Kinh số 122 – Giải Thích Kinh Đại Không

(Mahāsuññatasuttavaṇṇanā)

Xem Trung Bộ Kinh – Kinh Đại Không

185. Evamme sutanti Mahāsuññatasuttaṃ. Tattha Kāḷakhemakassāti chavivaṇṇena so kāḷo. Khemakoti panassa nāmaṃ. Vihāroti tasmiṃyeva Nigrodhārāme ekasmiṃ padese pākārena parikkhipitvā dvārakoṭṭhakaṃ māpetvā haṃsavaṭṭakādisenāsanāni ceva maṇḍalamāḷabhojanasālādīni ca patiṭṭhapetvā kato vihāro. Sambahulāni senāsanānīti mañco pīṭhaṃ bhisibimbohanaṃ taṭṭikā cammakhaṇḍo tiṇasanthāro paṇṇasanthāro palālasanthārotiādīni paññattāni honti, mañcena mañcaṃ … pe … palālasanthāreneva palālasanthāraṃ āhacca ṭhapitāni, gaṇabhikkhūnaṃ vasanaṭṭhānasadisaṃ ahosi.

185. Kinh Đại Không được bắt đầu như sau: “Tôi đã được nghe như vầy.” Ở đó, Thích ca Kāḷakhemakassā: vị ấy có màu da đen. Khemako là tên của vị ấy. Tịnh xá: ám chỉ đến chỗ nghỉ ngơi của vua Sakya ở quốc độ gần vườn Nigrodha nơi đã được xây dựng tường thành, luôn cả hào rãnh xung quanh, trạm gác, cổng thành, sàng tọa hình thiên nga v.v, và phòng ăn maṇḍalamāḷa v.v. Có sắp đặt rất nhiều sàng tọa bao gồm cái giường, cái ghế, nệm, gối, chiếu, tấm da thú, thảm cỏ, thảm lá, thảm rơm v.v, đã được trải sẵn đặt ra, kê giường đặt giường …nt… trải thảm rơm, đặt thảm rơm tương tự. Trở thành như nơi cư trú của các vị Tỳ khưu sống chung nhau thành một nhóm.

Sambahulā nu khoti Bhagavato bodhipallaṅkeyeva sabbakilesānaṃ samugghāṭitattā saṃsayo nāma natthi, vitakkapubbabhāgā pucchā, vitakkapubbabhāge[1] cāyaṃ nukāro nipātamatto. Pāṭimatthakaṃ[2] gacchante avinicchito nāma na hoti. Ito kira pubbe Bhagavatā dasa dvādasa bhikkhū ekaṭṭhāne vasantā na diṭṭhapubbā.

Phải chăng quá nhiều? sự hoài nghi không có nơi đức Thế Tôn bởi ngài đã nhổ hết tất cả mọi phiền não ngay chính bảo tọa Bồ-đề. Đây là câu hỏi thuộc phần tiền khởi của tư duy; trong phần tiền khởi ấy, hạt từ “nu” chỉ là một trợ từ nhấn dẫn. Khi đi thẳng vào phần văn Pāli, không còn điều gì chưa được định quyết. Lại nữa, được biết rằng trước đây, bậc Đạo Sư chưa từng thấy mười hay mười hai vị Tỳ-khưu cùng cư trú một chỗ.

Athassa etadahosi — gaṇavāso nāmāyaṃ vaṭṭe āciṇṇasamāciṇṇo nadīotiṇṇaudakasadiso, nirayatiracchānayonipettivisayāsurakāyesupi, manussaloka-devalokabrahmalokesupi gaṇavāsova āciṇṇo. Dasayojanasahasso hi nirayo tipucuṇṇabharitā nāḷi viya sattehi nirantaro, pañcavidhabandhanakammakāraṇakaraṇaṭṭhāne sattānaṃ pamāṇaṃ vā paricchedo vā natthi, tathā vāsīhi tacchanādiṭhānesu, iti gaṇabhūtāva paccanti. Tiracchānayoniyaṃ ekasmiṃ vammike upasikānaṃ pamāṇaṃ vā paricchedo vā natthi, tathā ekekabilādīsupi kipillikādīnaṃ. Tiracchānayoniyampi[3] gaṇavāsova. Petanagarāni ca gāvutikāni aḍḍhayojanikānipi petabharitāni honti. Evaṃ pettivisayepi gaṇavāsova. Asurabhavanaṃ dasayojanasahassaṃ kaṇṇe pakkhittasūciyā kaṇṇabilaṃ viya hoti. iti asurakāyepi gaṇavāsova. Manussaloke Sāvatthiyaṃ sattapaṇṇāsa kulasatasahassāni, Rājagahe anto ca bahi ca aṭṭhārasa manussakoṭiyo vasiṃsu. Evaṃ aññesupi ṭhānesūti manussalokepi gaṇavāsova. Bhummadevatā ādiṃ katvā devalokabrahmalokesupi gaṇavāsova. Ekekassa hi devaputtassa aḍḍhatiyā nāṭakakoṭiyo honti, navapi koṭiyo honti, ekaṭṭhāne dasasahassāpi brahmāno vasanti.

Khi ấy, Ngài khởi niệm: “Sống theo nhóm trong vòng luân hồi là thói quen đã huân tập, như nước tràn đầy dòng sông. Ở địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, A-tu-la; và ở cõi người, chư thiên, Phạm thiên — đều quen sống theo nhóm. Địa ngục mười ngàn do-tuần dày đặc chúng sanh như một đấu chứa đầy bột chì; tại các nơi thi hành năm hình thức trói buộc, số lượng và ranh giới chúng sanh không thể ước định; tương tự ở các chỗ chặt đẽo bằng dao búa v.v., quả thật số đông hợp thành nhóm mà chịu khổ.

Trong loài bàng sanh, ngay một gò mối, số mối cũng không thể ước định; cũng vậy ở từng hang lỗ của loài kiến v.v. Cho nên, trong bàng sanh cũng là sống theo nhóm. Các thành thị của ngạ quỷ, dài một gāvuta hay nửa do-tuần, đều chật kín ngạ quỷ; như vậy, trong cảnh giới ngạ quỷ cũng là sống theo nhóm. Cõi A-tu-la rộng mười ngàn do-tuần, nhưng cư dân dày đặc đến mức, ví như lỗ tai bị kim xuyên qua: kim chạm kín lỗ tai thế nào, thì A-tu-la cũng chen chúc kín cõi như thế. Vì vậy, cõi A-tu-la cũng là nơi sống theo nhóm.

Trong cõi người, ở Xá-vệ có năm mươi bảy trăm-nghìn gia đình (tức 5.700.000 gia đình); ở Vương Xá, cả trong lẫn ngoài, có mười tám koṭi người cư trú. Cũng vậy ở những nơi khác: trong cõi người cũng là sống theo nhóm. Bắt đầu từ địa thần trở lên, trong các cõi trờiPhạm thiên cũng là sống theo nhóm. Có vị thiên tử có hai rưỡi koṭi, thậm chí chín koṭi thiên nữ ca múa; và có nơi mười nghìn vị Phạm thiên cùng cư trú một chỗ.”

