Kinh số 82 – Giải Thích Kinh Raṭṭhapāla

(Raṭṭhapālasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Raṭṭhapāla

293. evaṃ V.3.205 me sutanti raṭṭhapālasuttaṃ. tattha thullakoṭṭhikanti thullakoṭṭhaṃ paripuṇṇakoṭṭhāgāraṃ. so kira janapado niccasasso sadā bījabhaṇḍaṃ nikkhamati, khalabhaṇḍaṃ pavisati. tena tasmiṃ nigame koṭṭhā niccapūrāva honti. tasmā so thullakoṭṭhikanteva saṅkhaṃ gato.

293. Kinh Raṭṭhapāla được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, thullakoṭṭhikaṃ: Kho lương thực dồi dào là kho lương thực (gạo, ngũ cốc) luôn đầy ắp. Được biết rằng xứ sở ấy thường xuyên thu hoạch các loại mễ cốc, hạt gạo luôn được đem ra ngoài sân (phơi). Vì thế ở thị trấn đó các kho chứa thường xuyên đầy ắp. Cho nên, xứ xở đó được xem là thullakoṭṭhikanta (có gạo chất đầy kho).

294. raṭṭhapāloti kasmā raṭṭhapālo? bhinnaṃ raṭṭhaṃ sandhāretuṃ pāletuṃ samatthoti raṭṭhapālo. kadā panassetaṃ nāmaṃ uppannanti. padumuttarasammāsambuddhakāle. ito hi pubbe satasahassakappamatthake vassasatasahassāyukesu manussesu padumuttaro nāma satthā uppajjitvā bhikkhusatasahassaparivāro M.3.200 lokahitāya cārikaṃ cari, yaṃ sandhāya vuttaṃ —

294. Tại sao ngài Raṭṭhapāla gọi là Raṭṭhapāla. Gọi là Raṭṭhapāla bởi vì là người có khả năng duy trì bảo vệ đất nước bị chia cắt. Tên của ngài Raṭṭhapāla đã xuất hiện khi nào? Vào thời kỳ bậc Chánh đẳng Chánh giác Padumuttara. Quả thật cách đây một trăm nghìn kiếp kể từ kiếp này loài người có tuổi thọ một trăm nghìn năm tuổi bậc Đạo Sư Padumuttara xuất hiện có một trăm nghìn vị Tỳ khưu làm tùy tùng đi du hành vì lợi ích thế gian, liên quan đến điều đó ngài đã nói rằng –

nagaraṃ haṃsavatī nāma, ānando nāma khattiyo.

sujātā nāma janikā, padumuttarassa satthuno”ti. (bu. vaṃ. 12.19).

Thành phố có tên là Haṃsavatī, vị vua dòng sát-đế-lỵ tên là Ānanda, người mẹ của bậc Đạo Sư Padumuttara tên là Sujātā.

padumuttare pana anuppanne eva haṃsavatiyā dve kuṭumbikā saddhā pasannā kapaṇaddhikayācakādīnaṃ dānaṃ paṭṭhapayiṃsu. tadā pabbatavāsino pañcasatā tāpasā haṃsavatiṃ anuppattā. te dvepi janā tāpasagaṇaṃ majjhe bhinditvā P.3.289 upaṭṭhahiṃsu. tāpasā kiñcikālaṃ vasitvā pabbatapādameva gatā. dve saṅghattherā ohīyiṃsu. tadā tesaṃ te yāvajīvaṃ upaṭṭhānaṃ akaṃsu. tāpasesu bhuñjitvā anumodanaṃ karontesu eko sakkabhavanassa vaṇṇaṃ kathesi, eko bhūmindharanāgarājabhavanassa.

Khi đức Phật Padumuttama không xuất hiện. Hai người gia trưởng của thành Haṃsavatī có đức tin trong sạch đã kiến tạo một bố thí đường dành cho những người ăn xin, người đi đường, và những người nghèo v.v. Khi ấy năm trăm đạo sĩ cư trú ở một ngọn núi đi đến thành Haṃsavatī. Cả hai vị ấy đã chia năm trăm vị đạo sĩ thành 2 nhóm để chăm sóc. Các vị đạo sĩ ở lại một chút rồi quay trở về núi. Chỉ còn lại hai vị trưởng lão trong Tăng chúng. Khi ấy cả hai vị gia trưởng thực hiện việc phụng sự các vị đạo sĩ cho đến trọn đời. Sau khi thọ dụng những vị đạo sĩ đã nói lời tùy hỷ, một vị đã mô tả về cõi vua trời Sakka, một vị mô tả về cõi của Long vương ở xứ sở loài rồng.

kuṭumbikesu eko sakkabhavanaṃ patthanaṃ katvā sakko hutvā nibbatto, eko nāgabhavane pālitanāgarājā nāma. taṃ sakko attano upaṭṭhānaṃ āgataṃ disvā nāgayoniyaṃ abhiramasīti pucchi. so nābhiramāmīti āha. tena hi padumuttarassa bhagavato dānaṃ datvā imasmiṃ V.3.206 ṭhāne patthanaṃ karohi, ubho sukhaṃ vasissāmāti. nāgarājā satthāraṃ nimantetvā bhikkhusatasahassaparivārassa bhagavato sattāhaṃ mahādānaṃ dadamāno padumuttarassa dasabalassa puttaṃ uparevataṃ nāma sāmaṇeraṃ disvā sattame divase buddhappamukhassa saṅghassa dibbavatthāni datvā sāmaṇerassa ṭhānantaraṃ patthesi. bhagavā anāgataṃ oloketvā — “anāgate gotamassa nāma buddhassa putto rāhulakumāro bhavissatī”ti disvā “samijjhissati te patthanā”ti kathesi. nāgarājā tamatthaṃ sakkassa kathesi.

Trong số hai vị gia trưởng thì một vị mong muốn (hóa sanh) vào cõi của vua trời Sakka (sau khi thân hoại mạng chung) đã hóa sanh trở thành vua trời Sakka. Một người mong muốn (hóa sanh) vào cõi của rồng (sau khi thân hoại mạng chung) cũng đã hóa sanh trở thành Long vương tên Pālita. Vua trời Sakka nhìn thấy Long vương đến nơi trú ẩn của mình mới hỏi rằng: ngài hoan hỷ về sự sanh (trở thành) loài rồng chăng? vị ấy đáp rằng: tôi không hoan hỷ. Vua trời Sakka nói rằng nếu vậy vị ngài hãy cúng dường vật phẩm đến đức Thế Tôn Padumuttama rồi thực hiện sự mong muốn ở tại chỗ này, chúng ta cả 2 sẽ sống an lạc. Long vương thỉnh mời bậc Đạo Sư đến (thực hiện) đại bố thí suốt 7 ngày đến đức Thế Tôn có một trăm nghìn vị Tỳ khưu làm tùy tùng, sau khi nhìn thấy vị Sa-di con trai của đấng Thập Lực Padumuttama tên Uparevata vào ngày thứ bảy đã cúng dường thiên y đến chúng Tăng có đức Phật đứng đầu đã mong muốn đạt được vị trí của vị Sa-di. Đức Thế Tôn đã xem xét thời vị lai thấy rằng : “vị ấy sẽ trở thành hoàng tử Rāhula con trai của đức Phật Gotama vào thời vị lai” đã nói rằng: “ước muốn của ông sẽ thành tựu.” Long vương đã nói ý nghĩa ấy cùng vua trời Sakka.

sakko tassa vacanaṃ sutvā tatheva sattāhaṃ dānaṃ datvā bhinnaṃ raṭṭhaṃ sandhāretuṃ pāletuṃ samatthakule nibbattitvā saddhāpabbajitaṃ raṭṭhapālaṃ nāma kulaputtaṃ disvā — “ahampi anāgate lokasmiṃ tumhādise buddhe uppanne bhinnaṃ raṭṭhaṃ sandhāretuṃ pāletuṃ samatthakule nibbattitvā ayaṃ kulaputto viya saddhāpabbajito raṭṭhapālo nāma bhaveyyan”ti patthanamakāsi. satthā samijjhanakabhāvaṃ ñatvā imaṃ gāthamāha —

Sau khi nghe vua trời Sakka cũng đã cúng dường lễ vật suốt bảy ngày như vậy tương tự, nhìn thấy thiện nam tử tên là Raṭṭhapāla vị bảo vệ đất nước bị chia cắt, đã xuất gia nhờ đức tin, nên đã phát nguyện rằng: – “vào thời vị lai khi một vị Phật như ngài xuất hiện trên thế gian, ngay trong khi tôi được hạ sanh vào dòng dõi có khả năng bảo vệ đất nước bị chia cắt, sẽ có tên là Raṭṭhapāla, vị xuất gia với đức tin giống như thiện nam tử này.” Bậc Đạo Sư biết được ý nguyện này của vị ấy sẽ thành tựu đã nói lên kệ ngôn này:

sarājikaṃ M.3.201 P.3.290 cātuvaṇṇaṃ, posetuṃ yaṃ pahossati.

raṭṭhapālakulaṃ nāma, tattha jāyissate ayan”ti. —

evaṃ padumuttarasammāsambuddhakāle tassetaṃ nāmaṃ uppannanti veditabbaṃ.

Gia đình nào gọi là gia đình Raṭṭhapāla sẽ có mặt để chăm sóc bốn giai cấp cùng với đức vua thì thiện nam tử này sẽ hạ sanh vào gia đình đó.

Nên biết ý cái tên này của ngài Raṭṭhapāla được xuất hiện vào thời kỳ bậc Chánh đẳng Chánh giác Padumuttara như vậy.

etadahosīti kiṃ ahosi? yathā yathā khotiādi. tatrāyaṃ saṅkhepakathā — ahaṃ kho yena yena kāraṇena bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmi, tena tena me upaparikkhato evaṃ hoti — “yadetaṃ sikkhattayabrahmacariyaṃ ekadivasampi akhaṇḍaṃ katvā carimakacittaṃ pāpetabbatāya ekantaparipuṇṇaṃ caritabbaṃ, ekadivasampi ca kilesamalena amalīnaṃ katvā carimakacittaṃ pāpetabbatāya ekantaparisuddhaṃ, saṅkhalikhitaṃ vilikhitasaṅkhasadisaṃ dhotasaṅkhasappaṭibhāgaṃ katvā caritabbaṃ, nayidaṃ sukaraṃ agāraṃ ajjhāvasatā agāramajjhe vasantena ekantaparipuṇṇaṃ … pe … carituṃ, yaṃnūnāhaṃ kesañca massuñca ohāretvā kāsāyarasapītatāya kāsāyāni brahmacariyaṃ carantānaṃ anucchavikāni vatthāni acchādetvā agārasmā nikkhamitvā anagāriyaṃ pabbajeyyan”ti.

