Kinh số 43 – Giải Thích Đại Kinh Phương Quảng

(Mahāvedallasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Đại Kinh Phương Quảng

449. evaṃ V.2.231 me sutanti mahāvedallasuttaṃ. tattha āyasmāti sagāravasappatissavacanametaṃ. mahākoṭṭhikoti tassa therassa nāmaṃ. paṭisallānā vuṭṭhitoti phalasamāpattito vuṭṭhito. duppañño duppaññoti ettha paññāya duṭṭhaṃ nāma natthi, appañño nippaññoti attho. kittāvatā nu khoti kāraṇaparicchedapucchā, kittakena nu kho evaṃ vuccatīti M.2.235 attho. pucchā ca nāmesā adiṭṭhajotanāpucchā, diṭṭhasaṃsandanāpucchā, vimaticchedanāpucchā, anumatipucchā, kathetukamyatāpucchāti pañcavidhā hoti. tāsamidaṃ nānākaraṇaṃ —

449 Đại Kinh Phương Quảng được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, ‘Tôn giả’ đây là từ để diễn đạt sự cung kính và sự tôn trọng. Mahākoṭṭhiko (Tôn giả Mahākoṭṭhika): là tên của vị Trưởng lão ấy. paṭisallānā vuṭṭhito (rời khỏi chỗ thiền tịnh): rời khỏi chỗ thể nhập thiền quả. Duppañño (người có tuệ kém): gọi là người có tuệ kém, không có nghĩa thiểu tuệ, không có trí tuệ. kittāvatā nu kho (với nguyên nhân chỉ chừng ấy): câu hỏi xác định nguyên nhân, có nghĩa là gọi như vậy với nhân chỉ chừng ấy chăng? Gọi là việc hỏi này có 5 loại là: (1) việc hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy, (2) việc hỏi để thông hiểu điều đã thấy, (3) việc hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ, (4) hỏi để cho người trả lời xác nhận và (5) tự hỏi tự trả lời. Dưới đây là sự khác biệt của việc hỏi đó.

katamā adiṭṭhajotanāpucchā? pakatiyā lakkhaṇaṃ aññātaṃ hoti adiṭṭhaṃ atulitaṃ atīritaṃ avibhūtaṃ avibhāvitaṃ, tassa ñāṇāya dassanāya tulanāya tīraṇāya vibhūtāya vibhāvanatthāya pañhaṃ pucchati. ayaṃ adiṭṭhajotanāpucchā.

Việc hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy là thế nào? Thông thường, đối với tướng trạng chưa được biết, chưa được thấy, chưa được cân nhắc, chưa được xác định, chưa được rõ ràng, chưa được sáng tỏ, thì người ta hỏi vấn đề nhằm mục đích để biết, để được thấy, để được cân nhắc, để được rõ ràng, để được sáng tỏ. Đây là việc hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy.

katamā diṭṭhasaṃsandanāpucchā? pakatiyā lakkhaṇaṃ ñātaṃ hoti diṭṭhaṃ tulitaṃ tīritaṃ vibhūtaṃ vibhāvitaṃ, aññehi paṇḍitehi saddhiṃ saṃsandanatthāya pañhaṃ pucchati. ayaṃ diṭṭhasaṃsandanāpucchā.

Việc hỏi để thông hiểu điều đã thấy là thế nào? Thông thường, đối với tướng trạng đã được biết, đã được thấy, đã được cân nhắc, đã được xác định, đã được rõ ràng, đã được sáng tỏ, thì người ta hỏi câu hỏi nhằm mục đích thông hiểu cùng với các vị sáng suốt khác. Đây là việc hỏi để thông hiểu điều đã thấy.

katamā vimaticchedanāpucchā? pakatiyā saṃsayapakkhando hoti vimatipakkhando, dveḷhakajāto, “evaṃ nu kho, na nu kho, kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho”ti, so vimaticchedanatthāya P.2.335 pañhaṃ pucchati. ayaṃ vimaticchedanāpucchā (mahāni. 150; cūḷani. puṇṇakamāṇavapucchāniddesa 12).

Việc hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ là thế nào? Thông thường, người bị rơi vào sự hoài nghi, bị rơi vào sự mơ hồ, bị sanh lên sự lưỡng lự rằng: “Phải chăng như vầy là đúng, như vầy là không đúng, là cái gì đây, là thế nào đây?” người ấy hỏi câu hỏi nhằm mục đích cắt đứt sự nghi ngờ. Đây là việc hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ. (mahāni. 150; cūḷani. puṇṇakamāṇavapucchāniddesa 12).

taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, rūpaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vāti? aniccaṃ, bhante”ti (mahāva. 21) evarūpā anumatiṃ gahetvā dhammadesanākāle pucchā anumatipucchā nāma.

Sau khi nắm lấy điều đã biết rồi hỏi trong lúc thuyết giảng Giáo Pháp như vầy: “Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ gì về điều này, sắc là thường hay vô thường? Vô thường, bạch Ngài.” (mahāva. 21) được gọi là hỏi để cho người trả lời xác nhận.

cattārome V.2.232, bhikkhave, satipaṭṭhānā, katame cattāro”ti (saṃ. ni. 5.390) evarūpā bhikkhusaṅghaṃ sayameva pucchitvā sayameva vissajjetukāmassa pucchā kathetukamyatāpucchā nāma. tāsu idha diṭṭhasaṃsandanāpucchā adhippetā.

Việc hỏi của đức Thế Tôn được chính ngài hỏi chư Tỳ khưu, rồi tự chính Ngài trả lời như vầy rằng: “Này chư Tỳ khưu, sự thiết lập niệm này có bốn, bốn sự thiết lập niệm như thế nào?” (như vậy) được gọi là tự hỏi tự trả lời. Trong năm cách hỏi ấy, ở đây muốn nói đến việc hỏi để thông hiểu điều đã thấy.

thero hi attano divāṭṭhāne nisīditvā sayameva pañhaṃ samuṭṭhapetvā sayaṃ vinicchinanto idaṃ suttaṃ ādito paṭṭhāya matthakaṃ pāpesi. ekacco hi pañhaṃ samuṭṭhāpetuṃyeva sakkoti na nicchetuṃ; ekacco nicchetuṃ sakkoti na samuṭṭhāpetuṃ; ekacco ubhayampi na sakkoti; ekacco ubhayampi sakkoti. tesu thero ubhayampi sakkotiyeva. kasmā? mahāpaññatāya. mahāpaññaṃ nissāya hi imasmiṃ sāsane sāriputtatthero, mahākaccānatthero, puṇṇatthero, kumārakassapatthero, ānandatthero,

Thật vậy, Trưởng lão ngồi tĩnh tọa ở chỗ nghỉ trưa của mình rồi tự đặt vấn đề, khi tự quyết định, làm cho bài Kinh này kể từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc được. Một số người có thể đặt vấn đề nhưng không thể trả lời; một số trả lời được nhưng lại không thể đặt vấn đề; một số người không thể làm cả hai; một số người có thể làm cả hai, trong số người đó, Trưởng lão là người hoàn toàn làm được cả hai. Tại sao? Bởi vì có đại tuệ. Bởi do y cứ tuệ vĩ đại, mới có được nhiều vị Trưởng lão đã đạt được vị trí đặc biệt trong Tôn giáo này là Trưởng lão Sārīputta, Trưởng lão Mahākaccāna, Trưởng lão Puṇṇa, Trưởng lão Kumārakassapa, Trưởng lão Ānanda v.v,

ayameva āyasmāti sambahulā therā visesaṭṭhānaṃ adhigatā. na hi sakkā yāya vā tāya vā appamattikāya paññāya samannāgatena bhikkhunā M.2.236 sāvakapāramīñāṇassa matthakaṃ pāpuṇituṃ, mahāpaññena pana sakkāti mahāpaññatāya sāriputtatthero taṃ ṭhānaṃ adhigato. paññāya hi therena sadiso natthi. teneva naṃ bhagavā etadagge ṭhapesi — “etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ mahāpaññānaṃ yadidaṃ sāriputto”ti (a. ni. 1.189).

Thật vậy, vị Tỳ khưu có trí tuệ chút ít thì không thể đạt đến tận cùng cứu cánh của vị Thánh đệ tử, nhưng người có trí tuệ vĩ đại có thể đạt đến được do đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại như đã nói, Trưởng lão đã chứng đạt vị trí ấy. Vị có trí tuệ giống như Trưởng lão không có, vì thế đức Thế Tôn đã đặt Ngài ở vị trí đứng đầu rằng: “Này chư Tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các Tỳ khưu đệ tử về trí tuệ của Ta, tức là Sārīputta.”

tathā na sakkā yāya vā tāya vā appamattikāya paññāya samannāgatena bhikkhunā bhagavatā saṃkhittena bhāsitassa sabbaññutaññāṇena saddhiṃ saṃsanditvā samānetvā vitthārena atthaṃ vibhajetuṃ, mahāpaññena pana sakkāti mahāpaññatāya mahākaccānatthero tattha paṭibalo jāto, teneva naṃ bhagavā etadagge ṭhapesi — “etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ vibhajantānaṃ yadidaṃ mahākaccāno”ti (a. ni. 1.197).

Hơn nữa, vị Tỳ khưu dù chỉ có trí tuệ chút ít không thể tập hợp để so sánh nét tương đồng với Toàn giác trí rồi phân tích ý nghĩa kim ngôn mà đức Thế Tôn thuyết giảng ngắn gọn trở nên chi tiết, nhưng người có trí tuệ rộng lớn có thể làm được. Do đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại như được nói này Trưởng lão Kaccāyana là người có khả năng trong vấn đề này. Do chính nguyên nhân đó đức Thế Tôn mới đặt Ngài ở vị trí đứng đầu rằng: “Này chư Tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các Tỳ khưu đại đệ tử về giảng giải điều tóm tắt của Ta, tức là Mahākaccāna” (a. ni. 1.197).

tathā P.2.336 na sakkā yāya vā tāya vā appamattikāya paññāya samannāgatena bhikkhunā dhammakathaṃ kathentena dasa kathāvatthūni āharitvā satta visuddhiyo vibhajantena dhammakathaṃ kathetuṃ, mahāpaññena pana sakkāti mahāpaññatāya puṇṇatthero catuparisamajjhe alaṅkatadhammāsane cittabījaniṃ gahetvā nisinno līḷāyanto puṇṇacando viya dhammaṃ kathesi. teneva naṃ bhagavā etadagge V.2.233 ṭhapesi — “etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ dhammakathikānaṃ yadidaṃ puṇṇo mantāṇiputto”ti (a. ni. 1.196).

Hơn nữa, cho đến khi nào vị Tỳ khưu có trí tuệ kém khi nói vấn đề về Pháp không thể mở đầu mười kathāvatthu, rồi giải thích chi tiết bảy sự thanh tịnh, không thể thuyết giảng vấn đề liên quan đến Pháp, nhưng người có trí tuệ rộng lớn sẽ làm được. Do đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại như đã được nói này Trưởng lão Puṇṇa mới trình thuyết giảng giới giống như mặt trăng rằm, ngồi cầm cây quạt lộng lẫy ở trên chỗ ngồi thuyết giảng Pháp đã được trang trí rồi thuyết giảng vấn đề về Pháp giữa bốn Hội chúng. Vì thế đức Thế Tôn mới đặt Ngài ở vị trí đứng đầu rằng: “Này chư Tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các Tỳ khưu đại đệ tử về thuyết giảng Giáo Pháp của Ta, tức là Puṇṇo Mantāṇiputta” (a. ni. 1.196).

tathā yāya vā tāya vā appamattikāya paññāya samannāgato bhikkhu dhammaṃ kathento ito vā etto vā anukkamitvā yaṭṭhikoṭiṃ gahetvā andho viya, ekapadikaṃ daṇḍakasetuṃ āruḷho viya ca gacchati. mahāpañño pana catuppadikaṃ gāthaṃ nikkhipitvā upamā ca kāraṇāni ca āharitvā tepiṭakaṃ buddhavacanaṃ gahetvā heṭṭhupariyaṃ karonto kathesi. mahāpaññatāya pana kumārakassapatthero catuppadikaṃ gāthaṃ nikkhipitvā upamā ca kāraṇāni ca āharitvā tehi saddhiṃ yojento jātassare pañcavaṇṇāni kusumāni phullāpento viya sinerumatthake vaṭṭisahassaṃ telapadīpaṃ jālento viya tepiṭakaṃ buddhavacanaṃ heṭṭhupariyaṃ karonto M.2.237 kathesi. teneva naṃ bhagavā etadagge ṭhapesi — “etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ cittakathikānaṃ yadidaṃ kumārakassapo”ti (a. ni. 1.217).

Cho đến khi nào vị Tỳ khưu có trí tuệ kém, khi thuyết giảng Pháp diễn ra không đúng chủ đích giống như người mù cầm cây gậy đi ngượng nghịu (không chắc chắn) và giống như người leo lên bậc thang đi cà kheo một mình. Nhưng người có tuệ rộng lớn, chỉ đem ra bốn câu để mở đầu rồi lấy ví dụ so sánh và nhân quả để kết hợp làm cho Tam Tạng là lời Phật thuyết giảng có thập hoặc cao, do tính chất người có tuệ rộng lớn, Trưởng lão Kumārakassapa mới đem ra kệ ngôn chỉ có bốn câu mở đầu rồi lấy ví dụ so sánh và nhân quả hợp với câu đó, diễn đạt Tam Tạng là lời giảng dạy của Phật cả thấp và cao, tương tự y như bông hoa năm màu nở trong hồ nước tự nhiên hoặc giống như đốt ngọn đèn dầu một nghìn tim đèn cháy trên đỉnh núi Suneru. Vì thế đức Thế Tôn đã đặt Ngài vào vị trí đứng đầu rằng: “Này chư Tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các Tỳ khưu đại đệ tử có lời nói làm đẹp lòng người của Ta, tức là Kumārakassapo” (a. ni. 1.217).

tathā yāya vā tāya vā appamattikāya paññāya samannāgato bhikkhu catūhi māsehi catuppadikampi gāthaṃ gahetuṃ na sakkoti. mahāpañño pana ekapade ṭhatvā padasatampi padasahassampi gaṇhāti. ānandatthero pana mahāpaññatāya ekapaduddhāre ṭhatvā sakiṃyeva sutvā puna apucchanto saṭṭhi padasahassāni pannarasa gāthāsahassāni valliyā pupphāni ākaḍḍhitvā gaṇhanto viya ekappahāreneva gaṇhāti. gahitagahitaṃ pāsāṇe khatalekhā viya, suvaṇṇaghaṭe pakkhittasīhavasā viya ca gahitākāreneva tiṭṭhati. teneva naṃ bhagavā etadagge ṭhapesi — “etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ gatimantānaṃ yadidaṃ ānando P.2.337, satimantānaṃ, dhitimantānaṃ, bahussutānaṃ, upaṭṭhākānaṃ yadidaṃ ānando”ti (a. ni. 1.219-223).

Cho đến khi nào vị Tỳ khưu có trí tuệ kém, dầu mất cả thời gian 4 tháng cũng không thể học được một kệ ngôn chỉ bốn câu. Con người có trí tuệ rộng lớn trong mỗi lần dở bước chân cũng học được cả trăm cả nghìn câu. Hơn nữa Trưởng lão Ānanda, Ngài mỗi lần dở bước chân sau khi đứng, chỉ nghe một lần không hỏi lại, cũng nắm lấy sáu nghìn câu, cả mười lăm nghìn kệ ngôn chỉ trong một sát-na mà thôi, giống như lấy dây leo lôi kéo những bông hoa xuống cầm lấy, và Ngài đã từng học, cũng được trú vững với trạng thái đã tiếp nhận, giống như vết gạch trên bề mặt tảng đá và giống như mỡ lỏng của sư tử chúa được đặt trong bát vàng. Bởi vì Ngài có trí tuệ rộng lớn, do đó đức Thế Tôn đã đặt Ngài vào vị trí đứng đầu rằng: “Này chư Tỳ khưu, vị đứng đầu trong số các Tỳ khưu đại đệ tử có niệm tốt đẹp, kiên trì, đa văn, thị giả của Ta, tức là Ānanda” (a. ni. 1.219-223).

na hi sakkā yāya vā tāya vā appamattikāya paññāya samannāgatena bhikkhunā catupaṭisambhidāpabhedassa matthakaṃ pāpuṇituṃ. mahāpaññena pana sakkāti mahāpaññatāya mahākoṭṭhitatthero adhigamaparipucchāsavanapubbayogānaṃ vasena anantanayussadaṃ paṭisambhidāpabhedaṃ patto. teneva naṃ bhagavā etadagge ṭhapesi — “etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ paṭisambhidāpattānaṃ yadidaṃ mahākoṭṭhito”ti (a. ni. 1.218).