Tato cintesi — “mayā satasahassakappādhikāni cattāri asaṅkhyeyyāni gaṇavāsaviddhaṃsanatthaṃ dasa pāramiyo pūritā, ime ca bhikkhū ito paṭṭhāyeva gaṇaṃ bandhitvā gaṇābhiratā jātā ananucchavikaṃ karontī”ti. So dhammasaṃvegaṃ uppādetvā puna cintesi — “sace ‘ekaṭṭhāne dvīhi bhikkhūhi na vasitabban’ti sakkā bhaveyya sikkhāpadaṃ paññapetuṃ, sikkhāpadaṃ paññāpeyyaṃ, na kho panetaṃ sakkā. Handāhaṃ mahāsuññatāpaṭipattiṃ nāma suttantaṃ desemi, yaṃ sikkhākāmānaṃ kulaputtānaṃ sikkhāpadapaññatti viya nagaradvāre nikkhittasabbakāyikāadāso viya ca bhavissati. Tato yathā nāmekasmiṃ ādāse khattiyādayo attano vajjaṃ disvā taṃ pahāya anavajjā honti, evamevaṃ mayi parinibbutepi pañcavassasahassāni imaṃ suttaṃ āvajjitvā gaṇaṃ vinodetvā ekībhāvābhiratā kulaputtā vaṭṭadukkhassa antaṃ karissantī”ti. Bhagavato ca manorathaṃ pūrentā viya imaṃ suttaṃ āvajjitvā gaṇaṃ vinodetvā vaṭṭadukkhaṃ khepetvā parinibbutā kulaputtā gaṇanapathaṃ vītivattā. Vālikapiṭṭhivihārepi hi ābhidhammikābhayatthero nāma vassūpanāyikasamaye sambahulehi bhikkhūhi saddhiṃ imaṃ suttaṃ sañjhāyitvā “Sammāsambuddho evaṃ kāreti, mayaṃ kiṃ karomā”ti āha. Te sabbepi antovasse gaṇaṃ vinodetvā ekībhāvābhiratā arahattaṃ pāpuṇiṃsu. gaṇabhedanaṃ nāma idaṃ suttanti.

Kể từ đó (ngài) suy nghĩ rằng: “ta thực hành mười pháp ba-la-mật đến 4 a-tăng-kỳ một trăm ngàn đại kiếp nhằm mục đích thoát khỏi việc sống chung thành nhóm, nhưng những vị Tỳ khưu này tính từ bây giờ trở đi họ bám sát nhau thành nhóm hoan hỷ trong nhóm, tạo nghiệp thật không thích hợp”. Ngài đã khởi lên trạng thái chấn động do chư Tỳ khưu làm nhân, đã suy tư như sau – “nếu ta sẽ quy định điều học ‘hai vị Tỳ khưu không nên ở chung một chỗ, nhưng không thể quy định. Được rồi, ta sẽ thuyết giảng bài Kinh Lối Thực Hành Đại Không – Mahāsuññatāpaṭipatti sẽ giống như việc quy định điều học dành cho thiện nam tử, người mong muốn việc học tập và tựa như chiếc gương dành cho việc soi rọi mọi nhóm chúng sanh được đặt ở cổng thành. Từ đó, vị Sát-đế-lỵ nhìn thấy được lỗi lầm của chính mình trong một chiếc gương, từ bỏ lỗi lầm đó trở thành người không thể tìm thấy lỗi như thế nào, thậm chí khi ta viên tịch Nibbāna trải qua năm ngàn năm những thiện nam tử đó sẽ nhớ đến bài Kinh này phá tan được bản chất nhóm (sự sống chung thành nhóm) hoan hỷ bản chất độc cư sẽ thực hành đưa đến chấm dứt vòng sanh tử khổ. Những thiện nam tử nhớ đến bài Kinh này phá tan được bản chất nhóm làm cho khổ đau trong vòng luân hồi chấm dứt rồi tịch diệt Nibbāna đếm không hết, tương tự như làm cho điều mong ước của đức Thế Tôn được thành tựu trọn vẹn. Kể cả trong tịnh xá Vālikapiṭṭhi trưởng lão Abhaya vị thiện xảo về Abhidhamma giảng giải bài Kinh này cùng với nhiều vị Tỳ khưu vào lúc an cư mùa mưa đã nói rằng: “Đấng Chánh đẳng Chánh giác khuyên làm như vầy, chúng ta làm như thế nào?” Tất cả những vị Tỳ khưu ấy toàn bộ đã phá tan tính chất sống chung thành nhóm, hoan hỷ trong lối sống độc cư, rồi chứng đắc quả vị A-ra-hán trong mùa an cư. Bài Kinh này gọi là phá tan lối sống chung thành nhóm bằng cách ấy.

186. Ghaṭāyāti evaṃnāmakassa sakkassa. Vihāreti ayampi vihāro nigrodhārāmasseva ekadese Kāḷakhemakassa vihāro viya katoti veditabbo. Cīvarakammanti jiṇṇamalinānaṃ aggaḷaṭṭhānuppādanadhovanādīhi kataparibhaṇḍampi, cīvaratthāya uppannavatthānaṃ vicāraṇasibbanādīhi akataṃ saṃvidhānampi vaṭṭati, idha pana akataṃ saṃvidhānaṃ adhippetaṃ. Manussā hi Ānandattherassa cīvarasāṭake adaṃsu. Tasmā thero sambahule bhikkhū gahetvā tattha cīvarakammaṃ akāsi. Tepi bhikkhū pātova sūcipāsakassa paññāyanakālato paṭṭhāya nisinnā apaññāyanakāle uṭṭhahanti. Sūcikamme niṭṭhiteyeva senāsanāni saṃvidahissāmāti na saṃvidahiṃsu. Cīvarakārasamayo noti thero kira cintesi — “addhā etehi bhikkhūhi na paṭisāmitāni senāsanāni, Bhagavatā ca diṭṭhāni bhavissanti. Iti anattamano Satthā suṭṭhu niggahetukāmo, imesaṃ bhikkhūnaṃ upatthambho bhavissāmī”ti; tasmā evamāha. Ayaṃ panettha adhippāyo — “na, bhante, ime bhikkhū kammārāmā eva, cīvarakiccavasena pana evaṃ vasantī”ti.

186. Ghaṭāya: Đây là tên của một vị trong dòng họ Thích-ca (Sakka) Trong tịnh xá: Cần hiểu rằng tịnh xá này cũng được xây dựng trong một khu của chính Nigrodhārāma, giống như tịnh xá của Kāḷakhemaka. Công việc may y: Việc này có thể là sự sửa chữa (paribhaṇḍa) các y cũ và bẩn bằng cách vá, giặt giũ v.v…; cũng có thể là việc chuẩn bị (saṃvidhāna) chưa hoàn tất như đo, cắt, may… từ vải mới được cúng dường để làm y. Cả hai trường hợp đều được gọi là “công việc làm y”. Tuy nhiên, ở đây, ý muốn nói đến việc chuẩn bị (y mới) chưa làm.

