư thiên đắc quả Nhập Lưu, Nhất Lai và Bất Lai là không sao kể xiết. Về sau, khi đang ngồi giữa Hội chúng Thánh Tăng, bậc Đạo Sư đã thiết lập Trưởng lão Rāhula vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu ưa thích học tập trong Giáo Pháp này.
Satthari pana kururaṭṭhe cārikāya nikkhamitvā thullakoṭṭhitaṃ anuppatte raṭṭhapālo kulaputto satthu dhammadesanaṃ sutvā paṭiladdhasaddho mātāpitaro anujānāpetvā dasabalaṃ upasaṅkamitvā satthu āṇattiyā aññatarassa therassa santike pabbaji. Tassa pabbajitadivasato paṭṭhāya seṭṭhigahapati bhikkhū attano nivesanadvārena gacchante disvā ‘‘kiṃ tumhākaṃ imasmiṃ gehe kammaṃ, ekova puttako ahosi, taṃ gaṇhitvā gatattha, idāni kiṃ karissathā’’ti akkosati paribhāsati. Satthā addhamāsaṃ thullakoṭṭhite vasitvā puna sāvatthimeva agamāsi. Tatthāyasmā raṭṭhapālo yoniso manasikaronto kammaṃ katvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ pāpuṇi. So satthāraṃ anujānāpetvā mātāpitaro dassanatthaṃ thullakoṭṭhitaṃ gantvā tattha sapadānaṃ piṇḍāya caranto pitu nivesane ābhidosikaṃ kummāsaṃ labhitvā taṃ amataṃ viya paribhuñjanto pitarā nimantito adhivāsetvā dutiyadivase pitu nivesane piṇḍapātaṃ paribhuñjitvā alaṅkatapaṭiyatte itthijane asubhasaññaṃ uppādetvā ṭhitakova dhammaṃ desetvā jiyā mutto viya nārāco ākāsaṃ uppatitvā korabyarañño migacīraṃ gantvā maṅgalasilāpaṭṭe nisinno dassanatthāya āgatassa rañño catupārijuññapaṭimaṇḍitaṃ dhammaṃ (ma. ni. 2.304) desetvā anupubbena cārikaṃ caramāno puna satthu santikaṃyeva āgato. Evametaṃ vatthu samuṭṭhitaṃ. Atha satthā aparabhāge ariyagaṇamajjhe nisinno theraṃ imasmiṃ sāsane saddhāpabbajitānaṃ kulaputtānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.
Khi ấy, bậc Đạo Sư trên đường du hành đến vương quốc Kuru, đã đi ngang qua thị trấn Thullakoṭṭhita theo tuần tự. Thiện nam Raṭṭhapāla, sau khi được lắng nghe bài thuyết giảng Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, có đức tin được thành tựu; sau khi thuyết phục cha mẹ cho phép xuất gia, cậu đã đến yết kiến đức Thập Lực rồi đã được xuất gia trong sự chứng minh của một vị Trưởng lão theo sự chỉ định của bậc Đạo Sư. Kể từ ngày thiện nam tử ấy xuất gia, mỗi khi nhìn thấy các vị Tỳ-khưu đi ngang qua cửa nhà mình, gia chủ trưởng giả (cha của Raṭṭhapāla) mỗi khi nhìn thấy các vị Tỳ-khưu đi ngang qua cửa nhà mình lại phỉ báng mắng nhiếc rằng: “Các ông có việc gì ở cái nhà này nữa? Tôi chỉ có một đứa con trai duy nhất, (vậy mà) các ông cũng đã đến dắt nó đi mất rồi. Bây giờ các ông còn muốn làm gì nữa!” Bậc Đạo Sư đã trú lại ở thị trấn Thullakoṭṭhita nửa tháng, sau đó Ngài lại tiếp tục đi đến thành Sāvatthī. Khi ấy, Đại đức Raṭṭhapāla đã thực hiện phận sự trong khi tác ý đúng đường lối, đã làm tăng trưởng pháp Minh sát, và đã đạt được phẩm vị A-ra-hán. Sau khi đã xin phép bậc Đạo Sư, Ngài đã trở về thị trấn Thullakoṭṭhita để thăm cha mẹ. Tại đó, trong khi bước đi khất thực tuần tự theo từng nhà, Ngài đã nhận được món cháo chua của đêm hôm qua tại chính tư gia của cha mình. (Ngài) đã khởi lên tưởng về bất tịnh đối với các nữ nhân được trang điểm lộng lẫy, nên Ngài đã đứng ngay tại nơi ấy thuyết giảng Giáo Pháp, sau đó bay lên không trung tựa như một mũi tên vừa rời khỏi dây cung. Ngài bay đến vườn thượng uyển Migācira của Đức Vua Korabya, rồi bước xuống ngồi trên phiến đá ở Hoàng cung. Tại đây, Ngài đã thuyết giảng bài Pháp được trang hoàng bởi bốn sự mất mát[1] cho Đức Vua khi Ngài ngự giá đến thăm. Sau đó, trong khi tuần tự du hành, Ngài đã trở về yết kiến bậc Đạo Sư lần nữa. Câu chuyện đã được đề cập với biểu hiện như thế. Về sau, trong khi ngồi giữa Hội chúng Thánh Tăng, bậc Đạo Sư đã thiết lập Trưởng lão (Raṭṭhapāla) vào vị thế tối thắng trong số các thiện nam tử xuất gia vì lòng tin trong Giáo Pháp này.
Câu chuyện về Trưởng lão Kuṇḍadhāna
- Tatiye paṭhamaṃ salākaṃ gaṇhantānanti sabbapaṭhamaṃ salākagāhakānaṃ bhikkhūnaṃ kuṇḍadhānatthero aggoti dasseti. So kira thero mahāsubhaddāya nimantitadivase tathāgate ugganagaraṃ gacchante ‘‘ajja satthā dūraṃ bhikkhācāraṃ gamissati, puthujjanā salākaṃ mā gaṇhantu, pañcasatā khīṇāsavāva gaṇhantū’’ti vutte paṭhamameva sīhanādaṃ naditvā salākaṃ gaṇhi. Cūḷasubhaddāya nimantitadivase tathāgate sāketaṃ gacchantepi pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ antare paṭhamameva salākaṃ gaṇhi, sunāparantajanapadaṃ gacchantepi. Imehi kāraṇehi thero paṭhamaṃ salākaṃ gaṇhantānaṃ aggo nāma jāto. Kuṇḍadhānoti panassa nāmaṃ.
Trong bài Kinh thứ ba, vị nhận bữa ăn phân phối theo phiếu thăm đầu tiên: Bậc Đạo Sư thuyết rằng Trưởng lão Kuṇḍadhāna là tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu nhận bữa ăn phân phối theo phiếu thăm trước các vị Tỳ-khưu khác. Được biết rằng, Trưởng lão ấy, khi Như Lai đi đến thành phố Ugga vào ngày mà bà Mahāsupphaddā thỉnh mời, khi các Tỳ‑khưu thông báo rằng: “Hôm nay, bậc Đạo Sư sẽ đi khất thực xa. Các vị Tỳ‑khưu phàm phu chớ bắt thăm, mà chỉ năm trăm bậc Lậu Tận hãy bắt thăm.” Khi ấy, Trưởng lão liền gầm lên tiếng rống sư tử đã bắt được phiếu thăm trước tiên. Khi đức Thế Tôn đi đến thành phố Sāketa vào ngày bà Cūḷasubhaddā thỉnh mời, vị Trưởng lão này cũng đã bắt được phiếu thăm đầu tiên tương tự trong số 500 vị Tỳ-khưu. Ngay cả trong lúc đi đến xứ sở Sunāparantapa cũng diễn ra tương tự như thế. Với những lý do này, vị Trưởng lão ấy được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu bắt được phiếu thăm đầu tiên. Ngoài ra, Kuṇḍadhāna là tên gọi của vị Trưởng lão ấy.
Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayaṃ kira padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe nibbatto vuttanayeneva vihāraṃ gantvā dhammaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ paṭhamaṃ salākaṃ gaṇhantānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā buddhānaṃ adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthetvā satthārā anantarāyaṃ disvā byākato yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devesu ca manussesu ca saṃsaranto kassapabuddhakāle bhūmaṭṭhakadevatā hutvā nibbatti. Dīghāyukabuddhānañca nāma na anvaddhamāsiko uposatho hoti. Vipassīdasabalassa hi chabbassantare chabbassantare uposatho ahosi, kassapadasabalo pana chaṭṭhe chaṭṭhe māse pātimokkhaṃ osāresi. Tassa pātimokkhaṃ osāraṇakāle disāvāsikā dve sahāyakā bhikkhū ‘‘uposathaṃ karissāmā’’ti gacchanti. Ayaṃ bhummadevatā cintesi – ‘‘imesaṃ dvinnaṃ bhikkhūnaṃ metti ativiya daḷhā, kiṃ nu kho bhedake sati bhijjeyya, na bhijjeyyā’’ti? Tesaṃ okāsaṃ olokayamānā tesaṃ avidūreneva gacchati.
Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Kể rằng: vào thời Đức Phật Padumuttara, vị Trưởng lão này tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī, đi đến Tịnh xá để nghe Pháp theo cách thức đã được đề cập trước đó. Tại đây, khi nhìn thấy bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu bắt được phiếu thăm đầu tiên, (vị ấy) đã thực hiện các hành động hướng thượng đến Đức Phật và đã thực hiện lời phát nguyện vị thế đó (trong tương lai). Bậc Đạo quán sát thấy không gặp trở ngại nên đã thọ ký. Sau đó, (vị ấy) đã tạo các nghiệp thiện cho đến suốt cuộc đời; trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người. Vào thời kỳ Đức Phật Kassapa, vị ấy tái sanh trở thành vị chư Thiên địa cầu. Thông thường, vào thời đức Phật có tuổi thọ dài lâu, thì không làm lễ uposatha mỗi nửa tháng. Chẳng hạn như đấng Thập Lực Vipassī, cứ mỗi sáu năm mới làm lễ uposatha một lần; còn đấng Thập Lực Kassapa thì cho tụng đọc giới bổn Pāṭimokkha mỗi sáu tháng một lần. Vào ngày tụng đọc giới bổn Pātimokkha đó, hai vị Tỳ-khưu bạn cư ngụ ở các phương cùng nhau đi đến với ý định “chúng ta sẽ hành lễ uposatha.” Vị Thiên địa cầu này (tiền thân Ngài Kuṇḍadhāna) nghĩ rằng: “Tình pháp lữ của hai vị Tỳ-khưu này vô cùng khăng khít. Khi có kẻ tìm cách chia rẽ, liệu tình bạn có rạn nứt hay không đây?” Vì thế (vị ấy) chờ tìm cơ hội của hai vị Tỳ-khưu ấy, rồi đi đến gần hai vị đó.”
Atheko thero ekassa hatthe pattacīvaraṃ datvā sarīravaḷañjanatthaṃ udakaphāsukaṭṭhānaṃ gantvā dhotahatthapādo hutvā gumbasabhāgato nikkhamati. Bhummadevatā tassa therassa pacchato pacchato uttamarūpā itthī hutvā kese vidhunitvā saṃvidhāya bandhantī viya piṭṭhito paṃsuṃ puñchamānā viya sāṭakaṃ saṃvidhāya nivāsayamānā viya ca hutvā therassa padānupadikā hutvā gumbato nikkhantā. Ekamante ṭhito sahāyakatthero imaṃ kāraṇaṃ disvā domanassajāto ‘‘naṭṭho dāni me iminā bhikkhunā saddhiṃ dīgharattānugato sineho. Sacāhaṃ evaṃvidhabhāvaṃ jāneyyaṃ, ettakaṃ addhānaṃ iminā saddhiṃ vissāsaṃ na kareyya’’nti cintetvā āgacchantassevassa ‘‘handāvuso, tuyhaṃ pattacīvaraṃ, tādisena pāpena sahāyena saddhiṃ ekamaggaṃ na gacchāmī’’ti āha. Taṃ kathaṃ sutvā tassa lajjibhikkhuno hadayaṃ tikhiṇasattiṃ gahetvā viddhaṃ viya ahosi. Tato naṃ āha – ‘‘āvuso, kiṃ nāmetaṃ vadasi, ahaṃ ettakaṃ kālaṃ dukkaṭamattampi āpattiṃ na jānāmi. Tvaṃ pana maṃ ajja ‘pāpo’ti vadasi, kiṃ te diṭṭha’’nti? Kiṃ aññena diṭṭhena, kiṃ tvaṃ evaṃvidhena alaṅkatapaṭiyattena mātugāmena saddhiṃ ekaṭṭhāne hutvā nikkhantoti? Natthetaṃ, āvuso, mayhaṃ, nāhaṃ evarūpaṃ mātugāmaṃ passāmīti. Tassa yāvatatiyaṃ kathentassāpi itaro thero kathaṃ asaddahitvā attanā diṭṭhakāraṇaṃyeva atthaṃ gahetvā tena saddhiṃ ekamaggena agantvā aññena maggena satthu santikaṃ gato. Itaropi aññena maggena satthu santikaṃyeva gato.
Lúc bấy giờ, Trưởng lão này gửi bình bát và y phục cho vị còn lại rồi đi đến nơi có sự dễ chịu bởi nguồn nước để vệ sinh thân thể. Sau khi rửa tay chân xong, Ngài bước ra từ trong lùm cây râm mát. Ngay lập tức, vị Thiên địa cầu đã hóa thân thành một người phụ nữ có dung mạo diễm lệ, đứng ở sau lưng vị Trưởng lão ấy, giả vờ chải mái tóc rối bù cho gọn, vờ như phủi bụi phía sau, và vờ như đang chỉnh sửa xiêm y lại cho ngay ngắn, rồi đi theo dấu chân vị Trưởng lão vừa bước ra khỏi lùm cây và đứng nép vào một bên. Vị Trưởng lão là người bạn đồng hành, khi chứng kiến cảnh tượng ấy vô cùng đau buồn, nghĩ rằng: “Mối thâm tình gắn bó bấy lâu nay với vị Tỳ-khưu này của ta, giờ đây đã lụi tàn. Nếu ta biết rõ bản chất thật sự của vị ấy như thế, ta đã không tạo mối thâm tình với vị này đậm sâu đến thế.” Ngay khi vị Tỳ-khưu kia vừa bước đến, vị này liền nói: “Mời ông, này Hiền giả! Đây là bình bát và y phục của ông. Tôi sẽ không đồng hành với một người bạn như ông nữa!” Khi nghe những lời ấy, trái tim của vị Tỳ-khưu có sự hổ thẹn ấy như thế bị ngọn giáo nhọn đâm thủng. Lúc đó, Ngài bàng hoàng hỏi lại: “Thưa Hiền giả, Ngài nói gì thế? Tôi không nhận biết lỗi lầm dù chỉ một lỗi nhỏ như tội Dukkaṭa trong suốt khoảng thời gian chứng ấy. Vậy mà hôm nay Ngài lại nói tôi là ‘kẻ ác’? Ngài đã nhìn thấy chuyện gì sao?’” Vị Trưởng lão ấy đáp: “Lợi ích gì với những việc khác, chính mắt tôi đã nhìn thấy rồi! Tại sao ông lại bước ra cùng với một người phụ nữ đang trang điểm (từ trong lùm cây)?” – Vị Tỳ-khưu ấy quả quyết trả lời: “Này Hiền giả, việc làm đó của tôi không hề có, tôi cũng không nhìn thấy người phụ nữ nào như thế.” – Dù Ngài đã thanh minh đến ba lần, nhưng vị Trưởng lão kia vẫn không tin vào lời nói ấy, nắm giữ khư khư vào những gì mình đã nhìn thấy, đã không đồng hành cùng với vị ấy nữa mà rẽ sang lối khác để đến yết kiến bậc Đạo Sư. Vị còn lại cũng đi đến yết kiến bậc Đạo Sư bằng con đường khác tương tự.
Tato bhikkhusaṅghassa uposathāgāraṃ pavisanavelāya so bhikkhu taṃ bhikkhuṃ uposathagge sañjānitvā ‘‘imasmiṃ uposathagge evarūpo nāma pāpabhikkhu atthi, nāhaṃ tena saddhiṃ uposathaṃ karissāmī’’ti nikkhamitvā bahi aṭṭhāsi. Bhummadevatā ‘‘bhāriyaṃ mayā kammaṃ kata’’nti mahallakaupāsakavaṇṇena tassa santikaṃ gantvā ‘‘kasmā, bhante, ayyo imasmiṃ ṭhāne ṭhito’’ti āha. Upāsaka, imaṃ uposathaggaṃ eko pāpabhikkhu paviṭṭho, ahaṃ tena saddhiṃ uposathaṃ na karomīti vatvā nikkhamitvā bahi ṭhitomhīti. Bhante, mā evaṃ gaṇhatha, parisuddhasīlo esa bhikkhu. Tumhehi diṭṭhamātugāmo nāma ahaṃ, mayā tumhākaṃ vīmaṃsanatthāya ‘‘daḷhā nu kho imesaṃ therānaṃ metti, no daḷhā’’ti lajjialajjibhāvaṃ olokentena taṃ kammaṃ katanti. Ko pana tvaṃ sappurisāti? Ahaṃ ekā bhummadevatā, bhanteti. Devaputto kathentova dibbānubhāvena ṭhatvā therassa pādesu patitvā ‘‘mayhaṃ, bhante, khamatha, etaṃ dosaṃ thero na jānāti, uposathaṃ karothā’’ti theraṃ yācitvā uposathaggaṃ pavesesi. So thero uposathaṃ tāva ekaṭṭhāne akāsi, mittasanthavavasena na puna tena saddhiṃ ekaṭṭhāne ahosīti. Imassa therassa kammaṃ na kathiyati, cuditakatthero pana aparāparaṃ vipassanāya kammaṃ karonto arahattaṃ pāpuṇi.
