Kinh số 137 – Giải Thích Kinh Phân Biệt Sáu Xứ

(Saḷāyatanavibhaṅgasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Phân Biệt Sáu Xứ

304. Evaṃ me sutanti saḷāyatanavibhaṅgasuttaṃ. Tattha veditabbānīti sahavipassanena maggena jānitabbāni. Manopavicārāti vitakkavicārā. vitakkuppādakañhi mano idha manoti adhippetaṃ, manassa upavicārāti manopavicārā. Sattapadāti vaṭṭavivaṭṭanissitānaṃ sattānaṃ padā. Ettha hi aṭṭhārasa vaṭṭapadā nāma, aṭṭhārasa vivaṭṭapadā nāma, tepi sahavipassanena maggeneva veditabbā. Yoggācariyānanti hatthiyoggādiācārasikkhāpakānaṃ, dametabbadamakānanti attho. Sesaṃ vibhaṅgeyeva āvibhavissati. Ayamuddesoti idaṃ mātikāṭṭhapanaṃ.

304. Kinh Phân Biệt Sáu Xứ được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, cần phải biết: nghĩa là cần được liễu tri bằng Đạo gắn liền với Minh sát (sahavipassanā magga). Ý cận hành: Tầm và Tứ. Ở đây, được hiểu là tâm khởi sinh ra tầm (vitakkuppādaka mano); sự vận hành sát sao của ý thức quanh đối tượng thì gọi là Ý cận hành (manopavicāra). Lối đi của chúng sanh: Là những phương diện của chúng sinh quy hướng về Luân hồi (vaṭṭa) và Giải thoát (vivaṭṭa). Ở đây, có 18 phương diện thuộc về Luân hồi và 18 phương diện thuộc về Giải thoát; tất cả chúng cũng cần được liễu tri bằng Đạo gắn liền với Minh sát. ​​Các bậc thầy huấn luyện: Nghĩa là những bậc thầy dạy về phương pháp huấn luyện voi, ngựa… ở đây mang nghĩa là “Bậc điều phục những kẻ đáng được điều phục” (dametabbadamakānaṃ). Các phần còn lại sẽ được làm sáng tỏ ngay trong phần Phân biệt (Vibhaṅga) của kinh. Đây là tổng thuyết: Đây là việc thiết lập các đề mục (mātikā).

305. Cakkhāyatanādīni visuddhimagge vitthāritāni. Cakkhuviññāṇanti kusalākusalavipākato dve cakkhuviññāṇāni. Sesapasādaviññāṇesupi eseva nayo. imāni pana dasa ṭhapetvā sesaṃ idha manoviññāṇaṃ nāma.

305. Các xứ gồm nhãn xứ v.v, được giảng giải chi tiết trong Thanh Tịnh Đạo. Nhãn thức: Gồm hai loại nhãn thức (nhãn thức quả thiện và nhãn thức quả bất thiện). Đối với các thức dựa trên tịnh sắc căn (pasādaviññāṇa) còn lại (nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức) cũng theo cách tương tự. Tuy nhiên, sau khi loại trừ 10 thức này (ngũ song thức), các tâm còn lại ở đây được gọi là Ý thức (manoviññāṇa).

Cakkhusamphassoti cakkhumhi samphasso. cakkhuviññāṇasampayuttasamphassassetaṃ adhivacanaṃ. Sesesupi eseva nayo.

Nhãn xúc: Là sự xúc chạm tại mắt. Đây là tên gọi của tâm sở Xúc tương ưng với Nhãn thức. Các xúc còn lại cũng theo cách tương tự.

Cakkhunā rūpaṃ disvāti cakkhuviññāṇena rūpaṃ disvā. Eseva nayo sabbattha. Somanassaṭṭhāniyanti somanassassa ārammaṇavasena kāraṇabhūtaṃ. Upavicaratīti tattha vicārapavattanena upavicarati, vitakko taṃsampayutto cāti iminā nayena aṭṭhārasa vitakkavicārasaṅkhātā manopavicārā veditabbā. Cha somanassūpavicārāti ettha pana somanassena saddhiṃ upavicarantīti somanassūpavicārā. Sesapadadvayepi eseva nayo.