Quả vậy, dân chúng đã cúng dường vải may y (cīvarasāṭake) cho Trưởng lão Ānanda. Vì thế, Trưởng lão đã tập hợp nhiều vị Tỳ-kheo để cùng làm y tại đó. Các vị Tỳ-kheo ấy ngồi xuống từ lúc sáng sớm, khi vừa đủ sáng để thấy lỗ kim, và chỉ đứng dậy khi trời tối, không còn thấy được nữa. Họ đã không dọn dẹp chỗ ở của mình, vì nghĩ rằng: “Chỉ sau khi việc may vá hoàn tất, chúng ta mới dọn dẹp chỗ ở.”

Nay là thời chúng con làm y: Được biết, Trưởng lão (Ānanda) đã suy nghĩ (để tìm cách giải trình với Đức Phật) rằng: “Chắc chắn Thế Tôn đã thấy những chỗ ở không được dọn dẹp của các Tỳ-kheo này. Do đó, bậc Đạo Sư có thể không hài lòng và muốn quở trách nặng, ta nên là người che chở cho các Tỳ-kheo này.” Vì vậy, ngài đã thưa như sau. Ý nghĩa trong lời của Trưởng lão là: “Bạch Thế Tôn, không phải các Tỳ-kheo này ham thích công việc, mà họ sống như vậy là vì phận sự liên quan đến việc làm y.”

Na kho, Ānandāti, Ānanda, kammasamayo vā hotu akammasamayo vā, cīvarakārasamayo vā hotu acīvarakārasamayo vā, atha kho saṅgaṇikārāmo bhikkhu na sobhatiyeva. Mā tvaṃ anupatthambhaṭṭhāne upatthambho ahosīti. Tattha saṅgaṇikāti sakaparisasamodhānaṃ. Gaṇoti nānājanasamodhānaṃ. Iti saṅgaṇikārāmo vā hotu gaṇārāmo vā, sabbathāpi gaṇabāhullābhirato gaṇabandhanabaddho bhikkhu na sobhati. pacchābhatte pana divāṭṭhānaṃ sammajjitvā sudhotahatthapādo mūlakammaṭṭhānaṃ gahetvā ekārāmatamanuyutto bhikkhu buddhasāsane sobhati. Nekkhammasukhanti kāmato nikkhantassa sukhaṃ. Pavivekasukhampi kāmapavivekasukhameva. Rāgādīnaṃ pana vūpasamatthāya saṃvattatīti upasamasukhaṃ. Maggasambodhatthāya saṃvattatīti sambodhisukhaṃ. Nikāmalābhīti kāmalābhī icchitalābhī. Akicchalābhīti adukkhalābhī. Akasiralābhīti vipulalābhī.

Này Ānanda (vị Tỳ khưu thích kết phe nhóm…) không đẹp: Này Ānanda, dù là lúc có việc hay lúc không có việc, dù là thời làm y hay không phải thời làm y, thì một Tỳ-kheo ưa thích tụ nhóm cũng đều không thích hợp. Ông chớ làm chỗ nương đỡ ở nơi không đáng nương đỡ. Ở đây, kết phe nhóm: tập hợp đồ chúng của mình. Đám đông: Tập hợp nhiều người khác nhau. Bằng cách này vị Tỳ khưu có sự thỏa thích đồ chúng hoặc có sự thỏa thích đám đông, trong mọi trường hợp, một Tỳ-kheo hoan hỷ trong sự đông đúc, bị ràng buộc bởi mối kết nhóm, đều không thích hợp. Còn một Tỳ-kheo, sau giờ thọ thực, quét dọn chỗ ở ban ngày, rửa sạch tay chân, thọ trì đề mục căn bản, chuyên chú ưa thích sống một mình, thì vị ấy mới là người thích hợp trong Giáo pháp của bậc Giác Ngộ.

“Lạc của xuất ly” là lạc của người đã ra khỏi các dục. “Lạc của viễn ly” cũng vậy, chính là lạc của sự xa lìa các dục. “Lạc của tịch tịnh” là lạc do đưa đến sự lắng dịu của tham ái và các phiền não. “Lạc của giác ngộ” là lạc do đưa đến sự giác ngộ Thánh đạo.

Nikāmalābhī” là người đạt được theo ý muốn, được như điều mình ước muốn. “Akicchalābhī” là người đạt được không khó nhọc. “Akasiralābhī” là người đạt được một cách không chậm khó, tức đạt được dồi dào, mau lẹ.

Sāmāyikanti appitappitasamaye kilesehi vimuttaṃ. Kantanti manāpaṃ. Cetovimuttinti rūpārūpāvacaracittavimuttiṃ. Vuttañhetaṃ — “cattāri ca jhānāni catasso ca arūpasamāpattiyo, ayaṃ sāmāyiko vimokkho”ti (paṭi. ma. 1.213). Asāmāyikanti na samayavasena kilesehi vimuttaṃ, atha kho accantavimuttaṃ lokuttaraṃ vuttaṃ. vuttañhetaṃ — “cattāro ca ariyamaggā cattāri ca sāmaññaphalāni, ayaṃ asāmāyiko vimokkho”ti. Akuppanti kilesehi akopetabbaṃ.

Có thời hạn (Sāmāyika): là sự giải thoát khỏi các phiền não theo thời (tạm thời). Sự thỏa thích (Kanta): là đáng ưa, khả ái. Sự giải thoát của tâm (Cetovimutti): là sự giải thoát của tâm ở các tầng thiền Sắc giới và Vô sắc giới. Đã nói rằng: “Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc, đây là sự giải thoát theo thời (sāmāyika-vimokkha).” (Paṭi. Ma. 1.213)

Không có thời hạn (Asāmāyika): là không phải giải thoát theo thời; ở đây nói đến sự giải thoát rốt ráo, xuất thế gian (lokuttara). Đã nói rằng: “Bốn Thánh đạo và bốn Thánh quả, đây là sự giải thoát không theo thời (asāmāyika-vimokkha).” Không chuyển đổi (Akuppa): là không thể bị khuấy động bởi các phiền não.

Ettāvatā kiṃ kathitaṃ hoti? Saṅgaṇikārāmo bhikkhu gaṇabandhanabaddho neva lokiyaguṇaṃ, na ca lokuttaraguṇaṃ nibbattetuṃ sakkoti, gaṇaṃ vinodetvā pana ekābhirato sakkoti. Tathā hi Vipassī Bodhisatto caturāsītiyā pabbajitasahassehi parivuto satta vassāni vicaranto sabbaññuguṇaṃ nibbattetuṃ nāsakkhi, gaṇaṃ vinodetvā sattadivase ekībhāvābhirato bodhimaṇḍaṃ āruyha Sabbaññuguṇaṃ nibbattesi. Amhākaṃ Bodhisatto pañcavaggiyehi saddhiṃ chabbassāni vicaranto sabbaññuguṇaṃ nibbattetuṃ nāsakkhi, tesu pakkantesu ekībhāvābhirato Bodhimaṇḍaṃ āruyha Sabbaññuguṇaṃ nibbattesi.