Lúc đó, vào thời điểm Hội chúng Tỳ-khưu bước vào nhà hành lễ Uposatha, vị Trưởng lão (người đã chứng kiến ảo ảnh) nhận ra vị pháp lữ kia đang ngồi trong nhà hành lễ Uposatha, mới nói rằng: “Trong nhà hành lễ Uposatha này hiện đang có một vị ác Tỳ-khưu tên như thế này đây. Tôi nhất định không hành lễ chung với vị ấy!” Nên vị ấy đã rời khỏi (nhà hành lễ Uposatha) rồi đứng ở bên ngoài. Vị Thiên địa cầu nghĩ rằng: “Ta đã tạo nghiệp nghiêm trọng rồi!” liền hóa thành một cận sự nam già yếu đến gặp vị Trưởng lão ấy rồi nói rằng: “Bạch Ngài, vì lý do gì mà Ngài lại đứng ở nơi đây?” – Vị Trưởng lão đáp: “Này cận sự nam, có một vị ác Tỳ-khưu đã đi vào nhà hành lễ Uposatha này. Tôi không hành lễ với hạng người như thế nên mới ra đứng ở bên ngoài.” – (Cận sự nam già ấy): “Bạch Ngài, đừng cố chấp như thế. Vị Tỳ-khưu ấy là bậc hoàn toàn có giới hạnh thanh tịnh. Tôi chính là người phụ nữ mà Ngài đã nhìn thấy đó. Tôi quan sát thấy sự hổ thẹn và sự không hổ thẹn nhằm mục đích kiểm nghiệm (tình pháp lữ) của hai đã gây ra hành động đó với ý nghĩ rằng: “Tình pháp lữ của hai vị Trưởng lão này có thật sự bền vững hay không?” – (Vị Trưởng lão): “Này bậc chân nhân, vậy ông là ai?” – (Cận sự nam già): “Bạch Ngài, tôi là một vị Thiên địa cầu.” Vị thiên tử ấy, trong khi đang đứng nói chuyện nhờ oai lực cõi Trời, phủ phục dưới chân của vị Trưởng lão rồi nói rằng: “Xin Ngài hãy tha thứ cho lỗi lầm này của tôi. Trưởng lão không biết (chuyện gì đã xảy ra), xin Ngài hãy vào hành lễ Uposatha.” Sau khi hết lời nài nỉ, vị ấy đã đưa được vị Trưởng lão vào nhà hành lễ Uposatha. Vị Trưởng lão ấy đã hành lễ Uposatha ở cùng một nơi trước, rồi sau đó đã cùng sống chung một nơi cùng với vị Trưởng lão kia như xưa do nhờ sức mạnh của việc hàn gắn tình pháp lữ. Về phần nghiệp quả của vị Trưởng lão (vị đã nghi ngờ), kinh văn không nhắc đến; Còn về vị Tỳ-khưu bị buộc tội trong lúc thực hành thiền Minh sát đã đạt đến phẩm vị A-ra-hán.
Bhummadevatā tassa kammassa nissandena ekaṃ buddhantaraṃ apāyato na muccittha. Sace pana kālena kālaṃ manussattaṃ āgacchati, aññena yena kenaci kato doso tasseva upari patati. So amhākaṃ bhagavato kāle sāvatthiyaṃ brāhmaṇakule nibbatti, dhānamāṇavotissa nāmaṃ akaṃsu. So vayappatto tayo vede uggaṇhitvā mahallakakāle satthu dhammadesanaṃ sutvā paṭiladdhasaddho pabbaji, tassa upasampannadivasato paṭṭhāya ekā alaṅkatapaṭiyattā itthī tasmiṃ gāmaṃ pavisante saddhiṃyeva gāmaṃ pavisati, nikkhamante nikkhamati. Vihāraṃ pavisantepi pavisati, tiṭṭhantepi tiṭṭhatīti evaṃ niccānubandhā paññāyati. Thero taṃ na passati, tassa pana purimassa kammassa nissandena sā aññesaṃ upaṭṭhāti.
Do kết quả ác nghiệp đó mà vị Thiên địa cầu đã không thoát khỏi Địa ngục trong suốt một khoảng giữa hai vị Phật. Tuy nhiên, nếu đi đến bản thể loài Người vào thời điểm thích hợp, lỗi lầm được thực hiện bởi bất cứ người nào đó, (thì những lỗi lầm đó) đều rơi xuống chính bản thân vị ấy. Vào thời kỳ đức Thế Tôn của chúng ta, vị ấy tái sanh vào gia đình Bà-la-môn tại kinh thành Sāvatthī, được đặt tên là Thanh niên Dhāna. Khi đến tuổi trưởng thành, chàng thanh niên Dhāna đã học tập ba kiến thức Vệ-đà (Tam Phệ-đà). Vào lúc tuổi già, sau khi nghe Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, có đức tin được thành tựu rồi đã xuất gia. Kể từ ngày vị ấy xuất gia, luôn có hình bóng một người phụ nữ được trang sức vô cùng diễm lệ (xuất hiện cùng Ngài); khi Ngài bước vào làng, thì cô ấy cũng bước vào theo; khi Ngài ra khỏi làng, thì cô ấy cũng ra theo; ngay cả khi Ngài bước vào Tịnh xá, thì cô ấy cũng bước vào; thậm chí khi Ngài đứng lại, thì cô ấy cũng đứng ở bên cạnh, người phụ nữ ấy thường xuyên xuất hiện sát bên Ngài không rời như vậy. Bản thân Trưởng lão thì hoàn toàn không nhìn thấy người phụ nữ ấy, nhưng do kết quả từ ác nghiệp cũ của Ngài, mà hình bóng phụ nữ ấy lại hiện rõ trong mắt của những người khác.
Gāme yāgubhikkhaṃ dadamānā itthiyo, ‘‘bhante, ayaṃ eko yāguuḷuṅko tumhākaṃ, eko imissā amhākaṃ sahāyikāyā’’ti parihāsaṃ karonti. Therassa mahatī vihesā hoti. Vihāraṃ gatampi naṃ sāmaṇerā ceva daharabhikkhū ca parivāretvā ‘‘dhāno koṇḍo jāto’’ti parihāsaṃ karonti. Athassa teneva kāraṇena kuṇḍadhānattheroti nāmaṃ jātaṃ. So uṭṭhāya samuṭṭhāya tehi kayiramānaṃ keḷiṃ sahituṃ asakkonto ummādaṃ gahetvā ‘‘tumhe koṇḍā, tumhākaṃ upajjhāyā koṇḍā, ācariyā koṇḍā’’ti vadati. Atha naṃ satthu ārocesuṃ – ‘‘kuṇḍadhāno daharasāmaṇerehi saddhiṃ evaṃ pharusavācaṃ vadatī’’ti. Satthā taṃ pakkosāpetvā ‘‘saccaṃ bhikkhū’’ti pucchitvā ‘‘saccaṃ bhagavā’’ti vutte ‘‘kasmā evaṃ vadesī’’ti āha. Bhante, nibaddhaṃ vihesaṃ asahanto evaṃ kathemīti. ‘‘Tvaṃ pubbe katakammaṃ yāvajjadivasā jīrāpetuṃ na sakkosi, puna evarūpaṃ pharusaṃ mā vada bhikkhū’’ti vatvā āha –
Những người phụ nữ khi dâng cúng cháo và đồ ăn khất thực trong làng thường chế nhạo rằng: “Bạch Ngài, vá (môi) cháo này là phần của Ngài, còn vá này là dành cho người bạn nữ của Ngài!” Điều này khiến Trưởng lão vô cùng khó chịu. Ngay cả khi về đến tu viện, các vị Sa-di và Tỳ-khưu trẻ cũng vây quanh, cười cợt và nhạo báng Ngài rằng: “Tỳ-khưu Dhāna đã trở thành người xấu ác.” Chính vì lý do đó,về sau Ngài có tên gọi là Trưởng lão Kuṇḍadhāna. Trưởng lão đã đứng lên ngồi xuống, nhưng khi không thể chịu đựng những lời chế nhạo của các Sa-di và Tỳ-khưu trẻ ấy, Ngài đã nóng nảy mà nói rằng: “Thầy tế độ của các ông mới là người xấu! Thầy dạy học của các ông mới là người ác!” Khi ấy, các vị Tỳ-khưu đã thuật lại sự việc ấy cho bậc Đạo Sư rằng: “Bạch Thế Tôn, Tỳ-khưu Kuṇḍadhāna đã nói những lời lẽ thô lỗ như thế này, như thế kia với các vị Tỳ-khưu trẻ và Sa-di.” – Bậc Đạo Sư đã mời vị ấy đến, rồi đã hỏi rằng: “Này Tỳ-khưu, có đúng như vậy không?” Khi vị ấy đáp rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, đúng như vậy.” – Đức Thế Tôn hỏi tiếp: “Tại sao ông lại nói những lời như thế?” Trưởng lão Kuṇḍadhāna đáp: “Bạch Ngài, vì con không thể nào chịu đựng được những lời châm chọc diễn ra thường xuyên, nên mới nói như vậy.” – Bậc Đạo Sư đã nói rằng: “Này Tỳ-khưu, chính bản thân ông cho đến tận ngày hôm nay nghiệp mà ông đã tạo từ thuở trước vẫn còn chưa trả hết. Kể từ nay về sau, này Tỳ-khưu ông chớ nên thốt ra những lời thô lỗ như thế nữa,” rồi Ngài đã nói rằng—
‘‘Māvoca pharusaṃ kañci, vuttā paṭivadeyyu taṃ;
Dukkhā hi sārambhakathā, paṭidaṇḍā phuseyyu taṃ.
‘‘Sace neresi attānaṃ, kaṃso upahato yathā;
Esa pattosi nibbānaṃ, sārambho te na vijjatī’’ti. (dha. pa. 133-134);
“Ngươi chớ nói điều thô lỗ đến bất cứ ai. Những người đã bị (ngươi) nói có thể nói lại ngươi. Những lời nói cộc cằn quả là tai hại, (bởi vì) các sự đánh trả lại có thể giáng xuống cho ngươi.
Nếu ngươi không dao động bản thân giống như cái chuông đã bị bể, chính ngươi đã đạt đến Niết Bàn, sự thù hằn không tìm thấy ở ngươi.” (dha. pa. 133-134);
Imañca pana tassa therassa mātugāmena saddhiṃ vicaraṇabhāvaṃ kosalaraññopi kathayiṃsu. Rājā ‘‘gacchatha, bhaṇe, vīmaṃsathā’’ti pesetvā sayampi mandeneva parivārena saddhiṃ therassa vasanaṭṭhānaṃ gantvā ekamante olokento aṭṭhāsi. Tasmiṃ khaṇe thero sūcikammaṃ karonto nisinno hoti, sāpissa itthī avidūre ṭhāne ṭhitā viya paññāyati.
Khi ấy, mọi người đã đem việc vị Trưởng lão ấy đi lại cùng với người phụ nữ ra tâu lên Đức Vua Kosala. Đức Vua liền phái các quan đại thần đi (với kim ngôn) rằng: “Các khanh, hãy đi điều tra thực hư: đích thân Ngài cũng ngự giá đến trú xứ của vị Trưởng lão ấy với đông đảo tùy tùng và đứng quan sát ở một góc thích hợp. Vào thời khắc ấy, Trưởng lão đang ngồi khâu vá y phục, và hình bóng người phụ nữ ấy cũng hiện ra như thể đang đứng ở một nơi không xa vị ấy.
Rājā taṃ disvā ‘‘atthidaṃ kāraṇa’’nti tassā ṭhitaṭṭhānaṃ agamāsi. Sā tasmiṃ āgacchante therassa vasanapaṇṇasālaṃ paviṭṭhā viya ahosi. Rājāpi tāya saddhiṃyeva paṇṇasālaṃ pavisitvā sabbattha olokento adisvā ‘‘nāyaṃ mātugāmo, therassa eko kammavipāko’’ti saññaṃ katvā paṭhamaṃ therassa samīpena gacchantopi theraṃ avanditvā tassa kāraṇassa abhūtabhāvaṃ ñatvā āgamma theraṃ vanditvā ekamantaṃ nisinno ‘‘kacci, bhante, piṇḍakena na kilamathā’’ti pucchi. Thero ‘‘vaṭṭati mahārājā’’ti āha. ‘‘Jānāmi, bhante, ayyassa kathaṃ, evarūpena ca parikkilesena saddhiṃ carantānaṃ tumhākaṃ ke nāma pasīdissanti, ito paṭṭhāya vo katthaci gamanakiccaṃ natthi, ahaṃ catūhi paccayehi upaṭṭhahissāmi, tumhe yonisomanasikāre mā pamajjitthā’’ti nibaddhaṃ bhikkhaṃ paṭṭhapesi. Thero rājānaṃ upatthambhakaṃ labhitvā bhojanasappāyena ekaggacitto hutvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ pāpuṇi. Tato paṭṭhāya sā itthī antaradhāyi.
Đức Vua nhìn thấy cảnh tượng ấy thì nghĩ rằng: “Nguyên nhân (về việc người phụ nữ đi theo) này có sao?” Thế rồi, Ngài tiến đến vị trí đã đứng của người phụ nữ ấy. Khi Đức Vua đi đến, người phụ nữ ấy trông như thể vừa bước vào trong gian nhà lá của vị Trưởng lão. Đức Vua lập tức bước vào trong gian nhà lá cùng với người phụ nữ đó, quan sát ở mọi ngóc ngách nhưng không nhìn thấy (bóng dáng người phụ nữ ấy). Khi đó, Đức Vua mới hiểu rằng: “Đây không phải là một người phụ nữ bằng xương bằng thịt, mà là một loại quả báo của nghiệp của Trưởng lão.” Ban đầu, khi mới đến gần vị Trưởng lão, Đức Vua vẫn chưa đảnh lễ, nhưng sau khi đã biết rõ rằng: “Nguyên nhân (về việc người phụ nữ đi theo) là không có thật,” mới đến cung kính đảnh lễ Trưởng lão, rồi ngồi xuống ở một bên, và đã hỏi rằng: “Bạch Ngài, Ngài không gặp nhiều khó khăn với việc đi khất thực chứ?” – Trưởng lão đáp: “Tâu đại vương, sự việc diễn tiến (có sự khó khăn) như vậy.” – Đức Vua thưa rằng: “Bạch Ngài, giờ đây Trẫm đã hiểu rõ sự tình của Ngài. Khi Ngài đi lại với một bóng dáng gây ra vết nhơ (về danh tiếng) như thế này, thì thử hỏi còn ai có thể khởi tâm tịnh tín nữa? Kể từ nay về sau, Ngài không cần phải đi khất thực chỗ này chỗ nọ nữa, Trẫm sẽ đích thân hộ trì Ngài với bốn món vật dụng, Ngài hãy chớ xao lãng trong sự tác ý đúng đường lối.” Rồi Đức Vua đều đặn gửi vật thực đến dâng cúng hằng ngày. Trưởng lão đã được Đức Vua hộ độ, (Ngài) đã trở thành vị có tâm được nhất điểm do có được vật thực thích hợp, đã phát triển minh sát và đã chứng đắc quả vị A-ra-hán. Kể từ đó trở đi, hình bóng người phụ nữ kia cũng hoàn toàn biến mất.
Mahāsubhaddā ugganagare micchādiṭṭhikule vasamānā ‘‘satthā maṃ anukampatū’’ti uposathaṃ adhiṭṭhāya nirāmagandhā hutvā uparipāsādatale ṭhitā ‘‘imāni pupphāni antare aṭṭhatvā dasabalassa matthake vitānaṃ hutvā tiṭṭhantu, dasabalo imāya saññāya sve pañcahi bhikkhusatehi saddhiṃ mayhaṃ bhikkhaṃ gaṇhatū’’ti saccakiriyaṃ katvā aṭṭha sumanapupphamuṭṭhiyo vissajjesi. Pupphāni gantvā dhammadesanāvelāya satthu matthake vitānaṃ hutvā aṭṭhaṃsu. Satthā taṃ sumanapupphavitānaṃ disvā citteneva subhaddāya bhikkhaṃ adhivāsetvā punadivase aruṇe uṭṭhite ānandattheraṃ āha – ‘‘ānanda, mayaṃ ajja dūraṃ bhikkhācāraṃ gamissāma, puthujjanānaṃ adatvā ariyānaṃyeva salākaṃ dehī’’ti.
Nàng Mahā Subhaddā đang sống trong gia đình tà kiến tại thành Ugga, nghĩ rằng: “Bậc Đạo Sư hãy thương tưởng đến con”, nàng đã phát nguyện thọ trì giới uposatha, trở thành người không còn mùi tanh hôi (giữ thân tâm thanh tịnh), đứng trên tầng cao của tòa lâu đài, nàng đã thực hiện sự phát nguyện chân thật rằng: “Những bông hoa này hãy đừng đứng yên ở giữa đường, hãy kết thành một mái che phía trên đấng Thập Lực. Xin đấng Thập Lực hãy thọ nhận lấy vật thực cúng dường của con cùng với năm vị Tỳ-khưu thông qua tín hiệu này.” Rồi ném tám bó hoa nhài (lên không trung). Lạ thay, những đóa hoa ấy bay đi và đã kết thành một mái che ở phía trên bậc Đạo Sư vào lúc thuyết giảng Giáo Pháp. Đức Đạo Sư đưa mắt nhìn thấy mái che bằng hoa nhài ấy, đã chấp thuận bữa ăn của nàng Subhaddā bằng tâm ý. Sáng sớm hôm sau, khi bình minh vừa ló dạng, Ngài đã nói Trưởng lão Ānanda rằng: “Này Ānanda, hôm nay Như Lai sẽ đi khất thực ở xa. Con chớ trao phiếu thăm cho những vị Tỳ-khưu còn là phàm phu, hãy chỉ trao cho những bậc Thánh mà thôi.”
Thero bhikkhūnaṃ ārocesi – ‘‘āvuso, satthā ajja dūraṃ bhikkhācāraṃ gamissati, puthujjanā mā gaṇhantu, ariyāva salākaṃ gaṇhantū’’ti. Kuṇḍadhānatthero ‘‘āharāvuso, salāka’’nti paṭhamaṃyeva hatthaṃ pasāresi. Ānandā ‘‘satthā tādisānaṃ bhikkhūnaṃ salākaṃ na dāpeti, ariyānaṃyeva dāpetī’’ti vitakkaṃ uppādetvā gantvā satthu ārocesi. Satthā ‘‘āharāpentassa salākaṃ dehī’’ti āha. Thero cintesi – ‘‘sace kuṇḍadhānassa salākā dātuṃ na yuttā assa, atha satthā paṭibāheyya, bhavissati ekaṃ kāraṇa’’nti. ‘‘Kuṇḍadhānassa salākaṃ dassāmī’’ti gamanaṃ abhinīhari. Kuṇḍadhānatthero tassa pure āgamanāva abhiññāpādakaṃ catutthajjhānaṃ samāpajjitvā iddhiyā ākāse ṭhatvā ‘‘āharāvuso ānanda, satthā maṃ jānāti, mādisaṃ bhikkhuṃ paṭhamaṃ salākaṃ gaṇhantaṃ na satthā vāretī’’ti hatthaṃ pasāretvā salākaṃ gaṇhi. Satthā taṃ aṭṭhuppattiṃ katvā theraṃ imasmiṃ sāsane paṭhamaṃ salākaṃ gaṇhantānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.