Etadahosi: suy nghĩ điều gì? yathā yathā kho: bằng cách gì? v.v, đã có rồi. Lời nói vắn tắt này như sau – Ta biết được toàn diện các Pháp mà đức Thế Tôn thuyết giảng với bất kỳ nhân nào cũng là điều ta đã suy xét cẩn trọng với nhân đó như vậy – “Phạm hạnh là 3 học giới này đây ta nên thực hành hoàn toàn đầy đủ trọn vẹn do đã thực hành không đứt đoạn dù chỉ một ngày đạt đến carimakacitta (tâm cuối cùng của bậc lậu tận) và nên thực hành hoàn toàn thanh tịnh tựa như vỏ óc được đánh bóng, như vỏ óc đã được chà rửa, như thể vỏ óc được tẩy rửa, do đã làm cho không có vết nhơ bởi vết nhơ là phiền não dù chỉ trong một ngày rồi đạt đến tâm cuối cùng của bậc lậu tận. nayidaṃ sukaraṃ agāraṃ ajjhāvasatā (việc mà người tại gia…thật không dễ gì thực hành): Phạm hạnh ấy mà người sống đời sống gia đình thực hành một cách đầy đủ trọn vẹn…thực hành thật không dễ dàng, vậy thì ta nên cạo bỏ râu và tóc, mặc y phục thích hợp đối với người thực hành Phạm hạnh, gọi là y cà sa do được nhuộm từ vỏ hoặc lỗi cây, đã rời khỏi nhà xuất gia sống đời sống không nhà.

acirapakkantesu thullakoṭṭhikesu brāhmaṇagahapatikesu yena bhagavā tenupasaṅkamīti raṭṭhapālo anuṭṭhitesu V.3.207 tesu na bhagavantaṃ pabbajjaṃ yāci. kasmā? tatthassa P.3.291 bahū ñātisālohitā mittāmaccā santi, te — “tvaṃ mātāpitūnaṃ ekaputtako, na labbhā tayā pabbajitun”ti bāhāyampi gahetvā ākaḍḍheyyuṃ, tato pabbajjāya antarāyo bhavissatīti saheva parisāya uṭṭhahitvā thokaṃ gantvā puna kenaci sarīrakiccalesena nivattitvā bhagavantaṃ upasaṅkamma pabbajjaṃ yāci. tena vuttaṃ — “atha kho raṭṭhapālo kulaputto acirapakkantesu thullakoṭṭhikesu … pe … pabbājetu maṃ bhagavā”ti. bhagavā pana yasmā rāhulakumārassa pabbajitato pabhuti mātāpitūhi ananuññātaṃ puttaṃ na pabbājeti, tasmā naṃ pucchi anuññātosi pana tvaṃ, raṭṭhapāla, mātāpitūhi … pe … pabbajjāyāti.

acirapakkantesu thullakoṭṭhikesu brāhmaṇagahapatikesu yena bhagavā tenupasaṅkami (khi những Bà-la-môn và người gia chủ trong xứ thullakoṭṭhika rời đi không bao lâu liền đi đến yết kiến đức Thế Tôn): khi những Bà-la-môn và người gia chủ ấy vẫn chưa đứng dậy thì thiện nam tử Raṭṭhapāla cũng không xin xuất gia từ đức Thế Tôn. Tại sao? Bởi bạn bè thân hữu, bà con huyết thống của vị ấy ở nơi đó có quá nhiều, họ nói rằng: “ngài là đứa con duy nhất của mẹ cha, ngài không nên xuất gia” đã nắm lấy vị ấy ở tay rồi lôi ra, từ đó việc xuất gia cũng sẽ trở thành là sự chướng ngại, vị ấy đứng dậy cùng với hội chúng một chút, sau đó quay trở lại viện cớ rằng có một số phận sự liên quan đến cơ thể, rồi đi đến gặp đức Thế Tôn xin xuất gia. Vì thế ngài đã nói rằng – “lúc bấy giờ thiện nam từ khi hội chúng xứ thullakoṭṭhika rời đi không bao lâu … xin đức Thế Tôn cho con được xuất gia”. Hơn nữa, khởi sự từ Hoàng tử Rāhula xuất gia đức Thế Tôn không xuất gia đối với những đứa con mà cha mẹ không cho phép, bởi thế mới hỏi vị ấy rằng: Nhưng này Raṭṭhapāla, con có được cha mẹ bằng lòng cho xuất gia chưa?

295. ammatātāti ettha ammāti mātaraṃ ālapati, tātāti pitaraṃ. ekaputtakoti ekova puttako, añño koci jeṭṭho vā kaniṭṭho vā natthi. ettha ca ekaputtoti vattabbe anukampāvasena ekaputtakoti vuttaṃ. piyoti pītijanako. manāpoti manavaḍḍhanako. sukhedhitoti M.3.202 sukhena edhito, sukhasaṃvaḍḍhitoti attho. sukhaparibhatoti sukhena paribhato, jātakālato pabhuti dhātīhi aṅkato aṅkaṃ āharitvā dhāriyamāno assakarathakādīhi bālakīḷanakehi kīḷayamāno sādurasabhojanaṃ bhojayamāno sukhena parihaṭo. na tvaṃ, tāta raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsīti tvaṃ P.3.292, tāta raṭṭhapāla appamattakampi kalabhāgaṃ dukkhassa na jānāsi na sarasīti attho.

Ammatātā ở đây Raṭṭhapāla gọi mẹ là amma, gọi cha là tāta. Ekaputtako: chỉ có một đứa con duy nhất, không có một đứa con nào khác anh hoặc em. Và ở đây cũng nên nói rằng ‘đưa con trai một’ cũng nói rằng ‘đứa con trai độc nhất’ do mãnh lực lòng trắc ẩn. Piyo: khởi lên sự vui thích. Manāpo: tăng trưởng ý. Sukhedhito: được an trú trong sự an lạc, tức là tăng trưởng sự an lạc. Sukhaparibhato: được nuôi dưỡng trong sự an lạc. Kể từ lúc chào đời vị ấy có vú nuôi ẵm bồng không ngơi tay, chơi những đồ chơi của trẻ như xe ngựa nhỏ v.v, được nuôi dưỡng từ những loại thức ăn có vị thơm ngon gọi là nuôi dưỡng bằng sự an lạc. na tvaṃ, tāta raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi (này con thân yêu Raṭṭhapāla, con không biết gì về đau khổ): có nghĩa là này con thân yêu, con không biết, không nhớ được phần chia của một góc của sự đau khổ dầu chỉ một chút ít.

maraṇenapi te mayaṃ akāmakā vinā bhavissāmāti sacepi tava amhesu jīvamānesu maraṇaṃ bhaveyya, tena te maraṇenapi mayaṃ akāmakā anicchakā na attano ruciyā vinā bhavissāma, tayā viyogaṃ pāpuṇissāmāti attho. kiṃ pana mayaṃ tanti evaṃ sante kiṃ pana kiṃ nāma taṃ kāraṇaṃ, yena mayaṃ taṃ jīvantaṃ anujānissāma. atha vā kiṃ pana mayaṃ tanti kena pana kāraṇena mayaṃ taṃ jīvantaṃ anujānissāmāti evamettha attho daṭṭhabbo.

maraṇenapi te mayaṃ akāmakā vinā bhavissāma (Dẫu cho con có chết, chúng ta còn không muốn rời xa con): Dẫu cho, nếu như con có thể chết đi khi chúng ta vẫn còn sống, chỉ có sự chết thì mẹ và cha không sẵn lòng, không ước muốn, không ưa thích bản thân đành phải (miễn cưỡng) xa con hoặc sẽ đi đến sự ly biệt con. kiṃ pana mayaṃ taṃ (huống chi trong lúc con đang còn sống): vậy thì lý do gì? lý do mà chúng tôi sẽ bằng lòng khi con vẫn còn sống gọi là gì? hơn nữa nên hiểu ý nghĩa trong câu ‘huống chi trong lúc con đang còn sống’ như vầy, với lý do gì chúng tôi sẽ bằng lòng khi con vẫn còn sống.

296. tatthevāti yattha naṃ ṭhitaṃ mātāpitaro nānujāniṃsu, tattheva ṭhāne. anantarahitāyāti kenaci attharaṇena anatthatāya. paricārehīti gandhabbanaṭanāṭakādīni paccupaṭṭhapetvā tattha sahāyakehi saddhiṃ yathāsukhaṃ indriyāni cārehi sañcārehi, ito cito ca upanehīti vuttaṃ hoti. atha vā paricārehīti gandhabbanaṭanāṭakādīni paccupaṭṭhapetvā sahāyakehi saddhiṃ V.3.208 laḷa upalaḷa rama, kīḷassūtipi vuttaṃ hoti. kāme paribhuñjantoti attano puttadārehi saddhiṃ bhoge bhuñjanto. puññāni karontoti buddhañca dhammañca saṅghañca ārabbha dānappadānādīni sugatimaggasaṃsodhakāni kusalakammāni karonto. tuṇhī ahosīti kathānuppabandhavicchedanatthaṃ nirālāpasallāpo ahosi.

296. Tatthevā (ngay tại chỗ này): ở chỗ mẹ và cha không cho phép con được duy trì sự sống, chính ngay tại chỗ đó. Anantarahitāyā (không có miếng trải lót): không cần thiết bất cứ tấm trải lót gì. Paricārehi (hãy chơi đùa): được săn sóc phục vụ bởi những nhạc công, kích sĩ và vũ công v.v, làm thỏa mãn bản thân một cách thoải mái cùng với những người bạn ở nơi đó, tức là đi đến chỗ này chỗ kia. Hơn nữa, paricārehi (hãy chơi đùa): được săn sóc phục vụ bởi những nhạc công, kích sĩ và vũ công v.v, hân hoan, vui vẻ chơi đùa với các bạn. kāme paribhuñjanto (trong khi thọ hưởng các dục): Trong khi thọ hưởng cùng với vợ và con của mình. puññāni karonto (trong khi làm các điều phước thiện): liên quan đến đức Phật, Giáo Pháp và chư Tăng, tạo các thiện nghiệp rửa sạch đạo lộ đi đến thiên giới, chẳng hạn như bố thí cúng dường v.v, tuṇhī ahosi (con có thể thỏa thích): không nói chuyện một cách thân mật nhằm mục đích cắt đứt lời nói tiếp theo.

athassa mātāpitaro tikkhattuṃ P.3.293 vatvā paṭivacanampi alabhamānā sahāyake pakkosāpetvā “esa vo sahāyako pabbajitukāmo, nivāretha nan”ti āhaṃsu. tepi taṃ upasaṅkamitvā tikkhattuṃ avocuṃ, tesampi tuṇhī ahosi. tena vuttaṃ — atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa sahāyakā … pe … tuṇhī ahosīti. athassa sahāyakānaṃ tikkhattuṃ vatvā etadahosi — “sace ayaṃ pabbajjaṃ alabhamāno marissati, na koci guṇo M.3.203 labbhati. pabbajitaṃ pana naṃ mātāpitaropi kālena kālaṃ passissanti, mayampi passissāma, pabbajjāpi ca nāmesā bhāriyā, divase divase mattikāpattaṃ gahetvā piṇḍāya caritabbaṃ, ekaseyyaṃ ekabhattaṃ brahmacariyaṃ atidukkaraṃ, ayañca sukhumālo nāgarikajātiyo, so taṃ carituṃ asakkonto puna idheva āgamissati, handassa mātāpitaro anujānāpessāmā”ti. te tathā akaṃsu. mātāpitaropi naṃ “pabbajitena ca pana te mātāpitaro uddassetabbā”ti imaṃ katikaṃ katvā anujāniṃsu. tena vuttaṃ — “atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa sahāyakā yena raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro … pe … anuññātosi mātāpitūhi … pe … uddassetabbā”ti. tattha uddassetabbāti uddhaṃ dassetabbā, yathā taṃ kālena kālaṃ passanti, evaṃ āgantvā attānaṃ dassetabbā.

