Kinh số 46 – Giải Thích Đại Kinh Pháp Hành

(Mahādhammasamādānasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Đại Kinh Pháp Hành

  1. evaṃ V.2.269 me suttanti mahādhammasamādānasuttaṃ. tattha evaṃkāmāti evaṃicchā. evaṃchandāti evaṃajjhāsayā. evaṃadhippāyāti evaṃladdhikā. tatrāti tasmiṃ aniṭṭhavaḍḍhane ceva iṭṭhaparihāne ca. bhagavaṃmūlakāti bhagavā mūlaṃ etesanti bhagavaṃmūlakā. idaṃ vuttaṃ hoti — ime, bhante, amhākaṃ dhammā pubbe kassapasammāsambuddhena uppāditā, tasmiṃ parinibbute ekaṃ buddhantaraṃ añño samaṇo vā brāhmaṇo vā ime dhamme uppādetuṃ samattho nāma nāhosi, bhagavatā pana no ime dhammā uppāditā. bhagavantañhi nissāya mayaṃ ime dhamme ājānāma paṭivijjhāmāti evaṃ bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammāti. bhagavaṃnettikāti bhagavā hi dhammānaṃ netā vinetā anunetāti. yathāsabhāvato P.2.375 pāṭiyekkaṃ pāṭiyekkaṃ nāmaṃ gahetvā dassitā dhammā bhagavaṃnettikā nāma honti.

473.Đại Kinh Pháp Hành được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, evaṃkāmā (có mong muốn như vầy): có sự ước muốn như vậy. Evaṃchandā (có ước muốn như vậy): có sự chú tâm đến như vậy. Evaṃadhippāya (có nguyện vọng như vậy): có ý kiến như vậy. Tatrā (trong câu đó): trong sự phát triển đối tượng không đáng ưa thích và trong sự hoại diệt của đối tượng đáng ưa thích ấy. Bhagavaṃmūlakā (có Thế Tôn làm gốc): được xem là có đức Thế Tôn làm nền tảng bởi vì đức Thế Tôn nguồn gốc của tất cả các Pháp. Điều này được nói như sau – “Kính thưa Ngài, tất cả các Pháp này của chư Phật         trong thời quá khứ mà bậc Toàn Giác Kassapa đã tuyên thuyết làm cho sanh khởi, sau khi Ngài viên tịch Niết bàn không có Sa-môn hay Bà-la-môn nào có khả năng làm cho những Pháp này sanh khởi lại được đến hết thời kỳ một vị Phật nhưng đức Thế Tôn đã làm cho Pháp này của chư Phật sanh khởi, quả thực chúng ta đã nương vào đức Thế Tôn để hiểu biết chung (Pháp), hiểu biết thông suốt Pháp đó thưa Ngài, vì thế Pháp của chư Phật mới được gọi là có đức Thế Tôn làm nền tảng. bhagavaṃnettikā (có đức Thế Tôn làm người hướng dẫn) đức Thế Tôn làm người hướng dẫn, người khuyến khích liên hệ đến thực tính Pháp. Tất cả các Pháp được đức Thế Tôn thiết lập thành từng nhóm theo thực tính, được gọi là có đức Thế Tôn làm người hướng dẫn.

bhagavaṃpaṭisaraṇāti catubhūmakā dhammā sabbaññutaññāṇassa āpāthaṃ āgacchamānā bhagavati paṭisaranti nāmāti bhagavaṃpaṭisaraṇā. paṭisarantīti osaranti samosaranti. apica mahābodhimaṇḍe nisinnassa bhagavato paṭivedhavasena phasso āgacchati, ahaṃ bhagavā kinnāmoti? tvaṃ phusanaṭṭhena phasso nāma. vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇaṃ āgacchati. ahaṃ bhagavā kinnāmanti? tvaṃ vijānanaṭṭhena viññāṇaṃ nāmāti evaṃ catubhūmakadhammānaṃ yathāsabhāvato pāṭiyekkaṃ pāṭiyekkaṃ nāmaṃ gaṇhanto bhagavā dhamme paṭisaratītipi bhagavaṃpaṭisaraṇā. bhagavantaññeva paṭibhātūti bhagavatoyeva etassa bhāsitassa attho upaṭṭhātu, tumheyeva no kathetvā dethāti attho.