Vị Tỳ khưu có trí tuệ kém không thể đạt đến đỉnh cao của bốn loại trí tuệ phân tích, nhưng người có trí tuệ rộng lớn có thế. Do tính chất người có trí tuệ rộng lớn này, Trưởng lão Mahākoṭṭhika đã chứng đắc bốn tuệ phân tích vững chắc với phương thức vô tận, do mãnh lực việc liên kết trong lúc đầu với việc đã chứng đắc, việc hỏi và lắng nghe. Vì thế, đức Thế Tôn đã đặt Ngài ở vị trí đứng đầu như sau: “Này chư Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đứng đầu trong số các đại đệ tử đã chứng đạt tuệ vô ngại giả của Ta, tức là Mahākoṭṭhita” (a. ni. 1.218).

iti V.2.234 thero mahāpaññatāya pañhaṃ samuṭṭhāpetumpi nicchetumpīti ubhayampi sakkoti. so divāṭṭhāne nisīditvā sayameva sabbapañhe samuṭṭhapetvā sayaṃ vinicchinanto idaṃ suttaṃ ādito paṭṭhāya matthakaṃ pāpetvā, “sobhanā vata ayaṃ dhammadesanā, jeṭṭhabhātikena naṃ dhammasenāpatinā saddhiṃ saṃsandissāmi, tato ayaṃ dvinnampi amhākaṃ ekamatiyā ekajjhāsayena ca ṭhapitā atigarukā bhavissati pāsāṇacchattasadisā, caturoghanittharaṇatthikānaṃ titthe ṭhapitanāvā viya, maggagamanatthikānaṃ sahassayuttāajaññaratho viya bahupakārā bhavissatī”ti diṭṭhasaṃsandanatthaṃ pañhaṃ pucchi. tena vuttaṃ — “tāsu idha diṭṭhasaṃsandanāpucchā adhippetā”ti.

Với tính chất là người có trí tuệ rộng lớn như đã nói, Trưởng lão mới có thể đặt ra được vấn đề, cũng có thể đưa ra quyết định cuối cùng, và cả hai cũng được. Trong lúc Ngài ngồi ở chỗ nghỉ trưa, tự mình đã Ngài đã đặt câu hỏi trong mọi vấn đề, rồi từ mình lý giải bài Kinh đó từ đầu đến cuối, rồi nghĩ rằng: “Pháp thoại này quả thật tuyệt đẹp, nhớ ra ta sẽ so sánh với lời nói của vị huynh trưởng chánh pháp, từ đó Pháp thoại mà cả 2 người chúng ta sử dụng đều có cùng một suy nghĩ, có khuynh hướng tương đồng được đặt ở đây, sẽ trở thành Pháp thoại rất nặng như cây lộng đá và trở thành Pháp thoại vô cùng lợi ích giống như con tàu đậu ở bến cảng để đưa khách vượt qua cả bốn dòng nước (cả bốn đại dương), giống như bốn cỗ xe ngựa thuần chủng dành cho người muốn lên thiên giới.” Như thế rồi mới hỏi vấn đề để thông hiểu những điều đã thấy. Vì thế Ngài đã nói – Trong số việc hỏi đó, ở đây muốn đề cập đến việc hỏi để thông hiểu điều đã thấy.”

nappajānātīti M.2.238 ettha yasmā nappajānāti, tasmā duppaññoti vuccatīti ayamattho. esa nayo sabbattha. idaṃ dukkhanti nappajānātīti idaṃ dukkhaṃ, ettakaṃ dukkhaṃ, ito uddhaṃ natthīti dukkhasaccaṃ yāthāvasarasalakkhaṇato na pajānāti. ayaṃ dukkhasamudayoti ito dukkhaṃ samudetīti pavattidukkhapabhāvikā taṇhā samudayasaccanti yāthāvasarasalakkhaṇato na pajānāti. ayaṃ dukkhanirodhoti idaṃ dukkhaṃ ayaṃ dukkhasamudayo ca idaṃ nāma ṭhānaṃ patvā nirujjhatīti ubhinnaṃ appavatti nibbānaṃ nirodhasaccanti yāthāvasarasalakkhaṇato na pajānāti. ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti ayaṃ paṭipadā dukkhanirodhaṃ gacchatīti maggasaccaṃ yāthāvasarasalakkhaṇato na pajānātīti. anantaravārepi P.2.338 imināva nayena attho veditabbo. saṅkhepato panettha catusaccakammaṭṭhāniko puggalo kathitoti veditabbo.

Nappajānāti (không tuệ tri): có nội dung như sau: người bị gọi là “không có trí tuệ” cũng do không tuệ tri. Mọi chỗ có cách thức tương tự như vậy. Idaṃ dukkhanti nappajānāti (không tuệ tri rằng: đây là khổ): là không tuệ tri rõ tính chất thật liên quan đến khổ rằng: đây là khổ, khổ chỉ có chừng này, không có khổ nào khác ngoài những khổ này bởi trạng thái, cùng với phận sự đúng theo thực tính. Ayaṃ dukkhasamudayo (Đây là nhân sanh khổ): không hiểu rõ theo trạng thái, cùng với phận sự theo đúng thực tính rằng: “tham ái (nguyên nhân) khiến sanh khởi khổ đau vận hạnh “Khổ đau khởi dậy từ tham ái” là sự thật liên quan với nguyên nhân sanh khởi. Ayaṃ dukkhanirodho (đây là sự diệt tận khổ): Không biết rõ theo trạng thái, cùng với phận sự theo đúng thực tính rằng: “Sự thật liên quan đến sự diệt tận không còn dư sót, là sự diệt tận khổ và nhân sanh khổ cả 2 như sau: ‘đây là khổ và đây là nguyên nhân sanh khổ, đã đạt đến vị trí nảy rồi đoạn diệt, đây là sự diệt tận khổ đau không còn dư sót.’” Ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā (đây là con đường đưa đến sự diệt khổ): không biết đạo lộ chân chánh bởi trạng thái, cùng với phận sự theo đúng thực tính rằng: “đây là đạo lộ thực hành đưa đến sự đoạn tận khổ đau.” Phần tiếp theo (anantarapaccaya, vô gián duyên) cũng nên hiểu nội dung theo cách này. Đối với trường hợp này nên hiểu vắn tắt rằng: “Ngài đã nói đến hạng người thực hành nghiệp xứ với sự nắm lấy Bốn Thánh Đế làm đối tượng.”

ayañhi ācariyasantike cattāri saccāni savanato uggaṇhāti. ṭhapetvā taṇhaṃ tebhūmakā dhammā dukkhasaccaṃ, taṇhā samudayasaccaṃ, ubhinnaṃ appavatti nibbānaṃ nirodhasaccaṃ, dukkhasaccaṃ parijānanto samudayasaccaṃ pajahanto nirodhapāpano maggo maggasaccanti evaṃ uggahetvā abhinivisati. tattha purimāni dve saccāni vaṭṭaṃ, pacchimāni vivaṭṭaṃ, vaṭṭe abhiniveso hoti, no vivaṭṭe, tasmā ayaṃ abhinivisamāno dukkhasacce abhinivisati.

Thật vậy, hạng người này học tập bốn chân lý ở trú xứ của thầy bằng việc lắng nghe, khi hoàng thành việc học cũng nắm chắc như vậy rằng: “Ngoại trừ tham ái, Pháp vận hành trong 3 cõi là chân lý về khổ, tham ái là chân lý về nhân sanh khổ, sự dập tắt là sự không vận hành của cả hai (chân lý về khổ và chân lý về nhân sanh khổ) là chân lý về sự diệt tận khổ. Đạo lộ để nhận biết chân lý về khổ đế, đoạn trừ nhân sanh khổ để chứng đắc chân lý về sự diệt tận khổ là chân lý về đạo. Trong Bốn Thánh Đế đó thì 2 Đế đầu tiên là vaṭṭa, còn 2 Đế sau là vivaṭṭa. Trong vaṭṭa có sự chấp thủ, nhưng trong vivaṭṭa thì không. Vì thế, sự chấp thủ này là sự chấp thủ chân lý về khổ.

dukkhasaccaṃ nāma rūpādayo pañcakkhandhāti vavatthapetvā dhātukammaṭṭhānavasena otaritvā, “cattāri mahābhūtāni catunnañca mahābhūtānaṃ upādāya rūpaṃ rūpan”ti vavatthapeti. tadārammaṇā vedanā saññā saṅkhārā viññāṇaṃ nāmanti evaṃ yamakatālakkhandhaṃ bhindanto viya “dveva ime dhammā V.2.235 nāmarūpan”ti vavatthapeti. taṃ panetaṃ na ahetukaṃ sahetukaṃ sappaccayaṃ, ko cassa paccayo avijjādayo dhammāti evaṃ paccaye ceva paccayuppannadhamme ca vavatthapetvā “sabbepi dhammā hutvā abhāvaṭṭhena aniccā”ti aniccalakkhaṇaṃ āropeti, tato udayavayappaṭipīḷanākārena dukkhā, avasavattanākārena anattāti tilakkhaṇaṃ āropetvā vipassanāpaṭipāṭiyā sammasanto lokuttaramaggaṃ pāpuṇāti.

năm uẩn có sắc uẩn v.v, được gọi là chân lý về khổ, để xác định năm uẩn đó phải xác định như sau: “bốn sắc đại hiển và sắc nương vào bốn sắc đại hiển gọi là Sắc Pháp với sự xác định bằng mãnh lực nghiệp xứ có bốn giới (dhātu) làm đối tượng.” Phải xác định như vầy: thọ, tưởng, hành, thức có bốn giới (dhātu) đó làm đối tượng là Danh Pháp, “cả hai Pháp đó gọi là Danh và Sắc” giống như chặt đứt thân cây thốt nốt đôi. Khi xác định duyên và những thứ sanh khởi do duyên như sau: “Danh và Sắc này đây không phải không có nhân, chúng có nhân có duyên.” Cái gì làm duyên? tất cả các Pháp có sự không hiểu biết làm duyên. Như vậy rồi mới đưa ra trạng thái vô thường: “tất cả các Pháp này là vô thường bởi ý nghĩa có rồi không.” Từ đó cũng đưa vào Tam tướng “Là khổ bởi ý nghĩa sanh khởi, hoại diệt, và áp bức; là vô ngã bởi tính chất không vận hành theo mãnh lực, rồi quán chiếu theo tuần tự minh sát sẽ chứng đắc đạo lộ vượt ngoài tam giới (Đạo Siêu Thế).

maggakkhaṇe M.2.239 cattāri saccāni ekapaṭivedhena paṭivijjhati, ekābhisamayena abhisameti. dukkhaṃ pariññāpaṭivedhena paṭivijjhati. samudayaṃ pahānapaṭivedhena, nirodhaṃ sacchikiriyāpaṭivedhena, maggaṃ bhāvanāpaṭivedhena paṭivijjhati.

Ở sát-na Đạo đã thấu triệt cả bốn chân lý với sự thấu triệt chung. Giác ngộ với sự giác ngộ chung. Thấu triệt chân lý về khổ với sự thấu triệt do biết toàn diện, thấu triệt chân lý về nhân sanh khổ với sự thấu triệt do dứt bỏ, thấu triệt chân lý về sự diệt tận khổ với sự thấu triệt do tác chứng, thấu triệt chân lý về đạo với sự thấu triệt do tu tập.

dukkhaṃ pariññābhisamayena abhisameti, samudayaṃ pahānābhisamayena, nirodhaṃ sacchikiriyābhisamayena, maggaṃ bhāvanābhisamayena abhisameti. so tīṇi saccāni kiccato paṭivijjhati, nirodhaṃ ārammaṇato. tasmiñcassa khaṇe ahaṃ dukkhaṃ parijānāmi, samudayaṃ pajahāmi, nirodhaṃ sacchikaromi, maggaṃ bhāvemīti ābhogasamannāhāramanasikārapaccavekkhaṇā natthi. etassa pana pariggaṇhantasseva maggo P.2.339 tīsu saccesu pariññādikiccaṃ sādhentova nirodhaṃ ārammaṇato paṭivijjhatīti.

Sự lãnh hội chân lý về khổ với lãnh hội do biết toàn diện, sự lãnh hội chân lý về nhân sanh khổ với sự lãnh hội do dứt bỏ, sự lãnh hội chân lý về sự diệt tận khổ với sự lãnh hội do tác chứng, sự lãnh hội chân lý về đạo với sự lãnh hội do tu tập. Hành giả thấu triệt cả ba chân lý theo phận sự, thấu triệt chân lý về sự diệt tận theo đối tượng. Còn ở sát-na của quả đó hành giả không cần phải cột trói tâm, gom tâm, tác ý và quán xét rằng: “ta đang liễu tri chân lý về khổ, ta đang dứt bỏ chân lý về nhân sanh khổ, ta đang tác chứng chân lý về sự diệt tận khổ, ta đang tu tập chân lý về đạo.” Đạo của hành giả đang nắm lấy, khi làm phận sự nhận biết rõ v.v, trong 3 chân lý được thành tựu hoàn toàn, thấu triệt chân lý về sự trừ diệt bởi đối tượng.

tasmā paññavāti vuccatīti ettha heṭṭhimakoṭiyā sotāpanno, uparimakoṭiyā khīṇāsavo paññavāti niddiṭṭho. yo pana tepiṭakaṃ buddhavacanaṃ pāḷito ca atthato ca anusandhito ca pubbāparato ca uggahetvā heṭṭhupariyaṃ karonto vicarati, aniccadukkhānattavasena pariggahamattampi natthi, ayaṃ paññavā nāma, duppañño nāmāti? viññāṇacarito nāmesa, paññavāti na vattabbo. atha yo tilakkhaṇaṃ āropetvā vipassanāpaṭipāṭiyā sammasanto ajja ajjeva arahattanti carati, ayaṃ paññavā nāma, duppañño nāmāti? bhajāpiyamāno paññavāpakkhaṃ bhajati. sutte pana paṭivedhova kathito.

tasmā paññavāti vuccati (đức Thế Tôn nói rằng là người có trí tuệ) thấp nhất là vị Tu-đà-hoàn, cáo nhất là bậc lậu tận, Ngài thuyết rằng là người có trí tuệ, còn vị đã hoàn thành việc học tập lời Phật ngôn bằng ba bộ Tạng Pāḷī, Chú Giải, có sự liên kết, và có trước có sau, rồi du hành thực hiện để trở thành bậc thấp và bậc cao, nhưng chẳng có dù chỉ xác định lấy mãnh lực của vô thường, khổ đau và vô ngã, đây không được gọi là bậc trí, mà gọi là người trí tuệ kém. Đừng gọi người du hành nắm lấy (những gì) đã nhìn thấy đó gọi là người có trí. Khi ấy người đã đặt trên Tam tướng rồi quán chiếu theo tuần tự minh sát, du hành nghĩ rằng: “Ngày hôm nay, chính ngày hôm nay sẽ chứng đắc A-ra-hán, đây gọi là người có trí tuệ, không phải là người có trí tuệ kém.” Người có trí khí ưa thích thân cận cũng chỉ thân cận phái có phước báu mà thôi, còn trong bài Kinh Ngài chi nói đến sự thấu triệt.

viññāṇaṃ viññāṇanti idha kiṃ pucchati? yena viññāṇena saṅkhāre sammasitvā esa paññavā nāma jāto, tassa āgamanavipassanā viññāṇaṃ kammakārakacittaṃ pucchāmīti pucchati. sukhantipi vijānātīti sukhavedanampi vijānāti. uparipadadvayepi eseva nayo. iminā V.2.236 thero “sukhaṃ vedanaṃ vedayamāno sukhaṃ vedanaṃ vedayāmīti pajānātī”tiādinā (ma. ni. 1.113; dī. ni. 2.380) nayena āgatavedanāvasena arūpakammaṭṭhānaṃ kathesi. tassattho satipaṭṭhāne vuttanayeneva veditabbo.

viññāṇaṃ viññāṇaṃ (thức, thức) này Trưởng lão Mahākoṭṭhita hỏi đến điều gì? Người đó đã sử dụng thức nào để quán xét trong các hành, rồi sanh khởi trở thành người có trí tuệ, tôi xin hỏi đến thức để làm sáng tỏ việc chứng đắc quả đó, thức làm việc đó của người có trí tuệ đó.” sukhantipi vijānāti (cái biết của thức về lạc): (hành giả) thức tri về thọ lạc. Thậm chí trong cả 2 câu trên cũng làm theo cách tương tự. ‘Thức tri lạc’ trình bày đến vô sắc nghiệp xứ không phải sử dụng sắc làm đối tượng với mãnh lực thọ đi đến theo cách thức sau: “Khi cảm nghiệm lạc thọ, biết rõ tôi cảm nghiệm nghiệm lạc thọ” (ma. ni. 1.113; dī. ni. 2.380), nên hiểu ý nghĩa của câu đó theo cách thức đã được nói trong bài Kinh Thiết Lập Niệm.

saṃsaṭṭhāti ekuppādādilakkhaṇena saṃyogaṭṭhena saṃsaṭṭhā, udāhu visaṃsaṭṭhāti pucchati. ettha ca thero maggapaññañca vipassanāviññāṇañcāti ime dve lokiyalokuttaradhamme missetvā bhūmantaraṃ bhinditvā samayaṃ ajānanto viya pucchatīti na veditabbo. maggapaññāya pana maggaviññāṇena, vipassanāpaññāya ca vipassanāviññāṇeneva saddhiṃ saṃsaṭṭhabhāvaṃ pucchatīti veditabbo. theropissa tamevatthaṃ vissajjento ime dhammā saṃsaṭṭhātiādimāha. tattha na ca labbhā imesaṃ dhammānanti imesaṃ lokiyamaggakkhaṇepi lokuttaramaggakkhaṇepi ekato uppannānaṃ dvinnaṃ dhammānaṃ. vinibbhujitvā vinibbhujitvāti visuṃ visuṃ katvā vinivaṭṭetvā, ārammaṇato vā vatthuto vā uppādato vā nirodhato vā nānākaraṇaṃ P.2.340 dassetuṃ na sakkāti attho. tesaṃ tesaṃ pana dhammānaṃ visayo nāma atthi. lokiyadhammaṃ patvā hi cittaṃ jeṭṭhakaṃ hoti pubbaṅgamaṃ, lokuttaraṃ patvā paññā.

