Kinh số 138 – Giải Thích Kinh Tổng Thuyết và Biệt Thuyết
(Uddesavibhaṅgasuttavaṇṇanā)Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Tổng Thuyết và Biệt Thuyết
313. Evaṃ me sutanti uddesavibhaṅgasuttaṃ. Tattha uddesavibhaṅganti uddesañca vibhaṅgañca, mātikañca vibhajanañcāti attho. Upaparikkheyyāti tuleyya tīreyya pariggaṇheyya paricchindeyya. Bahiddhāti bahiddhāārammaṇesu. Avikkhittaṃ avisaṭanti nikantivasena ārammaṇe tiṭṭhamānaṃ vikkhittaṃ visaṭaṃ nāma hoti, taṃ paṭisedhento evamāha. Ajjhattaṃ asaṇṭhitanti gocarajjhatte nikantivasena asaṇṭhitaṃ. Anupādāya na paritasseyyāti anupādiyitvā aggahetvā taṃ viññāṇaṃ na paritasseyya. Yathā viññāṇaṃ bahiddhā avikkhittaṃ avisaṭaṃ, ajjhattaṃ asaṇṭhitaṃ anupādāya na paritasseyya, evaṃ bhikkhu upaparikkheyyāti vuttaṃ hoti. Jātijarā-maraṇadukkhasamudayasambhavoti jātijarāmaraṇassa ceva avasesassa ca dukkhassa nibbatti na hotīti attho.
313. Kinh Tổng Thuyết và Biệt Thuyết được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, Tổng Thuyết và Biệt Thuyết: tổng thuyết và biệt thuyết, có nghĩa là tiêu đề và phân tích. Cần phải quán sát: cần phải cân nhắc, cần phải suy xét, cần phải nắm giữ, cần phải phân định. Ngoại phần: các đối tượng ở bên ngoài. Không tán loạn, không lan rộng: Tâm trú vào cảnh do mãnh lực của sự dính mắc thì gọi là tán loạn và tản mác; để phủ định (trạng thái) đó, Ngài mới nói như vậy. Không an trú ở nội phần: không an trú do tác động của sự tham muốn trong đối tượng nội phần. Không chấp thủ nên không bị quấy động: Nghĩa là do không chấp thủ, không nắm giữ, nên thức ấy không bị quấy động. Ý nói là: Vị tỳ khưu cần phải quán sát làm sao để thức không tán loạn và tản mát ra bên ngoài, không an trú (dính mắc) vào bên trong, và do không chấp thủ nên không bị quấy động. Nhân sanh và sự sanh khởi của sự sanh, sự già, sự chết và khổ đau: Không có sự sanh khởi của sự sanh, sự già, sự chết và khổ đau còn lại.
316. Rūpanimittānusārīti rūpanimittaṃ anussarati anudhāvatīti rūpanimittānusārī.
316. Truy cầu theo tướng là sắc: truy cầu theo tướng là sắc bởi ý nghĩa chạy theo, đuổi theo tướng là sắc.
318. Evaṃ kho, āvuso, ajjhattaṃ[1] asaṇṭhitanti nikantivasena asaṇṭhitaṃ. Nikantivasena hi atiṭṭhamānaṃ hānabhāgiyaṃ na hoti, visesabhāgiyameva hoti.
318. Này hiền giả, như vậy gọi là không vững trú ở bên trong: Không an tĩnh do mãnh lực của sự tham muốn. Bởi vì tâm không vững trú do tác động của sự tham muốn, không trở thành phần của việc từ bỏ, nhưng trở thành một phần trong ân đức cao thượng.
320. Anupādā paritassanāti satthārā khandhiyavagge “upādāparitassanañca vo, bhikkhave, desessāmi anupādāaparitassanañcā”ti (saṃ. ni. 3.7) evaṃ gahetvā paritassanā, aggahetvāva aparitassanā ca kathitā, taṃ mahāthero upādāparitassanameva anupādāparitassananti katvā dassento evamāha. Kathaṃ panesā anupādāparitassanā hotīti. upādātabbassa abhāvato. Yadi hi koci saṅkhāro nicco vā dhuvo vā attā vā attaniyo vāti gahetabbayuttako abhavissa, ayaṃ paritassanā upādāparitassanāva assa. Yasmā pana evaṃ upādātabbo saṅkhāro nāma natthi, tasmā rūpaṃ attātiādinā nayena rūpādayo upādinnāpi anupādinnāva honti. Evamesā diṭṭhivasena upādāparitassanāpi samānā atthato anupādāparitassanāyeva nāma hotīti veditabbā.
320. Sự sợ hãi (quấy động) đối với cái không được chấp thủ: Trong phẩm Uẩn (Khandhakavagga – Tương Ưng Bộ), Bậc Đạo Sư đã thuyết rằng: “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết về sự sợ hãi do chấp thủ và sự không sợ hãi do không chấp thủ” (S.iii.15). Hiểu theo cách đó, thì có chấp thủ mới có sợ hãi, không chấp thủ thì không sợ hãi. Nhưng ở đây [trong kinh Uddesavibhaṅga này], Đại Trưởng lão [Maha Kaccana] lại giải thích sự sợ hãi do chấp thủ (upādā paritassanā) thành ra là “sự sợ hãi đối với cái không được chấp thủ” (anupādā paritassanā).