bhagavati paṭisaranaṃ (có đức Thế Tôn làm nơi nương tựa): Cả 4 Pháp đến vận hành trong 4 cõi   quanh bậc Chánh đẳng Chánh giác, được năm lấy thành nhóm, kết hợp lại hoàn chỉnh trong đức Thế Tôn. Hơn nữa trong lúc đức Thế Tôn ngồi tĩnh tọa ở dưới cội đại Bồ đề, khi năm lấy tên thành từng nhóm theo thực tính của 4 Pháp như vậy, xúc đến với mãnh lực của sự triệt ngộ (nghĩ rằng) “Kính bạch Ngài, người phân tích các Pháp, tôi tên là gì?” (Đáp rằng) “ngươi là xúc bởi ý nghĩa là sự đụng chạm, thọ, tưởng hành, thức (cũng nghĩ như vầy) “ta là người phân tích Pháp, ngươi tên là gì?” (rồi đặt tên) ngươi là thọ, tưởng, hành bởi ý nghĩa nhận biết đối tượng…nhớ được đối tượng…tạo tác đối tượng. Ngươi là thức bởi ý nghĩa nhận thức rõ. Đức Thế Tôn lấy Pháp sắp xếp thành từng nhóm, vì thế Pháp đó mới được gọi là có đức Thế Tôn làm nơi nương tựa (gom làm thành từng nhóm, từng bọn bởi đức Thế Tôn). bhagavantaññeva paṭibhātu (đức Thế Tôn chỉ làm cho sáng tỏ mà thôi): Mong cho ý nghĩa Phật ngôn này hãy hiện hữu cùng đức Thế Tôn xin Ngài hãy tuyên thuyết trình bày ban cho chúng con.

  1. sevitabbeti nissayitabbe. bhajitabbeti upagantabbe. yathā taṃ aviddasunoti yathā aviduno bālassa andhaputhujjanassa. yathā taṃ viddasunoti yathā viduno medhāvino paṇḍitassa.

474.Sevitabbe: nên nương tựa. Bhajitabbe: nên thân cận. yathā taṃ aviddasuno: Giống như Phàm nhân ngu si. yathā taṃ viddasuno: Giống như bậc trí nhận biết.

  1. atthi, bhikkhave, dhammasamādānanti purimasutte uppaṭipāṭiākārena mātikā ṭhapitā V.2.270, idha pana yathādhammaraseneva satthā mātikaṃ ṭhapesi. tattha dhammasamādānanti pāṇātipātādīnaṃ dhammānaṃ gahaṇaṃ.

atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṃ (này chư Tỳ khưu, thọ trì Pháp…cũng có): Trong bài Kinh trước bậc Đạo Sư đặt mẫu đề không diễn ra theo thứ tự, nhưng trong bài Kinh này thì đặt mẫu đề theo phận sự của Pháp. Ở đó, Dhammasamādānaṃ (sự thọ trì Pháp): việc nắm lấy Pháp hành chẳng hạn (việc tránh xa) sự sát sanh v.v,

  1. avijjāgatoti avijjāya samannāgato.

Avijjāgato (người rơi vào mãnh lực của Vô minh): người hội đủ bởi sự không hiểu biết.

  1. vijjāgatoti vijjāya samannāgato paññavā.

Vijjāgato (người rơi vào mãnh lực của Minh): người hội đủ sự trí tuệ.

  1. sahāpi dukkhenāti ettha micchācāro abhijjhā micchādiṭṭhīti ime tāva tayo pubbacetanāya ca aparacetanāya cāti dvinnaṃ cetanānaṃ vasena dukkhavedanā honti. sanniṭṭhāpakacetanā pana sukhasampayuttā vā upekkhāsampayuttā vā hoti. sesā pāṇātipātādayo satta tissannampi cetanānaṃ vasena dukkhavedanā honti. idaṃ sandhāya vuttaṃ — “sahāpi dukkhena sahāpi domanassenā”ti. domanassameva cettha dukkhanti veditabbaṃ. pariyeṭṭhiṃ vā āpajjantassa pubbabhāgaparabhāgesu kāyikaṃ dukkhampi vaṭṭatiyeva.