Với những điều trên, ý nghĩa được nói đến là gì? Một Tỳ-kheo ưa thích hội chúng, bị ràng buộc bởi bè nhóm, thì không thể làm phát sinh cả phẩm chất thế gian lẫn phẩm chất siêu thế; nhưng nếu xua tan bè nhóm, ưa thích sự độc cư thì có thể làm được. Thật vậy, Bồ-tát Vipassī, dù được tám mươi bốn ngàn vị xuất gia vây quanh và du hành trong bảy năm, cũng đã không thể làm phát sinh phẩm chất Toàn Giác. Sau khi từ bỏ hội chúng, Ngài ưa thích đời sống một mình, trong bảy ngày đã lên cội Bồ đề và làm phát sinh phẩm chất Toàn Giác. Bồ-tát của chúng ta, dù du hành cùng nhóm năm anh em (Kiều Trần Như) trong sáu năm, cũng đã không thể làm phát sinh phẩm chất Toàn Giác. Sau khi họ rời đi, Ngài ưa thích đời sống một mình, đã lên cội Bồ đề và làm phát sinh phẩm chất Toàn Giác.

Evaṃ saṅgaṇikārāmassa guṇādhigamābhāvaṃ dassetvā idāni dosuppattiṃ dassento nāhaṃ Ānandātiādimāha. Tattha rūpanti sarīraṃ. Yattha rattassāti yasmiṃ rūpe rāgavasena rattassa. Na uppajjeyyunti yasmiṃ rūpe rattassa na uppajjeyyuṃ, taṃ rūpaṃ na samanupassāmi, atha kho Sāriputtamoggallānānaṃ Dasabalasāvakattupagamanasaṅkhātena aññathābhāvena Sañcayassa viya, Upāligahapatino aññathābhāvena Nāṭaputtassa viya, Piyajātikasutte seṭṭhiādīnaṃ viya ca uppajjantiyeva.

Sau khi chỉ ra như vậy về việc người ưa thích hội chúng không thể chứng đắc các phẩm chất, bây giờ, để chỉ ra sự phát sinh của các lỗi lầm, đã nói: ‘Này Ānanda, Ta không quán thấy v.v.’ Trong câu đó, từ ‘sắc’ bao gồm sắc thân. Được người thỏa thích: có nghĩa là tham đắm do ái luyến đối với sắc pháp (thân thể) đó. Không khởi lên: Ta không thấy có một sắc nào mà đối với kẻ nhiễm trước nơi sắc ấy, các não khổ lại không khởi lên; trái lại, chúng vẫn khởi lên, giống như chúng đã khởi sinh nơi (du sĩ) Sañcaya do sự “thay đổi trạng thái” (tức sự ra đi) của Sāriputta và Moggallāna để trở thành Thinh văn của Đấng Thập Lực; giống như chúng đã khởi sinh nơi Nāṭaputta do sự “thay đổi trạng thái” (tức sự đổi niềm tin) của gia chủ Upāli; và giống như chúng đã khởi sinh nơi vị trưởng giả và những người khác trong kinh Piyajātika.

187. Ayaṃ kho panānandāti ko anusandhi? sace hi koci dubbuddhī navapabbajito vadeyya — “Sammāsambuddho khettaṃ paviṭṭhā gāviyo viya amheyeva gaṇato nīharati, ekībhāve niyojeti, sayaṃ pana rājarājamahāmattādīhi parivuto viharatī”ti, tassa vacanokāsupacchedanatthaṃ — “cakkavāḷapariyantāya parisāya majjhe nisinnopi Tathāgato ekakovā”ti dassetuṃ imaṃ desanaṃ ārabhi. Tattha sabbanimittānanti rūpādīnaṃ saṅkhatanimittānaṃ. Ajjhattanti visayajjhattaṃ[4]. Suññatanti suññataphalasamāpattiṃ. Tatra ceti upayogatthe bhummaṃ, taṃ ceti vuttaṃ hoti. Puna tatrāti tasmiṃ parisamajjhe ṭhito. Vivekaninnenāti nibbānaninnena. Byantībhūtenāti āsavaṭṭhānīyadhammehi vigatantena nissaṭena visaṃyuttena. Uyyojanikapaṭisaṃyuttanti gacchatha tumheti evaṃ uyyojanikena vacanena paṭisaṃyuttaṃ.

187. “Nhưng sự (an) trú này, này Ānanda” : vì sao lại nối tiếp như vậy? Nếu có một người kém trí, vừa mới xuất gia, nói rằng: “Đức Chánh Đẳng Giác đuổi chúng ta ra khỏi đám đông như người ta lùa đàn bò đã lỡ vào ruộng ra khỏi ruộng, bắt ép vào trạng thái ‘một mình’ (ekībhāva); còn chính Ngài thì sống được vây quanh bởi các vua chúa, đại thần, v.v.” — để cắt đứt chỗ cho lời nói ấy, Ngài khởi giảng bài pháp này nhằm chỉ rõ: “Dầu có ngồi giữa một hội chúng đông đến tận rìa cõi thế giới (cakkavāḷa), bậc Như Lai vẫn chỉ là ‘một mình’ (eka) vậy.”

Ở đây, “mọi tướng” (sabbanimittāni) là các tướng hữu vi như sắc v.v.; “ajjhattam” là nội phần (trong phạm vi đối tượng nội xứ); “suññatā” là việc nhập định quả theo tướng Không (suññatā‑phala‑samāpatti). “Tatra ce” nghĩa là “nếu ở đó” (dùng locative theo nghĩa đối cách: upayogatthe bhummaṃ; tức đồng nghĩa “taṃ ce”). “Puna tatra” là “rồi, ngay ở đó nữa”, tức trong khi đang đứng giữa hội chúng ấy. “Vivekaninna” là “tâm hướng về viễn ly/Niết-bàn”. “Byantībhūta” là “đã dứt sạch, đã lìa khỏi” các pháp làm chỗ nương của các lậu (āsava‑ṭṭhānīya‑dhamma), nghĩa là đã rời, đã thoát, đã không còn liên hệ. “Uyyojanika‑paṭisaṃyutta” là “liên hệ đến lời giải tán (mời lui): ‘các thầy hãy đi’.”

Kāya pana velāya Bhagavā evaṃ katheti? Pacchābhattakiccavelāya, vā purimayāmakiccavelāya vā. Bhagavā hi pacchābhatte gandhakuṭiyaṃ sīhaseyyaṃ kappetvā vuṭṭhāya phalasamāpattiṃ appetvā nisīdati. Tasmiṃ samaye dhammassavanatthāya parisā sannipatanti. Atha Bhagavā kālaṃ viditvā gandhakuṭito nikkhamitvā Buddhāsanavaragato dhammaṃ desetvā bhesajjatelapākaṃ gaṇhanto viya kālaṃ anatikkamitvā vivekaninnena cittena parisaṃ uyyojeti. Purimayāmepi[5] “abhikkantā kho Vāseṭṭhā ratti, yassa dāni kālaṃ maññathā”ti (dī. ni. 3.299) evaṃ uyyojeti. Buddhānañhi bodhipattito paṭṭhāya dve pañcaviññāṇānipi nibbānaninnāneva. Tasmātihānandāti yasmā suññatāvihāro santo paṇīto, tasmā.

