Kinh số 52 – Giải Thích Kinh Bát Thành

(Aṭṭhakanāgarasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Bát Thành

17. evaṃ me sutanti aṭṭhakanāgarasuttaṃ. tattha beluvagāmaketi vesāliyā dakkhiṇapasse avidūre beluvagāmako nāma atthi, taṃ gocaragāmaṃ katvāti attho. dasamoti so hi jātigottavasena ceva sārappattakulagaṇanāya ca dasame ṭhāne gaṇīyati, tenassa dasamotveva nāmaṃ jātaṃ. aṭṭhakanāgaroti aṭṭhakanagaravāsī. kukkuṭārāmoti kukkuṭaseṭṭhinā kārito ārāmo.

17. Kinh Bát Thành được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, beluvagāmake: Ở trong ngôi làng có tên là Veluva không xa ở phía Bắc của thành phố Vesālī, Trưởng lão Ānanda đã làm ngôi làng Veḷuva ấy trở thành ngôi làng nơi vị Tỳ khưu dễ dàng đi khất thực (gocaragāma). Dasama: gia chủ đó được xếp vào vị trí thứ 10 theo sanh chủng và dòng dõi, và theo cách tính đếm gia đình đã đạt đến lớn mạnh (giàu có), vì thế người gia chủ ấy được gọi là Dasama. Aṭṭhakanāgaro: người dân thành Aṭṭhakana. Kukkuṭārāmo: Hoa viên của trưởng giả Kukkuṭa kiến tạo.

18. tena bhagavatā … pe … akkhātoti ettha ayaṃ saṅkhepattho, yo so bhagavā samatiṃsa pāramiyo pūretvā sabbakilese bhañjitvā anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho, tena bhagavatā, tesaṃ tesaṃ sattānaṃ āsayānusayaṃ jānatā, hatthatale ṭhapitāamalakaṃ viya sabbaṃ ñeyyadhammaṃ passatā. apica pubbenivāsādīhi jānatā, dibbena cakkhunā passatā, tīhi vijjāhi chahi vā pana abhiññāhi jānatā, sabbattha appaṭihatena samantacakkhunā passatā, sabbadhammajānanasamatthāya paññāya jānatā, sabbasattānaṃ cakkhuvisayātītāni tirokuṭṭādigatānipi rūpāni ativisuddhena maṃsacakkhunā passatā, attahitasādhikāya samādhipadaṭṭhānāya paṭivedhapaññāya jānatā, parahitasādhikāya karuṇāpadaṭṭhānāya desanāpaññāya passatā, arīnaṃ hatattā paccayādīnañca arahattā arahatā, sammā sāmañca saccānaṃ buddhattā sammāsambuddhena. antarāyikadhamme vā jānatā, niyyānikadhamme passatā, kilesārīnaṃ hatattā arahatā, sāmaṃ sabbadhammānaṃ buddhattā sammāsambuddhenāti evaṃ catuvesārajjavasena catūhi kāraṇehi thomitena. atthi nu kho eko dhammo akkhātoti.

18. Trong Chánh văn Pāḷī tena bhagavatā … pe … akkhāto (do đức Thế Tôn… thuyết rằng) này ở đây có ý nghĩa vắn tắt (như sau), Đức Thế Tôn đó, đức Thế Tôn nào sau khi tròn đủ một cách đồng đều ba mươi pháp Ba-la-mật, đã bẽ gãy tất cả mọi phiền não, giác ngộ Vô thượng Toàn giác trí mà đức Thế Tôn đó, trong khi biết được khuynh hướng và căn tánh của tất cả chúng sanh, trong khi thấy được tất cả Pháp đáng được biết (ñeyyadhammaṃ) giống như trái me rừng đã được đặt trên lòng bàn tay. Hơn nữa, Ngài biết được nhờ túc mạng trí (trí tuệ nhớ lại vô số kiếp trong quá khứ), trong khi thấy được bằng thiên nhãn, hoặc là trong khi biết được bằng tam minh, hoặc 6 thắng trí, trong khi nhìn thấy được bằng nhục nhãn mà không bị ngăn chặn (bởi bất kỳ điều gì) trong tất cả các Pháp, trong khi biết bằng trí tuệ với khả năng nhận biết tất cả Pháp. Nhìn thấy tất cả sắc bên ngoài vách tường v.v, vượt ngoài tầm nhìn của tất cả chúng sanh với con mắt thịt vô cùng trong sáng, trong khi biết bằng tuệ thấu triệt (paṭivedhapaññā) thành tựu lợi ích phần Ngài, thấy bằng desanāpaññā có lòng bi mẫn làm nhân cận thành tựu lợi ích cho người khác, gọi là bậc A-ra-hán do trạng thái đã tiêu diệt mọi kẻ thù và do trạng thái đáng được cung kính cúng dường với bốn món vật dụng v.v. Còn gọi là Chánh đẳng Chánh giác do trạng thái đã giác ngộ Tứ Thánh Đế chân chánh và tự mình giác ngộ. Hơn nữa, trong khi biết những Pháp chướng ngại (những yếu tố làm chướng ngại sự chứng đắc Niết bàn), trong khi thấy những Pháp chướng ngại, là bậc Thánh A-ra-hán do trạng thái đã tiêu diệt mọi kẻ thù là phiền não, là bậc Chánh đẳng Chánh giác do trạng thái đã giác ngộ hoàn toàn tất cả Pháp bằng tự thân, Tóm lại, ngài được tán thán với bốn lý do tức là với bốn Pháp vô sở úy như vậy, đã nói rằng: “Có hay không một Pháp?”