Sau khi thấy sắc bằng mắt: Do nhìn thấy sắc bằng nhãn thức. Câu còn lại cũng có phương thức tương tự. Là nơi an trú của hỷ: Nghĩa là trạng thái đóng vai trò là duyên (nguyên nhân) thông qua đối tượng để hỷ thọ phát sinh. Cận hành: Tâm vận hành ở đó thông qua sự diễn tiến của Tứ (vicāra), và Tầm (vitakka) cũng tương ưng với nó. Theo cách này, cần hiểu 18 loại Ý cận hành chính là sự kết hợp của Tầm và Tứ. Sáu ý cận hành hỷ: Ở đây, vì tâm vận hành cùng với hỷ thọ nên gọi là ý cận hành hỷ. Hai nhóm còn lại (xả và ưu) cũng giải thích tương tự.

306. Gehasitānīti kāmaguṇanissitāni. Nekkhammasitānīti vipassanānissitāni. Iṭṭhānanti pariyesitānaṃ. Kantānanti kāmitānaṃ. Manoramānanti mano etesu ramatīti manoramāni, tesaṃ manoramānaṃ. Lokāmisapaṭisaṃyuttānanti taṇhāpaṭisaṃyuttānaṃ. Atītanti paṭiladdhaṃ. Paccuppannaṃ tāva ārabbha somanassaṃ uppajjatu, atīte kathaṃ uppajjatīti. atītepi — “yathāhaṃ etarahi iṭṭhārammaṇaṃ anubhavāmi, evaṃ pubbepi anubhavin”ti anussarantassa balavasomanassaṃ uppajjati.

306. Liên hệ tại gia: nương vào năm loại dục. Liên hệ sự xuất ly: nương vào Minh sát. Khả lạc: những gì được tầm cầu, mong đợi. Khả hỷ: những gì đáng yêu thích, đáng ham muốn. Khả ý: Được gọi là khả ý vì tâm vui thích trong những đối tượng đó. Liên hệ đến mồi nhử thế gian: Nghĩa là tương ưng với tham ái (taṇhā). Quá khứ: Là những gì đã từng đạt được trong quá khứ.

(Về câu hỏi): Đối với hỷ thọ khởi lên do duyên hiện tại thì đã rõ, nhưng hỷ thọ đối với quá khứ khởi lên như thế nào? Đáp rằng: Đối với quá khứ, hỷ thọ mãnh liệt khởi lên thông qua sự hồi tưởng: “Xưa kia ta cũng từng hưởng thụ các cảnh khả lạc như hiện giờ vậy.”

Aniccatanti aniccākāraṃ. Vipariṇāmavirāganirodhanti pakativijahanena vipariṇāmaṃ, vigacchanena virāgaṃ, nirujjhanena nirodhaṃ. Sammapaññāyāti vipassanāpaññāya. Idaṃ vuccati nekkhammasitaṃ somanassanti idaṃ rañño viya attano sirisampattiṃ olokentassa vipassanaṃ paṭṭhapetvā nisinnassa saṅkhārānaṃ bhedaṃ passato saṅkhāragatamhi tikkhe sūre vipassanāñāṇe vahante uppannasomanassaṃ “nekkhammasitaṃ somanassan”ti vuccati. vuttampi cetaṃ —

“Suññāgāraṃ paviṭṭhassa, santacittassa bhikkhuno.

Amānusī ratī hoti, sammā dhammaṃ vipassato.

Yato yato sammasati, khandhānaṃ udayabbayaṃ.

Labhatī pītipāmojjaṃ, amatantaṃ vijānatan”ti. (dha. pa. 373-374).

Tính chất vô thường: Là tướng trạng vô thường. Sự biến hoại, sư ly tham và sự diệt tận: gọi là sự biến hoại do từ bỏ trạng thái tự nhiên, sự ly tham bởi viễn ly, sự diệt bởi diệt tận. Với chánh trí tuệ: Nghĩa là bằng trí tuệ Minh sát. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly: Ví như một vị vua đang nhìn ngắm vinh hiển của chính mình, rồi vị ấy an tọa khởi sự tu tập Minh sát, quan sát sự tan rã (bheda) của các hành (saṅkhāra). Khi Minh sát trí trở nên sắc bén và dũng mãnh (tikkhe sūre) vận hành trên các hành pháp, hỷ thọ phát sinh. Đó gọi là “Hỷ liên hệ đến xuất ly”. Và điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:

“Vị Tỳ-kheo vào ngôi nhà trống, Với tâm an tịnh, quán chiếu đúng đắn về Pháp, Sẽ cảm nhận được niềm hỷ lạc siêu nhân.