Khi ấy mẹ và cha của vị ấy đã nói đến ba lần nhưng vẫn không nhận được dầu chỉ một câu trả lời, liền cho gọi những người bạn thân đến nói rằng: bạn yêu quý của các con có ước muốn xuất gia, hãy ngăn cản bạn ấy lại”. Ngay cả những người bạn ấy sau khi đi vào gặp vị ấy cũng nói cả 3 lần. Dẫu cho những người bạn ấy (nói) vị ấy cũng im lặng. Vì thế ngài đã nói rằng: Khi ấy những người bạn của thiện nam tử Raṭṭhapāla … cũng giữ im lặng. Khi ấy những người bạn cũng suy nghĩ như vậy – “Nếu người bạn này không được xuất gia (vị ấy) sẽ chết, ta cũng sẽ không có được lợi ích gì? Nhưng nếu vị ấy xuất gia thì mẹ cha (của vị ấy) thỉnh thoảng sẽ được nhìn thấy vị ấy, ngay cả chúng ta cũng sẽ nhìn thấy vị ấy, thông thường việc xuất gia là việc hệ trọng, vị ấy sẽ ôm bình bát đi trì bình khất thực mỗi ngày, Phạm hạnh ngủ một mình, ăn một bữa, vô cùng khó khăn, bạn của tôi này có thân hình mảnh mai được sanh ra ở thành thị, vị ấy khi không thể thực hành Phạm hạnh đó được cũng sẽ đi đến ngay tại chỗ này, thế nên ta sẽ khiến mẹ và cha của vị ấy bằng lòng.” Những người bạn ấy đã làm như vậy. Ngay cả mẹ và cha đã thực hiện điều thỏa thuận này “khi đã xuất gia, cần phải thăm viếng mẹ cha” mới bằng lòng. Vì thế ngài đã nói – “Khi ấy những người bạn của thiện nam tử Raṭṭhapāla đi đến cha mẹ thiện nam tử Ratthapala … cha mẹ bạn đã bằng lòng cho phép được xuất gia … cần phải về thăm cha mẹ.” Ở đó ‘cần phải về thăm cha mẹ’ cần phải đến trình diện bản thân sao cho bố mẹ có thể thỉnh thoảng nhìn thấy.

299. balaṃ gahetvāti sappāyabhojanāni bhuñjanto ucchādanādīhi ca kāyaṃ pariharanto kāyabalaṃ janetvā mātāpitaro vanditvā assumukhaṃ ñātiparivaṭṭaṃ pahāya yena bhagavā tenupasaṅkami … pe … pabbājetu maṃ, bhante, bhagavāti. bhagavā samīpe ṭhitaṃ aññataraṃ bhikkhuṃ P.3.294 āmantesi — “tena hi bhikkhu raṭṭhapālaṃ pabbājehi ceva upasampādehi cā”ti. sādhu, bhanteti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā raṭṭhapālaṃ kulaputtaṃ jinadattiyaṃ saddhivihārikaṃ laddhā pabbājesi ceva upasampādesi ca. tena vuttaṃ — “alattha kho raṭṭhapālo kulaputto bhagavato santike pabbajjaṃ, alattha upasampadan”ti.

balaṃ gahetvā (sau khi phục hồi lại sức lực): trong khi thọ dụng vật thực thích hợp, chăm sóc thân thể bằng việc kỳ cọ v.v, khởi lên sức mạnh, đảnh lễ mẹ và cha, từ bỏ thân bằng quyến thuộc với một khuôn mặt đầm đìa nước mắt đi đến yết kiến đức Thế Tôn … xin đức Thế Tôn xuất gia cho con, kính bạch ngài. Đức Thế Tôn cho gọi một vị Tỳ khưu đứng ở gần, truyền lệnh cho vị Tỳ khưu nếu như vậy – “Ông hãy cho Raṭṭhapāla xuất gia và thọ cụ túc giới. Vị Tỳ khưu ấy nhận lãnh Phật ngôn”. Thật tốt lành, thưa ngài, thiện nam tử tên là Raṭṭhapāla được bậc Chiến Thắng ban người đệ tử cho xuất gia và thọ cụ túc giới. Vì thế ngài đã nói – “Và thiện nam tử Raṭṭhapāla được xuất gia ở trú xứ của Thế Tôn, và được thọ cụ túc giới”.

pahitatto V.3.209 viharantoti dvādasa saṃvaccharāni evaṃ viharanto. neyyapuggalo hi ayamāyasmā, tasmā puññavā abhinīhārasampannopi samāno “ajja ajjeva arahattan”ti samaṇadhammaṃ karontopi dvādasame vasse arahattaṃ pāpuṇi.

pahitatto viharanto (có tâm vững chắc): trong khi sống như vậy (thời hạn) 12 năm. Thật vậy, hạng người này là hạng người cần được dẫn dắt có phước báu ngay trong khi thành tựu với phước cũ cũng cần phải thực hành Sa-môn Pháp với sự chắc chắn rằng: “ngày hôm nay, chính ngày hôm này vị A-ra-hán” vào năm thứ 12 đã chứng đắc quả vị A-ra-hán.

yena bhagavā tenupasaṅkamīti mayhaṃ mātāpitaro pabbajjaṃ anujānamānā — “tayā kālena kālaṃ āgantvā amhākaṃ dassanaṃ dātabban”ti vatvā anujāniṃsu, dukkarakārikā kho pana mātāpitaro, ahañca yenajjhāsayena pabbajito, so me matthakaṃ patto, idāni bhagavantaṃ āpucchitvā attānaṃ M.3.204 mātāpitūnaṃ dassessāmīti cintetvā āpucchitukāmo upasaṅkami. manasākāsīti “kiṃ nu kho raṭṭhapāle gate koci upaddavo bhavissatī”ti manasi akāsi. tato “bhavissatī”ti ñatvā “sakkhissati nu kho raṭṭhapālo taṃ madditun”ti olokento tassa arahattasampattiṃ disvā “sakkhissatī”ti aññāsi. tena vuttaṃ — yathā bhagavā aññāsi … pe … kālaṃ maññasīti.

yena bhagavā tenupasaṅkami (đến đi gặp đức Thế Tôn): Trưởng lão nghĩ rằng mẹ và cha của ta đã bằng lòng cho xuất gia, (vị ấy) đã nói rằng – “thỉnh thoảng con cần phải viếng thăm (mẹ cha)” đã xin phép, mẹ và cha là người đã làm điều khó làm, ta đã xuất gia với căn tánh nào, căn tánh ấy nằm vượt ngoài tầm hiểu biết của ta, bây giờ ta sẽ từ biệt đức Thế Tôn để đi viếng mẹ và cha, mong muốn nói từ giã mới đi đến gặp. manasākāsi (tác ý): Đức Thế Tôn đã tác ý “khi Raṭṭhapāla đi rồi liệu sẽ có bất kỳ trở ngại gì hay không? sau khi biết đã xem xét rằng “Raṭṭhapāla sẽ có thể đập tan trở ngại ấy hay chăng?” đã thấy Raṭṭhapāla thành tựu quả vị A-ra-hán cũng biết được rằng “sẽ có thể”. Bởi thế đã nói rằng – “Khi Thế Tôn được biết rõ … con hãy làm những gì con nghĩ là hợp thời.”

migacīreti evaṃnāmake uyyāne. tañhi raññā — “akāle sampattapabbajitānaṃ dinnameva idaṃ, yathāsukhaṃ paribhuñjantū”ti evamanuññātameva ahosi, tasmā thero — “mama āgatabhāvaṃ mātāpitūnaṃ ārocessāmi, te me pādadhovanauṇhodakapādamakkhanatelādīni P.3.295 pesissantī”ti cittampi anuppādetvā uyyānameva pāvisi. piṇḍāya pāvisīti dutiyadivase pāvisi.

Migacīre: Vườn thượng uyển có tên như vậy. Vườn thượng uyển ấy đức vua đã ban cho những vị xuất gia đến trái mùa, hãy sử dụng vườn thượng uyển này tùy theo ý muốn.” chính (đức vua) đã cho phép như vậy, bởi thế trưởng lão không khởi lên thậm chí suy nghĩ rằng – “Ta sẽ nói với mẹ và cha rằng ta đã đến rồi mẹ và cha ấy sẽ tắm gội rửa chân, dầu thoa chân v.v, cho ta, rồi đi đến vườn thượng uyển ấy.” piṇḍāya pāvisi (đi khất thực): đi khất thực vào ngày thứ 2.

majjhimāyāti sattadvārakoṭṭhakassa gharassa majjhime dvārakoṭṭhake. ullikhāpetīti kappakena kese paharāpeti. etadavocāti — “ime samaṇakā amhākaṃ piyaputtakaṃ pabbājetvā corānaṃ hatthe nikkhipitvā viya ekadivasampi na dassāpenti, evaṃ pharusakārakā ete puna imaṃ ṭhānaṃ upasaṅkamitabbaṃ maññanti, ettova nikaḍḍhitabbā ete”ti cintetvā etaṃ “imehi muṇḍakehī”tiādivacanaṃ avoca. ñātidāsīti ñātakānaṃ dāsī. ābhidosikanti pārivāsikaṃ ekarattātikkantaṃ pūtibhūtaṃ. tatthāyaṃ padattho — pūtibhāvadosena abhibhūtoti abhidoso, abhidosova ābhidosiko. ekarattātikkantasseva nāmasaññā esā yadidaṃ ābhidosikoti, taṃ ābhidosikaṃ. kummāsanti yavakummāsaṃ.

majjhimāya (ở giữa): ở cánh cổng lớn giữa ngôi nhà có 7 cánh cổng lớn. Ullikhāpeti: đang gội đầu bởi người thợ cạo. Etadavocā (đã nói rằng): người cha nghĩ rằng những Sa-môn này khiến cho đứa con yêu duy nhất của ta xuất gia, ta không nhìn thấy dù chỉ một ngày giống như giao vào tay bọn cướp, những Sa-môn này hành động một cách tàn nhẫn như vậy, vẫn nghĩ rằng nơi này có thể ghé đến nữa, có thể kéo đi khỏi nơi này, đã nói lời như sau: “chính những Sa-môn đầu trọc này”. Ñātidāsī (người nữ tỳ): người nữ tỳ của quyến thuộc. Ābhidosikaṃ (thức ăn bị ôi thiu): thức ăn để qua đêm, thức ăn đã qua một đêm rồi trở nên ôi thiu. Trong câu đó có ý nghĩa của câu như này – chiều tối hôm qua do để qua đêm, sự ôi thiu đã xâm lấn, (thức ăn) để qua đêm cũng chính là (thức ăn) để cách đêm. Đây là tên gọi của món cháo đã để cách đêm, là đã qua một đêm, là món cháo đã để qua đêm đó. Kummāsaṃ: Món cháo được nấu bằng gạo nếp.

chaḍḍetukāmā hotīti yasmā antamaso dāsakammakārānaṃ gorūpānampi aparibhogāraho, tasmā naṃ kacavaraṃ viya bahi chaḍḍetukāmā V.3.210 hoti. sacetanti sace etaṃ. bhaginīti ariyavohārena attano dhātiṃ ñātidāsiṃ ālapati. chaḍḍanīyadhammanti chaḍḍetabbasabhāvaṃ. idaṃ vuttaṃ hoti — “bhagini etaṃ sace bahi chaḍḍanīyadhammaṃ nissaṭṭhapariggahaṃ, idha me patte ākirāhī”ti. kiṃ pana evaṃ vattuṃ labbhati P.3.296, viññatti vā payuttavācā vā na hotīti. na hoti. kasmā? nissaṭṭhapariggahattā. yañhi chaḍḍanīyadhammaṃ nissaṭṭhapariggahaṃ, yattha sāmikā anālayā honti, taṃ sabbaṃ “detha āharatha M.3.205 ākirathā”ti vattuṃ vaṭṭati. teneva hi ayamāyasmā aggāriyavaṃsiko samānopi evamāha.