478.sahāpi dukkhenā (có khổ đau): Trước hết 3 Pháp là hành vi sai quấy trong các dục, tham dục và tà kiến là khổ thọ với mãnh lực của hai Tư (cetanā) là Tư tiền và Tư hậu. Còn Tư trong việc làm cho thành tựu phận sự là Tư phối hợp với lạc hoặc tương ưng với xả. 7 Pháp còn lại nữa là khổ thọ với xả thọ hội đủ cả ba. Đức Thế Tôn muốn đề cập đến ý nghĩa của câu này mới nói rằng: “không chỉ có khổ đau mà còn có ưu phiền”. Cũng vậy ưu trong Phật ngôn này nên hiểu rằng là khổ trong trường hợp này. Khi người đến tầm cầu ngay cả khổ trong thân quả thật có cả phần trước lẫn phần sau.

  1. sahāpi sukhenāti ettha pāṇātipāto pharusavācā byāpādoti ime tāva tayo pubbacetanāya ca aparacetanāya cāti dvinnaṃ cetanānaṃ vasena sukhavedanā honti. sanniṭṭhāpakacetanā pana dukkhasampayuttāva hoti. sesā satta tissannampi cetanānaṃ vasena sukhavedanā hontiyeva. sahāpi somanassenāti somanassameva cettha sukhanti veditabbaṃ. iṭṭhaphoṭṭhabbasamaṅgino vā pubbabhāgaparabhāgesu kāyikaṃ sukhampi vaṭṭatiyeva.

479.Sahāpi sukhenā (có cả lạc) này trước hết 3 Pháp là sát sanh, nói lời thô tục, sân ác là lạc thọ với mãnh lực của 2 loại Tư là Tư tiền và Tư hậu, còn Tư làm cho thành tựu phận sự là Tư phối hợp với khổ, 7 Pháp còn lại là lạc thọ với mãnh lực đủ cả 3 Tư. Hơn nữa chính thọ hỷ nên hiểu là sự an lạc, hoặc đối với người đầy đủ với đối tượng xúc đáng vừa lòng, thậm chí sự an lạc ở lộ thân quả thật có cả phần trước lẫn phần sau.

  1. tatiyadhammasamādāne idhekacco macchabandho vā hoti, māgaviko vā, pāṇupaghātaṃyeva nissāya jīvikaṃ kappeti. tassa garuṭṭhāniyo bhikkhu akāmakasseva pāṇātipāte ādīnavaṃ, pāṇātipātaviratiyā ca ānisaṃsaṃ kathetvā sikkhāpadaṃ deti. so gaṇhantopi dukkhito domanassitova hutvā gaṇhāti. aparabhāge katipāhaṃ vītināmetvā M.2.275 rakkhituṃ asakkontopi dukkhitova hoti, tassa pubbāparacetanā dukkhasahagatāva honti. sanniṭṭhāpakacetanā pana sukhasahagatā vā upekkhāsahagatā vāti evaṃ sabbattha attho veditabbo V.2.271. iti pubbabhāgaparabhāgacetanāva sandhāya idaṃ vuttaṃ — “sahāpi dukkhena sahāpi domanassenā”ti. domanassameva cettha dukkhanti veditabbaṃ.