Đức Thế Tôn thuyết như vậy vào lúc nào? Thuyết vào thời gian sau khi hoàn tất việc thọ dụng vật thực, (hoặc) vào lúc thực hành phận sự của đức Phật ở canh đầu. Đức Thế Tôn nằm xuống trong thế nằm của loài sư tử ở trong Hương Thất sau bữa ăn, rời khỏi thế nằm của loài sư tử (ngài) ngồi nhập vào thể nhập Thánh quả. Vào lúc đó tất cả hội chúng hội họp để thính pháp. Lúc đó, đức Thế Tôn biết được đã đến thời, ngài ra khỏi Hương Thất đi thẳng đến Phật tọa tối thượng để thuyết pháp, không để cho thời gian trôi qua, như người uống dầu thuốc đã nấu đúng thời, không vượt quá thời, với tâm hướng viễn ly, Ngài giải tán hội chúng. Ở canh đầu, Ngài cũng giải tán như vậy, bằng lời: “Này Vāseṭṭha, đêm đã khuya; giờ đây, các ông nghĩ việc gì là hợp thời” (Dīgha-nikāya 3.299). Vì nơi chư Phật, kể từ khi chứng Bồ-đề, cả hai bộ năm thức (dve pañca‑viññāṇāni) Kể từ lúc chư Phật đạt đến sự giác ngộ, cả hai bộ năm thức (dve pañca‑viññāṇāni) [1]  của ngài cũng chỉ hướng đến một đối tượng Nibbāna.  Do vậy, này Ānanda: do trú không tánh được an tịnh cao quý, như thế.

188. Ajjhattamevāti gocarajjhattameva. Ajjhattaṃ suññatanti idha niyakajjhattaṃ, attano pañcasu khandhesu nissitanti attho. Sampajāno hotīti kammaṭṭhānassa asampajjanabhāvajānanena sampajāno. Bahiddhāti parassa pañcasu khandhesu. Ajjhattabahiddhāti kālena ajjhattaṃ kālena bahiddhā. Āneñjanti ubhatobhāgavimutto bhavissāmāti āneñjaṃ arūpasamāpattiṃ manasi karoti.

188. Chỉ ở nội phần: Chính bên trong trần cảnh. Nội không: ở bên trong tự thân, tức là y cứ vào năm uẩn của chính mình. Tỉnh giác: do biết rõ tình trạng chưa thành tựu (asampajjana‑bhāva) của đề mục (kammaṭṭhāna) mà thành người tỉnh giác. Ngoại phần: trong năm uẩn của người khác. Cả nội phần và ngoại phần: khi thì nội phần, khi thì ngoại phần. Sự thể nhập bất động: vị ấy tác ý đến “bất động”, tức các Vô sắc định (āneñjaṃ arūpa‑samāpattiṃ), với ý muốn – ta sẽ giải thoát cả hai phần.

Tasmiṃyeva purimasminti pādakajjhānaṃ sandhāya vuttaṃ. Apaguṇapādakajjhānato vuṭṭhitassa hi ajjhattaṃ suññataṃ manasikaroto tattha cittaṃ na pakkhandati. Tato “parassa santāne nu kho kathan”ti bahiddhā manasi karoti, tatthapi na pakkhandati. tato — “kālena attano santāne, kālena parassa santāne nu kho kathan”ti ajjhattabahiddhā manasi karoti, tatthapi na pakkhandati. Tato ubhatobhāgavimutto hotukāmo “arūpasamāpattiyaṃ nu kho kathan”ti āneñjaṃ manasi karoti, tatthapi na pakkhandati. Idāni — “na me cittaṃ pakkhandatīti vissaṭṭhavīriyena upaṭṭhākādīnaṃ pacchato na caritabbaṃ, pādakajjhānameva pana sādhukaṃ punappunaṃ manasikātabbaṃ. Evamassa rukkhe chindato pharasumhi avahante puna nisitaṃ kāretvā chindantassa chijjesu pharasu viya kammaṭṭhāne manasikāro vahatī”ti dassetuṃ tasmiṃyevātiādimāha. Idānissa evaṃ paṭipannassa yaṃ yaṃ manasi karoti, tattha tattha manasikāro sampajjatīti dassento pakkhandatīti āha.

Đã đề cập về trước ấy: là nói về thiền làm nền (pādaka‑jhāna). Đối với người đã ra khỏi thiền nền còn kém thuần (apaguṇa‑pādaka‑jhāna), khi tác ý đến nội không thì tâm vẫn không nhập vào đó (na pakkhandati). Rồi vị ấy tác ý ra ngoài, nghĩ: “Trong dòng (tâm‑thân) của người khác là thế nào?”, nhưng ở đó cũng không nhập. Rồi vị ấy tác ý cả nội lẫn ngoại, nghĩ: “Lúc thì trong dòng của mình, lúc thì trong dòng của người khác là thế nào?”, nhưng cũng không nhập. Rồi, muốn thành bậc giải thoát hai mặt, vị ấy tác ý đến bất động: “Trong các Vô sắc định thì thế nào?”, song cũng vẫn không nhập.

Bấy giờ, vì nghĩ “tâm ta chưa nhập”, nên vị ấy chớ buông lỏng tinh tấn mà rong theo sau các người hầu hạ/cận sự (upaṭṭhākā); trái lại, cần khéo tác ý lặp đi lặp lại về thiền làm nền. Ví như người chặt cây, khi lưỡi rìu cùn thì lại mài sắc rồi mới chặt tiếp; cũng vậy, sự tác ý nơi nghiệp xứ phát huy tác dụng như những nhát rìu đã được mài sắc. Do đó nói “ngay chính điều ấy…”. Với người thực hành như vậy, hễ tác ý điều gì thì ở chỗ ấy sự tác ý liền thành tựu; vì thế mới nói là “nhập vào” (pakkhandati).

189. Iminā vihārenāti iminā samathavipassanāvihārena. Itiha tattha sampajānoti iti caṅkamantopi tasmiṃ kammaṭṭhāne sampajjamāne “sampajjati me kammaṭṭhānan”ti jānanena sampajāno hoti. Sayatīti nipajjati. ettha kañci kālaṃ caṅkamitvā — “idāni ettakaṃ kālaṃ caṅkamituṃ sakkhissāmī”ti ñatvā iriyāpathaṃ ahāpetvā ṭhātabbaṃ. Esa nayo sabbavāresu. Na kathessāmīti, itiha tatthāti evaṃ na kathessāmīti jānanena tattha sampajānakārī hoti.

189. Với pháp trú này: với pháp trú là Chỉ tịnh và Minh sát. Theo cách ấy, ngay cả khi đang đi kinh hành, vị ấy hành trì tỉnh giác: biết rằng “đề mục (kammaṭṭhāna) của ta đã được thiết lập”, và trước khi đi kinh hành cũng biết “nay ta sẽ đi trong khoảng thời gian chừng này”, rồi giữ oai nghi không thay đổi. “Nằm” là nằm xuống; ý nói trong mọi oai nghi đều theo cùng một phương thức tỉnh giác như vậy.

Puna dutiyavāre evarūpiṃ kathaṃ kathessāmīti jānanena sampajānakārī hoti, imassa bhikkhuno samathavipassanā taruṇāva, tāsaṃ anurakkhaṇatthaṃ —

“āvāso gocaro bhassaṃ, puggalo atha bhojanaṃ.

utu iriyāpatho ceva, sappāyo sevitabbako”ti.