chaḍḍetukāmā hoti (muốn mang đi đổ bỏ): suy xét cho cùng thậm chí những người nô lệ, người lao động thậm chỉ những con bò cùng không nên ăn, vì thế người nữ tỳ muốn đổ bổ món cháo đó ra bên ngoài như rác rưởi. Sacetaṃ tách từ thành sace etaṃ. Bà chị: Trưởng lão gọi người nữ tỳ của quyến thuộc vú nuôi của mình bằng thánh ngữ (ariyavohāra). Chaḍḍanīyadhammaṃ (cần phải quăng đổ đồ ăn): tính chất chỉ đáng được quăng bỏ. Điều này ngài đã nói rằng: “này bà chị nếu cần phải quăng bỏ đồ ăn này ở bên ngoài không được giữ lại, bà hãy đổ hết vào bình bát của ta.” Tại sao trưởng lão lại nói như vậy? không phải là việc xin hay nói giống như xin chăng? Không phải? Vì sao? Bởi vì đã từ bỏ không giữ lấy. Thật vậy, đồ vật nào đáng bị quăng bỏ vị ấy từ bỏ không giữ lấy, chủ nhân không còn quyến luyến vào đồ vật ấy nên nói rằng “hãy mang toàn bộ đồ vật đó, hãy đổ vào bình bát này.” Chính nguyên nhân ấy tôn giả Raṭṭhapāla này là vị đứng vào dòng dõi của các bậc Thánh cao thượng nên đã nói như vậy.

hatthānanti bhikkhāgahaṇatthaṃ pattaṃ upanāmayato maṇibandhato pabhuti dvinnampi hatthānaṃ. pādānanti nivāsanantato paṭṭhāya dvinnampi pādānaṃ. sarassāti sace taṃ bhaginīti vācaṃ nicchārayato sarassa ca. nimittaṃ aggahesīti hatthapiṭṭhiādīni olokayamānā — “puttassa me raṭṭhapālassa viya suvaṇṇakacchapapiṭṭhisadisā imā hatthapādapiṭṭhiyo, haritālavaṭṭiyo viya suvaṭṭitā aṅguliyo, madhuro saro”ti gihikāle sallakkhitapubbaṃ ākāraṃ aggahesi sañjāni sallakkhesi. tassa hāyasmato dvādasavassāni araññāvāsañceva piṇḍiyālopabhojanañca paribhuñjantassa aññādiso sarīravaṇṇo ahosi, tena naṃ sā ñātidāsī disvāva na sañjāni, nimittaṃ pana aggahesīti.

Hatthānaṃ (bằng đôi tay): cả hai tay từ cổ tay của trưởng lão vị ôm bình bát để thọ nhận vật thực khất thực. Pādānaṃ (bằng đôi chân): thậm chí đôi bàn chân từ mép y nội. Sarassa (giọng nói): âm thanh được thốt ra lời rằng này chị gái nếu món cháo đó v.v. Nimittaṃ aggahesi (nhận diện được các tướng): người nữ tỳ khi xem xét mu bàn tay v.v, đã nắm bắt nhớ được “xác định biểu hiện đã từng xác định khi ngài còn sống đời sống tại gia rằng: “Mu bàn tay và bàn chân này tương tự như mai rùa vàng, ngón tay tròn trịa như hình xoắn ốc, âm giọng ngọt ngào giống như Raṭṭhapāla con trai của ta.” Khi ngài Raṭṭhapāla ấy sống trong rừng đến 12 năm và thọ dụng vật thực một ngày một bữa (nên) màu da của cơ thể thay đổi. Vì thế người nữ tỳ của thân quyến khi nhìn thấy trưởng lão mới không thể nhớ ra được, chỉ có thể nhận diện qua tướng.

300. raṭṭhapālassa mātaraṃ etadavocāti therassa aṅgapaccaṅgāni saṇṭhāpetvā thaññaṃ pāyetvā saṃvaḍḍhitadhātīpi samānā pabbajitvā mahākhīṇāsavabhāvappattena sāmiputtena saddhiṃ — “tvaṃ nu kho, me bhante, putto raṭṭhapālo”tiādivacanaṃ vattuṃ avisahantī vegena gharaṃ pavisitvā raṭṭhapālassa mātaraṃ etadavoca. yaggheti ārocanatthe nipāto. sace P.3.297 je saccanti ettha jeti ālapane nipāto. evañhi tasmiṃ dese dāsijanaṃ ālapanti, tasmā “tvañhi, bhoti dāsi, sace saccaṃ bhaṇasī”ti evamettha attho daṭṭhabbo.

300. raṭṭhapālassa mātaraṃ etadavocā (Người nữ tỳ liền đi đến người mẹ của Tôn giả Ratthapala, sau khi đến nói với người mẹ của Tôn giả Ratthapala): ngay cả những vú nuôi chăm sóc các chi phần lớn nhỏ của trưởng lão cho uống sữa, nuôi nấng đến trưởng thành, cũng không thể nói với con trai vị đã xuất gia đạt đến trạng thái bậc Đại lậu tận v.v, “có phải ngài Raṭṭhapāla? con trai của ta” liền vội chạy vào nhà nói lời này với mẹ của Raṭṭhapāla. Yagghe chỉ là một phân từ được sử dụng với ý nghĩa nói thuật lại. Từ ‘je’ trong cụm từ ‘sace je saccaṃ’ là phân từ sử dụng với ý nghĩa ‘gọi lại’. Thật vậy, mọi người gọi người hầu nữ, người hầu nam trong xứ sở ấy ấy như thế, vì thế nên biết ý nghĩa trong câu đó như vầy: “Tỳ nữ thân mến, nếu ngươi nói đúng sự thật v.v.”

upasaṅkamīti kasmā upasaṅkami? mahākule itthiyo bahi nikkhamantā garahaṃ pāpuṇanti, idañca accāyikakiccaṃ, seṭṭhissa naṃ ārocessāmīti cinteti. tasmā upasaṅkami. aññataraṃ kuṭṭamūlanti tasmiṃ kira dese dānapatīnaṃ gharesu sālā honti, āsanāni cettha paññattāni honti, upaṭṭhāpitaṃ udakakañjiyaṃ. tattha pabbajitā piṇḍāya caritvā nisīditvā bhuñjanti V.3.211. sace icchanti, dānapatīnampi santakaṃ gaṇhanti. tasmā tampi aññatarassa kulassa īdisāya sālāya aññataraṃ kuṭṭamūlanti veditabbaṃ. na hi pabbajitā kapaṇamanussā viya asāruppe ṭhāne nisīditvā bhuñjantīti.

Upasaṅkami: Tại sao lại đi vào? Nàng nghĩ rằng những người nữ trong gia đình to lớn khi đi ra bên ngoài sẽ bị khiển trách, đây là chuyện cấp bách, tôi sẽ nói chuyện này với trưởng giả, vì thế đã đi vào. aññataraṃ kuṭṭamūlaṃ (ngồi dựa vào một bức tường): ở nơi đó có một sāḷa gần nhà của những người bố thí. Ở sālā đó họ sắp đặt chỗ ngồi sẵn nước uống và nước cháo họ cũng chuẩn bị sẵn ở trong sālā ấy, những bậc xuất gia đi sau khi đi khất thực đã ngồi thọ dụng vật thực (ở đây). Nếu (những vị xuất gia) mong muốn, có thế lấy đồ vật thậm chí đồ vật của những người bố thí. Vì thế ở chỗ đó nên biết rằng: gần bức tường của một sālā như vậy của một gia đình. Thật sự những bậc xuất gia không ngồi thọ dụng vật thực ở vị trí không thích hợp giống như là người ăn xin.

atthi M.3.206 nāma tātāti ettha atthīti vijjamānatthe, nāmāti pucchanatthe maññanatthe vā nipāto. idañhi vuttaṃ hoti — atthi nu kho, tāta raṭṭhapāla, amhākaṃ dhanaṃ, nanu mayaṃ niddhanāti vattabbā, yesaṃ no tvaṃ īdise ṭhāne nisīditvā ābhidosikaṃ kummāsaṃ paribhuñjissasi. tathā atthi nu kho, tāta raṭṭhapāla, amhākaṃ jīvitaṃ, nanu mayaṃ matāti vattabbā, yesaṃ no tvaṃ īdise ṭhāne nisīditvā ābhidosikaṃ kummāsaṃ paribhuñjissasi. tathā atthi maññe, tāta raṭṭhapāla, tava abbhantare sāsanaṃ nissāya paṭiladdho samaṇaguṇo, yaṃ tvaṃ subhojanarasasaṃvaḍḍhitopi imaṃ jigucchaneyyaṃ ābhidosikaṃ kummāsaṃ amatamiva nibbikāro paribhuñjissasīti. so pana gahapati dukkhābhitunnatāya etamatthaṃ paripuṇṇaṃ katvā vattumasakkonto — “atthi nāma, tāta raṭṭhapāla, ābhidosikaṃ kummāsaṃ paribhuñjissasī”ti ettakameva avaca.

Từ ‘atthi’ trong cụm từ ‘atthi nāma tāta’ này được sử dụng với ý nghĩa ‘có / tồn tại / hiện hữu’ nāma là phân từ được sử dụng với ý nghĩa ‘hỏi’ hoặc ‘sự tưởng tượng’. Bởi vậy, điều này đã được nói như sau – người cha có thể nói rằng, ông đã ngồi ở nơi như thế này, thọ dụng món cháo để qua đêm của (nhà) ta, này con thân yêu Raṭṭhapāla, chúng ta có tài sản chớ không phải không có tài sản. Người cha có thể nói rằng: con đã ngồi ở nơi như thế này, thọ dụng món cháo để qua đêm của (nhà) ta, chúng ta vẫn còn sống chớ không phải đã chết. Hơn nữa, con dù được nuôi dưỡng trưởng thành bằng những vị thức ăn thượng hạng, không khuyết tật, thọ dụng cháo để qua đêm ghê tởm như thế này đây như thọ dụng cao lương mỹ vị, này con thân yêu Raṭṭhapāla, ân đức là Sa-môn nương nhờ Giáo Pháp dính chặt bên trong của con, có thể tồn tại. Người cư sĩ không thể nói ý nghĩa này một cách đầy đủ do bị khổ đau lấn át (cho nên) chỉ nói được chừng ấy rằng: “này con thân yêu Raṭṭhapāla, có phải chăng con sẽ thọ dụng món cháo để qua đêm?”.

akkharacintakā panettha idaṃ lakkhaṇaṃ vadanti — anokappanāmarisanatthavasenetaṃ P.3.298 atthisadde upapade “paribhuñjissasī”ti anāgatavacanaṃ kataṃ. tassāyamattho — “atthi nāma … pe … paribhuñjissasi, idaṃ paccakkhampi ahaṃ na saddahāmi na marisayāmī”ti. idaṃ ettakaṃ vacanaṃ gahapati therassa pattamukhavaṭṭiyaṃ gahetvā ṭhitakova kathesi. theropi pitari pattamukhavaṭṭiyaṃ gahetvā ṭhiteyeva taṃ pūtikummāsaṃ paribhuñji sunakhavantasadisaṃ pūtikukkuṭaṇḍamiva bhinnaṭṭhāne pūtikaṃ vāyantaṃ. puthujjanena kira tathārūpaṃ kummāsaṃ paribhuñjituṃ na sakkā. thero pana ariyiddhiyaṃ ṭhatvā dibbojaṃ amatarasaṃ paribhuñjamāno viya paribhuñjitvā dhamakaraṇena udakaṃ gahetvā pattañca mukhañca hatthapāde ca dhovitvā kuto no gahapatītiādimāha.