Trong cả ba sự thọ trì Pháp này một số người trong thế gian này là những người ngư dân hoặc thợ săn chỉ dựa vào sự giết chốc đó để nuôi mạng. Vị Tỳ khưu ở trong vị trí là nơi tôn kính của ta, trình bày lỗi lầm việc sát sanh và lợi ích việc kiêng tránh từ việc sát sanh rồi ban cho học giới cho họ, người không cần thiết. Khi họ nhận lãnh cũng lãnh thọ cả khổ đau và ưu não ngay lập tức. Sau đó, khi 2-3 ngày trôi qua khi họ không thể gìn giữ lại tiếp tục khởi lên đau khổ nữa, Tư tiền và Tư hậu của họ câu hành với khổ ngay lập tức, còn Tư trong việc làm cho thành tựu phận sự đi chung với lạc, đi chung với xả. Ở mọi chỗ trong các câu nên hiểu ý nghĩa như vậy. Đức Thế Tôn muốn để cập đến Tư cả phần đầu lẫn phần sau nên mới nói rằng “không chỉ có khổ mà còn có ưu phiền”, và cũng nên biết ưu phiền cũng chính là khổ đau trong trường hợp này.

  1. catutthadhammasamādāne dasasupi padesu tissopi pubbabhāgāparabhāgasanniṭṭhāpakacetanā sukhasampayuttā hontiyeva, taṃ sandhāya idaṃ vuttaṃ — “sahāpi sukhena sahāpi somanassenā”ti. somanassameva cettha sukhanti veditabbaṃ.

Trong việc thọ trì Pháp thứ 4, Tư tiền, Tư hậu và Tư trong việc làm cho thành tựu phận sự cả 3 trong Pháp, dầu cả 10 cũng đều tương ưng với lạc thật sự. Đức Thế Tôn muốn đề cập đến ý nghĩa đó mới nói rằng “Không chỉ có lạc mà còn có thọ hỷ” và ở đây chính thọ hỷ đó cũng nên biết là lạc trong trường hợp này.

  1. tittakālābūti tittakarasālābu. visena saṃsaṭṭhoti halāhalavisena sampayutto missito luḷito. nacchādessatīti na ruccissati na tuṭṭhiṃ karissati. nigacchasīti gamissasi. appaṭisaṅkhāya piveyyāti taṃ appaccavekkhitvā piveyya.

482.Tittakālābu: nước bầu đắng.  visena saṃsaṭṭho (trộn lẫn thuốc độc): được hòa trộn, được trộn lẫn, kết hợp với thuốc độc loại cực độc. Nacchādessati (không ưa thích): không hài lòng, không làm hoan hỷ. Nigacchasi (sẽ đến): sẽ chứng đắc. Appaṭisaṅkhāya piveyya (không suy xét…có thể uống): có thể uống mà không suy nghĩ.

  1. āpānīyakaṃsoti āpānīyassa madhurapānakassa bharitakaṃso. vaṇṇasampannoti pānakavaṇṇādīhi sampannavaṇṇo, kaṃse pakkhittapānakavasena pānakakaṃsopi evaṃ vutto. chādessatīti P.2.377 tañhi halāhalavisaṃ yattha yattha pakkhittaṃ hoti, tassa tasseva rasaṃ deti. tena vuttaṃ “chādessatī”ti.

483.Āpānīyakaṃso (bình đựng nước uống): Bình đựng đầy nước uống ngon ngọt đáng để uống. Vaṇṇasampanno (có màu sắc tươi đẹp): là bình đựng nước kết hợp với màu sắc của nước uống v.v, mà con người nói như vầy “bình đựng nước này đầy đủ nguyên liệu trộn lẫn được bỏ vào đây.” Chādessati (thích thú): loại chất cực độc đó cho vào thức uống nào thì làm cho thức uống đó sanh ra mùi vị, vì thế đã nói rằng “thích thú”

  1. pūtimuttanti muttameva. yathā hi manussabhāvo suvaṇṇavaṇṇo pūtikāyotveva, tadahujātāpi galocilatā pūtilatātveva vuccati. evaṃ taṅkhaṇaṃ gahitaṃ taruṇampi muttaṃ pūtimuttameva. nānābhesajjehīti harītakāmalakādīhi nānosadhehi. sukhī assāti arogo suvaṇṇavaṇṇo sukhī bhaveyya.