Satta sappāyāni icchitabbāni. Tesaṃ dassanatthamidaṃ vuttaṃ. Vitakkavāresu avitakkanassa ca vitakkanassa ca jānanena sampajānatā veditabbā.

Lại nữa, ở “lần thứ hai” (về phương diện lời nói), vị ấy là người hành trì tỉnh giác do biết trước: “Ta sẽ nói (thuyết) một lời nói/ thời pháp như vầy”.

Vì nơi vị Tỷ-kheo này, Chỉ và Quán hãy còn “non” (taruṇā) — để gìn giữ, nuôi lớn chúng, bảy điều “thuận hợp” (sappāya) nên được ước muốn và thân cận:

1) chỗ ở (āvāsa), 2) hành xứ/khu vực khất thực (gocara), 3) lời nói/đề tài đàm luận (bhassaṃ), 4) người (puggala) — tức bậc thiện hữu, 5) vật thực (bhojana), 6) thời tiết/khí hậu (utu), 7) oai nghi/thân hành (iriyāpatha). Điều gì thích hợp thì nên thân cận, sử dụng (sappāyo sevitabbako).

Nói vậy là để chỉ bày bảy điều thuận hợp ấy. Còn trong “phần tư duy” (vitakka-vāra), sự tỉnh giác được hiểu là: biết rõ những tư duy không nên khởi và những tư duy nên khởi.

190. Iti vitakkapahānena dve magge kathetvā idāni tatiyamaggassa vipassanaṃ ācikkhanto pañca kho ime, Ānanda, kāmaguṇātiādimāha. Āyataneti tesuyeva kāmaguṇesu kismiñcideva kilesuppattikāraṇe. Samudācāroti samudācaraṇato appahīnakileso. Evaṃ santanti evaṃ vijjamānameva. Sampajānoti kammaṭṭhānassa asampattijānanena sampajāno. Dutiyavāre evaṃ santametanti evaṃ sante etaṃ[6]. Sampajānoti kammaṭṭhānasampattijānanena sampajāno. Ayañhi “pahīno nu kho me pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo no”ti paccavekkhamāno apahīnabhāvaṃ ñatvā vīriyaṃ paggahetvā taṃ anāgāmimaggena samugghāṭeti, tato maggānantaraṃ phalaṃ, phalato vuṭṭhāya paccavekkhamāno pahīnabhāvaṃ jānāti, tassa jānanena “sampajāno hotī”ti vuttaṃ.

190. Đức Thế Tôn thuyết cả hai Đạo với việc dứt bỏ suy tầm như đã nói, bây giờ để thuyết việc thấy rõ Tam Đạo đã nói rằng: ‘Này Ānanda, sự trói buộc trong các dục có năm’. Do xứ: nghĩa là ngay trên chính các dục ấy, bất cứ duyên cớ nào khiến phiền não khởi lên. Sự phóng dật: là sự biểu hiện/hoạt khởi của các phiền não chưa được đoạn trừ (do sự vận hành của chúng). Evaṃ santaṃ: tình trạng là như vậy, đang hiện hữu như thế. Có sự tỉnh giác: nhận biết rõ do biết được nghiệp xứ vẫn chưa hoàn bị.

Ở “lần thứ hai”, “evaṃ santaṃ etaṃ” = “khi sự việc là như vậy thì điều này [được nêu]”. “Sampajāno”: là tỉnh giác do biết rõ đề mục đã thành tựu

Thật vậy, khi vị ấy tự quán: “Ái dục và tham đắm đối với năm dục trần nơi ta đã được đoạn trừ chưa?”, nếu biết là “chưa đoạn”, vị ấy gia công tinh tấn và tận diệt nó bằng Thánh Đạo Bất‑lai. Rồi ngay sau Đạo là Quả; xuất khỏi Quả, vị ấy quán xét và biết trạng thái “đã đoạn”. Do biết như vậy nên nói rằng “vị ấy là người tỉnh giác”.

191. Idāni arahattamaggassa vipassanaṃ ācikkhanto pañca kho ime, Ānanda, upādānakkhandhātiādimāha. Tattha so pahīyatīti rūpe asmīti māno asmīti chando asmīti anusayo pahīyati. Tathā vedanādīsu sampajānatā vuttanāyeneva veditabbā.

191. Bấy giờ, để chỉ bày minh sát của Thánh đạo A‑la‑hán, Ngài nói: “Này Ānanda, cả năm thủ uẩn này”. Ở đó, đoạn trừ ngã mạn trong năm thủ uẩn: dứt trừ ngã mạn ‘tôi là,’ mong muốn ‘tôi là,’ sự tiềm ẩn ‘tôi là’ ở sắc; tương tự như vậy đối với thọ, tưởng, hành, thức. Sự tỉnh giác (sampajānatā) nơi thọ v.v. nên được hiểu đúng theo cách đã nói trước.

Ime kho te, Ānanda, dhammāti heṭṭhā kathite samathavipassanāmaggaphaladhamme sandhāyāha. Kusalāyatikāti kusalato āgatā. Kusalā hi kusalāpi honti kusalāyatikāpi, seyyathidaṃ[7], paṭhamajjhānaṃ kusalaṃ, dutiyajjhānaṃ kusalañceva kusalāyatikañca … pe … ākiñcaññāyatanaṃ kusalaṃ, nevasaññānāsaññāyatanaṃ kusalañceva kusalāyatikañca, nevasaññānāsaññāyatanaṃ kusalaṃ, sotāpattimaggo kusalo ceva kusalāyatiko ca … pe … anāgāmimaggo kusalo, arahattamaggo kusalo ceva kusalāyatiko ca. Tathā paṭhamajjhānaṃ kusalaṃ, taṃsampayuttakā dhammā kusalā ceva kusalāyatikā ca … pe … arahattamaggo kusalo, taṃsampayuttakā dhammā kusalā ceva kusalāyatikā ca.

Này Ānanda chính những pháp này: là nói đến các pháp Chỉ–Quán, Đạo và Quả đã được thuyết ở trên. Liên hệ đến thiện: là thuộc về, phát xuất từ thiện. Thật vậy, các pháp thiện vừa là “thiện” (kusalā) vừa “thuộc về thiện” (kusalāyatikā). Như: Sơ thiền là thiện; Nhị thiền vừa thiện vừa thuộc thiện; … các Vô sắc xứ như Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ là thiện, và cũng có trường hợp vừa thiện vừa thuộc thiện; Thánh đạo Nhập lưu là thiện và cũng thuộc thiện; … Thánh đạo Bất lai là thiện; Thánh đạo A‑la‑hán vừa thiện vừa thuộc thiện. Tương tự, Sơ thiền là thiện; các pháp tương ưng với Sơ thiền ấy vừa là thiện vừa thuộc thiện; … Thánh đạo A‑la‑hán là thiện; các pháp tương ưng với Thánh đạo A‑la‑hán vừa là thiện vừa thuộc thiện.

Ariyāti nikkilesā visuddhā. Lokuttarāti loke uttarā visiṭṭhā. Anavakkantā pāpimatāti pāpimantena mārena anokkantā. Vipassanāpādakā aṭṭha samāpattiyo appetvā nisinnassa hi bhikkhuno cittaṃ māro na passati, “idaṃ nāma ārammaṇaṃ nissāya saṃvattatī”ti jātituṃ na sakkoti. Tasmā “anavakkantā”ti vuttaṃ.