Trưởng lão Ānanda thông báo cho các Tỳ-khưu rằng: “Này các Hiền giả, hôm nay bậc Đạo Sư sẽ đi khất thực ở một nơi xa. Các vị Tỳ-khưu phàm phu xin chớ bắt thăm, chỉ các bậc Thánh hãy bắt thăm.” – Lúc đó, Trưởng lão Kuṇḍadhāna nói rằng: “Thưa Hiền giả, hãy mang phiếu thăm đến”, rồi duỗi cánh tay ra phía trước. – Trưởng lão Ānanda nói: “Bậc Đạo Sư không cho phép trao phiếu thăm cho những Tỳ-khưu như Ngài, Ngài chỉ thị chỉ trao cho những bậc Thánh mà thôi.” (Do lúc đó Ngài vẫn bị mang tiếng xấu nên Ngài Ānanda còn nghi ngờ); vì thế đã khởi lên suy tầm, nên đã đi thuật lại cho Đức Thế Tôn. – Bậc Đạo Sư nói rằng: “Con hãy đi trao phiếu thăm cho vị Tỳ-khưu đã bảo mang phiếu thăm đến.” Trưởng lão Ānanda nghĩ rằng: “Nếu không phù hợp để trao phiếu thăm cho Kuṇḍadhāna, hẳn là bậc Đạo Sư phải ngăn cản. Chắc chắn phải có một lý do nào đó.” Nghĩ vậy, Ngài vội mang phiếu thăm đến với ý nghĩ rằng: “Sẽ trao cho Trưởng lão Kuṇḍadhāna.” – Trước khi Trưởng lão Ānanda đến nơi, Trưởng lão Kuṇḍadhāna đã nhập vào Tứ thiền làm nền tảng cho thần thông, Ngài đã đứng giữa không trung bằng thần thông và nói rằng: “Này Hiền giả Ānanda, hãy mang phiếu thăm đến! Bậc Đạo Sư biết rõ ta. Bậc Đạo Sư không ngăn cản một Tỳ-khưu như ta – người vốn luôn bắt được phiếu thăm đầu tiên.” Nói rồi, Ngài đã duỗi cánh tay ra nhận lấy phiếu thăm. Bậc Đạo Sư đã lấy câu chuyện ấy làm duyên khởi, thiết lập Trưởng lão Kuṇḍadhāna vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu bắt được phiếu thăm đầu tiên trong Giáo Pháp này.
Câu chuyện về Trưởng lão Vaṅgīsa
- Catutthe paṭibhānavantānanti sampannapaṭibhānānaṃ vaṅgīsatthero aggoti dasseti. Ayaṃ kira thero dasabalassa santikaṃ upasaṅkamanto cakkhupathato paṭṭhāya candena saddhiṃ upametvā, sūriyena, ākāsena, mahāsamuddena, hatthināgena, sīhena migaraññā saddhiṃ upametvāpi anekehi padasatehi padasahassehi satthu vaṇṇaṃ vadantoyeva upasaṅkamati. Tasmā paṭibhānavantānaṃ aggo nāma jāto.
Trong bài Kinh thứ tư, vị có tài biện giải: Đức Thế Tôn thuyết rằng– Trưởng lão Vaṅgīsa là tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có tài biện giải hoàn hảo. Kể rằng: Vị Trưởng lão này, trong khi đi đến yết kiến đấng Thập Lực, kể từ lúc bậc Đạo Sư lọt vào tầm mắt, liền nói lên những lời ca tụng về đức hạnh của bậc Đạo Sư bằng hàng trăm, hàng ngàn bài kệ với những hình ảnh ẩn dụ ví (bậc Đạo Sư) như mặt trăng, mặt trời, như bầu trời bao la, như đại dương mênh mông, hay như tượng vương, hay so sánh với sư tử là vua của các loài thú rồi mới đi vào yết kiến. Chính vì lý do đó, Ngài mới là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có tài biện giải.
Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi kira padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare mahābhogakule paṭisandhiṃ gaṇhitvā purimanayeneva vihāraṃ gantvā dhammaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ paṭibhānavantānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā satthu adhikārakammaṃ katvā ‘‘ahampi anāgate paṭibhānavantānaṃ aggo bhaveyya’’nti patthanaṃ katvā satthārā byākato yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto imasmiṃ buddhuppāde sāvatthiyaṃ brāhmaṇakule nibbatti. Vaṅgīsamāṇavotissa nāmaṃ akaṃsu. So vayappatto tayo vede uggaṇhanto ācariyaṃ ārādhetvā chavasīsamantaṃ nāma sikkhitvā chavasīsaṃ nakhena ākoṭetvā ‘‘ayaṃ satto asukayoniyaṃ nāma nibbatto’’ti jānāti.
Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Kể rằng: Vào thời Đức Phật Padumuttara, vị Trưởng lão này đã tái sanh vào gia đình đại phú tại kinh thành Haṃsavatī; đã đi đến Tịnh xá theo phương cách như đã đề cập trước đó. Khi nghe Pháp đã chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có tài biện giải. (Vị ấy) đã thực hiện các hành động hướng thượng đến bậc Đạo Sư, rồi đã lập lời thệ nguyện rằng: “Vào thời vị lai, mong rằng con sẽ trở thành vị trí tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có biện tài”. Sau khi được bậc Đạo Sư thọ ký, vị ấy đã tạo các nghiệp thiện cho đến hết cuộc đời. Trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, vào thời kỳ Đức Phật này, vị ấy tái sanh vào gia đình Bà-la-môn tại kinh thành Sāvatthī, và thân quyến đặt tên cho vị ấy là Thanh niên Vaṅgīsa. Khi đến tuổi trưởng thành, vị ấy học tập ba kiến thức Vệ-đà, đã làm cho các thầy hài lòng, học tập chú thuật là chavasīsamanta (chú thuật về sọ người), chỉ cần dùng móng tay gõ nhẹ vào hộp sọ của người chết, thì vị ấy biết rằng: “Chúng sanh này đã tái sinh vào sanh loại như thế như thế”.
Brāhmaṇā ‘‘ayaṃ amhākaṃ jīvikamaggo’’ti ñatvā vaṅgīsamāṇavaṃ paṭicchannayāne nisīdāpetvā gāmanigamarājadhāniyo carantā nagaradvāre vā nigamadvāre vā ṭhapetvā mahājanassa rāsibhūtabhāvaṃ ñatvā ‘‘yo vaṅgīsaṃ passati, so dhanaṃ vā labhati, yasaṃ vā labhati, saggaṃ vā gacchatī’’ti vadanti. Tesaṃ kathaṃ sutvā bahū janā lañjaṃ datvā passitukāmā honti. Rājarājamahāmattā tesaṃ santikaṃ gantvā ‘‘ko ācariyassa jānaviseso’’ti pucchanti. Tumhe na jānātha, sakalajambudīpe amhākaṃ ācariyasadiso añño paṇḍito nāma natthi, tivassamatthake matakānaṃ sīsaṃ āharāpetvā nakhena ākoṭetvā ‘‘ayaṃ satto asukayoniyaṃ nibbatto’’ti jānāti. Vaṅgīsopi mahājanassa kaṅkhachedanatthaṃ te te jane āvāhetvā attano attano gatiṃ kathāpeti. Taṃ nissāya mahājanassa hatthato satampi sahassampi labhati.
Các vị Bà-la-môn biết rằng: “Chú thuật này là con đường mưu sinh của chúng ta”, nên đã cho thanh niên Vaṅgīsa ngồi trên một cỗ xe được che kín rồi đi du hành qua khắp các làng mạc, thị trấn và kinh thành; mỗi khi dừng lại trước cổng thành hay cổng thị trấn, biết rằng: “Đám đông dân chúng đã tụ tập, liền nói rằng: “Người nào nhìn thấy Vaṅgīsa, người đó sẽ có được tài sản, hoặc có được danh vọng, hoặc sẽ được đi đến cõi trời!”’ Phần đông nhiều người sau khi nghe những lời nói của các vị Bà-la-môn đó đã sẵn lòng trả tiền công vì mong muốn (tận mắt) được nhìn thấy (thanh niên Vaṅgīsa). Ngay cả nhà vua và các quan đại thần cũng đã đi đến chỗ ở của các vị Bà-la-môn, hỏi rằng: “Khả năng đặc biệt là sự nhận biết của vị thầy này như thế nào?” – Các vị Bà-la-môn đáp: “Các ngài không biết sao? Trong khắp toàn cõi Jambudīpa này, không có bậc sáng trí nào khác có thể sánh bằng với thầy của chúng tôi. Sau khi cho mang đến hộp sọ của người đã chết cách đây 3 năm, (vị ấy) chỉ cần dùng móng tay gõ nhẹ vào là biết rằng: ‘Chúng sanh này đã tái sanh vào sanh loại như thế, như thế.’” Về phần Vaṅgīsa, để cắt đứt mọi sự nghi ngờ của đám đông dân chúng, vị ấy đã cho gọi những người liên quan đến để mình chỉ rõ về cảnh giới tái sinh của mỗi cá nhân. Dựa vào điều đó, vị ấy đã thu được rất nhiều tiền bạc từ tay của đám đông dân chúng, khi thì một trăm, khi thì cả ngàn (đồng vàng).
Brāhmaṇā vaṅgīsamāṇavaṃ ādāya yathāruciṃ vicaritvā puna sāvatthiṃ āgamaṃsu. Vaṅgīso jetavanamahāvihārassa avidūraṭṭhāne ṭhito cintesi – ‘‘samaṇo gotamo paṇḍitoti vadanti, na kho pana sabbakālaṃ mayā imesaṃyeva vacanaṃ karontena carituṃ vaṭṭati, paṇḍitānampi santikaṃ gantuṃ vaṭṭatī’’ti. So brāhmaṇe āha – ‘‘tumhe gacchatha, ahaṃ na bahukehi saddhiṃ gantvā samaṇaṃ gotamaṃ passissāmī’’ti. Te āhaṃsu – ‘‘vaṅgīsa, mā te rucci samaṇaṃ gotamaṃ passituṃ. Yo hi naṃ passati, taṃ so māyāya āvaṭṭetī’’ti. Vaṅgīso tesaṃ kathaṃ anādiyitvā satthu santikaṃ gantvā madhurapaṭisanthāraṃ katvā ekamantaṃ nisīdi.
Các Bà-la-môn đã đưa thanh niên Vaṅgīsa du hành khắp nơi tùy theo ý thích, rồi lại đi đến thành Sāvatthī. Khi đang đứng ở một nơi không xa Đại Tịnh xá Jetavana, Vaṅgīsa nghĩ rằng: “Mọi người nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là bậc sáng trí’. Hơn nữa, việc ta chỉ làm theo lời nói của các Bà-la-môn này mỗi khi du hành nên hay không? Ta nên tự mình đi đến trú xứ của các bậc sáng trí.”’ Thế rồi, thanh niên Vaṅgīsa đã nói với những người Bà-la-môn rằng: “Các Ngài hãy đi đi, tôi sẽ không đi diện kiến Sa-môn Gotama cùng với số đông.” – Các Bà-la-môn nói rằng: “Này Vaṅgīsa, cậu chớ nên ưa thích việc gặp gỡ Sa-môn Gotama! Bởi vì, người nào thấy Sa-môn ấy, thì người ấy sẽ bị Sa-môn mê hoặc bằng ‘ma thuật’”. Tuy nhiên, Vaṅgīsa không bận tâm đến những lời nói của các Bà-la-môn ấy, đã đi đến yết kiến bậc Đạo Sư, đã tỏ vẻ thân thiện bằng những lời nói êm dịu, rồi ngồi xuống ở một bên.
Atha naṃ satthā pucchi – ‘‘vaṅgīsa, kiñci sippaṃ jānāsī’’ti. Āma, bho gotama, chavasīsamantaṃ nāmekaṃ jānāmīti. Kiṃ so manto karotīti? Tivassamatthake matānampi taṃ mantaṃ jappitvā sīsaṃ nakhena ākoṭetvā nibbattaṭṭhānaṃ jānāmīti. Satthā tassa ekaṃ niraye uppannassa sīsaṃ dassesi, ekaṃ manussesu uppannassa, ekaṃ devesu, ekaṃ parinibbutassa sīsaṃ dassesi.
Khi ấy, bậc Đạo Sư hỏi cậu ấy rằng: “Này Vaṅgīsa, cậu biết về nghề nghiệp gì?” – Vaṅgīsa bạch rằng: “Bạch Ngài Gotama, con biết chú thuật tên là Chavasīsa (chú thuật về sọ người). – Bậc Đạo Sư hỏi tiếp: “Chú thuật đó để làm gì?” – Vaṅgīsa thưa: “Bạch Ngài, chỉ cần đọc chú thuật đó rồi dùng móng tay gõ vào hộp sọ của người chết, dẫu kẻ đó đã qua đời cách đây 3 năm, con cũng biết rõ người đó đã tái sanh về đâu.” – Bậc Đạo Sư đã phô bày (bốn hộp sọ ở trước mặt của Vaṅgīsa): “một hộp sọ của người tái sanh vào địa ngục, một hộp sọ của người tái sanh làm người, một hộp sọ của người tái sanh lên cõi trời, và cuối cùng là hộp sọ của một vị đã viên tịch Niết Bàn.”
So paṭhamaṃ sīsaṃ ākoṭetvā, ‘‘bho gotama, ayaṃ satto nirayaṃ gato’’ti āha. Sādhu sādhu, vaṅgīsa, sudiṭṭhaṃ tayā, ayaṃ satto kahaṃ gatoti pucchi. Manussalokaṃ, bho gotamāti. Ayaṃ satto kahaṃ gatoti? Devalokaṃ, bho gotamāti tiṇṇampi gataṭṭhānaṃ kathesi.
Vị ấy gõ vào hộp sọ đầu tiên rồi bạch rằng: “Thưa Ngài Gotama, chúng sanh này đã sanh vào địa ngục”. – Bậc Đạo Sư đáp: “Lành thay! Lành thay! Này Vaṅgīsa, cậu đã nhìn thấy rõ ràng”, rồi Ngài hỏi tiếp: “Còn chúng sanh này đã đi đâu, này Vaṅgīsa?” – Cậu liền đáp: “Thưa Ngài Gotama, người này đã đi vào thế giới loài Người”. – Đức Phật lại hỏi tiếp: “Thế chúng sanh này đã đi đâu?” Cậu đáp: “Bạch Ngài Gotama, người này đã sanh vào thế giới chư Thiên”. Cậu đã nói rõ về nơi tái sanh của cả ba người đầu tiên như vậy.
Parinibbutassa pana sīsaṃ nakhena ākoṭento neva antaṃ na koṭiṃ passati. Atha naṃ satthā ‘‘na sakkosi tvaṃ, vaṅgīsā’’ti pucchi. ‘‘Passatha, bho gotama, upaparikkhāmi tāvā’’ti punappunaṃ parivatteti. Bāhirakamantena khīṇāsavassa gatiṃ kathaṃ jānissati, athassa matthakato sedo mucci. So lajjitvā tuṇhībhūto aṭṭhāsi. Atha naṃ satthā ‘‘kilamasi, vaṅgīsā’’ti āha. Āma, bho gotama, imassa sattassa gataṭṭhānaṃ jānituṃ na sakkomi. Sace tumhe jānātha, kathethāti. ‘‘Vaṅgīsa, ahaṃ etampi jānāmi ito uttaritarampī’’ti vatvā dhammapade imā dve gāthā abhāsi –
Tuy nhiên, khi dùng móng tay gõ vào hộp sọ của vị đã viên tịch Niết Bàn, cậu không nhìn thấy cả điểm đầu và cả điểm cuối. Khi đó, bậc Đạo Sư đã hỏi Vaṅgīsa rằng: “Này Vaṅgīsa, cậu không thể nhìn thấy sao?” Thanh niên Vaṅgīsa đáp: “Thưa Ngài Gotama, con sẽ nhìn ra được thôi! Xin hãy để con kiểm tra lại một chút” rồi xoay tới xoay lui hộp sọ”. – Làm sao Vaṅgīsa có thể biết được cảnh giới tái sanh của bậc Lậu Tận bằng chú thuật của ngoại đạo? Trong tình cảnh ấy, mồ hôi bắt đầu tuôn ra đầy trán. Cậu cảm thấy rất xấu hổ rồi đứng im lặng. – Khi đó, bậc Đạo Sư mới hỏi cậu: “Này Vaṅgīsa, cậu đang gặp khó khăn phải không?” – Vaṅgīsa thưa: “Bạch Ngài Gotama, quả thật con không thể biết được vị trí đã đi của chúng sanh này. Nếu như Ngài biết, xin Ngài hãy chỉ cho con với.” Bậc Đạo Sư đã nói rằng: “Này Vaṅgīsa, Như Lai biết rõ về chiếc hộp sọ này, và còn biết rõ những điều vượt trợi hơn thế nữa”. Sau đó, Ngài đã nói lên hai bài kệ trong Kinh Pháp Cú như sau—
‘‘Cutiṃ yo vedi sattānaṃ, upapattiṃ ca sabbaso;
Asattaṃ sugataṃ buddhaṃ, tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.
‘‘Yassa gatiṃ na jānanti, devā gandhabbamānusā;
Khīṇāsavaṃ arahantaṃ, tamahaṃ brūmi brāhmaṇa’’nti. (dha. pa. 419-420);
“Người nào đã hiểu biết sự chết và sự tái sanh của chúng sanh về mọi phương diện, không bám víu, đã đi đến nơi an lạc, đã được giác ngộ, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.