Khi nào vị ấy quán chiếu sự sinh diệt của các uẩn, Vị ấy sẽ đạt được hỷ và lạc; Đó là trạng thái Bất tử của bậc Liễu tri.” (dha. pa. 373-374).

Imānīti imāni chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate aniccādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā nisinnassa uppannāni cha nekkhammasitāni somanassāni.

Những điều này: Nghĩa là sáu loại hỷ liên hệ đến xuất ly này phát sinh nơi hành giả đang an tọa quán chiếu về vô thường…, đối với các cảnh khả lạc hiện khởi tại sáu môn.

307. Atītanti paccuppannaṃ tāva patthetvā alabhantassa domanassaṃ uppajjatu, atīte kathaṃ uppajjatīti. atītepi “yathāhaṃ etarahi iṭṭhārammaṇaṃ patthetvā na labhāmi, evaṃ pubbepi patthetvā na labhin”ti anussarantassa balavadomanassaṃ uppajjati.

307. Quá khứ: (Về câu hỏi): Đối với hiện tại, khi một người mong cầu (cảnh tốt) mà không đạt được thì ưu thọ phát sinh là điều dễ hiểu; nhưng đối với quá khứ, ưu thọ phát sinh như thế nào? Đáp rằng: Đối với quá khứ, ưu thọ phát sinh khi một người hồi tưởng rằng: “Hiện giờ ta mong cầu cảnh khả lạc mà không được, và trong quá khứ ta cũng từng mong cầu nhưng đã không đạt được như thế.” Chính sự hồi tưởng này làm phát sinh ưu thọ mãnh liệt.

Anuttaresu vimokkhesūti anuttaravimokkho nāma arahattaṃ, arahatte patthanaṃ paṭṭhapentassāti attho. Āyatananti arahattāyatanaṃ. Pihaṃ upaṭṭhāpayatoti patthanaṃ paṭṭhapentassa. Taṃ panetaṃ patthanaṃ paṭṭhapentassa uppajjati, iti patthanāmūlakattā “pihaṃ upaṭṭhāpayato”ti vuttaṃ. Imāni cha nekkhammasitāni domanassānīti imāni evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate arahatte pihaṃ paṭṭhapetvā tadadhigamāya aniccādivasena vipassanaṃ upaṭṭhapetvā ussukkāpetuṃ asakkontassa — “imampi pakkhaṃ imampi māsaṃ imampi saṃvaccharaṃ arahattaṃ pāpuṇituṃ nāsakkhin”ti anusocato gāmantapabbhāravāsimahāsīvattherassa viya assudhārāpavattanavasena uppannadomanassāni cha nekkhammasitadomanassānīti veditabbāni. Vatthu pana Sumaṅgalavilāsiniyā Dīghanikāyaṭṭhakathāya Sakkapañhavaṇṇanāyaṃ (dī. ni. aṭṭha. 2.361) vitthāritaṃ, icchantena tato gahetabbaṃ.

Với sự giải thoát tối thượng: bậc Thánh A-ra-hán gọi là sự giải thoát tối thượng, có nghĩa là thiết lập sự ước muốn trong quả vị A-ra-hán. Về trạng thái: trạng thái quả vị A-ra-hán. Vào thiết lập sự ước muốn: Nghĩa là đang khởi lên sự mong cầu mãnh liệt. Vì sự ưu tư này phát sinh với lòng khao khát làm gốc rễ, nên gọi là “thiết lập sự ước muốn”. Sáu thọ ưu này liên hệ xuất ly: Thọ ưu này khởi lên có thể làm cho nước mắt rơi xuống cho hạng người thiết lập sự ước muốn trong quả vị A-ra-hán khi cảnh tốt hiện hữu trong sáu môn, không thể làm cho Minh sát tăng trưởng nhờ vào mãnh lực của tính chất vô thường v.v, để chứng đắc quả vị A-ra-hán ấy giống như trưởng lão Mahāsiva ở sát vách núi gần làng, buồn rầu (rằng): “Suốt hai tuần này, suốt tháng này, suốt năm này ta không thể chứng đắc quả vị A-ra-hán” những điều này nên hiểu là ‘thọ ưu liên hệ sáu sự xuất ly’”. Hơn nữa, câu chuyện của ngài đã được giảng giải chi tiết phần giải thích trong bài Kinh Đế Thích Sở Vấn – Sakkapañha (dī. ni. aṭṭha. 2.361) ở phần Chú giải Trường Bộ gọi là Sumaṅgalavilāsinī, ai muốn biết rõ có thể tìm đọc ở đó.