Trong trường hợp này nhà lý luận ngôn ngữ đã nói đặc điểm này rằng: ngài đã tạo từ ngữ ở thì vị lại “paribhuñjissasi (sẽ thọ dụng)” gần từ “atthi (có)” này với ý nghĩa không trọn vẹn theo việc xác định của bản thân. Lời đó có ý nghĩa như sau – “có phải chăng…con thọ dụng món cháo đã để qua đêm? Mặc dù ta đa nhìn thấy tận mắt cũng không thể tin, không thể chịu đựng được.” Người gia chủ nắm lấy miệng bình bát của trưởng lão chỉ nói lên được chừng ấy lời. Trong khi người cha đứng cầm lấy miệng bát đợi ở đó chính trưởng lão cũng thọ dụng món cháo ôi thối ấy, đã bốc mùi thối rữa ở chỗ vị phân hủy y như mùi trứng thối, cũng chẳng khác gì với mùi xác chó. Được biết rằng Phàm nhân không thể nào thọ dụng món cháo như thế đó, tuy nhiên trưởng lão đã vững trú bằng thần thông của bậc thánh, thọ dụng tương tự như với việc thọ dụng hương vị bất tử dưỡng chất của cõi trời, nhận lấy nước bằng bình lọc nước, rửa bình bát, súc miệng, tay và chân, đã nói lời như sau: kuto no gahapati (Thưa gia chủ, chỗ nào là nhà của chúng tôi, những người xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?)

tattha kuto noti kuto nu. neva dānanti deyyadhammavasena neva dānaṃ alatthamha. na paccakkhānanti “kiṃ, tāta raṭṭhapāla, kacci te khamanīyaṃ, kaccisi appakilamathena āgato, na tāva tāta gehe bhattaṃ sampādiyatī”ti evaṃ paṭisanthāravasena paccakkhānampi na alatthamha. kasmā pana thero evamāha? pitu anuggahena. evaṃ kirassa ahosi — “yathā esa maṃ vadati V.3.212, aññepi pabbajite evaṃ vadati maññe. buddhasāsane ca pattantare padumaṃ viya bhasmāchanno aggi viya pheggupaṭicchanno candanasāro viya suttikāpaṭicchannaṃ muttaratanaṃ viya valāhakapaṭicchanno P.3.299 candimā viya mādisānaṃ M.3.207 paṭicchannaguṇānaṃ bhikkhūnaṃ anto natthi, tesupi na evarūpaṃ vacanaṃ pavattessati, saṃvare ṭhassatī”ti anuggahena evamāha.

Ở đó, Kuto no: ở chỗ nào? neva dānaṃ: không thọ nhận bố thí với những vật thí. na paccakkhānaṃ (không nhận được lời từ chối): không nhận được dầu chỉ một lời chối từ với sự tiếp đãi ân cần như vậy “này con thân yêu Raṭṭhapāla, con có kham nhẫn được chăng? con đi đến có ít mệt nhọc không? Con không thọ dụng vật thực trước ở nhà sao? Tại sao trưởng lão lại nói như vậy? Bởi vì để trợ giúp người cha. Được biết rằng như vầy – “người cha nói cùng ta như thế nào, thì sẽ nói cùng với những vị xuất gia khác cũng thế đó, trưởng lão nghĩ như thế. Trong Phật Giáo bên trong của những vị Tỳ khưu che đậy đức hạnh như ta, giống như hoa sen ở giữa những chiếc lá, giống như đốm lửa bị tro tàn che phủ, giống như lỗi trầm bị bao bọc bởi lớp vỏ cây, giống như viên ngọc quý bị đất che phủ, giống như mặt trăng bị bao phủ bởi những đám mây thì không có, lời nói bằng hình thức như vậy sẽ diễn ra trong những vị Tỳ khưu ấy, người cha cũng sẽ được vững trú trong sự thu thúc.” (vị ấy) đã nói như vậy đề nhiếp phục.

ehi tātāti tāta tuyhaṃ gharaṃ mā hotu, ehi gharaṃ gamissāmāti vadati. alanti thero ukkaṭṭhaekāsanikatāya paṭikkhipanto evamāha. adhivāsesīti thero pana pakatiyā ukkaṭṭhasapadānacāriko svātanāyabhikkhaṃ nāma nādhivāseti, mātu anuggahena pana adhivāsesi. mātu kirassa theraṃ anussaritvā mahāsoko uppajji, rodaneneva pakkakkhi viya jātā, tasmā thero “sacāhaṃ taṃ apassitvā gamissāmi, hadayampissā phāleyyā”ti anuggahena adhivāsesi. kārāpetvāti ekaṃ hiraññassa, ekaṃ suvaṇṇassāti dve puñje kārāpetvā. kīvamahantā pana puñjā ahesunti. yathā orato ṭhito puriso pārato ṭhitaṃ majjhimappamāṇaṃ purisaṃ na passati, evaṃmahantā.

ehi tāta (đến đây con thân yêu): người gia chủ nói rằng này con yêu nhà của con không có sao, hãy đến chúng ta sẽ cùng nhau đi về nhà. Alaṃ (đừng): Trưởng lão khi từ chối lời nói như vậy bởi vì là người thọ trì hạnh chỉ ăn một lần trong ngày bậc thượng. Adhivāsesi (hãy nhận lời): hơn nữa trưởng lão thông thường là vị thọ trì đi khất thực tuần tự theo từng nhà bậc thượng, không thọ nhận vật thực để thọ dụng vào ngày hôm sau, hơn nữa (vị ấy) đã chấp nhận vì lòng bi mẫn đối với người mẹ. Được biết rằng người mẹ của trưởng lão tưởng nhớ đến trưởng lão đã vô cùng buồn rầu, than khóc đến nỗi mắt sưng húp và thâm quầng. Bởi thế trưởng lão nghĩ rằng “Nếu như ta không đến thăm viếng mẹ, quả tim của bà có thể vỡ tan” nên đã chấp nhận vì lòng bi mẫn. Kārāpetvā (đã cho làm): đã cho chất thành 2 đống là một đống vàng và một đống bạc. Đống tài sản to lớn như thế nào? To lớn đến nỗi một người đứng ở bên này không thể nhìn thấy một người to lớn đứng ở bên kia.

301. idaṃ te tātāti kahāpaṇapuñjañca suvaṇṇapuñjañca dassento āha. mattikanti mātito āgataṃ, idaṃ te mātāmahiyā mātu imaṃ gehaṃ āgacchantiyā gandhamālādīnaṃ atthāya dinnaṃ dhananti attho. aññaṃ pettikaṃ aññaṃ pitāmahanti yaṃ pana te pitu ca pitāmahānañca santakaṃ, taṃ aññaṃyeva, nihitañca payuttañca ativiya bahu. ettha ca “pitāmahan”ti taddhitalopaṃ katvā vuttanti veditabbaṃ. “petāmahan”ti vā pāṭho.

Người cha khi đưa ra đống đồng tiền kahāpaṇa và đống vàng miếng đã nói rằng “Này con thân yêu Raṭṭhapāla, đây là tài sản của riêng cha”. Mattikaṃ: đây là phần tài sản của mẹ. có nghĩa là phần tài sản này là tài sản của bà ngoại của con, khi mẹ đến ở nhà này thì bà ngoại đã cho phần của cải vì mục đích mua hương thơm và tràng hoa v.v. aññaṃ pettikaṃ aññaṃ pitāmahaṃ (kia là phần của cha, còn kia là phần của ông nội): Phần tài sản nào của cha và ông nội của thi phần tài sản đó được cất giữ và được sử dụng làm những việc khác nhiều vô số kể. Và ở đây ‘pitāmahaṃ’ nên biết rằng được (thuộc về ngữ pháp) taddhitalopa (đệ nhị chuyển hóa ngữ và xóa bỏ chữ). hoặc Pāḷī ‘petāmahaṃ’ cũng có. Sakkā, tāta raṭṭhapāla (này con thân yêu Raṭṭhapāla, con có thể…): này con thân yêu Raṭṭhapāla không phải chỉ xuất gia mới có thể tạo phước, ngay cả người cư sĩ tại gia hưởng thụ tài sản cũng có thể được vững trú nơi Tam Bảo, thọ trì 5 học giới, tạo phước chẳng hạn như bố thí v.v, nhiều hơn nữa, hãy đến này con thân yêu, hãy từ bỏ … hãy tạo phước.

Sakkā P.3.300 tatonidānanti dhanahetu dhanapaccayā. taṃ taṃ dhanaṃ rakkhantassa ca rājādīnaṃ vasena dhanaparikkhayaṃ pāpuṇantassa kassaci uppajjamānasokādayo sandhāya evamāha. evaṃ vutte seṭṭhi gahapati — “ahaṃ imaṃ uppabbājessāmīti ānesiṃ, so dāni me dhammakathaṃ kātuṃ āraddho, ayaṃ na me vacanaṃ karissatī”ti uṭṭhāya gantvā assa orodhānaṃ dvāraṃ vivarāpetvā — “ayaṃ vo sāmiko, gacchatha yaṃ kiñci katvā naṃ gaṇhituṃ vāyamathā”ti uyyojesi. suvaye ṭhitā nāṭakitthiyo nikkhamitvā theraṃ parivārayiṃsu M.3.208, tāsu dve jeṭṭhakitthiyo sandhāya purāṇadutiyikātiādi vuttaṃ. paccekaṃ pādesu gahetvāti ekekamhi pāde naṃ gahetvā.

Tatonidānaṃ: do nguyên nhân tài sản, do duyên tài sản. Trưởng lão đã nói như vậy liên quan đến sự buồn rầu v.v, khởi lên nơi người gìn giữ tài sản đó đó và người đi đến sự mất mát tài sản do quyền lực của đức vua v.v. Trưởng lão đã nói như vậy vị trưởng giả gia chủ nghĩ rằng: “Ta đem tài sản này đến với mục đích khiến cho đứa con yêu quý này hoàn tục, nhưng bây giờ đứa con ấy quay trở lại bắt đầu thuyết dạy Giáo Pháp cho ta, đứa con này chắc chắn sẽ không thực hiện theo lời nói của ta” (ngay sau đó) liền đứng dậy đã mở cánh cửa phòng của người nữ của đứa con đó, gởi người đi nói rằng: “người này là chồng (các con), các con hãy đi, làm bất cứ điều gì (có thể) có gắng bắt lấy người (chồng) cho bằng được.” Các nữ vũ công sống trong ba độ tuổi đã đi ra vây xung quanh trưởng lão. Ngài đã nói rằng purāṇadutiyikā v.v, muốn nói đến 2 người nữ đứng đầu trong số các nàng vũ công ấy. paccekaṃ pādesu gahetvā (mỗi người đã ôm lấy hai bàn chân): mỗi người một bên đã ôm lấy trưởng lão ở đôi bàn chân.

kīdisā V.3.213 nāma tā ayyaputta accharāyoti kasmā evamāhaṃsu? tadā kira sambahule khattiyakumārepi brāhmaṇakumārepi seṭṭhiputtepi mahāsampattiyo pahāya pabbajante disvā pabbajjāguṇaṃ ajānantā kathaṃ samuṭṭhāpenti “kasmā ete pabbajantī”ti. athaññe vadanti “devaccharādevanāṭakānaṃ kāraṇā”ti. sā kathā vitthārikā ahosi. taṃ gahetvā sabbā evamāhaṃsu. atha thero paṭikkhipanto na kho mayaṃ bhaginītiādimāha. samudācaratīti P.3.301 voharati vadati. tattheva mucchitā papatiṃsūti taṃ bhaginivādena samudācarantaṃ disvā “mayaṃ ajja āgamissati, ajja āgamissatī”ti dvādasa vassāni bahi na nikkhantā, etaṃ nissāya no dārakā na laddhā, yesaṃ ānubhāvena jīveyyāma, ito camhā parihīnā aññato ca. ayaṃ loko nāma attanova cintesi, tasmā tāpi “idāni mayaṃ anāthā jātā”ti attanova cintayamānā — “anatthiko dāni amhehi ayaṃ, so amhe pajāpatiyo samānā attanā saddhiṃ ekamātukucchiyā sayitadārikā viya maññatī”ti samuppannabalavasokā hutvā tasmiṃyeva padese mucchitā papatiṃsu, patitāti attho.