Tại sao lại gọi là “sự sợ hãi đối với cái không được chấp thủ”? Vì không có vật thể đáng để chấp thủ. Thật vậy, nếu có bất kỳ hành (saṅkhāra – pháp hữu vi) nào là thường, là hằng, là ngã, hay thuộc về ngã để có thể nắm giữ, thì sự sợ hãi đó mới thực sự là “sự sợ hãi do chấp thủ”. Nhưng vì không có hành nào đáng để chấp thủ như vậy, nên sắc v.v… dù có bị chấp thủ (bởi kẻ phàm phu) thì [về bản chất] vẫn là những thứ không thể chấp thủ được (anupādinnā). Như vậy, cần phải hiểu rằng: Dù đây chính là sự sợ hãi do chấp thủ thông qua tà kiến, nhưng về mặt ý nghĩa rốt ráo, nó được gọi là “sự sợ hãi đối với cái không được chấp thủ” (sợ hãi liên quan đến đối tượng vốn không thể nắm giữ).
Aññathā hotīti parivattati pakatijahanena nassati, rūpavipariṇāmānuparivattīti “mama rūpaṃ vipariṇatan”ti vā, “yaṃ ahu, taṃ vata me natthī”ti vā ādinā (ma. ni. 1.242) nayena kammaviññāṇaṃ rūpassa bhedānuparivatti hoti. Vipariṇāmānuparivattajāti vipariṇāmassa anuparivattanato vipariṇāmārammaṇacittato jātā. Paritassanā dhammasamuppādāti taṇhāparitassanā ca akusaladhammasamuppādā ca. Cittaṃ pariyādāya tiṭṭhantīti kusalacittaṃ pariyādiyitvā gahetvā khepetvā tiṭṭhanti. Uttāsavāti bhayatāsenapi sauttāso taṇhātāsenapi sauttāso. Vighātavāti savighāto sadukkho. Apekkhavāti sālayo sasineho. Evaṃ kho, āvuso, anupādā paritassanā hotīti evaṃ maṇikaraṇḍakasaññāya tucchakaraṇḍakaṃ gahetvā tasmiṃ naṭṭhe pacchā vighātaṃ āpajjantassa viya pacchā aggahetvā paritassanā hoti.
Trở thành thứ khác: sắc biến hoại, hoại diệt bởi lìa bỏ tính chất tự nhiên. Nghiệp thức – kammaviññāṇa[2] thay đổi diễn tiến theo sự hoại diệt của sắc theo cách thức như sau: “Sắc của tôi đã biến hoại” hoặc “sắc nào có mặt, thì chính sắc đó của tôi không tồn tại” (ma. ni. 1.242). Sanh khởi từ sự chuyển biến theo biến hoại: nghĩa là sanh khởi từ sự chuyển biến theo biến hoại ấy, sanh từ tâm lấy sự biến hoại làm đối tượng (tâm lấy sự biến hoại làm cảnh). Sự sợ hãi và sự sanh khởi của bất thiện pháp: Nghĩa là sự sợ hãi của tham ái (taṇhā) và sự khởi lên của các bất thiện pháp. Xâm nhập tâm và tồn tại: Nghĩa là sau khi xâm chiếm, nắm giữ và làm tiêu hao tâm thiện (kusalacitta), chúng tồn tại ở đó. Kinh hãi: Là có sự kinh hãi do sự run sợ của nỗi sợ, và có sự kinh hãi do sự run sợ của tham ái. Buồn phiền: có sự buồn phiền, có khổ đau. Không mong đợi: có sự quyến luyến, có sự dính mắc. Như vậy, này chư Hiền, là sự sợ hãi do chấp thủ những thứ không được chấp thủ: Điều này giống như một người do tưởng là hộp ngọc nên cầm lấy cái hộp rỗng, khi cái hộp đó bị mất thì người ấy rơi vào khổ não. Cũng vậy, sự sợ hãi xảy ra, nhưng thực tế sau đó [khi quán xét lại] thì thấy là không nắm giữ được gì cả.
321. Na ca rūpavipariṇāmānuparivattīti khīṇāsavassa kammaviññāṇameva natthi, tasmā rūpabhedānuparivatti na hoti. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
321. Không thay đổi theo sự biến hoại của sắc: Vì bậc Lậu Tận (A-la-hán) không còn nghiệp thức (kammaviññāṇa – thức dính mắc để tạo nghiệp tái sanh), nên không có sự chuyển biến theo sự tan rã của sắc. Từ còn lại ở tất cả các câu đều đơn giản.
Giải Thích Kinh Tổng Thuyết và Biệt Thuyết Kết Thúc