308. Uppajjati upekkhāti ettha upekkhā nāma aññāṇupekhā. Anodhijinassāti kilesodhiṃ jinitvā ṭhitattā khīṇāsavo odhijino nāma, tasmā akhīṇāsavassāti attho. Avipākajinassāti etthapi āyatiṃ vipākaṃ jinitvā ṭhitattā khīṇāsavova vipākajino nāma, tasmā akhīṇāsavassevāti attho. Anādīnavadassāvinotiādīnavato upaddavato apassantassa. Imā cha gehasitā upekkhāti imā evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate guḷapiṇḍake nilīnamakkhikā viya rūpādīni anativattamānā tattha laggā laggitā hutvā uppannā upekkhā cha gehasitā upekkhāti veditabbā.

308. Xả trong vô trí gọi là xả trong câu ‘xả khởi lên’.

Người không chinh phục được (phiền não): bậc lậu tận gọi là bậc chiến thắng bởi vì bản thể bậc lậu tận đã chiến thắng được kẻ thù là phiền não rồi an trú, vì thế lời này được sử dụng đối với hạng phàm nhân chưa đoạn tận các lậu. Thậm chí trong câu không chinh phục được quả dị thục: Tương tự, bậc lậu tận được gọi là Vipākajina vì Ngài đã chiến thắng, không còn tạo ra quả dị thục trong tương lai (āyatiṃ vipākaṃ). Do đó, câu này cũng dùng để chỉ cho hạng người chưa đoạn tận lậu hoặc. Không thấy sự nguy hiểm: người không nhìn thấy được sự bất lợi. Những điều này là sáu loại xả liên hệ tại gia: Cần hiểu rằng sáu loại xả này phát sinh khi các cảnh khả lạc hiện khởi tại sáu môn; tâm không vượt khỏi các sắc pháp… mà lại dính chặt vào đó, giống như con ruồi dính vào cục đường mật (guḷapiṇḍake nilīnamakkhikā). Sự thờ ơ, xả bỏ do không thấy được sự nguy hiểm của dục lạc mà lại bám víu vào chúng được gọi là sáu loại xả liên hệ đến thế tục.

Rūpaṃ sā ativattatīti[1] rūpaṃ sā anatikkamati[2], tattha nikantivasena na tiṭṭhati. Imā cha nekkhammasitā upekkhāti imā evaṃ chasu dvāresu iṭṭhādiārammaṇe āpāthagate iṭṭhe arajjantassa, aniṭṭhe adussantassa, asamapekkhane asammuyhantassa, uppannavipassanā-ñāṇasampayuttā cha nekkhammasitā upekkhāti veditabbā.

Xả như vậy vượt khỏi sắc: nghĩa là xả ấy không vượt quá (phạm vi quan sát) sắc, không dừng lại ở đó bởi mãnh lực của sự tham ái (nikanti).

Sáu xả này liên hệ xuất ly: Đây là sáu loại xả tương ưng với Minh sát trí (vipassanā-ñāṇa), khởi lên khi một người đối diện với cảnh khả lạc hay khả ố tại sáu môn: không tham nhiễm trong cảnh đáng ưa, không bất mãn trong cảnh không đáng ưa, không si mê trong khi quan sát (cảnh). Nhờ quan sát đúng đắn sự sinh diệt, hành giả duy trì trạng thái quân bình của tâm. Đó gọi là sáu loại xả liên hệ đến xuất ly.

309. Tatra idaṃ nissāya idaṃ pajahathāti tesu chattiṃsasattapadesu aṭṭhārasa nissāya aṭṭhārasa pajahathāti attho. teneva — “tatra, bhikkhave, yāni cha nekkhammasitānī”tiādimāha. Nissāya āgammāti pavattanavasena nissāya ceva āgamma ca. Evametesaṃ samatikkamo hotīti evaṃ nekkhammasitānaṃ pavattanena gehasitāni atikkantāni nāma honti.