Hòa hợp (saṃsaṭṭhā): vị Trưởng lão hỏi rằng “gọi là hòa hợp bởi ý nghĩa liên kết do trạng thái đồng sanh v.v. hoặc tách rồi nhau” đối với trường hợp này không nên hiểu rằng: “Trưởng lão lấy Pháp là Hiệp thế và Siêu thế, cả hai Pháp này là trí tuệ trong Đạo và sự biết rõ của Minh sát này hòa hợp với nhau, rồi phá vỡ khoảng cách các cõi, rồi hỏi như người không biết nguồn gốc, nhưng biết rằng “Ngài hỏi đến sự hòa hợp, Đạo tuệ trong Đạo tuệ và với thức Minh sát trong thức Minh sát”, chính Trưởng lão Sārīputta khi đáp vấn đề đó cùng với Trưởng lão Mahākoṭṭhita ấy cũng đã nói lời như sau: “cả hai Pháp này hòa hợp.” Ở đó, na ca labbhā imesaṃ dhammānaṃ (Ta phân tách cả hai Pháp này từ đó…không được) cả hai Pháp đồng sanh, cả trong sất-na đạo Hiệp thế, và cả trong sát-na đạo Siêu thế này. vinibbhujitvā vinibbhujitvā (tách biệt): nghĩa là không ai có thể chia ra thành từng phần và thay đổi cho thấy sự khác biệt theo đối tượng, hoặc theo nơi vững trú, theo sự sanh khởi hoặc sự diệt tận. Thông thường đối tượng của các Pháp đó tồn tại. Thật vậy, nói theo Pháp Hiệp thế thì tâm là rộng lớn, là trưởng; nói theo Pháp Siêu thế thì tuệ là rộng lớn, là trưởng.

sammāsambuddhopi hi lokiyadhammaṃ pucchanto, “bhikkhu, tvaṃ katamaṃ paññaṃ adhigato, kiṃ paṭhamamaggapaññaṃ, udāhu dutiya tatiya catuttha maggapaññan”ti na evaṃ pucchati. kiṃ phasso tvaṃ, bhikkhu, kiṃ vedano, kiṃ sañño, kiṃ cetanoti na ca pucchati, cittavasena pana, “kiñcitto tvaṃ, bhikkhū”ti (pārā. 135) pucchati. kusalākusalaṃ paññapentopi “manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā”ti (dha. pa. 1, 2) ca, “katame dhammā kusalā? yasmiṃ samaye kāmāvacaraṃ kusalaṃ cittaṃ uppannaṃ hotī”ti (dha. sa. 1) ca evaṃ cittavaseneva paññāpeti. lokuttaraṃ pucchanto pana kiṃ phasso tvaṃ bhikkhu, kiṃ vedano, kiṃ sañño, kiṃ cetanoti na pucchati. katamā te, bhikkhu, paññā adhigatā, kiṃ paṭhamamaggapaññā, udāhu dutiyatatiyacatutthamaggapaññāti evaṃ paññāvaseneva pucchati.

Thật vậy, ngay cả bậc Chánh đẳng Chánh giác khi hỏi đến Pháp Hiệp thế cũng không hỏi như vầy: “Này Tỳ khưu, ông chứng đắc chế định loại nào, là trí tuệ tầng Sơ đạo, hoặc là trí tuệ tầng Nhị đạo, tầng Tam đạo, tầng Tứ đạo” nhưng sẽ hỏi bằng mãnh lực tâm rằng: “Này Tỳ khưu, ông có tâm như thế nào?” và không hỏi rằng: “Này Tỳ khưu, ông có xúc như thế nào? có thọ như thế nào? có tưởng như thế nào? có sự cố ý như thế nào?” Thậm chí khi chế định thiện và bất thiện, cũng chế định với mãnh lực tâm như thế này: “Tất cả các Pháp có tâm dẫn đầu, có tâm là tối thượng, được tạo ra bởi tâm” (dha. pa. 1, 2), “Chư Pháp thiện như thế nào? Lúc nào tâm thiện thường lui tới cõi dục đã sanh khởi.” Nhưng khi hỏi đến Pháp vượt khỏi thế gian sẽ không hỏi rằng “Này Tỳ khưu, ông có xúc như thế nào? có thọ như thế nào? có tưởng như thế nào? có sự cố ý như thế nào?” sẽ hỏi bằng mãnh lực trí tuệ như vầy: “Này Tỳ khưu, trí tuệ mà ông đã chứng đắc như thế nào? là trí tuệ Sơ đạo chăng? trí tuệ Nhị đạo, trí tuệ Tam đạo, trí tuệ Tứ đạo.” (saṃ. ni. 5.478).

indriyasaṃyuttepi “pañcimāni, bhikkhave, indriyāni. katamāni pañca? saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ satindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriyaṃ. kattha ca, bhikkhave, saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ? catūsu V.2.237 sotāpattiyaṅgesu ettha saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. kattha ca, bhikkhave, vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ? catūsu sammappadhānesu ettha vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. kattha ca, bhikkhave, satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ? catūsu satipaṭṭhānesu ettha satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. kattha ca, bhikkhave, samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ? catūsu jhānesu ettha samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. kattha ca, bhikkhave, paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ? catūsu ariyasaccesu ettha paññindriyaṃ M.2.241 daṭṭhabban”ti (saṃ. ni. 5.478). evaṃ savisayasmiṃyeva lokiyalokuttarā dhammā kathitā.

Thậm chí trong Tương ưng quyền: “Này chư Tỳ khưu, năm quyền này, thế nào là năm? Tín quyền, Tấn quyền, Niệm quyền, Định quyền và Tuệ quyền. Này chư Tỳ khưu, nên được biết Tín quyền như thế nào? Ở đây nên được biết Tín quyền trong bốn yếu tố của bậc Dự lưu. Này chư Tỳ khưu, nên được biết Tấn quyền như thế nào? Ở đây, nên được biết Tấn quyền trong bốn Chánh cần. Và này chư Tỳ khưu, Niệm quyền nên được biết như thế nào? Ở đây, nên được biết Niệm quyền trong bốn sự thiết lập niệm. Và này chư Tỳ khưu, Định quyền nên được biết như thế nào? Ở đây, nên được biết Định quyền trong bốn tầng thiền. Và này chư Tỳ khưu, Tuệ quyền nên được biết như thế nào? Ở đây, nên được biết Tuệ quyền trong bốn Chân lý. Cũng đã nói Pháp Hiệp thế và Pháp Siêu thế chỉ trong đối tượng như vậy.

yathā hi cattāro seṭṭhiputtā rājāti rājapañcamesu sahāyesu nakkhattaṃ kīḷissāmāti vīthiṃ otiṇṇesu ekassa seṭṭhiputtassa gehaṃ gatakāle itare cattāro tuṇhī nisīdanti, gehasāmikova, “imesaṃ khādanīyaṃ bhojanīyaṃ detha, gandhamālālaṅkārādīni P.2.341 dethā”ti gehe vicāreti. dutiyassa tatiyassa catutthassa gehaṃ gatakāle itare cattāro tuṇhī nisīdanti, gehasāmikova, “imesaṃ khādanīyaṃ bhojanīyaṃ detha, gandhamālālaṅkārādīni dethā”ti gehe vicāreti. atha sabbapacchā rañño gehaṃ gatakāle kiñcāpi rājā sabbattha issarova, imasmiṃ pana kāle attano geheyeva, “imesaṃ khādanīyaṃ bhojanīyaṃ detha, gandhamālālaṅkārādīni dethā”ti vicāreti. evamevaṃ kho saddhāpañcamakesu indriyesu tesu sahāyesu ekato vīthiṃ otarantesu viya ekārammaṇe uppajjamānesupi yathā paṭhamassa gehe itare cattāro tuṇhī nisīdanti, gehasāmikova vicāreti, evaṃ sotāpattiyaṅgāni patvā adhimokkhalakkhaṇaṃ saddhindriyameva jeṭṭhakaṃ hoti pubbaṅgamaṃ, sesāni tadanvayāni honti.

Giống như khi các bạn có đức vua là vị thứ năm, bốn người con của trưởng giả và đức vua nghĩ rằng: “chúng ta vui chơi vào ngày lễ hội nakkhatta” rồi cùng nhau đi theo con đường trong lúc đến nhà của người con trai trưởng giả thứ nhất thì bốn người kia cùng ngồi im lặng. Chỉ người gia chủ ấy ra lệnh “Các con hãy lấy thức ăn cứng và thức ăn mềm để tiếp đãi bạn này, hãy lấy vật thơm, tràng hoa và những đồ trang sức đến những người bạn này (của ta).” Lúc đến nhà của người thứ hai, thứ ba, thứ tư thì bốn người kia cũng ngồi im lặng, người gia chủ cũng ra lệnh rằng: “Các con hãy lấy thức ăn cứng và thức ăn mềm để tiếp đãi bạn này, hãy lấy vật thơm, tràng hoa và những đồ trang sức đến những người bạn này (của ta).” Lần cuối cùng lúc đến hoàng cung, chỉ mình vị vua là lớn mạnh ở trong mọi nơi, mặc dù vậy, vào thời điểm của Ngài, Ngài cũng ra lệnh rằng: “Các con hãy lấy thức ăn cứng và thức ăn mềm để tiếp đãi bạn này, hãy lấy vật thơm, tràng hoa và những đồ trang sức đến những người bạn này (của ta).” Chính trong cung điện của đức vua như thế nào, cũng như thế đó khi các quyền có đức tin là thứ năm đang sanh khởi trong cùng đối tượng, giống như những người bạn đó bước xuống cùng một con đường ở ngôi nhà đầu tiên, còn bốn người ngồi im lặng, chỉ có người gia chủ xem xét ra lệnh được như thế nào, cũng như thế đó nói theo yếu tố để đạt được dòng chảy Niết bàn, Tín quyền là đức tin có trạng thái quyết định đối tượng tuyệt đối, là rộng lớn, là chủ đạo, các quyền còn lại tiếp nói Tín quyền ấy.

yathā dutiyassa gehe itare cattāro tuṇhī nisīdanti, gehasāmikova vicāreti, evaṃ sammappadhānāni patvā paggahaṇalakkhaṇaṃ vīriyindriyameva jeṭṭhakaṃ hoti pubbaṅgamaṃ, sesāni tadanvayāni honti. yathā tatiyassa gehe itare cattāro tuṇhī nisīdanti, gehasāmikova vicāreti, evaṃ satipaṭṭhānāni patvā upaṭṭhānalakkhaṇaṃ satindriyameva jeṭṭhakaṃ hoti pubbaṅgamaṃ, sesāni tadanvayāni honti. yathā catutthassa gehe itare cattāro tuṇhī nisīdanti, gehasāmikova vicāreti, evaṃ jhānavimokkhe patvā avikkhepalakkhaṇaṃ samādhindriyameva jeṭṭhakaṃ hoti pubbaṅgamaṃ, sesāni tadanvayāni honti. sabbapacchā rañño gehaṃ gatakāle pana yathā itare cattāro tuṇhī nisīdanti, rājāva gehe vicāreti, evameva ariyasaccāni patvā pajānanalakkhaṇaṃ paññindriyameva jeṭṭhakaṃ hoti pubbaṅgamaṃ, sesāni tadanvayāni honti.

Sau khi đạt đến Chánh cần thì Tấn quyền có sự kiên trì làm trạng thái, trở thành rộng lớn, là chủ đạo, các quyền còn lại tiếp nối Tấn quyền ấy, giống như trong nhà của người thứ hai, thì bốn người còn lại ngồi im lặng để cho gia chủ đi sắp xếp công việc. Khi đạt đến sự thiết lập niệm, riêng Niệm quyền có sự hiện hữu là trạng thái, trở thành rộng lớn, làm chủ đạo, các quyền còn lại tiếp nối Niệm quyền ấy, giống như ở ngôi nhà thứ ba, bốn người còn lại ngồi im để cho người gia chủ đi sắp xếp công việc. Khi đạt đến sự giải thoát do mãnh lực thiền, riêng Định quyền có bất phóng dật là trạng thái, là rộng lớn, là chủ đạo, các quyền còn lại tiếp nối Định quyền ấy, giống như trong nhà của người thứ tư thì 4 người còn lại ngồi im lặng, để cho người gia chủ đi sắp xếp công việc. Khi đạt đến chân lý cao thượng, chính Tuệ quyền có trạng thái biết rõ là trạng thái, là rộng lớn, là chủ đạo, các quyền còn lại tiếp nói Tuệ quyền, giống như khi đến hoàng cung lúc sau cuối chỉ có đức vua xem xét ra lệnh để sắp xếp công việc trong hoàng cung, còn bốn người còn lại ngồi im lặng.

iti V.2.238 paṭisambhidāpattānaṃ agge ṭhapito mahākoṭṭhitatthero lokiyadhammaṃ pucchanto cittaṃ jeṭṭhakaṃ cittaṃ pubbaṅgamaṃ katvā pucchi; lokuttaradhammaṃ pucchanto M.2.242 paññaṃ jeṭṭhakaṃ paññaṃ pubbaṅgamaṃ katvā pucchi. dhammasenāpatisāriputtattheropi tatheva vissajjesīti.

Trưởng lão Mahākoṭṭhita được tiếp nhận trong vị trí hàng đầu của vị Tỳ khưu đệ tử chứng đắc tuệ vô ngại giải khi hỏi vấn đề thuộc thế gian đã làm tâm trở nên rộng lớn, là chủ đạo mới hỏi; khi hỏi đến vấn đề vượt ngoài thế gian cũng đưa ra sự biết rõ trở nên rộng lớn, trở thành chủ đạo rồi mới hỏi. Còn phía Trưởng lão Sārīputta, vị Tướng quân Chánh pháp cũng đã đáp lời tương tự y như vậy bằng cách này.

yaṃ hāvuso, pajānātīti yaṃ catusaccadhammamidaṃ dukkhantiādinā nayena maggapaññā pajānāti. taṃ vijānātīti P.2.342 maggaviññāṇampi tatheva taṃ vijānāti. yaṃ vijānātīti yaṃ saṅkhāragataṃ aniccantiādinā nayena vipassanāviññāṇaṃ vijānāti. taṃ pajānātīti vipassanāpaññāpi tatheva taṃ pajānāti. tasmā ime dhammāti tena kāraṇena ime dhammā. saṃsaṭṭhāti ekuppādaekanirodhaekavatthukaekārammaṇatāya saṃsaṭṭhā.

Này hiền giả, do tuệ tri điều gì? (yaṃ hāvuso, pajānāti): Đạo tuệ tuệ tri bốn Pháp Chân lý bằng cách nào theo phương thức v.v, đây là chân lý về khổ. Taṃ vijānāti (thức tri điều đó): Thậm chí sự biết rõ trong đạo lộ, cũng biết rõ bốn Pháp chân lý đó như thế đó. Yaṃ vijānāti (thức tri điều nào): Ngay cả sự biết rõ bằng minh sát cũng biết rõ các Pháp có sự trợ tạo nào theo cách v.v, “vô thường”. Taṃ pajānāti (trí tuệ cũng biết rõ điều đó): Kể cả trí tuệ minh sát cũng biết rõ Pháp có sự trợ tạo đó như thế đó tương tự. Do đó cả 2 Pháp này (tasmā ime dhammā): Bởi lý do đó những Pháp này. Saṃsaṭṭhā (hòa hợp): Hòa hợp bởi sự đồng sanh, có sự đồng diệt, có cùng nơi vững trú và có cùng đối tượng.

paññā bhāvetabbāti idaṃ maggapaññaṃ sandhāya vuttaṃ. taṃsampayuttaṃ pana viññāṇaṃ tāya saddhiṃ bhāvetabbameva hoti. viññāṇaṃ pariññeyyanti idaṃ vipassanāviññāṇaṃ sandhāya vuttaṃ. taṃsampayuttā pana paññā tena saddhiṃ parijānitabbāva hoti.

Paññā bhāvetabbā (trí tuệ cần phải được tu tập): Ngài nói đến Đạo tuệ, còn sự biết rõ phối hợp với trí tuệ đó cũng cần phải được tu tập với trí tuệ đó. Viññāṇaṃ pariññeyyaṃ (thức cần được biết rõ): này Ngài muốn đề cập đến sự biết rõ trong minh sát, còn trí tuệ phối hợp với sự biết rõ trong minh sát cũng cần được biết rõ với thức đó.

450. vedanā vedanāti idaṃ kasmā pucchati? vedanālakkhaṇaṃ pucchissāmīti pucchati. evaṃ santepi tebhūmikasammasanacāravedanāva adhippetāti sallakkhetabbā. sukhampi vedetīti sukhaṃ ārammaṇaṃ vedeti anubhavati. parato padadvayepi eseva nayo. “rūpañca hidaṃ, mahāli, ekantadukkhaṃ abhavissa, dukkhānupatitaṃ dukkhāvakkantaṃ anavakkantaṃ sukhena, nayidaṃ sattā rūpasmiṃ sārajjeyyuṃ. yasmā ca kho, mahāli, rūpaṃ sukhaṃ sukhānupatitaṃ sukhāvakkantaṃ anavakkantaṃ dukkhena, tasmā sattā rūpasmiṃ sārajjanti, sārāgā saṃyujjanti, saṃyogā saṃkilissanti. vedanā ca hidaṃ… saññā… saṅkhārā… viññāṇañca hidaṃ, mahāli, ekantadukkhaṃ abhavissa … pe … saṃkilissantī”ti (saṃ. ni. 3.70) iminā hi mahālisuttapariyāyena idha ārammaṇaṃ sukhaṃ dukkhaṃ adukkhamasukhanti kathitaṃ.