Công tử ơi, các nàng tiên nữ ấy như thế nào? Tại sao những vũ công ấy lại nói như vậy? Được biết rằng khi ấy tất cả mọi người đã nhìn thấy những Hoàng tử Sát-đế-lỵ, cả những Bà-la-môn trẻ, thậm chí con của những trưởng giả phần đông đều từ bỏ gia tài đồ sộ để đi xuất gia mới đặt câu hỏi rằng: “tại sao những người này lại xuất gia?” Khi ấy những người khác nói rằng: “Nguyên nhân là do các thiên nữ xinh đẹp, nữ thần xinh đẹp”. Những lời nói đó được lan rộng khắp nơi. Tất cả các nàng vũ công ghi nhớ những lời nói ấy mới nói như vậy. Trưởng lão khi bác bỏ đã nói rằng: “Này chị gái, chúng tôi không phải thực hành Phạm hạnh vì những nàng thiên nữ xinh đẹp”. Samudācarati: xưng hô, nói. tattheva mucchitā papatiṃsu (nên đã ngất đi rồi ngã xuống ngay tại chỗ ấy): Các vũ công nhìn thấy trưởng lão xưng hô với ta bằng tiếng chị gái (mới nghĩ) chúng tôi đã không đi ra đến 12 năm “hôm nay công tử quay trở về, hôm nay công tử quay trở về”, chúng tôi có thể sống nhờ oai lực của những đứa con trai nào? chúng tôi nương nhờ ngài cũng không được những đứa con ấy, chúng tôi bị mất mát bên này lẫn bên kia. Gọi thế giới này là của ta chăng? vì thế các nàng vũ công ấy trong khi suy nghĩ cho chính mình “bây giờ chúng tôi không có nơi nương tựa, đã khởi lên sự đau buồn dữ dội” – “Bây giờ công tử này không cần đến chúng tôi, và chúng tôi cũng vẫn đang làm vợ, công tử rất có thể nghĩ (chúng ta) giống như đứa bé gái đang nằm trong bụng của một người mẹ cùng với chính mình” mới ngất đi rồi ngã xuống ngay tại chỗ ấy, có nghĩa là đã ngã xuống.

mā no viheṭhethāti mā amhe dhanaṃ dassetvā mātugāme ca uyyojetvā viheṭhayittha, vihesā hesā pabbajitānanti. kasmā evamāha? mātāpitūnaṃ anuggahena. so kira seṭṭhi — “pabbajitaliṅgaṃ nāma kiliṭṭhaṃ, pabbajjāvesaṃ hāretvā nhāyitvā tayo janā ekato bhuñjissāmā”ti maññamāno therassa bhikkhaṃ na deti. thero — “mādisassa khīṇāsavassa āhārantarāyaṃ katvā ete bahuṃ apuññaṃ pasaveyyun”ti tesaṃ anuggahena evamāha.

mā no viheṭhethā (chớ có quấy rầy chúng tôi): đừng đem tài sản và đưa những người nữ đến để quấy rầy chúng tôi nữa. Tại sao trưởng lão lại nói như vậy? Bởi vì muốn trợ giúp mẹ và cha. Được biết trưởng giả nghĩ rằng – “hình tướng vị xuất gia được xem là bị ô nhiễm, ta sẽ cởi bỏ hình tướng xuất gia ấy, cho tắm rửa, hưởng thụ cùng với 3 người” nên đã không cúng dường vật thực đến trưởng lão. Trưởng lão nghĩ rằng – “cha và mẹ này đã gây cẩn trở vật thực đến vị lậu tận như ta, có thể tạo ra tội lỗi trầm trọng hơn” đã nói như vậy với sự trợ giúp người mẹ và cha ấy.

302. gāthā abhāsīti gāthāyo abhāsi. tattha passāti santike ṭhitajanaṃ sandhāya vadati. cittanti cittavicittaṃ. bimbanti attabhāvaṃ. arukāyanti P.3.302 navannaṃ vaṇamukhānaṃ vasena vaṇakāyaṃ. samussitanti tīṇi aṭṭhisatāni navahi nhārusatehi bandhitvā navahi maṃsapesisatehi limpitvā samantato ussitaṃ. āturanti jarāturatāya rogāturatāya kilesāturatāya ca niccāturaṃ. bahusaṅkappanti paresaṃ uppannapatthanāsaṅkappehi bahusaṅkappaṃ M.3.209. itthīnañhi kāye purisānaṃ saṅkappā uppajjanti, tesaṃ kāye itthīnaṃ. susāne chaḍḍitakaḷevarabhūtampi cetaṃ kākakulalādayo patthayantiyevāti bahusaṅkappo nāma hoti. yassa natthi V.3.214 dhuvaṃ ṭhitīti yassa kāyassa māyāmarīcipheṇapiṇḍa udakapupphuḷādīnaṃ viya ekaṃseneva ṭhiti nāma natthi, bhijjanadhammatāva niyatā.

302. gāthā abhāsi: Đã nói lên bài kệ. Ở đó, passa (hãy nhìn): trưởng lão nói có liên quan đến người ở gần. Cittaṃ (được tạo thành): tuyệt mỹ với những thứ được duyên tạo thành. Bimbaṃ (cơ thể): tự ngã (attabhāvaṃ). Arukāyaṃ (nhóm vết thương): cả chín miệng vết thương. Samussitaṃ (có nhiều thành phần hợp lại): được buộc lại bằng 300 khúc xương, với 900 sợi gân trét tô với 900 miếng thịt được dựng lên toàn diện. Āturaṃ (bệnh hoạn): bệnh hoạn là thường bởi vì bệnh hoạn do già nua, bệnh hoạn do các căn bệnh, và bệnh hoạn do phiền não. Bahusaṅkappaṃ (có nhiều suy tư): có nhiều suy tư bởi sự suy tư là sự ước muốn sanh lên từ những xác thân khác. Quả thật, những người đàn ông khởi lên suy tư đối với thân xác của người nữ, những người nữ lại khởi lên suy tư đối với thân xác của những người đàn ông đó. Lại nữa, những con quạ và những con chó v.v, mong muốn xác thân ấy, thậm chí nơi những xác chết đã được quăng bỏ ở bãi tha ma, cho nên gọi là có nhiều suy tư. yassa natthi dhuvaṃ ṭhiti (thân này không kiên cố, bền vững): thân này không có sự kiên cố một cách trọn vẹn, tương tự như ảo ảnh sương mù, bong bóng nước, bọt nước v.v, bản chất sắc thân ấy phải đổ vỡ tan tành là chắc chắn.

tacena onaddhanti allamanussacammena onaddhaṃ. saha vatthebhi sobhatīti gandhādīhi maṇikuṇḍalehi ca cittakatampi rūpaṃ vatthehi saheva sobhati, vinā vatthehi jegucchaṃ hoti anolokanakkhamaṃ.

Tacena onaddhaṃ (được da bao bọc): được bao bọc bởi lớp da người tươi. saha vatthebhi sobhati (được xinh đẹp cùng với y phục): ngay cả thân thể được trang điểm xinh đẹp bằng hương thơm v.v, với đôi bông tai bằng ngọc quý (sẽ) xinh đẹp cùng với y phục được trang điểm nơi thân, ngoài trừ y phục dơ bẩn đáng gớm không nên nhìn

alattakakatāti alattakena rañjitā. cuṇṇakamakkhitanti sāsapakakkena mukhapīḷakādīni nīharitvā loṇamattikāya duṭṭhalohitaṃ viliyāpetvā tilapiṭṭhena lohitaṃ pasādetvā haliddiyā vaṇṇaṃ sampādetvā cuṇṇakagaṇḍikāya mukhaṃ paharanti, tenesa ativiya virocati. taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ.

Alattakakatā (được nhuộm với màu đỏ tươi): được nhuộm với màu đỏ tươi. Cuṇṇakamakkhitaṃ (được thoa với bột phấn): lấy mụn ở mặt ra bằng chiết xuất hạt mù tạt, lấy đất mặn để loại bỏ máu bẩn, lấy bột mè để làm sạch máu, lấy nghệ để cải thiện làn da, lấy bột mịn thoa lên mặt. Vì thế cơ thể ấy mới (trở nên) vô cừng xinh đẹp. Điều này ngài nói đề cập đến thân ấy.

aṭṭhāpadakatāti P.3.303 rasodakena makkhitvā nalāṭapariyante āvattanaparivatte katvā aṭṭhapadakaracanāya racitā. añjanīti añjananāḷikā.

Aṭṭhāpadakatā (được tạo thành 8 vòng): được bôi với thuốc nhuộm chải ra thành những lọn tròn ở trán (và) tạo thành tám lọn tóc. Añjanī (hộp thuốc nhỏ mắt): ống thuốc nhỏ mắt.

odahīti ṭhapesi. pāsanti vākarājālaṃ. nāsadāti na ghaṭṭayi. nivāpanti nivāpasutte vuttanivāpatiṇasadisabhojanaṃ. kandanteti viravamāne paridevamāne. imāya hi gāthāya thero mātāpitaro migaluddake viya katvā dassesi, avasesañātake migaluddakaparisaṃ viya, hiraññasuvaṇṇaṃ vākarājālaṃ viya, attanā bhuttabhojanaṃ nivāpatiṇaṃ viya, attānaṃ mahāmigaṃ viya katvā dassesi. yathā hi mahāmigo yāvadatthaṃ nivāpatiṇaṃ khāditvā pānīyaṃ pivitvā gīvaṃ ukkhipitvā disaṃ oloketvā “imaṃ nāma ṭhānaṃ gatassa sotthi bhavissatī”ti migaluddakānaṃ paridevantānaṃyeva vākaraṃ aghaṭṭayamānova uppatitvā araññaṃ pavisitvā ghanacchāyassa chattassa viya gumbassa heṭṭhā mandamandena vātena bījayamāno āgatamaggaṃ olokento tiṭṭhati, evameva thero imā gāthā bhāsitvā ākāseneva gantvā migacīre paccupaṭṭhāsi.