309. Trong những pháp ấy các ông hãy y cứ vào pháp này, từ bỏ pháp này: Trong 36 trạng thái của hữu tình (sattapada), hãy dựa vào 18 trạng thái (thuộc xuất ly) để đoạn tận 18 trạng thái (thuộc thế tục). Chính vì vậy đức Thế Tôn mới thuyết: “Này các Tỷ-kheo, dựa vào sáu loại hỷ liên hệ xuất ly…” Y cứ (và) dựa vào: Có nghĩa là dựa trên sự vận hành (diễn tiến) của các pháp đó. Như vậy là sự vượt qua: Có nghĩa là thông qua sự vận hành của các pháp liên hệ xuất ly mà các pháp liên hệ thế tục được gọi là đã bị vượt qua.

Evaṃ sarikkhakeneva sarikkhakaṃ jahāpetvā idāni balavatā dubbalaṃ jahāpento — “tatra, bhikkhave, yāni cha nekkhammasitāni somanassānī”tiādimāha. Evaṃ nekkhammasitasomanassehi nekkhammasitadomanassāni, nekkhammasitaupekkhāhi ca nekkhammasitasomanassāni jahāpentena balavatā dubbalappahānaṃ kathitaṃ.

Bằng cách này, đầu tiên đức Thế Tôn cho đoạn tận các pháp dựa trên sự tương đồng (sarikkhaka – ví dụ: dùng hỷ xuất ly để đoạn hỷ thế tục). Tiếp theo, Ngài cho đoạn tận các pháp yếu bằng các pháp mạnh hơn (balavatā dubbalaṃ jahāpento), nên mới thuyết: “Này các Tỷ-kheo, dựa vào sáu loại hỷ liên hệ xuất ly (để đoạn sáu ưu liên hệ xuất ly)…” Như vậy, việc dùng Hỷ xuất ly để đoạn Ưu xuất ly, và dùng Xả xuất ly để đoạn Hỷ xuất ly chính là tiến trình dùng pháp mạnh để đoạn tận pháp yếu.

Ettha pana ṭhatvā upekkhākathā veditabbā — aṭṭhasu hi samāpattīsu paṭhamādīni ca tīṇi jhānāni, suddhasaṅkhāre ca pādake katvā vipassanaṃ āraddhānaṃ catunnaṃ bhikkhūnaṃ pubbabhāgavipassanā somanassasahagatā vā hoti upekkhāsahagatā vā, vuṭṭhānagāminī pana somanassasahagatāva. Catutthajjhānādīni pādakāni katvā vipassanaṃ āraddhānaṃ pañcannaṃ pubbabhāgavipassanā purimasadisāva. vuṭṭhānagāminī pana upekkhāsahagatā hoti. Idaṃ sandhāya — “yā cha nekkhammasitā upekkhā, tā nissāya tā āgamma, yāni cha nekkhammasitāni somanassāni, tāni pajahathā”ti vuttaṃ. Na kevalañca evaṃpaṭipannassa bhikkhuno ayaṃ vipassanāya vedanāvisesova hoti, ariyamaggepi pana jhānaṅgabojjhaṅgamaggaṅgānampi viseso hoti.

Tại điểm này, cần giải thích về Xả thọ: Trong tám thiền chứng, đối với bốn vị Tỳ-kheo bắt đầu thực hành Minh sát dựa trên nền tảng của ba tầng thiền đầu (Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền) hoặc dựa trên các Hành thanh tịnh (suddhasaṅkhāre), thì tuệ Minh sát giai đoạn sơ khởi (pubbabhāgavipassanā) có thể câu hữu với Hỷ hoặc câu hữu với Xả. Tuy nhiên, riêng Tuệ Minh sát dẫn đến vọt khởi (vuṭṭhānagāminī-vipassanā – tuệ sát ngưỡng cửa Thánh Đạo)[3]’ chỉ câu hữu với hỷ.