Tại sao Ngài hỏi lời này “Thọ, thọ”? Ngài hỏi vì nghĩ rằng: “Ta hỏi đến trạng thái của thọ.” Nếu là vậy cần phải xác định rằng: “Ngài muốn đề cập đến thọ cần được quán chiếu chỉ được vận hành trong ba cõi.” Sukhampi vedeti (cảm thọ lạc): Cảm nghiệm theo cảm thọ đối tượng là lạc thọ.Trong cả hai câu tiếp theo cũng có ý nghĩa tương tự. Thật vậy, Ngài nói đến đối tượng là lạc, là khổ, là bất khổ bất lạc trong trường hợp này theo Kinh Mahāli này rằng: “Này Mahāli, nếu sắc này sẽ trở nên khổ đau cùng tột, bị đau khổ đè ép, bị bao vây bởi khổ, không phối hợp với lạc, thời chúng sanh không nên tham đắm đối với sắc. Và vì rằng, này Mahāli, sắc là lạc, bị lạc đè ép, bị bao vây bởi lạc, không phối hợp với khổ, cho nên chúng sanh mới tham đắm đối với sắc. Do tham đắm nên bị trói buộc, do bị trói buộc nên bị nhiễm ô. Nếu thọ…nếu tưởng…nếu các hành…nếu thức…sẽ trở nên khổ đau cùng tột…ô nhiễm” (saṃ. ni. 3.70).

apica purimaṃ sukhaṃ vedanaṃ ārammaṇaṃ katvā aparā sukhā vedanā vedeti; purimaṃ dukkhaṃ vedanaṃ ārammaṇaṃ katvā aparā dukkhā vedanā vedeti; purimaṃ adukkhamasukhaṃ vedanaṃ ārammaṇaṃ katvā aparā adukkhamasukhā vedanā vedetīti evamettha attho daṭṭhabbo. vedanāyeva hi vedeti, na añño koci veditā nāma atthīti vuttametaṃ.

Và hơn nữa, nên biết nội dung vấn đề trong thọ này như vậy rằng “Cảm thọ lạc sau, đã làm thọ lạc trước trở thành đối tượng rồi thọ hưởng. Thọ khổ sau làm cho thọ khổ trước trở thành đối tượng rồi mới thọ hưởng. Cảm thọ bất khổ bất lạc sau làm cho cảm thọ bất khổ bất lạc trước trở thành đối tượng rồi mới thọ hưởng. Lời mà Ngài đã nói “Cũng chính cảm thọ đó, chẳng có người nào khác gọi là người thọ hưởng.”

saññā V.2.239 M.2.243 saññāti idha kiṃ pucchati? sabbasaññāya lakkhaṇaṃ. kiṃ sabbatthakasaññāyāti? sabbasaññāya lakkhaṇantipi P.2.343 sabbatthakasaññāya lakkhaṇantipi ekamevetaṃ, evaṃ santepi tebhūmikasammasanacārasaññāva adhippetāti sallakkhetabbā. nīlakampi sañjānātīti nīlapupphe vā vatthe vā parikammaṃ katvā upacāraṃ vā appanaṃ vā pāpento sañjānāti. imasmiñhi atthe parikammasaññāpi upacārasaññāpi appanāsaññāpi vaṭṭati. nīle nīlanti uppajjanakasaññāpi vaṭṭatiyeva. pītakādīsupi eseva nayo.

Saññā saññā (tưởng, tưởng) này Trưởng lão Koṭṭhika hỏi đến điều gì? Hỏi đến trạng thái của tưởng phổ biến. Cái gì là trạng thái của tưởng phổ biến. Trạng thái của tưởng, hoặc trạng thái của tưởng phổ biến thì cũng chính là một. Nếu vậy, nên suy xét rằng “Ngài có ý định lấy tưởng đồng sanh với sự quán xét chỉ vận hành trong ba cõi. nīlakampi sañjānāti (tưởng tri màu xanh): Khi thực hiện chuẩn bị cây màu xanh hoặc tấm vải, thực hành tâm đạt đến cận định hoặc an chỉ định gọi là tưởng trong đối tượng này, sử dụng được cả tưởng ban đầu, cả tưởng cận định và thậm chí tưởng an chỉ định đến tưởng sanh khởi trong màu xanh như sau: “màu xanh” cũng sử dụng được tương tự. Trong màu vàng v.v, cũng được thực hiện tương tự.

yā cāvuso, vedanāti ettha vedanā, saññā, viññāṇanti imāni tīṇi gahetvā paññā kasmā na gahitāti? asabbasaṅgāhikattā. paññāya hi gahitāya paññāya sampayuttāva vedanādayo labbhanti, no vippayuttā. taṃ pana aggahetvā imesu gahitesu paññāya sampayuttā ca vippayuttā ca antamaso dve pañcaviññāṇadhammāpi labbhanti. yathā hi tayo purisā suttaṃ suttanti vadeyyuṃ, catuttho ratanāvutasuttanti. tesu purimā tayo takkagatampi paṭṭivaṭṭakādigatampi yaṃkiñci bahuṃ suttaṃ labhanti antamaso makkaṭakasuttampi. ratanāvutasuttaṃ pariyesanto mandaṃ labhati, evaṃsampadamidaṃ veditabbaṃ. heṭṭhato vā paññā viññāṇena saddhiṃ sampayogaṃ labhāpitā vissaṭṭhattāva idha na gahitāti vadanti. yaṃ hāvuso, vedetīti yaṃ ārammaṇaṃ vedanā vedeti, saññāpi tadeva sañjānāti. yaṃ sañjānātīti yaṃ ārammaṇaṃ saññā sañjānāti, viññāṇampi tadeva vijānātīti attho.

yā cāvuso, vedanāti ettha vedanā, saññā, viññāṇaṃ (và này Hiền giả, Pháp là thọ, tưởng, thức): Ngài nắm lấy ba Pháp này là thọ, tưởng và thức nhưng tại sao không lấy tuệ? Bởi vì không phải là việc tập hợp lấy toàn bộ. Thật vậy, sau khi nắm lấy tuệ đạt được thọ v.v, tương ưng với tuệ, không được không tương ưng với trí, nhưng không nắm lấy tuệ đó, rồi nắm lấy thọ v.v, ấy, thọ v.v, vừa tương ưng với tuệ và bất tương ưng, tận cùng thậm chí làm nhiệm vụ biết rõ cả ngũ song thức v.v, cũng đạt được. Giống như cả ba người đàn ông có thể nói rằng: “sợi chỉ, sợi chỉ” người thứ tư nói “sợi chỉ ngọc” trong bốn người đó, ba người đầu tiên được phỏng đoán, suy nghĩ ước chừng v.v, và với bất kỳ loại chi nào, tận cùng khi tầm cầu ngay cả lưới mạng nhện hoặc sợi chỉ ngọc cũng được cũng đạt được chút ít thế nào, nên biết ví dụ so sánh thế đó. Hơn nữa, Pháp là thọ v.v, tương ưng với thức mà tương ưng với trí tuệ trước đó cũng buông bỏ nhân đó. Một số vị nói rằng: Pháp là thọ v.v, Ngài không nắm giữ trong trường hợp này bởi vì ý nghĩa đã được ngài giải quyết rồi. Yaṃ hāvuso, vedeti (này Hiền giả, được thọ hưởng cảm thọ nào?): Cảm thọ thọ hưởng đối tượng nào, thì tưởng cũng nhớ được đối tượng đó tương tự. Yaṃ sañjānāti (tưởng tri đối tượng nào?): Tưởng tri nhớ tưởng đối tượng nào, thì ngay cả thức cũng thức tri đối tượng đó tương tự.

idāni sañjānāti vijānāti pajānātīti ettha viseso veditabbo. tattha upasaggamattameva viseso. jānātīti padaṃ pana aviseso. tassāpi jānanatthe viseso veditabbo. saññā hi nīlādivasena ārammaṇaṃ sañjānanamattameva, aniccaṃ dukkhaṃ anattāti lakkhaṇapaṭivedhaṃ pāpetuṃ na sakkoti. viññāṇaṃ nīlādivasena ārammaṇañceva sañjānāti, aniccādilakkhaṇapaṭivedhañca pāpeti, ussakkitvā pana maggapātubhāvaṃ pāpetuṃ na sakkoti. paññā nīlādivasena ārammaṇampi P.2.344 sañjānāti, aniccādivasena M.2.244 lakkhaṇapaṭivedhampi pāpeti, ussakkitvā maggapātubhāvaṃ pāpetumpi sakkoti.

Bây giờ, nên biết ý nghĩa khác biệt và không khác biệt trong lời này rằng: “tưởng tri, thức tri, tuệ tri” trong 3 từ này chỉ khác biệt nhau về tiền tố mà thôi. Còn ‘cái biết’ thì không có sự khác biệt. Nhưng trong ý nghĩa nên biết sự khác biệt của ‘cái biết’ trong từ đó. Thật vậy, ‘tưởng (saññā)’ chỉ là cái biết đơn thuần thông qua đối tượng, chẳng hạn như màu xanh v.v, không thể đạt đến việc thấu triệt Tam tướng là vô thường, khổ não và vô ngã. ‘thức (viññāṇa)’ biết các đối tượng có màu xanh v.v, và có thể đạt đến sự thấu triệt tam tướng là vô thường, khổ não và vô ngã, nhưng không thể cho sự nỗ lực để đạt đến sự hiển lộ của đạo lộ Siêu thế. ‘tuệ (paññā)’ biết rõ các đối tượng như màu xanh, cho đạt đến sự thấu triệt Tam tướng là vô thường v.v, và có thể trợ giúp để chứng đắc sự hiển lộ của con đường Siêu thế.

yathā hi heraññikaphalake kahāpaṇarāsimhi kate ajātabuddhi dārako gāmikapuriso mahāheraññikoti V.2.240 tīsu janesu oloketvā ṭhitesu ajātabuddhi dārako kahāpaṇānaṃ cittavicittacaturassamaṇḍalabhāvameva jānāti, idaṃ manussānaṃ upabhogaparibhogaṃ ratanasammatanti na jānāti. gāmikapuriso cittādibhāvañceva jānāti, manussānaṃ upabhogaparibhogaratanasammatabhāvañca. “ayaṃ kūṭo ayaṃ cheko ayaṃ karato ayaṃ saṇho”ti pana na jānāti. mahāheraññiko cittādibhāvampi ratanasammatabhāvampi kūṭādibhāvampi jānāti, jānanto ca pana naṃ rūpaṃ disvāpi jānāti, ākoṭitassa saddaṃ sutvāpi, gandhaṃ ghāyitvāpi, rasaṃ sāyitvāpi, hatthena garukalahukabhāvaṃ upadhāretvāpi asukagāme katotipi jānāti, asukanigame asukanagare asukapabbatacchāyāya asukanadītīre katotipi, asukācariyena katotipi jānāti.

Giả sử có ba người, một đứa trẻ ngây thơ, một người dân làng và một người chuyên đổi tiền, họ nhìn thấy một đống tiền nằm trên quầy của người chuyên đổi tiền. Đứa trẻ ngây thơ chỉ biết rằng những đồng xu được tạo hình và trang trí, dài, vuông hay tròn; nó không biết rằng chúng được coi là có giá trị cho tất cả mọi người sử dụng và hưởng thụ. Và dân làng biết rằng chúng được tạo hình và trang trí, v.v., và chúng được coi là có giá trị cho con người sử dụng và hưởng thụ; nhưng vị ấy không biết những sự phân biệt như ‘Cái này là thật, cái này là giả, cái này là thô thiển, cái này là vi tế.’ Người chuyên đổi tiền lớn biết đến hình dáng và trang trí, không những biết được sự chấp nhận đây là thật mà còn biết được đây là giả. Sau khi biết được cảnh sắc của đồng Kahāpaṇa (bằng mắt), sau khi nghe âm thanh va chạm bằng tai, sau khi ngửi hương bằng mũi, sau khi nếm vị bằng lưỡi, dùng tay để kiểm tra độ nặng và nhẹ, rồi cũng biết được (đồng tiền kahāpaṇa) được tạo ra từ làng đó, biết được tạo ra từ thị trấn đó, từ thành phố đó, gần hồ sen ấy, ở dưới bóng ngọn núi kia, ở bờ sông nọ, được tạo ra từ vị thầy đó như thế nào,

evamevaṃ saññā ajātabuddhidārakassa kahāpaṇadassanaṃ viya nīlādivasena ārammaṇamattameva sañjānāti. viññāṇaṃ gāmikapurisassa kahāpaṇadassanaṃ viya nīlādivasena ārammaṇampi sañjānāti, aniccādivasena lakkhaṇapaṭivedhampi pāpeti. paññā mahāheraññikassa kahāpaṇadassanaṃ viya nīlādivasena ārammaṇampi sañjānāti, aniccādivasena lakkhaṇapaṭivedhampi pāpeti, ussakkitvā maggapātubhāvampi pāpeti. so pana nesaṃ viseso duppaṭivijjho.

Tưởng giống như đứa bé vẫn không thể nhận biết được đồng tiền kahāpaṇa, mà chỉ tưởng tri đơn thuần thông qua màu sắc như màu xanh v.v. Thức cũng giống như những người dân làng (nhìn thấy đồng tiền kahāpaṇa) tưởng tri đối tượng với mãnh lực thông qua màu sắc như màu xanh v.v, đạt đến sự thấu triệt Tam tướng với lực vô thường v.v. Tuệ cũng giống như người chuyên đổi tiền lớn nhìn đồng tiền kahāpaṇa (không những) biết được khả năng màu sắc chẳng hạn như màu xanh v.v, (mà còn) đạt đến việc thấu triệt Tam tướng bởi lực vô thường v.v, nỗ lực đến sự hiện lộ đạo lộ Siêu thế như thế. Sự khác biệt của tưởng v.v, vô cùng khó hiểu.

tenāha āyasmā nāgaseno — “dukkaraṃ, mahārāja, bhagavatā katanti. kiṃ, bhante, nāgasena bhagavatā dukkaraṃ katanti? dukkaraṃ, mahārāja, bhagavatā kataṃ, imesaṃ arūpīnaṃ cittacetasikānaṃ dhammānaṃ ekārammaṇe pavattamānānaṃ vavatthānaṃ akkhātaṃ, ayaṃ phasso, ayaṃ vedanā, ayaṃ saññā, ayaṃ cetanā, idaṃ cittan”ti (mi. pa. 2.7.16). yathā hi tilatelaṃ, sāsapatelaṃ, madhukatelaṃ, eraṇḍakatelaṃ, vasātelanti imāni pañca telāni ekacāṭiyaṃ pakkhipitvā divasaṃ yamakamanthehi manthetvā tato idaṃ tilatelaṃ, idaṃ sāsapatelanti ekekassa pāṭiyekkaṃ uddharaṇaṃ nāma dukkaraṃ, idaṃ tato M.2.245 dukkarataraṃ. bhagavā pana sabbaññutaññāṇassa P.2.345 suppaṭividdhattā dhammissaro dhammarājā imesaṃ arūpīnaṃ dhammānaṃ ekārammaṇe pavattamānānaṃ vavatthānaṃ akkhāsi. pañcannaṃ mahānadīnaṃ samuddaṃ paviṭṭhaṭṭhāne, “idaṃ gaṅgāya udakaṃ, idaṃ yamunāyā”ti evaṃ pāṭiyekkaṃ udakauddharaṇenāpi ayamattho veditabbo.

Vì thế Tôn giả Nāgasena đã nói – “Đại vương, đức Thế Tôn đã thực hiện điều khó làm, thưa Tôn giả Nāgasena, hành động khó khăn đã được đức Thế Tôn thực hiện là gì? “Tâu đại vương, hành động khó khăn đã được đức Thế Tôn thực hiện là việc xác định đối với các Pháp không có hình tướng là tâm và sở hữu tâm đang diễn tiến ở trong cùng một đối tượng đã được nói ra: ‘Đây là xúc, đây là thọ, đây là tường, đây là tư, đây là tâm.” (mi. pa. 2.7.16). Như thể một người cầm lấy năm loại dầu là dầu mè, dầu hạt mù tạc, dầu có chứa mật ong, dầu cây eraṇḍa, dầu từ mỡ thú đặt chung trong một cái bát rồi lấy một đôi đũa gỗ để khuấy đều cả ngày, rồi múc riêng từng thứ, nói rằng đây là dầu mè, dầu hạt mù tạc, điều này thực hiện đã khó, còn việc xác định đối với các Pháp lại càng khó khăn hơn nữa, nhưng đức Thế Tôn là bậc Pháp chủ, là bậc Pháp vương nhờ khả năng thấu triệt chứng đắc Toàn giác trí tốt đẹp, rồi nói việc xác định Pháp không có hình tướng đang diễn tiến trong cùng một đối tượng. Nên biết ý nghĩa này cũng tương tự y như với việc múc nước rồi chia ra thành từng phần như vầy: “Đây là nước của sông Gaṅgā, đây là nước của sông Yamunā” ở bốn con sông lớn chảy ra biển cả như thế.