Pūtimuttaṃ (nước đái hôi thối): chính là nước tiểu. Giống như sắc thân của con người chúng ta dầu là màu vàng cũng bị gọi là chết hôi thối mà thôi và dây leo non dầu mới vừa mọc trong ngày hôm đó cũng được gọi là dây leo non như thế nào, nước tiểu non được đựng vào bất cứ lúc nào thì cũng trở thành nước tiểu hôi thối thế đó. Nānābhesajjehi (với các loại dược liệu khác nhau): với nhiều loại dược liệu khác nhau như cây duối núi màu vàng và trái me rừng v.v. sukhī assā (người ấy được an lạc): là người có sự an lạc, thoát khỏi tật bệnh, có màu như vàng.

  1. dadhi ca madhu cāti suparisuddhaṃ dadhi ca sumadhuraṃ madhu ca. ekajjhaṃ saṃsaṭṭhanti ekato katvā missitaṃ āluḷitaṃ. tassa tanti tassa taṃ catumadhurabhesajjaṃ pivato rucceyya. idañca yaṃ bhagandarasaṃsaṭṭhaṃ lohitaṃ pakkhandati, na tassa bhesajjaṃ, āhāraṃ thambhetvā maggaṃ avalañjaṃ karoti. yaṃ M.2.276 pana pittasaṃsaṭṭhaṃ lohitaṃ, tassetaṃ bhesajjaṃ sītalakiriyāya pariyattabhūtaṃ.

Sữa chua và mật ong: sữa chua nguyên chất và mật ong ngon ngọt. ekajjhaṃ saṃsaṭṭhaṃ (hòa trộn lẫn nhau): hòa trộn lẫn vào nhau thành một. Khi vị ấy…sữa chua đó: có thể thích thú cùng vị ấy, người uống thảo dược có 4 loại vị ngọt. Cũng vậy, dược phẩm này không phải là thuốc cho máu với sự trộn lẫn bệnh bhagandara, nhưng sẽ hỗ trợ (làm) thức ăn thực hiện con đường bài tiết, còn máu hòa trộn với nước tiểu, thuốc của vị ấy này đây cuối cùng cũng làm cho cơ thể lạnh buốt.

♦ 486. viddheti V.2.272 ubbiddhe. meghavigamena dūrībhūteti attho. vigatavalāhaketi apagatameghe, deveti ākāse. ākāsagataṃ tamagatanti ākāsagataṃ tamaṃ. puthusamaṇabrāhmaṇaparappavādeti puthūnaṃ samaṇabrāhmaṇasaṅkhātānaṃ paresaṃ vāde. abhivihaccāti abhihantvā. bhāsate ca tapate ca virocate cāti saradakāle majjhanhikasamaye ādiccova obhāsaṃ muñcati tapati vijjotatīti.

Viddhe (trôi đi): trôi (bay) cao hơn là không có mây, tức là mây ở đằng xa. Vigatavalāhake (không có mây): đám mây biến mất. Khi trời mưa: (bao gồm) trong bầu trời. Ākāsagataṃ tamagataṃ: Bóng tối trong bầu trời. Puthusamaṇabrāhmaṇaparappavāde (lời khiển trách của Sa-môn Bà-la-môn là phần nhiều): Lời nói của người khác phần lớn dành cho Sa-môn, Bà-la-môn. Abhivihacca (dẹp tan): phá sạch. bhāsate ca tapate ca virocate ca (chói sáng, hực sáng và rực sáng): Buổi trưa vào mùa hè ánh mặt trời chói sáng, phát ra ánh sáng nóng bức, nóng rực.

idaṃ pana suttaṃ devatānaṃ ativiya piyaṃ manāpaṃ. tatridaṃ vatthu — dakkhiṇadisāyaṃ kira hatthibhogajanapade saṅgaravihāro nāma atthi. tassa bhojanasāladvāre saṅgararukkhe adhivatthā devatā rattibhāge ekassa daharassa sarabhaññavasena idaṃ suttaṃ osārentassa sutvā sādhukāraṃ adāsi. daharo kiṃ esoti āha. ahaṃ, bhante, imasmiṃ rukkhe adhivatthā devatāti. kasmiṃ devate pasannāsi, kiṃ sadde, udāhu sutteti? saddo nāma, bhante, yassa kassaci hotiyeva, sutte P.2.378 pasannāmhi. satthārā jetavane nisīditvā kathitadivase ca ajja ca ekabyañjanepi nānaṃ natthīti. assosi tvaṃ devate satthārā kathitadivaseti? āma, bhante.