Đối với năm vị Tỳ-kheo bắt đầu thực hành Minh sát dựa trên nền tảng từ Tứ thiền trở lên, tuệ Minh sát giai đoạn sơ khởi của họ cũng tương tự như trên (có thể là hỷ hoặc xả). Nhưng Tuệ Minh sát dẫn đến vọt khởi của họ thì chắc chắn câu hữu với Xả. Chính vì liên hệ đến điều này mà đức Thế Tôn thuyết: “Dựa vào sáu loại xả liên hệ xuất ly, hãy đoạn tận sáu loại hỷ liên hệ xuất ly.”

Người thực hành theo lộ trình này không chỉ có được sự đặc biệt về các thọ trong Minh sát, mà ngay cả trong Thánh Đạo, các thành phần của Thiền (jhānaṅga), các chi phần Giác ngộ (bojjhaṅga) và các chi phần của Đạo (maggaṅga) cũng có sự khác biệt tương ứng.

Ko panetaṃ visesaṃ niyameti? keci tāva therā vipassanāpādakajjhānaṃ niyametīti vadanti, keci vipassanāya ārammaṇabhūtā khandhā niyamentīti vadanti, keci puggalajjhāsayo niyametīti vadanti. Tesampi vāde ayameva pubbabhāge vuṭṭhānagāminīvipassanā niyametīti veditabbā. Vinicchayakathā panettha Visuddhimagge saṅkhārupekkhāniddese vuttāva.

Điều gì quyết định sự khác biệt (về thọ) này? Một số vị Trưởng lão cho rằng tầng Thiền làm nền tảng cho Minh sát (vipassanāpādakajjhāna) sẽ quyết định. Một số vị khác cho rằng các Uẩn làm đối tượng của Minh sát quyết định. Một số vị lại cho rằng do khuynh hướng tâm tính (ajjhāsaya) của mỗi cá nhân quyết định.

Tuy nhiên, dù theo quan điểm nào, cần hiểu rằng chính Tuệ Minh sát dẫn đến vọt khởi (vuṭṭhānagāminī-vipassanā) ở giai đoạn sơ khởi sẽ quy định trạng thái thọ trong đạo quả. Những lời quyết trạch (phân tích) chi tiết về vấn đề này đã được trình bày trong tập Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), phần giải thích về Hành Xả Tuệ (Saṅkhārupekkhā).

310. Nānattāti nānā bahū anekappakārā. Nānattasitāti nānārammaṇanissitā. Ekattāti ekā. Ekattasitāti ekārammaṇanissitā. katamā panāyaṃ upekkhāti? heṭṭhā tāva aññāṇupekkhā vuttā, upari chaḷaṅgupekkhā vakkhati, idha samathaupekkhā, vipassanupekkhāti dve upekkhā gahitā.

310. Có tính chất khác biệt: có tính chất đa dạng, tức là nhiều loại, không phải một. Y cứ đối tượng khác biệt: nương vào đối tượng khác nhau. Nhất thể: một. Y cứ đối tượng nhất thể: nương vào một đối tượng.

Xả này như thế nào? Phần trước đã nói về Xả vô trí (aññāṇupekkhā). Phần sau sẽ nói về Sáu chi xả (chaḷaṅgupekkhā – của bậc A-la-hán). Tại đây, hai loại xả được đề cập đến là: Xả trong thiền định (samathaupekkhā) và Xả trong minh sát (vipassanupekkhā).

Tattha yasmā aññāva rūpesu upekkhā, aññāva[4] saddādīsu, na hi yā rūpe upekkhā, sā saddādīsu hoti. Rūpe upekkhā ca rūpameva ārammaṇaṃ karoti, ‘na saddādayo. rūpe upekkhābhāvañca aññā samathaupekkhā’[5] pathavīkasiṇaṃ ārammaṇaṃ katvā uppajjati, aññā āpokasiṇādīni. Tasmā nānattaṃ[6] nānattasitaṃ[7] vibhajanto atthi, bhikkhave, upekkhā rūpesūtiādimāha. yasmā pana dve vā tīṇi vā ākāsānañcāyatanāni vā viññāṇañcāyatanādīni vā natthi, tasmā ekattaṃ ekattasitaṃ vibhajanto atthi, bhikkhave, upekkhā ākāsānañcāyatananissitātiādimāha.