451. nissaṭṭhenāti nissaṭena pariccattena vā. tattha nissaṭenāti atthe sati pañcahi indriyehīti V.2.241 nissakkavacanaṃ. pariccattenāti atthe sati karaṇavacanaṃ veditabbaṃ. idaṃ vuttaṃ hoti — pañcahi indriyehi nissaritvā manodvāre pavattena pañcahi vā indriyehi tassa vatthubhāvaṃ anupagamanatāya pariccattenāti. parisuddhenāti nirupakkilesena. manoviññāṇenāti rūpāvacaracatutthajjhānacittena. kiṃ neyyanti kiṃ jānitabbaṃ. “yaṃkiñci neyyaṃ nāma atthi dhamman”tiādīsu (mahāni. 69) hi jānitabbaṃ neyyanti vuttaṃ. ākāsānañcāyatanaṃ neyyanti kathaṃ rūpāvacaracatutthajjhānacittena arūpāvacarasamāpatti neyyāti? rūpāvacaracatutthajjhāne ṭhitena arūpāvacarasamāpattiṃ nibbattetuṃ sakkā hoti. ettha ṭhitassa hi sā ijjhati. tasmā “ākāsānañcāyatanaṃ neyyan”tiādimāha.

Nissaṭṭhena (đã không liên hệ đến): đã xua tan đi, hoặc đã vứt bỏ. Ở đó ‘đã không liên hệ đến’ là đã xua tan đi ấy khi có ý nghĩa ‘đã không liên hệ đến’ nên biết cả năm quyền theo xuất xứ cách. Khi có ý nghĩa ‘đã bị vứt bỏ’ nên biết rằng cả năm quyền theo sở dụng cách. Điều này đã được nói như sau – đã thoát khỏi bởi năm quyền diễn tiến trong Ý môn hoặc bị cả năm quyền đã vứt bỏ do tính chất sự hiểu biết rõ đó không đạt đến sự vững trú. Parisuddhena (với sự thanh tịnh): không có tùy phiền não. manoviññāṇena (bởi ý thức): Bởi tâm Tứ thiền thường lui tới cõi sắc (tâm tứ thiền sắc giới). kiṃ neyyaṃ (có thế biết gì): có thế biết gì, bởi vì Pháp cần biết trong lời được bắt đầu rằng “Bất cứ điều gì có thể biết, nghĩa là có pháp cần phải biết” (mahāni. 69) vì vậy được gọi là “neyyaṃ: có thể biết, có thể hướng dẫn”. Nên biết ‘Không vô biên xứ’ như thế nào? Sự thể nhập thiền Vô sắc mà hạng người có thể biết được bằng tâm thiền thứ tư cõi Vô sắc, người an trú trong tầng thiền thứ tư Sắc giới, có thể làm cho sự thể nhập thiền Vô sắc sanh khởi được. Bởi vì sự thể nhập thiền Vô sắc thành tựu cùng hành giả an trú trong tầng thiền thứ tư của cõi Sắc. Vì thế, Trưởng lão Sārīputta đã nói rằng “Nên biết Không vô biên xứ”

atha nevasaññānāsaññāyatanaṃ kasmā na vuttanti? pāṭiyekkaṃ abhinivesābhāvato. tattha hi kalāpato nayato sammasanaṃ labbhati, dhammasenāpatisadisassāpi hi bhikkhuno pāṭiyekkaṃ abhiniveso na jāyati. tasmā theropi, “evaṃ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī”ti (ma. ni. 3.94) kalāpato nayato sammasitvā vissajjesīti. bhagavā pana sabbaññutaññāṇassa hatthagatattā nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyampi paropaññāsa dhamme pāṭiyekkaṃ aṃguddhāreneva uddharitvā, “yāvatā saññāsamāpattiyo, tāvatā aññāpaṭivedho”ti āha.

Khi đó, tại sao không nói đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ? Bởi không có việc nắm lấy tách ra thành từng phần riêng biệt. Trong cõi Phi tưởng phi phi tưởng đó hành giả quán xét thành từng phần từng phần, và theo từng phương pháp. Việc nắm lấy từng phần từng phần không sanh khởi cùng vị Tỳ khưu ngay cả người như vị Tướng quân chánh pháp cũng thế. Vì thế Trưởng lão cũng quán xét thành từng nhóm và theo từng phương pháp rồi giải quyết như sau “Được biết rằng, các Pháp này không có cũng sanh khởi, có rồi lại hoại diệt như vậy” (ma. ni. 3.94). Còn đối với đức Thế Tôn do bản thể Vô thượng Chánh giác có trong lòng bàn tay, đem ra nhiều hơn 50 loại Pháp, thậm chí trong sự thể nhập ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng với việc đưa ra điều sắp xếp thành từng nhóm từng nhóm rồi thuyết rằng “sự thể nhập vào tưởng có chừng nào, sự thấu triệt A-ra-hán quả có chừng ấy.”

paññācakkhunā pajānātīti dassanapariṇāyakaṭṭhena cakkhubhūtāya paññāya pajānāti. tattha dve paññā samādhipaññā vipassanāpaññā ca. samādhipaññāya kiccato asammohato ca pajānāti. vipassanāpaññāya lakkhaṇapaṭivedhena ārammaṇato jānanaṃ kathitaṃ. kimatthiyāti ko etissā attho. abhiññatthātiādīsu P.2.346 abhiññeyye dhamme abhijānātīti M.2.246 abhiññatthā. pariññeyye dhamme parijānātīti pariññatthā. pahātabbe dhamme pajahatīti pahānatthā. sā panesā lokiyāpi abhiññatthā ca pariññatthā ca vikkhambhanato pahānatthā. lokuttarāpi abhiññatthā ca pariññatthā ca samucchedato pahānatthā. tattha lokiyā kiccato asammohato ca pajānāti, lokuttarā asammohato.

Paññācakkhunā pajānātī (tuệ tri bằng tuệ nhãn): tuệ tri nhờ bản thể mắt với ý nghĩa là người dẫn dắt mọi đạo lộ trong việc nhìn. ‘Tuệ trì bằng tuệ nhãn’ ấy, trí tuệ có 2 loại là trí tuệ trong Định và Tuệ ở trong Minh sát. Tuệ tri cả về phận sự và cả sự không xao lãng bởi trí Tuệ trong Định. Ngài nói sự nhận biết nhờ đối tượng với việc thấu triệt tướng trạng bằng Tuệ trong Minh sát. Kimatthiyā (Có gì là lợi ích): cái gì là lợi ích của tuệ này, ‘Thắng tri là điều lợi ích’ được gọi là có sự thắng tri là điều cần thiết bởi thắng tri Pháp đáng biết tối thắng. ‘Tuệ tri là điều lợi ích’ là Tuệ tri trong Pháp cần được tuệ tri. ‘Đoạn tận là điều lợi ích’ dứt bỏ trong Pháp cần được từ bỏ. Cũng thế Tuệ này dẫu là trí tuệ Hiệp thế cũng có Thắng trí là điều lợi ích, và có việc dứt trừ với sự chế ngự. Thậm chí là trí tuệ Siêu thế cũng có thắng tri là điều lợi ích, và có liễu tri là điều lợi ích, và có sự dứt bỏ là điều lợi ích. Cả 2 loại trí tuệ đó trí tuệ Hiệp thế thì tuệ tri theo phận sự và cả sự không xao lãng, trí tuệ Siêu thế biết rõ với sự không xao lãng.

452. sammādiṭṭhiyā uppādāyāti vipassanāsammādiṭṭhiyā ca maggasammādiṭṭhiyā ca. parato ca ghosoti sappāyadhammassavanaṃ. yoniso ca manasikāroti attano upāyamanasikāro. tattha sāvakesu api dhammasenāpatino dve paccayā laddhuṃ vaṭṭantiyeva. thero hi kappasatasahassādhikaṃ V.2.242 ekaṃ asaṅkhyeyyaṃ pāramiyo pūretvāpi attano dhammatāya aṇumattampi kilesaṃ pajahituṃ nāsakkhi. “ye dhammā hetuppabhavā”ti (mahāva. 60) assajittherato imaṃ gāthaṃ sutvāvassa paṭivedho jāto. paccekabuddhānaṃ pana sabbaññubuddhānañca paratoghosakammaṃ natthi, yonisomanasikārasmiṃyeva ṭhatvā paccekabodhiñca sabbaññutaññāṇañca nibbattenti.

sammādiṭṭhiyā uppādāyā (y cứ vào chánh kiến) là nương vào cái thấy chân chánh trong Minh sát và cái thấy đúng trong đạo. parato ca ghoso (được nghe từ người khác): là lắng nghe âm thanh dễ chịu. Yoniso ca manasikāro (và tác ý đúng đường lối): là tác ý đúng đắn của chính mình. Thậm chí trong nhóm chư Thinh văn đó cả hai duyên nên chỉ có được cũng vị Tướng quân Chánh pháp. Bởi vì Trưởng lão đã thực hành ba-la-mật cả một a-tăng-kỳ thêm một trăm kiếp cũng không thể dứt trừ phiền não dù chút ít của chính mình được. Nhưng khi được lắng nghe kệ ngôn từ Trưởng lão Assaji đọc lên như sau: “Các Pháp nào sanh lên do nhân” đã thấu triệt Chân lý. Còn đối với chư Phật Độc Giác và chư Phật Toàn Giác không có hành động lắng nghe Pháp từ người khác. Người vững trú trong sự tác ý đúng đường lối làm cho sanh khởi sẽ làm cho sanh khởi trí tuệ Độc Giác, và cả trí tuệ Toàn Giác.

anuggahitāti laddhūpakārā. sammādiṭṭhīti arahattamaggasammādiṭṭhi. phalakkhaṇe nibbattā cetovimutti phalaṃ assāti cetovimuttiphalā. tadeva cetovimuttisaṅkhātaṃ phalaṃ ānisaṃso assāti cetovimuttiphalānisaṃsā. dutiyapadepi eseva nayo. ettha ca catutthaphalapaññā paññāvimutti nāma, avasesā dhammā cetovimuttīti veditabbā. sīlānuggahitātiādīsu sīlanti catupārisuddhisīlaṃ. sutanti sappāyadhammassavanaṃ. sākacchāti kammaṭṭhāne khalanapakkhalanacchedanakathā. samathoti vipassanāpādikā aṭṭha samāpattiyo. vipassanāti sattavidhā anupassanā. catupārisuddhisīlañhi pūrentassa, sappāyadhammassavanaṃ suṇantassa, kammaṭṭhāne khalanapakkhalanaṃ chindantassa, vipassanāpādikāsu aṭṭhasamāpattīsu kammaṃ karontassa, sattavidhaṃ anupassanaṃ bhāventassa arahattamaggo uppajjitvā phalaṃ deti.

Anuggahita (trợ giúp): đã nhận được sự trợ giúp. Sammādiṭṭhi (chánh kiến): Cái thấy chân chánh ở trong A-ra-hán Đạo. cái thấy chân chánh trong A-ra-hán Đạo đó sanh khởi ở sát-na Quả. Sự giải thoát của tâm sanh khởi trong sát-na Quả là kết quả của cái thấy chân chánh ấy, vì thế gọi là có tâm giải thoát là Quả. Quả được xem là sự giải thoát của tâm ấy là lợi ích của chánh kiến ấy, vì thế mới gọi là ‘có sự giải thoát của tâm là lợi ích’. Thậm chí ở câu thứ 2 cũng được thực hiện tương tự. Nên biết rằng trong chánh kiến đó Quả thứ 4 gọi là paññāvimutti (sự giải thoát của tâm với mãnh lực của Tuệ). Các Pháp còn lại nên hiểu rằng ‘cetovimutti (sự giải thoát của tâm với mãnh lực của Định). Sīlānuggahitā (có giới hỗ trợ v.v,): Bốn sự thanh tịnh của giới gọi là giới. Từ ‘đã nghe (suta)’ việc lắng nghe Pháp hợp thời. Sākacchā: Lời nói truyền đạt nhằm mục đích diệt tận sự lệch lạc trong nghiệp xứ. Samatha (Chỉ tịnh) bao gồm 8 thiền chứng có Minh sát làm nền tảng. Vipassanā (Minh sát) là bảy tùy quán. Thật vậy, A-ra-hán Đạo sanh khởi rồi cho Quả cùng người thực hành bốn thanh tịnh giới, lắng nghe Pháp thích hợp, cắt đứt sự sai lầm lệch lạc trong nghiệp xứ, thực hành trong 8 thiền chứng có Minh sát làm nền tảng tu tập bảy tùy quán.

yathā hi madhuraṃ ambapakkaṃ paribhuñjitukāmo ambapotakassa P.2.347 samantā udakakoṭṭhakaṃ thiraṃ katvā bandhati. ghaṭaṃ gahetvā kālena kālaṃ udakaṃ āsiñcati. udakassa anikkhamanatthaṃ mariyādaṃ thiraṃ karoti. yā hoti M.2.247 samīpe valli vā sukkhadaṇḍako vā kipillikapuṭo vā makkaṭakajālaṃ vā, taṃ apaneti. khaṇittiṃ gahetvā kālena kālaṃ mūlāni parikhaṇati. evamassa appamattassa imāni pañca kāraṇāni karoto so ambo vaḍḍhitvā phalaṃ deti. evaṃsampadamidaṃ veditabbaṃ. rukkhassa samantato koṭṭhakabandhanaṃ viya hi sīlaṃ daṭṭhabbaṃ, kālena kālaṃ udakasiñcanaṃ viya dhammassavanaṃ, mariyādāya thirabhāvakaraṇaṃ viya samatho, samīpe valliādīnaṃ haraṇaṃ viya kammaṭṭhāne khalanapakkhalanacchedanaṃ, kālena kālaṃ khaṇittiṃ gahetvā mūlakhaṇanaṃ viya sattannaṃ anupassanānaṃ bhāvanā. tehi pañcahi kāraṇehi anuggahitassa ambarukkhassa madhuraphaladānakālo viya imassa bhikkhuno imehi pañcahi dhammehi anuggahitāya sammādiṭṭhiyā arahattaphaladānaṃ veditabbaṃ.

Nên biết ví dụ minh họa giống như một người muốn ăn xoài chín ngọt, đặt cái bồn chứa nước quanh cây xoài một cách kiên cố, thỉnh thoảng cầm bình tưới nước, đào rãnh để nước không thể chảy ra ngoài một cách chắc chắn, loại bỏ dây leo gần đó, những nhánh cây khô, ổ kiến lửa hoặc mạng nhện. Lấy xẻng (hoặc cuốc) để đào xung quanh gốc cây đúng lúc, khi được cẩn thận chăm sóc đủ cả năm điều nêu trên. Cây xoài phát triển và cho quả như thế nào; Cần thấy bốn thanh tịnh giới giống như việc đặt cái bồn nước xung quanh cây xoài, việc lắng nghe Giáo Pháp giống như việc giống như việc thỉnh thoảng tưới nước, chỉ tịnh giống như việc đào rãnh nước một cách chắc chắn, việc cắt đứt sự sai lầm trong nghiệp xứ cũng giống như dọn sạch những dây leo ở gần v.v, việc tu tập 7 tùy quán giống như việc đào đất xung quanh gốc cây v.v, đúng thời. Việc cho quả là tính chất trở thành vị A-ra-hán của vị Tỳ khưu này bởi cái thấy chân chánh mà 5 Pháp này theo hỗ trợ cũng giống như thời gian mà cây xoài đủ cả 5 nguyên nhân đó hỗ trợ để cho quả ngon ngọt như thế đó.

453. kati V.2.243 panāvuso, bhavāti idha kiṃ pucchati? mūlameva gato anusandhi, duppañño yehi bhavehi na uṭṭhāti, te pucchissāmīti pucchati. tattha kāmabhavoti kāmabhavūpagaṃ kammaṃ kammābhinibbattā upādinnakkhandhāpīti ubhayamekato katvā kāmabhavoti āha. rūpārūpabhavesupi eseva nayo. āyatinti anāgate. punabbhavassa abhinibbattīti punabbhavābhinibbatti. idha vaṭṭaṃ pucchissāmīti pucchati. tatrātatrābhinandanāti rūpābhinandanā saddābhinandanāti evaṃ tahiṃ tahiṃ abhinandanā, karaṇavacane cetaṃ paccattaṃ. tatratatrābhinandanāya punabbhavābhinibbatti hotīti attho. ettāvatā hi gamanaṃ hoti, āgamanaṃ hoti, gamanāgamanaṃ hoti, vaṭṭaṃ vattatīti vaṭṭaṃ matthakaṃ pāpetvā dassesi.