19. abhisaṅkhatanti kataṃ uppāditaṃ. abhisañcetayitanti cetayitaṃ pakappitaṃ. so tattha ṭhitoti so tasmiṃ samathavipassanādhamme ṭhito. dhammarāgena dhammanandiyāti padadvayehi samathavipassanāsu chandarāgo vutto. samathavipassanāsu hi sabbena sabbaṃ chandarāgaṃ pariyādiyituṃ sakkonto arahā hoti, asakkonto anāgāmī hoti. so samathavipassanāsu chandarāgassa appahīnattā catutthajjhānacetanāya suddhāvāse nibbattati, ayaṃ ācariyānaṃ samānakathā.

Abhisaṅkhataṃ (dã được tạo tác): đã được tạo tác, đã làm sanh khởi. Abhisañcetayitaṃ (do suy tư tác thành): điều đã được suy tính. so tattha ṭhito (vị ấy được vững trú trong Pháp là Chỉ tịnh và Minh sát): gia chủ đó đã được vững trú trong Pháp là Chỉ tịnh và Minh sát. Dhammarāgena dhammanandiyā (do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này): Ngài thuyết mong muốn và luyến ái trong Chỉ tịnh và Minh sát, thật vậy hạng người khi có thể chế ngự mong muốn và luyến ái bằng mọi cách thức ở trong Chỉ tịnh và Minh sát (vị ấy) là bấc A-ra-hán, khi không thể cũng sẽ trở thành bậc Thánh A-na-hàm, (vị ấy) sẽ hóa sanh vào cõi Tịnh Cư thiên với tư tâm sở tương ưng với Tứ thiền do vẫn chưa từ bỏ mong muốn và ái luyến trong Chỉ tịnh và Minh sát. Đây là lời nói mà các thầy A-xà-lê đều đồng thuận.

vitaṇḍavādī panāha “teneva dhammarāgenāti vacanato akusalena suddhāvāse nibbattatī”ti so “suttaṃ āharā”ti vattabbo, addhā aññaṃ apassanto idameva āharissati, tato vattabbo “kiṃ panidaṃ suttaṃ neyyatthaṃ nītatthan”ti, addhā nītatthanti vakkhati. tato vattabbo — evaṃ sante anāgāmiphalatthikena samathavipassanāsu chandarāgo kattabbo bhavissati, chandarāge uppādite anāgāmiphalaṃ paṭividdhaṃ bhavissati “mā suttaṃ me laddhan”ti yaṃ vā taṃ vā dīpehi. pañhaṃ kathentena hi ācariyassa santike uggahetvā attharasaṃ paṭivijjhitvā kathetuṃ vaṭṭati, akusalena hi sagge, kusalena vā apāye paṭisandhi nāma natthi. vuttañhetaṃ bhagavatā —

Nhưng kẻ ngụy biện đã nói rằng: “Bậc Thánh A-na-hàm có sanh vào cõi Tịnh Cư thiên do nhờ bất thiện theo Chánh văn Pāḷī “teneva dhammarāgenā (do ái luyến Pháp…đó)” người đó nên bị nói rằng “hãy đem Kinh điển ra dẫn chứng” khi không nhìn thấy Chánh văn Pāḷī khác cũng sẽ lấy Chánh văn Pāḷī này để dẫn chứng, như thế họ có thể nói rằng: “Bài Kinh này có ý nghĩa cần được giải thích, hoặc có ý nghĩa đã được giải thích?” họ sẽ nói rằng: “Có ý nghĩa đã được Ngài giải thích” chắc chắn, từ đó họ có thể nói tiếp: “Nếu như vậy sự dính mặc do mãnh lực mong muốn và ái luyến trong Chỉ tịnh và Minh sát cũng sẽ trở thành phiền não mà vị tầm cẩu quả vị A-na-hàm nên được thực hiện, trong khi làm cho sanh khởi mong muốn và ái luyến cũng sẽ thấu triệt A-na-hàm Quả “Ngài đừng nói tắc trách (không suy xét) “Tôi có được bài Kinh này rồi”, vị giải đáp vấn đề đã được học tập trong trú xứ của bậc Thánh cho đến khi thấu triệt hương vị của lời nói (attharasaṃ) trước mới giải đáp vấn đề, bởi vì sự tái sanh vào Thiên giới bằng bất thiện hoặc (tái sanh) vào địa ngục bằng thiện (điều đó) không có. Vì thế đức Thế Tôn đã nói rằng –