Cảnh giới tái sanh của người nào mà chư Thiên, Càn-thát-bà, và loài người không biết được, người có lậu hoặc đã được cạn kiệt, là bậc A-la-hán, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn. (dha. pa. 419-420);
Tato vaṅgīso āha – ‘‘bho gotama, vijjāya vijjaṃ dentassa nāma parihāni natthi, ahaṃ attanā jānanakaṃ mantaṃ tumhākaṃ dassāmi, tumhe etaṃ mantaṃ mayhaṃ dethā’’ti. Vaṅgīsa, na mayaṃ mantena mantaṃ dema, evameva demāti. ‘‘Sādhu, bho gotama, detha me manta’’nti apacitiṃ dassetvā hatthakacchapakaṃ katvā nisīdi. Kiṃ, vaṅgīsa, tumhākaṃ samaye mahagghamantaṃ vā kiñci vā gaṇhantānaṃ parivāso nāma na hotīti? Hoti, bho gotamāti. Amhākaṃ pana manto nipparivāsoti saññaṃ karosīti? Brāhmaṇā nāma mantehi atittā honti, tasmā so bhagavantaṃ āha – ‘‘bho gotama, tumhehi kathitaniyāmaṃ karissāmī’’ti. Bhagavā āha – ‘‘vaṅgīsa, mayaṃ imaṃ mantaṃ dentā amhehi samānaliṅgassa demā’’ti. Vaṅgīso ‘‘yaṃkiñci katvā mayā imaṃ mantaṃ gaṇhitvā gantuṃ vaṭṭatī’’ti brāhmaṇe āha. Tumhe mayi pabbajante mā cintayittha, ahaṃ imaṃ mantaṃ gaṇhitvā sakalajambudīpe jeṭṭhako bhavissāmi. Evaṃ sante tumhākampi bhaddakaṃ bhavissatī’’ti mantatthāya satthu santike pabbaji. Satthā ‘‘mantaparivāsaṃ tāva vasāhī’’ti dvattiṃsākāraṃ ācikkhi. Paññavā satto dvattiṃsākāraṃ sajjhāyantova tattha khayavayaṃ paṭṭhapetvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ pāpuṇi.
Sau đó, Vaṅgīsa đã nói rằng: “Thưa Ngài Gotama, người trao đổi kiến thức đổi lấy kiến thức là không có sự suy giảm. Con sẽ dâng tặng chú thuật mà con biết đến Ngài, xin Ngài hãy từ bi chỉ dạy ‘chú thuật’ ấy cho con.” Bậc Đạo Sư nói rằng: “Này Vaṅgīsa, Như Lai sẽ không trao đổi chú thuật với chú thuật. Như Lai chỉ ban cho mà thôi.” Vaṅgīsa đáp: “Lành thay, thưa Ngài Gotama, xin hãy từ bi ban cho con”, rồi bày tỏ lòng cung kính, ngồi xuống, chắp tay thành kính. – Bậc Đạo Sư hỏi tiếp: “Này Vaṅgīsa, vào thời điểm cậu học chú thuật có giá trị lớn hoặc bất kỳ chú thuật nào đó, chẳng lẽ không sống trong sự rèn luyện (giai đoạn cấm túc dành cho một tu sĩ ngoại giáo muốn thọ đại giới) sao?” – Vaṅgīsa: Không có, thưa Ngài Gotama. – Bậc Đạo Sư: “Vậy cậu tưởng rằng ‘chú thuật’ của Như Lai không cần sống trong sự rèn luyện hay sao?” Thông thường các vị Bà-la-môn là những người không bao giờ thấy thỏa mãn với các loại chú thuật (luôn khao khát học thêm cái mới), nên Vaṅgīsa đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Bạch Ngài Gotama, vậy con cũng sẽ thực hiện theo những quy định mà Ngài đề ra.” Đức Đạo Sư nói rằng: “Này Vaṅgīsa, khi Như Lai ban ‘chú thuật’ này, Như Lai chỉ ban cho những người có hình tướng giống với Như Lai mà thôi.’” – Thanh niên Vaṅgīsa đã nói với các Bà-la-môn rằng: “Tôi cần phải thực hiện bất cứ phận sự nào để được học chú thuật này rồi đi.” Vaṅgīsa nói (với các Bà-la-môn) rằng: “Các Ngài chớ suy nghĩ khi thấy tôi xuất gia. Đợi tôi học xong chú thuật này, tôi sẽ trở thành người vĩ đại nhất trên khắp cõi Jambudīpa. Khi sự việc diễn ra như vậy, cả các ông cũng sẽ được hưng thịnh theo”. (Với ý nghĩ như thế) Vaṅgīsa đã xin xuất gia trong sự chứng minh của bậc Đạo Sư để học chú thuật. Bậc Đạo Sư nói rằng: “Cậu hãy sống trong rèn luyện để học tập chú thuật trước,” rồi chỉ dạy về 32 thể trược (các bộ phận trong cơ thể). Vốn là chúng sanh có trí tuệ nhạy bén, trong khi đọc tụng 32 thể trược này, sau khi thiết lập sự sanh khởi và sự hoại diệt trong 32 thể trược ấy, đã phát triển Minh sát, và đã chứng đắc quả vị A-ra-hán.
Tasmiṃ arahattaṃ patte brāhmaṇā ‘‘kā nu kho vaṅgīsassa pavatti, passissāma na’’nti tassa santikaṃ gantvā ‘‘kiṃ, bho vaṅgīsa, samaṇassa gotamassa santike sippaṃ sikkhita’’nti pucchiṃsu. Āma, sikkhitanti. Tena hi ehi gamissāmāti. Gacchatha tumhe, tumhehi saddhiṃ gantabbakiccaṃ mayhaṃ niṭṭhitanti. Paṭhamameva amhehi tuyhaṃ kathitaṃ ‘‘samaṇo gotamo attānaṃ passituṃ āgate māyāya āvaṭṭetī’’ti. Tvaṃ hi idāni samaṇassa gotamassa vasaṃ āpanno, kiṃ mayaṃ tava santike karissāmāti āgatamaggeneva pakkamiṃsu. Vaṅgīsattheropi yaṃ yaṃ velaṃ dasabalaṃ passituṃ gacchati, ekaṃ thutiṃ karontova gacchati. Tena taṃ satthā saṅghamajjhe nisinno paṭibhānavantānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.
Khi Ngài chứng đắc quả vị A-ra-hán, các Bà-la-môn trong trú xứ của Ngài với suy nghĩ: “Không biết tình hình Vangīsa thế nào? Ta sẽ đi thăm cậu ấy để hỏi rằng: ‘Này Vaṅgīsa, cậu đã học xong môn nghệ thuật (chú thuật) ở trú xứ của Sa-môn Gotama chưa?’” – Trưởng lão Vaṅgīsa đáp: “Vâng, tôi đã học xong rồi.” – Bà-la-môn: “Vậy hãy đi, chúng ta sẽ cùng lên đường” – Trưởng lão Vaṅgīsa: “Các ông hãy cứ đi đi. Việc nên đi cùng với các ông, tôi đã làm hoàn tất rồi.” – Các Bà-la-môn nói rằng: “Chúng tôi đã cảnh báo cậu ngay từ đầu rồi, rằng– ‘Sa-môn Gotama sẽ mê hoặc người đến tìm gặp mình bằng quỷ thuật.’” Giờ đây chính cậu đã rơi vào sự kiểm soát của Sa-môn Gotama! Chúng tôi sẽ làm được gì ở chỗ của cậu nữa?” Nói xong, mỗi người đều lần lượt rời đi theo chính con đường mà họ đã đến.” Về phần Trưởng lão Vaṅgīsa, vào bất cứ thời điểm nào đi đến diện kiến đấng Thập Lực, Ngài đều thực hiện bằng một lời tán dương ca tụng vào thời điểm đó rồi mới đi. Chính vì lý do ấy, bậc Đạo Sư trong khi ngồi giữa Tăng Chúng đã thiết lập Ngài vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có tài biện giải.
Câu chuyện về Trưởng lão Upasenavaṅgantaputta
- Pañcame samantapāsādikānanti sabbapāsādikānaṃ. Upasenoti tassa therassa nāmaṃ. Vaṅgantabrāhmaṇassa pana so putto, tasmā vaṅgantaputtoti vuccati. Ayaṃ pana thero na kevalaṃ attanāva pāsādiko, parisāpissa pāsādikā, iti parisaṃ nissāya laddhanāmavasena samantapāsādikānaṃ aggo nāma jāto.
Trong bài Kinh thứ năm, vị khơi dậy niềm tịnh tín toàn diện: Vị mang lại niềm tịnh tín cho tất cả mọi người. Upasena: là tên của vị Trưởng lão ấy. Hơn nữa, vị ấy là con trai của Bà-la-môn Vaṅganta, vì thế Ngài được gọi là Vaṅgantaputta. Ngoài ra, vị này không những mang lại niềm tịnh tín cho chính bản thân, mà Ngài còn vị mang đến niềm tịnh tín cho cả tập thể của Ngài. Vì thế Ngài mới được gọi là tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu khơi dậy niềm tịnh tín toàn diện, nhờ sức mạnh của danh xưng đạt được do nương vào nơi tập thể.”
Pañhakamme panassa ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe nibbatto vayaṃ āgamma purimanayeneva satthu santikaṃ gantvā dhammaṃ suṇamāno satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ samantapāsādikānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā satthu adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthetvā yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto imasmiṃ buddhuppāde nālakabrāhmaṇagāme sāribrāhmaṇiyā kucchismiṃ paṭisandhiṃ gaṇhi, upasenadārakotissa nāmaṃ akaṃsu.
Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Kể rằng: Vào thời Đức Phật Padumuttara, vị Trưởng lão này tái sanh vào gia tộc ở tại kinh thành Haṃsavatī; Khi đến tuổi trưởng thành, vị ấy đi đến trú xứ của bậc Đạo Sư lắng nghe Giáo Pháp theo phương thức trước đó. Khi chứng kiến Đức Phật thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu khơi dậy niềm tịnh tín trọn vẹn, (vị ấy) đã thực hiện các hành động hướng thượng đến bậc Đạo Sư, rồi phát nguyện vị thế đó và đã tạo các thiện nghiệp cho đến hết cuộc đời. Trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, vào thời đức Phật xuất hiện này, vị ấy đã giáng sanh vào bụng của nữ Bà-la-môn mẫu Sārī, và thân quyến đã đặt tên cho vị ấy là công tử Upasena.
So vayappatto tayo vede uggaṇhitvā dasabalassa santike dhammaṃ sutvā paṭiladdhasaddho pabbaji. So upasampadāya ekavassiko hutvā ‘‘ariyagabbhaṃ vaḍḍhemī’’ti ekaṃ kulaputtaṃ attano santike pabbājetvā upasampādesi. So pavāretvā saddhivihārikassa ekavassikakāle attanā duvasso ‘‘dasabalo maṃ passitvā tusissatī’’ti saddhivihārikaṃ ādāya dasabalaṃ passituṃ āgato. Satthā taṃ vanditvā ekamante nisinnaṃ pucchi – ‘‘kativassosi tvaṃ bhikkhū’’ti? Duvasso ahaṃ bhagavāti. Ayaṃ pana bhikkhu kativassoti? Ekavasso bhagavāti. Kintāyaṃ bhikkhu hotīti? Saddhivihāriko me bhagavāti. Atha naṃ satthā ‘‘atilahuṃ kho tvaṃ, moghapurisa, bāhullāya āvatto’’ti vatvā anekapariyāyena vigarahi. Thero satthu santikā garahaṃ labhitvā bhagavantaṃ vanditvā ‘‘imināva puṇṇacandasassirikena mukhena satthāraṃ parisameva nissāya sādhukāraṃ dāpessāmī’’ti taṃdivaseyeva ekaṃ ṭhānaṃ gantvā vipassanāya kammaṃ katvā nacirasseva arahattaṃ pāpuṇi.
Vị ấy, khi đến tuổi trưởng thành đã học hiểu ba kiến thức Vệ-đà, sau khi nghe Pháp trong trú xứ của đấng Thập Lực, có đức tin được thành tựu rồi xuất gia. Vị ấy tu lên bậc trên có được một Hạ-lạp, nghĩ rằng: “Ta sẽ mở rộng lãnh địa của các bậc Thánh,” mới cho một thiện nam tử xuất gia và tu lên bậc trên trong sự chứng minh của mình. Khi đã trải qua mùa (an cư) mưa và đã hành lễ Pavāraṇā (lễ Tự Tứ), vào lúc vị đệ tử đồng trú mới được một hạ và bản thân mình mới được hai hạ, Ngài nghĩ rằng: “Đấng Thập Lực khi thấy ta sẽ hài lòng,” Thế rồi, vị ấy dẫn theo người đệ tử đồng trú đến diện kiến đấng Thập Lực. Sau khi đảnh lễ và ngồi xuống một bên, bậc Đạo Sư đã hỏi vị ấy rằng: – “Này Tỳ-khưu, ông được bao nhiêu hạ rồi?” – “Bạch Đức Thế Tôn, con được hai hạ ạ.” – Còn vị Tỳ-khưu này được bao nhiêu hạ? – Bạch Đức Thế Tôn, con được một hạ ạ. – Vị Tỳ-khưu này là gì của ông? – Bạch Đức Thế Tôn, vị này là đệ tử đồng trú. Khi ấy, Bậc Đạo Sư nói rằng: “Này kẻ rồ dại, ngươi trở thành đa đoan quá nhanh chóng (tức là việc kết nạp đồ chúng),” rồi đã khiển trách vị ấy bằng nhiều phương thức. Sau khi nhận sự khiển trách từ trú xứ của bậc Đạo Sư, Trưởng lão đã đảnh lễ Đức Thế Tôn với gương mặt rạng rỡ và thanh tịnh tựa như vầng trăng vào ngày rằm, nghĩ rằng: “Ta sẽ làm cho bậc Đạo Sư ban lời khen ngợi, chính nhờ vào tập thể đệ tử của mình.” Ngay trong ngày hôm đó, vị ấy đã đi đến một nơi thực hành Minh sát nghiệp xứ, và chẳng bao lâu thì vị ấy đã đạt đến phẩm vị A-ra-hán.
Tato yasmā thero mahākulato nikkhamitvā pabbajito pathavighuṭṭhadhammakathikova, tasmā tassa dhammakathāya ceva pasīditvā mittāmaccañātikulehi ca nikkhamitvā bahū kuladārakā therassa santike pabbajanti. ‘‘Ahaṃ āraññako, tumhepi āraññakā bhavituṃ sakkontā pabbajathā’’ti terasa dhutaṅgāni ācikkhitvā ‘‘sakkhissāma, bhante’’ti vadante pabbājeti. Te attano balena taṃ taṃ dhutaṅgaṃ adhiṭṭhahanti. Thero attano dasavassakāle vinayaṃ paguṇaṃ katvā sabbeva upasampādesi. Evaṃ upasampannā cassa pañcasatamattā bhikkhū parivārā ahesuṃ.
Khi đó, bởi vì vị Trưởng lão đã xuất gia từ một gia tộc lớn, và là vị Pháp sư rất thiện xảo trong việc giảng dạy, vì thế có rất nhiều thanh thiếu niên từ các gia đình đã tịnh tín từ bài giảng Pháp của Ngài, đã rời khỏi (nhà) từ các gia đình bạn bè, các quan đại thần và các quyến thuộc cùng nhau đi đến xuất gia trong sự chứng minh của Trưởng lão. Ngài nói rằng: “Ta là vị sống ở rừng, nếu các ông cũng có thể trở thành những người sống ở rừng giống như ta thì hãy xuất gia,” chỉ bảo về 13 pháp đầu đà. Cho họ phát nguyện (thọ trì) pháp đầu đà ấy tùy theo sức mạnh của mỗi người. Khi bản thân Trưởng lão đủ mười Hạ-lạp, đã hiểu biết rành rẽ về Luật (Vinaya) rồi cho tất cả các vị Sa-di tu lên bậc trên. Như vậy, có khoảng năm trăm vị Tỳ-khưu dã được tu lên bậc trên và trở thành tùy tùng của Ngài.
Tasmiṃ samaye satthā jetavanamahāvihāre vasanto ‘‘icchāmahaṃ, bhikkhave, addhamāsaṃ paṭisallīyitu’’nti bhikkhusaṅghassa ārocetvā ekavihārī hoti. Bhikkhusaṅghopi ‘‘yo bhagavantaṃ dassanāya upasaṅkamati, so pācittiyaṃ desāpetabbo’’ti katikaṃ akāsi. Tadā upasenatthero ‘‘bhagavantaṃ passissāmī’’ti attano parisāya saddhiṃ jetavanaṃ gantvā satthāraṃ upasaṅkamitvā abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Satthā kathāsamuṭṭhāpanatthaṃ aññataraṃ therassa saddhivihārikaṃ āmantesi – ‘‘manāpāni te bhikkhu paṃsukūlānī’’ti. ‘‘Na kho me, bhante, manāpāni paṃsukūlānī’’ti vatvā upajjhāye gāravena paṃsukūlikabhāvaṃ ārocesi. Imasmiṃ ṭhāne satthā ‘‘sādhu sādhu, upasenā’’ti therassa sādhukāraṃ datvā anekapariyāyena guṇakathaṃ kathesi. Ayamettha saṅkhepo, vitthārato pana idaṃ vatthu pāḷiyaṃ (pārā. 565) āgatameva. Atha satthā aparabhāge ariyagaṇamajjhe nisinno imasmiṃ sāsane theraṃ samantapāsādikānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.
Vào lúc bấy giờ, bậc Đạo Sư đang cư ngụ trong Đại Tịnh xá Jetavana, rồi nói với Hội chúng Tỳ-khưu rằng: “Này các Tỳ-khưu, Như Lai mong muốn sống độc cư thiền định trong nửa tháng,” và an trú một mình. Hội chúng Tỳ-khưu cũng đã thực hiện sự thỏa thuận với nhau rằng: “Vị nào đến yết kiến Đức Thế Tôn, nên khuyên vị ấy trình báo tội Pācittiya.” Lúc đó, Trưởng lão Upasena nghĩ rằng: “Ta sẽ yết kiến đức Thế Tôn” mới cùng với tập thể của mình đi đến Tịnh xá Jetavana, đi đến gặp bậc Đạo Sư, sau khi đảnh lễ đã ngồi xuống một nơi thích hợp. Để bắt đầu cuộc đàm thoại, bậc Đạo Sư đã bảo một vị Tỳ-khưu đệ tử đồng trú của Trưởng lão và hỏi rằng: “Này Tỳ-khưu, ông có ưa thích chiếc y phấn tảo (y được làm từ vải bị quăng bỏ) chăng?” – Vị đệ tử ấy bạch rằng: “Bạch Ngài, con không hề ưa thích chiếc y phấn tảo này”, rồi thưa với bậc Đạo Sư về việc chúng con đắp y phấn tảo bởi vì lòng tôn kính vị thầy tế độ (Trưởng lão Upasena).” Trong trường hợp này, bậc Đạo Sư đã ban lời khen ngợi đến vị Trưởng lão rằng: “Lành thay! Lành thay! Này Upasena”, rồi nói lên bài kệ ca ngợi về ưu điểm của Trưởng lão bằng nhiều phương thức. Đây chỉ là phần tóm tắt của câu chuyện này, còn phần chi tiết đã được đề cập trong Chánh văn Pāḷī. (pārā. 565); Về sau, trong khi đang ngồi giữa Hội chúng Thánh Tăng bậc Đạo Sư đã thiết lập Trưởng lão Upasena Vaṅgantaputta vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu mang lại niềm tịnh tín toàn diện trong Giáo Pháp này.