Thánh: là vô lậu, thanh tịnh. “Siêu thế” (lokuttarā): là vượt trên, thù thắng hơn thế gian.Vượt ngoài tầm của ác ma: là không bị Ma vương xâm nhập. Bởi vì khi một Tỷ‑kheo ngồi, đã an trú vào tám định chứng lấy Minh sát làm nền, thì Ma không thấy được tâm vị ấy, không thể đoán “tâm này vận hành nương nơi đối tượng nào”; vì vậy nói là “không bị xâm nhập ”.

Taṃ kiṃ maññasīti idaṃ kasmā āha? Gaṇepi[8] eko ānisaṃso atthi, taṃ dassetuṃ idamāha. Anubandhitunti anugacchituṃ paricarituṃ[9].

 Ông nghĩ thế nào?: vì sao đức Thế Tôn lại nói câu này? Sự thật trong hội nhóm cũng có đem lại một điều lợi ích, nên mới nói lời này. Bám sát theo: bám sát theo, tháp tùng.

Na kho, Ānandāti ettha kiñcāpi bhagavatā — “sutāvudho[10], bhikkhave, ariyasāvako akusalaṃ pajahati, kusalaṃ bhāveti, sāvajjaṃ pajahati, anavajjaṃ bhāveti, suddhaṃ attānaṃ pariharatī”ti (a. ni. 7.67) bahussuto pañcāvudhasampanno yodho viya kato. Yasmā pana so sutapariyattiṃ uggahetvāpi tadanucchavikaṃ anulomapaṭipadaṃ na paṭipajjati, na tassa taṃ āvudhaṃ hoti. Yo paṭipajjati, tasseva hoti. Tasmā etadatthaṃ anubandhituṃ nārahatīti dassento na kho, ānandāti āha.

Không đâu, này Ānanda: Đức Phật nói rằng không nên bám theo (hầu cận, chạy theo) một vị chỉ vì vị ấy học rộng. Ví như một người lính có đủ năm thứ vũ khí. Tương tự, bậc thánh đệ tử có “vũ khí” là đa văn, giúp bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện, bỏ điều đáng chê, tu điều không đáng chê, giữ mình trong sạch (Aṅguttara Nikāya 7.67). Nhưng nếu chỉ học rộng mà không thực hành con đường phù hợp với điều đã học, thì cái học ấy không trở thành “vũ khí” hữu hiệu. Chỉ ai thực hành đúng pháp, với người ấy “học” mới là vũ khí thật sự. Do vậy, để nêu rõ rằng “không đáng để theo sát”, nên nói: “Không đâu, này Ānanda…”.

Idāni yadatthaṃ anubandhitabbo, taṃ dassetuṃ yā ca khotiādimāha. Iti imasmiṃ sutte tīsu ṭhānesu dasa kathāvatthūni āgatāni. “iti evarūpaṃ kathaṃ kathessāmī”ti sappāyāsappāyavasena āgatāni, “yadidaṃ suttaṃ geyyan”ti ettha sutapariyattivasena āgatāni, imasmiṃ ṭhāne paripūraṇavasena āgatāni. Tasmā imasmiṃ sutte dasa kathāvatthūni kathentena imasmiṃ ṭhāne ṭhatvā kathetabbāni.

Giờ để chỉ ra điều gì mới là “đáng theo sát”, Ngài nói tiếp: “Yā ca kho …”. Như vậy, trong bài kinh này, nêu lên mười đề tài luận ở ba chỗ:

  • Theo phương diện thích hợp/không thích hợp (sappāya‑asappāya): “Ta sẽ nói lời nói như vầy”;
  • Theo mặt văn học–học tập (suta–pariyatti): “tức là khế kinh, ứng tụng (sutta, geyya)”;
  • Ở ngay chỗ này: nêu để làm cho phần trình bày về mười đề tài được trọn vẹn, đầy đủ (paripūraṇa-vasena).

Khi giảng giải “mười đề tài” trong bài kinh này, nên lấy đoạn hiện tại làm điểm tựa (đứng ở đây mà giảng), vì đây là chỗ gom lại và hoàn tất (làm viên mãn) toàn bộ mười đề tài.

Idāni yasmā ekaccassa ekakassa viharatopi attho na sampajjati, tasmā taṃ sandhāya ekībhāve ādīnavaṃ dassento evaṃ sante kho, Ānandātiādimāha. Tattha evaṃ santeti evaṃ ekībhāve sante.

Bây giờ, do một số vị Tỳ khưu mặc dù sống một mình cũng không làm phát sanh lợi ích, vì thế để thuyết giảng lỗi lầm trong sự sống độc cư, liên quan đến một số vị Tỳ khưu đó mới thuyết lời này: Sự kiện là như vậy, này Ānanda. Ở đây, ‘sự việc là như vậy’ khi sống một mình như vậy.

193. Satthāti bāhirako titthakarasatthā. Anvāvattantīti anuāvattanti upasaṅkamanti. Mucchaṃ nikāmayatīti mucchanataṇhaṃ pattheti, pavattetīti attho. Ācariyūpaddavenāti abbhantare uppannena kilesūpaddavena ācariyassupaddavo. Sesupaddavesupi eseva nayo. Avadhiṃsu nanti mārayiṃsu naṃ. Etena hi[11] guṇamaraṇaṃ kathitaṃ.

193. Đạo sư muốn ám chỉ đến vị Đạo sư chủ học thuyết ngoài phật giáo. Cùng nhau đi đến tìm gặp: đi theo sau, là đi đến tìm kiếm. Hoan hỷ ưa thích sự say mê: ước nguyện sự mong muốn thoát khỏi, có nghĩa là làm cho vận hành. Vì sự phiền lụy của Đạo sư: sự bất hạnh của Đạo sư do có sự nguy hại là phiền não sanh khởi bên trong chính mình. Thậm chí sự bất hạnh còn lại cũng có phương thức tương tự. Avadhiṃsu naṃ dịch là đã sát hại vị Đạo sư đó. Với lời này ngài nói cái chết từ sự tốt đẹp.

Vinipātāyāti suṭṭhu nipatanāya. Kasmā pana brahmacārupaddavova — “dukkhavipākataro ca kaṭukavipākataro ca vinipātāya ca saṃvattatī”ti vuttoti. Bāhirapabbajjā hi appalābhā, tattha mahanto nibbattetabbaguṇo natthi, aṭṭhasamāpattipañcābhiññāmattakameva hoti. iti yathā gadrabhapiṭṭhito patitassa mahantaṃ dukkhaṃ na hoti, sarīrassa paṃsumakkhanamattameva hoti, evaṃ bāhirasamaye lokiyaguṇamattatova parihāyati, tena purimaṃ upaddavadvayaṃ na evaṃ vuttaṃ. Sāsane pana pabbajjā mahālābhā, tattha cattāro maggā cattāri phalāni nibbānanti mahantā adhigantabbaguṇā. iti yathā ubhato sujāto khattiyakumāro hatthikkhandhavaragato nagaraṃ anusañcaranto hatthikkhandhato patito mahādukkhaṃ nigacchati, evaṃ sāsanato parihāyamāno navahi lokuttaraguṇehi parihāyati. tenāyaṃ brahmacārupaddavo evaṃ vutto.