Trưởng lão Maha Koṭṭhika hỏi gì ‘Kati panāvuso, bhavā (này hiền giả có bao nhiêu hữu)’, Trưởng lão hỏi rằng “sự tiếp nói đi đến gốc rễ đơn thuần”, kẻ ngu không ngồi lên được cõi nào, tôi xin hỏi đến cõi đó. Ở đây, ‘dục giới’ bởi Trưởng lão kết hợp cả hai thứ là việc thực hành đến cõi dục và uẩn là tham ái, ngã mạn, tham ái và sự chấp thủ sanh khởi do việc thực hiện là một mới nói rằng ‘dục giới’, ngay cả trong cõi sắc và vô sắc cũng được thực hiện tương tự như vậy. Āyatiṃ (tiếp tục): trong thời vị lai, việc tiếp tục sanh khởi trong kiếp sống mới được gọi là ‘punabbhavābhinibbatti (việc sanh khởi trong kiếp sống mới)’, ở đây Ngài hỏi đến việc luân hồi. Tatrātatrābhinandanāti (Sự thỏa mãn trong đối tượng đó): sự thỏa mãn cao trong sắc, sự thỏa mãn cao trong âm thanh, đây là chủ cách được dùng thành sở dụng cách, được giải thích rằng việc tiếp tục sanh khởi có mặt do sự thích thú cao nơi đối tượng. Chỉ với chừng ấy lời này mà Trưởng lão đã trình bày vấn đề luân hồi cho đến cùng tận ‘việc đi có mặt, việc đến có mặt, việc đi và việc đến có mặt luân hồi có mặt.’

idāni vivaṭṭaṃ pucchanto “kathaṃ panāvuso”tiādimāha. tassa vissajjane avijjāvirāgāti avijjāya khayanirodhena. vijjuppādāti arahattamaggavijjāya uppādena. kiṃ P.2.348 avijjā pubbe niruddhā, atha vijjā pubbe uppannāti? ubhayametaṃ na vattabbaṃ. padīpujjalanena andhakāravigamo viya vijjuppādena avijjā niruddhāva hoti. taṇhānirodhāti taṇhāya khayanirodhena. punabbhavābhinibbatti na hotīti evaṃ āyatiṃ punabbhavassa abhinibbatti na hoti, gamanaṃ āgamanaṃ gamanāgamanaṃ upacchijjati, vaṭṭaṃ na vattatīti vivaṭṭaṃ matthakaṃ pāpetvā dassesi.

Bây giờ khi hỏi đến việc chấm dứt luân hồi Trưởng lão Maha Koṭṭhika đã nói lời như vầy ‘kathaṃ panāvuso (này Hiền giả, việc sanh tiếp tục trong cõi mới sẽ không có mặt như thế nào?)’. Việc trả lời câu hỏi đó cần phải lý giải như sau: Avijjāvirāgā (vô minh được viễn ly) bởi vì sự cạn kiệt và sự diệt tận của Vô minh. Bởi làm cho Minh sanh khởi: bởi sanh khởi Minh trong A-ra-hán Đạo. Không nên nói cả 2 lời này rằng: ‘Vô minh diệt trước hoặc Minh sanh lên trước.’ Bởi vì Minh sanh khởi, Vô minh đoạn diệt thật sự cũng giống như bóng tối biến mất bởi ánh sáng của ngọn đèn xuất hiện. Taṇhānirodha (sự diệt tận của thâm ái): bởi do sự diệt tận của tham ái. punabbhavābhinibbatti na hoti (sự sanh khởi trong kiếp sống mới không còn nữa): Sự sanh khởi của kiếp sống mới trong tương lai sẽ không có mặt. Sự luân chuyển (của kiếp sống) cũng dừng lại bằng cái này. Cũng tức là Trưởng lão đã trình bày sự luân chuyển (của kiếp sống) cho đến chấm dứt (kiếp sống).

454. katamaṃ panāvusoti idha kiṃ pucchati? ubhatobhāgavimutto bhikkhu kālena kālaṃ nirodhaṃ samāpajjati. tassa nirodhapādakaṃ paṭhamajjhānaṃ pucchissāmīti pucchati. paṭhamaṃ jhānanti idha kiṃ pucchati? nirodhaṃ samāpajjanakena M.2.248 bhikkhunā aṅgavavatthānaṃ koṭṭhāsaparicchedo nāma jānitabbo, idaṃ jhānaṃ pañcaṅgikaṃ caturaṅgikaṃ tivaṅgikaṃ duvaṅgikanti aṅgavavatthānaṃ koṭṭhāsaparicchedaṃ pucchissāmīti pucchati. vitakkotiādīsu pana abhiniropanalakkhaṇo vitakko, anumajjanalakkhaṇo vicāro, pharaṇalakkhaṇā pīti, sātalakkhaṇaṃ sukhaṃ, avikkhepalakkhaṇā cittekaggatāti ime pañca dhammā vattanti. kataṅgavippahīnanti idha pana kiṃ pucchati? nirodhaṃ samāpajjanakena bhikkhunā upakārānupakārāni aṅgāni jānitabbāni, tāni pucchissāmīti pucchati, vissajjanaṃ panettha pākaṭameva. iti heṭṭhā nirodhapādakaṃ paṭhamajjhānaṃ gahitaṃ, upari tassa anantarapaccayaṃ nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ pucchissati. antarā pana cha samāpattiyo saṃkhittā, nayaṃ vā dassetvā vissaṭṭhāti veditabbā.

454 Trưởng lão hỏi đến điều gì trong câu này “này Hiền giả, (sơ thiền) như thế nào?” Trưởng lão hỏi rằng “vị tỳ khưu vượt khỏi cả hai phần (sự giải thoát của tâm và sự giải thoát của tuệ) thể nhập thiền diệt hợp thời. Trương lão hỏi rằng “tôi hỏi Sơ thiền là đạo lộ diễn tiến của sự diệt tận của vị Tỳ khưu đó” trong câu “này Hiền giả, Sơ thiền (paṭhamaṃ jhānan)” Trưởng lão hỏi điều gì? Trưởng lão hỏi rằng “Thông thường vị Tỳ khưu nhập thiền diệt cần phải hiểu việc xác định các chi thiền và việc xác định và xác định phần như sau: ‘Thiền này có 5 chi, thiền này có 4 chi, thiền này có 3 chi, thiền này có 2 chi’ tôi xin hỏi đến việc xác định chi thiền và xác định phần.” Trong chi thiền có Tầm v.v, nên biết Tàm có sự đưa lên (là đưa đối tượng vào tâm, hoặc đưa tâm đến đối tượng) là trạng thái, Tứ có việc quán xét (đối tượng) là trạng thái, Hỷ có sự phỉ lạc là trạng thái, lạc có sự hân hoan là trạng thái, Nhất tâm có sự không dao động là trạng trái, cả 5 Pháp này đều diễn tiến trong Sơ thiền. Kataṅgavippahīnaṃ (từ bỏ bao nhiêu chi phần) Trưởng lão hỏi đến điều gì? Ngài hỏi rằng “thông thường vị Tỳ khưu nhập thiền diệt phải hiểu chi thiền hỗ trợ và chi thiền không hỗ trợ” tôi xin hỏi đến những chi thiền đó. Đối với câu trả lời trong câu hỏi đã được giải đáp rõ ràng rồi. Với cách thức này cũng là cách mà Ngài đã nắm lấy Sơ thiền là đạo lộ diễn tiến có sự diệt tận ở tầng thấp nhất rồi hỏi đến việc thể nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ mà Sơ thiền đó làm vô gián duyên ở tầng trên. Cũng thế nên biết cả 6 thiền chứng ở giữa cõi Phi tưởng phi phi tưởng ấy Ngài chỉ nói vắn tắt hoặc Ngài đã chỉ rõ rồi.

455. Idāni viññāṇanissaye pañca pasāde pucchanto pañcimāni, āvusotiādimāha. tattha gocaravisayanti gocarabhūtaṃ visayaṃ. aññamaññassāti cakkhu sotassa sotaṃ vā cakkhussāti evaṃ ekekassa gocaravisayaṃ na paccanubhoti. sace hi nīlādibhedaṃ rūpārammaṇaṃ samodhānetvā sotindriyassa upaneyya, “iṅgha tāva naṃ vavatthapehi vibhāvehi, kiṃ nāmetaṃ ārammaṇan”ti. cakkhuviññāṇañhi vināpi mukhena attano dhammatāya evaṃ vadeyya — “are andhabāla P.2.349, vassasatampi vassasahassampi paridhāvamāno aññatra mayā kuhiṃ etassa jānanakaṃ labhissasi, āhara naṃ cakkhupasāde upanehi, ahametaṃ ārammaṇaṃ jānissāmi, yadi vā nīlaṃ yadi vā pītakaṃ, na hi eso aññassa visayo, mayheveso visayo”ti. sesadvāresupi eseva nayo.

455 Bây giờ, khi hỏi đến 5 thần kinh y cứ Thức, Ngài trưởng lão Koṭṭhika mới nói rằng: “Này Hiền giả 5 quyền này” v.v, Trong từ ‘Gocaravisaya (trần cảnh, phạm vi cảnh)’ là đối tượng làm bản thể hành xứ. aññamaññassa (hòa trộn lẫn nhau): không có lẫn lộn trong các đối tượng của trần cảnh chẳng hạn như Mắt không tiếp nhận trần cảnh của Tai, hoặc Tai không tiếp nhận trần cảnh của Mắt. Nếu như con người tập hợp đối tượng thành Sắc có màu sắc xanh v.v, rồi hướng đến cho Nhĩ quyền rồi nói rằng “Này…Ngài hãy thử quán xét, làm cho sáng tỏ rằng đối tượng này là gì.?” Chính là Nhãn thức, đã mở miệng nói rồi, cũng sẽ nói theo thông thường của chính mình được như vầy: “Ôi, ngươi không những mù mà còn ngu si, cho ngươi chạy vòng quanh trăm năm, nghìn năm, ngoại trừ tôi thì người có thể tìm kiếm đâu người biết vấn đề này, lấy nó đặt trong thần kinh mắt đi, tôi sẽ biết đối tượng đó, cho dù đó là xanh hay vàng thì thứ đó không phải đối tượng của người khác chính là đối tượng của tôi mà thôi.” Ngay cả đối các Môn còn lại có có cách thức tượng tự như vậy.

evametāni aññamaññassa gocaraṃ visayaṃ na paccanubhonti nāma. kiṃ paṭisaraṇanti etesaṃ kiṃ paṭisaraṇaṃ, kiṃ etāni paṭisarantīti pucchati. mano paṭisaraṇanti javanamano paṭisaraṇaṃ. mano ca nesanti manodvārikajavanamano vā pañcadvārikajavanamano vā etesaṃ gocaravisayaṃ rajjanādivasena anubhoti. cakkhuviññāṇañhi rūpadassanamattameva, ettha rajjanaṃ vā dussanaṃ vā muyhanaṃ vā natthi. etasmiṃ pana dvāre javanaṃ rajjati vā dussati vā muyhati vā. sotaviññāṇādīsupi eseva nayo.

Như vậy gọi là những quyền này chúng không dung nạp lẫn lộn giữa các trần cảnh. kiṃ paṭisaraṇaṃ (cái gì là nơi nương nhờ): Ngài hỏi rằng “Cái gì là nơi nương nhờ của các quyền này, các quyền này nương vào cái gì?” mano paṭisaraṇaṃ (Có tâm là chỗ nương): tốc lực tâm (thọ lãnh đối tượng hoặc tạo nghiệp) là nơi nương nhờ. Mano ca nesaṃ (tâm tiếp nhận đối tượng trần cảnh của năm quyền đó): Tâm chạy theo Ý môn hoặc tâm chạy theo cả năm Môn tiếp nhận trần cảnh của các quyền đó với mãnh lực của sự quyến luyến v.v. Thật vậy, nhãn thức chỉ là cái thấy sắc (của mắt), không có sự quyến luyến, hoặc sự tổn hại, hoặc sự nghi ngờ trong việc nhìn thấy sắc v.v, nhưng đổng lực tâm trong Môn này riêng biệt lại quyến luyến, hoặc nghĩ làm tổn thương, hoặc phân vân. Ngay cả Nhĩ thức cũng được thực hiện theo cách tương tự.

tatrāyaṃ upamā — pañca kira dubbalabhojakā rājānaṃ sevitvā kicchena kasirena ekasmiṃ pañcakulike gāme parittakaṃ āyaṃ labhiṃsu. tesaṃ tattha M.2.249 macchabhāgo maṃsabhāgo yuttikahāpaṇo vā, bandhakahāpaṇo vā, māpahārakahāpaṇo vā, aṭṭhakahāpaṇo vā, soḷasakahāpaṇo vā, bāttiṃsakahāpaṇo vā, catusaṭṭhikahāpaṇo vā, daṇḍoti ettakamattameva pāpuṇāti. satavatthukaṃ pañcasatavatthukaṃ sahassavatthukaṃ mahābaliṃ rājāva gaṇhāti. tattha pañcakulikagāmo viya pañca pasādā daṭṭhabbā; pañca dubbalabhojakā viya pañca viññāṇāni; rājā viya javanaṃ; dubbalabhojakānaṃ parittakaṃ āyapāpuṇanaṃ viya cakkhuviññāṇādīnaṃ rūpadassanādimattaṃ. rajjanādīni pana etesu natthi. rañño mahābaliggahaṇaṃ viya tesu dvāresu javanassa rajjanādīni veditabbāni.

Tiếp theo sẽ so sánh các quyền này – Kể rằng có năm trưởng làng Có một câu chuyện rằng Có 5 trưởng làng yếu đuối tụ tập lại xin phép đức vua, nhận lấy được một khoản lợi nhuận nhỏ nhoi trong một ngôi làng gồm năm gia đình gặp nhiều khó khăn. Của cải chỉ chừng này, được điều chỉnh ngang bằng một phần thịt, một đồng kahābana đủ để mua được một sợi dây, hoặc một đồng kahāpana đủ để mua một sợi dây để buộc một con voi, bốn kahāpana, tám kahāpana, mười sáu kahāpana, ba mươi hai kahāpana, hoặc sáu mươi bốn kahāpana trong ngôi làng đó sẽ đến tay những trưởng làng đó. Chỉ có đức vua nhận được lợi tức to lao thành từng nhóm của hàng trăm thứ, hàng năm trăm thứ và hàng nghìn thứ. Nên biết rằng cả năm Thần kinh giống như năm ngôi làng của năm hộ gia định ở nơi đó; Cả năm Thức giống như 5 người trưởng làng yếu ớt, đổng lực tâm đến đối tượng giống như đức vua. Phận sự chỉ nhìn nhận sắc v.v, của Nhãn thức v.v, giống như người trưởng làng yếu ớt được nhận phần lợi lộc ít ỏi. Còn sự quyến luyến v.v, không có trong những Thần kinh đó. Nên biết sự quyến luyến v.v, của tâm làm phận sự đốc thúc đến đối tượng trong các Môn đó, giống như việc nhận được phần lợi tức to lớn của đức vua.

456. pañcimāni, āvusoti idha kiṃ pucchati? antonirodhasmiṃ pañca pasāde. kiriyamayapavattasmiñhi V.2.245 vattamāne arūpadhammā pasādānaṃ balavapaccayā honti. yo pana taṃ pavattaṃ nirodhetvā nirodhasamāpattiṃ samāpanno, tassa antonirodhe pañca pasādā kiṃ paṭicca tiṭṭhantīti idaṃ pucchissāmīti pucchati. āyuṃ paṭiccāti jīvitindriyaṃ paṭicca tiṭṭhanti P.2.350. usmaṃ paṭiccāti jīvitindriyaṃ kammajatejaṃ paṭicca tiṭṭhati. yasmā pana kammajatejopi jīvitindriyena vinā na tiṭṭhati, tasmā “usmā āyuṃ paṭicca tiṭṭhatī”ti āha. jhāyatoti jalato. acciṃ paṭiccāti jālasikhaṃ paṭicca. ābhā paññāyatīti āloko nāma paññāyati. ābhaṃ paṭicca accīti taṃ ālokaṃ paṭicca jālasikhā paññāyati.

456 pañcimāni, āvuso (này Hiền giả, 5 quyền này): Trưởng lão hỏi đến điều gì? Ngài hỏi đến cả năm thần kinh bên trong trong sự diệt tận như sau: đối với nhóm tìm kiếm Sắc không được (đó) khi sự vận hành được hoàn thành từ các tâm tố đang hoạt động, Vô sắc pháp cũng trở thành lực duyên cho các Thần kinh, người nào đã diệt Vô sắc pháp đang vận hành rồi thể nhập thiền diệt, thì cả năm Thần kinh bên trong sự diệt tận của người đó y cứ vào cái gì?” Āyuṃ paṭiccā (nương vào tuổi thọ): dựa vào Mạng quyền vững trú. usmaṃ paṭiccā (nương vào hơi ấm): Mạng quyền nương vào sức nóng sanh lên từ nghiệp vững trú. Do sức nóng được tạo ra từ nghiệp loại bỏ Mạng quyền thì không thể vững trú, vì thế Ngài nói rằng “sức nóng nương vào tuổi thọ vững trú”. Jhāyato (đang bốc cháy): đang cháy sáng. Acciṃ paṭicca: do duyên tim đèn. ābhā paññāyati: ánh sáng xuất hiện. ābhaṃ paṭicca acci: do duyên tim đèn, ánh sáng được hiện ra.

evameva kho, āvuso, āyu usmaṃ paṭicca tiṭṭhatīti ettha jālasikhā viya kammajatejo. āloko viya jīvitindriyaṃ. jālasikhā hi uppajjamānā ālokaṃ gahetvāva uppajjati. sā tena attanā janitāalokeneva sayampi aṇu thūlā dīghā rassāti pākaṭā hoti. tattha jālapavattiyā janitāalokena tassāyeva jālapavattiyā pākaṭabhāvo viya usmaṃ paṭicca nibbattena kammajamahābhūtasambhavena jīvitindriyena usmāya anupālanaṃ. jīvitindriyañhi dasapi vassāni … pe … vassasatampi kammajatejapavattaṃ pāleti. iti mahābhūtāni upādārūpānaṃ nissayapaccayādivasena paccayāni hontīti āyu usmaṃ paṭicca tiṭṭhati. jīvitindriyaṃ M.2.250 mahābhūtāni pāletīti usmā āyuṃ paṭicca tiṭṭhatīti veditabbā.

evameva kho, āvuso, āyu usmaṃ paṭicca tiṭṭhati (Cũng vậy này Hiền giả, tuổi thọ do duyên hơi ấm mà an trú): Lửa sanh khởi từ nghiệp giống như tim đèn, mạng quyền giống như ánh sáng. Thật vậy, tim đèn khi phát sáng cũng mang ánh sáng đó cùng xuất hiện. Tim đèn xuất hiện là ngọn lửa nhỏ, lớn, dài, ngắn thuận theo ánh sáng mà chính nó cho phát ra, việc sử dụng Mạng quyền đồng sanh với bốn Sắc đại hiển sanh lên từ Nghiệp duyên hơi ấm sanh khởi, nhờ gìn giữ hơi ấm giống như sự xuất hiện của sự diễn tiến của chính ngọn lửa tử tim đèn đó bởi ánh sáng diễn tiến của ngọn lửa trong ánh sáng đó sanh khởi. Thật vậy, Mạng quyền gìn giữ hơi ấm vận hành theo nghiệp cho sanh khởi 10 năm, 20 năm…100 năm với cách này, Sắc đại hiển làm duyên với mãnh lực của Sắc thủ, vì thế mới trở thành tuổi thọ nương vào hơi ấm an trú , mạng quyền gìn giữ các Sắc đại hiển, do nhân này nên hiểu rằng hơi ấm dựa vào tuổi thọ để an trú.