Câu chuyện về Trưởng lão Dabba
- Chaṭṭhe senāsanapaññāpakānanti senāsanaṃ paññāpentānaṃ. Therassa kira senāsanapaññāpanakāle aṭṭhārasasu mahāvihāresu asammaṭṭhaṃ pariveṇaṃ vā apaṭijaggitaṃ senāsanaṃ vā asodhitaṃ mañcapīṭhaṃ vā anupaṭṭhitaṃ pānīyaparibhojanīyaṃ vā nāhosi. Tasmā senāsanapaññāpakānaṃ aggo nāma jāto. Dabbotissa nāmaṃ. Mallarājakule pana uppannattā mallaputto nāma jāto.
Trong bài Kinh thứ sáu, vị phân bố chỗ trú ngụ (chỗ ngồi, chỗ nằm): Vị Tỳ-khưu có nhiệm vụ sắp xếp chỗ ngồi và chỗ nằm. Được biết rằng: Mỗi khi Trưởng lão này phân bố chỗ trú ngụ trong tất cả mười tám Đại Tịnh xá[2], không một khuôn viên nào mà không được Ngài quét dọn ngăn nắp, không một chỗ nằm và chỗ ngồi nào mà không được Ngài sửa sang; không có giường và ghế nào mà không được lau chùi sạch sẽ, nước uống và nước sinh hoạt luôn được đặt sẵn. Chính vì lý do đó, Ngài đã được gọi là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu phân bố chỗ trú ngụ. Dabba: là tên của Ngài. Nhưng vì Ngài sanh ra trong gia tộc vua chúa dòng Malla, nên Ngài được gọi là Mallaputta.
Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayañhi padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe nibbattitvā vayappatto vuttanayeneva vihāraṃ gantvā dhammaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ senāsanapaññāpakānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthetvā satthārā byākato yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaritvā kassapadasabalassa sāsanassa osakkanakāle pabbaji, tadā tena saddhiṃ apare cha janāti satta bhikkhū ekacittā hutvā aññe sāsane agāravaṃ karonte disvā ‘‘idha kiṃ karoma, ekamante samaṇadhammaṃ katvā dukkhassantaṃ karissāmā’’ti nisseṇiṃ bandhitvā uccapabbatasikharaṃ abhiruhitvā ‘‘attano cittabalaṃ jānantā nisseṇiṃ pātentu, jīvite sālayā otarantu, mā pacchānutāpino ahuvatthā’’ti vatvā sabbe ekacittā hutvā nisseṇiṃ pātetvā ‘‘appamattā hotha, āvuso’’ti aññamaññaṃ ovaditvā cittaruciyesu ṭhānesu nisīditvā samaṇadhammaṃ kātuṃ ārabhiṃsu.
Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Vào thời Đức Phật Padumuttara, vị Trưởng lão này tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī, khi đến tuổi trưởng thành vị ấy đã đi đến Tịnh xá để nghe Pháp theo cách thức đã được đề cập trước đó. Tại đây, khi nhìn thấy bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu phân bố chỗ trú ngụ. Sau khi thực hiện các hành động hướng thượng, (vị ấy) đã phát nguyện vị thế đó, và đã được bậc Đạo Sư thọ ký. Sau khi thực hiện các thiện nghiệp cho đến hết cuộc đời, (vị ấy) đã luân hồi giữa các cõi trời và cõi người, vào thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật Kassapa bắt đầu suy tàn vị ấy đã xuất gia. Vào lúc đó, thêm sáu người khác nữa cùng với vị ấy, tổng cộng là bảy vị Tỳ-khưu có cùng chí hướng, nhận thấy những người khác không còn thực hiện lòng tôn kính đối với bậc Đạo Sư, mới cùng nhau bàn bạc: “Trong tình cảnh này, chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta thực hành Sa-môn Pháp ở một nơi thích hợp, rồi sẽ làm chấm dứt khổ đau,” nên đã buộc một chiếc thang để leo lên đỉnh của một ngọn núi cao, nói rằng: “Ai biết rõ sức mạnh tâm của bản thân thì hãy cho chiếc thang rơi xuống, ai vẫn còn có sự quyến luyến thì hãy rút lui. Với sự đồng lòng, họ đã đẩy chiếc thang rơi xuống.” Sau khi khuyên bảo nhau: “Này các Hiền giả, hãy là người không xao lãng”, đã ngồi xuống chỗ ngồi thích hợp rồi bắt đầu thực hành Sa-môn hạnh.
Tatreko thero pañcame divase arahattaṃ patvā ‘‘mama kiccaṃ nipphannaṃ, ahaṃ imasmiṃ ṭhāne kiṃ karissāmī’’ti iddhiyā uttarakuruto piṇḍapātaṃ āharitvā, ‘‘āvuso, imaṃ piṇḍapātaṃ paribhuñjatha, bhikkhācārakiccaṃ mamāyattaṃ hotu, tumhe attano kammaṃ karothā’’ti āha. Kiṃ nu kho mayaṃ, āvuso, nisseṇiṃ pātentā evaṃ avocumhā ‘‘yo paṭhamaṃ dhammaṃ sacchikaroti, so bhikkhaṃ āharatu, tena ābhataṃ sesā paribhuñjitvā samaṇadhammaṃ karissantī’’ti. Natthi, āvusoti. Tumhe attano pubbahetunā labhittha, mayampi sakkontā vaṭṭassantaṃ karissāma, gacchatha tumheti. Thero te saññāpetuṃ asakkonto phāsukaṭṭhāne piṇḍapātaṃ paribhuñjitvā gato. Aparo thero sattame divase anāgāmiphalaṃ patvā tato cuto suddhāvāsabrahmaloke nibbatto.
Trong số bảy vị Tỳ-khưu ấy, một vị Trưởng lão đạt được quả vị A-ra-hán vào ngày thứ năm, Ngài nghĩ rằng: “Phận sự của ta đã hoàn tất, ta sẽ làm gì ở nơi đây?” nên đã đem lại đồ ăn khất thực từ Uttarakuru (Bắc Câu-lưu châu) bằng thần thông, rồi nói rằng: “Này các Hiền giả, các Ngài hãy thọ dụng đồ ăn khất thực này. Phận sự khất thực hãy để tôi lo liệu, còn các vị hãy chuyên tâm thực hành Sa-môn hạnh.” – Các vị ấy hỏi rằng: “Này Hiền giả, lúc chúng ta đẩy chiếc thang rơi xuống đã nói với nhau như thế phải chăng (rằng)– ‘Vị nào chứng ngộ Pháp trước, vị ấy hãy mang vật thực đến; những người còn lại thọ dụng vật thực được vị Tỳ-khưu ấy mang đến rồi thực hành Sa-môn Pháp’” – Trưởng lão: “Không có, này Hiền giả.” – Các vị ấy hỏi rằng: “Ngài đã đạt được (quả vị A-ra-hán) do nhân quá khứ của chính mình, luôn cả chúng tôi khi có khả năng cũng sẽ làm chấm dứt vòng luân hồi, mời Ngài hãy đi!” – Trưởng lão khi không thể thuyết phục các vị Tỳ-khưu ấy đã thọ dụng đồ ăn khất thực ở một địa điểm thích hợp, rồi đi. Đến ngày thứ bảy, một vị Tỳ-khưu khác trong nhóm đã đạt được quả vị Bất Lai, mệnh chung tại nơi đó rồi tái sinh về cõi Tịnh Cư Thiên.
Itarepi therā tato cutā ekaṃ buddhantaraṃ devamanussesu saṃsaritvā imasmiṃ buddhuppāde tesu tesu kulesu nibbattā. Eko gandhāraraṭṭhe takkasilanagare rājagehe nibbatto, eko pabbateyyaraṭṭhe paribbājikāya kucchimhi nibbatto, eko bāhiyaraṭṭhe kuṭumbikagehe nibbatto, eko rājagahe kuṭumbikagehe nibbatto. Ayaṃ pana dabbatthero mallaraṭṭhe anupiyanagare ekassa mallarañño gehe paṭisandhiṃ gaṇhi. Tassa mātā upavijaññakāle kālamakāsi, matasarīraṃ susānaṃ netvā dārucitakaṃ āropetvā aggiṃ adaṃsu. Tassā aggivegasantattaṃ udarapaṭalaṃ dvedhā ahosi. Dārako attano puññabalena uppatitvā ekasmiṃ dabbatthambhe nipati. Taṃ dārakaṃ gahetvā ayyikāya adaṃsu. Sā tassa nāmaṃ gaṇhantī dabbatthambhe nipatitvā laddhajīvitattā dabbotissa nāmaṃ akāsi.
Về phần các vị Tỳ-khưu còn lại mệnh chung ở tại đó, đã luân hồi trong các cõi Trời và cõi Người trải qua một khoảng thời gian giữa hai vị Phật, rồi sanh ra trong các gia đình ấy như sau – một vị được sanh ra trong Hoàng cung tại kinh thành Takkasilā, xứ sở Gandhara. Một vị được sanh vào bụng một nữ du sĩ ngoại đạo tại xứ sở Pabbateyya. Một vị được sanh ra trong một gia đình trưởng giả tại xứ sở Bāhiya. Một vị được sanh ra trong một gia đình trưởng giả tại kinh thành Rājagaha. Còn Trưởng lão Dabba Mallaputta này, Ngài đã sanh vào phủ đệ của một vị vua Malla tại kinh thành Anupiya, vương quốc Malla. Khi sắp đến ngày lâm bồn, mẫu thân của Ngài đột ngột qua đời. Thân quyến đã đưa thi thể người quá cố ra nghĩa trang, đặt lên giàn hỏa thiêu và châm lửa (hỏa táng). Khi ngọn lửa vừa mới dịu đi phần bụng của thi thể ấy bị sức nóng làm tách ra hai phần, hài nhi từ trong bụng mẹ đã bật lên và rớt xuống một cây cột gỗ do nhờ năng lực phước báo của mình. Mọi người đã bế đứa bé ấy đem giao cho bà ngoại. Khi đặt tên cho đứa trẻ ấy, bà đã đặt tên là Dabba do đã rớt xuống cột gỗ mà giữ được mạng sống.
Tassa sattavassikakāle satthā bhikkhusaṅghaparivāro mallaraṭṭhe cārikaṃ caramāno anupiyanigamaṃ patvā anupiyambavane viharati. Dabbakumāro satthāraṃ disvā dassaneneva pasīditvā pabbajitukāmo hutvā ‘‘ahaṃ dasabalassa santike pabbajissāmī’’ti ayyikaṃ āpucchi. Sā ‘‘sādhu, tātā’’ti dabbakumāraṃ ādāya satthu santikaṃ gantvā, ‘‘bhante, imaṃ kumāraṃ pabbājethā’’ti āha. Satthā aññatarassa bhikkhuno saññaṃ adāsi ‘‘bhikkhu imaṃ dārakaṃ pabbājehī’’ti. So thero satthu vacanaṃ sutvā dabbakumāraṃ pabbājento tacapañcakaṃ kammaṭṭhānaṃ ācikkhi. Pubbahetusampanno katābhinīhāro satto paṭhamakesavaṭṭiyā oropiyamānāya sotāpattiphale patiṭṭhāsi, dutiyakesavaṭṭiyā oropiyamānāya sakadāgāmiphale, tatiyāya anāgāmiphale. Sabbakesānaṃ pana oropanañca arahattaphalasacchikiriyā ca apacchā apure ahosi.
Khi ngài lên bảy tuổi, bậc Đạo Sư có Hội chúng Tỳ-khưu tháp tùng trong khi du hành đến xứ sở Malla, đã qua thị trấn Anupiya, rồi cư ngụ tại rừng xoài Anupiya. Cậu bé Dabba vừa nhìn thấy bậc Đạo Sư, liền khởi lên lòng tịnh tín mãnh liệt đối với Phật giáo và có ý muốn xuất gia, cậu đã xin phép với bà ngoại rằng: “Thưa bà, cháu sẽ xuất gia trong sự chứng minh của đấng Thập Lực”. Bà đáp: “Lành thay, cháu yêu của bà”, rồi bà dẫn cậu đến diện kiến bậc Đạo Sư và bạch rằng: “Bạch Ngài, xin Ngài hãy cho đứa trẻ này được xuất gia”. Bậc Đạo Sư đã trao nhiệm vụ cho một vị Tỳ-khưu rằng: “Này Tỳ-khưu, ông hãy cho đứa trẻ này xuất gia”. Vị Trưởng lão ấy sau khi tiếp nhận lời nói của bậc Đạo Sư, trong khi cho cậu bé Dabba xuất gia Ngài đã nói đến đề mục thiền định với năm yếu tố cấu thành cơ thể kết thúc bởi da. Chúng sanh đã viên mãn do nhân quá khứ, đã làm tròn đủ các ba-la-mật, trong khoảnh khắc mớ tóc thứ nhất được cạo xuống vị ấy đã an trú vào quả vị Nhập Lưu; khi mớ tóc thứ hai được cạo xuống vị ấy đã an trú vào quả vị Nhất Lai; đến mớ tóc thứ ba vị ấy đã an trú vào quả vị Bất Lai. Hơn nữa, khi việc cạo tóc hoàn tất và sự thực chứng quả vị A-ra-hán đã xảy ra không trước không sau.
Satthā mallaraṭṭhe yathābhirantaṃ viharitvā rājagahaṃ gantvā veḷuvane vāsaṃ kappesi. Tatrāyasmā dabbo mallaputto rahogato attano kiccanipphattiṃ oloketvā saṅghassa veyyāvaccakaraṇe kāyaṃ yojetukāmo cintesi – ‘‘yaṃnūnāhaṃ saṅghassa senāsanañca paññāpeyyaṃ, bhattāni ca uddiseyya’’nti. So satthu santikaṃ gantvā attano parivitakkaṃ ārocesi. Satthā tassa sādhukāraṃ datvā senāsanapaññāpakattañca bhattuddesakattañca sampaṭicchi. Atha naṃ ‘‘ayaṃ dabbo daharova samāno mahantaṭṭhāne ṭhito’’ti sattavassikakāleyeva upasampādesi. Thero upasampannakālatoyeva paṭṭhāya rājagahaṃ upanissāya viharantānaṃ sabbabhikkhūnaṃ senāsanāni ca paññāpeti, bhikkhañca sampaṭicchitvā uddisati. Tassa senāsanapaññāpakabhāvo sabbadisāsu pākaṭo ahosi – ‘‘dabbo kira mallaputto sabhāgasabhāgānaṃ bhikkhūnaṃ ekaṭṭhāne senāsanāni paññāpeti, dūrepi senāsanaṃ paññāpetiyeva. Gantuṃ asakkonte iddhiyā netīti.
Bậc Đạo Sư sau khi sống ở xứ sở Malla theo như ý thích, đã trở về thành Rājagaha rồi trú ngụ ở Tịnh xá Veḷuvana. Tại đó, Trưởng lão Dabba Mallaputta ở nơi thanh vắng đã quán xét đến sự thành tựu phận sự của bản thân, có ý muốn đem thân mình tham gia phục vụ Tăng Chúng, nghĩ rằng: “Hay là ta nên phân bố chỗ trú ngụ (chỗ nằm, chỗ ngồi) và sắp xếp các bữa ăn dâng cúng đến chư Tăng”. Sau đó, Ngài đến diện kiến Đức Đạo Sư nói lên ý nghĩ suy tầm của bản thân. Bậc Đạo Sư đã ban lời tán thán và giao phó nhiệm vụ phân bố chỗ trú ngụ và sắp xếp các bữa ăn cúng dường cho Trưởng lão.” Khi ấy, bậc Đạo Sư suy xét rằng: “Vị này dù còn nhỏ tuổi nhưng lại giữ vị trí to lớn”, (vì vậy) đã cho Ngài tu lên bậc trên (trở thành Tỳ-khưu) khi Ngài chỉ mới có 7 tuổi. Kể từ thời điểm tu lên bậc trên, Trưởng lão đã phân bố chỗ trú ngụ và sắp xếp các bữa ăn cúng dường cho tất cả các vị Tỳ-khưu sống nương tựa ở thành Rājagaha. Danh tiếng về việc phân bố chỗ trú ngụ của Ngài đã trở nên nổi tiếng khắp mọi phương rằng— “Nghe rằng, Trưởng lão Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các vị Tỳ-khưu có cùng sở hành, phân bố chỗ trú ngụ ngay cả ở nơi xa xôi, nếu các vị Tỳ-khưu không đủ sức tự đi đến được. (Các vị Tỳ-khưu) không thể đi, thì Ngài (sẽ) đưa đi bằng thần thông.”
Atha naṃ bhikkhū kālepi vikālepi ‘‘amhākaṃ, āvuso, jīvakambavane senāsanaṃ paññāpehi, amhākaṃ maddakucchismiṃ migadāye’’ti evaṃ senāsanaṃ uddisāpetvā tassa iddhiṃ passantā gacchanti. Sopi iddhiyā manomaye kāye abhisaṅkharitvā ekekassa therassa ekekaṃ attanā sadisaṃ bhikkhuṃ nimminitvā aṅguliyā jalamānāya purato purato gantvā ‘‘ayaṃ mañco, idaṃ pīṭha’’ntiādīni vatvā senāsanaṃ paññāpetvā puna attano vasanaṭṭhānameva āgacchati. Ayamettha saṅkhepo, vitthārato panidaṃ vatthu pāḷiyaṃ āgatameva. Satthā idameva kāraṇaṃ aṭṭhuppattiṃ katvā aparabhāge ariyagaṇamajjhe nisinno theraṃ senāsanapaññāpakānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.
Khi ấy, dù hợp thời (hay) phi thời các vị Tỳ-khưu cũng chỉ thị cho Ngài phân bố chỗ trú ngụ như vầy: “Này Hiền giả, hãy phân bố chỗ trú ngụ cho chúng tôi ở vườn xoài của Jīvaka, (hoặc) hãy phân bố chỗ trú ngụ cho chúng tôi ở vườn nai Maddakucchi”, trong khi nhìn thấy thần thông của Ngài rồi mới đi. Cả vị ấy cũng đã hóa hiện ra các thân (khác) được hình thành bởi ý bằng thần thông trông giống như mình cho mỗi vị Trưởng lão, với ngón tay đang được thắp sáng đi ở phía trước và nói rằng: “Đây là giường, đây là ghế…” Sau khi phân bố chỗ trú ngụ mới quay trở về chỗ cư ngụ của mình. Đây là phần tóm tắt của câu chuyện này, còn phần chi tiết đã được ghi chép rõ trong Chánh văn Pāḷī. Bậc Đạo Sư đã lấy chính nhân này làm duyên sự, trong khi ngồi giữa Hội chúng Thánh Tăng, Ngài đã thiết lập Trưởng lão Dabba Mallaputta vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu phân bố chỗ trú ngụ.