na, bhikkhave, lobhajena kammena dosajena kammena mohajena kammena devā paññāyanti, manussā paññāyanti, yā vā panaññāpi kāci sugatiyo, atha kho, bhikkhave, lobhajena kammena dosajena kammena mohajena kammena nirayo paññāyati, tiracchānayoni paññāyati, pettivisayo paññāyati, yā vā panaññāpi kāci duggatiyo”ti —

Này chư Tỳ khưu, chư Thiên được biết đến, loài người được biết đến, không phải do nghiệp sanh lên bởi tham, do nghiệp sanh lên bởi sân, do nghiệp sanh lên bởi si, hoặc thậm chí bất cứ cảnh giới an vui nào khác. Quả thật, này các tỳ khưu, địa ngục được biết đến, loài bàng sanh được biết đến, thân phận ngạ quỷ được biết đến, do nghiệp sanh lên bởi tham, do nghiệp sanh lên bởi sân, do nghiệp sanh lên bởi si, hoặc thậm chí bất cứ cảnh giới khổ đau nào khác.”

evaṃ paññāpetabbo. sace sañjānāti sañjānātu, no ce sañjānāti, “gaccha pātova vihāraṃ pavisitvā yāguṃ pivāhī”ti uyyojetabbo.

Nên được hiểu như vậy, nếu như chấp nhận thì hãy chấp nhận, còn nếu như không chấp nhận thì nên đưa đi bằng lời nói sau: “Hãy vào chùa từ lúc sáng sớm rồi nước cháo!”

yathā ca pana imasmiṃ sutte, evaṃ mahāmālukyovādepi mahāsatipaṭṭhānepi kāyagatāsatisuttepi samathavipassanā kathitā. tattha imasmiṃ sutte samathavasena gacchatopi vipassanāvasena gacchatopi samathadhurameva dhuraṃ, mahāmālukyovāde vipassanāva dhuraṃ, mahāsatipaṭṭhānaṃ pana vipassanuttaraṃ nāma kathitaṃ, kāyagatāsatisuttaṃ samathuttaranti.

Ngài đã thuyết Chỉ tịnh và Minh sát trong bài Kinh Mahāmālukyovāda, bài Kinh Mahāsatipaṭṭhāna và Kinh Kāyagatāsati tương tự như trong bài Kinh này. Trong những bài Kinh đó thì trong bài Kinh này Đại đức Ānanda có ý muốn đề cập đến phận sự là chỉ riêng Minh sát dành cho vị Tỳ khưu tu tập cả hai phận sự là phận sự Chỉ tịnh và phận sự Minh sát. Trong bài Kinh Mahāmālukyovāda Ngài đề cập đến phận sự Minh sát. Còn trong bài Kinh Mahāsatipaṭṭhāna Ngài nói nhấn mạnh đến phận sự Minh sát. Trong bài Kinh Kāyagatāsati Ngài nói nhấn mạnh đến phận sự Chỉ tịnh.

ayaṃ kho gahapati … pe … ekadhammo akkhātoti ekadhammaṃ pucchitena ayampi ekadhammoti evaṃ pucchāvasena kathitattā ekādasapi dhammā ekadhammo nāma jāto. mahāsakuludāyisuttasmiñhi ekūnavīsati pabbāni paṭipadāvasena ekadhammo nāma jātāni, idha ekādasapucchāvasena ekadhammoti āgatāni. amatuppattiyatthena vā sabbānipi ekadhammoti vattuṃ vaṭṭati.

ayaṃ kho gahapati … pe … ekadhammo akkhāto (này gia chủ…một Pháp được nói đến): thậm chí mười một Pháp cũng gọi là một Pháp bởi khi bị hỏi đến một Pháp, Đại đức Ānanda trả lời thuận theo câu hỏi ‘đây là một Pháp’. Thật vậy trong bài Kinh Mahāsakuludāyi có đến mười chín câu hỏi tất cả đều được sắp xếp thành một Pháp theo đạo lộ thực hành (paṭipadā). Mười một Pháp này ở đây được xếp thành một Pháp theo câu hỏi. Hơn nữa có thể nói rằng: thậm chí toàn bộ (Pháp) cũng gọi là một Pháp với ý nghĩa khiến sanh khởi Pháp bất tử.