457. āyusaṅkhārāti āyumeva. vedaniyā dhammāti vedanā dhammāva. vuṭṭhānaṃ paññāyatīti samāpattito vuṭṭhānaṃ paññāyati. yo hi bhikkhu arūpapavatte ukkaṇṭhitvā saññañca vedanañca nirodhetvā nirodhaṃ samāpanno, tassa yathāparicchinnakālavasena rūpajīvitindriyapaccayā arūpadhammā uppajjanti. evaṃ pana rūpārūpapavattaṃ pavattati. yathā kiṃ? yathā eko puriso jālāpavatte ukkhaṇṭhito udakena paharitvā jālaṃ appavattaṃ katvā chārikāya aṅgāre pidhāya tuṇhī nisīdati. yadā panassa puna jālāya attho hoti, chārikaṃ apanetvā aṅgāre parivattetvā upādānaṃ datvā mukhavātaṃ vā tālavaṇṭavātaṃ vā dadāti. atha jālāpavattaṃ puna pavattati. evameva jālāpavattaṃ viya arūpadhammā. purisassa jālāpavatte ukkaṇṭhitvā udakappahārena jālaṃ appavattaṃ katvā chārikāya aṅgāre pidhāya tuṇhībhūtassa nisajjā viya bhikkhuno P.2.351 arūpapavatte ukkaṇṭhitvā saññañca vedanañca nirodhetvā nirodhasamāpajjanaṃ. chārikāya V.2.246 pihitāṅgārā viya rūpajīvitindriyaṃ. purisassa puna jālāya atthe sati chārikāpanayanādīni viya bhikkhuno yathāparicchinnakālāpagamanaṃ. aggijālāya pavatti viya puna arūpadhammesu uppannesu rūpārūpapavatti veditabbā.

Āyusaṅkhāra (thọ hành): chính là tuổi thọ. vedaniyā dhammā (những pháp được cảm thọ): Các pháp được cảm thọ. vuṭṭhānaṃ paññāyati (Việc xuất khỏi…được hiện hữu): việc xuất khỏi thiền chứng cũng hiện hữu. Thật vậy, vị Tỳ khưu nào khởi lên sự hài lòng trong sắc đã diễn tiến, mới diệt tưởng và thọ rồi nhập thiền diệt, Vô sắc pháp có có Sắc mạng quyền làm duyên sanh khởi cùng vị Tỳ khưu đó theo sức mạnh thời gian, theo nơi xác địnhs Sắc và Vô sắc được diễn tiến như thế cũng được vận hành. Giống điều gì? giống như một người đàn ông bị nóng bức bởi một ngọn lửa đang bốc cháy, đã lấy nước đến để dập tắt đám cháy, lấy nhiều tro phủ lên than rồi ngồi yên lặng. Khi anh ta muốn có một ngọn lửa khác cần phải loại bỏ lớp tro ra lật đóng than trở lại thêm vật liệu vào rồi thổi gió bằng miệng, hoặc bằng quạt lá cọ ở nơi đó, ngọn lửa đã tắt sẽ quay trở lại như nào thế nào;

purisassa jālāpavatte ukkaṇṭhitvā udakappahārena jālaṃ appavattaṃ katvā chārikāya aṅgāre pidhāya tuṇhībhūtassa nisajjā viya bhikkhuno P.2.351 arūpapavatte ukkaṇṭhitvā saññañca vedanañca nirodhetvā nirodhasamāpajjanaṃ. chārikāya V.2.246 pihitāṅgārā viya rūpajīvitindriyaṃ. purisassa puna jālāya atthe sati chārikāpanayanādīni viya bhikkhuno yathāparicchinnakālāpagamanaṃ. aggijālāya pavatti viya puna arūpadhammesu uppannesu rūpārūpapavatti veditabbā.

Cũng như thế đó Vô sắc pháp giống như ngọn lửa bùng cháy, việc mà vị Tỳ khưu khởi lên sự bức bối khó chịu trong Vô sắc (thiền) diễn ra rồi sau khi diệt tưởng và thọ đi vào diệt, cũng giống như việc người đàn ông khởi lên sự bức bối khó chịu trong ngọn lửa đang bốc cháy mới lấy nước để dập tắt ngọn lửa, lấy tro đến phủ lên than rồi ngồi yên lặng. Sắc mạng quyền là Hỏa giới sanh lên từ nghiệp, cũng có thể vận hành giống như lửa than lấy tro phủ lên. Việc đi theo thời gian mà vị Tỳ khưu ấn đinh giống với việc khi người đàn ông cần ngọn lửa thì phải loại bỏ lớp tro ra khỏi. Sự vận hành của Sắc pháp và Vô sắc pháp trong lúc Vô sắc pháp sanh khởi trở lại nên biết giống như sự diễn ra của ngọn lửa.

āyu usmā ca viññāṇanti rūpajīvitindriyaṃ, kammajatejodhātu, cittanti ime tayo dhammā yadā imaṃ rūpakāyaṃ jahanti, athāyaṃ acetanaṃ kaṭṭhaṃ viya pathaviyaṃ chaḍḍito setīti attho. vuttañcetaṃ —

āyu usmā ca viññāṇaṃ, yadā kāyaṃ jahantimaṃ.

apaviddho tadā seti, parabhattaṃ acetanan”ti. (saṃ. ni. 3.95).

āyu usmā ca viññāṇaṃ (tuổi thọ, hơi ấm và thức): Cả ba Pháp này là Sắc mạng quyền, Hỏa giới sanh lên từ nghiệp, tâm, từ bỏ sắc thân này khi nào? Khi đó cũng vứt bỏ nằm dài trên mặt đất giống như khúc cây không có tâm thức vậy. Điều này đã được nói rằng –

Tuổi thọ, hơi ấm và thức, từ bỏ sắc thân này khi nào

Khi đó cũng bị vứt bỏ nằm vô thức, trở thành thức ăn cho chúng sanh khác.

kāyasaṅkhārāti assāsapassāsā. vacīsaṅkhārāti vitakkavicārā. cittasaṅkhārāti saññāvedanā. āyūti rūpajīvitindriyaṃ. paribhinnānīti upahatāni, vinaṭṭhānīti attho. tattha keci “nirodhasamāpannassa cittasaṅkhārāva niruddhā”ti vacanato cittaṃ aniruddhaṃ hoti, tasmā sacittakā ayaṃ samāpattīti vadanti. te vattabbā — “vacīsaṅkhārāpissa niruddhā”ti vacanato vācā aniruddhā hoti, tasmā nirodhaṃ samāpannena dhammampi kathentena sajjhāyampi M.2.251 karontena nisīditabbaṃ siyā. “yo cāyaṃ mato kālaṅkato, tassāpi cittasaṅkhārā niruddhā”ti vacanato cittaṃ aniruddhaṃ bhaveyya, tasmā kālaṅkate mātāpitaro vā arahante vā jhāpayantena anantariyakammaṃ kataṃ bhaveyya. iti byañjane abhinivesaṃ akatvā ācariyānaṃ naye ṭhatvā attho upaparikkhitabbo. attho hi paṭisaraṇaṃ, na byañjanaṃ.

Hơi thở vào và hơi thở ra gọi là Thân hành. Tầm và Tứ gọi là Ngữ hành. Tưởng và Thọ gọi là Tâm hành. Sắc mạng quyền gọi là tuổi thọ. Vỡ nát hoàn toàn: bị huỷ hoại, có nghĩa là bị phá hủy. Vấn đề của sự diệt đó một số vị nói rằng tâm vẫn chưa diệt bởi Pāḷī trình bày rằng: “Chỉ có Tâm hành của hành giả nhập thiền diệt đã diệt tắt” vì thế sự thể nhập này mới diễn tiến cùng với tâm được. Các Ngài ấy đã nói rằng: “Ngữ hành không diệt theo lời nói sau: ‘Mặc dù Ngữ hành của hành giả nhập thiền diệt đã diệt’” do đó mà hành giả thể nhập thiền diệt có thể ngồi thuyết Pháp cũng được, cũng có thể ngồi học thuộc lòng và tâm của hành giả cũng không thể diệt theo lời sau ‘Vị nào tử đã ấn định thời gian, Tâm hành của chính vị ấy diệt tắt.” Vì thế, người thiểu đốt mẹ cha hoặc bậc A-ra-hán đã chết thì cũng có thể tạo nghiệp vô gián hay sao? Do đó, không nên chấp vào vặn tự, nên đặt chúng vào đúng khuôn mẫu (phương pháp) của các vị thầy xem xét nội dung một cách thận trọng. Thật vậy nội dung là nền tảng để nương tựa, chứ không phải văn tự.

indriyāni vippasannānīti kiriyamayapavattasmiñhi vattamāne bahiddhā ārammaṇesu pasāde ghaṭṭentesu indriyāni kilamantāni upahatāni makkhitāni viya honti, vātādīhi uṭṭhitena rajena catumahāpathe ṭhapitāadāso viya. yathā P.2.352 pana thavikāyaṃ pakkhipitvā mañjūsādīsu ṭhapito ādāso antoyeva virocati, evaṃ nirodhaṃ samāpannassa bhikkhuno antonirodhe pañca pasādā ativirocanti. tena vuttaṃ “indriyāni vippasannānī”ti.

Indriyāni vippasannāni (có các quyền trong sáng): quả thật khi sự diễn tiến được thành tựu từ các Tâm tố đang vận hành khi đối tượng bên ngoài tiếp xúc đến Thần kinh, các quyền trở nên mệt mỏi giống như bị va chạm mạnh, làm cho ô uế, cũng giống như cái gương được đặt ở ngã tư đường lớn bị bụi bẩn bám vào do gió. Cả năm quyền bên trong sự diệt của vị Tỳ khưu thể nhập thiền diệt tăng trưởng không thể so sánh được, giống như một chiếc gương được đặt trong túi rồi cất vào trong tủ chẳng hạn, phát triển bên trong chính nó thế nào cũng như vậy, vì thế Trưởng lão Sārīputta đã nói rằng: “Tất cả các quyền trong sáng.”

458. kati V.2.247 panāvuso, paccayāti idha kiṃ pucchati? nirodhassa anantarapaccayaṃ nevasaññānāsaññāyatanaṃ pucchissāmīti pucchati. vissajjane panassa sukhassa ca pahānāti cattāro apagamanapaccayā kathitā. animittāyāti idha kiṃ pucchati? nirodhato vuṭṭhānakaphalasamāpattiṃ pucchissāmīti pucchati. avasesasamāpattivuṭṭhānañhi bhavaṅgena hoti, nirodhā vuṭṭhānaṃ pana vipassanānissandāya phalasamāpattiyāti tameva pucchati. sabbanimittānanti rūpādīnaṃ sabbārammaṇānaṃ. animittāya ca dhātuyā manasikāroti sabbanimittāpagatāya nibbānadhātuyā manasikāro. phalasamāpattisahajātaṃ manasikāraṃ sandhāyāha. iti heṭṭhā nirodhapādakaṃ paṭhamajjhānaṃ gahitaṃ, nirodhassa anantarapaccayaṃ nevasaññānāsaññāyatanaṃ gahitaṃ, idha nirodhato vuṭṭhānakaphalasamāpatti gahitāti.

458 kati panāvuso, paccayā (này Hiền giả, có bao nhiêu duyên của sự thể nhập): Trưởng lão Koṭṭhika hỏi đến điều gì? Ngài nói rằng: “Tôi xin hỏi đến cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm vô gián duyên của thiền diệt” trong lúc giải quyết vấn đề Trưởng lão Sārīputta đã nói đến duyên đi đến biến mất có bốn loại là “và do sự đoạn diệt của lạc” v.v. Vô tướng (animittāya) này, Trưởng lão Koṭṭhika hỏi đến điều gì? Ngài hỏi rằng: Tôi xin hỏi đến sự thể nhập quả của hành giả xuất khởi thiền diệt. Cũng vậy sự thoát khỏi sự thể nhập quả còn lại có được bởi Hộ kiếp. Còn việc thoát khỏi thiền diệt có được do sự thể nhập quả trôi chảy từ Minh sát. Vì thế, Trưởng lão mới hỏi đến việc xuất khỏi thiền diệt đó. Sabbanimittānaṃ: Không tác ý đến tất cả tướng, các đối tượng có sắc v.v. Animittāya ca dhātuyā manasikāro (việc tác ý đến cảnh giới Niết bàn vô tướng): Việc tác ý trong cảnh giới Niết bàn rời xa tất cả tướng. Trưởng lão có ý muốn nói đến tác ý đồng sanh với sự thể nhập quả. Với cách này là điều mà Ngài nắm lấy Sơ thiền làm nền tảng của sự diệt ở tầng dưới, nắm lấy Phi tưởng phi phi tưởng xứ làm Vô gián duyên của thiền diệt, nắm lấy sự thể nhập quả của hành giả xuất khỏi thiền diệt ở trong trường hợp này.

imasmiṃ ṭhāne nirodhakathā kathetabbā hoti. sā, “dvīhi balehi samannāgatattā tayo ca saṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyā soḷasahi ñāṇacariyāhi navahi samādhicariyāhi vasībhāvatāpaññā nirodhasamāpattiyā ñāṇan”ti evaṃ paṭisambhidāmagge (paṭi. ma. 1.83) āgatā. visuddhimagge panassā sabbākārena vinicchayakathā kathitā.

Trong trường hợp này cần phải nói đến kệ ngôn thiền diệt (nirodhakathā), kệ ngôn thiền diệt này bắt nguồn trong bộ Phân Tích Đạo như vầy: “Tuệ có tính chất hội đủ với hai lực và có ưu thế với sự tĩnh lặng của ba hành, với mười sáu hành vi của trí, và với chín hành vi của định là trí về sự chứng đạt thiền diệt”. Còn lời lý giải về mọi khía cạnh Ngài đã nói trong bộ Thanh Tịnh Đạo.

idāni valañjanasamāpattiṃ pucchanto kati panāvuso, paccayātiādimāha. nirodhato hi vuṭṭhānakaphalasamāpattiyā ṭhiti nāma na hoti, ekaṃ dve cittavārameva pavattitvā bhavaṅgaṃ otarati. ayañhi bhikkhu satta divase arūpapavattaṃ nirodhetvā nisinno nirodhavuṭṭhānakaphalasamāpattiyaṃ na ciraṃ tiṭṭhati. valañjanasamāpattiyaṃ pana addhānaparicchedova pamāṇaṃ. tasmā sā ṭhiti nāma hoti. tenāha — “animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā”ti. tassā ciraṭṭhitatthaṃ kati paccayāti attho. vissajjane panassā pubbe ca abhisaṅkhāroti addhānaparicchedo vutto. vuṭṭhānāyāti idha bhavaṅgavuṭṭhānaṃ pucchati. vissajjanepissā sabbanimittānañca P.2.353 manasikāroti rūpādinimittavasena bhavaṅgasahajātamanasikāro vutto.