Cũng vậy, bài Kinh này chư Thiên vô cùng yêu quý, vừa lòng. Như câu chuyện sau – được biết rằng ở phía Nam xứ Hatthibhoga có tịnh xá Saṅgara, ở cánh cửa nhà ăn của ngôi tịnh xá đó có một vị thần cư ngụ ở cây Saṅgara. Ban đêm tôi nghe một vị Tỳ khưu trẻ đang tổng kết bài Kinh này với cách thức trì tụng, mới nói lời tùy hỷ. (Tỳ khưu trẻ) đó là ai? (vị Thiên): Tôi là vị Thiên cư ngụ ở cây này thưa Ngài. (Tỳ khưu trẻ): Thiên nhân, Ngài tịnh tín điều gì, trong âm thanh hay trong bài Kinh? (vị Thiên): thưa Ngài, ai ai cũng có âm thanh như thế, tôi tịnh tín trong bài Kinh, trong ngày bậc Đạo Sư ngồi giữa Jetavana và trong ngày này không có sự khác biệt dù chỉ là một văn tự. (Tỳ khưu trẻ): Thiên nhân, trong ngày bậc Đạo Sư thuyết Ngài lắng nghe phải chăng? (vị Thiên): đúng rồi.

kattha ṭhitā assosīti? jetavanaṃ, bhante, gatāmhi, mahesakkhāsu pana devatāsu āgacchantīsu tattha okāsaṃ alabhitvā idheva ṭhatvā assosinti. ettha ṭhitāya sakkā sutthu saddo sotunti? tvaṃ pana, bhante, mayhaṃ saddaṃ suṇasīti? āma devateti. dakkhiṇakaṇṇapasse nisīditvā kathanakālo viya, bhante, hotīti. kiṃ pana devate satthu rūpaṃ passasīti? satthā mameva oloketīti maññamānā saṇṭhātuṃ na sakkomi, bhanteti. visesaṃ pana nibbattetuṃ asakkhittha devateti. devatā tattheva antaradhāyi. taṃ divasaṃ kiresa devaputto sotāpattiphale patiṭṭhito. evamidaṃ suttaṃ devatānaṃ piyaṃ manāpaṃ. sesaṃ sabbattha uttānatthamevāti.

(Tỳ khưu trẻ): Ngài đứng nghe ở đâu? (vị Thiên): Tôi đi đến Jetavana, nhưng khi chúng thiên, những vị có đại thần lực hội tụ, tôi hết cơ hội mới đứng nghe ở nơi này. (Tỳ khưu  trẻ): Đứng ở đây, có thể lắng nghe được âm thanh của bậc Đạo sư sao? (vị Thiên) vậy còn Ngài, Ngài đã nghe tiếng của tôi không? (Tỳ khưu trẻ): Thiên nhân, tôi nghe. (vị Thiên): Giống như thời gian ngồi nói chuyện kế bên tai phải, thưa Ngài. (Tỳ khưu trẻ) “Thiên nhân, rồi Ngài nhìn thấy sắc tướng của bậc Đạo Sư không.” (vị Thiên): Tôi hiểu rằng bậc Đạo Sư nhìn thấy, nhưng riêng tôi thì không thể an lập được thưa Ngài. (Tỳ khưu trẻ): Rồi Ngài có Pháp cao thượng sanh khởi không thiên Nhân? Vị Thiên nhân biến mất tại chỗ đó ngay lập tức. truyền nhau rằng ngày hôm đó vị Thiên đó đã an trú trong quả vị Nhập Lưu. Tất cả chư Thiên đều quý mến, ưa thích bài Kinh này như đã trình bày. Tất cả các từ còn lại đơn giản.

Giải Thích Đại Kinh Pháp Hành Kết Thúc.