Odahi: đã đặt (lưới sập). Pāsaṃ: cái lưới làm bằng sợi gai dầu. Nāsadā: không chạm. Nivāpaṃ: Thức ăn như mồi nhử và cỏ được nói trong Kinh Nivāpa. Kandante: than van, khóc lóc. Thật vậy, trưởng lão thuyết giảng kệ điều mẹ cha đã làm giống như người thợ săn bằng kệ ngôn này, thân bằng quyến thuộc còn lại giống như tùy tùng của người thợ săn, tiền và vàng giống như cái lưới làm bằng sợi gai dầu, thức ăn mà bản thân thọ dụng giống như mồi nhử và cỏ, bản thân giống như con nai lớn. Được so sánh giống như con nai lớn nhai mồi và cỏ là vật thực tùy thích, đã uống nước, đã vươn cổ, quan sát đồ chúng, nghĩ rằng “ta đi đến nơi này sẽ an toàn” nhảy lên không chạm lưới bẫy của người thợ săn, vị đang than van khóc lóc, đi vào rừng, bị cơn gió nhẹ thổi ở phía bên dưới bụi cây tựa như cây lọng có bóng râm dày đặc, đứng quan sát con đường đã đi đến như thế nào, thì trưởng lão cũng như thế đó tương tự, sau khi nói kệ ngộn này (vị ấy) cũng bay lên trong hư không rồi xuất hiện ở vườn thượng uyển Migācāra.

kasmā pana thero ākāsena gatoti. pitā kirassa seṭṭhi sattasu dvārakoṭṭhakesu aggaḷaṃ V.3.215 dāpetvā malle āṇāpesi — “sace nikkhamitvā M.3.210 gacchati P.3.304, hatthapādesu naṃ gahetvā kāsāyāni haritvā gihivesaṃ gaṇhāpethā”ti. tasmā thero — “ete mādisaṃ mahākhīṇāsavaṃ hatthe vā pāde vā gahetvā apuññaṃ pasaveyyuṃ, taṃ nesaṃ mā ahosī”ti cintetvā ākāsena agamāsi. parasamuddavāsittherānaṃ pana — “ṭhitakova imā gāthā bhāsitvā vehāsaṃ abbhuggantvā rañño korabyassa migacīre paccupaṭṭhāsī”ti ayaṃ vācanāmaggoyeva.

Tại sao trưởng lão lại bay vào trong không trung? Được biết rằng người cha trưởng giả ấy đã làm song sắt ở cả 7 cánh cổng lớn, ra lệnh cho các đô vật rằng – “Nếu như trưởng lão đi ra khỏi, hãy chụp lấy tay và chân của trưởng lão cởi bỏ y ca sa cho trở thành hình tướng người cư sĩ.” Bởi thế trưởng lão nghĩ rằng: “mẹ và cha ấy chụp lấy tay và chân của vị các lậu đã cạn kiệt như ta có thể lãnh thọ tội lỗi trầm trọng, điều đó đừng xảy đến cho mẹ và cha (của ta)” (cho nên trưởng lão) đã bay vào hư không. Hơn nữa, trưởng lão xứ Rarasamuddara – “Đã đứng nói lên kệ ngôn này rồi bay vào hư không, hiện hữu ở vườn thượng uyển Migācira không đức vua Korabya” lộ trình lời nói này như thế.

303. migavoti tassa uyyānapālassa nāmaṃ. sodhentoti uyyānamaggaṃ samaṃ kāretvā antouyyāne tacchitabbayuttaṭṭhānāni tacchāpento sammajjitabbayuttāni ṭhānāni sammajjāpento vālukāokiraṇa-pupphavikiraṇa-puṇṇaghaṭaṭṭhapana-kadalikkhandhaṭhapanādīni ca karontoti attho. yena rājā korabyo tenupasaṅkamīti amhākaṃ rājā sadā imassa kulaputtassa vaṇṇaṃ kathesi, passitukāmo etaṃ, āgatabhāvaṃ panassa na jānāti, mahā kho panāyaṃ paṇṇākāro, gantvā rañño ārocessāmīti cintetvā yena rājā korabyo tenupasaṅkami.

303. Migavo là tên gọi của người giữ vườn thượng uyển ấy. Sodhento (dọn sạch sẽ) đã làm con đường đi đến vườn thượng uyển được bằng phẳng, cho đào nơi cần đào, cho quét dọn ở nơi cần quét dọn, và trải cát, rải hoa, đặt bình nước đầy, đặt cây chuối v.v, để ở bên trong vườn thường uyển. yena rājā korabyo tenupasaṅkami (người ấy liền đến gặp vua Korabya): Người giữ vườn nghĩ rằng đức vua của ta thường nói lời tán thán thiện nam tử này, có mong muốn được gặp (vị ấy) nhưng lại không biết rằng thiện nam tử ấy đã đến, vì thế món quà này là món quà vô cùng to lớn, ta sẽ tâu với đức vua nên mới đi gặp đức vua Korabya.

kittayamāno ahosīti so kira rājā theraṃ anussaritvā balamajjhepi nāṭakamajjhepi — “dukkaraṃ kataṃ kulaputtena tāva mahantaṃ sampattiṃ pahāya pabbajitvā punanivattitvā anapalokentenā”ti guṇaṃ kathesi, taṃ gahetvā ayaṃ evamāha. vissajjethāti P.3.305 vatvāti orodhamahāmattabalakāyādīsu yassa yaṃ anucchavikaṃ, tassa taṃ dāpetvāti attho. ussaṭāya ussaṭāyāti ussitāya ussitāya, mahāmattamahāraṭṭhikādīnaṃ vasena uggatuggatameva parisaṃ gahetvā upasaṅkamīti attho. idha bhavaṃ raṭṭhapālo hatthatthare nisīdatūti hatthattharo tanuko bahalapupphādiguṇaṃ katvā atthato abhilakkhito hoti, tādise anāpucchitvā nisīdituṃ na yuttanti maññamāno evamāha.

kittayamāno ahosi (ngài thường hay tán thán): được biết đức vua đã hồi tưởng đến trưởng lão ngay cả ở giữa binh lính, thậm chí ở giữ những vũ công, ngài đã nói đức hạnh (trưởng lão) rằng – “Vị thiện nam từ này từ bỏ gia tài đồ sộ như thế để xuất gia, sau khi quay trở lại (về nhà) cũng không hoan hỷ, (vị ấy) đã làm điều khó làm”. Đức vua Korabya đã nắm lấy điều này nên đã nói như vậy. vissajjethā’ti vatvā (sau khi nói…hãy phân phát…): Thứ nào thích hợp với người nào đối với những quan cận thần, các tướng quân và các binh lính v.v, hãy ban phát những thứ ấy cho những người đó. ussaṭāya ussaṭāyā: chỗ đông nghịt, chỗ đã chật ních. Đưa hội chúng đông đúc với các tướng quân, các quan đại thần v.v, đi đến. Đức vua trong khi suy nghĩ rằng: tấm thảm voi (tấm thảm được trải trên lưng voi) vẫn còn mỏng đã phủ thêm lớp bông hoa v.v, dày lên, xác định rõ bề rộng, không xin phép đã ngồi xuống ở nơi như thế ấy thật không thích hợp, đã nói như vầy “Ở đây xin mời Tôn giả Raṭṭhapāla ngồi xuống trên nệm voi.

304. pārijuññānīti pārijuññabhāvā parikkhayā. jiṇṇoti jarājiṇṇo. vuḍḍhoti vayovuḍḍho. mahallakoti jātimahallako. addhagatoti addhānaṃ atikkanto. vayoanuppattoti pacchimavayaṃ anuppatto. pabbajatīti dhuravihāraṃ gantvā bhikkhū vanditvā, — “bhante, mayā daharakāle M.3.211 bahuṃ kusalaṃ kataṃ, idāni mahallakomhi, mahallakassa cesā pabbajjā nāma, cetiyaṅgaṇaṃ sammajjitvā appaharitaṃ katvā jīvissāmi, pabbājetha maṃ, bhante,”ti kāruññaṃ uppādento V.3.216 yācati, therā anukampāya pabbājenti. taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. dutiyavārepi eseva nayo.

304. Pārijuññāni (sự suy vong): bản chất suy vong, sự hoại diệt. Jiṇṇo: già nua do sự già. Vuḍḍho: tăng trưởng do tuổi tác. Mahallako: già do sanh. Addhagato: đã đi qua các giai đoạn tuổi tác. Vayoanuppatto: đã đi đến thời kỳ lão niên. pabbajati (xuất gia): đi đến tịnh xá ở gần đó đảnh lễ vị Tỳ khưu, để ngài khởi lên lòng từ mẫn khẩn cầu rằng: “bạch ngài, khi tôi còn trẻ, tôi đã tạo rất nhiều việc thiện, bây giờ tôi đã già, việc xuất già này gọi là của người già, tôi sẽ an trú sau khi quét dọn sân Bảo điện sạch sẽ cây cỏ, xin ngài hãy cho tôi được xuất gia, thưa ngài”. Trương lão cũng cho xuất gia với lòng từ mẫn. Ngài nói lời này đề cập đến việc xuất gia khi tuổi già. Ngay cả trong phần thứ hai cũng có phương thức này tương tự.

appābādhoti arogo. appātaṅkoti P.3.306 niddukkho. samavepākiniyāti samavipācaniyā. gahaṇiyāti kammajatejodhātuyā. tattha yassa bhuttabhutto āhāro jīrati, yassa vā pana puṭabhattaṃ viya tatheva tiṭṭhati, ubhopete na samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgatā. yassa pana bhuttakāle bhattacchando uppajjateva, ayaṃ samavepākiniyā samannāgato. nātisītāya naccuṇhāyāti teneva kāraṇena nātisītāya naccuṇhāya. anupubbenāti rājāno vā harantītiādinā anukkamena. dutiyavāre rājabhayacorabhayachātakabhayādinā anukkamena.

Appābādho Vô bệnh. Appātaṅko: Không có khổ. Samavepākiniyā (tiêu hóa vật thực được điều hòa): tiêu hóa được cân bằng (phối hợp với Hỏa giới để thường xuyên tiêu hóa vật thực). Gahaṇiyā (Hỏa giới): Hỏa giới được sanh lên từ nghiệp. Vật thực của người nào đã thọ dụng được tiêu hóa, hoặc của người nào được thiết lập như thế giống như vật thực được gói được hội đủ bởi nguyên tố lửa được tiêu hóa thường xuyên, ở cả hai điều được nói. Còn người nào trong thời gian đã thọ dụng khởi lên ước muốn vật thực (thèm ăn), người này gọi là sự hội đủ bởi nguyên tố lửa để tiêu hóa tốt vật thực thường xuyên. nātisītāya naccuṇhāyā (không quá nóng mà cũng không quá lạnh): không quá nóng mà cũng không quá lạnh bởi lý do đó. Anupubbena (theo tuần tự): Theo tuần tự v.v, đức vua suy xét. Trong phần thứ hai cũng nên hiểu theo tuần tự chẳng hạn như sự sợ hãi từ vua, sự sợ hãi từ bọn cướp và sự sợ hãi do nạn đói kém.

305. dhammuddesā uddiṭṭhāti dhammaniddesā uddiṭṭhā. upaniyyatīti jarāmaraṇasantikaṃ gacchati, āyukkhayena vā tattha niyyati. addhuvoti dhuvaṭṭhānavirahito. atāṇoti tāyituṃ samatthena virahito. anabhissaroti asaraṇo abhisaritvā abhigantvā assāsetuṃ samatthena virahito. assakoti nissako sakabhaṇḍavirahito. sabbaṃ pahāya gamanīyanti sakabhaṇḍanti sallakkhitaṃ sabbaṃ pahāya lokena gantabbaṃ. taṇhādāsoti taṇhāya dāso.