Trong đó, trạng thái xả đối với sắc cảnh thì khác với xả đối với thinh cảnh… vì xả đang diễn ra nơi mắt không đồng thời diễn ra nơi tai. Xả đối với sắc lấy sắc làm đối tượng chứ không lấy thinh làm đối tượng. Ngoài ra, trong các trạng thái Xả thiền định (samathaupekkhā), xả phát sinh khi lấy kasina đất làm đối tượng thì khác với xả phát sinh khi lấy kasina nước làm đối tượng. Vì vậy, khi phân tích về sự đa dạng của đối tượng, đức Thế Tôn mới thuyết: “Này các Tỷ-kheo, xả đối với sắc pháp là có…”

Ngược lại, vì không có hai hay ba loại trạng thái Không vô biên xứ hay Thức vô biên xứ… (mỗi tầng định vô sắc chỉ có một trạng thái duy nhất), nên khi phân tích về sự nhất thể của đối tượng, Ngài thuyết: “Này các Tỷ-kheo, xả y cứ Không vô biên xứ là có…”

Tattha ākāsānañcāyatanaupekkhā sampayuttavasena ākāsānañcāyatananissitā, ākāsānañcāyatanakhandhe vipassantassa vipassanupekkhā ārammaṇavasena ākāsānañcāyatananissitā. Sesāsupi eseva nayo.

Tại đó, Xả Không vô biên xứ được gọi là “y cứ Không vô biên xứ” theo cách tương ưng (sampayuttavasena – tức là tâm sở xả nằm trong tâm định đó). Còn đối với vị đang quán Minh sát về uẩn Không vô biên xứ, thì Xả minh sát của vị ấy được gọi là “y cứ Không vô biên xứ” theo cách lấy đó làm đối tượng (ārammaṇavasena). Các tầng định vô sắc còn lại cũng giải thích tương tự.

Taṃ pajahathāti ettha arūpāvacarasamāpattiupekkhāya rūpāvacarasamāpattiupekkhaṃ pajahāpeti, arūpāvacaravipassanupekkhāya rūpāvacaravipassanupekkhaṃ.

“Taṃ pajahatha” (Hãy đoạn tận cái đó): Nghĩa là dùng trạng thái Xả của các thiền chứng Vô sắc để đoạn tận trạng thái Xả của các thiền chứng Hữu sắc; và dùng Xả minh sát ở cấp độ Vô sắc để đoạn tận Xả minh sát ở cấp độ Hữu sắc.

Atammayatanti ettha tammayatā nāma taṇhā, tassā pariyādānato vuṭṭhānagāminīvipassanā atammayatāti vuccati. Taṃ pajahathāti idha vuṭṭhānagāminīvipassanāya arūpāvacarasamāpattiupekkhañca vipassanupekkhañca pajahāpeti.

Tham ái được gọi là tammayatā trong từ atammayata [có tánh không tham ái] ở đây tuệ Minh sát đưa đến giải thoát là có sự diệt tận tham ái được gọi là có tánh không tham ái. Dứt trừ này: Ở đây có nghĩa là dùng Tuệ Minh sát dẫn đến vọt khởi để đoạn tận (buông bỏ) cả trạng thái Xả thiền định lẫn Xả minh sát thuộc về các cõi Vô sắc.

311. Yadariyoti ye satipaṭṭhāne ariyo sammāsambuddho sevati. Tattha tīsu ṭhānesu satiṃ paṭṭhapento satipaṭṭhāne sevatīti veditabbo. Na sussūsantīti saddahitvā sotuṃ na icchanti. Na aññāti jānanatthāya cittaṃ na upaṭṭhapenti. Vokkammāti atikkamitvā. Satthu sāsanāti satthu ovādaṃ gahetabbaṃ pūretabbaṃ na maññantīti attho. Na ca attamanoti na sakamano. Ettha ca gehasitadomanassavasena appatīto hotīti na evamattho daṭṭhabbo, appaṭipannakesu pana attamanatākāraṇassa[8] abhāvenetaṃ vuttaṃ. Anavassutoti paṭighāvassavena anavassuto. Sato sampajānoti satiyā ca ñāṇena ca samannāgato. Upekkhakoti chaḷaṅgupekkhāya upekkhako. Attamanoti idhāpi gehasitasomanassavasena uppilāvitoti na evamattho daṭṭhabbo, paṭipannakesu pana anattamanatākāraṇassa[9] abhāvenetaṃ vuttaṃ. Anavassutoti rāgāvassavena anavassuto. 