21. nidhimukhaṃ gavesantoti nidhiṃ pariyesanto. sakidevāti ekapayogena. kathaṃ pana ekapayogeneva ekādasannaṃ nidhīnaṃ adhigamo hotīti. idhekacco araññe nidhiṃ gavesamāno carati, tamenaṃ aññataro atthacarako disvā “kiṃ bho carasī”ti pucchati. so “jīvitavuttiṃ pariyesāmī”ti āha. itaro “tena hi samma āgaccha, etaṃ pāsāṇaṃ pavattehī”ti āha. so taṃ pavattetvā uparūpari ṭhapitā vā kucchiyā kucchiṃ āhacca ṭhitā vā ekādasa kumbhiyo passeyya, evaṃ ekapayogena ekādasannaṃ nidhīnaṃ adhigamo hoti.

nidhimukhaṃ gavesanto: tìm kiếm châu báu. Sakideva: với việc liên kết một lần duy nhất. (Hỏi) và việc được mười một loại châu báu với việc phối hợp một lần duy nhất có như thế nào? (Đáp) Một số người trên đời này lang thang tìm kiếm kho báu trong rừng, một người khác cũng tìm kiếm kho báu sau khi nhìn thấy người ấy rồi hỏi: ‘Này ông bạn, ông lang thang làm gì?’ vị ấy trả lời: ‘Tôi đi tìm kiếm châu báu để nuôi mạng sống. Một người khác nói: ‘Này bạn nếu vậy hãy đến lặt hòn đá đó lên.’ Sau khi vị ấy lật hòn đá đó lên thì thấy được mười một loại châu báu được đặt xen kẽ nhau hoặc được đặt theo hàng. Việc được mười một loại châu báu với việc nỗ lực cố gắng một lần duy nhất, có được như vậy.

ācariyadhanaṃ pariyesissantīti aññatitthiyā hi yassa santike sippaṃ uggaṇhanti, tassa sippuggahaṇato pure vā pacchā vā antarantare vā gehato nīharitvā dhanaṃ denti. yesaṃ gehe natthi, te ñātisabhāgato pariyesanti, tathā alabhamānā bhikkhampi caritvā dentiyeva. taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ.

ācariyadhanaṃ pariyesissanti (sẽ tìm kiếm châu báu để cúng dường cho vị thầy): cũng những du sĩ thuộc ngoại đạo được học nghề trong trú xứ của vị thầy nào, mang tài sản từ nhà dâng đến vị thầy trước, sau đó hoặc trong giai đoạn học về khoa học xã hội, người không có tài sản trong nhà phải đi tìm kiếm tài sản từ thân bằng quyến thuộc hoặc từ ở nơi người yêu mến, khi không có được như vậy cũng phải xin để họ cho, Ngài muốn đề cập đến tài sản đó mới nói lời này.

kimaṅgaṃ panāhanti bāhirakā tāva aniyyānikepi sāsane sippamattadāyakassa dhanaṃ pariyesanti; ahaṃ pana evaṃvidhe niyyānikasāsane ekādasavidhaṃ amatuppattipaṭipadaṃ desentassa ācariyassa pūjaṃ kiṃ na karissāmi, karissāmiyevāti vadati. paccekadussayugena acchādesīti ekamekassa bhikkhuno ekekaṃ dussayugamadāsīti attho. samudācāravacanaṃ panettha evarūpaṃ hoti, tasmā acchādesīti vuttaṃ. pañcasatavihāranti pañcasatagghanikaṃ paṇṇasālaṃ kāresīti attho. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

kimaṅgaṃ panāhaṃ (như tại sao…tôi): Trước hết, những người ngoài Tôn giáo (những ngoại đạo) tìm kiếm tài sản nhằm mục đích dâng cho thầy người chỉ chỉ dạy nghề nghiệp, trong giáo phái dầu không thoát khỏi từ khổ đau. Vậy tại sao tôi không thực hiện việc cúng dường đến thầy người thuyết giảng đạo lộ thực hành khiến sanh khởi 11 loại Pháp bất tử trong Tôn giáo dẫn thoát khỏi mọi khổ đau chứ? Vị ấy nói rằng: “Tôi sẽ thực hiện việc cúng dường ngay lập tức.” paccekadussayugena acchādesi (tặng cho mỗi Tỳ khưu mỗi vị một cặp y): Tôi đã cúng dường đến Tỳ khưu mỗi vị một cặp y. Ở trong trường hợp này lời nói thích hợp như thế này, cũng như vậy vì thế Ngài nói rằng ‘acchādeti (tặng cho…y phục)’. Pañcasatavihāraṃ: đã cho xây dựng gian nhà lá có giá trị năm trăm. Từ còn lại trong các câu đều đơn giản.

Giải Thích Kinh Bát Thành Kết Thúc.