305. dhammuddesā uddiṭṭhā (đã nêu lên bốn Pháp tóm lược): đã nêu lên Pháp để giảng giải. Upaniyyati (đi đến hủy diệt): đi đến gần sự già và sự chết, hoặc dẫn đến sự già và sự chết ấy với sự chấm dứt tuổi thọ. Addhuvo (không bền vững): loại bỏ việc được thiết lập vững chắc. Atāṇo (không có sự bảo vệ): loại bỏ khả năng được bảo vệ. Anabhissaro (không có chủ thể): không có nơi nương tựa, loại bỏ khả năng có nơi nương tựa cao thượng để làm cho nhẹ lòng. Assako (không có sở hữu chủ): không có của mình, loại bỏ những thứ thuộc về mình. sabbaṃ pahāya gamanīyaṃ (mọi thứ sẽ dứt bỏ và ra đi): Thế giới cần phải từ bỏ tất cả mọi thứ đã suy xét rằng là tài sản của mình. Taṇhādāso: là nô lệ của tham ái.

306. hatthisminti hatthisippe. katāvīti P.3.307 katakaraṇīyo, sikkhitasikkho paguṇasippoti attho. esa nayo sabbattha. ūrubalīti ūrubalasampanno. yassa hi phalakañca āvudhañca gahetvā parasenaṃ pavisitvā abhinnaṃ bhindato bhinnaṃ sandhārayato parahatthagataṃ rajjaṃ āharituṃ ūrubalaṃ atthi, ayaṃ ūrubalī nāma. bāhubalīti bāhubalasampanno. sesaṃ purimasadisameva. alamattoti samatthāttabhāvo.

306. hatthismi:có thiện nghệ về voi. Katāvī: việc làm đã hoàn thành, việc học đã hoàn mãn, có nghĩa là có nghề nghiệp khéo léo. Các câu cũng có cách thức này. Ūrubalī (bắp vế mạnh): thành tựu nhờ lực chân. Thật vậy, người nào có lực chân (có thể) cầm khiên và vũ khí tiến vào đội quân của kẻ địch, phá hủy những thứ chưa được phá hủy, gìn giữ những thứ đang bị phá hủy, và giành lại Vương vị đang nằm trong tay kẻ thù, người này được gọi là có sức mạnh của đôi chân. Bāhubalī (cánh tay mạnh): thành tựu nhờ lực cánh tay. Từ còn lại cũng tương tự cách thứ nhất. Alamatto: Có cơ thể đủ khả năng.

pariyodhāya vattissantīti uppannaṃ uppaddavaṃ odhāya avattharitvā vattissantīti sallakkhetvā gahitā.

pariyodhāya vattissanti: Sau khi suy xét đã nắm lấy rằng sẽ chế ngự nguy hiểm phát sanh diễn ra.

saṃvijjati M.3.212 kho, bho raṭṭhapāla, imasmiṃ rājakule pahūtaṃ hiraññasuvaṇṇanti idaṃ so rājā upari dhammuddesassa kāraṇaṃ āharanto āha.

Đức vua ấy lấy lý do của phần Pháp vắn tắt ở trên để nói rằng: “thưa ngài Raṭṭhapāla, có rất nhiều vàng thô và vàng khối v.v, ở trong gia đình vua chúa này được tồn tại”

athāparaṃ V.3.217 etadavocāti etaṃ “passāmi loke”tiādinā nayena catunnaṃ dhammuddesānaṃ anugītiṃ avoca.

athāparaṃ etadavocā (tôn giả Raṭṭhapāla đã giảng như vậy): tôn giả Raṭṭhapāla đã giảng tuần tự bốn Pháp vắn tắt theo phương thức sau: “Tôi nhìn thấy ở thế gian

307. tattha bhiyyova kāme abhipatthayantīti ekaṃ labhitvā dve patthayanti, dve labhitvā cattāroti evaṃ uttaruttari vatthukāmakilesakāme patthayantiyeva.

307. Ở đó, bhiyyova kāme abhipatthayanti (rồi mong mỏi các dục nhiều hơn nữa): mong muốn vật dục và phiền não dục nhiều hơn nữa như vầy có được một lại muốn có được hai, có được hai lại muốn có được bốn.

pasayhāti sapattagaṇaṃ abhibhavitvā. sasāgarantanti saddhiṃ sāgarantena. oraṃ samuddassāti yaṃ samuddassa orato sakaraṭṭhaṃ, tena atittarūpoti attho. na hatthīti na hi atthi.

Pasayhā (bằng vũ lực): đi xâm chiếm đất đai tái sản. Sasāgarantaṃ (tận cùng hải đảo): cùng với tận cùng hải đảo. oraṃ samuddassa (có vẻ không thỏa mãn): không thỏa mãn với vùng đất của chính mình có bờ biển làm ranh giới. na hatthi tách từ thành na hi atthi (không có…thỏa mãn).

aho vatā noti aho vata nu, ayameva vā pāṭho. amarāti P.3.308 cāhūti amaraṃ iti ca āhu. idaṃ vuttaṃ hoti — yaṃ mataṃ ñātī parivāretvā kandanti, taṃ — “aho vata amhākaṃ bhātā mato, putto mato”tiādīnipi vadanti.

aho vatā no: thân ôi! Chánh văn cũng tương tự ‘aho vata nu’. amarāti cāhu tách từ thành amaraṃ iti ca āhu (người ấy không bất tử). Ngài giải thích rằng thân bằng quyến thuộc ngã xuống, người chết, kẻ khóc than, mọi người đã nói lời này rằng: “Than ôi! anh của tôi chết, con của tôi đã chết”

phusanti phassanti maraṇaphassaṃ phusanti. tatheva phuṭṭhoti yathā bālo, dhīropi tatheva maraṇaphassena phuṭṭho, aphuṭṭho nāma natthi, ayaṃ pana viseso. bālo ca bālyā vadhitova setīti bālo bālabhāvena maraṇaphassaṃ āgamma vadhitova seti abhihatova sayati. akataṃ vata me kalyāṇantiādivippaṭisāravasena calati vedhati vipphandati. dhīro ca na vedhatīti dhīro sugatinimittaṃ passanto na vedhati na calati.

phusanti phassaṃ (chạm đến xúc): chạm đến xúc về cái chết. tatheva phuṭṭho (bị xúc chạm): người ngu như thế nào, thậm chí người sáng suốt cũng tương tự như thế đó bị chạm bởi xúc về cái chết, gọi là không bị xúc chạm không có. Ý nghĩa khác biệt có như thế. bālo ca bālyā vadhitova seti (Chính kẻ ngu dốt nằm dài tựa như bị đả thương vì sự ngu dốt): người ngu dốt đi đến xúc chạm về cái chết nằm dài tựa như bị đả thương, nằm dài tựa như bị thống trị do bản chất ngu dốt. Đấu tranh, run chuyển, dao động do tác động sự ân hận rằng: quả thật ta đã không tạo sự tốt đẹp. dhīro ca na vedhati (còn người sáng suốt không xao động): người sáng suốt nhìn thấy ấn tướng an vui cũng không rung chuyển, không dao động.

yāya vosānaṃ idhādhigacchatīti yāya paññāya imasmiṃ loke sabbakiccavosānaṃ arahattaṃ adhigacchati, sāva dhanato uttamatarā. abyositattāti apariyositattā, arahattapattiyā, abhāvenāti attho. bhavābhavesūti hīnappaṇītesu bhavesu.

yāya vosānaṃ idhādhigacchati (trí tuệ là nhân đưa đến cứu cánh ở thế gian này): nhờ vào trí tuệ nào mà chứng đạt A-ra-hán là sự kết thúc của tất cả mọi phận sự ở trong đời này thì trí tuệ ấy là tốt hơn tài sản. Abyositattā (do không có trí tuệ làm phương tiện đưa đến sự kết thúc): do chưa chấm dứt Phạm hạnh, tức là vẫn chưa chứng đắc A-ra-hán. Bhavābhavesū (Hữu và Phi hữu): ở trong các hữu thấp kém và cao sang.

upeti gabbhañca parañca lokanti tesu pāpaṃ karontesu yo koci satto paramparāya saṃsāraṃ āpajjitvā gabbhañca parañca lokaṃ upeti. tassappapaññoti tassa tādisassa appapaññassa añño appapañño abhisaddahanto.

upeti gabbhañca parañca lokaṃ (đi đến thai bào và thế giới khác): Khi những hạng người ấy tạo ác nghiệp, bất kể chúng sanh nào vướng vào vòng luân hồi theo tuần từ đi đến thai bào và thế giới khác. Tassappapañño (người không có trí tuệ): Kẻ thiếu trí khác lại tin tưởng kẻ thiếu trí như thế đó.

sakammunā V.3.218 M.3.213 haññatīti attanā katakammavasena “kasāhipi tāletī”tiādīhi kammakāraṇāhi haññati. pecca paramhi loketi ito gantvā paramhi apāyaloke.

Sakammunā haññati (bị hành hạ do việc làm của chính mình): bị hành hạ vì ảnh hưởng của nghiệp chẳng hạn như đánh đập bằng roi mây v.v, bởi mãnh lực nghiệp do chính mình. pecca paramhi loke (sau khi đi đến thế giới khác): Đi từ thế giới này sẽ bị hành hạ ở thế giới của khổ cảnh.

virūparūpenāti P.3.309 vividharūpena, nānāsabhāvenāti attho. kāmaguṇesūti diṭṭhadhammikasamparāyikesu sabbakāmaguṇesu ādīnavaṃ disvā. daharāti antamaso kalalamattabhāvaṃ upādāya taruṇā. vuḍḍhāti vassasatātikkantā. apaṇṇakaṃ sāmaññameva seyyoti aviruddhaṃ advajjhagāmiṃ ekantaniyyānikaṃ sāmaññameva “seyyo, uttaritarañca paṇītatarañcā”ti upadhāretvā pabbajitosmi mahārājāti. tasmā yaṃ tvaṃ vadasi — “kiṃ disvā vā sutvā vā”ti, idaṃ disvā ca sutvā ca pabbajitosmīti maṃ dhārehīti desanaṃ niṭṭhāpesīti.

virūparūpena: có hình dáng khác biệt, tức là có thực tính khác biệt. kāmaguṇesu (ở các loại dục): sau khi nhìn thấy sự tai hại trong sự trói buộc của các dục ở hiện tại và vị lai. Daharā: còn non trẻ, tận cùng của thể xác cũng chỉ là vũng bùn. Vuḍḍhā: hơn trăm tuổi. apaṇṇakaṃ sāmaññameva seyyo (chỉ riêng đời sống Sa-môn không lỗi lầm là tốt hơn): Đại vương, bần đạo xuất gia do đã khéo suy nghĩ rằng chỉ có quả của Sa-môn không thay đổi không chia rẽ làm hai, dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi hoàn toàn khổ đau, là Pháp tối thượng hơn, cao thượng hơn. Bởi thế, ngài đã nói lời nào “sau khi đã thấy, và sau khi đã nghe điều gì?” hãy ghi nhớ lời bần Tăng, bần Tăng đã nhìn thấy và đã nghe điều này nên mới xuất gia, (và) cũng kết thúc Pháp thoại.

Giải Thích Kinh Raṭṭhapāla Kết Thúc.