311. Bậc Thánh thực hành: Bậc Chánh Đẳng Giác là bậc Thánh thực hành các niệm xứ nào. Ở đây, nên hiểu rằng vị ấy thiết lập niệm trong ba trường hợp, tức là thực hành niệm xứ. Không khéo lắng nghe: không có lòng tin để muốn lắng nghe. Không đặt tâm tiếp thu: Không an trú tâm vì mục đích thông hiểu. Đi ngược lại: đi ngược lại, vượt ra ngoài. Lời dạy của bậc Đạo Sư: Có nghĩa là không nghĩ rằng lời giáo huấn của bậc Đạo sư cần được thọ trì và thực hành đầy đủ. Không hoan hỷ: Không vui lòng. Tuy nhiên, ở đây không nên hiểu ý nghĩa theo cách: Ngài không cảm thấy khó chịu do mãnh lực của thọ ưu liên hệ thế gian (gehasitadomanassa). Mà câu này được nói vì không có lý do để hoan hỷ đối với những đệ tử không thực hành. Không bị phiền não chi phối: Không bị rỉ chảy bởi ô nhiễm của sân hận. Có niệm có sự tỉnh giác: hội đủ bởi niệm và trí. Có trạng thái xả: có trạng thái xả nhờ 6 chi xả. Attamano [hài lòng/hoan hỷ]: Ngay cả ở đây, không nên hiểu theo nghĩa: “phấn khởi do hỷ thuộc về thế tục.” Mà câu này được nói vì có lý do để hoan hỷ đối với những đệ tử có thực hành. Không bị phiền não chi phối: [Trong trường hợp này] không bị rỉ chảy bởi dòng chảy của tham ái.

312. Sāritoti damito. Ekameva disaṃ dhāvatīti anivattitvā dhāvanto ekaṃyeva disaṃ dhāvati, nivattitvā pana aparaṃ dhāvituṃ sakkoti. aṭṭha disā vidhāvatīti ekapallaṅkena nisinno kāyena anivattitvāva vimokkhavasena ekappahāreneva aṭṭha disā vidhāvati, puratthābhimukho vā dakkhiṇādīsu aññataradisābhimukho vā nisīditvā aṭṭha samāpattiyo samāpajjatiyevāti attho. Sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

312. Đẩy cho chạy: đã được huấn luyện. Chỉ chạy về một phương hướng: Nghĩa là nếu chạy mà không biết quay đầu lại thì chỉ chạy được duy nhất một hướng; nếu biết quay đầu lại thì mới có thể chạy sang hướng khác. (Đây là ẩn dụ cho những hạng người chỉ có khả năng tu tập hạn hẹp). Chạy đi khắp tám phương hướng: Vị ấy ngồi trên một tọa cụ duy nhất, không cần xoay chuyển thân, nhờ năng lực của các giải thoát (vimokkha), chỉ trong một lần duy nhất mà tâm chạy khắp tám hướng. Nghĩa là: dù ngồi hướng mặt về phương Đông hay bất kỳ hướng nào khác như phương Nam, v.v…, vị ấy đều có thể nhập vào tám thiền chứng (aṭṭha samāpattiyo). Từ còn lại trong các câu đều đơn giản.

Giải Thích Kinh Phân Biệt Sáu Xứ Kết Thúc


[1] Syā. Ka. – Nātivattatīti

[2] Syā. – Na atikkamati, Ka. – anatikkamati

[3] Vuṭṭhānagāminī: là Tuệ Minh sát dẫn đến giải thoát khỏi danh pháp và sắc pháp, hay còn gọi tuệ Minh sát vượt tam giới có 2 trí tuệ thiền tuệ bao gồm trí thuận dòng [anulomañāṇa] và trí chuyển tộc [gotrabhuñāṇa].

[4] Ka. – yasmā aññāṇupekkhā aññā

[5] Sī. – rūpe upekhā evañca aññañca, rūpe upekkhā eva ca aññā (?)

[6] Sī. – nānattā ca, Ka. – nānattabhāvaṃ

[7] Sī., Ka. – nānattasitañca

[8] Ka. – anattamanatākāraṇassa

[9] Ka. – attamanatākāraṇassa