Câu chuyện về Trưởng lão Pilindavaccha
- Sattame devatānaṃ piyamanāpānanti devatānaṃ piyānañceva manāpānañca pilindavacchatthero aggoti dasseti. So kira anuppanne buddhe cakkavattī rājā hutvā mahājanaṃ pañcasu sīlesu patiṭṭhāpetvā saggaparāyaṇaṃ akāsi. Yebhuyyena kira chasu kāmasaggesu nibbattadevatā tasseva ovādaṃ labhitvā nibbattanibbattaṭṭhāne attano sampattiṃ oloketvā ‘‘kaṃ nu kho nissāya imaṃ saggasampattiṃ labhimhā’’ti āvajjamānā imaṃ theraṃ disvā ‘‘theraṃ nissāya amhehi sampati laddhā’’ti sāyaṃpātaṃ theraṃ namassanti. Tasmā so devatānaṃ piyamanāpānaṃ aggo nāma jāto. Pilindoti panassa gottaṃ, vacchoti nāmaṃ. Tadubhayaṃ saṃsandetvā pilindavacchoti vuccati.
Trong bài Kinh thứ bảy, vị được yêu quý, được hài lòng của các vị Thiên nhân: Trưởng lão Pilindavaccha là tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu được yêu quý và được hài lòng của các vị Thiên nhân. Nghe rằng, khi đức Phật chưa xuất hiện ở thế gian, vị Trưởng lão ấy đã là vị Vua Chuyển Luân, sau khi cho dân chúng an trú vào Ngũ giới, đã tạo nghiệp thiện nhằm mục đích hướng đến cõi Trời. Được biết rằng phần đông chư Thiên được tái sanh vào sáu cõi Trời Dục giới sau khi nhận được lời giáo huấn của Ngài, quan sát sự thành tựu của chính mình tại mỗi nơi được lần lượt sanh ra, suy nghĩ rằng: “Ta đạt được sự thành tựu ở cõi Trời này do nương vào ai nhỉ?” Sau khi biết rằng: “Ta đạt được sự thành tựu do nương vào Trưởng lão này,” nên mới đến đảnh lễ Ngài vào mỗi buổi sáng và buổi chiều. Chính vì lý do đó, Ngài mới là vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu được yêu quý, được hài lòng của các vị Thiên nhân. Hơn nữa, Pilinda: là tên, còn Vaccha là họ của Ngài. Khi ghép cả hai từ lại với nhau mới gọi là Pilindavaccha.
Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayaṃ kira padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare mahābhogakule nibbatto purimanayeneva satthu dhammadesanaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ devatānaṃ piyamanāpaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā taṃ ṭhānantaraṃ patthetvā yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto imasmiṃ buddhuppāde sāvatthiyaṃ brāhmaṇakule nibbatti. Pilindavacchotissa nāmaṃ akaṃsu. So aparena samayena satthu dhammadesanaṃ sutvā paṭiladdhasaddho pabbajitvā upasampanno vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ pāpuṇi.
Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Kể rằng: vào thời Đức Phật Padumuttara, vị Trưởng lão này được sanh ra trong một gia đình triệu phú tại kinh thành Haṃsavatī, trong khi lắng nghe Giáo Pháp theo cách thức đã được đề cập trước đó Tại đây, khi nhìn thấy bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu được yêu quý, được hài lòng của các vị Thiên nhân, (vị ấy) đã thực hiện lời thệ nguyện vào vị thế ấy. Tạo các nghiệp thiện cho đến hết cuộc đời, luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người. Vào thời kỳ Đức Phật này thì vị ấy tái sanh vào gia đình Bà-la-môn tại kinh thành Sāvatthī, và đã được đặt tên là Pilindavaccha. Vị ấy vào lúc khác sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, có đức tin được thành tựu, đã xuất gia tu lên bậc trên; sau khi phát triển Minh sát đã đạt được phẩm vị A-ra-hán.
So gihīhipi bhikkhūhipi saddhiṃ kathento ‘‘ehi, vasala, gaccha, vasala, āhara, vasala, gaṇha, vasalā’’ti vasalavādeneva samudācarati. Taṃ kathaṃ āharitvā tathāgataṃ pucchiṃsu – ‘‘bhagavā ariyā nāma pharusavācā na hontī’’ti. Bhikkhave, ariyānaṃ paravambhanavasena pharusavācā nāma natthi, apica kho pana bhavantare āciṇṇavasena bhaveyyāti. Bhante, pilindavacchatthero uṭṭhāya samuṭṭhāya gihīhipi bhikkhūhipi saddhiṃ kathento, ‘‘vasala, vasalā’’ti katheti, kimettha kāraṇaṃ bhagavāti. Bhikkhave, na mayhaṃ puttassa etaṃ idāneva āciṇṇaṃ, atīte panesa pañca jātisatāni vasalavādibrāhmaṇakule nibbatti. Iccesa bhavāciṇṇeneva kathesi, na pharusavasena. Ariyānañhi vohāro pharusopi samāno cetanāya apharusabhāvena parisuddhova, appamattakampettha pāpaṃ na upalabbhatīti vatvā dhammapade imaṃ gāthamāha –
‘‘Akakkasaṃ viññāpaniṃ, giraṃ saccamudīraye;
Yāya nābhisaje kañci, tamahaṃ brūmi brāhmaṇa’’nti.
Vị ấy trong khi nói chuyện với người tại gia hay các vị Tỳ-khưu đều sử dụng tiếng xưng hô kẻ hạ tiện rằng: “Hãy đến đây, này kẻ hạ tiện; Hãy đi, này kẻ hạ tiện; Hãy mang đến, này kẻ hạ tiện; Hãy cầm lấy, này kẻ hạ tiện.” Các vị Tỳ-khưu sau khi nghe những lời ấy đã đem chuyện đến bạch hỏi Như Lai rằng: “Bạch Thế Tôn, theo lẽ thường các bậc Thánh sẽ không nói lời thô lỗ như vậy.” – Đức Thế Tôn nói rằng: “Này các Tỳ-khưu, thông thường các bậc Thánh không nói lời thô lỗ để áp chế người khác. Tuy nhiên, những lời thô lỗ ấy có thể xuất hiện do tập khí ở các kiếp sống trước.” – (Các vị Tỳ-khưu): “Bạch Ngài, nhưng Trưởng lão Pilindavaccha cứ hết lần này đến lần khác khi nói chuyện với người tại gia hay với các Tỳ-khưu, đều nói rằng: “Kẻ hạ tiện, kẻ hạ tiện”. Bạch Đức Thế Tôn, trong chuyện này có nguyên do như thế nào? – Đức Thế Tôn: “Này các Tỳ-khưu, việc nói năng như thế của con trai Ta không những thực hành thành thói quen ngay trong kiếp sống hiện tại; mà cả trong quá khứ, đứa con trai này của ta đã tái sanh vào những gia đình Bà-la-môn thường sử dụng tiếng xưng hô ‘kẻ hạ tiện’ suốt năm trăm kiếp. Chính vì vậy, con trai của ta mới nói ra những lời ấy chỉ vì thói quen từ lâu đời, chứ không nói với ý định thô lỗ. Thật vậy, lời nói của các bậc Thánh nhân dù thô lỗ, nhưng vẫn được xem là tuyệt đối thanh tịnh bởi vì tác ý không thô thiển, (vị ấy) hoàn toàn không thọ lãnh (nghiệp) xấu ác dù chỉ một chút ít do lời nói này; Sau đó, Ngài đã nói lên bài kệ này trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada) —
“Người thốt lên lời nói chân thật, không thô lỗ, có ý nghĩa rõ ràng, không làm mất lòng bất cứ ai với lời nói ấy, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.”
Athekadivasaṃ thero rājagahaṃ piṇḍāya pavisanto ekaṃ purisaṃ pippalīnaṃ bhājanaṃ pūretvā ādāya antonagaraṃ pavisantaṃ disvā ‘‘kiṃ te, vasala, bhājane’’ti āha. So cintesi – ‘‘ayaṃ samaṇo mayā saddhiṃ pātova pharusakathaṃ kathesi, imassa anucchavikameva vattuṃ vaṭṭatī’’ti ‘‘mūsikavaccaṃ me, bhante, bhājane’’ti āha. Evaṃ bhavissati, vasalāti. Tassa therassa dassanaṃ vijahantassa sabbaṃ mūsikavaccameva ahosi. So cintesi – ‘‘imā pippaliyo mūsikavaccasadisā paññāyanti, sabhāvo nu kho no’’ti vīmaṃsanto hatthena uppīḷesi. Athassa undūravaccabhāvaṃ ñatvā balavadomanassaṃ uppajji. So ‘‘imāyeva nu kho evarūpā, udāhu sakaṭepī’’ti gantvā olokento sabbāpi pippaliyo tādisāva disvā hadayaṃ hatthena sandhāretvā ‘‘idaṃ na aññassa kammaṃ, mayā pātova diṭṭhabhikkhussetaṃ kammaṃ, addhā ekaṃ upāyaṃ bhavissati, tassa gataṭṭhānaṃ anuvicinitvā etaṃ kāraṇaṃ jānissāmī’’ti therassa gatamaggaṃ pucchitvā pāyāsi.
Vào một ngày nọ, Trưởng lão trong khi đi khất thực trong thành Rājagaha, gặp một người đàn ông bưng một mâm đầy hồ tiêu dài đang đi vào thành, mới hỏi rằng: “Này kẻ hạ tiện, trong cái mâm của nhà ngươi có gì thế?” – Người đàn ông kia nghĩ rằng: “Vị Sa-môn này đã nói lời thô lỗ với ta ngay từ sáng sớm, ta cũng nên đáp trả một lời sao cho tương xứng với vị Sa-môn này mới được”, nên đã nói rằng: “Bạch ngài, trong cái mâm của con là phân chuột ạ!” – Trưởng lão: “Này kẻ hạ tiện, vậy thì nó sẽ phải là như vậy!” – Ngay khi Trưởng lão vừa quay lưng đi, toàn bộ số hồ tiêu dài ấy liền biến thành phân chuột. Người đàn ông ấy nghĩ rằng: “Đống hồ tiêu tiêu này hiển lộ trông giống phân chuột quá, liệu có phải thật hay không nhỉ?” Trong khi suy nghĩ, ông ta dùng tay bóp thử. Lúc đó, ông ấy mới biết đó thực sự là phân chuột, đã khởi lên nỗi đau buồn dữ dội. Ông ta nghĩ rằng: “Chỉ có số hồ tiêu dài trong cái mâm này bị thôi, hay là cả cỗ xe cũng thế?” mới đi kiểm tra thì thấy rằng toàn bộ số hồ tiêu dài trên xe cũng đều trở thành như thế, dùng tay ôm ngực rồi nghĩ: “Đây không phải là việc làm của người khác, phải là việc làm của vị Tỳ-khưu mà mình đã gặp hồi sáng.” Chắc chắn Trưởng lão sẽ biết một loại quỷ thuật nào đó. Ta phải lần theo vị trí mà vị ấy đã đi thì sẽ biết rõ lý do.” Thế rồi ông ta đã hỏi rồi đi theo con đường mà Trưởng lão đã đi qua.
Atheko puriso taṃ ativiya caṇḍikataṃ gacchantaṃ disvā, ‘‘bho purisa, tvaṃ ativiya caṇḍikatova gacchasi, kena kammena gacchasī’’ti pucchi. So tassa taṃ pavattiṃ ārocesi. So tassa kathaṃ sutvā evamāha – ‘‘bho, mā cintayi, mayhaṃ ayyo pilindavaccho bhavissati, tvaṃ etadeva bhājanaṃ pūretvā ādāya gantvā therassa purato tiṭṭha. ‘Kiṃ nāmetaṃ, vasalā’ti vuttakāle ca ‘pippaliyo, bhante’ti vada, thero ‘evaṃ bhavissati, vasalā’ti vakkhati. Puna sabbāpi pippaliyo bhavissantī’’ti. So tathā akāsi. Sabbā pippaliyo paṭipākatikā ahesuṃ. Idamettakaṃ vatthu. Aparabhāge pana satthā devatānaṃ piyamanāpakāraṇameva vatthuṃ katvā theraṃ devatānaṃ piyamanāpānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.
Khi ấy, một người đàn ông khác nhìn thấy người đàn ông ấy đang đi với vẻ mặt vô cùng tức giận, đã hỏi rằng: “Này ông bạn, sao ông lại đi một cách vô cùng giận dữ như thế? ông đang vội vã đi làm việc gì thế?” – Ông ta liền thuật lại toàn bộ sự việc vừa xảy ra cho người đàn ông kia. Sau khi nghe xong câu chuyện của ông ta, người đàn ông kia đã nói như vầy: “Này ông bạn, chớ lo lắng. Chắc chắn đó chính là Trưởng lão Pilindavaccha, đức Ngài là thầy của tôi. Bây giờ anh hãy bưng cái mâm đầy ‘hồ tiêu dài’ đó đến đứng trước mặt Trưởng lão. Vào lúc được Trưởng lão hỏi: “Đây là cái gì, này kẻ hạ tiện?” thì ông hãy trả lời rằng: “Thưa Ngài, đây là hồ tiêu dài”. – Trưởng lão sẽ nói: “Sẽ là như thế, này kẻ hạ tiện. Khi đó, tất cả sẽ biến trở lại thành hồ tiêu dài như cũ.” Và người đàn ông ấy đã làm như thế. Và quả nhiên, tất cả hồ tiêu dài (bị biến thành phân chuột trước đó) đã trở lại thành hồ tiêu dài như cũ. Câu chuyện này chỉ có bấy nhiêu. Về sau, bậc Đạo Sư đã lấy câu chuyện Trưởng lão được yêu quý, được hài lòng của các vị Thiên nhân làm duyên sự, nên đã thiết lập Ngài vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu được yêu quý, được hài lòng của các vị Thiên nhân.
Câu chuyện về Trưởng lão Bāhiyadārucīriya
- Aṭṭhame khippābhiññānanti khippaṃ adhigataabhiññānaṃ dārucīriyatthero aggoti dasseti. Ayañhi thero saṃkhittadhammadesanāpariyosāne arahattaṃ pāpuṇi, maggaphalānaṃ parikammakiccaṃ nāhosi. Tasmā khippābhiññānaṃ aggo nāma jāto. Bāhiyaraṭṭhe pana jātattā bāhiyotissa nāmaṃ ahosi. So aparabhāge dārucīraṃ nivāsesi. Tasmā dārucīriyo nāma jāto.
Trong bài Kinh thứ tám, vị giác ngộ nhanh chóng: Đức Thế Tôn đã thuyết rằng– “Trưởng lão Dārucīriya là bậc tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu giác ngộ nhanh chóng. Thật vậy, Trưởng lão này đã đạt được phẩm vị A-ra-hán khi vừa kết thúc lời giảng Pháp tóm tắt, không có phận sự cần phải chuẩn bị cho các Đạo và Quả. Chính vì lý do đó, Ngài mới gọi là tối thắng (trong số các vị Tỳ-khưu) giác ngộ nhanh chóng. Mọi người gọi Ngài là Bāhiya vì Ngài sanh ra ở xứ sở Bāhiya. Về sau, do Ngài mặc một bộ y làm bằng vỏ cây, vì thế mới gọi là Dārucīriya.
Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe nibbatto dasabalassa dhammadesanaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ khippābhiññānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthetvā yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto kassapadasabalassa sāsanassa osakkanakāle heṭṭhā vuttehi bhikkhūhi saddhiṃ samaṇadhammaṃ katvā paripuṇṇasīlo jīvitakkhayaṃ patvā devaloke nibbatti.
Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Thật vậy: vào thời Đức Phật Padumuttara, vị này (Trưởng lão Bāhiya Dārucīriya) tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī, trong khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Thập Lực, nhìn thấy bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu giác ngộ nhanh chóng, (vị ấy) đã thực hiện các hành động hướng thượng rồi phát nguyện đạt được vị thế ấy. Sau khi tạo các nghiệp thiện cho đến hết cuộc đời, trong khi luân hồi trong các cõi Trời và cõi Người, đến thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật Kassapa bắt đầu suy tàn, vị ấy đã xuất gia và cùng thực hành Sa-môn Pháp với nhóm các vị Tỳ-khưu đã được đề cập ở phần trước (nhóm 7 vị Tỳ-khưu trên đỉnh núi), là vị có giới hạnh tròn đủ, sau khi mệnh chung đã tái sanh vào thế giới chư Thiên.
So ekaṃ buddhantaraṃ devaloke vasitvā imasmiṃ buddhuppāde bāhiyaraṭṭhe kulagehe nibbatto. Vayaṃ āgamma gharāvāsaṃ vasanto ‘‘vohāraṃ karissāmī’’ti suvaṇṇabhūmigamanīyaṃ nāvaṃ abhiruhi. Nāvā icchitaṃ desaṃ appatvāva samuddamajjhe bhinnā, mahājano macchakacchapabhakkho ahosi. Ayaṃ pana ekaṃ dārukhaṇḍaṃ gahetvā sattame divase suppārakapaṭṭane uttiṇṇo manussāvāsaṃ patvā ‘‘acelakaniyāmena manusse upasaṅkamituṃ ayutta’’nti avidūre ṭhāne ekaṃ mahātaḷākā sevālaṃ gahetvā sarīraṃ veṭhetvā ekasmiṃ ṭhāne patitaṃ ekaṃ kapālaṃ ādāya bhikkhāya pāvisi.
Vị ấy an trú ở thế giới chư Thiên trải qua một khoảng thời gian giữa hai vị Phật, vào thời kỳ Đức Phật hiện khởi này vị ấy tái sanh vào gia tộc ở xứ sở Bāhiya. Đến tuổi trưởng thành, vị ấy sống đời sống tại gia, nghĩ rằng “Ta sẽ hành nghề buôn bán”, mới bước lên một con tàu để đi đến vùng Suvaṇṇabhūmi, nhưng chưa kịp đến địa phận mong muốn thì con tàu đã bị chìm đắm giữa đại dương, Đám đông hành khách trên tàu đều trở thành mồi cho rùa và cá. Riêng Bāhiya đã may mắn bám được vào một khúc gỗ suốt bảy ngày đêm, cuối cùng trôi dạt vào bến cảng Suppāraka, biết rằng đây là địa phận của loài người, vị ấy nghĩ rằng vào gặp mọi người với cơ thể trần truồng thì thật không thích đáng, nên đã lấy rong rêu từ một đầm nước gần đó quấn quanh thân mình, rồi lấy một chiếc bát nhặt được ở đền thờ và đi xin ăn (khất thực).