Bây giờ, khi hỏi đến sự thể nhập đối với việc sử dụng (để an trú của vị Thánh A-ra-hán) Trưởng lão nói lời sau: “Này Hiền giả có bao nhiêu duyên…” thông thường không có sát-na trụ của sự thể nhập quả của hành giả xuất khỏi thiền diệt. Sát-na trụ chỉ diễn tiến là một hoặc hai phần của tâm, rồi cũng đi vào Hộ kiếp, đối với vị Tỳ khưu ngồi diệt sự diễn tiến của Vô sắc pháp suốt 7 ngày, sẽ duy trì trong sự thể nhập quả của hành giả xuất khỏi thiền không bao lâu, nhưng trong sự thể nhập đối với việc sử dụng (để an trú của vị Thánh A-ra-hán) việc xác định thời gian là phương tiện quan trọng thật sự, vì thế gọi là sự trụ vững đó mới có được, vì thế Trưởng lão Koṭṭhika đã nói rằng: “Ở sát-na trụ sự thể nhập quả không có tướng”, tức là “Có bao nhiều điều kiện để sát-na trụ duy trì được lâu của sự thế nhập quả đó?” Còn trong việc giải quyết vấn đề đó Trưởng lão Sārīputta đã nói đến việc xác định thời thời gian dài như vầy “Sự tạo tác cao tột trong quá khứ” Trưởng lão Koṭṭhika hỏi đến việc thoát khỏi Hộ kiếp trong lời nói “của việc thoát khỏi” này. Ngay cả khi Trưởng lão nói đến sự chú tâm sanh khởi cùng với Hộ kiếp bởi mãnh lực ấn tướng có Sắc v.v, “và việc tác ý đến tất cả tướng

459. yā cāyaṃ, āvusoti idha kiṃ pucchati? idha aññaṃ abhinavaṃ nāma natthi. heṭṭhā kathitadhammeyeva ekato samodhānetvā pucchāmīti pucchati. kattha pana te kathitā? “nīlampi V.2.248 sañjānāti pītakampi, lohitakampi, odātakampi sañjānātī”ti (ma. ni. 1.450) etasmiñhi ṭhāne appamāṇā cetovimutti kathitā. “natthi kiñcīti ākiñcaññāyatananti neyyan”ti (ma. ni. 1.451) ettha ākiñcaññaṃ. “paññācakkhunā pajānātī”ti (ma. ni. 1.451) ettha suññatā. “kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā vuṭṭhānāyā”ti ettha animittā. evaṃ heṭṭhā kathitāva imasmiṃ ṭhāne ekato samodhānetvā pucchati. taṃ pana paṭikkhipitvā etā tasmiṃ tasmiṃ ṭhāne niddiṭṭhāvāti vatvā aññe cattāro dhammā ekanāmakā atthi. eko dhammo catunāmako atthi, etaṃ pākaṭaṃ katvā kathāpetuṃ idha pucchatīti aṭṭhakathāyaṃ sanniṭṭhānaṃ kataṃ. tassā vissajjane ayaṃ vuccatāvuso, appamāṇā cetovimuttīti ayaṃ pharaṇāppamāṇatāya appamāṇā nāma. ayañhi appamāṇe vā satte pharati, ekasmimpi vā satte asesetvā pharati.

459 yā cāyaṃ, āvuso (sự giải thoát của tâm có đối tượng không hạn định): Trưởng lão Mahākoṭṭhika muốn hỏi đến điều gì? Ngài hỏi rằng: “Ở đây không có điều mới khác, tôi xin lấy điều đã nói đã hoàn thành trong phần trước đó tập hợp thành một rồi mới” Cũng vậy, sự giải thoát của tâm Ngài đã nói ở đây? Ngài nói sự giải thoát của tâm không có giới hạn ranh giới ở tại chỗ này rằng: “Tưởng tri màu xanh cũng được, tưởng tri màu vàng, màu đỏ, màu trắng cũng được.” Ngài nói đến tầng thiền Vô sở hữu xứ này như sau: “Nên biết Vô sở hữu xứ được sự chuẩn bị rằng ‘cái gì cũng không có (hoặc chút ít cũng không)’, nói đến sự trống không trong lời này như sau: “Tuệ tri bằng tuệ nhãn”, nói đến sự không có tướng ở đây: ‘Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên sát-na trụ và việc xuất khỏi sự giải thoát của tâm không có tướng?” Trưởng lão Koṭṭhika mang lại điều đã nói trước như vậy đến hỏi đó chung ở nơi đây. Bởi nói rằng: “Ngài bác bỏ sự giải thoát ấy, trình bày sự giải thoát này đặt ở chỗ đó đó.” Còn có bốn Pháp khác cũng có tên đông nhất với nhau. Trong phần Chú giải này Ngài đã quyết định hỏi ở đây cũng chỉ muốn Trưởng lão Sārīputta nói Pháp đồng nhất nhưng có 4 tên đồng nhất với nhau. Trả lời câu hỏi đó: “Đây gọi là sự giải thoát của tâm có đối tượng không hạn định (ayaṃ vuccatāvuso, appamāṇā cetovimuttī)” đây gọi là sự giải thoát của tâm có đối tượng không hạn định bởi không có sự ước chừng của việc biến mãn, do sự giải thoát của tâm không có sự ước chừng, sự biến mãn trong chúng sanh không giới hạn số lượng, hoặc biến mãn trong chúng sanh (cho đến không có chúng sanh) không để dư sót dù chỉ là chút ít.”

ayaṃ vuccatāvuso, ākiñcaññāti ārammaṇakiñcanassa abhāvato ākiñcaññā. attena vāti atta bhāvaposapuggalādisaṅkhātena attena suññaṃ. attaniyena vāti cīvarādiparikkhārasaṅkhātena attaniyena suññaṃ. animittāti M.2.253 rāganimittādīnaṃ abhāveneva animittā, arahattaphalasamāpattiṃ sandhāyāha. nānatthā ceva nānābyañjanā cāti byañjanampi nesaṃ nānā atthopi. tattha byañjanassa nānatā pākaṭāva. attho pana, appamāṇā cetovimutti bhūmantarato mahaggatā eva hoti rūpāvacarā; ārammaṇato satta paññattiārammaṇā. ākiñcaññā bhummantarato mahaggatā arūpāvacarā; ārammaṇato na vattabbārammaṇā. suññatā bhummantarato kāmāvacarā; ārammaṇato saṅkhārārammaṇā. vipassanā hi ettha suññatāti adhippetā. animittā bhummantarato lokuttarā; ārammaṇato nibbanārammaṇā.

ayaṃ vuccatāvuso, ākiñcaññā (này Hiền giả, đây gọi là Không vô biên xứ): gọi là Không vô biên xứ bởi vì không có sự chướng ngại trong đối tượng. attena vā (hoặc từ tự ngã): trống rỗng bởi tự ngã, được xem là tự ngã, bản thể người nam hoặc một cá nhân v.v. attaniyena vā (hoặc liên quan đến tự ngã): trống không từ ngã sở, được xem là vật phụ từng có phục v.v. animittā (vô tướng): gọi là vô tướng bởi do không có tướng của sự luyến ái, Trưởng lão muốn nói đến việc thành tựu A-ra-hán Quả. nānatthā ceva nānābyañjanā cā (có ý nghĩa khác biệt và có văn tự khác biệt): Cả văn tự và cả ý nghĩa của những thứ đó điều khác biệt, trong ý nghĩa khác biết đó, sự khác biệt của văn tự đã thể hiện rõ ràng. Còn về ý nghĩa là sự giải thoát của tâm không có ước lượng theo cõi là Đáo đại, là Sắc giới; nhưng theo đối tượng có chúng sanh chế định là đối tượng. Vô sở hữu xứ theo cõi là Vô sắc giới, theo đối tượng có đối tượng không nên nói. Tính chất rỗng không theo cõi là Dục giới, theo đối tượng có các Hành là đối tượng. Đối với trường hợp này Ngài muốn đối đến Minh sát tính chất rỗng không. Vô tướng theo cõi là Siêu thế, theo đối tượng có Niết bàn là đối tượng.

rāgo P.2.354 kho, āvuso, pamāṇakaraṇotiādīsu yathā pabbatapāde pūtipaṇṇarasaudakaṃ nāma hoti kāḷavaṇṇaṃ; olokentānaṃ byāmasatagambhīraṃ viya khāyati. yaṭṭhiṃ vā rajjuṃ vā gahetvā minantassa piṭṭhipādottharaṇamattampi na hoti. evamevaṃ yāva rāgādayo nuppajjanti, tāva puggalaṃ sañjānituṃ na sakkā honti, sotāpanno viya, sakadāgāmī viya, anāgāmī viya ca khāyati. yadā panassa rāgādayo uppajjanti, tadā ratto duṭṭho mūḷhoti paññāyati. iti ete “ettako ayan”ti puggalassa pamāṇaṃ dassento viya uppajjantīti pamāṇakaraṇā nāma V.2.249 vuttā.

rāgo kho, āvuso, pamāṇakaraṇo (này Hiền giả, luyến ái là nguyên nhân của hạn lượng): Ngài nói đến thứ tạo ra hạn lượng như sau: “Giống như dưới chân núi có nược của vị lá cây hôi thối, nước trở nên có màu đen, có vẻ sâu hàng trăm thước đối với người quan sát, nhưng không có nước thậm chí ngập mu bàn chân của người cầm cây gậy hoặc dây để đo được như thế nào, thì cũng như thế đó phiền não có ái luyến v.v, vẫn chưa sanh khởi vào lúc nào thì lúc đó cũng không ai có thể biết được con người (thế nào), xuất hiện giống như vị Thánh Nhập Lưu, tương tự vị Thánh Nhất Lai, và cũng y như vị Thánh Bất Lai. Nhưng khi luyến ái sanh khởi nơi vị ấy thì mới bộc phát được (bản chất) “là người luyến ái, độc ác, si mê”. Sự luyến ái đó sanh khởi biểu hiện cho thấy hạn lượng của con người “người này chỉ chừng ấy” vì thế Ngài đã nói rằng “là nguyên nhân của hạng lượng”.

yāvatā kho, āvuso, appamāṇā cetovimuttiyoti yattakā appamāṇā cetovimuttiyo. kittakā pana tā? cattāro brahmavihārā, cattāro maggā, cattāri ca phalānīti dvādasa. tattha brahmavihārā pharaṇāppamāṇatāya appamāṇā. sesā pamāṇakaraṇānaṃ kilesānaṃ abhāvena appamāṇā. nibbānampi appamāṇameva, cetovimutti pana na hoti, tasmā na gahitaṃ.

yāvatā kho, āvuso, appamāṇā cetovimuttiyo (này Hiền giả, khi nào sự giải thoát của tâm là vô lượng): Sự giải thoát của tâm không có hạn lượng, có hạn lượng bao nhiêu? Cũng thế sự giải thoát của tâm không có hạn lượng, có bao nhiêu? có 12 loại là 4 Phạm trú, 4 Đạo và 4 Quả. Trong 12 loại đó Phạm trú gọi là vô lượng bởi tính chất biến mãn không có hạn lượng, còn lại gọi là vô lượng bởi vì không có phiền não làm nguyên nhân để ước tính. Kể cả Niết bàn cũng không thể ước lượng tương tự. Còn sự giải thoát của tâm không có (trong Niết bàn đó) vì thế Ngài mới không xếp vào.

akuppāti arahattaphalacetovimutti; sā hi tāsaṃ sabbajeṭṭhikā, tasmā aggamakkhāyatīti vuttā. rāgo kho, āvuso, kiñcanoti rāgo uppajjitvā puggalaṃ kiñcati maddati palibundhati. tasmā kiñcanoti vutto. manussā kira goṇehi khalaṃ maddāpento kiñcehi kapila, kiñcehi kāḷakāti vadanti. evaṃ maddanattho kiñcanatthoti veditabbo. dosamohesupi eseva nayo.

Akuppāti (không lay động): sự giải thoát của tâm là A-ra-hán Quả. Sự giải thoát của tâm là A-ra-hán Quả đó, là to lớn hơn tất cả. Vì thế, Ngài nói rằng “điều mà Ngài đã nói là tối thượng”. rāgo kho, āvuso, kiñcano (này Hiền giả, ái luyến quả thật là chướng ngại): ái luyến khi đã sanh khởi sẽ trở thành chướng ngại, gây tổn thương, cản trở đến con người, vì thế Ngài mới nói là vật chướng ngại (tạo ra sự lo lắng, bất an.) Kể rằng mọi người cùng nhau dắt bò đắp bờ ruộng, mỗi người mỗi nói rằng “Ông Đen.. giẫm nát lúa, giẫm nát lúa” nên biết ý nghĩa tàn phá, ý nghĩa gây tổn hại như đã trình bày. Kể cả sân hận và si mê cũng được thực hiện theo cách thức tương tự như vậy.”

ākiñcaññā cetovimuttiyo nāma nava dhammā ākiñcaññāyatanañca maggaphalāni ca. tattha ākiñcaññāyatanaṃ M.2.254 kiñcanaṃ ārammaṇaṃ assa natthīti ākiñcaññaṃ. maggaphalāni kiñcanānaṃ maddanānaṃ palibundhanakilesānaṃ natthitāya ākiñcaññāni. nibbānampi ākiñcaññaṃ, cetovimutti pana na hoti, tasmā na gahitaṃ.

Chín Pháp là Không vô biên xứ,4 Đạo và 4 Quả gọi là sự giải thoát của tâm Không vô biên xứ. Trong chín Pháp đó Không vô biên xứ gọi là ākiñcaññā bởi không có đối tượng tạo ra sự lo lắng (sự tổn thương, sự áp bức, sự làm phiền, sự khó khăn, hoặc một chút xíu gì) đối với tâm. 4 Đạo và 4 Quả gọi là Không vô biên xứ bởi không có sự tổn hại, do tính chất không có phiền nào là phương tiện áp bức, và phương tiện tạo ra sự lo lắng. Kể cả Niết bàn cũng là Không vô biên xứ, nhưng không có sự giải thoát của tâm (tâm không có trong Niết bàn, Niết bàn không có tâm) vì thế mới không xếp vào.

rāgo kho, āvuso, nimittakaraṇotiādīsu yathā nāma dvinnaṃ kulānaṃ sadisā dve vacchakā honti. yāva tesaṃ lakkhaṇaṃ na kataṃ hoti, tāva “ayaṃ asukakulassa vacchako, ayaṃ asukakulassā”ti na sakkā honti jānituṃ. yadā pana tesaṃ sattisūlādīsu aññataraṃ lakkhaṇaṃ kataṃ hoti, tadā P.2.355 sakkā honti jānituṃ. evameva yāva puggalassa rāgo nuppajjati, tāva na sakkā hoti jānituṃ ariyo vā puthujjano vāti. rāgo panassa uppajjamānova sarāgo nāma ayaṃ puggaloti sañjānananimittaṃ karonto viya uppajjati, tasmā “nimittakaraṇo”ti vutto. dosamohesupi eseva nayo.

rāgo kho, āvuso, nimittakaraṇo (này Hiền giả, ái luyến quả thật là phương tiện tạo ra tướng): Ái luyến không sanh vào lúc nào thì lúc đó không có ai có thể biết được là Thánh nhân hay Phàm nhân. Cũng thế ái luyến khi sanh khởi cũng sanh khởi giống như đang tạo ra tướng, giống như 2 con bò thân hình giống hệt nhau giữa hai gia đình, chừng nào hai con bò chưa được làm dấu thì không ai có thể biết được rằng “đây là con bò của gia đình này, còn con bò còn lại của gia đình kia” nhưng lúc nào lấy thanh sắt sắc nhọn làm bất ký dấu hiệu nào (khi đó) có thể nhận biết được (2 con bò của 2 gia đình) như thế nào thì cũng như thế đó tương tự, ngay cả sân hận và si mê cũng làm theo cách thức như vậy.

animittā cetovimutti nāma terasa dhammā — vipassanā, cattāro āruppā, cattāro maggā, cattāri ca phalānīti. tattha vipassanā niccanimittaṃ sukhanimittaṃ attanimittaṃ ugghāṭetīti animittā nāma. cattāro āruppā rūpanimittassa abhāvena animittā nāma. maggaphalāni nimittakaraṇānaṃ kilesānaṃ abhāvena animittāni. nibbānampi animittameva, taṃ pana cetovimutti na hoti, tasmā na gahitaṃ. atha kasmā suññatā cetovimutti na gahitāti? sā, “suññā rāgenā”tiādivacanato sabbattha anupaviṭṭhāva, tasmā visuṃ na gahitā V.2.250. ekatthāti ārammaṇavasena ekatthā. appamāṇaṃ ākiñcaññaṃ suññataṃ animittanti hi sabbānetāni nibbānasseva nāmāni.

Minh sát, 4 Vô sắc, 4 Đạo và 4 Quả tất cả 13 Pháp này được gọi là Vô tướng tâm giải thoát. Trong 13 Pháp đó, Minh sát gọi là vô tướng cũng do được nhổ bỏ tướng vô thường, tướng an lạc và tướng vô ngã. Bốn Vô sắc gọi là vô tướng bởi không có tướng của sắc. Đạo và Quả gọi là vô tướng do không có tướng của phiền não. Kể cả Niết bàn cũng gọi là vô tướng tương tự, nhưng Niết bàn đó không có tướng giải thoát của tâm, vì thế Ngài không xếp vào. Tại sao Ngài không nói đến sự giải thoát của tâm là vật trống rỗng? Sự giải thoát của tâm là vật trống rỗng đó được gọi là không đi vào bất kỳ loại phiền não nào cả vì Pāḷī trình bày rằng: “Trống rỗng sự luyến ái” vì thế mới không xếp chung mà được tách riêng ra thành một phần. Ekatthā (có cùng một ý nghĩa): có ý nghĩa đồng nhất với mãnh lực đối tượng. Cũng vậy, tất cả từ này “không có hạn lượng, không có chi cả làm đối tượng, tính chất trống rỗng, không có gì làm dấu (tướng)” tất cả đều là tên gọi của Niết bàn.

iti iminā pariyāyena ekatthā. aññasmiṃ pana ṭhāne appamāṇā honti, aññasmiṃ ākiñcaññā aññasmiṃ suññatā aññasmiṃ animittāti iminā pariyāyena nānābyañjanā. iti thero yathānusandhināva desanaṃ niṭṭhapesīti.

Vì vậy, có thể kết luận rằng theo cách này sự giải thoát của tâm không có hạn lượng ở chỗ khác, ở một nơi nào đó tính chất không có chi cả làm đối tượng, một nơi nào đó là thứ trống rỗng, một nơi nào đó là thứ không có tướng, theo cách này chỉ sự khác biệt về văn tự mà thôi. Trưởng lão kết thúc bài giảng theo sự liên kết đã được thuyết giảng như vậy.

Giải Thích Đại Kinh Phương Quảng Kết Thúc.