Dẫn đến đọa lạc: cho rớt xuống điều tốt. Do nhân gì ngài nói đến sự bất hạnh của vị thực hành Phạm hạnh rằng – “có kết quả khổ đau nhiều hơn, có kết quả nóng đốt nhiều hơn, và vận hành đưa đến đọa lạc”. Thật vậy, việc xuất gia bên ngoài Phật giáo có ít lợi đắc và việc xuất gia ngoài Phật giáo đó không có cơ hội mang lại an đức to lớn, (nếu) có cũng chỉ là 8 thiền chứng, 5 thần thông mà thôi. Tương tự như một người rơi xuống từ lưng con lừa, không có nhiều khổ đau, (nếu) có cũng chỉ thân hình dính đầy bụi bẩn như thế nào, trong học thuyết ngoài Phật giáo cũng như thế đó suy giảm cũng chỉ ân đức thế gian như thế đó. 2 sự bất hạnh ban đầu ngài không nói như vậy với cách đó. Nhưng việc xuất gia trong Phật giáo có nhiều lợi đắc và việc xuất gia trong Phật giáo có ân đức có thể chứng đắc vĩ đại là 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Nibbāna. Một thanh niên Sát-đế-lỵ ngự trên cổ con voi đi dọc thành phố, khi bị rơi từ cổ voi xuống sẽ đi đến nhiều đau khổ như thế nào, người làm giảm giá trị (trở nên sa đọa) cũng sẽ bị mất mất từ 9 ân đức pháp xuất thế gian. Vì lý do đó ngài mới nói đến sự bất hạnh của vị thực hành Phạm hạnh như vậy.

196. Tasmāti yasmā sesupaddavehi brahmacārupaddavo dukkhavipākataro, yasmā vā sapattapaṭipattiṃ vītikkamanto dīgharattaṃ ahitāya dukkhāya saṃvattati, mittapaṭipatti hitāya, tasmā. Evaṃ uparimenapi heṭṭhimenapi atthena yojetabbaṃ. Mittavatāyāti mittapaṭipattiyā. Sapattavatāyāti verapaṭipattiyā.

 196. Vì thế: do sự bất hạnh của vị thực hành Phạm hạnh mới có kết quả đau khổ nhiều hơn sự bất hạnh còn lại, và vì xử sự theo lối “đối đãi như kẻ thù” đưa đến bất lợi và khổ dài lâu, còn xử sự theo lối “đối đãi như bạn” đưa đến lợi ích; nên [được nói như vậy]. Với lối thực hành của bạn: với phương pháp thực hành như người bạn. Với lối thực hành của kẻ thù: với phương pháp thực hành như kẻ thù.

Vokkamma ca satthusāsanāti dukkaṭadubbhāsitamattampi hi sañcicca vītikkamanto vokkamma vattati nāma. tadeva avītikkamanto na vokkamma vattati nāma.

Vượt quá lời dạy của bậc Đạo sư: khi có ý định vi phạm thì ngay cả tội tác ác [dukkaṭa] và  tội ác khẩu [dubbhāsi] thì được gọi là “đã đi lệch” (vokkamma vattati). Còn ai không vượt phạm như thế thì gọi là “không đi lệch”.

Na vo ahaṃ, Ānanda, tathā parakkamissāmīti ahaṃ tumhesu tathā na paṭipajjissāmi. Āmaketi apakke. Āmakamatteti āmake nātisukkhe bhājane. Kumbhakāro hi āmakaṃ nātisukkhaṃ apakkaṃ ubhohi hatthehi saṇhikaṃ gaṇhāti “mā bhijjatū”ti[12]. Iti yathā kumbhakāro tattha paṭipajjati, nāhaṃ tumhesu tathā paṭipajjissāmi. Niggayha niggayhāti sakiṃ ovaditvā tuṇhī na bhavissāmi, niggaṇhitvā niggaṇhitvā punappunaṃ ovadissāmi anusāsissāmi. Pavayha pavayhāti[13] dose pavāhetvā pavāhetvā. Yathā pakkabhājanesu kumbhakāro bhinnachinnajajjarāni pavāhetvā ekato katvā supakkāneva ākoṭetvā ākoṭetvā gaṇhāti, evameva ahampi pavāhetvā pavāhetvā punappunaṃ ovadissāmi anusāsissāmi. Yo sāro so ṭhassatīti evaṃ vo mayā ovadiyamānānaṃ yo maggaphalasāro, so ṭhassati. Apica lokiyaguṇāpi idha sārotveva adhippetā. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

Này Ānanda, ta sẽ không dìu dắt các ông: ta không đối xử với các ông như thế. Đất thô: vẫn chưa chín. Đất vẫn còn thô: ở trong bình đựng chưa nung, vẫn chưa hoàn thiện. Người thợ gốm nâng niu cái bình còn sống, chưa nung, chưa khô, bằng cả hai tay, sợ nó vỡ. Như người thợ gốm làm với đồ gốm còn sống thế nào, thì ta sẽ không làm với các ông như vậy. Đã được chế ngự: ta sẽ không răn dạy một lần rồi im lặng, mà sẽ quở trách đi quở trách lại, khuyên nhủ và chỉ dạy nhiều lần. Đã được thanh lọc: ta sẽ gạt bỏ các lỗi, gỡ bỏ các khiếm khuyết hết lần này đến lần khác. Như đối với đồ gốm đã nung, người thợ gốm loại bỏ những món bể, nứt, mục nát; gom riêng những món đã nung tốt, và cứ gõ, cứ thử mà lấy dùng; cũng vậy, ta sẽ liên tục trừ lỗi và thường xuyên răn dạy, chỉ bảo. Người nào có cốt lõi người đó sẽ duy trì: trong số các ông được ta răn dạy như thế, ai có “cốt lõi” là Đạo–Quả, phần cốt lõi ấy sẽ đứng vững. Hơn nữa, ở đây ngay cả các công đức thế tục cũng được gọi là “cốt lõi (sāra)”. Từ còn lại trong các câu đều đơn giản.

Giải Thích Kinh Đại Không Kết Thúc.

 


[1] Vitakkapubbabhāgo (bahūsu)

[2] Sī. – Pattimatthakaṃ, Syā. – Pālimatthakaṃ

[3] Evaṃ tiracchānayoniyampi (?)

[4] Sī. Syā. – Niyakajjhattaṃ

[5] Ka. – Purimayāme

[6] Syā. – evaṃ santanti evaṃ sante

[7] Kathaṃ? (?)

[8] Syā. Ka. – Gaṇe hi

[9] Ka. – Parivattituṃ, Syā. – parivārituṃ

[10] Suvatā (sabbattha)

[11] Sī. – Etenassa

[12] Syā. – Mā bhijjīti, Sī. – Mā bhijjāti

[13] Ka. – Paggayha paggayhāti

Chú giải

Chú giải
1 tất cả các thức qua năm căn, trong cả hai thời