Manussā taṃ disvā cintesuṃ – ‘‘sace loke arahantā nāma atthi, evaṃvidhehi bhavitabbaṃ. Kiṃ nu kho ayyo ukkaṭṭhabhāvena vatthaṃ na gaṇhāti, udāhu diyyamānaṃ gaṇheyyā’’ti vīmaṃsantā nānādisāhi vatthāni āhariṃsu. So cintesi – ‘‘sacāhaṃ na iminā niyāmena āgamissaṃ, na me ete pasīdeyyuṃ, yaṃkiñci katvā ime vañcetvā jīvikupāyaṃ kātuṃ vaṭṭatī’’ti vatthāni na paṭiggaṇhi. Manussā bhiyyosomattāya pasannā mahāsakkāraṃ kariṃsu. Sopi bhattakiccaṃ katvā avidūraṭṭhāne devakulaṃ gato. Mahājano tena saddhiṃyeva gantvā devakulaṃ paṭijaggitvā adāsi. So cintesi – ‘‘ime mayhaṃ sevāle nivāsanamatte pasīditvā evaṃvidhaṃ sakkāraṃ karonti, etesaṃ mayā ukkaṭṭheneva bhavituṃ vaṭṭatī’’ti sallahukāni rukkhaphalakāni gahetvā tacchetvā vākesu āvuṇitvā cīraṃ katvā nivāsetvā pārupitvā jīvikaṃ kappento vasi.
Mọi người trông thấy vị ấy, nghĩ rằng: “Nếu trên đời này thực sự có các bậc A-ra-hán, thì nên có với người như thế này. Có lẽ đức Ngài này không thọ nhận y phục bởi sự thọ trì cao quý chăng? Hay sẽ thọ nhận y phục được thí chủ cúng dường”, để kiểm chứng họ đã đem lại y phục từ nhiều phương hướng. Vị ấy nghĩ rằng: “Nếu ta không đến với hình thức này, những người này không thể khởi niềm tịnh tín nơi ta. Ta nên nói một điều gì đó để đánh lừa họ, tạo ra kế sinh nhai thì cũng nên”, Nghĩ vậy, nên đã từ chối hết các y phục được dâng tặng. Điều này càng khiến mọi người càng tịnh tín hơn nữa. Ngày cả khi vị ấy làm phận sự về vật thực cũng phải đi đến đền thờ ở gần đó; đám đông người cũng kéo đi theo vị ấy, sau khi quét dọn đền thờ rồi dâng cúng vật thực. Vị ấy nghĩ rằng: “Những người này đã khởi niềm tịnh tín chỉ với việc quấn rong rêu thôi của ta rồi thực hiện sự tôn kính như thế. Ta nên là người thọ trì cao quý hơn nữa đối với những người này”, rồi lấy những tấm ván gỗ nhẹ, chặt đẽo, đang vào trong lớp vỏ cây, làm thành y phục (vỏ cây) để mặc và sống kiếm kế sinh nhai.
Atha yo so kassapabuddhakāle sattasu janesu samaṇadhammaṃ karontesu eko bhikkhu suddhāvāsabrahmaloke nibbatto. So nibbattasamanantarameva attano brahmasampattiṃ oloketvā āgataṭṭhānaṃ āvajjento sattannaṃ janānaṃ pabbataṃ āruyha samaṇadhammakaraṇaṭṭhānaṃ disvā sesānaṃ channaṃ nibbattaṭṭhānaṃ āvajjento ekassa parinibbutabhāvaṃ itaresaṃ pañcannaṃ kāmāvacaradevaloke nibbattabhāvaṃ ñatvā kālānukālaṃ te pañca jane āvajjeti. Imasmiṃ pana kāle ‘‘kahaṃ nu kho’’ti āvajjento dārucīriyaṃ suppārakapaṭṭanaṃ upanissāya kuhanakammena jīvikaṃ kappentaṃ disvā ‘‘naṭṭho vatāyaṃ bālo, pubbe samaṇadhammaṃ karonto atiukkaṭṭhabhāvena arahatāpi ābhataṃ piṇḍapātaṃ aparibhuñjitvā idāni udaratthāya anarahāva arahattaṃ paṭijānitvā lokaṃ vañcento vicarati, dasabalassa ca nibbattabhāvaṃ na jānāti, gacchāmi naṃ saṃvejetvā dasabalassa nibbattabhāvaṃ jānāpemī’’ti taṃkhaṇaṃyeva brahmalokato suppārakapaṭṭane rattibhāgasamanantare dārucīriyassa sammukhe pāturahosi.
Khi ấy, trong số bảy người thực hành Sa-môn Pháp ở thời kỳ Đức Phật Kassapa, có một vị Tỳ-khưu tái sanh vào cõi Tịnh Cư Thiên ở Phạm Thiên giới. Vị Phạm Thiên ấy quán xét về sự thành tựu ở Phạm Thiên giới của mình, trong khi quán xét về nơi mà bảy người từng đến, (vị ấy) đã nhìn thấy nơi mà bảy người bước lên ngọn núi thực hành Sa-môn Pháp; trong khi quán xét về nơi tái sanh của sáu người còn lại, biết được rằng một vị đã viên tịch Niết Bàn, còn năm vị kia tái sanh vào các cõi Trời Dục giới. Ngài thỉnh thoảng vẫn ngẫm nghĩ về năm người bạn đó, trong khi quán xét: “Bây giờ họ đang ở đâu?” Ngài đã nhìn thấy Bāhiya Dārucīriya sống nương nhờ tại bến cảng Suppāraka, nuôi mạng bằng việc lường gạt, nghĩ rằng: “Thật nguy hại thay! Bāhiya này thật ngu xuẩn, vào thời quá khứ trong khi thực hành Sa-môn Pháp, đã không chấp nhận thọ dụng đồ ăn khất thực được mang lại bởi bậc A-ra-hán, bởi vì gìn giữ điều vô cùng cao quý. Vậy mà giờ đây, dù không phải là bậc A-ra-hán nhưng lại tuyên bố về bản thể A-ra-hán, rong ruổi lừa dối thiên hạ chỉ để kiếm miếng ăn, và không biết rằng đức Thập Lực đã ra đời. Ta sẽ đi (và) làm cho (vị ấy) chấn động, rồi cho vị ấy biết rằng Đức Phật đã xuất hiện.” Chính vào thời khắc ấy, (vị Phạm Thiên) rời khỏi Phạm Thiên giới đã hiện ra trước mặt Dārucīriya tại bến cảng Suppāraka vào lúc nửa đêm.
So attano vasanaṭṭhāne obhāsaṃ disvā bahi nikkhamitvā ṭhito mahābrahmaṃ oloketvā añjaliṃ paggayha ‘‘ke tumhe’’ti pucchi. Ahaṃ tuyhaṃ porāṇakasahāyo anāgāmiphalaṃ patvā brahmaloke nibbatto. Amhākaṃ pana sabbajeṭṭhako arahattaṃ patvā parinibbuto, tumhe pañca janā devaloke nibbattā. Svāhaṃ taṃ imasmiṃ ṭhāne kuhanakammena jīvantaṃ disvā dametuṃ āgatoti vatvā idaṃ kāraṇamāha – ‘‘na kho tvaṃ, bāhiya arahā, napi arahattamaggaṃ samāpanno, sāpi te paṭipadā natthi, yāya tvaṃ arahā vā assa arahattamaggaṃ vā samāpanno’’ti. Athassa satthu uppannabhāvaṃ sāvatthiyaṃ vasanabhāvañca ācikkhitvā ‘‘satthu santikaṃ gacchāhī’’ti taṃ uyyojetvā brahmalokameva agamāsi.
Vị ấy (Bāhiya Dārucīriya) sau khi trông thấy luồng ánh sáng ở nơi cư ngụ của mình, đã bước ra, đứng bên ngoài nhìn vị Đại Phạm Thiên chắp tay cung kính, liền hỏi: “Ngài là ai?” – Vị Đại Phạm Thiên đáp rằng: “Ta chính là người bạn cũ của ông, đã đắc quả Bất Lai và tái sanh lên cõi Phạm Thiên. Vị cao niên nhất trong số tất cả chúng ta năm xưa đã đạt được quả vị A-ra-hán và đã viên tịch Niết Bàn; còn lại năm người các ông thì đều đã tái sanh về các cõi Trời Dục giới. Ta thấy ông hiện đang nuôi mạng bằng việc lường gạt người khác ở nơi này, nên đã đến đây để thuần hóa ông, rồi đã nói nguyên nhân này: “Này Bāhiya, ông chẳng phải là bậc A-ra-hán và cũng chẳng đạt được con đường đưa đến quả vị A-ra-hán. Thậm chí ông cũng không có đường lối thực hành để ông có thể trở thành bậc A-ra-hán hoặc đạt được con đường đưa đến quả vị A-ra-hán.” Tiếp đó, vị Đại Phạm Thiên cho vị ấy biết rằng: “Bậc Đạo Sư đã xuất hiện ở thế gian và đang cư ngụ tại thành Sāvatthī, ông hãy đến diện kiến bậc Đạo Sư; sau khi tiễn vị ấy đi, còn bản thân mình đã quay trở về Phạm Thiên giới.”
Dārucīriyo mahābrahmunā saṃvejito ‘‘mokkhamaggaṃ gavesissāmī’’ti vīsayojanasataṃ maggaṃ ekarattivāsena gantvā satthāraṃ piṇḍāya paviṭṭhaṃ antaraghare sampāpuṇitvā satthu pādesu nipatitvā ‘‘desetu me, bhante, bhagavā dhammaṃ, desetu sugato dhamma’’nti yāvatatiyaṃ yāci. Satthā ‘‘ettāvatā bāhiyassa ñāṇaṃ paripākaṃ gata’’nti ñatvā ‘‘tasmātiha te, bāhiya, evaṃ sikkhitabbaṃ diṭṭhe diṭṭhamattaṃ bhavissatī’’ti (udā. 10) iminā ovādena ovadi. Sopi desanāpariyosāne antaravīthiyaṃ ṭhitova desanānusārena ñāṇaṃ pesetvā saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi.
Bāhiya Dārucīriya bị làm cho chấn động bởi vị Đại Phạm Thiên ấy, rồi nghĩ rằng: “Ta sẽ tầm cầu con đường giải thoát”. Vị ấy đã vượt qua quãng đường dài một trăm hai mươi do-tuần mà chỉ nghỉ chân đúng một đêm, đến đúng lúc bậc Đạo Sư đang đi khất thực trong xóm làng, Bāhiya liền đê đầu đảnh lễ dưới chân của bậc Đạo Sư và khẩn cầu đến ba lần rằng: “Bạch Ngài, xin Đức Thế Tôn hãy thuyết Pháp cho con! Xin bậc Thiện Thệ hãy thuyết Pháp cho con!” Sau khi biết rõ rằng: “Chỉ chừng ấy trí của Bāhiya đã đi đến chín muồi”, bậc Đạo Sư đã chỉ dạy bằng lời giáo huấn này: “Này Bāhiya, như thế thì ngươi nên học tập như vầy: ‘Trong việc thấy sẽ là thuần túy việc thấy, v.v,’”[3] (udā. 10); Khi bài thuyết giảng chấm dứt dẫu đang đứng giữa đường phố đông đúc, Bāhiya đã hướng tâm theo dòng chảy của bài giảng và đã đạt được phẩm vị A-ra-hán cùng với các tuệ phân tích.
So attano kiccaṃ matthakappattaṃ ñatvā bhagavantaṃ pabbajjaṃ yācitvā aparipuṇṇapattacīvaratāya pattacīvaraṃ pariyesanto saṅkāraṭṭhānato coḷakkhaṇḍāni saṃkaḍḍhati. Atha naṃ pubbaveriko amanusso ekissā taruṇavacchāya gāviyā sarīre adhimuccitvā jīvitakkhayaṃ pāpesi. Satthā sāvatthito nikkhamanto antaravīthiyaṃ bāhiyaṃ saṅkāraṭṭhāne patitaṃ disvā ‘‘gaṇhatha, bhikkhave, bāhiyassa dārucīriyassa sarīra’’nti nīharāpetvā sarīrakiccaṃ kāretvā cātumahāpathe cetiyaṃ kārāpesi. Tato saṅghamajjhe kathā udapādi – ‘‘tathāgato bhikkhusaṅghena bāhiyassa sarīrajjhāpanakiccaṃ kāresi, dhātuyo gahetvā cetiyaṃ kāresi, kataramaggo nu kho tena sacchikato, sāmaṇero nu kho so, bhikkhu nu kho’’ti cittaṃ uppādayiṃsu. Satthā taṃ aṭṭhuppattiṃ katvā ‘‘paṇḍito, bhikkhave, bāhiyo’’ti upari dhammadesanaṃ vaḍḍhetvā tassa parinibbutabhāvaṃ pakāsesi. Puna saṅghamajjhe kathā udapādi ‘‘na ca satthārā bāhiyassa bahu dhammo desito, arahattaṃ pattoti ca vadeti. Kiṃ nāmeta’’nti? Satthā ‘‘dhammo mando bahūti akāraṇaṃ, visapītakassa agado viya ceso’’ti vatvā dhammapade gāthamāha –
‘‘Sahassamapi ce gāthā, anatthapadasaṃhitā;
Ekaṃ gāthāpadaṃ seyyo, yaṃ sutvā upasammatī’’ti. (dha. pa. 100);
Vị ấy, sau khi biết rõ bản thân đã đạt đến tột đỉnh về phận sự, liền khẩn xin Đức Thế Tôn cho được xuất gia. Trong khi tìm kiếm y phục và bình bát bởi vì y phục và bình bát vẫn chưa đầy đủ (vị ấy) mới lượm nhặt các mảnh vải từ đống rác. Ngay lúc ấy, một phi nhân có oan trái từ tiền kiếp đã nhập vào thân xác của một con bò cái vừa mới sinh con, lao đến húc chết Ngài. Khi bậc Đạo Sư rời khỏi kinh thành Sāvatthī, đã nhìn thấy Bāhiya nằm bất động trên đống rác ở bên vệ đường, Ngài bảo với các vị Tỳ-khưu: “Này các Tỳ-khưu, các ông hãy cùng nhau khiêng thi thể của Bāhiya Dārucīriya,” rồi đưa đi làm phận sự đối với thi thể (hỏa táng), sau đó hãy cho xây dựng một Bảo điện ở ngã tư đường”. Khi đó, khởi lên câu chuyện trong Tăng Chúng– “Đức Thế Tôn đã lệnh cho Hội chúng Tỳ-khưu hỏa táng thi thể của Bāhiya, sau khi thu gom Xá-lợi rồi cho xây dựng Bảo điện (tôn thờ Xá-lợi), vậy Bāhiya ấy đã tác chứng Đạo (Quả) nào? Có phải vị ấy là một vị Sa-di, hay là một vị Tỳ-khưu chăng?” Các vị Tỳ-khưu đều khởi lên ý nghĩ như thế. Bậc Đạo Sư đã lấy điều đó làm duyên sự rồi thuyết rằng: “Này các Tỳ-khưu, Bāhiya là một bậc sáng trí”, và đã giảng rộng bài thuyết Pháp, rồi tuyên bố về “sự kiện viên tịch Niết Bàn của Bāhiya”. Tuy nhiên, sự việc ấy lại tiếp tục khởi lên giữa Hội chúng như sau: “Bậc Đạo Sư không chỉ bảo quá nhiều Pháp cho Bāhiya, vậy mà Ngài nói rằng: ‘Bāhiya đã đạt đến quả vị A-ra-hán. Chuyện này là như thế nào?’” Bậc Đạo Sư đã tuyên bố rằng: “Giáo Pháp dù ít hay nhiều không phải lý do, Giáo pháp ấy cũng giống như một liều thuốc dùng để chữa trị cho người đã uống thuốc độc vậy”, rồi nói lên kệ ngôn trong Kinh Pháp Cú như sau—
“Nếu một ngàn câu kệ mà chỉ chứa đựng những từ vô nghĩa, thì một chữ của câu kệ là tốt hơn, sau khi nghe nó được an tịnh.” (dha. pa. 100);
Desanāpariyosāne caturāsīti pāṇasahassāni amatapānaṃ piviṃsu. Idañca pana bāhiyattherassa vatthu sutte (udā. 10) āgatattā vitthārena na kathitaṃ. Aparabhāge pana satthā saṅghamajjhe nisinno bāhiyattheraṃ khippābhiññānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.
Khi bài thuyết giảng chấm dứt, tám mươi bốn ngàn chúng sanh đã được uống nước Bất Tử. Và hơn nữa, câu chuyện của Trưởng lão Bāhiya cũng không cần phải trình bày chi tiết nữa vì đã được đề cập trong bài Kinh (udā. 10); Về sau, trong khi ngồi giữa Tăng Chúng, bậc Đạo Sư đã thiết lập Trưởng lão Bāhiya vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu giác ngộ nhanh chóng.
Câu chuyện về Trưởng lão Kumārakassapa
- Navame cittakathikānanti vicittaṃ katvā dhammaṃ kathentānaṃ. Thero kira ekassapi dvinnampi dhammaṃ kathento bahūhi upamāhi ca kāraṇehi ca maṇḍayitvā bodhento katheti. Tasmā cittakathikānaṃ aggo nāma jāto.
Trong bài Kinh thứ chín, vị có sự thuyết giảng tài hoa: Vị thuyết giảng Giáo Pháp bằng cách làm cho (pháp đó) trở nên tuyệt mỹ. Được biết rằng, Trưởng lão khi thuyết giảng Giáo Pháp dù cho một người hay cho hai người, thì cũng đều tô điểm (bài giảng) bằng những ví dụ và bằng những lý lẽ giúp người nghe hiểu biết tường tận rồi mới nói. Do đó, Ngài được gọi là bậc tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có sự thuyết giảng tài hoa.
Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare kulagehe paṭisandhiṃ gaṇhitvā vayappatto dasabalassa dhammakathaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ cittakathikānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthetvā devamanussesu saṃsaranto kassapabuddhasāsanosakkanakāle sattannaṃ bhikkhūnaṃ abbhantaro hutvā pabbatamatthake samaṇadhammaṃ katvā aparihīnasīlo tato cuto devaloke nibbattitvā ekaṃ buddhantaraṃ sampattiṃ anubhavamāno amhākaṃ satthu kāle rājagahe ekissā kuladārikāya kucchimhi uppanno.
Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Thật vậy: vào thời Đức Phật Padumuttara, vị Trưởng lão này tái sanh vào gia tộc tại kinh thành Haṃsavatī, đến tuổi trưởng thành, lắng nghe bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư, khi nhìn thấy bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu thuyết giảng vi diệu, (vị ấy) đã thực hiện các hành động hướng thượng và đã phát nguyện vị thế đó (trong tương lai), trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, đến thời kỳ Giáo pháp của Đức Phật Kassapa bị suy thoái, vị ấy là một trong số bảy vị Tỳ-khưu đã cùng nhau thực hành Sa-môn Pháp trên đỉnh núi cao, có giới không hư hoại, đã mệnh chung tại đó, rồi tái sanh vào thế giới chư Thiên và thọ hưởng sự thành tựu ở đó suốt một khoảng thời gian giữa hai vị Phật. Vào thời kỳ bậc Đạo Sư của chúng ta vị ấy giáng sanh vào bụng của một thiếu nữ thuộc gia đình danh giá tại kinh thành Rājagaha.
Sā ca paṭhamaṃ mātāpitaro yācitvā pabbajjaṃ alabhamānā kulagharaṃ gatā gabbhaṃ gaṇhi. Tampi ajānantī sāmikaṃ ārādhetvā tena anuññātā bhikkhunīsu pabbajitā. Tassā gabbhanimittaṃ disvā bhikkhuniyo devadattaṃ pucchiṃsu, so ‘‘assamaṇī’’ti āha. Dasabalaṃ pucchiṃsu, satthā upālittheraṃ paṭicchāpesi. Thero sāvatthinagaravāsīni kulāni visākhañca upāsikaṃ pakkosāpetvā sodhento ‘‘pure laddho gabbho, pabbajjā arogā’’ti āha. Satthā ‘‘suvinicchitaṃ adhikaraṇa’’nti therassa sādhukāraṃ adāsi.
Và thiếu nữ ấy đã cầu xin cha mẹ (xuất gia) trước nhưng không nhận được sự đồng ý xuất gia. Sau khi về nhà chồng (lập gia đình), cô đã mang thai mà chính bản thân cũng không hề hay biết. Sau đó, cô nói với chồng (xin phép được xuất gia); người chồng đã cho phép và cô đã xuất gia nơi các Tỳ-khưu-ni. (Sau một thời gian) các Tỳ-khưu-ni thấy bụng của cô ngày một lớn dần nên đã đi hỏi ý kiến của Tỳ-khưu Devadatta. Tỳ-khưu Devadatta liền nói rằng: “Cô ta không còn là một Sa-môn nữa”. – Các vị Tỳ-khưu-ni mới đến bạch hỏi đấng Thập Lực. – Bậc Đạo Sư đã giao việc này lại cho Trưởng lão Upāli giải quyết. Trưởng lão đã cho mời đại diện các gia tộc trong kinh thành Sāvatthī và nữ cư sĩ Visākhā đến để giúp kiểm tra sự trong sạch, (sau khi xem xét) đã kết luận rằng: “Cô ta đã mang thai trước khi xuất gia, tư cách xuất gia của cô ta không hoại.” – Bậc Đạo Sư đã ban lời tán thán đến Trưởng lão rằng “sự tranh tụng đã được giải quyết đúng đắn.”
Sā bhikkhunī suvaṇṇabimbasadisaṃ puttaṃ vijāyi. Taṃ gahetvā rājā pasenadikosalo posāpesi, kassapoti cassa nāmaṃ katvā aparabhāge alaṅkaritvā satthu santikaṃ netvā pabbājesi. Kumārakāle pana pabbajitattā bhagavatā ‘‘kassapaṃ pakkosatha, idaṃ phalaṃ vā khādanīyaṃ vā kassapassa dethā’’ti vutte ‘‘katarakassapassāti. Kumārakassapassā’’ti evaṃ gahitanāmattā tato paṭṭhāya vuḍḍhakālepi kumārakassapotveva vuccati. Apica rañño posāvanikaputtattāpi kumārakassapoti taṃ sañjāniṃsu.
Sau đó, vị Tỳ-khưu-ni ấy đã hạ sinh một bé trai có vẻ ngoài như một bức tượng vàng. Vua Pasenadi Kosala đã nhận đứa trẻ ấy đem về nuôi dưỡng và đã đặt tên cho cậu là Kassapa. Thời gian trôi qua, sau khi trang hoàng cho cậu (Đức Vua) đã dẫn cậu đến diện kiến bậc Đức Đạo Sư và xin cho cậu được xuất gia. Tuy nhiên, vì Ngài xuất gia từ lúc còn bé, nên khi Đức Thế Tôn bảo rằng: “Các ông hãy đi gọi Kassapa đến đây, hãy cho trái cây và vật thực loại cứng loại mềm này đến Kassapa”, các vị Tỳ-khưu (thắc mắc) hỏi rằng: “Thưa Ngài, Kassapa nào ạ?” – Đức Thế Tôn đáp: “Là Kumāra Kassapa”. Do đã được (Đức Thế Tôn) gọi tên như vậy, kể từ đó về sau, Ngài luôn được gọi là Kumāra Kassapa, luôn cả khi về già. Mặt khác, mọi người nhận biết được Ngài là Kumāra Kassapa bởi vì Ngài là đứa con được Vua nuôi dưỡng.
So pabbajitakālato paṭṭhāya vipassanāya ceva kammaṃ karoti, buddhavacanañca gaṇhāti. Atha so tena saddhiṃ pabbatamatthake samaṇadhammaṃ katvā anāgāmiphalaṃ patvā suddhāvāse nibbatto mahābrahmā tasmiṃ samaye āvajjento kumārakassapaṃ disvā ‘‘sahāyako me vipassanāya kilamati, gantvā tassa vipassanāya nayamukhaṃ dassetvā maggaphalapattiyā upāyaṃ karissāmī’’ti brahmaloke ṭhitova pañcadasa pañhe abhisaṅkharitvā rattibhāgasamanantare kumārakassapattherassa vasanaṭṭhāne andhavane pāturahosi. Thero ālokaṃ disvā ‘‘ko etthā’’ti āha. ‘‘Ahaṃ pubbe tayā saddhiṃ samaṇadhammaṃ katvā anāgāmiphalaṃ patvā suddhāvāse nibbattabrahmā’’ti āha. Kena kammena āgatatthāti? Mahābrahmā attano āgatakāraṇaṃ dīpetuṃ te pañhe ācikkhitvā ‘‘tvaṃ ime pañhe uggaṇhitvā aruṇe uṭṭhite tathāgataṃ upasaṅkamitvā puccha, ṭhapetvā hi tathāgataṃ añño ime pañhe kathetuṃ samattho nāma natthī’’ti vatvā brahmalokameva gato.
Kể từ sau khi xuất gia, Ngài đã thực hành việc phát triển Minh sát và học tập những lời dạy của Đức Phật. Khi ấy, vị Đại Phạm Thiên – người từng cùng thực hành Sa-môn Pháp trên đỉnh núi với Trưởng lão (Kumāra Kassapa) năm xưa, đã đạt được quả vị Bất Lai rồi tái sanh vào cõi Tịnh Cư Thiên, trong khi quán xét lại thời điểm ấy đã nhìn thấy Kumāra Kassapa, nghĩ rằng: “Bạn của ta đang gặp khó khăn trong việc phát triển Minh sát. Ta sẽ đi chỉ bày phương pháp chủ đạo về Minh sát cho vị ấy, rồi tạo đường lối (đúng đắn) nhằm mục đích chứng đắc đạo và quả,” khi đang đứng ngay ở Phạm Thiên giới, đã chuẩn bị mười lăm câu hỏi[4], rồi hiện ra tại nơi cư trú của Trưởng lão Kumāra Kassapa trong khoảng giữa đêm. Trưởng lão nhìn thấy luồng ánh sáng, liền hỏi rằng: “Ai ở nơi đó vậy?” – Vị Đại Phạm Thiên đáp rằng: “Ta chính là vị Phạm Thiên – người đã từng thực hành Sa-môn Pháp với Ngài trong tiền kiếp, đã đạt được quả vị Bất Lai rồi tái sanh vào cõi Tịnh Cư Thiên.” Trưởng lão hỏi tiếp: “Ngài đến với việc gì vậy?” Đại Phạm Thiên đã nói ra những câu hỏi ấy nhằm mục đích phơi bày lý do đã đến của mình, rồi nói: “Ngài hãy học thuộc những câu hỏi này, khi bình minh ló dạng, hãy đến gặp Đức Như Lai, đảnh lễ Ngài rồi hỏi. Bởi vị, ngoại trừ Đức Như Lai, thì chẳng có người nào khác có khả năng giải đáp được những câu hỏi này cả,” rồi quay trở về Phạm Thiên giới.
Theropi punadivase satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā mahābrahmunā kathitaniyāmeneva pañhe pucchi. Satthā kumārakassapattherassa arahattaṃ pāpetvā pañhe kathesi. Thero satthārā kathitaniyāmeneva uggaṇhitvā andhavanaṃ gantvā vipassanaṃ gabbhaṃ gāhāpetvā arahattaṃ pāpuṇi. Tato paṭṭhāya catunnaṃ parisānaṃ dhammakathaṃ kathento bahukāhi upamāhi ca kāraṇehi ca maṇḍetvā cittakathameva katheti. Atha naṃ satthā pāyāsirañño pañcadasahi pañhehi paṭimaṇḍetvā suttante (dī. ni. 2.406 ādayo) desite taṃ suttantaṃ aṭṭhuppattiṃ katvā imasmiṃ sāsane cittakathikānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.
Ngày hôm sau, Trưởng lão (Kumāra Kassapa) đã đến yết kiến bậc Đạo Sư, đảnh lễ rồi hỏi những câu hỏi theo đúng phương thức đã được nói bởi Đại Phạm Thiên. Bậc Đạo Sư đã giải đáp các câu hỏi giúp cho Trưởng lão Kumāra Kassapa đạt được phẩm vị A-ra-hán. Trưởng lão học tập theo phương thức đã được thuyết bởi bậc Đạo Sư, rồi đi đến rừng Andha thực hành Minh sát cho chín muồi rồi đạt được phẩm vị A-ra-hán. Kể từ đó về sau, mỗi khi thuyết giảng Giáo Pháp trước bốn Hội chúng dù là nhóm lớn hay nhóm nhỏ, sau khi tô điểm (bài giảng) bằng những ví dụ và bằng những lý lẽ rồi nói với những lời nói vô cùng tuyệt mỹ. Lúc ấy, khi Ngài thuyết bài kinh được trang hoàng với mười lăm câu hỏi cho Đức Vua Pāyāsi. Bậc Đạo Sư đã lấy bài kinh đó (Kinh Pāyāsi) làm duyên sự rồi thiết lập Trưởng lão vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu có sự thuyết giảng tài hoa trong Giáo Pháp này.
Câu chuyện về Trưởng lão Mahākoṭṭhita
- Dasame paṭisambhidāpattānanti catasso paṭisambhidā patvā ṭhitānaṃ mahākoṭṭhitatthero aggoti dasseti. Ayaṃ hi thero attano paṭisambhidāsu ciṇṇavasibhāvena abhiññāte abhiññāte mahāsāvake upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchantopi dasabalaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchantopi paṭisambhidāsuyeva pañhaṃ pucchati. Iti iminā ciṇṇavasibhāvena paṭisambhidāpattānaṃ aggo nāma jāto.
Trong bài Kinh thư mười, vị đã đạt đến tuệ phân tích: Đức Thế Tôn thuyết rằng Trưởng lão Mahākoṭṭhita là tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu đã đạt được bốn tuệ phân tích. Thật vậy, vị Trưởng lão này, dù khi đến gặp các vị Đại đệ tử có danh tiếng để hỏi câu hỏi hay khi đến gặp đấng Thập Lực để hỏi câu hỏi, thì cũng chỉ hỏi những vấn đề thuộc về các tuệ phân tích mà thôi. Bởi vì, bản thân Ngài là vị thông thạo và thiện xảo trong các tuệ phân tích. Chính vì lý do đó, Ngài được gọi là bậc tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu đã đạt được các tuệ phân tích do sức mạnh sự thông thạo này.
Tassa pañhakamme ayamanupubbikathā – ayampi hi padumuttarabuddhakāle haṃsavatīnagare mahābhogakule nibbatto aparena samayena satthu dhammakathaṃ suṇanto satthāraṃ ekaṃ bhikkhuṃ paṭisambhidāpattānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapentaṃ disvā adhikārakammaṃ katvā taṃ ṭhānantaraṃ patthesi. So yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devamanussesu saṃsaranto imasmiṃ buddhuppāde sāvatthiyaṃ brāhmaṇakule nibbatti. Koṭṭhitamāṇavotissa nāmaṃ akaṃsu. So vayappatto tayo vede uggaṇhitvā ekadivasaṃ satthu dhammakathaṃ sutvā paṭiladdhasaddho pabbaji. So upasampannakālato paṭṭhāya vipassanāya kammaṃ karonto saha paṭisambhidāhi arahattaṃ patvā niccakālaṃ paṭisambhidāsu ciṇṇavasī hutvā pañhaṃ pucchanto paṭisambhidāsuyeva pucchati. Atha naṃ satthā aparabhāge mahāvedallasuttaṃ (ma. ni. 1.449 ādayo) aṭṭhuppattiṃ katvā paṭisambhidāpattānaṃ aggaṭṭhāne ṭhapesīti.
Về các vấn đề liên quan đến nghiệp lực của Ngài, có câu chuyện được thuật lại theo trình tự như sau— Thật vậy, vào thời Đức Phật Padumuttara, vị Trưởng lão này tái sanh vào gia tộc giàu có tại kinh thành Haṃsavatī. Một thời gian sau, khi đang lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Đạo Sư, chứng kiến bậc Đạo Sư thiết lập một vị Tỳ-khưu vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu đã đạt được các tuệ phân tích, sau khi thực hiện các hành động hướng thượng, đã phát nguyện vào vị thế đó (trong tương lai). Sau đó, (vị ấy) đã tạo các nghiệp thiện cho đến suốt cuộc đời; trong khi luân hồi giữa các cõi Trời và cõi Người, đến thời kỳ đức Phật (Gotama) xuất hiện, tái sanh vào gia tộc Bà-la-môn tại kinh thành Sāvatthī. Thân quyến gọi tên vị ấy là Koṭṭhita Māṇava. Vị ấy, khi đến tuổi trưởng thành đã học tập ba kiến thức Vệ-đà. Một ngày nọ, sau khi lắng nghe bài giảng Pháp của bậc Đạo Sư, có đức tin được thành tựu rồi xuất gia. Kể từ thời điểm tu lên bậc trên, khi thực hành thiền Minh sát đã đạt đến phẩm vị A-la-hán cùng với các tuệ phân tích. Là vị thông thạo và thiện xảo trong các tuệ phân tích suốt thời gian dài, mỗi khi hỏi câu hỏi cũng chỉ hỏi về các tuệ phân tích mà thôi. Về sau, bậc Đạo Sư đã lấy bài Kinh Mahāvedalla (Kinh Đại Phương Quảng) làm duyên sự, mới thiết lập Trưởng lão vào vị thế tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu đã đạt được các tuệ phân tích (Tứ Vô Ngại Giải).
Phẩm Người Tối Thắng thứ ba – được kết thúc
[1] Bốn sự mất mát: (1) sự mất mát do già nua, (2) sự mất mát do bệnh tật, (3) sự mất mát của cải, tài sản. (4) sự mất mát quyến thuộc.
[2] Mười tám Đại Tịnh xá: Ở đây đề cập đến là các Tịnh xá tọa lạc xung quanh thành Rājagaha, vị Tướng quân Chánh pháp Sāriputta đã thiết lập giới sīmā chung một địa điểm (theo Chú giải Luật Tạng, bản tiếng Thái, quyển 3, trang 143) – bao gồm: (1) Tịnh xá Trúc Lâm (Veḷuvana), (2) Núi Linh Thứu (Gijjhakūṭa), (3) Hang động Pipphali, (4) chỗ tảng đá Đen (Kāḷasilā), (5) Hang động Thất Diệp (Sattapaṇṇa), (6) Hang động Sappasoṇḍa, (7) Khe núi Gotamaka (Gotamaka-pabbhāra), (8) Hẻm núi Tinduka, (9) Khu vườn Tapodā, (10) Tịnh xá Andhakavinda, (11) Rừng Xoài Jīvaka, (12) Vườn nai Maddakucchi, (13) Hẻm núi Gotama, (14) Làng Pilanda (Làng Ārāmika), (15) Rừng xoài Pāvārika, (16) Tinh xá Gijjhakāvāsatha (Gijjhakāvāsathārāma), (17) Hang động Indasāla, (18) Đại Tịnh xá Dakkhiṇāgīrī.
[3] “Tasmātiha te bāhiya, evaṃ sikkhitabbaṃ: ‘Diṭṭhe diṭṭhamattaṃ bhavissati, sute sutamattaṃ bhavissati, mute mutamattaṃ bhavissati, viññāte viññātamattaṃ bhavissatī ’ti. Evaṃ hi te bāhiya, sikkhitabbaṃ. – “Này Bāhiya, như thế thì ngươi nên học tập như vầy: ‘Trong việc thấy sẽ là thuần túy việc thấy, trong việc nghe sẽ là thuần túy việc nghe, trong việc cảm giác sẽ là thuần túy việc cảm giác, trong việc nhận thức sẽ là thuần túy việc nhận thức.’ Này Bāhiya, ngươi nên học tập theo đúng như vậy.
[4] Mười lăm câu hỏi là— (1) cái gì gọi là ‘gò mối’? (2) cái gì gọi là ‘ban đêm phun khói’? (3) như thế nào gọi là ‘ban ngày chiếu sáng’? (4) ai gọi là ‘Bà-la-môn’? (5) ai gọi là ‘bậc trí’? (6) cái gì gọi là ‘thanh gươm’? (7) như thế nào gọi là ‘đào lên’? (8) cái gì gọi là ‘cái then cửa’? (9) cái gì gọi là ‘con nhái’? (10) cái gì gọi là ‘con đường hai ngã’? (11) cái gì gọi là ‘đồ lọc sữa’? (12) cái gì gọi là ‘con rùa’? (13) cái gì gọi là ‘thớt băm thịt’? (14) cái gì gọi là ‘miếng thịt’? (15) cái gì là ‘con rắn hổ’